Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam

<< < (92/102) > >>

dinhba:
Có bác nào quê Quảng Ngãi biết về hai Tướng Cơ yếu thì thông tin cho em biết với nhỉ.
Em xin cảm ơn!

Một cụ là Nguyễn Duy Phê - nguyên Phó ban Cơ yếu Trung ương
Một cụ là Nguyễn Chánh Cân - nguyên Cục trưởng Cục Cơ yếu BTTM

Cả hai cụ trước đây đều là Hiệu trưởng trường trung cấp mật mã BTTM.

Không biết các cụ bây giờ có còn mạnh khỏe.

panphilov:


Thiếu tướng Phạm Như Vưu (bí danh : Như Vũ, 10.9.1920) từng giữ các chức vụ : Trưởng Ban Vũ khí - Ủy ban Kháng chiến tỉnh Phú Thọ, Trưởng Ban Vũ khí Phòng Dân quân Liên khu 10, Trưởng ban Chế tạo Vũ khí – Nha Giám đốc Công binh xưởng – Cục Quân giới, Chủ nhiệm Môn Quân giới – Trường Sĩ quan Hậu cần (nay là Học viện Hậu cần), Trưởng Phòng Huấn luyện, Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân giới, Phó Tư lệnh Quân khu 1, Tham mưu trưởng rồi Phó Chủ nhiệm thứ Nhất Tổng cục Kỹ thuật, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huy chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)…

Thiếu tướng (1983 ?)

Ông sinh tại xã Đông Hoàng, huyện Thái Ninh (nay thuộc huyện Đông Hưng), tỉnh Thái Bình. Sau khi học xong sơ cấp (1936), ông lần lượt làm việc tại Nhà máy Chế tạo Cơ khí Hải Phòng, rồi Nhà máy đạn Phú Thọ của chính quyền thực dân Pháp. Trong thời kì làm công nhân tại Phú Thọ, ông giác ngộ và tham gia Việt Minh tại đây từ trước Cách mạng tháng 8 cho đến trước ngày Toàn quốc Kháng chiến (3.1945-6.1946). Trước khi Toàn quốc Kháng chiến nổ ra, ông còn làm công tác dân vận tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ từ tháng 7 năm 1946.

Kháng chiến Toàn quốc bùng nổ, 12.1946, ông được bầu vào Ủy ban Kháng chiến tỉnh Phú Thọ, là Ủy viên phụ trách Ban Vũ khí của tỉnh. Một năm sau, 12.1947, ông được điều lên Phòng Dân quân của Liên khu 10 giữ chức vụ Trưởng Ban Vũ khí. Tháng 12 năm 1949, bước vào thời kì mới của công cuộc Kháng chiến, Phạm Như Vưu được điều sang công tác bên Quân đội, là Trưởng Ban Chế tạo Vũ khí của Nha Giám đốc Công binh xưởng trực thuộc Cục Quân giới. Tháng 7 năm 1951, ông nằm trong số 21 du học sinh đầu tiên được Chính phủ cử sang Liên Xô học tập để phục vụ cho công cuộc xây dựng và kiến quốc sau này, cũng như xây dựng Quân đội.

Tháng 5 năm 1956, sau 5 năm theo học tại Trường Cao đẳng Quân khí Tula của Liên Xô, Phạm Văn Vưu về nước và được phân công về phụ trách công tác giảng dạy tại Trường Sĩ quan Hậu cần (nay là Học viện Hậu cần) trên cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Quân giới. Từ tháng 11 năm 1958, ông chuyển về công tác tại Cục Quân giới, lần lượt giữ các chức vụ : Trưởng Phòng Huấn luyện (11.1958), Cục phó (10.1960), rồi Cục trưởng (8.1964).

Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, 2.1979, ông được cử lên làm Phó Tư lệnh phụ trách Kỹ thuật của Quân khu 1, rồi lại được rút về làm Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật. Từ tháng 10 năm 1983 cho đến khi về hưu (1993), ông tiếp tục giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm thứ Nhất Tổng cục Kỹ thuật, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

Tham khảo : Di sản Các nhà Khoa học VN.

panphilov:


Thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Quỳ (28.12.1930) từng giữ các chức vụ : Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự, Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, 2 Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba),…, Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ dành cho tập thể.

Tiến sĩ (1962), Phó Giáo sư (1980), Giáo sư (1984) Chuyên ngành Hóa Lý.

Thiếu tướng (1989 ?)

Ông sinh tại xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Thời kì Kháng chiến chống Pháp, ông theo học cấp 2 tại vùng kháng chiến, rồi làm giáo viên cấp 2, Bí thư Chi bộ tại Trường cấp Trung học An Nhơn, Bình Định.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông tập kết ra Bắc trong khi ra đình vẫn ở trong vùng chiếm đóng, rồi được cử sang Trung Quốc học Sư phạm cao cấp. Năm 1955, ông tiếp tục được chọn sang Cộng hòa Dân chủ Đức học về kỹ thuât hóa. Năm 1960, sau 5 năm 3 tháng, ông tốt nghiệp kỹ sư và đứng hạng Hai, được Bộ Quốc phòng gửi công văn xin biệt phái vào Quân đội, rồi được lựa chọn cho ông chuyển tiếp nghiên cứu sinh về đồng vị phóng xạ, và nước.

Năm 1962, về nước, Bộ Giáo dục cũng có ý muốn ông về Bộ công tác, tuy nhiên ông vẫn lựa chọn ở lại công tác trong Quân đội, và được điều về Viện Kỹ thuật Quân sự công tác tại Phòng Hóa học, một thời gian sau thì được cử làm Phó phòng. Thời gian đầu, ông tham gia nghiên cứu bảo quản vũ khí và trang thiết bị quân sự, nhất là chống ăn mòn, chống ẩm và han gỉ khí tài điện tử, bảo quản khí tài quang học…

Năm 1965, Không quân Mỹ bắt đầu leo thang ra bắn phá miền Bắc. nhiều hoạt động chiến đấu, lao động phải thực hiện ban đêm. Nhưng thắp đèn, đốt lửa lại dễ bị Không quân Mỹ dùng thiết bị hồng ngoại phát hiện, bắn phá. Nguyễn Quỳ lại được Viện Kỹ thuật Quân sự giao tìm cách chế tạo các thiết bị có tính năng phát sáng mạng phục vụ cho chiến đấu và sản xuất. Đến năm 1970, những miếng hợp chất phát sáng do nhóm của ông phát triển và nghiên cứu đã có mặt khắp chiến trường.

Ngoài chất phát sáng, ông còn tham gia nghiên cứu nhiều hóa chất cực kỳ hữu dụng cho bộ đội đặc công như thuốc nổ lỏng. Chất nổ lỏng giúp khi đánh phá hầm ngầm, chất nổ bốc hơi, “luồn lách” vào cả những ngõ ngách, công phá mạnh gây khiếp vía quân thù; lại có thể ngụy trang mang vào thành phố tiện lợi. Ông còn tham gia và chỉ đạo sản xuất sơn, bột ngụy trang, ngòi điện hóa… rất cần cho bộ đội đặc công.

Giáo sư Nguyễn Quỳ đã chủ trì biên sọan 2 cuốn sách: Ăn mòn kim lọai trong công tác bảo quản (1965), Sổ tay bảo quản (1970). Đặc biệt, là một chuyên gia về ăn mòn, bảo quản năm 1969, khi Bác Hồ mất, ông đã vinh dự được tham gia nhóm nghiên cứu, bảo quản Nhà sàn và các di vật của Người …

Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1977 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Viện phó Viện Kỹ thuật Quân sự cho đến năm 1980 thì được điều sang làm Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự. Từ năm 1989 cho đến khi về hưu 1998, trong vòng 10 năm liền, ông giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Tham khảo: Báo Quân đội Nhân dân, Báo Bình Định, Nhân tài Đất Việt.

panphilov:


Nguyễn Văn Xuân (1902 - 1981) từng giữ các chức vụ : Trưởng phòng Quân giới đầu tiên, Cục phó Cục Quân giới kiêm Bí thư Đảng ủy Cục, Cục trưởng Cục Quân giới. Ngoài ra, ông cũng từng là : Đại biểu Quốc hội Khóa 1 tỉnh Hưng Yên, Bộ trưởng Không bộ trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, Trưởng Ban Thanh tra Bộ Công nghiệp.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…

Ông tên thật là Nguyễn Ngọc Xuân, sinh ra và lớn lên tại thôn Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình giàu truyền thống Nho học, yêu nước. Ông là con cháu hàng điệt của chí sĩ Cần vương Đỗ Uẩn, từng đỗ cử nhân và giữ chức tri phủ Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Phó sứ Sơn phòng Nghệ An ; cháu của các nhà yêu nước Đỗ Cơ Quang (1878 - 1914)  và Đỗ Thị Tâm ( ? - 1930) ; anh em họ với các ông Đỗ Chu Tuấn (1919), Đại biểu Quốc hội Khóa 1, Trần Xuân Độ (1894 - 1997), Chính ủy đầu tiên Quân khu 7 thời tướng Nguyễn Bình rồi Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên.

Năm 1924, ông ra Hà Nội theo học tại Trường Kỹ nghệ Hà Nội, rồi làm thợ tại các xưởng Trường Thi, La Phù, và Phòng Thí nghiệm Khoáng chất Hóa học của Chính quyền thực dân Pháp tại Hà Nội. Năm 1929, Nguyễn Ngọc Xuân ra nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, được giao phụ trách việc in báo « Đường Cách mạng », và đảm nhiệm việc liên lạc và vận chuyển vũ khí mua được từ Hải Phòng lên.

Trước Cách mạng, ông đã từng bị thực dân Pháp bắt, xử tù chung thân và bị đày đi nhiều nhà tù khét tiếng như Côn Đảo, Hỏa Lò, căng Vụ Bản (Hòa Bình). Thời gian ở trong tù, ông nhận thấy Quốc dân đảng đã dần bước đi chệch hướng so với lí tưởng ban đâu, thêm vào đó thời gian ở Côn Đảo được gần gũi với những người cộng sản, ông có cảm tình rồi dần giác ngộ lý tưởng cộng sản.

Năm 1936 được thả, nhưng vẫn bị quản thúc, theo dõi ở quê, ông đã tìm mọi cách để bắt liên lạc với Đảng. Lúc bấy giờ, tình hình Cách mạng trong nước phát triển mạnh, do có kiến thức về công nghiệp và hóa chất, ông được tổ chức giao nhiệm vụ chế tạo một số vũ khí và lựu đạn. Ngoài vốn kiến thức đã được học, ông không ngừng tự học để có thêm những hiểu biết về thuốc nổ và mày mò chế thử được thuốc đen và phuy-mi-nát thủy ngân, một loại thuốc gợi nổ rất cần trong sản xuất vũ khí.

Năm 1944, Cách mạng đã thành lập căn cứ ở Cao-Bắc-Lạng. Lực lượng vũ trang tập trung đã hình thành và phát triển, nhu cầu về vũ khí có những đòi hỏi mới. Ngoài chiến lợi phẩm thu được trong chiến đấu, cần phải tổ chức sản xuất để phục vụ chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Xứ ủy Bắc Kỳ khẩn trương chỉ đạo xây dựng xưởng sản xuất vũ khí bí mật ở thị xã Bắc Ninh và giao nhiệm vụ cho ông cùng ông Ngô Gia Khảm thành lập xưởng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nguyễn Ngọc Xuân được bầu vào danh sách Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên tiến hành vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông vinh dự được bầu làm đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên, và giữ ghế Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ.

Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập ngành quân giới, ông được giao nhiệm vụ làm Chánh Phòng quân giới, tiền thân của Cục Quân giới sau này, phụ trách việc thu mua vũ khí và tổ chức các cơ sở sản xuất vũ khí. Tháng 3 năm 1946, khi Cục Quân giới được thành lập theo Sắc lệnh 34/SL của Chính Phủ, ông là Phó cục trưởng Cục Quân giới kiêm Bí thư Đảng ủy Cục quân giới.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12.1946), ông cùng cán bộ và công nhân của ngành quân giới vận chuyển máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu ra khu căn cứ, vượt qua khó khăn, gian khổ, vừa di chuyển, vừa ổn định tổ chức, triển khai sản xuất rồi trực tiếp tham gia chiến đấu. Khi Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn, cách cơ quan có 500m, ông đã cùng đồng đội cất giấu tiền bạc, tài liệu, máy móc để khỏi lọt vào tay địch, rồi hướng dẫn cả đoàn cán bộ và công nhân về Thái Nguyên. Địch lại nhảy dù ở Làng Ngò và Vũ Nhai, ông lại cùng anh em bám máy, bám xưởng, tiếp tục sản xuất, chiến đấu.

Hòa bình lập lại trên miền Bắc, năm 1955 ông được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Quân giới cho đến năm 1958 thì được điều về Bộ Công nghiệp làm Trưởng ban thanh tra của Bộ. Năm 1962, vì lí do sức khỏe, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Một tháng sau ông bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, 19 năm sau (1981), thì qua đời.

Tham khảo : Báo Quân đội Nhân dân.

panphilov:


Trần Xuân Độ (1894 – 1997) từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ (Chính ủy đầu tiên) Khu 7. Ngoài ra, ông còn từng là Phụ trách Công tác Đảng (Bí thư Tỉnh ủy) Bà Rịa – Vũng Tàu, Thư ký Công đoàn miền Tây Nam Bộ, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huy chương Vì sự nghiệp Ngoại giao, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng…

Trần Xuân Độ, tên thật là Trần Hữu Tộ, sinh tại xã Bồ Đề, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông là con cháu hàng điệt của chí sĩ Cần vương Đỗ Uẩn, từng đỗ cử nhân và giữ chức tri phủ Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Phó sứ Sơn phòng Nghệ An ; cháu của các nhà yêu nước Đỗ Cơ Quang (1878 - 1914)  và Đỗ Thị Tâm ( ? - 1930) ; anh em họ với các ông Đỗ Chu Tuấn (1919) và Nguyễn Văn Xuân (1902 - 1981) đều là Đại biểu Quốc hội Khóa 1.

Mồ côi cả cha lẫn mẹ ngay từ lúc lên 7, tuổi thơ lam lũ nghèo khổ tại quê nhà khiến ông sớm phải thoát li làm thợ ở Hải Phòng. 12 tuổi, ông may mắn gặp được người cai tốt bụng, xin cho học nghề tiện ở Nhà máy Nguyễn Hữu Thu. Nhờ học hành chăm chỉ, ông nhanh chóng trở thành thợ giỏi, tay nghề cao. Tuy nhiên, vì tính tình cương trực, không can tâm chịu sự đè nén, bóc lột của chủ và cai, ông đã phải chuyển hết nhà máy này đến nhà máy khác. Thời gian làm công nhân ở Hải Phòng, ông gặp gỡ nhiều thợ tâm huyết, có lí tưởng đánh Pháp giành độc lập dân tộc, đặc biệt có nhà Cách mạng nổi tiếng Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt (1905-1992), sau là Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.

Những năm 1924 - 1925, phong trào yêu nước tại Hải Phòng phát triển rất cao với nhiều khuynh hướng khác nhau. Có thể kể ra đây cuộc tranh luận giữa hai người bạn thân Trần Xuân Độ - Hạ Bá Cang. Mặc dù xu hướng yêu nước khác nhau, nhưng vì là bạn bè chung ý chí, tinh thần yêu nước nên các ông đều không tuyệt giao, mà thoả thuận sẽ gặp nhau, hiểu nhau sau. Chính ông Hạ Bá Cang sau này đã nhận xét 'Sau nhiều lần tranh cãi rất gay go, anh Độ và tôi đều nhận thấy rằng, mặc dầu lập trường hai bên có khác nhau, song dù theo chủ nghĩa quốc gia hay chủ nghĩa  quốc tế, chúng ta cần phải cùng nhau thống nhất hành động chống bọn cướp nước'.

Khoảng giữa năm 1926, khi đang làm công nhân tại Nhà máy Cơ khí Cô-rông, vì tham gia tích cực vào phong trào phản đối chính quyền thực dân phong kiến kết án tử hình cụ Phan Bội Châu rồi phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh, Trần Xuân Độ bị đuổi ra khỏi nhà máy cùng với người bạn Hạ Bá Cang, để tránh sự theo dõi của mật thám Pháp, ông tạm lánh qua Lào làm thợ mỏ cho hãng Các-rích, rồi tiếp tục phải lánh qua Thái Lan. Tại Thái Lan, ông gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, và là một trong những hội viên nòng cốt đầu tiên ở đây.

Ngày 25 tháng 12 năm 1927, Việt Nam Quốc dân Đảng được thành lập, với mục tiêu ‘Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ, đặc biệt là các lân quốc: Ai Lao (Lào), Cao Miên (Cam-pu-chia)’. Việt Nam Quốc Dân Đảng cử người liên lạc với nhiều đảng phái, hội yêu nước trong đó có Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội để bàn thảo việc thống nhất về tổ chức, hoạt động trong công cuộc giải phóng dân tộc, nhưng việc bất thành do những bất đồng trong quan điểm.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, thời gian này Trần Xuân Độ có xu hướng khác với phong trào do những người cộng sản lãnh đạo. Ông ủng hộ phương hướng hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng, nên hăng hái lên đường băng rừng về nước và ra nhập Đảng này vào tháng 10 năm 1928. Ngày 10 tháng 2 năm 1930, Khởi nghĩa nổ ra một cách bị động rồi nhanh chóng bị dập tắt và đàn áp dã man, đảng viên Quốc dân Đảng bị truy nã gắt gao trong cả nước. Để bảo vệ đảng đồng thời trấn an tinh thần của đảng viên, ông xung phong vào Ám sát Đoàn và được lãnh tụ Nguyễn Thái Học (1902 - 1930) cử làm Trưởng Ban đóng tại Hàng Bột.

Ngày 2 tháng 3 năm 1930, mật thám Pháp bao vây trụ sở của Ám sát Đoàn, Trần Xuân Độ bị bắt cùng 4 đồng chí khác của ông trong đó có 2 nữ. Lúc đầu, thực dân Pháp giam ông ở Hỏa Lò. Mặc dù bị đánh chết đi sống lại, nhưng ông không khai nửa lời, kể cả tên thật. Đem ông ra đối chất với các tù chính trị, không ai chịu nhận là quen ông, thực dân Pháp hỏi sang những người tù thường trước ở Hải Phòng. Những người tù thường chỉ nhớ mang máng tên và họ của ông, và thực dân Pháp cần có một cái tên để hoàn thành hồ sơ của ông cho nên ghi bừa là Trần Xuân Độ. Đấy là nguyên nhân xuất xứ cái tên của ông sử dụng khi tham gia Cách mạng.

Bị kết án chung thân cầm cố, ông bị phát vãng lên nhà tù Sơn La, rồi bị đày ra Côn Đảo cùng nhiều đảng viên Quốc dân Đảng khác. Trong 15 năm bị giam cầm ở Côn Đảo, ông lúc nào cũng tỏ ra là một ‘Chiến đấu viên’ trung kiên, bất khuất. Điển hình là việc ông nhịn đói 22 ngày (?) để phản đối chính sách đối đãi với tù chính trị của thực dân Pháp. Tại đây, ông đã gặp gỡ với 2 đảng viên Quốc dân Đảng ở trong Nam là các ông Trần Huy Liệu (1901 - 1969), sau là Viện trưởng Viện Sử học, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Nguyễn Phương Thảo (1906 - 1951), sau là Trung tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh Nam Bộ, và kết thành bộ ba thân thiết.

Ở Côn Đảo, Trần Xuân Độ còn gắn bó với nhiều người tù Cộng sản, những nhà Cách mạng nổi tiếng như : Tôn Đức Thắng (1888 - 1980), sau là Chủ tịch nước ; Phạm Văn Đồng (1906 - 2000), sau là Thủ tướng ; Hà Huy Giáp (1908 - 1995), sau là Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Bộ Văn hóa, Ủy viên Trung ương Đảng ; Ung Văn Khiêm (1910 - 1991), sau là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Ủy viên Trung ương Đảng ; Lê Duẩn (1907 - 1986), sau là Tổng Bí thư ; TrầnTử Bình (1907 - 1967), sau là Thiếu tướng Tổng Thanh tra Quân đội, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc ; Ngô Gia Tự (1908 - 1935), Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ năm 1930 ; Phạm Hùng (1912 - 1988), sau là Chủ địch Hội đồng Bộ trưởng ; Nguyễn Thanh Sơn (1910 - 1996), Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ sau là Đại biểu Quốc hội Khóa 1, Đại tá, Thứ trưởng Bộ Tài chính ; Nguyễn Kim Cương (1906 - 1994), sau là Thứ trưởng Phủ Thủ tướng ; Lương Khánh Thiện (1903 - 1941), sau là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Thảnh ủy Hà Nội rồi Hải Phòng ; Tống Văn Trân (1905 - 1935), sau là Xứ ủy viên Nam Kỳ phụ trách Sài Gòn - Gia Định ; Lê Văn Lương (1912 - 1995), sau là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội ; Nguyễn Văn Linh (1915 - 1998), sau là Tổng Bí thư... Tại Côn Đảo, ông gặp lại người bạn thời còn hoạt động trong phong trào công nhân, học sinh, sinh viên ở Hải Phòng – Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt.

Thời gian ở Côn Đảo đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong tư tưởng cũng như nhận thức về con đường Cách mạng giải phóng dân tộc của bộ ba Trần Xuân Độ, Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo. Suy nghĩ về nguyên nhân thất bại nhanh chóng của phong trào do Quốc dân Đảng lãnh đạo, Trần Xuân Độ nhận thấy sự bất hợp lý trong đường lối, chủ trương cũng như biện pháp đấu tranh, tập hợp lực lượng. Hơn nữa, ông cũng nhận thấy nhiều đảng viên Quốc dân Đảng không còn lí tưởng như lúc mới ra đời nữa. Hành động chọc mù mắt người bạn Nguyễn Phương Thảo là một trong những sự kiện trực tiếp khiến ông đoạn tuyệt với đảng này. Quá trình tiếp xúc với những người tù Cộng sản, được trao đổi và trước tấm gương của họ, ông cùng hai người bạn là Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo có cảm tình, và dần quay sang ủng hộ lập trưởng Chủ nghĩa Quốc tế Vô sản trong việc đánh đuổi thực dân, giành độc lập cho dân tộc.

(còn tiếp)

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page