Chim én bay - Tiểu thuyết

(1/10) > >>

trachvandung:
NGUYỄN TRÍ HUÂN
Chim én bay
Tiểu thuyết
(Tái bản lần thứ tư)
 
Giải thưởng
Văn học Bộ Quốc phòng 1985 - 1989
 
Giải thưởng
Hội Nhà văn Việt Nam 1988 - 1989
 
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Hà Nội - 2003

“Em mong sao trên trái đất hoa thơm nở bốn mùa.
 Em mong sao trên trái đất không còn sự chia lìa
             Em mong sao trên trái đất mọi con người
               Như em đây là chim trắng bay giữa trời
                                         Sống để yêu thương”….
                                             
                                            (trích lời một bài ca)
Mở đầu
Không biết cái ý định tìm lại nhà những tên ác ôn mình đã giết chết hơn mười năm về trước xem vợ con chúng hiện đang sống ra sao đến với chị tự bao giờ. Ở đời vẫn có những ý định mà người ta không sao giải thích nổi. Dường như nó đã được chỉ dẫn, xui khiến bởi một thế lực vô hình nào đấy. Tuy vậy chị vẫn cố lý giải, cố cắt nghĩa vì không có ý định nào lại không xuất phát từ những nguyên cớ, chỉ có điều người ta có dám công nhận nó hay không mà thôi.
Có thể cái ý muốn ấy đã chợt đến vào những ngày đầu năm 1980, khi lần đầu tiên, sau mười năm xa cách, chị ngây ngất và ngỡ ngàng đặt chân xuống con đường nhựa mát rượi, nườm nượp xe cộ và  người qua lại. Con đường tràn ngập bóng râm của những vườn dừa đang cho lứa quả đầu tiên. Lúc ấy, cùng với cảm giác sung sướng đến nghẹn lại là một cảm giác buồn tủi pha đôi chút cay đắng, bởi chị cảm thấy mình như đang bị lãng quên, bởi tất cả những gì  gắn bó với chị, từ những ngôi nhà đổ nát, những vườn dừa cụt ngọn xơ xác, và cả những cơn gió mồ côi chạy lang thang trên các đường hào sụt lở trước đây đều không còn nữa. Thời gian đã xóa nhòa đi tất cả.
Cũng có thể cái ý muốn đó đã chợt đến với chị vào một buổi chiều, khi anh giáo viên trường phổ thông cơ sở của thị trấn, một người cao, gầy và rụt rè đến cơ quan khẩn khoản đề nghị chị tới nói chuyện với các em học sinh về thành tích diệt ác của đội “Chim Én” của chị trên mảnh đất này hơn mười năm về trước. Anh ta nói một cách văn vẻ rằng, việc giáo dục thế hệ trẻ đừng bao giờ quên quá khứ đau khổ nhưng anh hùng của quê hương là điều hết sức bức thiết. Rằng bây giờ những vết máu của bạn bè anh còn chưa khô, cuộc chiến tranh đã bị người ta gạt sang một phía. Rằng không ít người đang cố tình lãng quên để yên ổn làm những điều xấu, phản bội lại sự hy sinh trước đây của bản thân họ …
Khi nói, khuôn mặt anh nổi lên từng mảng đỏ, cặp mắt quắc lên giận dữ. Chị được biết anh nguyên là chiến sĩ của sư đoàn Sao Vàng, một sư đoàn từng để lại ngót một vạn liệt sĩ trên quê hương chị. Lúc đó không hiểu sao chị lại sốt sắng nhận lời. Chị cảm thấy xấu hổ với anh giáo viên nọ, và suốt đêm hôm ấy, chị đã thức và chuẩn bị cho buổi nói chuyện. Nhiều lúc, người chị như lên cơn sốt khi nhớ lại những trận đánh, những cái chết thảm khốc và cơn co giật, một căn bệnh kinh niên kể từ sau khi bị bắt, thiếu chút nữa lại tái phát. Chị vội vã uống mấy viên thuốc an thần rồi đi nằm, cố không nghĩ tới những kỷ niệm, những lời trách móc của anh giáo viên hồi chiều. Giấc ngủ đến với chị thật nặng nề. Sáng ra đầu chị đau nhức, khắp người nổi gai lạnh, nhưng chị vẫn thu xếp công việc ở cơ quan để đến trường. Buổi nói chuyện đã cuốn hút chị, tưởng chừng nếu không nói được những điều cần nói với các em học sinh, chị sẽ không làm nổi bất kỳ một công việc nào khác trong ngày hôm đó.
Nhưng chỉ nửa giờ trước khi đến trường phổ thông cơ sở ở thị trấn, chị bỗng giật mình nhận ra rằng biết đâu con cháu của những kẻ chị đã buộc phải giết chết trước kia lại chẳng đang ngồi nghe chị kể về cái chết khủng khiếp của cha chú chúng! Liệu điều gì sẽ xảy ra trong những mái đầu đang hình thành tính cách công dân của chúng? Và chị vội vã xin hoãn buổi nói chuyện, khiến anh giáo viên nọ sửng sốt cúp máy không thèm nói chuyện với chị nữa.
Cũng có thể cái ý muốn mãnh liệt ấy đến với chị trong nhiều đêm nằm trăn trở trên giường, nghe sóng biển và gió ù ù thổi ngoài chái nhà, nỗi nhớ người thân đã chết trong chiến tranh trở đi, trở lại khắc khoải trong đầu chị. Liệu những người vợ, người con của những tên ác ôn ấy hiện đang sống ra sao? Những gì đang cản trở họ sống? Họ còn ở những ngôi nhà cũ hay đã bị tịch thâu, đã chuyển đi nơi khác? Chị đã suy nghĩ, trăn trở nhiều đêm nhưng vẫn không thực hiện nổi ý định của mình dù nó rất đơn giản, đạp xe đi một vòng, hỏi cán bộ phụ nữ của từng thôn, những người đang cộng sự gần gũi và gắn bó với chị.
Song chị không thể hỏi và cũng không thể đến. Không biết cái gì đã ngăn trở chị. Cái gì? Chị ráng cắt nghĩa và tự tìm lấy câu trả lời.
 
Chương một
1
Mùa đông năm 1969, một mùa đông mãi mãi đọng lại những ký ức nặng nề trong đầu chị. Ngày đó gia đình chị còn đầy đủ bốn người. Cha chị, anh Dương và chị Hảo. Mẹ chị chết đã lâu, do một quả pháo hạm bắn vu vơ từ ngoài biển. Cái chết của mẹ làm đời sống gia đình đảo lộn. Anh Dương vô đội du kích xã, đi tối ngày mới về. Chị Hảo thành chị lớn còn chị cũng buộc phải thôi học ở một trường tư thục ngoài thị trấn. Năm đó chị mới mười một tuổi.
Cái buổi sáng dữ dội ấy ập đến vào một ngày tháng mười. Giữa lúc ba cha con chị đang ăn cơm ở hiên nhà thì thằng giám Tuân dẫn lính tới. Hôm đó nó đội mũ phớt, mang kiếng mát. Bộ quần áo đen rộng lùng thùng cộm lên ở lưng quần bởi khẩu Côn 45 đeo trễ. Đi theo thằng giám Tuân là bảy thằng dân vệ. Chúng nó lễ mễ khiêng một cái hòm rất nặng. Sau này chị mới biết đó là hòm thuốc nổ. Khi chiếc hòm được đặt xuống, thằng Tuân ngồi ngay lên trốc. Nó móc túi lấy thuốc hút, kiên nhẫn chờ cha con chị ăn cơm xong. Còn tụi lính thì bắt đầu sục sạo quanh nhà. Mặt thằng nào cũng hằm hằm, như muốn nghiềng nát ba cha con chị.
Biết vậy, cha chị càng cố tình kéo dài bữa ăn. Ông ăn nhẩn nha, vừa ăn vừa liếc nhìn hòm thuốc nổ, vẻ mặt thản nhiên như không, nhưng chị biết cha đang rất lo lắng. Hồi sáng, anh Dương vừa mới chui xuống hầm ngủ. Căn hầm vừa đào bất ngờ và kín đáo bên trong thành chiếc giếng khơi sau nhà, cửa hầm là một viên đá ong nằm sát mép nước. Mỗi lần lên xuống phải dùng dây cột. Buổi trưa chị Hảo vẫn thường dòng cơm xuống cho anh. Cơm và đồ ăn được đặt trong gầu múc khi chiếc gầu vừa va khẽ vào viên đá, lập tức nó được xoay ngang rồi bàn tay anh Dương thò ra lôi chiếc gầu vô trong. Lát sau nó được thả trên mặt nước và viên đá liền được xoay trả lại như cũ.
Anh Dương ở căn hầm đó đã hơn một năm. Nhiều lần bọn lính sục vô nhà, đào bới từ chuồng phân heo tới nền bếp nhưng chúng đều bỏ qua, không nhòm ngó tới giếng nước. Hàng chục căn hầm đào ở những chỗ bất ngờ nhất trong xã đã bị khui nhưng căn hầm nhà chị thì vẫn còn nguyên vẹn.

trachvandung:
Chưa bao giờ chị thấy cha ăn cơm lâu như vậy. Sỡ dĩ thằng giám Tuân kiên nhẫn ngồi chờ, bởi một phần nào đó nó kiên nễ ông. Ngày trước nó cũng là du kích, hoạt động cùng sắp với anh Dương vẫn thường lui tới nhà chị ăn uống nghỉ ngơi. Nó lì lợm, khuôn mặt lạnh tanh, cặp mắt nhỏ và tinh ranh như mắt rắn. Đùng một cái nó biến mất. Việc nó biến mất làm nháo nhào cả xã, cả huyện. Tất thảy các căn hầm bí mật đều phải di chuyển. Nhiều trận càng dai dẳng đã diễn ra hết ngày này sang ngày khác. Hàng trăm người bị bắt, bị giết chết. Hầu hết các cơ sở trong xã bị đánh xơ xác. Bọn Mỹ đưa xe ủi tới ủi sập các ngôi nhà, lùa dân vào các khu đồn bao quanh các căn cứ, chốt điểm. Nhưng chỉ ít ngày sau, người dân quê chị lại đốt phá khu đồn, trở về trụ bám trên mảnh đất quen thuộc cũ. Bọn địch lại dồn xúc, người dân lại phá nữa. Cứ như vậy dai dẳng, quyết liệt. Cuối cùng bọn địch đành chấp nhận, sự chấp nhận gần như thỏa hiệp; chúng dồn được một số, để bung về một số, trong số những gia đình bung về được có gia đình chị.
Hơn một năm sau khi biến mất, thằng giám Tuân đột ngột trở lại làm xã trưởng. Trước đó nó đã từng làm giám thị ở nhà lao Quy Nhơn. Cái tên giám Tuân có thể được bắt đầu từ đó. Thoạt đầu do một vài người gọi với hàm ý mỉa mai, sau người dân trong xã gọi theo. Gọi miết thành quen. Cái chức giám như đã được đóng đinh vào tên gọi của nó.
Thấy cha chị cứ ngồi ăn cơm miết, thằng giám Tuân dường như không chịu nổi, nó day người về phía ông, giọng hơi xẵng:
- Nè ông già, ăn lẹ lên còn làm việc. Tụi tôi không chờ thêm được đâu.
- Bởi ông xã trưởng không nói nên tôi đâu biết - Cha chị đáp thủng thẳng -  Đã từng ăn nhiều cơm nhà tôi, ông biết tính tôi đó. Răng yếu phải nhai kỹ mới khỏi đau bao tử.
-  Nếu không vì chút quen biết đó, tôi đã liệng mâm cơm vô mặt ông rồi. Hồi hôm, thằng con ông kích pháo vô trụ sở hội đồng xã, tôi biết. Ông hãy kêu nó ở dưới giếng lên. Tụi tôi khỏi liệng bộc phá đánh sụp giếng. Nó chịu lên tôi sẽ bảo toàn tính mạng cho nó.
“ Có đứa mách lẻo rồi!” - Chị thầm nghĩ, bụng lạnh run. Còn cha chị vẫn ngồi đó, sắc mặt không hề thay đổi.
Ông xã trưởng nói chi lạ. Thằng con tôi thoát ly từ bữa ông ra hồi chánh. Nó đâu có nhà để kích pháo vô hội đồng xã của mấy ổng!
Thằng giám Tuân vụt đứng dậy cười nửa miệng. Nó dòm vào mắt cha chị:
- Tôi đã lấy cái tình ra để nói. Ông không nghe. Sau đừng có trách thằng này không nói trước - Nó quay sang bọn lính - Mang bộc phá ra giếng.
Hai ba thằng dân vệ xúm lại khiêng chiếc hòm gỗ ra sau nhà. Một thằng lôi từ chiếc túi đeo bên hông một cuộn dây điện. Cha chị ngồi chết lặng. Một lát sau, như chợt tỉnh, ông chạy lao về phía giếng nước:
- Các ông không được phá giếng nước nhà tôi. Cha con tôi lấy gì sống!- Tiếng cha chị vọng lại khàn đục. Một tiến “hự” từ lồng ngực ông bật ra. Bọn lính gạt ông ngã sấp bên thành giếng. Hai chị em chị cuống cuồng lao về phía cha nhưng đều bị bọn lính kéo giật lại.
- Các ông không được phá giếng! Không được đánh cha tôi! - Chị Hảo la lớn. Còn chị thì òa lên khóc.
- Lôi cổ lão già và hai con nhỏ xuống chân đồi - Thằng giám Tuân ra lệnh.
- Lập tức bọn lính bu ngay lại. Chị không hiểu sao lúc đó cha chị không hề cưỡng lại. Khuôn mặt ông trở nên đờ đẫn, ngơ ngác, còn chị Hảo thì lăn lộn trên đất. Chị cắn vào tay thằng dân vệ đang túm áo chị lôi đi. Nó kêu thét lên. Chị chồm dậy chạy nhào trở lại. Một cái báng súng giáng rất mạnh vào lưng chị từ phía sau. Chị ngã sấp bất tỉnh. Bọn lính lôi chị đi như lôi một xác chết.
Cuối cùng, chúng nó cũng dồn được ba cha con chị xuống chân đồi. Cha chị đứng ủ rủ. Đôi mắt ông dại đi trong một nỗi tuyệt vọng và bất lực. Một lát sau thằng giám Tuân đi xuống. Nó lại dòm vào khuôn mặt bất động của cha chị:
- Tánh mạng của thằng Dương hoàn toàn tùy thuộc ở ông - Nó nói - Nếu ông kêu nó lên, nó sẽ được sống bình thường ở nhà. Tôi cũng không cần nó khai báo chi hết.
- Con tao không bao giờ làm một thằng phản bội - Cha chị gầm lên - Mày xéo đi, muốn làm cách sao thì làm.
Nhưng khi thằng giám Tuân bước lên đồi, ông đã muốn chạy nhào theo nó. “Cha ơi!”. Chị khóc mếu máo. Cha chị quay lại nhìn. Khuôn mặt méo xệch. Đôi mắt của ông trống rỗng như hai lỗ thủng lớn.
Ngày hôm đó qua đi như một bước ngoặt trong đời chị. Một cuộc đời mà bây giờ mỗi lần nhớ đến chị lại như cảm thấy vị đắng chát của nó. Bốn năm trời, chị đã bị cuốn vào cuộc sống lẽ ra không nên có ở tuổi niên thiếu của chị. Nhưng chiến tranh là như vậy. Cái không bình thường đã trở nên bình thường. Từng có một thời sự chém giết đã trở thành những hoạt động tự nhiên, tất yếu của con người.
 
2
Sau tiếng nổ rung chuyển của khối bộc phá, ba cha con chị chạy sấp ngửa lên đỉnh đồi. Căn hầm bí mật nơi anh trai chị nằm chỉ còn là một hố đất sâu nham nhở. Những sợi khói mỏng, nhạt vẫn bò lờ lững trong các kẽ nứt của thành giếng. Thằng giám Tuân nhìn ba cha con chị, cười khẩy. Những giọt mồ hôi rịn ra trên vầng trán tái xanh của nó.
- Đó, thấy chưa. Tôi đâu ưng làm vậy. Mắc chi ông không chịu kêu nó lên!

trachvandung:
Không hiểu sao, cả ba cha con chị không khóc. Chị nhìn thấy một cánh tay của anh Dương văn trên bờ rào. Ở ngón áp út vẫn còn đeo một chiếc khuyên nhỏ. Chiếc khuyên chợt lóe sáng khi có ánh nắng mặt trời đột ngột rọi xuống. Chị nhìn cánh tay vừa kinh sợ, vừa lạ lẫm. Bọn dân vệ nhổ nước bọt rồi quay vô nhà. Cha chị gần như muốn khuỵu xuống nhưng ông vẫn cố đứng cho thật vững. Khi thằng giám Tuân và bọn lính đã bỏ đi, ông mới ngã vật xuống. Một dòng máu tím đen ứa ra ở hai bên mép.
Ít ngày sau, vào một buổi tối, chị Hảo bỗng dưng nói với chị:
- Quy ở nhà coi sóc sức khỏe cha giùm chị. Chị có công chuyện phải đi ít bữa, ráng làm việc giúp cha nghe Tư!
Nói xong, chị xách chiếc bòng đi xuống đồi. Chị không biết chị Hảo đi đâu. Chị không hỏi và cha chị cũng không nói. Từ bữa đó chị thay chị Hảo làm hết thảy mọi việc: gánh phân, vun mì, mở bò, nấu cháo heo… chị trở nên dạn dĩ với những quả đạn đại bác nổ bất chợt dưới chân đồi hoặc đêm đêm, nổ sát sạt ngoài cửa hầm. Hầu như tuổi trẻ không ý thức được về nỗi khổ. Sau này nhớ lại, chị không hiểu nhờ đâu chị sống được qua những ngày tháng ghê gớm ấy. Suốt ngày ăn mì luộc. Luộc chán thì nướng và thái lát phơi khô hoặc giã thành bột làm bánh bánh tráng… Sau cái chết của anh Dương, cha chị gầy rộc. Nhiều đêm chợt thức giấc, chị thấy ông ngồi im lìm, lưng tựa vào vách hầm. Ánh đèn dù rọi chập chờn trên khuôn mặt bồn chồn của ông. Chị nhìn cha và cảm thấy thương ông vô hạn. Về sau chị mới hiểu hết tâm trạng của ông trong những ngày đó. Ông vừa mừng rỡ, vừa hoảng hốt khi một người đồng chí của anh Dương đột ngột trở lại. Ông nghĩ nhiều tới thằng giám Tuân. Trước đây nó cũng là đồng chí của ông. Không ít đêm ông đã thức trọn chờ tụi nó đi ém Mỹ trở về. Nó cũng cùng ăn, cùng uống một thứ như con trai ông. Cũng cười đùa, vâng dạ.Vậy mà bỗng dưng nó trở thành độc ác như một con quỷ. Cái gì đã biến đổi nó như vậy, cái gì?
Chị hiểu nỗi lo lắng có phần hoảng hốt của cha chị hồi đó là sự lo lắng và hoảng hốt trước sự phản bội. Đối với con người, không gì gây đổ vỡ khủng khiếp hơn sự phản bội. Chị còn nhớ một đêm khi anh Cường, một người bạn thân của anh trai chị và là người chỉ huy trực tiếp sau này của chị về thăm, ông đã sợ hãi xua đuổi, để một lát sau lại ôm lấy anh mà khóc. Có lẽ cái ý nghĩ bám lâu nhất, dai dẳng nhất trong tâm khảm ông cho đến lức ông qua đời là sự phản bội.
Cũng cần nói thêm rằng, năm ấy, sau cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân, lực lượng tại chỗ của huyện chị hầu như không còn nữa. Ngay đến sư đoàn Sao Vàng một sư đoàn chủ lực của chiến trường khu 5, từng làm cho sư đoàn không vận số 1 Mỹ điêu đứng ở Chợ Cát, ở suối Đá Tượng cũng bị đẩy lần lần khỏi đồng bằng, khỏi vùng ranh và cuối cùng bị đẩy bật lên thượng nguồn sông Côn, phần đất giáp với biên giới  Lào - Việt.
Thế da báo bị xóa. Những người còn trụ được ở các thôn ấp phải âm thầm rút vào bí mật. Đó là năm của những trận pháo bầy, của B.52 rải thảm, của hàng trăm chiếc trực thăng cùng cất cánh một lúc. Năm mà một chiếc tàu rọ có thể neo cứng trên đầu mọi người giữa đồng trống bắt vén áo quần lên để kiểm tra xem có dây lưng, có súng hay không. Khắp nơi trên quê chị, đồn bốt mọc dày như nấm. Những trận đánh vừa và nhỏ không sao thực hiện được. Tình hình đó buộc quê hương chị phải thực hiện phương thức tác chiến: Diệt ác. Người lớn tiếp cận  địch không được thì sử dụng đám trẻ. Những đội “Chim Én” được thành lập, được trang bị súng đạn, cũng ăn ngủ tập trung, nằm hầm bí mật như người lớn. Đã có một thời, bọn ấp trưởng, xã trưởng, những tên điệp viên nằm vùng, bọn cảnh sát luôn luôn cảm thấy mất an toàn ở bất kỳ nơi nào chúng đặt chân đến, những cái chết bất đắc kỳ tử, khủng khiếp luôn treo lơ lửng trên đầu chúng.
Có thể chị sẽ không trở thành đội viên đội “Chim Én” nếu như chị Hảo không bị thằng giám Tuân giết chết. Trong cuộc đời mỗi người, có rất nhiều điều đáng ghi xương khắc cốt. Đối với chị, đó là những cái chết thảm khốc của những con người ruột thịt. Sau này mỗi lần nhớ đến, chị lại như phải sống thêm một lần nữa những giây phút ghê gớm ấy. Cái giây phút ánh nắng chợt lóe sáng trên chiếc khuyên ở ngón tay áp út trên bàn tay của người anh trai và những đám bụi bám trên đôi mắt còn mở trừng trừng của chị Hảo. Một buổi chiều, lại chính thằng giám Tuân , trong bộ quần áo đen, đầu mũ phớt, cùng với đám thuộc hạ đi lên đồi. Một bầu không khí hoang lạnh rờn rợn như tỏa ra từ người chúng. Đi giữa chúng là chị Hảo, đôi cánh tay bị trói quặt ra đằng sau, mặt mũi bầm dập những vết máu.
Cha chị gần như không tự chủ được. Ông lao đến ôm chầm lấy con gái. Hai bàn tay gầy guộc sờ soạng khắp trên người chị. Con người vốn đầy khả năng khiềm chế ấy đã quắc đôi mắt giận dữ nhìn thẳng vào thằng giám Tuân và bọn dân vệ:
- Đồ độc ác, con tao làm chi nên tội mà tụi bay hành hạ nó?
Thằng giám Tuân cười khẩy. Những giọt mồ hôi vịn ra trên vầng trán tái xanh của nó. Lần này không hiểu sao nó mang một đôi kiếng màu đen. Nó ném xuống chân cha chị một trái mỏ vịt.

trachvandung:
Nếu trái lựu đạn này rút chốt thì tui đã toi mạng vì nó rồi hiểu chưa?
Cha chị như sực tỉnh. Ông đứng thẳng dậy và không nói gì thêm. Những giọt nước mắt sắp trào ra như cũng ngưng lại trong đáy mắt của ông.
Thằng giám Tuân quay lại chị Hảo:
- Đó, tao đã thỏa mãn yêu cầu của mày, cho mày về gặp cha mày. Mày không chịu khai đứa nào đã xúi giục mày giết tao, mày sẽ phải chết. Bây giờ giết mày, tao có hai cách: một dìm đầu mày xuống nước. Hai buộc sau xe GMC kéo đi cùng xã. Mày muốn chọn cách nào thì chọn.
Chị Hảo ngẩng  đầu, cố hất mái tóc đang xòa xuống vầng trán bê bết máu, chị chợt lớn vụt lên, thành một cô gái trong cái hất đầu ấy.
- Cả hai cách. Bay muốn chọn cách nào thì chọn.
- Đó, ông thấy chưa - thằng Tuân quay về phía cha chị - Tôi đã làm hết cách để cứu nó, nhưng nó đâu có chịu.
- Cha chị lúc ấy đứng như chôn chân trên đất. Hình như ông hiểu rằng: con gái ông không thể làm khác và không còn cách nào để cứu sống con gái của ông được.
Buổi chiều hôm đó, hai cha con chị đã lần mò tới sát chân chốt cầu Voi đưa thi thể rách nát của chị Hảo trở về. Quãng đường ngắn, hàng ngày cha chị và chị vẫn đi mà sao dài lê thê. Chị vừa đi vừa khóc. Còn cha chị ôm chị Hảo trên tay, đờ đẫn như hóa dại. Nếu không còn chị chắc chắn ông đã lao thẳng vào trụ sở hội đồng xã hoặc chọn ngay cho mình một cái chết bởi với ông, chết là sự giải thoát duy nhất khỏi những đau đớn mà ông đang phải chịu đựng một cách quá sức.
Đêm ngày hôm sau, trong buổi lễ truy điệu chị Hảo của đội “Chim Én” ngoài một nỗng cát, sát chân biển, cha chị dẫn chị đến. Ông nói với anh Cường:
- Con gái tôi đã chết  xứng với anh trai nó. Tiếc rằng nó chưa làm được gì. Tôi còn đứa con gái út, xin gửi nó để các anh dạy dỗ kèm cặp. Nó phải làm xong phần việc mà chị nó còn bỏ dở.
Và chị trở thành đội viên đội “Chim Én” từ đấy
 
3
Hơn mười năm trôi qua. Đã có biết bao đổi thay diễn ra trên quê hương chị. Những tên lính Mỹ, những quả đạn pháo nổ bất chợt, những bộ đồ rằn ri của bọn biệt động, thủy quân lục chiến… vĩnh viễn bị đẩy lùi vào dĩ vãng. Đã có một thế hệ cắp sách đến trường không hề biết thế nào là tang tóc, là chiến tranh. Cái ác đang bị vùi sâu, chôn chặt trong đời sống hàng ngày. Nhiều tên sĩ quan, ấp trưởng, xã trưởng đã đi cải tạo trở về. Cuộc sống mới ít nhiều làm mờ đi quá khứ của chúng. Nhưng những tên đã chết thì không còn cơ hội để thay đổi. Chúng không được chết yên ổn trong tội ác.
Nhưng dẫu sao, cuộc chiến tranh ấy cũng đã chấm dứt. Không biết gia đình của hàng ngàn, hàng vạn tên ác ôn bị giết chết hiện đang sống ra sao? Ý nghĩa này cùng với ý muốn tìm lại nhà những tên ác ôn mình đã giết hơn mười năm trước cứ trở đi trở lại trong đầu chị.
Nó trở lại vào những giây phút chị cảm thấy cô đơn nhất. Căn phòng hội phụ nữ huyện dành cho chị ở và làm việc rộng thênh thang. Chị không còn một người thân ruột thịt nào để trở về. Bốn năm ở trong tù, lê lết hết nhà lao này đến nhà lao khác đã biến chị thành một cô gái không còn khả năng sinh nở. Cho đến ngày hiệp định Pa-ri ký kết, chị được trao trả, được đưa ra Bắc học, được tuyên dương Anh hùng rồi lại tiếp tục những tháng năm dài dặc tại một trường Đảng cao cấp trên đất bạn.
Đúng ra, chị còn có một người thân, nhưng con người đó đã không đủ can đảm để chia sẻ những mất mát của chị, mặt dù anh từng chia sẻ, gánh chịu với chị tất cả những gì chị trải qua trong chiến tranh. Chị đã thương yêu anh ngay từ khi còn là một cô bé mười lăm tuổi. Bốn năm ở trong tù chị không nguôi nghĩ về anh. Nhờ anh mà chị đã nhiều lần vượt qua được cái chết.
Những ngày đang học ở Liên Xô, chị đã òa lên khóc khi biết anh còn sống. Nếu ngày ấy biết anh còn sống, chưa chắc chị đã hành động như buổi sáng ấy chi đã hành động. Và chị hấp tấp viết thơ cho anh, bộc bạch hết tình cảm dồn nén bấy lâu của mình. Dĩ nhiên, tình yêu của chị được anh đáp lại một cách nồng nhiệt. Trong thơ viết chị anh nói rằng, hơn một năm sau khi đất nước giải phóng, anh ra sức tìm kiếm chị. Anh dò hỏi hàng trăm người từ nhà lao Côn Đảo trở về và phải đến khi chị được tuyên dương Anh hùng, anh mới biết chắc chị vẫn còn sống.
Vốn là người không quen che dấu bất cứ điều gì và để anh xác định trước trong quan hệ của mình với chị, chị cũng nói thực với anh rằng, sau những đòn tra tấn cưỡng bức tàn nhẫn của bọn cai ngục ở nhà tù Côn Đảo, khả năng làm mẹ của chị không còn nữa. Chị nhớ mình đã viết lá thơ này vào một buổi chiều mùa đông, nhiệt độ ngoài trời xuống tới năm độ dưới không, mà khắp người chị nóng rát. Sau khi gởi thơ cho anh, chị đã đi lang thang trên các đại lộ. Nhìn những bông tuyết rơi trắng xóa, chị cũng chạnh lòng nghĩ rằng, những bông tuyết vô tri kia cũng còn biết sinh nở. Chị sợ ngày trở về gặp anh, biết mình sẽ làm khổ anh, nhưng chị không đủ sức để từ bỏ tình yêu của mình bởi anh là tất cả đối với chị.

trachvandung:
Mùa hè năm sau, chị trở về Tổ quốc. Anh đã ra tận sân bay Đà Nẵng đón chị. Gặp anh chị khóc. Còn anh thì luống cuống rất lâu mới mở nổi cửa xe giúp chị. Suốt dọc đường từ Đà Nẵng trở vào, những kỷ niệm cũ của hơn mười năm trước thức dậy làm lòng chị nôn nao. Chị hoảng hốt khi thấy anh thay đổi nhiều quá. Từ thói quen đến diện mạo. Bây giờ anh đang là chủ tịch huyện, một chủ tịch trẻ, năng động như những người quen ở Hà Nội nói với chị. Cũng ngay trong tuần gặp ấy, bằng sự mẫn cảm của một phụ nữ, chị hiểu rằng, anh sẽ không đủ can đảm đến với chị, và thời gian đã xác nhận linh cảm của chị là đúng.
Để tránh cho anh những dằn vặt, khó xử, chị đã chủ động chấm dứt quan hệ tình cảm với anh. Hôm ấy, vào buổi chiều, chị gặp anh sau giờ họp tại phòng giao ban của ủy ban huyện.
- Em muốn nói với anh một chuyện - Chị nói, cảm thấy có một cái gì đấy đang đứt rời ra trong cơ thể mình - Chúng ta không nên tiếp tục quan hệ với nhau. Anh cần những đứa trẻ mà em thì không thể…
Anh ngồi lặng đi bối rối như ngạc nhiên, lại như biết trước điều chị vừa nói. Cho đến lúc chị đứng dậy để về anh vẫn ngồi im không nói được lời nào cho rõ ràng. Như vậy anh đã xác nhận điều đó là cần thiết đối với cả hai người. Sự thừa nhận của anh khiến chị đau đớn. Nếu anh gạt phắt đi hoặc mắng mỏ chị thì đó là những cử chỉ giả dối, có lẽ chị sẽ bớt đau đớn hơn. Tuy thế, chị vẫn không hề căm ghét anh mà càng thương yêu anh gấp bội.
Ít lâu sau anh lấy vợ. Đám cưới diễn ra một cách vội vàng như để trốn chạy một cái gì đó. Còn chị thì tiếp tục lặng lẽ trong căn phòng vừa là nơi làm việc, vừa là nơi ở của hội liên hiệp phụ nữ huyện. Suốt ngày chị lao vào công việc, đi cơ sở, soạn bài nói chuyện, tổng kết, báo cáo… Buổi chiều, khi những người đồng sự khóa cửa buồng, dắt xe đạp về nhà với chồng con họ, chị còn lại một mình với khu nhà im ắng, rộng mênh mông. Nhiều đêm chị để đèn ngủ đến sáng, mở ra-đi-ô thật to cho đỡ trống trải. Những người cùng cơ quan, mỗi khi dắt xe về nhà, đều cố tránh để chị không nhìn thấy hoặc không nhìn thấy chị. Họ đạp xe thật nhanh bởi họ thương chị, nhưng không biết làm cách nào để chia sẻ nỗi cô đơn đó với chị.
Có thể nói không quá rằng, chiến tranh đã cướp đi tất cả những gì cần thiết nhất cho một đời sống bình thường của chị. Lẽ ra chị có thể hoàn toàn thanh thản trước quá khứ. Nhưng không hiểu sao chị lại trăn trở, bức xúc muốn tìm lại nhà những thằng ác ôn bị chị giết chết hơn mười năm trước? Cái gì đã thúc đẩy chị? Chị không giải thích được. Mặc dù ngay lúc này đây, nếu phải sống lại những năm tháng cũ, chắc chắn chị sẽ vẫn sống như thế. Chị không thể làm khác vì đó là sinh mệnh, là sự còn mất của cả quê hương chị.
 
4.
Bây giờ đang là tháng giêng. Hoa móng rồng còn chưa kịp nở trên các bờ rào quanh làng. Thỉnh thoảng trong những bụi dứa dại mọc xơ xác ven bờ các bàu nước, một vài con le le lại bay vọt lên, kêu thảng thốt như vừa bị một con rắn độc chui vào phá tổ.
Mùa xuân năm đó ở quê chị thật ảm đạm. Chị còn nhớ đêm đầu tiên xa nhà, chị đã quay mặt vào vách hầm khóc lén. Chị thấy nhớ cha và sợ anh Cường. Khuôn mặt anh lúc nào cũng quàu quạu, hàm râu quai nón không cạo đâm tua tủa. Rất ít khi chị thấy anh cười, khác hẳn những đêm anh về thăm cha chị. Lúc đó khuôn mặt anh coi rầu rầu, hiền khô. Anh ngồi lặng lẽ ở bộ ghế ngựa, bên ngọn đèn. Cặp mắt anh nhìn đi đâu đó ngoài bóng đêm. Hình như lúc nào anh cũng phải đề phòng một quả lựu đạn pháo nổ bất chợt, một viên đạn bắn lén từ phía sau. Anh cùng tuổi với anh Dương nhưng to con. Có lần chị nghe anh Dương nói đùa: “Mày ráng chờ con Hảo lớn, tao nói cha gả cho, con bộ nó cũng xinh gái đấy chớ!”.
Biết tâm trạng của chị, cái Thêm bảo:
- Mày đừng sợ, ảnh ngó bộ dữ vậy nhưng rất hiền. Mà ảnh cũng chỉ dữ với mấy đứa không làm tròn nhiệm vụ thôi. Có đứa chết vẫn còn bị ảnh mắng!
Và nó kể. Một lần nó được giao nhiệm vụ diệt thằng ấp trưởng Kiểu. Nhà thằng Kiểu ở đầu cây cầu sắt, có máy mì. Hôm đó nó gánh một gánh mì tới. Thằng Kiểu vừa ngủ dậy, tay cầm bót đánh răng, tay sách khẩu AR.15. Nó đặt gánh mì, bất thần gí khẩu Ru-lô vào sườn Kiểu bắt giơ tay. Thằng Kiểu sợ mất hồn, vất súng bỏ chạy. Nó bắn theo ba viên, súng tắc cả ba. Nó bảo không quen sử dụng Ru-lô vì ngón tay ngắn không với tới cò súng. Trận đó về, mặt anh Cường lầm lầm, ngồi thù lù một cục. “Đêm giao súng cho nó, sáng nó lại về không cho coi”. Anh nói trước. Nó khóc, kêu súng tắc. “Thật uổng công của Đảng, của đồng bào”. Anh chửi rồi lầm lầm đi về hầm, bảo nó hèn thì nhận, chớ đừng đổ thừa cho súng. Đêm đó anh lấy súng và hai trăm viên đạn ra bắn thử. Thiệt may cho nó, đạn thối gần hết.
Nhà Thêm ở cùng thôn với chị. Nó chậm nhưng chắc chắn. Tuy chỉ hơn chị một tuổi nhưng nó mập như một cô gái mười sáu, mười bảy.
Đội “Chim Én” ngày đó chia thành nhiều tổ. Tổ chị gồm năm người. Cái Thêm, cái Duy, thằng Hải, thằng Dũng còm và chị. Ngày đầu tiên chị đến, chị thấy anh Cường cử cái Duy và thằng Dũng đi. Tối thằng Dũng về một mình. Nó len lén chui vô hầm, tìm về võng của mình. Anh Cường không nói gì, mặt cau có. Một lúc lâu anh mới buột miệng: “Lại hỏng!”. Rồi anh gọi: “Dũng”. Dũng từ bóng tối chui ra. “Tụi em đi, chưa kịp làm gì thì cái Duy đã bị bắt trên xem lam. Có một con chỉ điểm phóng hon-da bên cạnh xe nhưng tụi em đâu có biết. Đến trạm gác Tài Lương, xe bị chặn. Hai thằng cảnh sát lôi cái Duy ra khỏi xe. Em ngồi xe sau vội nhảy đại xuống, chạy vô xóm ba. Từ lúc đó em bám riết cái Duy. Nghe mấy bà bán cá nói nó đã bị thằng giám Tuân đánh chết ở nhà giam của hội đồng xã”.
Chị rùng mình. Lại thằng giám Tuân. Đêm ngủ chị nói mơ làm cái Thêm phải đập đập mãi vào võng chị. Ngày hôm sau, anh Cường cho thằng Hải đi xác minh xem có đúng Duy đã bị thằng Tuân đánh chết không. Nhưng thằng Hải không dám tới hội đồng xã, nó trốn về nhà ở Tài Lương, bỏ đội, bỏ nhiệm vụ. Chắc nó sợ. Còn cái Duy thì đúng là có bị thằng Tuân đánh rất dữ, nhưng trước sau nó chỉ khai tình cờ lượm được khẩu Ru-lô ở một hố rác, định mang lên nộp cho cảnh sát quận thì bị bắt oan. Hay tin, mọi người thở phào, vừa lo cho Duy, vừa mừng vì không phải chuyển chỗ ở. Từ đó, đội chỉ còn ba người. Ba người cùng ở chung trong một căn hầm bò, nửa chìm, nửa nổi. Riêng anh Cường thì phải nằm hầm bí mật. Nếu bọn địch bất ngờ ập đến, bọn chị sẽ cải trang thành những đứa trẻ đi mở bò hoặc hái củi. Vì vị trí ở sát bờ biển nên bọn địch chẳng mấy khi mò tới.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page