Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Mười, 2014, 10:57:20 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6  (Đọc 27446 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:43:00 PM »


Khác với Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 gặp rất nhiều khó khăn trong suốt quá trình giao chiến với lực lượng của Sư đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ. Do hạn chế về lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh; mặt khác, trong quá trình tác chiến, việc bổ sung quân số, chi viện hoả lực và đảm bảo hậu cần gặp khó khăn nên sức tiến công của sư đoàn yếu dần và do vậy, chỉ tiêu đặt ra không thực hiện được. Trong khi đó, phương thức tác chiến dùng lực lượng nhỏ, tinh gọn của đặc công, biệt động và các đơn vị binh chủng, trên thực tế lại phát huy hiệu quả tốt. Tiểu đoàn 4 đặc công Sài Gòn - Gia định bám trụ được ở vùng sâu, đánh được nhiều trận nhỏ lẻ, đạt hiệu suất chiến đấu rất cao. Điển hình như, đội đặc công Mai Danh1 bí mật lọt vào kho Hạnh Thông Tây (Gò Vấp), đặt chất nổ, phá huỷ hoàn toàn 35.000 tấn bom đạn của địch. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Quyết Thắng bắn rơi 15 máy bay lên thẳng trong trận thống càn ở Nhị Bình (Gò Môn). Tiêu biểu cho tinh thần khắc phục khó khăn, bền bỉ, dẻo dai, kiên cường bám trụ chiến đấu là cán bộ, chiến sĩ bộ đội đặc công rừng Sác (Đoàn 10). Trong năm 1969, Đoàn 10 phải chiến đấu trong điều kiện bị địch bao vây, lực lượng bị tiêu hao nặng (300 cán bộ, chiến sĩ hy sinh), không có nguồn tiếp tế, việc liên lạc giữa các bộ phận với nhau, cũng như với các cơ sở quần chúng hết sức khó khăn. Trong những điều kiện ấy, Đoàn 10 vẫn kiên trì bám trụ, tự tạo vũ khí, tìm ra cách đánh tàu địch, tập kích kho xăng Nhà Bè và kho bom thành Tuy Hạ, gây cho địch nhiều thiệt hại2.

Nhìn chung, mặc dù thu được một số kết quả nhất định, nhưng các cuộc tiến công của ta ở miền Đông Nam Bộ chỉ thực hiện ở những khu vực xung quanh tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch. Hơn nữa, do tương quan lực lượng nghiêng mạnh về phía địch, nên lực lượng vũ trang ta đã không đủ sức xuyên thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, cũng như không hỗ trợ được cho phong trào đánh phá bình định, phong trào du kích chiến tranh ở tuyến trung gian như tính toán ban đầu. Trước tình hình đó, bước sang mùa đông 1969, Bộ Chỉ huy miền quyết định rút lực lượng chủ yếu của ta ở Đông Nam Bộ ra khu vực biên giới để củng cố, chỉ để lại một số đơn vị, trong đó có Trung đoàn 320 và hoạt động của các đơn vị để lại này theo phương châm phân tán lực lượng; cán bộ chiến sĩ được đưa xuống làm nòng cốt xây dựng phong trào du kích chiến tranh hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá ấp, phá kìm ở các thôn, ấp, nhằm giành dân, giữ đất, tạo thế, tạo lực cho cách mạng.

Sự chuyển hướng của ta vào cuối năm 1969 bước đầu đưa lại một số kết quả trong phong trào đánh phá bình định. Ở Tây Ninh, địch dồn 29.000 công nhân cao su Dầu Tiếng vào 21 “làng mới”. Với khẩu hiệu “Quyết tử giữ Gò Dầu lần thứ hai”3, hơn 200 cán bộ, chiến sỹ của huyện Gò Dầu tăng cường công tác dân vận, lấy dân, hầm bí mật, bãi tử địa làm chỗ dựa để đánh địch, nên đã dần trở lại được cả ba vùng (vùng trắng, vùng ven và vùng sâu), củng cố và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân.

Trên vùng đất thép Củ Chi, du kích mật và hoạt động của lực lượng này phát triển mạnh, nhiều tên đầu sỏ ác ôn của địch bị trừng trị, tạo hậu thuẫn cho nhân dân nổi dậy đấu tranh phá lỏng, phá rã thế kìm kẹp của địch.

Tại Bà Rịa, quân dân ta phải đương đầu với lữ đoàn Hoàng gia Ốtxtrâylia, với nhiều thủ đoạn bình định vô cùng hiểm độc. Tại đây, lữ đoàn này dựa vào hệ thống hàng rào chống du kích với các lô cốt nửa nổi nửa chìm4 để kìm kẹp dân hòng cắt đứt hoàn toàn liên lạc giữa bên trong với bên ngoài khu dân cư. Bên ngoài hàng rào, luôn có những toán lính phục kích. Đồng thời, chúng thường tổ chức những đòn đánh bất ngờ vào các đoàn cán bộ và lực lượng vũ trang di chuyển của ta, triệt phá chiến khu Minh Đạm. Trước tình hình đó, Đảng bộ Bà Rịa chỉ thị cho các địa phương và đơn vị vũ trang toàn tỉnh thực hiện phương châm “Ba bám”, (Đảng bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch), kiên quyết giữ vững vùng Đất Đỏ và chiến khu Dương Minh Đạm. Lúc đầu, ta tổ chức lực lượng từ ngoài đánh vào nhưng không thành công. Rút kinh nghiệm, ta sử dụng một bộ phận trinh sát và đặc công bí mật đột nhập vào móc nối, liên lạc với các cơ sở bên trong, xây dựng lực lượng nội tuyến và phát triển du kích mật, dần dần hình thành thế trận trong đánh ra, ngoài đánh vào. Với phương thức tổ chức lực lượng và tác chiến này, hoạt động tác chiến của quân và dân Bà Rịa bắt đầu có hiệu quả. Có trận, chỉ trong một đêm, Tiểu đoàn 445 tỉnh Bà Rịa và Đại đội 25 huyện Long Đất phá được 12 lô cốt, diệt hàng chục tên địch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân nổi dậy đấu tranh phá thế kìm kẹp, phá lô cốt, gỡ mìn, giành quyền làm chủ. Đến đầu năm 1970 lực lượng vũ trang ba thứ quân và nhân dân Bà Rịa đã cơ bản đánh bại chiến thuật “lô cốt ngầm” của quân Hoàng gia Ốtxtrâylia.

Như vậy, qua đợt hoạt động đông 1969, lực lượng vũ trang và nhân dân miền Đông Nam Bộ đã nỗ lực khắc phục khó khăn, kịp thời phát hiện và bước đầu đối phó tương đối có hiệu quả với những âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Chủ lực miền đã đẩy mạnh hoạt động tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng. Mặc dù vậy, Đông Nam Bộ cho đến cuối năm 1969 vẫn là chiến trường mà tại đó, chúng ta vẫn gặp muôn vàn gian khổ, hy sinh. Vùng giải phóng, vùng căn cứ, vùng làm chủ của ta vẫn tiếp tục bị thu hẹp.
______________________________________
1. Đồng chí Mai Dinh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng.
2. Đầu năm 1970, trước sự bao vây, truy kích ráo riết của địch, Đoàn 10 chỉ còn 170 cán bộ, chiến sĩ.
3. Khẩu hiệu Quyết tử giữ Gò Dầu lần thứ nhất ra đời trong thời kỳ chống chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy.
4. Quân Ốtxtrâylia gọi đây là chiến thuật lô cốt ngầm, với cách xây dựng nổi 1/3, mỗi lô cốt có một tiểu đội dân vệ đóng giữ và liên lạc với các lô cốt khác bằng điện thoại.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:44:23 PM »


Ở đồng bằng sông Cửu Long, thực hiện chủ trương của Quân uỷ và Bộ chỉ huy miền, lực lượng vũ trang các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, An Giang... mở các hoạt động tiến công nhằm căng kéo địch, hỗ trợ cho chiến trường trọng điểm Đông Nam Bộ.

Tại Mỹ Tho, Trung đoàn 1 chủ lực Khu VIII kiên quyết trụ bám địa bàn, chủ động tiến công địch. Ngày 11-11-1969, Trung đoàn phân chia lực lượng phục kích ở khu vực Ô Môi, kênh Long Mạnh thuộc xã Long Tiên (Cai Lậy), tiêu diệt và bắt làm tù binh hàng trăm tên địch thuộc Tiểu đoàn 20 Sư đoàn 7 quân đội Sài Gòn, thu 200 súng các loại, hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương phá rã về mặt tổ chức hầu hết các đơn vị phòng vệ dân sự địch ở 10 xã của huyện Cai Lậy.

Sau trận đánh, Khu VIII chỉ đạo Trung đoàn 1 tổ chức rút kinh nghiệm để phổ biến cho các các đơn vị học tập vận dụng. Đồng thời, Khu VIII xác định nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng vũ trang và nhân dân trong những tháng cuối năm 1969 là đánh phá bình định; do vậy, phải khẩn trương phân loại từng xã, từng ấp để áp dụng các phương thức đánh phá phù hợp, từ phá rã, phá lỏng chuyển lên phá dứt điểm, giành quyền làm chủ. Nhờ đó, nhân dân nhiều xã thuộc các huyện Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo thuộc tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công đã đưa được lực đường về bám trụ địa bàn, hình thành các lõm căn cứ, tạo ra thế trận cài răng lược giữa vùng ta và vùng địch kiểm soát. Cuối tháng 11-1969, Đại đội 1 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 514C chủ lực Khu VIII tổ chức phục kích loại khỏi chiến đấu bảy đại đội bảo an địch trên đường 20; Đại đội 21 Tiểu đoàn 514C tập kích diệt 17 đoàn cán bộ bình định, phá huỷ 27 xe công binh địch trên đường số 4, thuộc khu vực Chợ Bung huyện Châu Thành Bắc tỉnh Mỹ Tho.

Ngày 10-12-1969, địch sử dụng Sư đoàn 9, Sư đoàn 7 cùng bốn tiểu đoàn biệt động Sài Gòn và 20 khẩu pháo cỡ lớn, mở cuộc càn vào các xã ở phía tây đường 20 đến Mỹ Thiện thuộc huyện Cái Bè tỉnh Mỹ Tho, nhằm phá căn cứ và đánh bật lực lượng ta ra khỏi địa bàn này. Mở đầu, pháo binh địch tập kích dữ dội nhiều giờ vào một khu vực mục tiêu, sau đó, từng tiểu đoàn bộ binh địch triển khai đội hình càn quét, lùng sục, chà đi xát lại để thanh lọc địa bàn, hỗ trợ cho kế hoạch dồn dân lập ấp chiến lược. Lực lượng vũ trang Khu VIII, cùng lực lượng tại chỗ của tỉnh Mỹ Tho, huyện Cái Bè và nhân dân kiên cường bám trụ đánh địch. Tại xã Hội Cư huyện Cái Bè, đại đội bảo vệ tỉnh đội đánh thiệt hại nặng một đại đội địch; ở xã Hậu Mỹ Nam, Tiểu đoàn 216A tỉnh Mỹ Tho bám đánh, loại khỏi chiến đấu một đại đội địch... Sau 15 ngày đêm tổ chức hành quân càn quét liên tục không mạng lại kết quả, quân số thương vong lên cao, tinh thần binh sĩ dao động, địch phải thu quân, chấm dứt cuộc càn.

Tại Bến Tre, tiểu đoàn 516 và 560 liên tục đánh các đơn vị địch ở huyện Mỏ Cày, diệt gọn hai đại đội, tiêu hao một đại đội bảo an tại xã Minh Đức, thu 50 súng các loại. Bộ đội địa phương và du kích huyện Mỏ Cày diệt một trung đội địch ở ấp An Vĩnh (xã Đa Phước Hội), diệt 48 cán bộ bình định tại xã Phước Hiệp và Định Thuỷ. Cùng thời gian này, bộ đội địa phương huyện Bình Đại loại khỏi chiến đấu một đại đội bảo an; bộ đội huyện Thạnh Phú diệt 88 tên cán bộ “xây dựng nông thôn”; lực lượng biệt động thị xã Bến Tre cải trang lừa địch, lọt vào nội ô, dùng mìn hẹn giờ và lựu đạn diệt 147 tên địch. Cuối tháng 11-1969, tổ đặc công do đồng chí Lê Văn Phích2 chỉ huy, đánh sập cầu Bình Chánh (dài 100 mét) trên đường 26, làm gián đoạn giao thông của địch trong hai tháng... Với phương châm tác chiến linh hoạt, các lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre trong đợt hoạt động Đông 1969 đã loại khỏi chiến đấu một bộ phận quan trọng sinh lực và vũ khí trang bị của địch, góp phần từng bước khôi phục thế trận chiến tranh nhân dân trên một số khu vực địa bàn của tỉnh; đặc biệt, làm hạn chế tốc độ lấn chiếm bình định của địch xuống vùng nam huyện Mỏ Cày.

Nằm trên hành lang vận chuyển chiến lược của ta, quân dân các tỉnh An Giang, Kiến Phong, Gò Công vừa thực hiện nhiệm vụ chống phá bình định của địch, vừa phải bảo vệ vững chắc tuyến vận chuyển biên giới. Trong đợt hoạt động Đông 1969, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh An Giang kết hợp với bộ đội chủ lực miền đẩy mạnh tiến công địch ở khu vực chữ U, đẩy mạnh phong trào chống phá bình định ở Tân Châu và An Phú, giành quyền làm chủ một số xã. Tiểu đoàn 1 chủ lực tỉnh Kiến Phong chặn đánh địch càn ở rạch Bà Lương huyện Long Hiệp, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên, bắn rơi một trực thăng và bắn cháy một xe bọc thép M113. Trên bờ kênh Ba, một trung đội bộ đội địa phương huyện Mỹ An tỉnh Kiến Phong, do đồng chí Tư Văn chỉ huy với 20 tay súng, bốn quả mìn định hướng, 100 quả lựu đạn, kiên cường đánh địch, bẻ gãy ba đợt tiến công của chúng, bắn rơi ba máy bay trực thăng, giữ vững đường vận chuyển của ta trên kênh Ba.

Ở Gò Công, hoạt động của ta gặp rất nhiều khó khăn. Tiểu đoàn 514A từ miền Bắc được bổ sung vào hoạt động trên địa bàn huyện Đông. Do chưa thông thuộc địa hình, lại gặp thời điểm địch tập trung đánh phá ác liệt, cán bộ, chiến sĩ bị thương vong, sức chiến đấu của đơn vị giảm sút nghiêm trọng. Tiếp đó, địch cấp tốc đẩy mạnh truy quét, tróc nã cơ sở và cán bộ cơ sở của cách mạng một cách ráo riết và khốc liệt, nên nhiều đồng chí tỉnh uỷ viên, huyện uỷ viên bị bắt và sát hại; số khác do không chịu được khó khăn, ác liệt hy sinh nên đã thoái thác nhiệm vụ, thậm chí một số đã ra đầu hàng, đầu thú. Thực trạng này gây thêm khó khăn cho ta. Vì thế, ở Gò Công, ta tiếp tục bị mất đất, mất dân.
______________________________________
1. Đại đội 2 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tặng tám chữ vàng “luồn sâu, đánh giỏi, chiến thắng vẻ vang” và tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
2. Với chiến công đánh diệt tàu địch trên kênh Chẹt Sậy, sông Hàm Luông năm 1968 và chiến công đánh sập cầu Bình Chánh, đồng chí Lê Văn Phích được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:45:16 PM »


Trên địa bàn Khu IX, đợt hoạt động Đông 1969 diễn ra chủ yếu bằng các trận phản công chống lại các cuộc càn quét của quân đội Sài Gòn. Đó là cuộc càn ở khu vực Bà Hòn (mở đầu ngày 2-9-1969) với lực lượng 10 tiểu đoàn địch; ở Chương Thiện (mở đầu ngày 19-9-1969) với lực lượng chín tiểu đoàn, năm giang đoàn thuyền chiến đấu trên sông; ở U Minh Thượng (mở đầu ngày 26-9-1969) với lực lượng 23 tiểu đoàn. Các cuộc hành quân càn quét dài ngày này của địch nhằm đánh phá khu vực biên giới, ngăn chặn hành lang vận chuyển hàng hoá và chủ lực ta cơ động xuống vùng U Minh; đồng thời, phá bước chuẩn bị đợt hoạt động Xuân 1970 của ta.

Bằng sự kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến của bộ đội chủ lực với phong trào du kích chiến tranh ở Vĩnh Thuận, An Biên, Thới Bình, sông Ông Đốc; đặc biệt là sự hoạt động có hiệu quả cao của 50 đội du kích, trong đó có 200 chiến sĩ trực tiếp phục kích đánh tàu địch trên sông Ông Đốc, lực lượng các địa phương trên đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, đánh chìm, đánh hỏng nặng hàng chục tàu chiến trên sông, từng bước đánh bại các cuộc hành quân của địch.

Những tháng cuối năm 1969, cuộc chiến đấu của quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long càng trở nên quyết liệt trước sức phản kích quyết liệt của kẻ thù. Với ưu thế về lực lượng, vũ khí và phương tiện cơ động, địch vẫn nắm quyền chủ động trong một số hoạt động tác chiến, tiếp tục gây cho ta những thiệt hại về mọi mặt. Trong tháng 11 và 12-1969, Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn lúc lên Cai Lậy, Cái Bè (Mỹ Tho), Mỹ An (Kiến Phong), lúc xuống Rạch Giá (Cà Mau), Tri Tôn (An Giang) để đối phó với hoạt động của quân và dân ta mà hầu như không gặp trở ngại nào đáng kể. Bên cạnh đó, địch tập trung nhiều giang thuyền, hải thuyền ngày đêm tuần tiễu ngăn chặn các đoàn vận tải của ta từ biên giới vào các vùng sâu trên kênh Vĩnh Tế, Vàm Cỏ Tây, sông Cái Lớn, sông Ông Đốc... Đồng thời, chúng sử dụng quân địa phương càn quét phục vụ cho chương trình bình định vùng ven các thị xã, thị trấn trọng điểm thuộc các tỉnh Bến Tre, Mỹ Tho, Trà Vinh, Cà Mau... Chương trình bình định này nhằm mở rộng diện chiếm đóng, tăng cường bộ máy kìm kẹp ở cơ sở, xây dựng mạng lưới gián điệp, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý chiêu hồi, chiêu hàng. Hành động đánh phá điên cuồng cùng những thủ đoạn bình định thâm độc của địch khiến cho phong trào cách mạng của quân dân Khu IX tiếp tục gặp khó khăn.

Cùng thời gian trên, ở chiến trường cực Nam Trung Bộ, bộ đội đặc công Khu VI tổ chức tập kích hậu cứ Trung đoàn 44 Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn ở khu vực sông Luỹ (Bình Thuận). Trên hướng trọng điểm Tuyên Đức, bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng tại chỗ đẩy mạnh hoạt động ở khu vực Đức Trọng, đường 21, đánh thiệt hại nặng nhiều đại đội bảo an, tiêu diệt một số đồn bốt địch, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá được nhiều ấp chiến lược ở dọc theo đường 20 và 21.

Hoà chung với tiến công quân sự và chống phá bình định trong đợt Đông 1969, quân và dân Tây Nguyên mở chiến dịch, đánh địch trên tuyến phòng ngự liên hoàn từ Bu Prăng đến Đức Lập (thuộc tỉnh Quảng Đức). Hệ thống phòng ngự này có độ dài hơn 80 km, chạy dọc theo đường 14, giáp biên giới Campuchia - Việt Nam, được thiết lập nhằm ngăn chặn, đánh phá chuẩn bị tiến công và đường hành lang vận tải chiến lược của ta. Lực lượng địch bố trí trên tuyến phòng ngự gồm 11 tiểu đoàn, trong đó có ba tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ, tám tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 45 và Trung đoàn 53 Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn. Ngoài ra, trên tuyến phòng ngự còn có ba tiểu đoàn biệt kích thường xuyên hoạt động.

Mở chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 66 và Trung đoàn bộ binh 28, các tiểu đoàn đặc công 20 và 37, Tiểu đoàn bộ binh 394, Trung đoàn pháo binh 40, toàn bộ lực lượng vũ trang Khu X và tỉnh Quảng Đức. Mục đích chiến dịch nhằm chọc thủng tuyến phòng thủ Bu Prăng - Đức Lập, tiêu hao sinh lực và phương tiện chiến tranh, phối hợp với chiến trường toàn miền đánh bại một bước chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ.

Căn cứ Ka Te được chọn làm điểm khơi ngòi chiến dịch. Đây là căn cứ hỗn hợp bộ binh, pháo binh thuộc khu vực điểm cao 936 và chiếm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống phòng ngự liên hoàn của địch. Tại đây, rạng sáng ngày 29-10-1969, pháo binh ta đồng loạt bắn cấp tập vào các mục tiêu như sở chỉ huy, trận địa pháo, hệ thống lô cốt, hầm trú ẩn trong cứ điểm phòng ngự của địch. Cùng lúc, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 nhanh chóng tiến vào thực hiện việc vây ép chặt căn cứ Ka Te.

Để cứu nguy cho Ka Te, một mặt, địch huy động hàng trăm lần chiếc máy bay ném bom và bắn rốc két dữ dội vào khu vực sát hàng rào bảo vệ căn cứ nhằm đẩy quân ta ra xa; mặt khác, chúng sử dụng máy bay trực thăng đổ quân xuống giải toả cho đồng bọn ở Ka Te. Trong lửa đạn, bộ đội ta vẫn kiên cường trụ bám, giữ vững vòng vây Ka Te, đồng thời chặn đánh quyết liệt các đơn vị bộ binh địch đến chi viện, không cho chúng thực hiện ý đồ giải toả.

Bốn giờ sáng ngày 2-11-1969, từ chiến hào vây lấn, bộ đội ta chia thành nhiều mũi, đồng loạt xung phong đánh chiếm Ka Te. Sau 15 phút chiến đấu, ta diệt gọn toàn bộ lực lượng địch trong căn cứ, kết thúc thắng lợi trận khơi ngòi chiến dịch. Sau 5 ngày đêm liên tục vây lấn, tiến công căn cứ Ka Te, lực lượng vũ trang Mặt trận Tây Nguyên đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên địch, bắn rơi 14 máy bay, thu sáu khẩu pháo 105mm và 155mm, phá huỷ hàng chục tấn đạn.

Trên hướng chính chiến dịch, từ ngày 2 đến 6-11-1969, ta bao vây Đức Lập, kéo địch ra Đắc Song để tiêu diệt. Ngày 9-11-1969, được pháo binh chi viện kịp thời và hiệu quả, bộ binh ta dồn dập tiến công đánh chiếm hàng loạt vị trí địch suốt từ Bu Prăng đến Đức Lập. Trung đoàn 66 tiến công, vây ép phía tây Bu Prăng, điểm cao 882, 883, buộc địch phải tung Chiến đoàn 220 và hai đại đội trinh sát quân đội Sài Gòn ra giải toả. Đây là thời cơ thuận lợi để Trung đoàn 66 tiêu diệt lực lượng ứng cứu của địch. Ngày 17-11-1969, Chiến đoàn 220 bị ta đánh thiệt hại nặng, ý định giải toả cho Bu Prăng của địch không thực hiện được. Ngày 21-11-1969, địch đưa Chiến đoàn 22 lên thay thế cho Chiến đoàn 220; nhưng, ngay sau đó, chiến đoàn này bị Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 37 và Đại đội 60 đặc công chặn đánh, tiêu hao nặng, buộc chúng phải co cụm về phòng thủ ở phía nam Bu Prăng. Trên đà thắng lợi, đặc công ta nhanh chóng đánh chiếm sở chỉ huy Chiến đoàn 22 và căn cứ Bu Prăng. Ngày 30-11-1969, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ này.

Sau hơn một tháng chiến đấu liên tục, ngày 5-12-1969, ta kết thúc thắng lợi chiến dịch tiến công Bu Prăng - Đức Lập. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu Chiến đoàn 220, Chiến đoàn 53 và một chiến đoàn hỗn hợp gồm bộ binh và biệt kích; đánh chiếm và phá huỷ hàng loạt đồn bốt, công sự và trận địa của địch trên tuyến phòng thủ từ Bu Prăng đến Đức Lập; bắn rơi, phá huỷ và phá hỏng 103 máy bay các loại (phần lớn là trực thăng), 87 xe quân sự (có 24 xe bọc thép), 29 khẩu pháo và súng cối, 35 nhà kho, thu nhiều quân trang, quân dụng1. Chiến dịch Bu Prăng - Đức Lập thực sự là đòn gây thôi động mạnh đối với tinh thần binh lính địch và đối với hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Tây Nguyên.
______________________________________
1. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Sđd, Hà Nội 2001, tr.256.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:46:06 PM »


Ở Khu V, cuối năm 1969 đầu năm 1970, hầu như toàn bộ lực lượng cảnh sát, quân địa phương và cả một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch được huy động vào nhiệm vụ bình định, nhằm mục tiêu đến cuối năm 1971 tiêu diệt 100% lực lượng chính trị và quân sự của ta ở thôn xã, dồn 100% số dân ở đồng bằng duyên hải và đất bằng miền núi vào các ấp chiến lược. Bên cạnh việc huy động lực lượng quân sự lớn vào nhiệm vụ này, địch còn áp dụng nhiều thủ đoạn tàn bạo và thâm độc để đánh phá các thôn xóm, giành giật với ta từng tấc đất, từng người dân. Bom đạn, chất độc hoá học và xe tăng, máy ủi tàn phá khốc liệt liên tục nhiều ngày đêm khiến nhiều vùng đất đai và dân cư vốn trù phú trước đó, giờ trở thành vùng trắng. Khu Gò Nổi (Quảng Nam) không còn một nóc nhà. Khu rừng đại ngàn trên núi Hòn Tàu (Quảng Đà), núi Bà (Bình Định), bắc sông La Ngà (Bình Thuận)... trở nên trơ trọi. Đối với quần chúng tích cực, cán bộ đảng viên và cơ sở cách mạng của ta, địch dùng nhiều thủ đoạn thâm hiểm, như khuyến khích bọn tề, cán bộ bình định lấy vợ, con của cán bộ ta; bí mật thủ tiêu cán bộ hoặc gia đình cách mạng rồi đổ lỗi cho ta; đồng thời, chúng sử dụng những tên đầu hàng, đầu thú chỉ điểm để phát hiện, đánh phá, bắt giam, thủ tiêu cơ sở cách mạng và cán bộ ta.

Thủ đoạn đánh phá của địch gây ra cho phong trào cách mạng ở Khu V những tổn thất, khó khăn lớn. Tuy vậy, nỗ lực của địch trên vùng đất này, trong thực tế cũng bộc lộ những điểm yếu chí mạng. Do thực hiện bình định trên diện rộng nên lực lượng địch phải dàn mỏng và điều đó khiến cho sự kìm kẹp có phần bị lỏng. Mặt khác, những khu vực sau khi bình định xong chủ yếu do bọn dân vệ và phòng vệ dân sự kiểm soát và bảo vệ, mà lực lượng này tuy đông, nhưng do tổ chức ô hợp, nên sức chiến đấu kém. Hơn nữa, cho đến lúc này, việc rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến là không thể cưỡng nổi, nên bắt đầu xuất hiện những khoảng trống trong “lá chắn an ninh” vòng ngoài trong hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Khu V, mà để lấp chỗ trống, quân chủ lực Sài Gòn buộc phải dàn mỏng lực lượng. Toàn bộ tình hình trên đây được Khu uỷ và Bộ tư lệnh Quân Khu V phân tích, đánh giá và quyết định tập trung sức mạnh tổng hợp tiến công tiêu diệt lực lượng kìm kẹp của địch ở thôn xã, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ, từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường theo hướng ngày càng có lợi cho ta.

Thực hiện chủ trương đó, đêm 31-3-1970, Sư đoàn 3 đánh cứ điểm núi Lá (Bình Định), loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn 3 và một trung đội thuộc Trung đoàn 41 Sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn. Tiếp đó, lực lượng vũ trang địa phương Bình Định phối hợp cùng Sư đoàn 3 tiến công, tiêu diệt 15 cứ điểm, trận địa pháo, quận lỵ của địch. Ngày 6-4-1970, lực lượng vũ trang Khánh Hoà sử dụng hoả tiễn H12 bắn phá sân bay và kho nhiên liệu Nha Trang của địch, buộc sân bay này phải ngừng hoạt động hai ngày để khắc phục hậu quả. Cùng ngày, lực lượng tự vệ và biệt động thành phố Đà Nẵng liên tục đánh các căn cứ địch ở ngã tư Thanh Khê, ngã ba Huế, bốt gác chợ Cồn, bốt gác của lính Mỹ trên cầu Trịnh Minh Thế (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi), gây cho địch nhiều thiệt hại. Ở một số địa phương tỉnh Quang Nam, trong ba tháng đầu năm 1970, lực lượng vũ trang và nhân dân ta quét sạch 45 chốt điểm của địch.

Đối với những xã, ấp còn nằm dưới sự kìm kẹp của địch, lực lượng tự vệ mật tại chỗ của ta đẩy mạnh hoạt động tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá lỏng tiến tới phá rã thế kìm kẹp của địch. Đặc biệt, ở nhiều ấp, xã, ta đã tổ chức được các đội diệt ác, làm nhiệm vụ tiêu diệt những tên ác ôn đầu sỏ, có nhiều nợ máu với nhân dân. Tại xã Phú Sơn huyện Cẩm Thạch tỉnh Phú Yên, ta diệt một tên đầu sỏ, bắt cải tạo hai tên khác, khiến 32 tên ấp trưởng, liên gia trưởng đào nhiệm, khởi đầu cho phong trào diệt ác, phá kìm và phong trào này, ngay sau đó, nhanh chóng lan rộng ra toàn tỉnh và những địa bàn lân cận. Do vậy, sáu tháng đầu năm 1970, quân và dân Phú Yên đã diệt 380 tên ác ôn, cảnh sát, tề điệp, làm rã ngũ 178 tên khác. Lực lượng vũ trang và nhân dân các vùng bị địch kìm kẹp ở các tỉnh đồng bằng ven biển và đất bằng miền núi Khu V trừng trị gần 2.000 tên ác ôn, uy hiếp tinh thần hàng nghìn tên khác. Cùng với phong trào diệt ác, phá kìm, làm lỏng thế kìm kẹp của địch, quần chúng nhân dân còn tổ chức các cuộc đấu tranh đòi tự do đi lại làm ăn, chống khủng bố và chống bắt lính... Cho đến giữa năm 1970, ở nhiều địa phương thuộc Khu V, cơ sở chính trị của ta từng bước được khôi phục, phong trào đấu tranh chống phá bình định nông thôn bắt đầu thu được kết quả và có những bước tiến vững chắc.

Cùng với đòn tiến công quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân miền Nam đòi hoà bình, đòi quyền dân sinh dân chủ ở các đô thị, nhất là các thành phố lớn diễn ra sôi động. Ngày 25-1-1969, hơn 10.000 người dân Sài Gòn thuộc các thành phần xã hội, đảng phái, tôn giáo và các tổ chức xã hội khác nhau đã xuống đường đấu tranh đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh, đòi quân chiến đấu Mỹ và đồng minh của Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, đòi Thiệu - Kỳ - Hương từ chức, đòi thành lập một chính phủ hoà bình... Tiếp đó, các cuộc hội thảo và phong trào đưa yêu sách được tổ chức, thu hút hàng vạn công nhân, sinh viên, học sinh, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ... Ở thành phố Sài Gòn, ở nhiều thành phố như Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và nhiều thị xã khác tham gia. Nội dung của các cuộc hội thảo, các yêu sách đều tập trung vào việc đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Tháng 5-1969, 11.000 công nhân cảng hàng không và đường sắt tổ chức cuộc đình công khiến cho hoạt động vận chuyển hàng hoá, đảm bảo hậu cần, vũ khí cho nhiều đơn vị quân đội Mỹ và Sài Gòn bị ảnh hưởng. Kế đó, tháng 8-1969, phong trào đấu tranh của công nhân hãng ôtô buýt Sài Gòn diễn ra quyết liệt. Đã có 1.000 đại biểu do các đại hội công nhân của 118 nghiệp đoàn ở Sài Gòn bầu ra lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh. Đồng thời, công nhân các hãng dầu Esso, Caltex, Hoá mỹ phẩm Việt Nam, thuốc lá Mic, bệnh viện Grall...cũng tổ chức những cuộc đình công, bãi công để hưởng ứng. Cho đến những tháng đầu năm 1970, số lượng công nhân bãi công ủng hộ phong trào đấu tranh của công nhân hãng xe buýt Sài Gòn đã lên đến con số hơn 30.000 người thuộc 64 nhà máy, xí nghiệp. Phong trào đấu tranh rộng khắp của công nhân Sài Gòn đã làm tê liệt một phần giao thông và kế hoạch chuyên chở hàng hoá của địch, đặc biệt là đã làm cho 40 tàu quân sự và hàng trăm chuyến máy bay của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn phải tạm ngừng hoạt động. Cũng tại Sài Gòn, tháng 2-1970, công nhân kho Thủ Đức bãi công và lập tức đã lôi cuốn hơn 7.000 công nhân hãng dầu Mỹ BRJ - RMK và công nhân bến tàu Sài Gòn bãi công hưởng ứng. Trước thực tế phong trào đấu tranh lan rộng và mức độ ngày càng quyết liệt, địch buộc phải tạm thời nhượng bộ, chấp nhận một số yêu sách của công nhân.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:46:43 PM »


Bên cạnh phong trào đình công, bãi công của công nhân phong trào đấu tranh của tầng lớp học sinh, sinh viên miền Nam cũng diễn ra sôi nổi và quyết liệt. Tháng 7-1969, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cưỡng bức sinh viên tham gia tập quân sự trong dịp nghỉ hè, nhằm thực hiện ý đồ bắt một số sinh viên bổ sung cho quân đội. Để chống lại chính sách quân sự hoá học đường của chính quyền Sài Gòn, hơn ba vạn sinh viên Sài Gòn đã đồng loạt xuống đường, tổ chức mít tinh biểu tình, dương cao khẩu hiệu và đưa kiến nghị phản đối một cách quyết liệt khiến cho đường phố và trường học trở nên náo động. Để đối phó với phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, chính quyền Thiệu vừa sử dụng các thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, vừa huy động lực lượng và phương tiện thẳng tay đàn áp. Cảnh sát Sài Gòn đã nã súng giết hại sinh viên Thái Văn Hiền và dùng xe quân sự cán chết sinh viên Nguyễn Mạnh Hùng. Hành động đàn áp dã man của chính quyền Thiệu càng làm cho phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên lan nhanh ra khắp miền Nam. Tại các thành phố Đà Lạt, Huế, Cần Thơ..., hàng nghìn học sinh, sinh viên tổ chức bãi khoá, hội thảo, mít tinh, gửi yêu sách phản đối chính quyền Sài Gòn vi phạm quyền tự trị đại học, phản đối chính sách quân sự hoá học đường và cưỡng bức sinh viên cầm súng tham gia quân dịch.

Nhạy bén bắt mạch tình hình diễn ra tại các đô thị, nhất là Sài Gòn, giữa năm 1969, Thành uỷ Sài Gòn - Gia Định vận động luật sư Trần Ngọc Liễng - một trí thức có cảm tình với cách mạng, đứng ra thành lập “Lực lượng quốc gia tiến bộ”. Đây là một tổ chức tập hợp những quan chức nằm trong bộ máy của chính quyền Sài Gòn chán ghét chiến tranh và không có thái độ thù địch với cách mạng, nhằm đấu tranh với Thiệu đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình. Sau một thời gian hoạt động, tổ chức này đã gây được ảnh hưởng tương đối rộng rãi trên khắp miền Nam, làm cho một bộ phận cán bộ, nhân viên trong bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn ngày càng chán ghét chiến tranh, phản đối chính sách của tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu.

Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân miền Nam phát triển, đặc biệt trong các đô thị, thực sự là môi trường tốt để ta tập hợp thêm lực lượng, tạo ra và củng cố không ngừng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh cách mạng miền Nam.

Tháng 1-1970, tại Hà Nội, hội nghị lần thứ 18 Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp bàn về phương hướng lãnh đạo cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị khẳng định những thắng lợi mà quân và dân ta ở miền Nam đã giành được trong hai năm 1968 và 1969, đồng thời nghiêm khắc phân tích những khuyết điểm của ta và chỉ rõ: nguyên nhân chủ yếu là: chưa nắm vững quy luật giành thắng lợi từng bước rồi tiến lên giành thắng lợi quyết định trong đấu tranh cách mạng. Mặc dù ta đã nhận định được âm mưu và thủ đoạn mới của địch, nhưng chưa tìm ra được những biện pháp đối phó một cách phù hợp. Bên cạnh đó, nhiều địa phương không quán triệt đầy đủ những phương châm, phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng của Đảng, nên chưa giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ tiêu diệt địch với nhiệm vụ giành dân, giữa duy trì và đẩy mạnh chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị với xây dựng lực lượng vũ trang và chính trị ở cơ sở…

Về âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong năm 1970 và tiếp sau, hội nghị nhận định: địch tiếp tục chuyến hướng chiến lược, từng bước rút dần quân Mỹ và quân đồng minh ra khỏi miền Nam, ra sức thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh để cố tạo nên một thế mạnh trong quá trình xuống thang, nhằm kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược, tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam nước ta với hình thức và mức độ nào đó. Cụ thể là, chúng sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược “quét và giữ”, lấy bình định làm biện pháp chiến lược hàng đầu, đồng thời mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, sang Lào và Campuchia, bám giữ lập trường ngoan cố trên bàn hội nghị bốn bên ở Pari để chờ đợi thắng lợi về quân sự.

Dự kiến xu hướng diễn biến cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, hội nghị Trung ương 18 vẫn cơ bản đồng ý với nhận định của Bộ Chính trị đưa ra tại hội nghị tháng 4-1969. Theo đó chiến tranh có thể diễn ra theo hai khả năng: Một là, trong quá trình xuống thang, Mỹ càng bị tổn thất nặng và gặp khó khăn lớn, do đó chúng phải kết thúc chiến tranh sớm bằng một giải pháp chính trị mà chúng không thể không chấp nhận được. Ngay trong tình huống đó, từ khi hiệp định chấm dứt chiến tranh được ký kết đến khi Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam cũng phải trải qua một thời gian. Trong thời gian đó, cuộc chiến đấu giữa ta và địch vẫn diễn ra hết sức phức tạp và ta phải hết sức cảnh giác. Hai là, nếu ta tiến công về mọi mặt không đủ mạnh và Mỹ có thể khắc phục một phần những khó khăn của chúng thì Mỹ còn cố gắng kéo dài cuộc chiến tranh ở miền Nam để tìm cách xuống thang trên thế mạnh nào đó, thực hiện phi Mỹ hoá chiến tranh với thế giằng co lâu dài trước khi phải chịu thua và chấp nhận giải pháp chính trị. Trong khi lượng định diễn biến của tình hình, hội nghị Trung ương đồng thời khẳng định, thực tế cuộc chiến tranh sẽ diễn ra theo khả năng nào thì còn phụ thuộc chủ yếu vào sức mạnh tiến công của ta về mọi mặt.

Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho cách mạng miền Nam trong năm 1970 và những năm tiếp sau là: động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự và tiến công chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh; đánh bại âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ, đánh bại âm mưu xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam nước ta; làm thất bại chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi quyết định. Về phương châm hành động, hội nghị nhấn mạnh đến việc kết hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao; tiến công trên cả ba vùng chiến lược, mà nông thôn là hướng tiến công chính. Trong tiến công quân sự, cần đẩy mạnh tác chiến chính quy của bộ đội chủ lực, đồng thời phát triển chiến tranh du kích ở địa phương. Mặt khác, phải tổ chức các tuyến hậu cần đảm bảo thật vững chắc, chú trọng hậu cần tại chỗ, tiếp tục xây dựng, phát triển tuyến đường ống vận chuyển xăng dầu để đáp ứng cho nhu cầu chiến trường khi ta mở những đợt tác chiến quy mô lớn...

Bên cạnh đó, hội nghị một lần nữa khẳng định nhiệm vụ thiêng liêng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa là sẵn sàng chiến đấu và chi viện cho các chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia. Đặc biệt, khi cuộc đấu tranh ở tiền tuyến miền Nam càng được đẩy mạnh thì vai trò chi viện sức người và vật chất của hậu phương miền Bắc ngày càng lớn.

Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 18 chỉ ra phương hướng hành động và nhiệm vụ cụ thể cho quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc. Cùng với những kết quả giành được trên mặt trận đấu tranh quân sự, chống phá bình định, đấu tranh ngoại giao trong năm 1969, đặc biệt trong nửa đầu năm 1970, phương hướng hành động mà hội nghị Trung ương 18 đề ra trên đây là nhân tố rất quan trọng đảm bảo cho quân và dân ta nỗ lực phấn đấu, vượt qua thử thách, khó khăn. đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp tục tiến lên.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:06:18 PM »


CHƯƠNG 25
TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH MIỀN BẮC, TÍCH CỰC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG,
ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO


Giữa những tháng năm cách mạng miền Nam đang đối mặt với những thử thách nặng nề, những khó khăn to lớn thì trên miền Bắc, quân và dân ta cũng đứng trước những nhiệm vụ trọng đại. Qua hơn bốn năm chống chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ, dưới bom đạn đánh phá ác liệt của kẻ thù, “nhân dân miền Bắc đã làm nên một sự nghiệp phi thường, giữ vững và tăng cường lực lượng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá”...1.

Đầu năm 1969, nhân dịp Tết Nguyên Đán, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước, trong đó, Người chỉ rõ phương hướng chiến lược của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong giai đoạn mới là: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Phương hướng chiến lược đó đòi hỏi miền Bắc phải tiếp tục được củng cố và tăng cường về mọi mặt, đủ sức làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.

Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt của hậu phương lớn miền Bắc là ra sức khôi phục kinh tế, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội làm tròn nghĩa vụ đối với tiền tuyến lớn, tăng cường sức mạnh quân sự, sẵn sàng đánh bài mọi âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh xâm lược của kẻ thù.


I- PHỤC HỒI VÀ XÂY DỰNG MIỀN BẮC VỮNG MẠNH SAU KHI MỸ NGỪNG NÉM BOM

Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ cũng như nhiệm vụ đáp ứng sức người, sức của ngày càng tăng cho chiến trường đã tác động mạnh tới toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội của hậu phương lớn miền Bắc. Mặc dù, ngay từ những ngày đầu cuộc chiến tranh phá hoại, miền Bắc đã chủ động và bình tĩnh chuyển toàn bộ hoạt động từ thời bình sang thời chiến, đảm bảo cho hậu phương lớn cùng một lúc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu và chi viện mạnh mẽ, toàn diện, liên tục cho chiến trường miền Nam, góp phần quyết định đánh bại nỗ lực cao nhất của đế quốc Mỹ trong những năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng rõ ràng, trong suốt thời kỳ đó (1965-1968), hơn 10 vạn lần địch đánh phá và hơn một triệu tấn bom đạn các loại của Mỹ dội xuống đã tác động mạnh mẽ tới đời sống của nhân dân miền Bắc, gây thiệt hại về người và của, tàn phá nặng nề hầu hết những thành phố, thị xã, thị trấn miền Bắc và những công trình công nghiệp lớn, làm giảm sút năng lực sản xuất của các ngành then chốt của nền công nghiệp non trẻ miền Bắc như điện, than, ximăng, dệt, giấy... Bên cạnh đó, toàn bộ hệ thống giao thông vận tải như mạng đường sắt, đường bộ, cầu cống, nhà ga... và hàng triệu mét vuông nhà ở, kho tàng... bị phá huỷ. Hệ thống thuỷ lợi cũng bị uy hiếp và tàn phá nặng nề. Để đáp ứng yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của cuộc chiến đấu trên cả hai miền, hàng triệu lao động mà hầu hết là lực lượng thanh niên trẻ khoẻ, có trình độ văn hoá ở mọi miền quê ở các cơ quan, trường học. Ở mọi nhà máy xí nghiệp trên khắp miền Bắc được động viên vào lực lượng vũ trang, vào thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến hoặc tham gia san lấp hố bom, đào đắp công sự trận địa phòng không phục vụ chiến đấu. Điều đó đã làm xáo động mạnh tổ chức lao động xã hội, đặc biệt ở khu vực nông thôn.

Nhiều địa phương, sản xuất không kịp thời vụ vì thiếu sức lao động; các yêu cầu kỹ thuật canh tác không được bảo đảm khiến cho sản lượng lương thực bị sụt giảm. Năm 1968, sản lượng nông nghiệp trên toàn miền Bắc chỉ đạt 4,6 triệu tấn lương thực quy ra thóc, sụt gần một triệu tấn so với năm 1967 (5,4 triệu tấn). Chiến tranh chẳng những gây thiệt hại to lớn về người, về của, làm xáo trộn tổ chức lao động xã hội mà trên thực tế, còn tác động mạnh tới cơ chế quản lý kinh tế tài chính, làm đảo lộn phương thức và lề lối làm việc đã được xác lập - dù chưa hoàn thiện, trong những năm trước chiến tranh. Ở một chừng mực đáng kể, hết thảy những điều đó đưa đến hệ quả là sản xuất bị ngừng trệ, tổng sản phẩm thu nhập quốc dân sụt giảm, đời sống cán bộ, công nhân viên và nhân dân gặp nhiều khó khăn.

Trước tình hình như vậy, sau ngày Mỹ ngừng ném bom, Đảng và Nhà nước ta chủ trương nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, chuyển dần các hoạt động kinh tế trở lại bình thường cho phù hợp với tình hình mới; ra sức khôi phục và phát triển một bước kinh tế, thực hành tiết kiệm, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tăng thêm tiềm lực kinh tế và quốc phòng, đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu của cách mạng miền Nam, củng cố hậu phương vững mạnh, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc miền Bắc, tiếp tục đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc tiến lên.

Sau những năm dài chiến tranh, để hoàn thành những nhiệm vụ nặng nề trên đây, điều mấu chốt là phải chú trọng nhân tố con người, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng cũng như chất lượng của đội ngũ đảng viên, phải củng cố và tăng cường hiệu lực của bộ máy nhà nước, của chính quyền các cấp từ trung ương tới địa phương...

Chính vì thế, bước vào năm 1969, Ban bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc bồi dưỡng và nêu gương người tốt việc tốt. Chỉ thị nêu rõ: trong những năm qua, nhiều đơn vị, cá nhân thuộc mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trên khắp mọi miền đất nước đã có nhiều việc tốt. Đó là những biểu hiện sinh động của truyền thống tốt đẹp của dân tộc và đạo đức xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, để phát huy gương người tốt việc tốt, chỉ thị nêu ra các nhiệm vụ trên lĩnh vực công tác này:

- Kịp thời biểu dương những người tốt, việc tốt.


- Biên soạn những tập sách mỏng Người tốt việc tốt, phát hành rộng rãi trong nhân dân;

- Tuyên truyền, cổ động và tổ chức sinh hoạt chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân về những gương Người tốt việc tốt; bồi dưỡng và nhân rộng những tấm gương đó, phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới, đạo đức mới, nếp sống mới, con người mới.

Việc noi gương và cổ vũ người tốt, việc tốt “không những chỉ có ý nghĩa động viên mọi người hoàn thành các nhiệm vụ cách mạng trước mắt mà còn là một trong những biện pháp cơ bản để xây dựng đảng và các lực lượng nòng cốt của cách mạng”2.
______________________________________
1. Phạm Văn Đồng: 20 năm chiến đấu và thắng lợi, Tạp chí Học tập tháng 9-1970.
2. Dẫn theo: Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, t.4, tr. 310.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:07:31 PM »


Để xây dựng đảng và các lực lượng nòng cốt của cách mạng, một vấn đề cơ bản mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm và dày công rèn luyện là việc trau dồi đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong giai đoạn mới, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng, dưới bút danh T.L, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Người đánh giá: “Trải qua 39 năm đấu tranh oanh liệt, làm Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến lần thứ nhất thắng lợi và ngày nay vừa chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhân dân ta tin tưởng rằng: Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang.

Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác”1.

Song bên cạnh đó, vẫn còn có một số ít cán bộ, đảng viên còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân, ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, dẫn đến phạm sai lầm có hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Để tăng cường sự lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”2. Với mỗi cán bộ, đảng viên Người dạy: “Phải đặt lợi ích của cách mạng của Đảng của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức Cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”3.

Đây là một trong những bài viết quan trọng cuối cùng của người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta. Những nội dung nêu ra trong bài viết đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người tới các vấn đề thuộc về đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên - nhân tố có ý nghĩa quyết định tới sức mạnh của Đảng, sức mạnh của sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Chính vì thế, sau khi được công bố trên Báo Nhân dân số ra ngày 3-2-1969, bài viết trở thành tài liệu học tập quý báu của các tổ chức đảng và toàn thể cán bộ đảng viên.

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Thủ đô Hà Nội, để lại cho nhân dân ta bản Di chúc lịch sử mà ở đó, một loạt vấn đề trọng đại liên quan tới cuộc kháng chiến chống Mỹ. cứu nước, tới công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh, sự nghiệp xây dựng đảng, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, sự nghiệp đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng... được Người đề cập. Toát lên từ những lời dặn dò trong Di chúc là niềm tin mãnh liệt của Người vào thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là mong muốn cháy bỏng: “Toàn đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”4.
______________________________________
1. Dẫn theo: Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, t.4, tr. 310.
2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2000, t. 12, tr. 438, 439.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 512.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:08:33 PM »


Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị mở đợt sinh hoạt chính trị học tập và làm theo Di chúc của Người. Tiếp đó, các cuộc vận động chính trị lớn được phát động rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân miền Bắc nhằm động viên mạnh mẽ sức mạnh của hậu phương vào công cuộc phục hồi và phát triển sản xuất. Tháng 3-1970, Bộ Chính trị ra nghị quyết mở cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh với ba nội dung chủ yếu: giáo dục, bồi dưỡng đảng viên nhằm nâng cao chất lượng đảng viên; kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh; đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng1. Trong thời gian này, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (3-2-1930 - 3-2-1970), theo quyết định của Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã viết tác phẩm Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới. Đây là tác phẩm lý luận tổng kết những kinh nghiệm lớn của Đảng trong 40 năm lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa và công tác xây dựng đảng.

Trước đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới, một yêu cầu đặt ra cho công tác xây dựng đảng là phải nhanh chóng nâng cao hơn nữa trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần cách mạng tiến công, những hiểu biết mới về chính trị, quân sự kinh tế, khoa học - kỹ thuật, năng lực quản lý kinh tế, quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trên tinh thần đó, ngày 29-12-1970, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết về công tác chính trị và tư tưởng, trong đó nhấn mạnh: “Cần khẩn trương giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên một cách toàn diện về chính trị, văn hoá, kinh tế, kỹ thuật, nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới”2.

Đồng thời với những nỗ lực tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng toàn diện của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, thời kỳ này, Đảng, Nhà nước tiếp tục củng cố, tăng cường hiệu lực điều hành quản lý của bộ máy nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh - quốc phòng và đối ngoại. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc đã kịp thời chuyển hướng về tổ chức và phương thức làm việc của chính quyền các ngành, các cấp từ trung ương tới địa phương cho phù hợp với thời chiến, kịp thời giải quyết những vấn đề quan trọng và cấp bách của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ trên cả hai miền Nam, Bắc. Căn cứ vào tình hình cụ thể lúc bấy giờ, Nghị quyết của Quốc hội ngày 2-5-1968 quyết định kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội khoá III và giao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tổ chức bầu cử Quốc hội khoá IV khi tình hình cho phép.

Từ tháng 4-1971, miền Bắc tiếp tục tiến hành bầu cử Quốc hội đúng kỳ hạn và thường xuyên. Ngày 11-4-1971, cử tri trên toàn miền Bắc đã tiến hành bỏ phiếu bầu Quốc hội khoá IV. Trong số 420 đại biểu trúng cử, có 91 đại biểu công nhân, 90 đại biểu nông dân tập thể, 125 đại biểu phụ nữ, 87 đại biểu trí thức xã hội chủ nghĩa, 27 đại biểu quân đội, 72 đại biểu dân tộc ít người, 55 đại biểu là cán bộ miền Nam tập kết... Từ ngày 6 đến ngày 10- 6-1971, Quốc hội khoá IV họp kỳ thứ nhất. Quốc hội đã bầu Chủ tịch nước - Tôn Đức Thắng, Phó chủ tịch nước - Nguyễn Lương Bằng, Chủ tịch Quốc hội - Trường Chinh, Thủ tướng Chính phủ - Phạm Văn Đồng. Tại kỳ họp này, Quốc hội cũng đã bầu Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và thông qua danh sách Hội đồng Chính phủ Hội đồng Quốc phòng. Đây là khoá Quốc hội của những tháng năm đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của giặc Mỹ, khôi phục kinh tế, tiến lên hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam. Nhìn chung, cũng như những năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của máy bay, tàu chiến Mỹ, thời kỳ này, Quốc hội vẫn hoạt động liên tục; mối quan hệ thường xuyên giữa cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cao nhất của nhân dân với Hội đồng Chính phủ vẫn được giữ vững và ngày càng được củng cố, tăng cường.

Xuất phát từ yêu cầu phục hồi và phát triển kinh tế sau chiến tranh, một số bộ, ngành được tổ chức lại cho phù hợp. Đầu tháng 12-1969, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc chia Bộ Công nghiệp nặng thành Bộ điện và than, Bộ Cơ khí và luyện kim, Tổng cục Hoá chất; thành lập Bộ Lương thực và thực phẩm, Bộ Vật tư, Uỷ ban Thanh tra Chính phủ. Tiếp đó. ngày 1-4-1971, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc thành lập Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương trên cơ sở hợp nhất Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông trường và Ban Quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp cũng được củng cố một bước. Ngày 27-4-1969, toàn miền Bắc tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân huyện, xã và các cấp tương đương. 99,08% tổng số cử tri đã bầu chọn ra 16 vạn đại biểu của 298 hội đồng nhân dân khu phố, huyện, thị xã và 5851 hội đồng nhân dân xã, thị trấn. Ngày 25-4-1971, toàn miền Bắc bầu cử hội đồng nhân dân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp ngày càng đi vào nền nếp. Chính quyền địa phương các cấp luôn phát huy vai trò của mình trong việc tổ chức quần chúng nhân dân phục hồi và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội cũng như trong việc ổn định mọi mặt đời sống hậu phương, đảm bảo mọi yêu cầu về sức người, sức của chi viện cho chiến trường.

Để bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công dân, ngày 21-10-1970, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân. Những quy phạm pháp luật này là cơ sở pháp lý góp phần quan trọng và kịp thời vào việc giữ vững kỷ cương của Nhà nước trên lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội, chống lại mọi hành động xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công dân.
______________________________________
1. Tiếp theo cuộc vận động này, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị về việc đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng (ngày 26-10-1970) và Thông tri về việc tổ chức báo công, lập công trong nhân dân, tự phê bình, phê bình trong các tổ chức đảng, nhà nước (2-12-1971).
2. Dẫn theo: Những sự kiện lịch sử Đảng, Sđd, t.4, tr.346.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:09:29 PM »


Nhìn chung, những năm sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của không quân, hải quân Mỹ, thông qua các cuộc vận động và các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, vai trò lãnh đạo của Đảng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên được tăng cường một bước; hiệu lực của chính quyền các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương được củng cố vững chắc. Đó là những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá giáo dục thời kỳ này.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, để từng bước tạo nên sự cân đối giữa công nghiệp với nông nghiệp cũng như để đáp ứng yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế, Đảng và Nhà nước chủ trương, ngoài sản xuất lương thực là trọng tâm, phải chú ý đến chăn nuôi gia súc và trồng cây công nghiệp; đẩy mạnh sản xuất bằng việc đưa vào áp dụng những tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật bằng biện pháp thâm canh tăng năng suất, tăng vụ và tăng diện tích gieo trồng. Khẩu hiệu hành động giờ đây của nền nông nghiệp hợp tác hoá miền Bắc là phấn đấu đạt ba mục tiêu: mỗi hécta gieo trồng hai vụ lúa đạt năm tấn thóc, bình quân mỗi héc ta gieo trồng nuôi hai con lợn, mỗi lao động đảm nhận một héc ta gieo trồng. “Đây là một bước phấn đấu hết sức quan trọng nhằm tạo nên một thế mới trong sản xuất nông nghiệp, một chất lượng mới về phân công lao động nông nghiệp và lao động xã hội nói chung, để dẩy mạnh hơn nữa việc phát triển công nghiệp và các ngành nghề khác. Ba mục tiêu đó là nội dung cụ thể của chủ trương lớn lấy “nông nghiệp làm cơ sở để phát triển công nghiệp” trong giai đoạn hiện nay”1.

Việc thực hiện ba mục tiêu chủ yếu trên đây trong nông nghiệp đặt trong điều kiện và khả năng thực tế khi miền Bắc vừa trải qua cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc, lao động trên ruộng đồng chủ yếu dồn xuống đôi vai người phụ nữ... là cả một nỗ lực to lớn, có liên quan tới những vấn đề kinh tế cơ bản khác như sự hỗ trợ của công nghiệp, việc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, việc tổ chức lao động, trước hết là củng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn. Nhận thức rõ những yêu cầu bức thiết đối với sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp, đảm bảo cho nền nông nghiệp hợp tác hoá có điều kiện trở thành cơ sở để phát triển công nghiệp, tiếp theo bản Điều lệ hợp tác xã bậc thấp ban hành năm 1959, ngày 28-4-1969, Nhà nước đã ban hành bản Điều lệ tóm tắt hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (bậc cao). Bản điều lệ lần này quy định rõ tính chất và nhiệm vụ của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, đề ra những nguyên tắc cơ bản bảo đảm quyền làm chủ tập thể của xã viên, những cơ sở cho việc cải tiến và nâng cao công tác quản lý kinh tế ở các hợp tác xã. Quan tâm sâu sắc tới vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân, những tháng cuối đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành thời gian đọc, sửa chữa và viết lời giới thiệu bản Điều lệ tóm tắt. Người dạn: “Phải thực hiện tốt Điều lệ để hợp tác xã càng thêm vững mạnh, nông thôn ngày càng đoàn kết, sản xuất càng phát triển và nông dân ta càng thêm no ấm và tiến bộ.

Vì vậy xã viên và cán bộ phải bàn bạc dân chủ để hiểu cho rõ và làm cho đúng. Đảng viên và đoàn viên phải gương mẫu trong mọi việc.

Làm được như thế là các hợp tác xã góp phần xứng đáng để giành thắng lợi trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội”2.

Việc ban hành Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp (bậc cao) được Đảng, Nhà nước coi là công tác trung tâm ở nông thôn và là một nội dung quan trọng trong kế hoạch giải quyết vấn đề nông nghiệp những năm sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của giặc Mỹ.

Tiếp đó, ngày 15-3-1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về việc cuộc vận động phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng xã viên ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc, gọi tắt là cuộc vận động tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng xã viên ở nông thôn. Cuộc vận động này tập trung vào các nội dung chủ yếu: phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng ở nông thôn, trước hết là trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; bảo đảm quyền làm chủ tập thể của xã viên trên các mặt sản xuất, phân phối, bầu cử, ứng cử; tăng cường đoàn kết trong Đảng, trong hợp tác xã, trong nội bộ nhân dân; đẩy mạnh ba cuộc cách mạng ở nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, trước mắt nhằm đạt ba mục tiêu phấn đấu trong nông nghiệp.
______________________________________
1. Lê Duẩn: Nắm vững đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến lên xây dựng kinh tế địa phương vững mạnh, Nxb. Sự thật, Hà Nội,1968. tr.15-16.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12. tr.454.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 7055



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:10:41 PM »


Đầu năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 19 quyết định những nhiệm vụ về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tăng cường lực lượng của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đặc biệt là vấn đề phát triển nông nghiệp. Khẳng định những thành tựu và sự đóng góp to lớn của hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hội nghị đồng thời nghiêm khắc chỉ rõ: qua nhiều năm chiến tranh, nền kinh tế miền Bắc gặp nhiều khó khăn, mất cân đối; sản phẩm xã hội và thu thập quốc dân giảm sút; năng lực tiềm tàng về lao động, thiết bị, vật tư chưa được sử dụng tốt và bị lãng phí; thị trường và giá cả chưa thật ổn định... Riêng đối với nông nghiệp, hội nghị nhận định: “Sản xuất nông nghiệp phát triển chậm, chưa bảo đảm được những nhu cầu của đời sống nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản để xuất khẩu là do trình độ sản xuất nông nghiệp của ta, về căn bản, còn mang tính tự cấp, tự túc, sản xuất nhỏ theo lối thủ công, năng suất lao động thấp và khối lượng sản phẩm hàng hoá còn ít”1.

Hội nghị chỉ ra phương hướng và mục tiêu quan trọng của công tác kinh tế của hậu phương miền Bắc trong thời gian trước mắt là, nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng (cách mạng về quan hệ sản xuất cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá), trong đó cách mạng kỹ thuật là then chốt. Đường lối xây dựng kinh tế của miền Bắc lúc này được hội nghị xác định: ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; xây dựng kinh tế trung ương đồng thời phát triển kinh tế địa phương; kết hợp kinh tế với quốc phòng.

Hội nghị đề ra những nhiệm vụ kinh tế cụ thể trong ba năm từ 1971 đến 1973 và nhấn mạnh: nhiệm vụ trung tâm của nền kinh tế miền Bắc là phát triển sản xuất nông nghiệp. Mục tiêu tổng quát của sản xuất nông nghiệp trong ba năm (1971-1973) là phấn đấu giải quyết về cơ bản nhu cầu lương thực; phát triển mạnh chăn nuôi, đưa chăn nuôi lên thành ngành chính; xây dựng một số vùng kinh tế mới, phát triển nghề rừng, mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp; tăng nhanh mức nông sản xuất khẩu.

Hội nghị chỉ rõ phương hướng chính để đạt các mục tiêu tổng quát trên đây của sản xuất nông nghiệp và nhấn mạnh yêu cầu cấp bách của việc chấn chỉnh công tác quản lý hợp tác xã, củng cố các hợp tác xã còn yếu kém, làm tốt công tác vận động định canh, định cư đưa nền kinh tế miền núi tiến lên một bước mới.

Phương hướng và những giải pháp trên đây của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc nói chung, với mặt trận sản xuất nông nghiệp nói riêng là cơ sở quan trọng để toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội chủ yếu đặt ra cho hậu phương miền Bắc những năm sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, vừa triển khai các cuộc vận động lớn do trung ương phát động, giai cấp nông dân tập thể miền Bắc vừa gấp rút ổn định tình hình mọi mặt, giành một số lượng ngày công thích đáng cho việc san lấp hố bom, cải tạo đồng ruộng, vỡ hoá khai hoang mở rộng diện tích canh tác, khôi phục các công trình thuỷ lợi bị bom đạn Mỹ tàn phá và xây dựng mới nhiều công trình thuỷ lợi khác phục vụ cho nông nghiệp. Một lần nữa, trên các mặt công tác này, sức mạnh tập thể của giai cấp nông dân miền Bắc đã chứng tỏ trong những năm đạn bom lại được phát huy mạnh mẽ. Những vết thương chiến tranh trên khắp ruộng đồng, trong mọi làng xóm dần lành trở lại. Bên cạnh những công trình thuỷ lợi bị bom đạn Mỹ tàn phá được khôi phục, cho đến năm 1972, đã có hơn 1000 công trình thuỷ nông lớn (hồ chứa nước, đê, đập, trạm bơm, mương máng dẫn nước tưới tiêu…) được xây dựng mới đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, trong đó, số công trình được xây dựng từ 1969 đến 1972 tăng gấp hai lần so với những năm 1965 đến 1968 và ba lần so với những năm 1961 đến 1964. Cùng với phong trào làm thuỷ lợi, nhiều tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới tiếp tục được áp dụng trên ruộng đồng miền Bắc đã góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất cây trồng, vật nuôi...

Về phần mình, nhà nước đã ban hành và thực hiện một số chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp như chính sách về ổn định nghĩa vụ lương thực, thực phẩm và phân phối lương thực trong khu vực hợp tác xã, chính sách về chăn nuôi, chính sách về thu mua sản phẩm cây công nghiệp, chính sách về cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp, chính sách về giá cả, chính sách về việc nhà nước cho nông dân vay vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp... Bên cạnh đó, nhà nước khuyến khích các ngành công nghiệp tăng cường hỗ trợ cho nông nghiệp, trước hết là ngành điện, cơ khí, phân bón. So với năm 1965 - năm đầu của chiến tranh phá hoại, thì đến năm 1971, tổng sản lượng điện phân phối cho nông nghiệp tăng 2,42 lần, máy kéo tăng 5,49 lần, phân bón hoá học tăng 61%2. Với sự hỗ trợ của công nghiệp, các điểm cơ khí nhỏ ở nông thôn thời kỳ này tiếp tục hình thành3. Nếu lấy chỉ số phát triển năm 1960 là 1 thì số trạm, đội máy kéo độc lập trên ruộng đồng miền Bắc đến năm 1965 là 3,3 và năm 1971 là 4,9; diện tích gieo trồng được cày bừa bằng máy tăng từ 14,5% năm 1965 lên tới 36,8% năm 1971. Các điểm cơ khí nhỏ chẳng những góp phần tăng năng suất, thúc đẩy sự phân công lao động mà còn có tác dụng củng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn.

Sự nỗ lực của giai cấp nông dân tập thể cùng sự hỗ trợ đắc lực của các ngành, các cấp đã là những động lực thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp hợp tác xã miền Bắc có những bước phát triển cả về diện tích, năng suất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi... Năm 1970, diện tích đất canh tác trên toàn miền Bắc đạt tới con số 3.028.100 ha (trong đó 2.723.700 ha trồng cây lương thực), tăng hơn sáu vạn héc ta so với năm 1969 và gần bằng tổng diện tích đạt canh tác năm 1965. Năng suất lúa cũng từng bước tăng lên. Đến năm 1970 năng suất lúa cả năm trên một hécta ruộng hai vụ đạt 43,11 tạ, so với 31,9 tạ năm 1965. Thái Bình, Hà Nội là hai tỉnh thành có năng suất đạt bình quân trên 5 tấn thóc/hécta. Trên toàn miền Bắc, đến năm 1970, có 30 huyện (so với bảy huyện năm 1965) và 12.265 hợp tác xã chiếm 13,3% tổng số hợp tác xã (so với 4,8% năm 1965) đạt 5 tấn thóc/hécta. Nhờ đó, sản lượng lương thực năm 1970 đạt 5.278.900 tấn, tăng hơn nửa triệu tấn so với năm 1969 và đạt xấp xỉ năm 1965. Đàn lợn thịt năm 1971 tăng hơn năm 1965 tới 70 vạn con. Như thế, về cơ cấu giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, đến năm 1971 đạt xấp xỉ năm 1965, trong đó, trồng trọt chiếm 78,8% (năm 1965 là 77,1% và năm 1960 là 81,l%); chăn nuôi chiếm 21,2% (năm 1965 là 22,9% và năm 1960 là 18,9%)4. Bên cạnh đó, trong những năm này tổng giá trị sản lượng cây công nghiệp cũng đạt mức cao. Năm 1971, con số đó tăng gấp 1,8 lần so với năm 1965...

Nhìn chung, ba năm khôi phục kinh tế, diện tích và năng suất cây trồng, vật nuôi tăng, chứng tỏ sự vững vàng của nền nông nghiệp hợp tác xã và hiệu quả chỉ đạo của các cấp các ngành các địa phương trên mặt trận sản xuất nông nghiệp. Những kết quả mà nền sản xuất nông nghiệp hợp tác xã đạt được không tách rời sự hỗ trợ tích cực của các ngành công nghiệp non trẻ.
______________________________________
1. Nghị quyết hội nghị lần thứ 19 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III), ngày 1-3-1971.
2. Tổng cục thống kê: Niên giám thông kê tóm tắt năm 1973, Hà Nội, 1973, tr.63.
3. Năm 1960, toàn miền Bắc mới có 1.000 điểm cơ khí nhỏ. Con số đó lên đến 6.500 điểm vào năm 1968 và đạt tới 8.730 vào cuối năm 1969, dẫn theo Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2, tháng 3 và 4-1978, tr.8.
4. Tổng cục thống kê: Việt Nam - con số và sự kiện 1945 -1975, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990, tr. 109.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM