Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam

<< < (22/102) > >>

panphilov:


Thượng tướng Lê Quang Hòa (Lê Thành Kim, 2.2.1914-15.12.1993) từng giữ các chức vụ : Chính ủy Chiến khu 3, Bí thư Quân khu Ủy Liên khu 3, Chính ủy – Bí thư Mặt trận Trung Du, Cục trưởng Cục Quân huấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tổng Tham mưu, Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường Văn hóa Quân đội, Chính ủy – Bí thư Đảng ủy Trường Sĩ quan Lục quân, Chính ủy – Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy – Bí thư Đảng ủy Quân khu 4, Trưởng Đoàn Quân sự miền Bắc trong Ủy ban Quân sự 4 bên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm Chính ủy (đầu tiên) – Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 1, Phó Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam, Phó Chính ủy Chiến dịch Hồ Chí Minh, Bí thư Ban Cán sự Đảng trực tiếp tham gia chỉ huy cánh Đông, Phó Chủ nhiệm Chính trị chỉ đạo công tác phía Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh – Chính ủy Quân khu 4 kiêm Tổng Thanh tra Quân đội. Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốc hội Khóa 4.

Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1959), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1986).

Ông quê ở xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Được giác ngộ cách mạng từ sớm, năm 1938, được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Dân chủ thành Hoàng Diệu ; 6.1939, được kết nạp vào Đảng, 1939, bị thực dân Pháp bắt, kết án 5 năm tù, và giam tại các nhà lao: Hoà Bình, Hoả Lò,  Sơn La. Trong tù ông tích cực đấu tranh, được bầu vào Ban lãnh đạo, Ban Chi uỷ nhà tù ; 3.1945, Nhật đảo chính Pháp, lợi dụng cơ hội đó ông trốn thoát, về Sơn Tây bắt liên lạc với tổ chức, và được chỉ định vào Ban cán sự tỉnh, xây dựng phong trào, tổ chức lực lượng, lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở đây ; Cách mạng Tháng Tám thành công, ông là phái viên chính trị của Bộ Quốc phòng công tác Đệ tứ chiến khu Đông Triều.

Từ tháng 11 năm 1945 đến năm 1949, ông là Chính trị, Uỷ viên Bộ chỉ huy chiến khu 3, và là một trong những người thành lập chiến khu 3, được cử làm Bí thư Quân khu uỷ, Uỷ viên Thường vụ Liên khu uỷ ; 1949, Chính uỷ Mặt trận Trung Du, Bí thư Đảng uỷ Mặt trận ; 1950 - 1955, Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân huấn, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ cơ quan Bộ Tổng tham mưu.

Từ năm 1955 đến năm 1957, ông là Hiệu trưởng, kiêm Chính uỷ Trường Văn hoá Quân đội, kiêm Cục trưởng Cục Văn hoá ; 1957 - 1960, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam ; 1960 - 1963, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Từ năm 1963 đến năm 1967, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ cơ quan Tổng cục Chính trị ; 1967 - 1973, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Quân khu 4 ; 1973, Trưởng đoàn Quân sự miền Bắc trong Ban Liên hiệp quân sự bốn bên, sau đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, kiêm Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Quân đoàn 1 ; 1975, Phái viên của Thường vụ Quân uỷ Trung ương công tác tại Huế, Phó Chính uỷ Quân Giải phóng miền Nam, Uỷ viên Thường trực Quân uỷ Quân Giải phóng miền Nam, Phó chính uỷ chiến dịch Hồ Chí Minh, Bí thư Ban cán sự Đảng trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ huy cánh quân phía Đông.

Năm 1976, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chỉ đạo công tác phía ; 1977 - 1980, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu 4, kiêm Tổng Thanh tra quân đội. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tham khảo : Từ điển Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

panphilov:


Thiếu tướng Giáo sư Đặng Ngọc Giao (Đặng Văn Giáo; 1929-1999) từng giữ các chức vụ: Cục phó Cục Hậu cần Quân khu 1, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Hậu cần. Ngoài ra, ông còn là: Nhà giáo Nhân dân (1997), Giáo sư (1991), và hoàn Tiến sĩ (1981)

Huân chương Quân công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến (chốn Pháp) (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1989)

Ông quê ở xã Lý Thường Kiệt, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, nhập ngũ năm 1946, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947. Từ năm 1946 đến 1950 ông lần lượt giữ các chức vụ: quản lí đại đội, chính trị viên trung đội, cán bộ địch vận tỉnh Thái Bình. 1950-1958, chính trị viên đại đội quân y, chính trị viên phó tiểu đoàn, phụ trách chính trị viên Ban hậu cần Trung đoàn 64, Trưởng Ban Giao tế Đoàn Pháo binh 305, quản trị trưởng Trường sĩ quan Pháo binh.

Từ năm 1958 đến 1967, giảng viên Hậu cần Trường trung cao Quân sự. 1967-1981, Trưởng phòng nghiên cứu biên soạn Trường sĩ quan Hậu cần, Trưởng đoàn đi thực tế ở Chiến trường Trị Thiên Huế (1968) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975).

Tháng 10.1981, Phó Giám đốc Học viện Hậu cần. 1.1985, Phó Cục trưởng Cục hậu cần Quân khu 1. Tháng 4.1986, Phó Giám đốc, 7.1988-1996, Giám đốc kiêm Bí Thư Đảng ủy Học viện Hậu cần.

Ông là chủ biên của 10 công trình khoa học cấp Học viện và Bộ Quốc phòng như: "Lí luận Hậu cần cấp chiến thuật", "Lí luận hậu cần cấp chiến dịch"...

panphilov:


Thiếu tướng Giáo sư Anh hùng Lê Thế Trung (5.4.1928) từng giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Quân y Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Quân y 6, Viện trưởng Viện Quân y 103, Giám đốc Học viện Quân y.

Huân chương Quân công hạng nhì; Huân chương Chiến thắng hạng hai; Hai Huân chương Chiến công hạng nhất, hạng nhì; Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Giải thưởng Nhà nước Vì khoa học công nghệ; Được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu của năm 1969. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân năm 1978.

Phó Giáo sư (1981), Giáo sư (1984), Tiến sĩ (1975 tại Liên Xô), Tiến sĩ Khoa học (1986 tại Liên Xô), Tiến sĩ Khoa học các nền Y học cổ truyền (Côlômbô) năm 1995. Ông được phong Thầy thuốc Nhân dân.

Thiếu tướng (1988).

Ông quê ở xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, tham gia cách mạng ngày 15 tháng 8 năm 1945, tham gia khởi nghĩa cướp Chính quyền tại Hà Nội. Tháng 4 năm 1946, ông nhập ngũ học lớp Y tá của Cục Quân y. Từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 2 năm 1949, ông là Y tá Đại đội thuộc Trung đoàn 148 Sơn La. Từ tháng 3 năm 1949 đến tháng 2 năm 1951, ông học Trường Quân Y sỹ Việt Bắc. Từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 10 năm 1954, ông là Trưởng Ban Quân y Trung đoàn 209, Sư đoàn 312.

Từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 2 năm 1956, ông là Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 254, 53, Sư đoàn 350. Từ tháng 3 năm 1956 đến tháng 4 năm 1957, ông học lớp  Y sỹ cao cấp Trường Sỹ quan Quân y. Từ tháng 5 năm 1957 đến tháng 11 năm 1958, ông là Phó Chủ nhiệm Quân y Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Quân y 6. Từ tháng 12 năm 1958 đến tháng 7 năm 1961, ông là bác sỹ khoa ngoại giã chiến Viện Quân y 103.

Từ tháng 8 năm 1961 đến tháng 8 năm 1964, ông thực tập sinh tại Liên Xô. Từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 7 năm 1965, ông là Chủ nhiệm Khoa ngoại Viện Quân y 103. Từ tháng 8 năm 1965 đến tháng 2 năm 1966, ông công tác tại chiến trường Quân khu 5. Từ tháng 3 năm 1966 đến tháng 12 năm 1967, ông là Viện phó Viện Quân y 103. Từ tháng 1 năm 1968 đến tháng 5 năm 1968, ông là Trưởng đoàn Quân y đi phục vụ chiến dịch Khe Sanh. Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 6 năm 1972, ông là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 7 năm 1972 đến tháng 6 năm 1975, ông làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô.
 
Từ tháng 7 năm 1975 đến tháng 6 năm 1978, ông là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 7 năm 1978 đến tháng 5 năm 1979, ông học tại Trường Nguyễn Ái Quốc. Từ tháng 6 năm 1979 đến tháng 11 năm 1982, ông là Phó Viện trưởng Học viện Quân y, kiêm Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 11 năm 1984 đến tháng 2 năm 1986, ông thực tập sinh, làm tiến sỹ ở Liên Xô.

Từ tháng 3 năm 1986 đến tháng 7 năm 1986, ông là  Phó Viện trưởng Học viện Quân y. Từ tháng 8 năm 1986 đến tháng 5 năm 1988, ông là  Viện trưởng Học viện Quân y. Từ tháng 8 năm 1991 đến năm 1995, ông là Giám đốc Học viện Quân y, kiêm Biện trưởng Viện Bỏng lê Hữu Trác, là người sáng lập Viện Bỏng Quốc gia. Từ tháng 10 năm 1995 đến tháng 5 năm 2003, ông là Chuyên viên Học Viện Quân y, Viện Bỏng Lương Hữu Trác. Ông là chuyên viên, Chủ tịch Hội đồng ghép tạng, Hội đồng Y học thảm họa bỏng. Tháng 6 năm 2003, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Hiện nay, ông là Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư Hà Nội, Ủy viên Thường vụ Tổng hội Y dược học Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Hội Ngoại khoa Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Y học thảm họa bỏng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều lần ông đi chiến trường mổ cứu sống hàng trăm trường hợp vết thương hiểm nghèo, hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị cứu chữa thành công cho 80 thương binh bị suy mòn do bỏng gây ra. Ông là tác giả hơn 50 đề tài nghiên cứu y học có giá trị, phổ biến kịp thời phục vụ chiến đấu, giảm tỷ lệ tử vong.

Ông đào tạo và bồi dưỡng 32 bác sỹ có trình độ chuyên sâu về bỏng và xây dựng chuyên khoa bỏng ở tuyến điều trị cao nhất của quân đội. Ông đã nghiên cứu 50 loại cây thuốc chữa bỏng có giá trị, đặc biệt là thuốc chữa bỏng B76, được tặng thưởng huy chương trong nước và quốc tế. Ông đã hướng dẫn trên 20 luận án tiến sỹ, là Chủ tịch Hội đồng chấm luận án tiến sỹ, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu các công trình khoa học và  là tác giả của 40 đầu sách chuyên khoa và giáo khoa (có 2 đầu sách xuất bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp); là đồng tác giả của 110 đầu sách khoa học, là tác giả của 75 báo cáo khoa học đã được đăng trong các tạp chí trong nước và nước ngoài, là Chủ nhiệm 6 đề tài khoa học cấp bộ, 3 đề tài khoa học cấp nhà nước, được bằng sáng chế độc quyền 15 năm về công trình thuốc Phêlamin, đã báo cáo khoa học 12 lần ở nước ngoài và 6 lần ở Hội nghị quốc tế và trong nước. Đã 7 lần là Chủ trì Tổ chức Hội nghị quốc tế trong nước. Được Hội đồng quốc tế công nhận là chuyên viên quốc tế; được tổ chức Y tế thế giới và khu vực mời 3 lần làm tư vấn khoa học trong các hội thảo quốc tế; Tổ chức và chỉ đạo thực hiện những ca ghép thận đầu tiên và trong 10 năm từ năm 1992 đến năm 2003, đã tham gia hàng trăm ca ghép thận và mới đay tham gia ghép gan thành công.

panphilov:


Thiếu tướng Võ Đông Giang (tên thật: Phan Bá; 1923-1/2/1988), nguyên Phó trưởng đoàn quân Giải phóng miền Nam tại Ban liên hiệp quân sự 4 bên và 2 bên ở Tân Sơn Nhất (05/1965 - 05/1975); Trưởng đoàn Đại diện Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp Tây Nguyên, cán bộ nghiên cứu Ban thi hành Hiệp định đình chiến Trung ương.

Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất và hạng Nhì; Huy chương "Vì Sự nghiệp Ngoại giao Việt Nam"; Huân chương Hữu nghị của các nước Liên Xô (cũ), Lào, Cuba, Tiệp Khắc; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Ông quê ở xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Từ 3.1945 đến 6.1947, hoạt động Việt Minh ở Gia Lai, Uỷ viên BCH Việt Minh tỉnh Gia Lai, Phó Chủ tịch UBHC tỉnh Gia Lai. Từ 07/1947 đến 1949, Tỉnh uỷ viên lâm thời, Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Gia Lai. Ông là Uỷ viên Ban tuyên huấn, Phó Văn phòng Liên khu uỷ Liên khu 5, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Gia Lai-Kon Tum, Trưởng ban chính trị Trung đoàn 120 (1950-1954).

Từ 7.1954 đến 1957, ông là Trưởng đoàn Đại diện Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp Tây Nguyên, cán bộ nghiên cứu Ban thi hành Hiệp định đình chiến Trung ương. 1958-1963, Trưởng phòng rồi Phó vụ trưởng Ban Thống nhất Trung ương. Từ 07/1963 - 04/1965, ông là Trưởng đoàn Đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Cu-ba. Từ 05/1965 đến 05/1975 là Vụ trưởng Ban thống nhất Trung ương, Uỷ viên Ban cán sự CP 72, Phó trưởng đoàn quân Giải phóng miền Nam tại Ban liên hiệp quân sự 4 bên và 2 bên ở Tân Sơn Nhất.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông là Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (08/1976 - 12/1977); Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (12/1977- 04/1983); Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại Cộng hoà Nhân dân Căm-pu-chia (03/1979 - 11/1979); Bộ trưởng tại Bộ Ngoại giao (04/1983)với vai trò Ủy viên Ban cán sự Đảng Bộ Ngoại giao, Ủy viên Ban cán sự Đảng ở nước ngoài; Chủ tịch Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam (07/1981 -05/1987)

Sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng ở Bộ Ngoại giao, ông là Bộ trưởng - Chủ nhiệm Uỷ ban Quan hệ Kinh tế với nước ngoài (03/1987 - 03/1989) rồi Bộ trưởng - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (1989 - 1993).

panphilov:


Trung tướng Trần Quyết (Phạm Văn Côn, 12.2.1922-0h39’ 1.3.2010) từng các giữ chức vụ : Ủy viên Quân sự tỉnh Hà Nam, Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an Nhân dân Vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Thứ trưởng Bộ nội vụ (nay là Bộ Công an), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương các Khóa 4, 5, Bí thư Trung ương Đảng Khóa 6, Đại biểu Quốc hội Khóa 8.

Huân chương Sao vàng (2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất… Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Trung tướng (1977 trong đợt phong tướng đầu tiên của Công an).

Ông sinh tại thôn Ngọc Động, xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Sớm giác ngộ Cách mạng, năm 1940, 18 tuổi, ông tham gia hoạt trong Đoàn Thanh niên phản Đế. Năm 1942, ông bị bắt, giam tại căng Bá Vân (Thái Nguyên) và được kết nạp Đảng tại đây (4.1943). Cuối năm 1944, ông cùng nhiều bạn tù bị chuyển về giam tại căng Nghĩa Lộ (Yên Bái).

Tháng 3 năm 1945, ông tham gia phá căng Nghĩa Lộ, giết cai ngục trở về với Cách mạng. Việc không thành, tù nhân bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, 7 người tham gia cùng ông hy sinh, ông may mắn được đồng bào địa phương giúp đỡ, che chở cho nên thoát khỏi vòng vây. Người cứu ông là một bà mẹ nghèo ở huyện Văn Chấn, tên là Thanh. Chính bà đã chấp nhận tội chém đầu và nhường cơm cho ông, một người tù cộng sản.

Ra khỏi trại giam, ông về Hà Nam, tiếp tục hoạt động và được bầu làm Uỷ viên Ban Cán sự Lâm thời tỉnh Hà Nam phụ trách quân sự (4.1945), tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành chính quyền tại đây (8.1945) rồi tham gia Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Hà Nam tiếp tục phụ trách quân sự. Năm 1946, ông được điều lên Sơn La, làm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh này, rồi Bí thư Tỉnh ủy (1947).

Năm 1948, ông là Ủy viên Khu ủy Khu 14, rồi Ủy viên Khu ủy Việt Bắc sau khi sáp nhập 2 Khu 10 và 14 ; 1952, khi Trung ương quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc, lập Khu ủy Tây Bắc, ông được cử lên Sơn La làm Bí thư Tỉnh ủy Sơn La và tham gia Khu ủy Tây Bắc ; 1953, Khu ủy viên, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc, tham gia chỉ đạo bảo vệ an ninh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1955, ông là Thường vụ Khu ủy, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc ; 1958 Phó Bí thư Khu ủy, Giám đốc Công an Khu Tây Bắc, 1963, được điều về Bộ Công an làm Cục trưởng Cục Bảo vệ Nội bộ ; 1967, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ; 1967 – 1974, Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Nội vụ.

Tháng 12 năm 1976 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ ; 1977, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang (nay là Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng), được phong quân hàm Trung tướng trong đợt phong tướng đầu tiên của Lực lượng Công an.

Tháng 3-1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5, ông tiếp tục được bầu lại làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ ; 12.1986 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6,được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng ; 6.1987 – 10.1992, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Trung tướng Trần Quyết là đại biểu Quốc hội Khóa 8 cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1992.

Trung tướng Trần Quyết tuy là một vị tướng khai quốc công thần của Lực lượng Công an Nhân dân, nhưng có một thời gian ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an vũ trang (tức Bộ đội Biên phòng) cho nên xin phép được đưa tiểu sử của ông vào mục này.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page