Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Mười Một, 2014, 09:43:11 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 470782 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #410 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2011, 10:30:56 PM »


Thiếu tướng Anh hùng Nguyễn Văn Thực (25.3.1943) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Phòng không, Giám đốc Học viện Phòng không, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 25 tháng 8 năm 1970 khi đang là trung úy, sĩ quan điều khiển tên lửa thuộc Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (28.10.1994).


Thiếu tướng Nguyễn Văn Thực quê ở thôn Phù Lập, xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Lạc (nay là Vĩnh Tường), tỉnh Vĩnh Phúc, sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo. Ngày 3 tháng 7 năm 1963, ông viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ khi mới tròn 20 tuổi. Ngày 14 tháng 9 năm 1964, ông được kết nạp Đảng (chính thức ngày 14 tháng 9 năm 1965).

7.1963, chiến sĩ Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 36, Sư đoàn 308 ; 9.1963, chiến sĩ Đại đội 3, Trung đoàn 228B, Bộ Tư lệnh Phòng không (PK), Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ, 22.10.1963), rồi chuẩn bị học tên lửa ở Trại Cờ, Hiệp Hòa, Bắc Giang và học ngoại ngữ (tiếng Nga, tiếng Trung) đồng thời làm giáo viên văn hóa của Trung đoàn (dạy toán).

5.1965, học chuyển loại binh chủng tên lửa, chiến sĩ trắc thủ điều khiển tên lửa tại Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn tên lửa 236, Quân chủng PKKQ ; 4.1966, sĩ quan điều khiển tên lửa thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Quân chủng PKKQ ; 8.1967, trưởng xe điều khiển tên lửa thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa (Sư đoàn 369), Quân chủng PKKQ và là chi ủy viên Đại đội 1.

Từ 1965 đến năm 1968, ông tham gia hơn 100 trận, luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công, đi sâu nghiên cứu các thủ đoạn đánh phá, phán đoán nhanh chóng, chính xác xử trí khôn khéo, bình tĩnh, dũng cảm, góp phần bắn rơi 21 máy bay trong nhiều tình huống phức tạp khác nhau như: khi địch rải nhiều loại nhiễu khác nhau, thay đổi chiến thuật tập kích, hoặc cho máy bay bay ở nhiều độ cao nhằm khống chế, vô hiệu hoá lực lượng phòng không, tên lửa mặt đất…

Nổi bật là trong trận đánh ngày 23 tháng 7 năm 1966, tại Thượng Thuỵ, Gia Lâm, trong lúc trận địa tên lửa bị máy bay Mỹ khống chế, bắn phá dữ dội, ông vẫn bình tĩnh điều khiển tên lửa bắn rơi một máy bay F 105 ; 12.8.1967, tại trận địa Chèm- Hà Nội, mặc dù Không quân Mỹ cho nhiều tốp máy bay vào đánh phá Hà Nội, có sử dụng nhiều loại nhiễu, nhưng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo điều khiển tên lửa bắn rơi 1 máy bay RF-5C bằng phương pháp 3 điểm ; 10.1.1968, tại trường 200, Không quân Mỹ tiếp tục chiến thuật thả nhiều loại nhiễu và tổ chức hàng chục tốp máy bay từ nhiều hướng khác nhau đánh vào Hà Nội, ông vẫn bình tĩnh phán đoán xử trí chính xác, từng tình huống điều khiển 2 quả đạn bắn rơi 1 chiếc máy bay F4, cũng sau trận này Bộ tư lệnh PK đã đúc rút và phổ biến kinh nghiệm cho các đơn vị về cách đánh tập trung dứt điểm, hiệu quả ; 22.11.1968, tại trường 400, bằng 1 quả tên lửa, do chính ông điều khiển đã góp phần bắn rơi 1 máy bay không người lái 147-J.

1.1969, đại đội phó Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ và là chi hủy viên Đại đội 1 ; 8.1969, đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ và là đảng ủy viên Tiểu đoàn ; 11.1969, học viên Lớp Đào tạo Chỉ huy Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không tại Đại đội 3, Tiểu đoàn 5, Trường Sỹ quan Phòng không, Quân chủng PKKQ ; 4.1971, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ ; 7.1971, học viên đào tạo chỉ huy tham mưu tên lửa phòng không tại Trường Phòng không Ô-đéc-xa của Liên Xô ; 1974, chính trị viên kiêm bí thư Liên Chi ủy Đoàn lưu học sinh quân sự Việt Nam tại Ô-đéc-xa.

10.1976, quyền Trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ ; 11.1977, học văn hóa (ngoại ngữ) tại Trường Vă hóa Quân đội ; 9.1978, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK. Là phó bí thư Đảng ủy Trung đoàn, Đảng ủy viên Sư đoàn. ; 5.1980, sư đoàn phó Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK ; 9.1980, học viên Học viện Bộ Tổng Tham mưu các Lực lượng Vũ trang Liên Xô mang tên Vô-rô-si-lốp, theo học Lớp Chỉ huy Tham mưu cấp chiến dịch chiến lược.

8.1982, phó sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK ; 4.1985, phó hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Tên lửa – Ra-đa (từ 1988 là Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Phòng không) kiêm Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Trường.

3.1991, hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Phòng không kiêm Bí thư Đảng ủy Trường, Đảng ủy viên Quân chủng PK ; 9.1993, giám đốc Học viện Phòng không, Phó Bí thư Đảng ủy Học viện, Đảng ủy viên Quân chủng ; 12.1999, phó viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu (4.2003).



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #411 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2011, 08:09:15 AM »


Trung tướng Chu Tự Di (Bí danh: Lê Thái, 1928 - 0h55' 2.7.2010), từng giữ chức vụ Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê tại xã Văn Nhuệ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, là cán bộ tiền khởi nghĩa (tham gia hoạt động Cách mạng trước tháng 8 năm 1945).

Huân chương Ðộc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #412 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2011, 08:15:19 AM »


Trung tướng Nguyễn Kiệm (tên thật: Nguyễn Văn Kiệm, 1931 - 22h20' 20.7.2010), từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Quân đoàn 1, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng), quê tại xã Hồng Phong, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Huân chương Quân công hạng Nhì, hai Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #413 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 03:28:11 AM »


Thiếu tướng Lã Hồng Phương (tên thật : Lã Văn Nhật, 26.3.1939) từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa tư tưởng, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ.

Thiếu tướng (10.1994)


Ông quê tại thôn Trịnh Hưởng, xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, nhập ngũ ngày 15 tháng 3 năm 1959, được kết nạp Đảng ngày 15 tháng 4 năm 1962 (chính thức ngày 15 tháng 1 năm 1963).

6.1956, tham gia dân quân tại quê nhà ; 3.1959, nhập ngũ, là chiến sĩ pháo thủ, khẩu đội trưởng, trung đội trưởng thuộc Đại đội 172, Trung đoàn Pháo phòng không 240, Bộ Tư lệnh Phòng không (PK) ; 4.1963, xuất ngũ, tham gia Ban Quản trị hợp tác tại quê nhà, là chính trị viên phó Xã đội và là tuyên huấn xã.

4.1965, tái ngũ, là trung đội phó, trung đội trưởng, chính trị viên trung đội thuộc Đại đội 516, Tiểu đoàn 51, Trung đoàn Pháo Phòng không 240, Bộ Tư lệnh Phòng không Hải Phòng, Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 7.1966, trợ lý thanh niên Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 4.1967, chính trị viên Đại đội 515, Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 7.1967, trợ lý thanh niên Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 9.1969, trợ lý Đảng vụ Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng PKKQ ; 10.1970, trợ lý cán bộ Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 252, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 12.1971, trợ lý cán bộ Phòng Chính trị Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ ; 4.1975, chủ nhiệm chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 240, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PKKQ.

5.1977, chủ nhiệm chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 240, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK ; 8.1978, phó chính ủy Trung đoàn Pháo Phòng không 240, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK.

6.1979, chính ủy Trung đoàn Pháo Phòng không 225, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK ; 8.1980, trưởng Ban Cán bộ Sư đoàn Phòng không 369, Quân chủng PK ; 9.1982, học văn hóa Trường Văn hóa Quân chủng PK ; 9.1983, bổ túc tại Học viện Chính trị Quân sự ; 1.1984, trưởng Phòng Cán bộ Cục Chính trị Quân chủng PK.

2.1986, phó chủ nhiệm chính trị Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK ; 12.1987, phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng PK ; 10.1992, chủ nhiệm chính trị Quân chủng PK ; 1994, học chính trị cao cấp, Học viện Chính trị Quân sự ; 12.1994, chủ nhiệm chính trị Quân chủng PK cho đến khi nghỉ hưu (10.2001).



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #414 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 08:57:20 PM »


Thiếu tướng Tiến sĩ Đinh Văn Bồng (7.1946) từng giữ các chức vụ : Giám đốc Học viện Không quân, Giám đốc Học viện Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng…

Thiếu tướng (2.2002)


Ông người dân tộc Tày quê tại xã Hồng Định, huyện Quảng Yên, tỉnh Cao Bằng. Nhập ngũ ngày 25 tháng 11 năm 1965, được kết nạp Đảng ngày 1 tháng 6 năm 1969 (chính thức 1 tháng 3 năm 1970).

11.1965, chiến sĩ dự khóa bay Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1966, học viên lái máy bay tại Trường Không quân Liên Xô ; 10.1969, sĩ quan lái máy bay thuộc Đại đội 8, Trung đoàn Không quân 923, Bộ Tư lệnh Không quân (KQ), Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 8.1972, chuyển loại sang lái máy bay Mig. 21 thuộc Trung đoàn KQ 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 10.1973, đại đội phó Đại đội 3, Trung đoàn KQ 927, Sư đoàn KQ 371, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ.

5.1975, chính trị viên bay F-5, Đại đội 1, Trung đoàn KQ 935, Sư đoàn 372, Quân chủng PKKQ ; 2.1978, trung đoàn phó Trung đoàn KQ 935, Sư đoàn 372, Quân chủng KQ ; 9.1978, theo học tại Học viện KQ Ga-ga-rin Liên Xô.

7.1982, trung đoàn trưởng Trung đoàn KQ 927, Sư đoàn 371, Quân chủng KQ ; 6.1987, sư đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn KQ 370, Quân chủng KQ.

3.1991, sư đoàn trưởng Sư đoàn KQ 370, Quân chủng KQ ; 6.1995, giám đốc Học viện Không quân ; 7.1999, giám đốc Học viện Phòng không Không quân cho đến khi về hưu (2007).



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #415 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 12:12:16 AM »


Thiếu tướng Nguyễn Đức Côn (12.2.1945) từng giữ các chức vụ : Phó Giám đốc về Chính trị Học viện Phòng không, Phó Giám đốc về Chính trị Học viện Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Huy chương Vì sự nghiệp xây dựng Công đoàn, Huy chương Vì sự nghiệp Dân vận, Huy chương Vì công tác Tổ chức Xây dựng Đảng, Huy chương Vì sự nghiệp Dân số, Huy chương Vì sự nghiệp Kiểm tra của Đảng.

Thiếu tướng (7.2003).


Thiếu tướng Nguyễn Đức Côn quê tại thôn Doãn, xã Tiên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ông nhập ngũ ngày 24 tháng 2 năm 1965, được kết Đảng ngày 2 tháng 10 năm 1966 (chính thức ngày 2 tháng 10 năm 1966).

7.1962, Bí thư Chi đoàn Trường Phổ thông Duy Tiên (nay là Trường THPT Duy Tiên A), tỉnh Hà Nam ; 2.1965, học viên Kỹ thuật Ra-đa của Trường 300 ; 6.1965, tiểu đội trưởng trắc thủ Đại đội 43, Trung đoàn 293.

10.1967, trung đội phó Ra-đa, Đại đội 14, Trung đoàn 293, Binh chủng Ra-đa, Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 1.1968, phụ trách trung đội trưởng Ra-đa, Đại đội 41, Trung đoàn 290, Binh chủng Ra-đa, Quân chủng PKKQ ; 4.1970, học viên hệ đào tạo ở Học viện Chính trị ; 1.1973, chính trị viên phó, Đại đội 43, Trung đoàn 293, Sư đoàn 373, Quân chủng PKKQ ; 5.1973, trợ lý Câu lạc bộ Phòng Chính trị Binh chủng Ra-đa (F373), Quân chủng PKKQ.

4.1978, trợ lý Đảng ủy Binh chủng Ra-đa (F373), Quân chủng Phòng không (PK) ; 7.1980, phó chính ủy Trung đoàn 291, Binh chủng Ra-đa, Quân chủng PK ; 4.1981, học viên bổ tục tại Ki-ép, Liên Xô ; 8.1981, trợ lý thanh niên Quân chủng PK ; 2.1984, trưởng Ban Thanh niên Quân chủng PK.

1.1988, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK ; 5.1989, phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK ; 3.1993, bổ túc cao cấp hệ A tại Học viện Chính trị Quân sự ; 9.1993, phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng PK, thường vụ Đảng ủy Cục Chính trị, Đảng ủy viên Quân chủng ; 10.1994, hoàn thiện đại học, Học viện Chính trị Quân sự, Đảng ủy viên Quân chủng PK ; 12.1997, phó giám đốc về chính trị kiêm bí thư Đảng ủy Học viện PK ; 5.1999, phó giám đốc về chính trị kiêm bí thư Đảng ủy Học viện PKKQ cho đến khi về hưu (1.10.2005).



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #416 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2011, 10:31:49 PM »


Trung tướng Đào Trọng Lịch (5.12.1939 – 25.5.1998) từng giữ các chức vụ : Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lai Châu – Thường vụ Tỉnh ủy, Tư lệnh kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu 2, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam – Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Ngoài ra ông còn từng là : Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Cứu hộ Cứu nạn Chính phủ.

Huân chương Quân công hạng Ba (truy tặng), Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (1990), Trung tướng (1998).


Ông quê tại thôn Hòa Lan, xã Lũng Hoa, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nhập ngũ tháng 11 năm 1957, được kết nạp Đảng tháng 10 năm 1960.

1957, tham gia du kích xã Lũng Hoà ; 11.1957, nhập ngũ ; 11.1961, được cử đi học tại Trường Sỹ quan Lục quân.

5.1964, lần lượt giữ các chức vụ: Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng và Tham mưu phó Trung đoàn thuộc Sư đoàn 316 ; 5.1973, được cử đi học tại Học viện Quân sự; 9.1974, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, Sư đoàn 316, tham gia chiến đấu ở Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh.

8.1979, được cử đi đào tạo tại Học viện Quân sự cấp cao ; 7.1981, lần lượt giữ các chức vụ : Phó sư đoàn trưởng, kiêm Tham mưu trưởng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316 thuộc Quân khu 2.

8.1987, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lai Châu, Thường vụ Tỉnh uỷ Lai Châu ; 9.1991, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2 ; 2.1992, Tư lệnh Quân khu 2, Phó bí thư Đảng uỷ Quân khu 2. 4.1997, được điều động về công tác tại Bộ Quốc phòng, giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam ; 12.1997, được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
          
1.1994, tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng và Đại hội Đảng lần thứ VIII, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Đảng uỷ Quân sự Trung ương ; 11.1997, là Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương.

Ngày 25 tháng 5 năm 1998, ông mất trong một tai nạn máy bay tại Lào khi ông cùng đoàn công tác, gồm 20 sĩ quan và tướng lĩnh cao cấp Việt Nam, bay từ Viêng-chăng về Xiêng Khoảng.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #417 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2011, 04:44:13 PM »


Phó Đô đốc – Anh hùng Nguyễn Văn Tình (2.10.1945) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Binh chủng Đặc công, Phó Tư lệnh về Chính trị - Bí thư Đảng ủy Quân chủng Hải quân.

Ngoài ra ông còn từng là Ủy viên Trung ương Đảng khóa 9.

Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 2 Nhì, 2 Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng… Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân tháng 11 năm 1960.

Chuẩn Đô đốc (12.2001), Phó Đô đốc (2004).


Ông quê tại xã Giao Yến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, nhập ngũ ngày 10 tháng 10 năm 1963, được kết nạp Đảng ngày 15 tháng 9 năm 1966 (chính thức 15.9.1967).

10.1963,  chiến sỹ Lữ đoàn 330, Sư đoàn 304 ; 2.1964, chiến sỹ cận vệ thuộc Phòng Hành chính Bộ Tư lệnh Hải quân.

3.1965, hạ sỹ đơn vị Đặc công nước thuộc Đội 1, Bộ Tư lệnh Hải quân ; 11.1965, trung sỹ Đại đội 1 Đặc công nước, Đội 1, Bộ Tư lệnh Hải quân ; 11.1966, phân đội phó rồi phân đội trưởng, Phó Bí thư Chi bộ Phân đội 1, Đội 1 Đoàn 126 Đặc công Hải quân ; 10.1968, trợ lý Tham mưu, Ban Tham mưu Đoàn 126 Đặc công Hải quân ; 6.1969, đội phó, Đảng uỷ viên Đội 33 Đoàn 126 Đặc công Hải quân ;

9.1969, đội trưởng, Chi uỷ viên Đội 11, Đoàn 126 Đặc công Hải quân ; 7.1970, học viên tại Tiểu đoàn 9, Học viện Chính trị ; 9.1971, chính trị viên lớp đào tạo sỹ quan đặc công nước thuộc Tiểu đoàn 8 Đoàn 126 Đặc công Hải quân.

8.1972, chính trị viên phó Tiểu đoàn 8, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, Đảng uỷ viên Tiểu đoàn ; 2.1973, chính trị viên phó Tiểu đoàn 3, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, Đảng uỷ viên Tiểu đoàn ; 1.1974, trợ lý Ban Chính trị Đoàn 126 Đặc công Hải quân ; 7.1974, tổ trưởng tổ học tập, Chi uỷ viên lớp đào tạo cán bộ chủ trì chính trị trung cấp thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 9, Học viện Chính trị.

8.1976,  chính trị viên Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 126 Hải quân, Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn, Đảng uỷ viên Lữ đoàn ; 11.1977, tổ trưởng học tập, Chi uỷ viên Đội 1, Đoàn 564 Trường Văn hoá Quân khu 3.

10.1978, học viên Trường Ngoại ngữ Quân sự ; 10.1980, học tại Học viện Quân chính Lê Nin Liên Xô, Đảng uỷ viên Tuỳ viên Quân sự 343 ; 7.1984, đoàn trưởng Đoàn Đặc công 861 (Nay là Đoàn 126 Hải quân ), Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn.

9.1989, học viên lớp đào tạo 10, Hệ đào tạo thuộc Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1991, đoàn trưởng Đoàn 126, Đảng uỷ viên Binh chủng Đặc công, Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn 126 ; 4.1994, Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng ; 7.1997, học bổ túc tại Học viện Chính trị Quân sự ; 8.1998, Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng ; 11.1999, Phó Tư lệnh Quân sự Quân chủng Hải quân ; 2.2000, Phó Tư lệnh về chính trị Quân chủng Hải quân, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng cho đến khi về hưu (1.7.2008).

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #418 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 06:52:04 AM »


Thiếu tướng Vũ Anh Thố (tên thật : Vũ Văn Thố, 14.1.1943) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng…

Thiếu tướng (11.1999).


Ông quê tại xã Yên Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, nhập ngũ tháng 9 năm 1962, được kết nạp Đảng tháng 6 năm 1966 (chính thức 3.1967).

9.1962, chiến sĩ Trung đoàn 46, Quân khu Hữu Ngạn ; 12.1962, chiến sĩ cao xạ 37 mm, Tiểu đoàn 24, Quân khu Hữu Ngạn ; 4.1964, học viên Trường Sĩ quan Cao xạ, Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ).

10.1965, trung đội trưởng thuộc Đại đội 1, Trung đoàn Tên lửa 236, Quân chủng PKKQ ; 11.1965, trung đội trưởng, trưởng xe YA kiêm sĩ quan điều khiển thuộc Tiểu đoàn 93 rồi Tiểu đoàn 91, Trung đoàn Tên lửa 278, Quân chủng PKKQ.

4.1969, trưởng xe YA, sĩ quan điều khiển thuộc Tiểu đoàn 94, Trung đoàn Tên lửa 261, Sư đoàn Phòng không (PK) 361, Quân chủng PKKQ ; 4.1970, học viên bổ túc cán bộ đại đội tên lửa Trường Sĩ quan PK, Quân chủng PKKQ ; 9.1971, giáo viên xạ kích tên lửa, Trường Sĩ quan Cạo xạ, Quân chủng PKKQ ; 6.1972, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 172, Trung đoàn Tên lửa 277, Quân chủng PKKQ.

4.1973, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 64, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ ; 3.1975, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 61, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PKKQ.

10.1975, theo học lớp đào tạo cán bộ trung đoàn tên lửa, Trường Sĩ quan PK, Quân chủng PKKQ ; 8.1978, tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng PK.

9.1979, trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK ; 4.1982, quyền trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 277B, Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK kiêm Bí thư Đảng ủy Trung đoàn ; 2.1985, học viên Học viện Quân sự Cấp cao khóa 7, đào tạo cán bộ chiến dịch chiến lược.

7.1987, sư đoàn phó về quân sự  Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 1.1988, sư đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 10.1989, quyền  sư đoàn trưởng Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK.

3.1991, sư đoàn trưởng Sư đoàn PK 361, Quân chủng PK, phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn ; 12.1997, phó tư lệnh Quân chủng PK ; 7.1999, phó Tư lệnh Quân chủng PKKQ cho đến khi về hưu (1.1.2007).

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
dinhba
Thành viên
*
Bài viết: 9


« Trả lời #419 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 02:05:14 PM »

.


.


Thiếu tướng anh hùng Trần Đối

Sinh ra tại vùng quê Quảng Nam truyền thống anh hùng; năm 14 tuổi, ông đã theo cách mạng, làm giao liên, liên lạc. Năm 16 tuổi, ông vào bộ đội. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, về sư đoàn 308, đóng quân trên quê hương Phú Thọ. Những năm 60, theo tiếng gọi của quê hương Miền Nam ruột thịt, ông lại trở về Nam, chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên (B3).

Tới năm 1971, ông được bổ nhiệm giữ chức Trung Đoàn trưởng E.24 cho tới năm 1973, ông được điều về làm sư trưởng Sư đoàn 5…

Ngày ông vế làm Trung đoàn trưởng, tôi mới chỉ là một chiến sĩ Vệ binh, chuyên đi bảo vệ ông…Nhiều năm sau ngày giải phóng,tôi vẫn hỏi han về tình hình của ông và gia đình, xong tôi nghĩ mình chỉ là người lính nên cũng không dám mạnh dạn chủ động  liên lạc với ông…

Thấm thoắt đã hơn 30 năm…

Thật bất ngờ, năm 2004, qua website của E.24, sau đợt tìm mộ và đưa hài cốt của anh Nguyễn Trọng Tín- nguyên C trưởng C13 từ Gò Công về quê, chúng tôi được biết nhiều thông tin của đồng đội phía Nam; và với những tấm hình mà gia đình LS Tín chụp tại Vĩnh Phú, gởi vào đăng tải trên trang E.24, ông đã nhận ra tôi cùng số ĐT của tôi…

 Qua điện thoại, ông đã thăm hỏi tôi và gia đình tôi, cùng ôn lại những kỷ niệm ở Tây Nguyên và ở đồng bằng Nam Bộ...

Ông hỏi tôi : Nhớ kỷ niệm nào nhất về ông? Tôi nói: Kỷ niệm mà tôi không thể quên về ông là năm 1971, khi ỏ Tây Nguyên, ông bảo tôi là “Đi hành quân nên mặc quần đùi, cho đỡ rách quần áo, vì chiến trường còn khó khăn lắm, chưa có quân trang bổ sung”…

Năm 1972, “Chiến dịch Nguyễn Huệ, ông nói với cán bộ và anh em trinh sát vệ binh: Đơn vị ta có vinh dự là đơnvị đánh mở màn chiến dịch! Ngày 30/3/1972, trung đoàn 24 đánh căn cứ Xa Mát, Tây Ninh. Sau 3 ngày, ta đã giải phóng và tiêu diệt hoàn toàn căn cứ này và sau đó đánh chặn ở Thiện Ngôn, tiêu diệt hoàn toàn chiến đoàn 44 của Ngụy quyền Saigon. Sau trận đánh này, ông điện cho ông Lanh, ông Thẩm (K6) và giao nhiệm vụ đặc biệt cho tôi: Đưa đoàn phóng viên chiến trường đi quay phim, chụp ảnh đi cùng đơn vị… Tôi đã đưa các phóng viên tới C11, C12, C10, qauy trực tiếp những xác xe tăng, xe bọc thép và quân địch bị ta tiêu diệt… Sau đó, ông điện trực tiếp xuống đơn vị khen ngợi tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đơn vị giao cho. Cuộc điện thoại này, ông và tôi kể cho nhau nghe, cùng ôn lại những kỷ niệm một thời lửa đạn… cho tới hết một cạc diện thoại 200 ngàn…

Nhưng điều tôi không ngờ nhất là, ông từ Sài Gòn bay ra Hanoi và đi xe tới tận nhà tôi, thăm hỏi gia đình tôi ân cần như người thân trong nhà vậy! Sau đó, ôn bảo tôi gọi điện cho một số anh em CCB E.24 ở Phú Thọ tới, cùng ăn cơm, giản dị và  thân mật như ngày nào đó còn ở chiến trường. Tôi và các anh em cùng trào rơi nước mắt! Thật không ngờ, một vị Anh hùng, một Vị Tướng, cách xa hơn 2000km  mà lại đến tận nhà thăm chiến sĩ cũ sau 33 năm xa cách!.. Ông nói: Đây là nơi Đất Tổ, cội nguồn. Tôi phải đến với Tổ tiên, đến với đồng đội… Sau đó ông chỉ đạo: Anh em E.24 ở Phú Thọ phải thành lập Ban Liên Lạc Truyền thống tại Phú Thọ.  Theo lời dặn dỗ của ông và sự nhất trí cao của Đại tá Nguyễn Công Đào, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn E.24, trưởng ban LL.TT Trung đoàn 24,  chúng tôi  đã thành lập được BLL.CCB.E24 tại Phú Thọ do tôi làm trưởng ban.

Trần Đối - Một vị tướng anh hùng mà bình dị mà chúng tôi không thể nào quên!

Theo Nguyễn hải Cảng


Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM