Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 30 Tháng Tám, 2014, 03:05:03 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8  (Đọc 40931 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #100 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 07:03:47 AM »

Vào lúc ấy, Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Đà, là thành phố lớn thứ hai mở miền Nam, với số dân gàn 1 triệu người. đây không chỉ là trung tâm kinh tế, chính trị của chế độ Sài Gòn ở miền Trung, mà còn là một căn cứ quân sự liên hợp hải - lục - không quân lớn vào loại bậc nhất của địch ở miền Nam. Tại đây, có đến 3 sân bay, trong đó có 1 sân bay cấp 1; 4 cảng lớn với nhiều kho chứa hàng vạn tấn vũ khí, phương tiện chính trị, lương thực, thực phầm.

Sau chiến dịch Trị - Thiên và Nam - Ngãi, hầu hết lực lượng còn lại của Quân đoàn 1 - Quân khu 1 địch rút về co cụm tại Quảng Đà, tập trung tại Đà Nẵng. Lực lượng đó bao gồm:
Sư đoàn 3 bộ binh, Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến (thiếu 1 lữ đoàn), lực lượng còn lại của Sư đoàn 1, Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, các liên đoàn biệt động quân 11, 12, 14, 15, Thiết đoàn 11, một bộ phận của Thiết đoàn 20, 12 tiểu đoàn pháo (trong đó có 1 tiểu đoàn pháo 175 mm, 3 tiểu đoàn pháo 155 mm, 8 tiểu đoàn pháo 105 mm), 1 Sư đoàn không quân, 15 tiểu đoàn bảo an, một lực lượng lớn hải quân cùng cảnh sát, lực lượng dân vệ… Tổng quân số lên tới khoảng 75.000 tên.

Nhận lệnh của Nguyễn Văn Thiệu phải “tử thủ Đà Nẵng” (25-3-1975), với lực lượng này, Ngô Quang Trưởng tổ chức hệ thống phòng thủ Đà Nẵng thành hai tuyến:

Tuyến ngoài (tuyến ngoại vi) do Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến, Sư đoàn 3 bộ binh và một số đơn vị biệt động, bảo an đảm nhiệm. Trên tuyến này chúng bố trí: Lữ đoàn 258 (Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến) ở nam - bắc đèo Hải Vân (từ Phước Tường đến Liên Chiểu); Lữ đoàn 369 (Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến) ở tây nam Đà Nẵng (Đại Lộc, Đồng Lâm); Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến và lực lượng còn lại của Lữ đoàn 147 được bố trí tại căn cứ Nước Mặn; Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 ở Vĩnh Điện; Trung đoàn 57 ở Đại Lộc; Trung đoàn 2 ở Ninh Quế; Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 đóng ở Phước Tường; Liên đoàn 15 biệt động quân phòng ngự ở khu vực cầu Bà Rén.

Tuyến trong do lực lượng còn lại của Sư đoàn 1, một bộ phận Sư đoàn 2 bộ binh, các liên đoàn biệt động quân và các đơn vị địa phương quân đảm nhiệm. Trên tuyến này, Liên đoàn bảo an 911, Thiết đoàn 11, một bộ phận của Thiết đoàn 20 đảm trách nhiệm vụ phòng thủ khu vực Phước Tường - Hòa Mỹ; lực lượng còn lại của Sư đoàn 1, một bộ phận của Sư đoàn 2 bộ binh và một số đơn vị biệt động quân kết hợp với lực lượng tại chỗ phòng giữ các căn cứ Hòa Cầm, Nước Mặn, quân cảng; lực lượng cảnh sát đảm trách việc phòng thủ trong thành phố Đà Nẵng; Liên đoàn 914 bảo an và các tiểu đoàn bảo an độc lập cùng lực lượng dân vệ kết hợp với các đơn vị chủ lực phòng thủ các địa bàn do mình đảm trách. Xung quanh thành phố Đà Nẵng, chúng còn bố trí 12 tiểu đoàn pháo. Sư đoàn 1 không quân với 274 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu, được bố trí tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Nước Mặn, sẵn sàng chi viện cho các lực lượng phòng thủ ngăn chặn các cuọc tiến công của ta vào thành phố Đà Nẵng.

Căn cứ thực tế tình hình địch - ta và diễn biến trên chiến trường, Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh dự kiến hai phương án tác chiến: “Một là địch co lại phòng thủ Đà Nẵng có tổ chức và tương đối vững chắc thì ta sử dụng Quân đoàn 1 và nhanh chóng đưa Quân đoàn 1 vào cùng với lực lượng của Quân khu 5 tổ chức một trận hiệp đồng binh chủng quy mô đánh chiếm Đà Nẵng trong trường hợp có chuẩn bị. Hai là địch tan vỡ và bị tiêu hao nặng thì nắm thời cơ nhanh chóng phát triển tiến công đánh chiếm Đà Nẵng với lực lượng tại chỗ là chính”(1). Với dự kiến như vậy, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Quân đoàn 2 và Quân khu 5 gấp rút chuẩn bị đánh địch theo phương án 1, đồng thời sẵn sàng chuyển sang thực hiện phương án 2 khi thời cơ đến.

Ngày 26-3-1975, đồng chí Giáp Văn Cương được Bộ Tổng Tư lệnh cử vào Đà Nẵng để chuẩn bị chiến trường. Đồng thời, tại Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy, Tổng Tư lệnh triệu tập cuộc họp gồm các đồng chí Lê Trọng Tấn - Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Cao Văn Khánh - Phó Tổng tham mưu trưởng, Nguyễn Bá Phát - Tư lệnh Hải quân, Phan Bình - Cục trưởng Cục Quân báo, Lê Hữu Đức - Cục trưởng Cục Tác chiến và một số đồng chí khác bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng.


(1) Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2: Lịch sử Quân đoàn 2, Sđd, tr. 151.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Ba, 2011, 07:09:41 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #101 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 07:08:50 AM »

Trên cơ sở phân tích các tình huống và phán đoán khả năng thực tế của địch trong thời điểm hiện tại, đồng chí Bí thư Quân ủy nhận định: “Địch kêu gọi tử thủ, nưhng tình hình có thể diễn biến đột ngột, khả năng địch rút vẫn tồn tại. Vậy phải có phương án đánh thật nhanh, thực hiện đúng phương châm khẩn trương, táo bạo, bất ngờ”(1).

Sau cuộc họp này, Thường trực Quân ủy họp và giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Trọng Tấn. Nhận danh Bí thư Quân ủy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị: Chiến tranh đã chuyển sang giai đoạn phát triển nhảy vọt. Bố trí của địch ở Đà Nẵng tuy chưa đảo lộn, mặc dù chúng kêu gọi tử thủ, nhưng tinh thần quân lính đang suy sụp, cần nắm vững phương châm táo bạo, bất ngờ, kịp thời, chắc thắng, khẩn trương tiến công bao vây tiêu diệt địch, khống chế sân bay, hải cảng, chú ý làm tốt việc tiếp quản thành phố một triệu dân này, thực hiện tốt chính sách tù, hàng binh và chính sách chiến lợi phẩm. Nhanh chóng tổ chức tăng cường lực lượng phát triển vào phía Nam…

Nhận nhiệm vụ xong, đồng chí Lê Trọng Tấn cùng một số đồng chí lên đường vào chiến trường. Trong điều kiện thời gian quá gấp, không thể họp Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch, hai đồng chí Tư lệnh và Chính ủy Mặt trận trực tiếp trao đổi ý kiến với nhau qua điện đài và chỉ đạo việc triển khai công tác chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành trong quá trình hành quân. Để tranh thủ thời cơ đánh địch rút chạy, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định huy động Quân đoàn 2 - Quân đoàn vừa cùng Quân khu Trị - Thiên thực hiện thắng lợi chiến dịch Trị - Thiên giải phóng hoàn toàn thành phố Huế, cùng lực lượng vũ trang Quân khu 5 tiến công giải phóng Đà Nẵng.

Ngay trong ngày 26-3, Quân đoàn 2 và Quân khu 5 đã nhận được điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương phải chuẩn bị lực lượng “hành động táo bạo, bất ngờ làm cho địch không kịp trở tay, tập trung lực lượng diệt sinh lực địch ở Đà Nẵng, chủ yếu là Sư đoàn thủy quân lục chiến và Sư đoàn 3 ngụy, giành thắng lợi trong trận quyết chiến này, tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược sau”(2).

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Quân đoàn 2 đã huy động gần như toàn bộ lực lượng của mình cho trận quyết chiến này: Sư đoàn 325, Sư đoàn 304, Lữ đoàn tăng - thiết giáp 203, Lữ đoàn pháo binh 164 (thiếu 1 tiểu đoàn), 3 trung đoàn cao xạ 245, 284, Lữ đoàn công binh 219. Cùng với lực lượng Quân đoàn 2, lực lượng Quân khu 5 được sử dụng trong chiến dịch Đà Nẵng gồm: Sư đoàn bộ binh 2, Trung đoàn 36 và Trung đoàn 3 độc lập, Lữ đoàn bộ binh 52, Trung đoàn pháo binh 572, Trung đoàn cao xạ 573, Trung đoàn xe tăng 574, Trung đoàn công binh 83, Tiểu đoàn công binh vượt sông 25, Tiểu đoàn cao xạ 124 (của Quân chủng Phòng không - Không quân), 2 trung đoàn 96, 97, Tiểu đoàn pháo phản lực ĐKB 575, các đại đội bộ binh, đặc công, biệt động, du kích của tỉnh Quảng Đà, 3 tiểu đoàn bộ binh của tỉnh Quảng Nam.

Hướng tiến công chủ yếu vào thành phố Đà Nẵng được xác định từ phía bắc, tây nam và phía nam, đông nam; trong đó, Quân đoàn 2 được giao nhiệm vụ tiến công từ phía bắc và tây bắc, Quân khu 5 được giao nhiệm vụ tiến công từ phía nam và đông nam.

Hướng bắc, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 sử dụng Sư đoàn 325 (thiếu Trung đoàn 95) được tăng cường thêm một tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh theo đường số 1 đánh chiếm Sở chỉ huy Quân đoàn 1 - Quân khu 1, Sở chỉ huy Sư đoàn 1 không quân địch ở sân bay Đà Nẵng; sau đó, phát triển tiến công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà. Hướng này do đồng chí Hoàng Đan - Phó Tư lệnh quân đoàn trực tiếp chỉ huy.

Hướng tây bắc do Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cao xạ 37 và 57 mm (của Sư đoàn 673), 1 tiểu đoàn công binh đảm nhiệm, theo trục đường 14 (cũ) đánh chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 3 bộ binh ở Phước Tường; sau đó, phối hợp với các đơn vị đánh chiếm sân bay Đà Nẵng và các mục tiêu khác trong thành phố. Hướng này do đồng chí Nguyễn Hữu An - Tư lệnh quân đoàn trực tiếp chỉ huy.


(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng, Sđd, tr.240, 242. Về hạn định thời gian đánh chiếm Đà Nẵng, trong bài Bàn thêm về việc tạo dựng và nắm thời cơ trong chiến dịch Quảng Nam - Đà Nẵng, tác giả Đồng Thoại cho biết: “Khi Tổng Tư lệnh hỏi đồng chí Tấn: “Thời gian dự kiến dứt điểm Đà Nẵng là bao lâu”. Anh Tấn báo cáo xin 7 ngày, rồi rút xuống 5 ngày đều không được chấp nhận. Đại tướng Tổng Tư lệnh nói: “Chỉ 3 ngày thôi!”. Thấy anh Tấn do dự chưa dám nhận, Đại tướng nổi nóng: “Nếu không phải anh là Tư lệnh, thì tôi đã ra lệnh rồi!”. Một vị tướng chỉ huy giỏi như anh Tấn mà còn rất lo trước mệnh lệnh “Chỉ 3 ngày thôi”. Cuối cùng, thực tế cả 4 hướng đánh vào Đà Nẵng đều nổ súng vào ngày 27-3, và ngày 29-3-1975 chiếm xong Đà Nẵng.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975, Sđd, tr. 493.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #102 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 07:10:27 AM »

Hướng nam và đông nam do Sư đoàn 2 - Quân khu 5 được tăng cường 2 trung đoàn bộ binh (3 và 36), 1 tiểu đoàn tăng - thiết giáp (của Trung đoàn 574), 1 tiểu đoàn pháo binh (của Trung đoàn 572), 1 tiểu đoàn cao xạ 37 mm (của Trung đoàn 573), 1 phân đội tên lửa B72 đảm nhiệm (Lữ đoàn 52 lúc này đang ở Quảng Ngãi chưa kịp cơ động ra được Quân khu sử dụng làm lực lượng dự bị chiến dịch). Nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị được Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 xác định: Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia) và Trung đoàn 2 (Trung đoàn 38) cùng các lực lượng tăng cường (gồm 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 tiểu đoàn tăng - thiết giáp…) theo trục đường 1 đánh vào sân bay Đà Nẵng và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 sau đó phát triển tiến công vào nội đô thành phố. Trung đoàn 31 và 36, theo tục đường sắt đánh vào Đà Nẵng. Trung đoàn 3 làm lực lượng dự bị của sư đoàn. Hướng này do đồng chí Nguyễn Chơn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 chỉ huy.

Cùng với các hướng trên, Sư đoàn 304 - Quân đoàn 2 (thiếu Trung đoàn 9) đang phòng ngự ở Thượng Đức được giao nhiệm vụ tiến công vào Đà Nẵng từ phía tây nam, diệt Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến ở khu vực Ái Nghĩa; sau đó, phát triển tiến công đánh chiếm sân bay, căn cứ Nước Mặn. Thực hiện nhiệm vụ này, sư đoàn quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 66 được tăng cường Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 tiến công tiêu diệt lực lượng Lữ đoàn 369 trên tuyến phòng ngự Thượng Đức - Ái Nghĩa - Hiếu Đức, sau đó phát triển đánh chiếm căn cứ và sân bay Nước Mặn. Trung đoàn 24 (thiếu Tiểu đoàn 6) tiến công tiêu diệt lực lượng Lữ đoàn 369 phòng ngự tại các điểm cao 1025, 1078 trên dãy Đồng Lâm, sau đó vượt qua dãy Sơn Trà đánh vào Hòa Cầm, phát triển tiến công đánh vào Tòa thị chính thành phố Đà Nẵng.

Phối hợp với bộ đội chủ lực có lực lượng vũ trang địa phương hai tỉnh Quảng Đà và Quảng Nam. Trung đoàn 96 làm nhiệm vụ đánh chiếm thị trấn Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước sau đó cùng với Sư đoàn 2 hình thành mũi thọc sâu đánh chiếm cầu Trịnh Minh Thế, căn cứ Du Hải. Trung đoàn 97 đánh địch tại thị xã Hội An, sau đó phối hợp với Sư đoàn 1 tiến công căn cứ, sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà. Các đơn vị khác tiến công địch tại các chi khu, quận lỵ, các phân chi khu ở Đại Lộc, Hòa Vang, hỗ trợ nhân dân các địa phương nổi dậy giành quyền làm chủ.

 Chiến dịch tiến công Đà Nẵng là chiến dịch được hình thành trên cơ sở của thế chiến lược được tạo ra trong quá trình tiến công địch ở miền Trung vào mùa Xuân 1975, vì vậy, công tác bảo đảm các mặt cho chiến dịch gặp nhiều khó khăn, nhất là về hậu cần và đường cơ động. Song các đơn vị tham gia chiến dịch đã tìm mọi cách khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ.

Chuẩn bị cho tác chiến xuân hè 1975, Quân đoàn 2 đã tiếp nhận một khối lượng lớn vật chất từ hậu phương lớn chuyển vào. Tính đến ngày 8-3, quân đoàn đã tiếp nhận từ Đoàn 559: 989 tấn vật chất, trong đó có 240 tấn đạn, 349 tấn xăng dầu, 155 tấn gạo, 240 tấn thực phẩm và các háng hóa khác tại A Sầu. Bên cạnh đó, quân đoàn đã chuẩn bị được 3.331 tấn. Sau chiến dịch Trị - Thiên, để bảo đảm cho các đơn vị tham gia tiến công Đà Nẵng, từ chiều ngày 26-3, hậu cần quân đoàn khẩn trương vận chuyển đạn, gạo từ Quảng Trị vào nam Thừa Thiên. Đồng thời, quân đoàn cũng đề nghị Đoàn 559 chuyển hàng vào giao cho quân đoàn ở La Sơn để kịp thực hiện kế hoạch thời cơ. Mặc dù vậy, ý định này không thực hiện được do thời tiết không thuận lợi và thông tin chậm, hàng không đưa vào được theo đúng thời gian. Trong điều kiện đó, một mặt, quân đoàn phải chuyển sang phương án lấy ngay vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm thu được của địch bảo đảm cho bộ đội tham gia chiến dịch; mặt khác, tiếp tục tìm cách vận chuyển vật chất từ phía sau lên.

Tại Quân khu 5, để bảo đảm vật chất cho các lực lượng tham gia tiến công Đà Nẵng, ngày 25-3, hậu cần quân khu đã tổ chức bộ phận tiền phương hục Khu A đặt ở Khánh Sơn để bảo đảm cho Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 523 cơ động từ phía nam ra. Bảo đảm cho Sư đoàn 304 ở hướng tây nam, quân khu huy động lượng dự trưc vật chất ở kho làng Hồi được 320 tấn, trong đó có 180 tấn vũ khí và ở khu vực Quế Sơn được 40 tấn gạo. Bên cạnh đó, hậu cần quân khu đã lót sẵn một lượng vật chất đáng kể tại Binh trạm H1 (Đại Lộc), Binh trạm H2 (Bình Sơn), đồng thời tích cực thu gom vật chất thu được của địch tại các địa bàn ta vừa đánh chiếm ở Quảng ngãi, Tam Kỳ, Chu Lai…

Là chiến dịch binh chủng hơp thành tiến công địch trong hành tiến, thời gian chuẩn bị gấp, việc bảo đảm các công tình, các tuyến đường cơ động cho các đơn vị tác chiến trên các hướng tiến công, bảo đảm cho bộ đội vượt sông, bảm đảm thông tin phục vụ cho công tác chỉ huy được đặt ra rất cấp bách và có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo công binh Quân khu 5 và Quân đoàn 2 chủ động chuẩn bị tuyến đường cơ động của mình, liên hệ chặt chẽ với các địa phương bảo đảm cho bộ đội cơ động tốt trong quá trình thực hành chiến dịch. Bằng nỗ lực vượt bậc, với tinh thần tất cả để giải phóng Đà Nẵng, giải phóng miền Trung, lực lượng công binh của Quân khu 5 và Quân đoàn 2 đã tìm mọi cách khắc phục vật cản, mở đường, chuẩn bị các vến vượt trên các trục đường cơ động chủ yếu.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #103 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 07:11:26 AM »

Song song với quá trình chuẩn bị các mặt bảo đảm, trên các hướng chiến dịch, các đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ đã được phân công.

Trên hướng Quân đoàn 2, ngay sau khi nhận chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, quân đoàn khẩn trương tổ chức các phân đội trinh sát của quân đoàn, sư đoàn và các trung đoàn làm công tác nắm địch, nắm địa hình khu vực tác chiến. Công tác bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy chiến dịch cũng được Trung đoàn thông tin 463 gấp rút triển khai. Các đơn vị chiến đấu thực hiện việc giao nhiệm vụ và triển khai đội hình tiến công áp sát các mục tiêu. Trung đoàn 18 (Sư đoàn 3250 bấy giờ đang đứng chân ở Đại Lộc (Thừa Thiên) ra sức chuẩn bị tiến công địch ở Phước Tường, Nước Ngọt, Thừa Lưu, Thổ Sơn, Phú Gia… để mở đường cho lực lượng tiến đánh Đà Nẵng theo quốc lộ 1. Trung đoàn 9 và các đơn vị phối thuộc trung đoàn nhanh chóng cơ động lực lượng, chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công, sẵn sàng đánh chiếm Ti Tu, Đá Đen làm bàn đạp tiến công vào Đà Nẵng từ hướng tây bắc. Các đơn vị binh chủng cũng triển khai đội hình, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ được giao. Trung đoàn cao xạ 284 và Tiểu đoàn 6 pháo cao xạ 23 mm cơ động theo trục đường 1 làm nhiệm vụ chi viện cho Sư đoàn 325. Trung đoàn cao xạ 243 cơ động theo trục đường 14 chi viện cho Trung đoàn 9, Trung đoàn 164 pháo binh đưa Tiểu đoàn 4 vào xây dựng trận địa ở đèo Mũi Trâu (cách Đà Nẵng 12 km), sẵn sàng pháo kích vào Đà Nẵng chi viện cho các mũi tiến công.

Trên hướng Quân khu 5, Sư đoàn 2 sau khi giải phóng Tam Kỳ, đã cơ động ra khu vực Thăng Bình. Trung đoàn cao xạ 573 cơ động theo trục đường 1, có nhiệm vụ bảo vệ đội hình chiến đấu của Sư đoàn 2. Trung đoàn 36, Trung đoàn pháo binh 572, Tiểu đoàn hỏa tiễn 575, Tiểu đoàn cao xạ 124 (của Quân chủng Phòng không - Không quân) cơ động ra khu vực Sơn Thạch, Sơn Khánh (Quế Sơn). Một bộ phận Lữ đoàn 52 từ Quảng Ngãi hành quân ra đã tiến công căn cứ Chu Lai (ngày 25-3).

Sau khi nhận lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304 đã họp xác định phương án tác chiến và giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Ngay sau đó, theo nhiệm vụ đã được phân công, các đơn vị khẩn trương đội hình chiến đấu: Trung đoàn 68 cơ động sang phía bắc sông Vu Gia, Trung đoàn cao xạ 245 cơ đông theo đường 4 và đường 14B, sẵn sàng chi viện cho các đơn vị chiến đấu của sư đoàn.

Tại Quảng Đà, sau khi nhận chỉ thị của Khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu, Đặc khu ủy Quảng Đà họp dự thảo kế hoạch tác chiến do Mặt trận Quảng Đà đề xuất. Theo dự thảo kế hoạch, có ba phương án tác chiến được đặt ra:

Phương án 1: trong trường hợp chủ lực của ta chưa cơ động đến kịp, địch tan rã rút chạy thì ta sử dụng lực lượng vũ trang địa phương kết hợp với nổi dậy của quần chúng đánh chiếm Đà Nẵng.

Phương án 2: nếu chủ lực đến kịp thì lực lượng địa phương vượt qua tuyến vòng ngoài của địch, phối hợp với bộ đội chủ lực, phát động quần chúng nổi dậy cùng chủ lực giải phóng Đà Nẵng.

Phương án 3: trong trường hợp địch co cụm và chống trả quyết liệt, phải có lực lượng lớn mới giải phóng được thì tỉnh ém sẵn lực lượng trong thành phố chờ thời cơ phối hợp với chủ lực thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào để giải phóng thành phố.

Trong ba phương án trên, Đặc khu ủy coi trong phương án 1 và xác định mục tiêu: Tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân địch, kiên quyết không cho chúng tháo chạy bằng bất cứ giá nào. Thực hiện quyết tâm trên đây, ngoài Trung đoàn 96, tỉnh Quảng Đà gấp rút thành lập Trung đoàn 97 (ngày 22-3-1975) và 29 liên trung đội du kích và làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy. Trong khi đó, tại các quận của thành phố Đà Nẵng, cơ sở chính trị, lực lượng tự vệ và biệt động thành cũng khẩn trương được củng cố, phát triển, đảm bảo mỗi quận có 200 tự vệ và lực lượng vũ trang. Các ban cán sự hoạt động bí mật trong thành phố nay được chuyển thành các Ủy ban khởi nghĩa hoạt động công khai và nửa công khai, sẵn sàng phối hợp với các lực lượng đánh chiếm mục tiêu trong thành phố, phá nhà lao, giải thoát tù chính trị, bảo vệ các công sở, không cho địch phá hoại trước khi rút chạy. Trung đoàn 96 cũng được bố trí lót sẵn ở phía đông Đà Nẵng để khi có lệnh nhanh chóng tiến vào, phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch, giải phóng thành phố.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #104 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 07:12:09 AM »

Theo phương án đã xác định, từ ngày 20-3, trên các hướng, bộ đội ta bắt đầu tiến công các vị trí phòng thủ vòng ngoài của địch, mở đường tiến vào thành phố Đà Nẵng.

Ở hướng bắc, Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 sau khi đánh chiếm căn cứ của Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến ở Phước Tường, đã áp sát đội hình, sẵn sàng tiến công hệ thống mục tiêu phòng thủ của địch trên đường 1. Lúc này, địch đã xây dựng tuyến phòng thủ mới từ Phước Tường đến Lăng Cô nhằm ngăn chặn ta đánh vào Đà Nẵng từ phía nam Huế. Trên tuyến này, chúng bố trí Tiểu đoàn 8 - Lữ đoàn 258 ở Phú Gia, Lăng Cô; tiểu đoàn 1 - Lữ đoàn 258 chốt giữ đèo Hải Vân, Liên Chiểu. Từ Thừa Lưu đến Phú Gia, chúng bố trí Liên đoàn bảo an 914. Ngoài ra, chúng còn bố trí các trận địa pháo dã chiến trên đường 1, sẵn sàng chi viện hỏa lực cho các lực lượng trên tuyến phòng thủ.

Mục tiêu đầu tiên của Trung đoàn 18 nhằm vào là căn cứ Nước Ngọt. khi đơn vị đi đầu của trung đoàn là Tiểu đoàn 8 mối tiến đến gần căn cứ thì địch ở đây đã bỏ chạy. Tiểu đoàn lập tức tổ chức truy kích. Trên đường truy kích, tiểu đoàn phát hiện địch bố trí một tuyến ngăn chặn ta tại ga Thừa Lưu. Trung đoàn giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 8 đánh chiếm mục tiêu này. Để chắc thắng, trung đoàn tăng cường hỏa lực cối 120 mm và pháo 85 mm cho tiểu đoàn, đồng thời cử đồng chí Nguyễn Văn Xứng - Trung đoàn phó xuống tiểu đoàn trực tiếp chỉ huy trận đánh.

14 giờ ngày 26-3, trận đánh vào ga Thừa Lưu bắt đầu. Sau loạt pháo cối bắn chi viện, các mũi tiến công của Tiểu đoàn 8 nhanh chóng tiếp cận và tiến công các ổ đề kháng của địch. Địch chống trả quyết liệt, song với sự kết hợp chặt chẽ giữa mũi tiến công chính diện theo trục đường chính và các mũi tiến công vu hồi từ bên sường đội hình phòng ngự của địch nên sau 4 giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 8 đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Đến 20 giờ cùng ngày, Trung đoàn 18 đã chiếm toàn bộ khu vực Thừa Lưu, Trung Kiên, Thổ Sơn. Địch buổi phải rút về phòng thủ ở đèo Phú Gia, Lăng Cô và Hải Vân, đồng thời, chúng cho phá cầu Thừa Lưu để chặn quân ta tiến vào Đà Nẵng từ phía bắc.

Không để cho địch có thời gian củng cố, ngay từ 5 giờ sáng ngày 27-3, Trung đoàn 18 tổ chức tiến công vào tuyến phòng ngự lâm thời của địch ở đèo Phú Gia. Trung đoàn pháo binh 84 vừa cơ động từ trên núi xuống cũng được lệnh của sư đoàn cho sử dụng pháo thu được của địch ở Phước Tường, Phú Lộc chi viện hỏa lực cho Trung đoàn 18. Địch ngoan cố chống cự quyết liệt. Chúng sử dụng cả máy bay từ sân bay Đà Nẵng, pháo từ Lăng Cô, Hải Vân đánh mạnh vào đội hình tiến công của ta, song không ngăn chặn nổi bước tiến của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 18. Đèo Phú Gia nhanh chóng bị quân ta tiêu diệt. Thừa thắng, ta đánh chiếm luôn cả Sơn Hải, An Bảo, Loan Lý. Chiều ngày 27-3, quân ta đã tiến tới ga Lăng Cô (dưới chân dèo Hải Vân). Cuộc chiến đấu ở khu vực ga Lăng Cô diễn ra ác liệt. Địch dựa vào trận địa phòng ngự kiên cố có sẵn trong ga với hỏa lực mạnh quyết chặn bằng mũi tiến công của ta. Ta cũng quyết giành cho được khu vực này để mở đường đưa binh khí kỹ thuật vào đánh Đà Nẵng. Sau nhiều lần tổ chức tiến công không đạt kết quả, Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 18 buộc phải thay đổi cách đánh. Một mặt, tiểu đoàn lợi dụng doi cát ngằm sát ga Lăng Cô để bí mật tiếp cận địch từ phía biển; mặt khác, tiểu đoàn tổ chức mũi vu hồi dọc theo tuyến đường sắt để áp sát địch từ bên sường khu vực ga Lăng Cô. Pháo binh chi viện được tăng cường và hiệp đồng với bộ binh chặt chẽ hơn. Sau khi điều chỉnh thế bố trí, khi hoàn hôn buông xuống, lợi dụng lúc địch chủ quan cho rằng cuộc tiến công của ta đã tạm dừng, Tiểu đoàn 8 bất ngờ nổ súng tiến công địch từ hai hướng. Đến 20 giờ ngày 27-3, Tiểu đoàn 8 đã hoàn toàn làm chủ khu vực Lăng Cô, mở toang cửa để đột phá đèo Hải Vân.

Hướng tây bắc, từ đêm ngày 26-3, Trung đoàn 9 - Sư đoàn 304 cùng các đơn vị binh chủng tăng cường gồm 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cao xạ hành quân theo đường 14 tiến xuống, triển khai đội hình ở khu vực Thủy Tú, Đá Đen.

Hướng nam và đông nam, trong hai ngày 26 và 27-3, Sư đoàn 2 (Quân khu 5) và các lực lượng tăng cường cơ động lực lượng đến vị trí tập kết và gấp rút triển khai đội hình chiến đấu.

Hướng tây nam, Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 9) đang làm nhiệm vụ phòng ngự ở Thượng Đức khi nhận được điên của Bộ Tổng tư lệnh “ngày 28 phải tiến công ngay”, đã khẩn trương cơ động lực lượng, chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công. Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 24 đánh diệt Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến trên tuyến phòng thủ ở hướng tiến công chủ yếu của Sư đoàn, giải phóng quận lỵ Ái Nghĩa, sau đó đánh chiếm sân bay Nước Mặn; Trung đoàn 24 (thiếu Tiểu đoàn 6) từ điểm cao 1.062 qua núi Sơn Gà đánh thẳng vào căn cứ Hòa Cầm và Tòa thị chính thành phố Đà Nẵng.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #105 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 07:14:15 AM »

Hỗ trợ cho các hướng tiến công, từ đêm 25 rạng ngày 26-3, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lệnh cho Trung đoàn pháo binh 572 bắn phá các cửa biển từ Non Nước đến Hội An, ngăn không cho địch rút chạy bằng đường biển; Tiểu đoàn pháo hỏa tiễn 575 Quảng Đà bắn phá sân bay Đà Nẵng để khống chế đường không của địch.

Trước thế tiến công áp đảo của bộ đội chủ lực và trong tình trạng hoang mang cực độ, theo chỉ đạo của Thường vụ Đặc khu Quảng Đà, lực lượng vũ trang tại chỗ đã chủ động phối hợp với bộ đội trên các mũi, các hướng đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ một số huyện, xã. Đặc biệt, tại căn cứ huấn luyện Hòa Cầm, cơ sở của ta đã hướng dẫn lực lượng nội ứng lôi kéo binh lính địch nổi dậy diệt bọn chỉ huy, bỏ hàng ngũ địch quay về với nhân dân.

Giữa lúc bộ đội ta trên các mũi, các hướng khẩn trương triển khai đội hình tiến công Đà Nẵng, sáng ngày 27-3-1975, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Quân đoàn 2 và Quân khu 5: Tình hình Đà Nẵng rất khẩn trương, càn có những biện pháp đặc biệt nhanh chóng tiến công địch, bỏ qua những mục tiêu ở dọc đường, tiến thẳng vào Đà Nẵng, nhanh chóng nhất, kịp thời nhất, táo bạo nhất với các lực lượng có thể chuyển tới sớm nhất”(1).

Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Quân đoàn 2 và Quân khu 5 khẩn trương huy động toàn bộ lực lượng pháo binh của mặt trận tham gia chiến đấu. đến ngày 27-3, phát huy truyền thống “chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắt trúng”, các chiến sĩ pháo binh của ta đã vượt qua mọi khó khăn, trở ngại về địa hình, thời tiết và cả thời gian, hành quân gấp, nhanh chóng đưa pháo lên chiếm lĩnh các khu vực có lợi, sẵn sàng cho trận đánh vào căn cứ quân sự lớn nhất miền Trung.

Đúng 5 giờ 30 phút sáng ngày 28-3-1975, các trận địa pháo của ta ở Sơn Thạch, Sơn Khánh, đèo Mũi Trâu… bắt đầu nã đạn chế áp các mục tiêu Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà… hỗ trợ cho các lực lượng trên các hướng của chiến dịch tiến công vào Đà Nẵng. Đòn tập kích hỏa lực mãnh liệt và dồn dập của pháo binh càng khiến cho địch thêm hoang mang, hoảng loạn. được sự chi viện của hỏa lực pháo binh, trên các hướng, quân ta tiến công vào các mục tiêu được phân công.

Trên hướng bắc, sau khi chiếm được Lăng Cô, Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 tiếp tục đánh lên đèoe Hải Vân. Tuy nhiên vào lúc đó, địch tập trung pháo binh và không quân đánh phá ác liệt khu vực Lăng Cô, đồng thời tổ chức lực lượng phản kích hòng chiếm lại khu vực này lên mũi tiến công của Trung đoàn 18, gặp rất nhiều khó khăn. Với sự hỗ trợ của pháo binh Quân đoàn 2, Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 18 đã kiên cường đánh lui 4 đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa và phát triển tiến công. Đến 4 giờ 20 phút ngày 29 tháng 3, Tiểu đoàn 8 đã chiếm được điểm cao 168 và một số vị trí địch trên đèo Hải Vân. Lực lượng tiến công tái chiếm Lăng Cô của địch buộc phải rút về chốt giữ đỉnh đèo. Sau khi tiêu diệt cụm quân địch ở điểm cao 186 và ở một số vị trí trên đèo Hải Vân, Sư đoàn 325 lập tưc tổ chức đội hình tiến công địch trong hành tiến, lấy Trung đoàn 18 được tăng cường các tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp, cao xạ, pháo có xe kéo là lực lượng tiến công chủ yếu, đánh thẳng vào thành phố Đà Nẵng. 6 giờ 30 phút sáng ngày 29-3, bộ phận đi đầu của Trung đoàn 18 gồm Đại đội 6 - Tiểu đoàn 8, 1 đại đội xe tăng PT85(2), một phân đội trinh sát đã tiến đến đỉnh đèo Hải Vân. Lực lượng địch phòng ngự tại đây đã ngăn chặn quyết liệt. Xe tăng được thành công thành lực lượng đột kích mạnh, đánh thẳng theo trục đường, đổng thời các mũi vu hồi của bộ binh đánh mạnh vào bên sường đội hình phòng ngự của địch. Trước sức tiến công của ta, tuyến ngăn chặn của địch ở khu vực đèo Hải Vân bị phá vỡ. 8 giờ, đội hình của Trung đoàn 18 đã vượt qua đỉnh đèo Hải Vân tiến xuống chân đèo phía nam. Tại đây, trung đoàn chạm trán với một bộ phận lực lượng địch khoảng 1 tiểu đoàn cao xe tăng hộ tống đang cơ động lên chi viện cho đồng bọn trên đỉnh đèo. Ngay lập tức, lực lượng này bị Tiểu đoàn 8 tiêu diệt. Tiếp đó, bộ đội ta nhanh chóng phát triển tiến công đánh chiếm kho xăng Liên Chiểu. 9 giờ 30 phút, cánh quân phía bắc của ta đã tiến đến cầu Nam Ô. Lúc này, địch hoảng loạn, tháo chạy tán loạn. 10 giờ 30 phút, Trung đoàn 18 vào đến trung tâm thành phố Đà Nẵng. Vượt qua cầu Trịnh Minh Thế, trung đoàn tiến ra bán đảo Sơn Trà. Mục tiêu đầu tiên ở bán đảo mà trung đoàn nhằm vào là quân cảng, nơi có hàng chục ngàn sĩ quan, binh lính quân đội Sài Gòn đang chờ tàu của Mỹ đến để di tản. Sau khi chiếm quân cảng, trung đoàn đánh thốc vào trung tâm bán đảo. Biết không thể giữ được bán đảo, quân địch ở đây bỏ chạy tháo thân. Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1 lúc này cũng không thể chỉ huy được sĩ quan và binh lính thuộc quyền đành bỏ mặc cấp dưới, tìm cách chạy trốn theo đường biển. 13 giờ 30 phút, Trung đoàn 18 đã làm chủ bán đảo Sơn Trà, diệt và bắt toàn bộ quân địch ở đây, trong đó có Bộ chỉ huy hành quân của Quân đoàn 1, thu hơn 100 tàu, xuồng và toàn bộ hàng hóa trong khu kho liên hiệp của chúng.

Hướng tây bắc, sáng ngày 28-3, Trung đoàn 9 - Sư đoàn 304 cùng các đơn vị tăng cường sau khi vượt qua chặng đường dài tới 70 km, mới đến vị trí tập kết để chuẩn bị đánh các vị trí Thủy Tú, Đá Đen. Nhưng địch ở đây đã bỏ chạy. Tư lệnh Quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An trực tiếp chỉ huy hướng này lệnh cho Trung đoàn 9 và lực lượng tăng cường triển khai ngay đội hình tiến công địch trong hành tiến đánh thẳng vào Sở Chỉ huy Sư đoàn 3, Thiết đoàn 11 và Liên đoàn bảo an 911 ở Phước Tường - Hòa Khánh. 9 giờ 30 phút ngày 29-3, Trung đoàn 9 đã hành quân đến phía bắc núi Phước Tường và tiến đánh các mục tiêu. 12 giờ 30 phút, quân ta chiếm được Sở chỉ huy Sư đoàn 3 và làm chủ toàn bộ khu vực Phước Tường - Hòa Khánh. Sau đó, bộ đội ta phát triển vào trong thành phố. Lúc này, Sư đoàn 2 - Quân khu 5 và lực lượng vũ trang địa phương đã chiếm được các mục tiêu chủ yếu trong thành phố nên Tiểu đoàn xe tăng phối thuộc trung đoàn được lệnh nhanh chóng cơ động sang cùng Trung đoàn 18 giữ bán đảo Sơn Trà. Lực lượng còn lại cùng các đơn vị bạn làm nhiệm vụ chốt giữ thành phố Đà Nẵng.


(1) Điện số 3 - ĐB/TK ngày 27-3-1975, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
(2) Do công binh chưa kịp khắc phục cầu Thừa Lưu nên lực lượng tăng - thiết giáp tăng cường cho Trung đoàn 18 chỉ có 1 đại đội xe tăng lội nước PT85 kịp thời tham gia vào mũi tiến công chủ yếu.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #106 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 07:16:46 AM »

Hướng nam, Trung đoàn 38 - Sư đoàn 2 - Quân khu 5 do Sư đoàn phó Vũ Đình Nã trực tiếp chỉ huy, được tăng cường xe tăng và pháo binh, tổ chức đánh địch theo trục đường 1. 9 giờ ngày 28-3, trung đoàn diệt cụm quân địch chốt chặn ở phía bắc cầu Bà Rén. Cùng thời gian này, Trung đoàn 96 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Đà đánh chiếm quận lỵ Duy Xuyên và thị trấn Nam Phước. Hòng cản phá cuộc tiến công của quân ta vào Đà Nẵng từ phía nam, địch dùng máy bay ném bom đánh sập cầu Bà Rén và cầu Câu Lâu. Không để lỡ thời cơ, với sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, bằng ghe, xuồng, Trung đoàn 38 nhanh chóng tổ chức vượt sông. Song, xe tăng, pháo binh, cao xạ không thể vượt sông bằng ghe, xuồng nên phải nằm lại phía nam cầu Bà Rén; chỉ có 2 chiếc xe tăng lội nước PT 85 vượt được sông cùng bộ binh. Ngay sau khi vượt sông, trung đoàn 38 tổ chức nắm địch và quyết định tập trung toàn bộ lực lượng tổ chức tiến công Vĩnh Điện - cứ điểm phòng thủ vòng ngoài cuối cùng của địch còn lại ở phía nam Đà Nẵng. Lực lượng địch tại đây có 2 đại đội bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu) và 6 xe tăng. Vợi sự hỗ trợ của du kích, 3 mũi tiến công của Tung đoàn bí mật tiếp cận mục tiêu và bất ngờ nổ súng. Địch không kịp phản ứng. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, đến 5 giờ 55 phút ngày 29-3, bộ đội ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây, thu 12 khẩu pháo, 4 xe tăng và nhiều trang thiết bị khác. Vĩnh Điện bị diệt, cách cửa để tiến vào Đà Nẵng từ phía nam đã được mở. Sau khi đánh chiếm căn cứ Vĩnh Điện, Trung đoàn 38 cơ động đến ngã ba Bồ Mưng, được nhân dân dẫn đường tiến đánh ra khu vực Non Nước rồi phát triển ra bán đảo Sơn Trà. Trong khi đó, Sư đoàn 2 sử dụng Trung đoàn Ba Gia (Trung đoàn 1) theo quốc lộ 1 đánh thẳng vào Đà Nẵng. Đến Viêm Tây, trung đoàn đụng phải lực lượng địch chốt chặn tại đây. Trung đoàn tổ chức cho Đại đội 6 - Tiểu đoàn 60 bao vây địch, còn lại, toàn đội hình trung đoàn vòng sang phía tây đường tiếp tục tiến về Đà Nẵng. đến Viêm Tây, được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 31, Trung đoàn Ba Gia tổ chức 2 mũi tiến công vào thành phố. Mũi chủ yếu đánh vào sân bay, mũi thứ yếu đánh vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1.

Lúc này, trong thành phố Đà Nẵng, Đặc khu ủy đã phát lệnh tổng tiến công và nổi dậy. Vì vậy, các mũi tiến công của Trung đoàn Ba Gia sau khi vào thành phố đã được lực lượng tại chỗ dẫn đường nhanh chóng đánh diệt các mục tiêu của địch.

Mũi tiến công chủ yếu của trung đoàn có nhiệm vụ đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 1 không quân và sân bay Đà Nẵng có Tiểu đoàn 60, Tiểu đoàn 90 và Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 31. Ở mũi này, sau khi vượt qua cầu Đỏ, Tiểu đoàn 60 đánh thẳng theo quốc lộ 1 ra ngã ba Huế rồi vào trung tâm thành phố ; Tiểu đoàn 90 đánh Sở chỉ huy Sư đoàn 1 không quân và cùng Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 31 đánh chiếm toàn bộ sân bay Đà Nẵng.

Mũi tiến công vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 do Tiểu đoàn 40 đảm nhiệm. Mũi này, sau khi vượt qua sông Cẩm Lệ tiến đến bến đò Sư thì bị một tiểu đoàn thủy quân lục chiến của quân đội Sài Gòn chặn đánh. Ngay lập tức, tiểu đoàn sử dụng toàn bộ hỏa lực đi cùng bắn chế áp mãnh liệt vào đội hình địch; đồng thời, bộ binh nhanh chóng xung phong chiếm lĩnh trận địa. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, địch kháng cự yếu ớt rồi bỏ lại vũ khí tháo chạy tán loạn. Tiểu đoàn 40 truy kích bắt được 310 tên địch, thu 1 xe M 113 và dùng ngày xe này hỗ trợ bộ binh tiếp tục tiến đánh Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1. Đúng 12 giờ ngày 29-3, lá cờ chiến thắng của ta đã tung bay giữa Trung tâm Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1 địch. Thời điểm này, hầu hết các mục tiêu trọng yếu trong thành phố như sân bay Đà Nẵng, Tòa thị chính thành phố, Đài phát thanh, Ty Cảnh sát, Ngân hàng, Quân vụ… đều bị các lực lượng của Sư đoàn 2 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương (Trung đoàn 96, Tiểu đoàn đặc công 491, Đội đặc nhiệm Lê Độ) chiếm lĩnh.

Hoạt động phía bên phải đội hình Sư đoàn 2 là Trung đoàn 97 của tỉnh Quảng Đà do đồng chí Hà Bân - Trung đoàn trưởng chỉ huy. Trong lúc các mũi của Sư đoàn 2 đánh vào trung tâm thành phố thì Trung đoàn 97 đánh chiếm thị xã Hội An. Sau đó, trung đoàn phát triển tiến công ra khu vực Non Nước và đánh chiếm sân bay Nước Mặn. từ 13 đến 15 giờ ngày 29-3, trung đoàn đánh tiếp lực lượng thủy quân lục chiến đang co cụm ở An Đông, Mỹ Khê, gọi hàng và bắt sống hàng trăm tên.

Hướng tiến công từ phía tây nam, nhận được điện của Bộ Tổng tư lệnh lúc 2 giờ sáng ngày 29-3: “Địch đang rút lui, sư đoàn phải truy kích địch về hướng sân bay Nước Mặn”, Tư lệnh Sư đoàn 304 lệnh cho Trung đoàn 66 truy kích địch theo đường 14B ra Đà Nẵng, sau đó phát triển về sân bay Nước Mặn. 5 giờ ngày 29-3, Trung đoàn 66 đã tiến đến gần Ái Nghĩa. Gặp địch ngăn chặn, trung đoàn tổ chức tiến công đánh tan quân địch ở Gò Cao và một số vị trí khác trên đường 14B, sau đó phát triển về Đà Nẵng. Khoảng 9 giờ, trung đoàn tiêu diệt cụm quân địch ở Hải Châu, phát triển đánh chiếm căn cứ Hòa Cầm. Lúc 10 giờ, trung đoàn tổ chức thành hai mũi tiến vào thành phố: một mũi phối hợp với lực lượng của Sư đoàn 2 đánh chiếm sân bay Đà Nẵng; mũi khác do Tiểu đoàn 7 đảm nhiệm, đánh chiếm khu vực ngã ba Nhà Thờ.

Với sự phối hợp tiến công đồng loạt giữa các mũi, các hướng trên toàn mặt trận, đến 15 giờ ngày 29-3-1975, quân ta đã làm chủ căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và toàn tỉnh Quảng Đà. Chiến dịch Đà Nẵng kết thúc chỉ sau hơn ngày tiến công tàn tốc. Với chiến dịch này, ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại của Quân đoàn 1 - Quân khu 1 địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 90.000 tên địch gồm Sư đoàn 3 bộ binh, Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến, Sư đoàn 1 không quân, Thiết đoàn 11 và một bộ phận của thiết đoàn 20, 12 tiểu đoàn pháo binh, lực lượng còn lại của Sư đoàn 1, một bộ phận của Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 147, các liên đoàn biệt động 11, 12, 14, 15 cùng lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát… Ta thu được một khối lượng lớn vũ khí, trang bị khí thuật, phương tiện chiến tranh gồm 129 máy bay các loại, 80 xe tăng - thiết giáp, 47 tàu xuồng, 216 khẩu pháo các loại, 184 xe vận tải cùng toàn bộ kho tàng lương thực, thực phẩm và đạn dược.

Thắng lợi của chiến dịch Đà Nẵng đã đập tan âm mưu co cụm chiến lược của địch. Thuận lợi đó “đã góp phần rất quan trọng đập tan một bộ phận quân sự lớn và bộ máy kìm kẹp của địch trên toàn bộ Quân khu 1 của chúng…, đẩy địch vào thế thất bại hết sức nghiêm trọng không gì cứu vãn nổi, thúc đẩy thế tiến lên tất thắng của quân và dân ta”(1). Cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Nam - Ngãi và chiến dịch Trị -Thiên làm thay đổi căn bản so sánh tương quan lực lượng địch - ta, tạo bước phát triển nhảy vọt về cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho ta. Với việc tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch, làm tan rã lớn về tổ chức, đẩy chúng vào thế bế tắc cả về chiến thuật, chiến lược và đặt đội quân này đứng trước nguy cơ sụp đổ không gì cứu vãn nổi. Chiến dịch Đà Nẵng đã mở ra thời cơ thuận lợi để ta thực hiện trận quyết chến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, 2004, tr. 234-235.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #107 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 06:39:13 PM »

III - ĐÁNH CHIẾM QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
VÀ CÁC ĐẢO TRÊN BIỂN ĐÔNG

Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, theo đề xuất của Bộ Tổng tham mưu, Quân ủy Trung ương trình Bộ Chính trị về việc giải phóng Trường Sa. Ngày 25-3-1975, kiến nghị này của Quân ủy Trung ương được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị. Vào thời gian này, đồng chí Hoàng Trà - Chính ủy Quân chủng Hải quân được điều động về làm việc cạnh Bộ Tổng tham mưu, giúp theo dõi tình hình địch trên biển và đề xuất nhiệm vụ của hải quân trong các đòn tiến công chiến lược cuối cùng. Đồng thời, Bộ Tồng tham mưu quyết định điều Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải quân di chuyển vào Đà Nẵng vừa tiếp quản căn cứ hải quân của quân đội Sài Gòn, vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ tác chiến giải phóng khu vực biển đảo. Ngày 30-3-1975, Quân ủy Trung ương điện gửi các đồng chí Chu Huy Mân, Võ Chí Công, trong đó chỉ rõ: “Theo chỉ thị của Bộ chính trị, Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Nam Sa (Trường Sa). Trong việc này, anh Nguyễn Bá Phát - Phái viên của Bộ Tổng tham mưu và các cán bộ hải quân cùng đi sẽ do Khủ ủy và Quân khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch”(1).

Thực hiện nhiệm vụ này, ngay từ đầu tháng 4-1975, Bộ Tư lệnh Hải quân một măt sử dụng Đoàn 125 vận chuyển bộ đội, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho chiến trường Nam Bộ; mặt khác, khẩn trương tổ chức lực lượng sẵn sàng tiến công giải phóng các đảo khi thời cơ đến.

Ngày 4-4-1975, trong lúc quân ta trên các mũi, các hướng dồn dập tiến công địch trên các mặt trận, Bộ Tư lệnh Hải quân nhận được chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh: “Dùng lực lượng hiện có, phối hợp với lực lượng đặc công của Quân khu 5, tranh thủ thời cơ có lợi đánh chiếm quần đảo trường Sa - một quần đảo có ý nghĩa chiến lược về chính trị, quân sự và kinh tế, góp phần giải phóng đất nước”.

Trường Sa là một quần đảo nằm ở phía nam biển Đông từ kinh tuyến 111030 đến kinh tuyến 117020 kinh độ Đông Green wich, từ vĩ tuyến 6050 đến vĩ tuyến 120 Bắc, cách Vịnh Cam Ranh khoảng 480km, cách đảo Hải Nam khoảng 1.150km, cách Đài Loan khoảng 1.780km(2), với trên 100 đảo lớn, nhỏ và bãi san hô ngầm, có diệt kích khoảng 180.000km2.Trong số trên 100 đảo lớn nhỏ, vào thơi kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ chỉ có 11 đảo có người ở, 5/11 đảo do quân ngụy Sài Gòn đóng giữ. Đó là các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa. Tổng số quân địch đóng trên 5 đảo này chỉ khoảng 160 tên thuộc Tiểu đoàn 371 Phước Tuy. Lực lượng này được bố trí như sau: Đảo Nam Yết - nơi đóng Sở chỉ huy chung có 50 tên, đảo Song Tử tây có 39 tên, đảo Sơn Ca có 25 tên, đảo Sinh Tồn có 19 tên và đảo Trường Sa có 30 tên.

Quyết tâm của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Hải quân trong việc đánh chiếm Trường Sa làm bám sát tình hình, tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng đảo, kiên quyết không để lực lượng nào khác đến đánh chiếm đảo trước ta, như chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh đã xác định.

Lực lượng đánh chiếm quần đảo Trường Sa gồm Đội 1 - Đoàn 126 đặc công từng đánh chìm nhiều tàu địch ở Cửa Việt và một bộ phận hỏa lực thuộc Tiểu đoàn 471 - Quân khu 5 do đồng chí Đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy. Các tàu vận tải 673, 674, 675 của Đoàn 125 từ Hải Phòng vào tiếp quản Đà Nẵng, có nhiệm vụ chở lực lượng tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa. Những con tàu “không số” này đã từng qua lại khu vực quần đảo Trường Sa, quen đường, có kinh nghiệm tránh đá ngầm. Chỉ huy chung toàn bộ lực lượng tiến công giải phóng đảo Trường Sa là đồng chí Mai Năng - Đoàn trưởng Đoàn 126.

Theo phương án tác chiến, mục tiêu tiến công đầu tiên là đảo Song Tử Tây, tiếp đó là các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, Trường Sa và phương châm tác chiến là: bí mật, bất ngờ tiến công. Thời cơ đánh chiếm đảo được xác định là từ 0 đến 2 giờ sáng là lúc ta có thể lợi dụng yếu tố thủy văn để bí mật đổ quân lên đảo.


(1) Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu - Cục Tác chiến: Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.683, 684.
(1) Lưu Văn Lợi: Những điều cần biết về đất, biển, trời Việt Nam, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2007, tr. 42, 43.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #108 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 06:41:03 PM »

Ngày 9-4-1975, mệnh lệnh tiến đánh Song Tử Tây được truyền xuống các đơn vị tham gia đánh chiếm đảo.

Ngay ngày hôm sau (ngày 10-4,), phân đội tàu gồm 3 chiếc của Đoàn 125 cấp tốc hành quân vào Đà Nẵng.

Cùng thời gian này, Đội 1 - Đoàn 126 đang làm nhiệm vụ bảo vệ một số căn cứ ở bán đảo Sơn Trà cũng được lệnh bàn giao cho Quân khu 5 để nhận nhiệm vụ mới.

4 giờ sáng ngày 11-4, toàn bộ Đội 1 - Đoàn 126 và bộ phận hỏa lực thuộc Tiểu đoàn 417 - Quân khu 5 rời quân cảng Đà Nẵng, hành quân ra đảo. Mặc dù Song Tử Tây ở giữa biển Đông cách xa Đà Nẵng tới 800 km nhưng các con tàu của Đoàn 125 đã đưa lực lượng đổ bộ tới đúng mục tiêu, đúng thời gian quy định. 19 giờ ngày 13-4, tàu 673 đã tiếp cận đảo. Hai tàu 674, 675 vòng ra án ngữ ở bắc và nam đảo Song Tử Tây. Rạng sáng ngày 14-4, các phân đội bí mật đổ bộ lên đảo theo 3 mũi: Mũi 1, gồm 4 tổ đặc công có trang bị hỏa lực B40, B41 và 1 khẩu ĐKZ 82 đánh từ hướng nam lên; Mũi 2, gồm 3 tổ đặc công có hỏa lực B40, B41 đánh từ hướng tây vào; Mũi 3, gồm 2 tổ đặc công đánh từ hướng đông nam sang.

3 giờ sáng ngày 14-4, các mũi bí mật áp sát mục tiêu. 4 giờ 30 phút, trận đánh bắt đầu. Sau phát đạn ĐKZ của mũi 1 làm hiệu lệnh tiến công, các mũi đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch lúng túng chống trả yếu ớt. Bộ đội ta nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa sau 30 phút. Ngay sau đó, lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được treo lên cột cờ ở phía đông đảo. Ta diệt 6 tên,bắt sống 33 tên, trong đó có tên thiếu úy chỉ huy đảo, thu 2 đại liên, 1 ĐKZ, 2 cối 60, 2 trung liên và một số súng bộ binh các loại.

Mất đảo Song Tử Tây, hệ thống phòng thủ của địch ở quần đảo Trường Sa bị de dọa. Địch vội điều hai tàu HQ 16 và HQ 402 từ Vũng Tàu ra định phản kích hòng chiếm lại đảo. Song, trước sự bố phòng chặt chẽ và tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao của ta; mặt khác, lúc này, trên chiến trường, ta đã giành được thắng lợi giòn giã, tuyến phòng thủ Phan Rang của địch bị vỡ, quân địch hoang mang, không dám tổ chức tiến công. Chúng đành quay về tăng cường phòng thủ đảo Nam Yết - nơi đặt Sở chỉ huy trung tâm của chúng ở quần đảo Trường Sa.

Sau trận đánh đảo Song Tử Tây, ta để lại một bộ phận (Phân đội 1) chốt giữ đảo. Lực lượng còn lại quay về Đà Nẵng củng cố và chuẩn bị đánh tiếp các đảo khi có thời cơ. Thời gian này, hải quân ngụy vẫn tiếp tế và yểm trợ cho các đảo, song bị thất bại nặng và phải đối phó ở khắp nơi nên sự chi viện, tiếp tế bị hạn chế; nhất là đảo Song Tử Tây bị ta đánh chiếm nên tinh thần binh lính và sĩ quan địch trên các đảo rất hoang mang, dao động. Đây là thời cơ thuận lợi để ta tiến công giải phóng các đảo còn lại.

Tiền phương Bộ Tư lệnh Hải quân ở Đà Nẵng đã làm việc và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 thống nhất kế hoạch đánh chiếm các đảo còn lại của quần đảo Trường Sa. Theo đó, ta sử dụng hai tàu 673 và 641 của Đoàn 125 chở Phân đội 2 và 3 của Đội 1 (Đoàn 126) và một bộ phận lực lượng đặc công Quân khu 5 đi giải phóng các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn; đánh đồng loạt các mục tiêu này trong cùng một đêm.

4 giờ sáng ngày 21-4, các tàu nhổ neo hướng ra Trường Sa. Chiều 24-4, tàu ta đã tiến sát mục tiêu. Chờ tới đêm, tàu 673 địch đổ quân lên đảo Nam Yết thì gặp tàu khu trục của địch hoạt động gần đó đang tuần tiễu. ta buộc phải đưa lực lượng đổ bộ về Song Tử Tây chờ thời cơ. Cùng thời điểm này, tàu 641 áp sát đảo Sơn Ca chuẩn bị đổ bộ lên đảo, song do ngược dòng, nước chảy xiết nên cuộc đổ bộ không thành. Tàu 641 phải di chuyển lên thướng tây bắc chọn vị trí đổ bộ thuận lợi hơn. 0 giờ 30 phút ngày 25-4, lực lượng đổ bộ (Phân đội 2) do Thiếu úy Đỗ Viết Cường chỉ huy đã lên được đảo Sơn Ca. Sau khi trinh sát nắm chắc mục tiêu, đúng 2 giờ 30 phút ngày 25-4, trận đánh đảo Sơn Ca bắt đầu. Các mũi tiến công của ta đồng loạt nổ súng. Địch hoàn toàn bất ngờ, chống trả yếu ớt rồi bỏ chạy tán loạn. Trận đánh kết thúc nhanh chóng sau nửa giờ chiến đấu. 3 giờ sáng, ta làm chủ hoàn toàn đảo Sơn Ca. địch bị diệt 2 tên, bị thương 3 tên, số còn lại bị bắt sống. Ta thu 2 máy vô tuyến diện, 4 máy điện thoại, 2 xuống máy, 1 máy nổ, 40 phuy xăng và toàn bộ vũ khí đạn dược.

Mất tiếp đảo Sơn Ca, địch ở quần đảo Trường Sa càng hoang mang. Từ trưa ngày 26-4, chúng đưa các tàu tuần dương, khu trục lùng sục quanh đảo, song không làm được gì đành quay về Nam Yết.
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Ba, 2011, 10:25:41 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6288


Lính của PTL


« Trả lời #109 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 06:41:35 PM »

20 giờ 15 phút ngày 26-4, đài trinh sát kỹ thuật của ta bắt được điện của chỉ huy địch lệnh rút quân khỏi Nam Yết. 2 giờ 45 phút ngày 26-4, Sở chỉ huy Quân chủng Hải quân lệnh cho tàu 673 lập tức đưa Phân đội 3 và tổ đặc công Quân khu 5 lên chiếm đảo, quyết không để lực lượng nào khác lợi dụng cơ hội này chiếm đảo.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng Hải quân, 1 giờ 30 phút ngày 27-4, tàu 673 rời Sơn Ca hướng về Nam Yết. 10 giờ 30 phút cùng ngày, tàu ta đã vào gần đảo Nam Yết. Phát hiện lực lượng ta, các tàu địch chở quân rút khỏi đảo vội vàng tháo chạy. Ta nhanh chóng đổ bộ chiếm lĩnh đảo. 11 giờ 30 phút ngày 27-4, ta hoàn toàn làm chủ đảo Nam Yết.

Nam Yết - nơi đặt Sở chỉ huy toàn bộ quần đảo Trường Sa bị mất, địch ở các đảo còn lại hoang mang cực độ, tìm cách thoát thân. Sau khi chiếm đảo Nam Yết, tàu 673 tiếp tục đưa một bộ phận Đội 1 đi đánh đảo Sinh Tồn thì địch ở đây đã rút chạy hết. 10 giờ 30 phút ngày 28-4, ta làm chủ đảo Sinh Tồn.

Phát huy khí thế tiến công thần tốc, táo bạo của quân và dân ta trên các chiến trường nói chung ở vùng biển đảo nói riêng, 16 giờ ngày 28-4, bộ đội ta tiếp tục hành quân đi giải phóng đảo Trường Sa - đảo xa nhất ở phía nam của quần đảo. 9 giờ ngày 29-4, lực lượng ta đổ bộ lên đảo. 9 giơ 30 phút, ta làm chủ đảo Trường Sa, kết thúc nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà Quân ủy Trung ương giao cho Quân chùng Hải quân là giải phóng quần đảo Trường Sa thân yêu. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, góp phần to lớn vào thắng lợi chung của toàn dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cùng với tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chỉ đạo lực lượng vũ trang phối hợp với du kích và nhân dân tiến công và nổi dậy giải phóng Cù lao Xanh (1-4), Cù lao Chàm, Cù lao Ré (30-4). Đặc biệt, từ ngày 10-4-1975, bộ đội đặc công tỉnh Khánh Hòa và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 19 - Sư đoàn 968 đã giải phóng đảo Hòn Tre. Đồng thời, Hải quân nhân dân Việt Nam phối hợp với các lực lượng khác tiến đánh Cù lao Thu và một số đảo lớn thuộc địa bàn cực Nam Trung Bộ.

Cù lao Thu là một đảo lớn nằm ở phía đông nam cách Phan Thiết 60 hải ly, cách Cam Ranh 82 hải lý. Đảo rộng khoảng 21 km2, có khoảng 12.000 dân. Lực lượng địch ở đảo, ngoài một liên đội “nghĩa quân”, còn có 1 trung đội cảnh sát và 4.000 “đoàn viên nhân dân tự vệ”. Đầu tháng 4-1975, khi thị trấn Hàm Tân thất thủ, có khoảng 800 lính quân đội Sài Gòn trốn chạy ra đảo. Bị tấn công mạnh trên đất liền, trước nguy cơ các đảo bị đe dọa, từ ngày 22-4-1975, địch cho hai tàu HQ11 và WPB tăng cường hoạt động để bảo vệ đảo.

Trong thế tiến công như vũ bão trên đất liền thuộc địa bàn Khu 6 những ngày đầu tháng 4-1975. Bộ Chỉ huy Mặt trận Nam Trung Bộ thống nhất với Bộ Tư lệnh hải quân giao nhiệm vụ cho đơn vị hải quân ở Nha Trang cùng Ban chỉ huy quân sự các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận phối hợp tổ chức lực lượng đánh chiếm Cù lao Thu.

Theo kế hoạch đã được thống nhất, Đoàn 125 sử dụng tàu 643 cùng một số tàu đánh cá của nhân dân ở Nha Trang và một số thuyền gỗ của dân ở Ninh Thuận chở lực lượng tham gia chiến đấu giải phóng đảo. Lực lượng này gồm có một bộ phận của Quân chủng Hải quân, một phân đội đặc công nước của Tiểu đoàn 407 - Quân khu 5, 1 đại đội bộ binh của Trung đoàn 95 - Sư đoàn 3 chủ lực Quân khu 5.

Ngày 26-4, tàu chở lực lượng đi giải phóng Cù lao Thu rời cảng Cam Ranh. 1 giờ sáng ngày 27-4, các tàu đánh cá T2, T3 chở bộ phận thuộc cánh 1, cánh 2 vào đến vị trí tập kết. 50 phút sau, quân ta bắt đầu đổ bộ lên đảo. Lực lượng còn lại trên tàu 643 làm nhiệm vụ cảnh giới ở bên ngoài. Đúng 5 giờ 15 phút, các mũi đổ bộ lên đảo nhất loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch tháo chạy tán loạn vào trong dân. Riêng ở khu nhà hành chính của đảo, chúng ngoan cố chống cự nhưng sự kháng cự này nhanh chóng bị đè bẹp. Trận đánh kết thúc sau hơn một giờ chiến đấu. Đến 6 giờ 30 phút ngày 27-4, quân ta làm chủ hoàn toàn Cù lao Thu.

Trong lúc lực lượng trên đảo nổ súng tiến công địch thì tàu 643 ngoài biển chạm trán với hai tàu tuần tiễu của địch. Chúng dùng cối bắn sang tàu ta. Ngay lập tức, bộ đội ta trên tàu 643 dùng B40, B41 và súng máy 12,7 mm bắn trả quyết liệt làm bị thương một tàu địch. Chiếc còn lại vội vàng rút lui.

Trận đánh Cù lao Thu giành được thắng lợi lớn. Ta diệt và bắt sống 382 tên địch, thu 900 súng các loại, bắn bị thương 1 tàu, 1 xuồng máy, thu 2 vô tuyến và nhiều đồ dùng quân sự khác của địch.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM