Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo

<< < (2/54) > >>

chuongxedap:

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
con người


Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830, trong một gia đình theo Công giáo từ nhiều đời ở làng Bùi Chu (nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) và mất ngày 22 tháng 11 năm 1871 tại Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An).

- Về năm sinh của Nguyễn Trường Tộ, thì theo Lê Thước, trong bài Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử, đăng trên NAM PHONG số 102, và hầu hết các tác giả, tiếp sau đó, đều nói: Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828, Minh Mạng năm thứ 9. Riêng Nguyễn Trường Cửu con trai của Nguyễn Trường Tộ, trong Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, không nói năm sinh, nhưng nói: “mất ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức 24... thọ 41 tuổi”. Thực ra Lê Thước, ở cuối bài cũng nói “thọ 41 tuổi”1.

Hiện nay, chúng ta không có đủ tài liệu để xác định một cách chắc chắn về năm sinh của Nguyễn Trường Tộ. Nhưng nếu ông mất năm Tự Đức 24, tức năm 1871 và thọ 41 tuổi, thì năm sinh phải là 1830, chứ không thể 1828. Ngày mất và tuổi thọ của một con người thường được gia đình truyền đạt một cách chuẩn xác.

- Về quê quán của Nguyễn Trường Tộ, cũng có nhiều chỗ khác nhau: Lê Thước2 nói: Làng Bùi Chu (Bùi Chu thôn); Đinh Văn Chấp3 nói: người Bùi Ngõa (Bùi Ngõa nhân); Nguyễn Trường Cửu nói “Ông Tộ là người Đoài Giáp, người ta quen gọi là Xã Đoài”4. Bùi Chu và Bùi Ngõa là hai làng kế cạnh nhau, nay cùng thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên. Còn Đoài Giáp là một địa danh nay không còn thấy ở đâu cả. Tuy nhiên, Hoàng Tá Viêm, trong thư mời Nguyễn Trường Tộ giúp đào Thiết cảng, ngày 19-6-1866, có nói là thư gởi “Nguyễn Trường Tộ ở Đoài Giáp, huyện Hưng Nguyên”. Riêng Xã Đoài, nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, là tên của một đơn vị Công giáo: Xứ và hạt Xã Đoài, và cũng là tên của trụ sở giáo phận Vinh: Nhà chung Xã Đoài.

Như thế Đoài Giáp hay Giáp Đoài là một địa danh của bên đạo hay bên đời nằm phía Tây kênh Sắt, thuộc huyện Hưng Nguyên, xưa kia bao trùm cả họ đạo Bùi Chu, ngày nay không còn nữa. Ở xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, phía Đông kênh Sắt, ngoài họ đạo Xã Đoài còn có một họ đạo nhỏ tên là Giáp Đông. Nguyễn Trường Cửu có thể dựa vào bức thư của Hoàng Tá Viêm (là tài liệu được cất giữ trong gia đình và được Lê Thước trích dẫn) để nói: “Ông Tộ là người Đoài Giáp” và dựa vào thực tế là Nguyễn Trường Tộ đã mất trong căn nhà ở Xã Đoài để cho rằng Đoài Giáp và Xã Đoài là một.
______________________________________
1, 2. Xem Lê Thước “Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử”, trong Nam Phong số 102 (Phụ lục II)
3. Đinh Văn Chấp, Phụ lục bị khảo (Phụ lục III).
4. Xem phụ lục I.

chuongxedap:

I. NHỮNG NĂM HỌC TẬP
(cho tới cuối năm 1860)


Nguyễn Trường Tộ học vỡ lòng về Hán học trong gia đình, với thân sinh là Nguyễn Quốc Thư làm nghề thầy thuốc, sau theo học với tú tài Giai ở Bùi Ngõa, Cống Hữu ở Kim Khê và quan huyện Địa Linh về hưu ở Tân Lộc.

Nguyễn Trường Tộ lúc nhỏ có tiếng là thông minh phi thường: Học tới đâu là nhớ tới đó, ít khi làm bài. Theo Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ của Nguyễn Trường Cửu thì có một lần thi kiểm tra, quan huyện Địa Linh bắt buộc lắm, Nguyễn Trường Tộ mới chịu làm bài. Sau khi thầy cho đề thi, Nguyễn Trường Tộ làm bài và nộp trước tiên: Được chấm ưu và được thầy khen hết lời. Có lẽ vì thế mà được truyền tụng là “Trạng Tộ”1.

Nguyễn Trường Tộ không thích lối học từ chương, mà thích cái học thực tiễn. Cứ xem các đề nghị cải cách về học thuật của Nguyễn Trường Tộ, sau này, cũng đủ thấy. Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ có thuật rằng: “Lần kia, thầy và các học trò đi dạo trên Tú Lò, các học trò thì nhẹ gót khắp mọi nơi, ông Tộ đứng trông xem, rồi hỏi người bạn có đạo (là Cả Thuần, người Tân Lộc) rằng anh ước từ Tú Lò cho đến Thuần Ngư xa nhau mấy tầm, Tú Lò cao mấy trượng, Thuần Ngư cao mấy tầm”2.

Chúng ta không biết chắc là Nguyễn Trường Tộ học trong gia đình cho tới tuổi nào và học với mỗi thầy được mấy năm3. Nhưng chúng ta thấy rõ là ông có một vốn liếng về Hán học rất lớn, không thua các vị khoa bảng của Triều đình Huế lúc bấy giờ. Văn chương, cú pháp cũng như kiến thức về lịch sử và luật lệ Đông phương cũ, qua các bài viết của Nguyễn Trường Tộ gửi lên Triều đình vua Tự Đức, không ai chê vào chỗ nào được. Tuy nhiên Nguyễn Trường Tộ không đậu đạt gì, một phần có lẽ vì ông là người Công giáo nên không được đi thi, một phần có lẽ vì ông không muốn đi theo con đường khoa cử.

Sau khi thôi học, Nguyễn Trường Tộ đã có mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong Nhà chung Xã Đoài4 và được Giám mục người Pháp tên là Gauthier (Ngô Gia Hậu), dạy cho học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các khoa học thường thức của Tây phương.

Trong một bài viết tháng 5 năm Tự Đức thứ 17 (tức khoảng tháng 6-1864), Nguyễn Trường Tộ nói: “Từ 15 năm nay, tôi đã biết rõ tất phải có mối lo như ngày nay, nên tôi đã ra sức tìm tòi học hỏi trí khôn của mọi người để thêm sự hiểu biết cho mình, chứ không phải chỉ mới một ngày”5. Rồi trong một bài viết ngày 16 tháng 2 năm Tự Đức 21 (tức 9-3-1867), ông lại nói: “Mấy chục năm nay, tôi bôn tẩu trong thiên hạ, thu thập những tình thế biến thiên xưa nay, đem những điều đã đọc trong sách nghiệm ra việc đời. Đã trao đổi với ai một lời nói, một câu chuyện, thâm tâm tôi cũng có ý muốn thu lấy sự hiểu biết của người làm của mình...”6.

Như thế có nghĩa là Nguyễn Trường Tộ đã bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Tây phương từ những năm 1848-1849 (theo như bài viết tháng 6-1864) và có thể đã đi ra nước ngoài từ những năm 1848-1849 hay chỉ từ 1859-1861.

Ông Đào Duy Anh, một trong những người được tiếp xúc nhiều với các tài liệu đầu tay về Nguyễn Trường Tộ, quả quyết rằng: “Mặc dầu là người Công giáo từ lúc sinh ra, tâm hồn tiên sinh đã bị lay động mạnh bởi tiếng bom nổ ở Đà Nẵng năm 1848 và, từ lúc đó, người thanh niên 20 tuổi (?) ấy quyết từ bỏ lối học cổ truyền để đi theo lối học thực dụng. Tiên sinh đã được Giám mục Gauthier, giáo phận Xã Đoài dạy cho tiếng Pháp, cung cấp cho các bản dịch chữ Hán của các sách Tây phương và cho đi du lịch ở Hong Kong và Singapore”7.

Thực ra vào thời kỳ này, các giáo sĩ người nước ngoài ở Việt Nam thường dùng thuyền buồm để đi lại hoặc cho người qua lại Hong Kong, Singapore, Mã Lai (chủ yếu là Poulo Pinang, nơi có Chủng viện miền Đông Nam Á). Do đó việc Nguyễn Trường Tộ được các giáo sĩ người Pháp, đặc biệt là Giám mục Gauthier (về Xã Đoài nhận nhiệm vụ từ năm 1846), tạo điều kiện cho qua Hong Kong, Singapore, Poulo Pinang... là điều có thể có.

Điều chắc chắn là cuối năm 1858, Nguyễn Trường Tộ đã cùng với Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn “phân tháp”8 rồi đầu năm 1859, sang Hong Kong...
______________________________________
1. Đinh Văn Chấp, tlđd, nói: “Lúc nhỏ Tộ cũng giỏi về lối học khoa cử, thời bấy giờ có tên là Trạng Tộ (tục danh Thầy Lân)”. Về tên Thầy Lân, một tên gọi khác của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta có thấy nói tới trong các thư của các thừa sai người Pháp thời Nguyễn Trường Tộ. Trong tờ tấu của Cơ mật viện đề ngày 14-5-1867, thấy nói: “Nguyễn Trường Tộ, tức tên Thầy Lân” (Xem phụ lục V).
2. Xem phụ lục I.
3. Lê Thước, tlđd, có nói cụ thể năm nào học thầy nào, nhưng không có cơ sở.
4. Lê Thước, tlđd, có nói là năm 1858, nhưng chỉ là ước đoán, không có cơ sở.
5. Di thảo số 5.
6. Di thảo số 30.
7. Xem Bulletin des Amis du Vieux Hue số 2 tháng 4-6 năm 1944 trang 135 và xem TRI TÂN số 7 ngày 18-7-1941 bài “Nguyễn Trường Tộ học ở đâu”.
8. Ngày 1-9-1858, quân Pháp bắt đầu đánh chiếm cảng Đà Nẵng. Để kiểm soát và ngăn chặn người Công giáo có thể tiếp tay với giặc, Triều đình vua Tự Đức cho bắt giam các giáo sĩ và trùm trưởng, đồng thời ra lệnh “phân tháp” giáo hữu, nghĩa là phân tán người Công giáo và tháp nhập hai ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung. “Phân tháp” là một biện pháp gây nhiều thiệt hại và đau khổ nhất cho đồng bào Công giáo lúc bấy giờ.

chuongxedap:

Hầu hết các tác giả, kể cả Nguyễn Trường Cửu, đều nói là từ Hong Kong, Giám mục Gauthier đã đem Nguyễn Trường Tộ sang Pháp, sang Roma vào chầu Đức Giáo chủ Pio IX. Nhưng nay thì chúng ta biết rõ rằng trong những năm 1859-1860, Giám mục Gauthier không về Pháp1. Ông Đào Duy Anh nói là “Giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang Hong Kong rồi để cho Nguyễn Trường Tộ một mình đi Pháp”2.

Sự thực là với tài liệu hiện có, chúng ta không biết chắc được là trước năm 1861, Nguyễn Trường Tộ có đi sang các nước Tâu Âu để tìm tòi học hỏi hay chỉ quanh quẩn ở các nước Đông Nam Á như Hong Kong, Mã Lai... là những nơi có cơ sở hậu cần lớn của Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris...

Có lẽ như ông Đào Duy Anh nói, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi châu Âu những năm 1859-1860, thì cũng do sự gởi gắm của Giám mục Gauthier và chủ yếu là với Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris. Thế nhưng trong thư từ của Giám mục Gauthier viết trong thời kỳ này được lưu trữ tương đối nhiều ở kho lưu trữ của Hội không thấy nói gì tới vấn đề này và cũng không có dấu vết gì về Nguyễn Trường Tộ tại đó. Hơn nữa, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi Pháp thì sớm nhất là giữa năm 18593 mới tới nơi và khó có thể có mặt ở Hong Kong đầu năm 1861 để cùng Giám mục Gauthier trở về Sài Gòn, theo yêu cầu của Đô đốc Charner, viên chỉ huy được giao trách nhiệm gom quân để mở rộng vùng chiếm đóng ở Sài Gòn. Một điều đáng lưu ý nữa là trong các văn bản gởi Triều đình Huế trước năm 1867, tức trước chuyến đi công cán châu Âu với Giám mục Gauthier, Nguyễn Trường Tộ thường nói về nước Pháp và châu Âu một cách rất chung chung, không thấy có kỷ niệm hay nhận xét nào cụ thể. Trái lại, trong các văn bản được viết từ năm 1867, ông nói đến những người cụ thể ông đã gặp hay những nơi cụ thể ông đã tới.

Nói tóm lại là ngoài vốn liếng về Hán học, Nguyễn Trường Tộ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Tây phương, trước tiên có thể là qua các giáo sĩ thừa sai người Pháp, chủ yếu là Giám mục Gauthier. Nguyễn Trường Tộ cũng đã có dịp đi ra nước ngoài, nếu không qua các nước Tâu Âu, thì cũng qua các nước Đông Nam Á, nơi đây ông đã được đọc các sách báo của Tây phương, bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và nhất là đọc các sách báo Tây phương đã được dịch ra tiếng Trung Quốc. Theo ông Đào Duy Anh và những người đã tới tham khảo các tài liệu tại nhà của con cháu Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, thì trong tủ sách của Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều quyển sách chữ Hán thuộc loại Tân thư. Nhờ đó mà vào đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã có được một số kiến thức khá rộng lớn về khoa học kỹ thuật cũng như khoa học xã hội của Tây phương.

Trong bài Trần tình (7-5-1863), Nguyễn Trường Tộ nói là về việc học, thì không môn nào là không để ý, từ thiên văn, địa lý, luật lịch, binh quyền, tôn giáo, bách nghệ... cho tới thuật số; ông đặc biệt chú ý nghiên cứu về chính trị và ngoại giao4. Qua các văn bản gửi Triều đình Huế từ năm 1861 cho tới 1871, chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ có một hiểu biết về tình hình thế giới và các khoa học kỹ thuật của Tây phương tương đối rộng lớn và chuẩn xác. Về chính trị, thì năm 1868, ông đã biết trước là chiến tranh giữa Pháp và Đức chỉ trong mấy năm nữa là thế nào cũng xảy ra và quả đã xảy ra tháng 7-1870. Riêng về cơ khí, thì trong một bài viết về mua và sửa chữa, chế tạo thuyền máy, năm 1865 ông dám nói: “Người Nam biết qua các loại máy tàu, không ai hơn tôi”5. Về kiến trúc xây dựng, trong một bài viết ngày 19 tháng 6 năm 18716, ông nói là kỹ sư Pháp đã phải tham khảo ông và nhà cầm quyền Pháp ở Sài Gòn lúc bấy giờ muốn giao cho ông phụ trách về công chánh cho họ, mà ông không nhận.
______________________________________
1. Trong thư của người quản thủ Kho lưu trữ của M.E.P đề ngày 1-12-1971, có quả quyết là trong những năm 1859-1860, Giám mục Gauthier không về Pháp. (Xem C.V.P, tlđd, trang 259).
2. Đào Duy Anh, Bulletin des Amis du Vieux Hue số tháng 4-6 năm 1944 trang 135.
3. Theo lời khai của một lang y (người thôn Thuận An, tổng Thanh Vân, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) tên Trần Vinh, bị tàu Pháp bắt đem đi rồi sau trốn thoát được, kể lại thì ngày 10 tháng 9 (tức 16-10-1858), tàu Pháp (trên đó có Trần Vinh) đến đảo Nhãn Sơn, trước cửa Mành Sơn, để đón “Đức thầy Huy và Cố Lý” (tức Giám mục Gauthier và Linh mục Robert, cũng có tên là Hậu và Thuận) nhưng “hôm qua hai vị đã lấy thuyền Nhà Chung với 8 người đi rồi”. Khi tàu Pháp trở về Trà Sơn, Đà Nẵng, thì thấy thuyền Nhà Chung đã ở đó rồi. (Xem Châu bản Triều Nguyễn CBR 22/47). Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng, đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Sài Gòn. Do đó, trước khi đem quân vào Sài Gòn, Đô đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hong Kong. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi sang Hong Kong trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859.
4. Xem di thảo số 3.
5. Xem di thảo số 6.
6. Xem di thảo số 50.

chuongxedap:

II. NHỮNG NĂM THÁNG CHỜ ĐỢI
(1861-1865)


Đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Sài Gòn với một hoài bão lớn là đem những hiểu biết thu thập được của mình để giúp đất nước canh tân, tự cường, tự lực ngõ hầu tránh được họa mất nước.

Thực dân Pháp bắt đầu chiếm đóng Sài Gòn từ đầu tháng 2 năm 1859. Nhưng quân đội Pháp bị kẹt với chiến tranh ở Ý, rồi ở Trung Quốc, nên chỉ để lại Sài Gòn một nhóm nhỏ, khoảng 300 - 400 người. Do lực lượng của Pháp mỏng và sức kháng cự của quân lính Triều đình Huế còn tương đối mạnh, nên vùng chiếm đóng của Pháp ở Sài Gòn hết sức thu hẹp, binh lính Pháp hầu như bị bao vây trong các doanh trại.

Đầu tháng 2-1861, sau khi chiến tranh ở Ý và ở Trung Quốc kết thúc, Đô đốc Charner mới được lệnh gom quân ở Trung Quốc đem về Sài Gòn mở rộng vùng chiếm đóng. Với quyết tâm này, Charner đã thuyết phục được một số giáo sĩ Pháp đang lánh nạn ở Hong Hong, trong số đó có Giám mục Gauthier, cùng về Sài Gòn cộng tác với quân đội Pháp.


1. LÀM PHIÊN DỊCH CHO PHÁP

Nguyễn Trường Tộ đã cùng về Sài Gòn theo Giám mục Gauthier nhưng chắc chắn không phải với ý định làm tay sai cho Pháp. Bởi vì với hoài bão lớn là đem hết tâm lực ra giúp nước, làm sao Nguyễn Trường Tộ có thể nghĩ tới việc tiếp tay với giặc được? Trong bài Trần tình (7-5-1863), Nguyễn Trường Tộ phân trần rằng: lúc Pháp bắt đầu khởi hấn (đầu năm 1859), có được mời cộng tác, nhưng ông một mực từ chối; sau khi đại đồn Chí Hòa, tuyến phòng thủ được coi như là kỳ công nhất của quân đội Triều đình Huế, thất thủ (23-24 tháng 2 năm 1861), ông thấy rằng phải tạm hòa, theo đề nghị của Pháp, để dưỡng quân và củng cố lực lượng. Chính vì thế mà Nguyễn Trường Tộ đã nhận làm từ dịch (phiên dịch các tài liệu chữ Hán) cho Pháp để mong góp phần vào việc hòa đàm. Ông đã kể ra nhiều trường hợp cụ thể mà mình đã làm để cứu nguy tình thế cho người của Triều đình, với tên người và sự việc rõ ràng, mà lúc bấy giờ Triều đình có thể phối kiểm được. Nguyễn Trường Tộ đã gởi cho Triều đình Huế, giữa năm 1861, qua Nguyễn Bá Nghi, người được Triều đình phái vào mở các cuộc thương thuyết với Pháp, một văn bản mà tác giả gọi là “hòa từ”, nội dung gần giống như bài “Thiên hạ đại thế luận phân hợp”, đề nghị với Triều đình Huế là nên tạm hòa với Pháp để “dưỡng uy súc nhuệ”1. Nhưng trong năm 1861, Triều đình Huế không quyết định được, mặc dầu các điều kiện của Charner còn tương đối nhẹ, chỉ đòi cho các giáo sĩ được tự do giảng đạo; kiều dân Pháp được tự do ra vào buôn bán; nước Pháp có một điểm tựa cho tàu bè qua lại.

Ngày 29-11-1861, Đô đốc Charner bàn giao quyền lài cho Đô đốc Bonard. Bonard mở rộng cuộc chiến: Ngày 16-12-1861, đánh chiếm tỉnh Biên Hòa; ngày 7-1-1862, đánh chiếm Bà Rịa... Trước thái độ hung hãn của Bonard, Nguyễn Trường Tộ không trông mong gì ở hòa cuộc nên xin thôi không làm từ dịch cho Pháp nữa, mặc dầu nhà cầm quyền Pháp dụ dỗ, nài nỉ. Thực sự một người vừa thông chữ Hán, vừa biết tiếng Pháp như Nguyễn Trường Tộ, thời đó là rất hiếm.
_____________________________________
1. Xem di thảo số 1.

chuongxedap:

2. NHỮNG VĂN BẢN ĐẦU TIÊN GỞI CHO TRIỀU ĐÌNH HUẾ

Thôi không làm việc cho Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã dồn tâm trí vào việc thảo kế hoạch giúp nước. Cho tới đầu tháng 5 năm 1863, ông đã thảo sẵn xong ba văn bản, làm thành một kế hoạch hoàn chỉnh gởi lên Triều đình Huế là: Tế cấp luận, Giáo môn luận, và Thiên hạ phân hợp đại thế luận.

Bản văn quan trọng hơn cả và Nguyễn Trường Tộ chắc chắn đã dành nhiều thời giờ hơn cả để soạn thảo, nhất định là bài Tế cấp luận. Tế cấp luận, như đầu đề của nó, là bàn về các việc cần làm ngay để canh tân, tự lực, tự cường, phát triển đất nước. Đây là một bản văn mà trong các bài viết sau này Nguyễn Trường Tộ thường nhắc đến như là một tài liệu cơ bản nhất, đầy đủ nhất. Trong bài Lục lợi từ (tháng 5-1864), ông nói: “Tế cấp luận là thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay, đâu có phải chuyện một ngày mà có thể làm hết được”1. Trong một bài viết tháng 8 năm Tự Đức 24, ông lại nói: “Bài Tế cấp luận của tôi, nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết”2. Bản văn này cũng phải là rất dài, bởi vì ngay Tế cấp bát điều dài mấy chục ngàn chữ mà cũng chỉ mới là tóm lược một phần của Tế cấp luận3. Nhưng có điều đáng tiếc là bản văn này, cho tới nay, chưa tìm thấy ở đâu cả và chưa có ai được đọc cả4.

Để có thể phát triển đất nước, cần phải hòa hảo với bên ngoài và hòa hợp ở bên trong.

Về nội trị, Nguyễn Trường Tộ viết Giáo môn luận, dùng lý lẽ của trời đất và vạn vật cũng như những chứng cứ của lịch sử để kêu gọi Triều đình có chính sách bao dung đối với người Công giáo. Sau này, ông còn viết những văn bản đề nghị cải cách hành chính, cải cách học thuật, cải cách phong tục... Nhưng trước mắt, việc bách hại người Công giáo là một sai lầm cần chấm dứt ngay, bởi vì không nên tạo thêm thù trong, đương lúc đang có giặc ngoài.

Đối với giặc ngoài, Triều đình Huế đã ký Hòa ước 5-6-1862, nhưng không muốn thi hành hoặc muốn tìm cách sửa đổi. Nguyễn Trường Tộ không thấy có cách nào hơn là tạm hòa với Pháp, để rảnh tay mà chấn hưng xứ sở. Vì thế, ông đã viết Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Bản văn này, hình như chỉ là bài “Bàn về việc hòa” (hòa từ) gởi Nguyễn Bá Nghi năm 1861 được sửa chữa và bổ sung mà thôi. Bởi vì để thuyết phục triều đình chấp nhận hòa hoãn với Pháp, những lý lẽ đưa ra năm 1861 vẫn còn nguyên giá trị. Tuy nhiên có điều đáng chú ý là vào thời điểm mà bài Thiên hạ phân hợp đại thế luận được viết ra, Triều đình Huế đã ký với Pháp và Tây Ban Nha Hòa ước 5-6-1862, thế mà trong văn bản này không nói gì tới Hòa ước đó cả. Có lẽ là Nguyễn Trường Tộ thừa biết rằng Triều đình Vua Tự Đức đặt bút ký vào bản Hòa ước này chẳng qua chỉ vì bị ép buộc mà thôi. Bằng chứng là sau khi làm lễ trao đổi văn kiện đã được phê chuẩn, tháng 4-1863, liền sau đó Vua Tự Đức đã cử ngay một phái bộ sang Pháp để xin chuộc lại phần đất đã nhượng. Thực ra trong văn bản này, Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh nhiều đến việc người Pháp đã đến là sẽ không đi, việc tạm nhượng cho họ một phần đất là điều không thể tránh.

Sau khi thảo xong ba văn bản quan trọng này, Nguyễn Trường Tộ còn thảo thêm bài Trần tình để phân trần về tâm tư và hoàn cảnh riêng của mình, sợ triều đình nghi ngờ vì mình đã từng đi với các giáo sĩ Pháp và đã làm việc cho người Pháp.

Bài Trần tình viết xong ngày 7-5-1863 và ở cuối bài nói: “Tôi kính dâng ba tập: Thiên hạ phân hợp đại thế luận, Tế cấp luận, Giáo môn luận”. Đinh Văn Chấp, trong Phụ lục bị khảo, có nói là “nhân dịp Phạm Phú Thứ vào Gia Định, Tộ dâng ba bản điều trần...”5. Còn ông Đào Duy Anh lại nói là bản Trần tình và ba bản đính kèm được gởi cho Trần Tiễn Thành, lúc đó là Thượng Thư Bộ Binh và cũng là vị quan lại cao nhất ở Huế.
_______________________________________
1. Xem di thảo số 5.
2. Xem di thảo số 52.
3. Xem Tê cấp bát điều, di thảo số 27.
4. Cho tới nay chưa thấy tác giả nào trích dẫn Tế cấp luận. Riêng ồng Đào Duy Anh trong B.A.V.H, tlđd, trang 136, nói: “tập này không tìm thấy”.
5. Phụ lục III.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page