Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười, 2019, 06:35:32 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận chiến Điện Biên Phủ - Jules Roy  (Đọc 51125 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« vào lúc: 20 Tháng Ba, 2008, 01:35:54 PM »

Tên sách: Trận chiến Điện Biên Phủ
Tác giả: Jules Roy
Dịch giả: Ngô Bình Lâm
Nhà xuất bản: Hà Nội
Năm xuất bản: 2004
Số hoá: ptlinh, chuongxedap





Cet ouvrage, publié dans le carde du Programme de participation à la publication, bénéficie du soutien du Centrel Culturel et de Coopératon de l’Ambassade de France en République Socialiste du Vietnam.
 

Cuốn sách này được xuất bản trong khuôn khổ Chuơng trình hợp tác xuất bản với sự giúp đỡ của Trung tâm Văn hóa và Hợp tác của Đại sứ quán Pháp tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.








                                                                                   Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
                                                                             La bataille de Dien Bien Phu - Jules Roy
                                                                              © Edition Albin Michel, S.A-Paris 1989
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười, 2008, 10:37:10 PM gửi bởi ptlinh » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #1 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2008, 01:42:30 PM »



Cuốn sách này xin dâng tặng:

TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ

Và tất cả những ai, sau khi đã chiến đấu, đã vượt qua được nỗi đau đớn, cảnh bị bắt làm tù binh hoặc lỗi nhục nhã của những kẻ thua trận cũng như niềm ngây ngất và sự hân hoan của những người chiến thắng, vẫn còn lòng tin ở sự công bằng, phẩm chất của sự hy sinh và còn tin vào tình yêu.

                                                                                                                             J.R





Không một ai ôm trọn hình ảnh quân đội trong trái tim bằng tôi. Tất cả những ai nhắc đến quân đội, trong lúc chúng tôi vắng mặt đi chiến đấu là đã nuôi dưỡng con cái họ bằng những món ăn ngon vả mặc cho chúng quần áo nhung lụa, trong lúc đó tôi nhìn thấy những chàng trai của mình mặc những chiếc áo khoác rách tả tơi và những chiếc quần bộ đội cũ nát, tự tồn tại bằng món thịt sống. Và vì những sai lầm mà lẽ ra người ta có thể tránh được, chín nghìn người trong số họ đã nằm lại trong những nấm mồ bị lãng quên.

                                                                                                      FLORENCE NIGHTINGALE
                                                                                                   Về cuộc chiến tranh CRIMÉE







Không phải là chuyện không được phép gánh chịu nỗi bất hạnh. Tuyệt nhiên không phải là chúng ta ở Carthage(1), nhưng mà dù cho câu chuyện không bị đẩy đi xa đến thế, sẽ là tốt để biết được tại sao một vị tướng bị đánh bại lại đã như thế!
                                                                       
                                                                                                              Hoàng tử DE LIGNE








- Nhà vua HENRI: Toà lâu đài ở gần đây tên là gì?
- MONTJOIE: Người ta gọi nó là Azincourt(2)
- Nhà vua HENRL: Nếu thế, chúng ta sẽ gọi trận đánh này là trận chiến Azincourt

                                                                                                          SHAKESPEARE
                                                                                                          Heri V, màn IV




___________________________________________________
(1) Carthage: Thành phố ở châu Phi. Thành lập năm 814 trước CN. Thủ đô của một nước cộng hòa vùng biển hùng mạnh. Trên bán đảo ngày nay gần nước Tunisie. Đã từng chiếm thuộc địa ở Sicile (Ý). Tây Ban Nha chống lại quân La mã. Bị người Arập chiếm năm 698.

(2) Azincourt: địa danh vùng Bắc nước Pháp thuộc Pas de Calais. Ở đây quân đội Pháp bại trận trước quân đội Anh, 25/10/1415.


Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #2 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2008, 12:50:29 PM »

I

THAI NGHÉN MỘT HUYỀN THOẠI

                                           Một vị tướng Chỉ huy không thể che giấu các lỗi lầm của mình
                                           trong chiến tranh bằng một mệnh lệnh của vị quân vương hay
                                           của vị bộ trưởng của mình khi mà người ban bố mệnh lệnh đó ở
                                           cách xa bãi chiến trường và hiểu biết ít hoặc không hiểu một tí
                                           gì thực tế cuối cùng của các sự việc. Từ đó rút ra kết luận là
                                           mọi vị tướng chỉ huy phải gánh lấy trách nhiệm khi thực hiện một
                                           kế hoạch mà ông ta thấy là sai lầm, ông ta là người có lỗi. Lẽ ra
                                           ông ta phải trình bày các lý do, nhấn mạnh các nguyên nhân để
                                           sửa đổi kế hoạch, cuối cùng xin từ chức còn hơn phải là công cụ
                                           dẫn tới sự tan vỡ của đội quân của mình


                                                                                                          Napoléon
                                                                                               Những câu châm ngôn
                                                                                                            về chiến tranh và những suy nghĩ




Ngày 19 tháng năm 1953


Một vị tổng chỉ huy, ông ta không đến giống như một viên quận trưởng.

Trong cái nóng ngột ngạt của buổi giữa trưa, tất cả các viên tướng và các đô đốc của miền Nam Việt Nam, trang phục mầu trắng, đứng trên bãi rộng của sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn, chờ đợi chuyến bay đường dài từ Paris đến, chuyến bay này đã bị chậm mất bốn mươi lăm phút, nhường cho chiếc máy bay Dakota của viên cao ủy nước Pháp, đến từ Hà Nội, được hạ cánh trước.

Ngồi trên chiếc máy bay Constellation, tướng Navarre, nét mặt tư lự đưa mắt ngắm nhìn cái khoảng mênh mông và đáng sợ của những bãi lầy, những vành đai ao hồ cuộn tròn trên những khu đất trũng, nơi đó mặt biển thọc sâu những ngón tay của nó vào. Đây là một phần của cái vương quốc rộng lớn mà ông đã nhận lấy trách nhiệm bảo vệ. Mặt nước lấp lánh dưới ánh mặt trời và những ngôi làng với những mái nhà gianh nằm chen chúc dưới những rặng tre khổng lồ. Máy bay ngược lên hướng bắc, bay trên khu bến cảng và trên những khu vườn của thành phố, lăn bánh trên mặt đường bê tông và dừng lại.

Xuất hiện trong khung cửa chiếc máy bay Constellation, Navarre không chỉ thấy ngột ngạt bởi cái lò lửa giống như cái lò lửa của sân bay tạm dừng chân ở Calcutta. Một người khác hẳn đã khó mà từ chối buổi nghi lễ tại chỗ để chào đón mình. Chắc hẳn, ông đã biết tất cả các nghi thức ấy kể từ ngày ông nắm chiếc ca-táp nhỏ cầm tay của các viên tổng chỉ huy và các thống chế. Nhưng mà lần này, ông là ông hoàng mà người ta chờ đợi và trước mặt ông hoàng ấy, kèn trống đã nổi lên.

Với những thú vui tinh tế ấy mà người tiền nhiệm của ông, tướng Salan, lúc này đang kéo dài những cuộc thăm viếng chia tay ở Bắc Kỳ, đã từng say sưa ngây ngất, Navarre chỉ nhâm nhi với một niềm thích thú kín đáo - sau này khi đã biết được cái giá của nó, ông thở phào nhẹ nhõm gạt bỏ niềm thích thú ấy.

Tập hợp các tham mưu trưởng của ba quân chủng, các cơ quan hậu cần, các thầy thuốc, dược sĩ và bác sĩ quân y, những người phụ trách các dịch vụ và thông tin liên lạc, các viên mật thám người Việt Nam hay hòa hảo, khoảng năm chục chiếc mũ kê pi và mũ cứng có những chiếc lá sồi mạ vàng lóng lánh nổi lên phía sau lưng cái bóng dáng dân sự, to béo và mềm yếu, đẫm mồ hôi và nước thánh của viên cao ủy. Hai tiểu đoàn bồng súng chào cùng với tiếng nhạc và ánh cờ bay.

Navarre nhìn thấy tất cả sức mạnh dưới chân mình. Gia nhân của ông, nếu như ông muốn, có thể là gia nhân của quốc vương. Lá cờ hiệu bay phần phật trước gió, bằng một cử chỉ hay một chữ ký ông có thể mang lại hạnh phúc hay bất hạnh cho rất nhiều người. Người ta cân nhắc các ý kiến và các giây phút lặng thinh của ông, người ta sẽ im tiếng, dừng tay trước những lời phán truyền mà ông ban bố. Người ta gắng sức tìm cách làm cho ông tránh khỏi thời tiết gay gắt, cốt để tài năng của ông được thoải mái, tài năng sẽ giải quyết mọi bài toán. Ngày hôm đó, ông sẽ chỉ làm cái việc nhìn thoáng qua Sài Gòn, thông qua các đoàn tùy tùng của mình, nhưng mà ông đoán ra được tiếng rì rầm dữ tợn của hoạt động buôn bán, của tỷ lệ chiết khấu và của đồng tiền đang chảy như nước, của những hộp đêm về một lễ hội bất lương, tiếng rì rầm không bao giờ ngừng lại. Trong cái thành phố không có chim chóc này, những bông hoa không có hương thơm. Dưới những mầu sắc rực rỡ, trông chúng nặng nề, gợi dục, ám ảnh.

Những bản nhạc ấy, những tiếng còi cảnh sát ấy, cảnh nhộn nhịp của đoàn xe chở đầy những ngôi sao quân hàm và những chiếc mũ lưỡi trai viền vàng ấy, phải chăng chúng biểu dương cuộc đăng quang của một vị công tước mới của Đông Dương hay là bước khởi đầu của một cuộc giải thể rùm beng? Buổi tối, Navarre mỉm cười nói với viên sĩ quan tùy tùng:

- Anh có biết vụ chuyến bay của ngài Letourneau làm cho nhà nước tốn mất bao nhiêu không? Hai trăm nghìn francs đấy.

Lúc kết thúc bữa ăn trưa do viên cao ủy tổ chức để chào mừng ông, người ta được tin, sau hai tháng chống cự, đồn Mường Khoa thất thủ. Đồn này nằm cheo leo trên một đỉnh núi ở ngã ba hai con sông Nậm U và Nậm Pạc, cách sáu mươi kilômét về phía tây nam Điện Biên Phủ, một địa danh mà Navarre chưa từng nghe nhắc đến. Một đại đội binh sĩ người Lào và một vài dân binh đã biến mất. Lần đầu tiên, quân Việt đã sử dụng đạn pháo chứa lân tinh, lấy được trong các hòm đạn của đạo quân viễn chinh hoặc là từ Trung Quốc chuyển tới.

Sự kiện này không có sức nặng trong cái ván bài người ta đang chơi ở Sài Gòn và việc mất giá bất ngờ giáng xuống đồng bạc một tuần lễ trước đó, có những hậu quả khác. Người ta thanh lý để mua đô la, các cửa hiệu đóng cửa, việc xuất khẩu bị đình lại và các kho hàng được kiểm kê. Chính phủ Việt Nam dự kiến một cách trơ trẽn việc xét lại sự hiện diện của mình ở trong khối Liên hiệp Pháp, nếu như khối Liên hiệp ấy cản trở các công việc. Tại chợ đen ngoại hối, sự sụp đổ của đồng bạc Đông Dương biểu lộ một thảm họa khác, hơn là việc thất thủ một đồn quân nhỏ bé.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #3 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2008, 05:14:26 PM »


Ngày 21 tháng năm 1953

Hai lỗ mũi nhăn lại, Navarre xua đuổi những mùi vị của Sài Gòn. Vội vã đến để nắm lấy quyền sở hữu mảnh đất được tấn phong và gặp gỡ tướng Salan, người giữ mọi chiếc chìa khóa của mảnh đất ấy, ông đi ra Hà Nội cùng với ngài Letourneau.

Ông phải nhanh chóng bắt tay vào việc, bởi lẽ một khi các thủ tục xã giao thường lệ đã làm xong, toàn thể bộ máy chỉ huy tối cao ở Đông Dương thời gian qua, tiếp theo Salan, sẽ chui vào những khoang hạng nhất của máy bay và tàu thủy: viên tư lệnh cao cấp của xứ Bắc Kỳ, viên tham mưu trưởng liên quân ở Sài Gòn, viên tư lệnh không quân và tư lệnh ở Lào, ba viên chỉ huy trưởng khu vực trong số năm khu vực ở vùng đồng bằng đóng nắp các hòm con của họ lại. Bản thân ngài Letourneau cũng chuẩn bị rút lui, ông ta nói vậy, chẳng lo lắng gì cho tương lai. Thái độ thẳng thắn, vẻ hiền từ giả tạo, những mưu mẹo khôn khéo của ông chẳng mang lại điều gì: ông không dám làm phiền lòng bất kỳ ai và luôn luôn thấy người ta nhiều mưu mẹo hơn mình.

Về sau, người ta sẽ trách cứ nền Đệ tứ Cộng hòa là đã không sắp xếp việc hồi hương của những người có trách nhiệm từng đợt một. Thực tế, dưới con mắt nhân từ của viên cao ủy, tướng Salan đã tìm cách thực hành, cùng với những ngày cuối cùng của kíp tướng De Lattre, chính sách đốt sạch, phá sạch dưới bước chân của người kế nhiệm De Lattre. Navarre không phản đối. Có đôi chút ngây thơ, ông tưởng rằng cái khoảng trống lớn ấy sẽ giúp đỡ ông.

Một sĩ quan cấp tướng duy nhất tự nguyện ở lại với ông: thiếu tướng Cogny, chỉ huy một sư đoàn cơ động ở Bắc Kỳ. Navarre đã nắm được thông tin: Cogny đã thành công trong mọi kế hoạch của mình và đó là con người của vùng đồng bằng sông Hồng. Cogny đang gặp vận may. Navarre đã được Letourneau đồng ý rằng sẽ đề nghị với chính phủ thăng cấp cho Cogny lên trung tướng.

Trên giải đất rộng mênh mông với 700.000 kilômét vuông, dân số ba mươi triệu người này Navarre đoán rằng những cái bẫy sẽ không thiếu, và rằng những cái bẫy nguy hiểm nhất không phải là những cái mà quân đối phương sẽ giăng ra dưới chân ông. Nhưng thử hỏi có mảnh đất hành động nào lại kích thích hơn mảnh đất của Mourmelon(1) đây? Để cho 375.000 con người của phía quân xanh mà Navarre sắp sử dụng cùng với các đội quân ra đời từ các quốc gia liên hiệp, đối mặt với 125.000 quân chính quy, 75.000 quân địa phương và 150.000 du kích của phía quân đỏ, bãi chiến trường nào đây với những đồng bằng cháy bỏng bị chia cắt thành những ruộng lúa, những khu rừng rậm có hổ và voi, những con sông lớn vươn dài ra biển cả, những rặng núi lô xô, nếp gấp lớn đá vôi bị gió mùa thổi qua, nằm kề bên cạnh Trung Quốc và đường chí tuyến Cancer, và 2.500 kilômét bờ biển vẽ nên một cách kỳ lạ đôi vai, chiếc gáy, hộp sọ và khuôn mặt nhìn nghiêng được vẽ biếm họa của con người Colombey cô đơn, lao đầu xuống biển, chiếc mũi và đôi cánh tay chĩa về phía Singapour!

Những suy ngẫm của Navarre chuyển theo chiều u ám: cỗ máy người ta vừa mới giao phó cho ông quyền chỉ huy không còn trơn tru nữa. Đạo quân viễn chinh chỉ nhúc nhích theo từng khối lớn, trong tiếng ầm ỹ của xe tăng và xe tải, không thể nào sống nếu không có sự vượt trội ghê gớm về phương tiện, đối mặt với một đối phương cơ động và có mặt khắp nơi một cách đáng sợ, họ nắm được mọi thứ, phần lớn những đòn đánh của đạo quân viễn chinh đều rơi vào khoảng không. Quân sĩ thì mệt mỏi và cái hệ thống điều hành họ lại quá nặng nề. Cuộc chiến giết người một cách mù quáng ngay trên mảnh sân của một quán cà phê, cũng như trên đoạn đê nhỏ bên ruộng lúa; những ngôi làng nhìn bề ngoài hiền lành che giấu những pháo đài; một đứa trẻ dắt trâu ăn cỏ là một lính gác; những bà già miệng móm mém đi rải mìn; những người nông dân biến thành những kẻ bóp cổ các thân hào, nhân sĩ. Để chiếm giữ được hai mươi kilômét đường giao thông, cần phải có nhiều tiểu đoàn, nhiều cụm pháo binh và xe thiết giáp. Các đơn vị này, buổi tối đến, phải rút về các phòng tuyến, bỏ lại khoảng không gian cho đối phương. Nếu như người ta có thể nghĩ rằng, ở đôi nơi, có một phòng tuyến thì chẳng có nơi nào là hậu phương bởi lẽ mọi thứ đều đe dọa và nguy hiểm. Ở nước Pháp, ai đã ngờ tới điều này? Từ Trung Quốc ở kề bên, vũ khí và phương tiện đổ về các sư đoàn của tướng Giáp. Bảy năm trời đã sử dụng và không mài sắc được cái công cụ lẽ ra phải phục vụ cho chiến thắng, và cuộc chiến tranh được tiến hành ở đó là cuộc chiến tranh rẻ tiền cộng với sự trợ giúp của Mỹ.

Rẻ tiền ư? Nó chi phí một hay hai tỷ mỗi ngày và mỗi con tàu nhổ neo từ Sài Gòn hay từ Hải Phòng bao giờ cũng có một khoang hầm chật ních những chiếc quan tài. Thông qua viên sĩ quan tùy tùng vốn cũng là một người bạn cũ và trở lại Đông Dương trong nhiệm kỳ thứ ba, Navarre được biết đầy rẫy những chuyện phản bội: không một ý kiến nào, không một văn bản cũng như một động thái nào lại không lập tức được thu lượm và bị rò rỉ. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như những kẻ khốn khổ ở trước mặt cũng có xe tăng và máy bay? Có thể là người ta tóm được họ, nhưng từ phía họ, họ có thể lao đầu vào húc bởi lẽ những kẻ khốn khổ đó tin chắc rằng, sớm hay muộn, họ sẽ thắng cuộc và không mảy may sợ chết. Về phía chúng ta, tại sao người ta chiến đấu? Không còn một ai biết được điều đó nữa. De Lattre là người đầu tiên đã tuyên bố: vì nền độc lập của Việt Nam. Nhưng mà mọi người bất cần đến nền độc lập của Việt Nam, bắt đầu ngay từ bản thân nước Việt Nam, vốn đã có độc lập hoặc là chẳng cần gì độc lập. Quân đội Việt Nam(2) lang thang đi tìm kiếm một niềm tin và chính phủ của nó đã quyết định chẳng có quyền lực gì cũng như chẳng có sự trung thực nào. Với 50.000 đồng bạc, người ta được miễn làm nghĩa vụ quân sự. Các sĩ quan trẻ tuổi tốt nghiệp các trường quân sự trước hết lựa chọn ngành hậu cần và các cơ quan quản lý hành chính, ở đó người ta có thể ních dầy túi. Duy nhất những người ra sau cùng, hai tai cụp xuống, đi tới các đơn vị chiến đấu. Thử hỏi, họ có ham muốn gì để đi chết cho ngài Tâm, thủ tướng chính phủ(3), cho tướng Hinh, con trai của ngài Tâm, hay cho đức vua Bảo Đại, người đã hiểu được là triều đại các quốc vương An Nam đã buồn bã kết thúc cùng với ông ta và ông ta chẳng phải phục vụ bất kỳ ai ngoài bản thân ông ta? Từ thống chế De Lattre, còn lại một phòng tuyến các lô-cốt đổ bêtông, nhằm bẻ gãy các đợt sóng tấn công ở vùng ven đồng bằng, ở đó người ta gắn chặt những cái đít nặng và những đầu óc lạc hậu "trong lớp bêtông "cứt" nhất".
______________________________________
1. Moumlelon: Tên một trại lính ở thành phố Marne. nước Pháp - N.D.

2. Đây là quân đội của ngụy quyền Việt Nam. Trong cuốn sách này từ “quân đội Việt Nam” tác giả đều dùng để nói về quân đội ngụy quyền.

3. Đây nói chính phủ ngụy quyền lúc đó.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Tư, 2008, 05:16:19 PM gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #4 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2008, 05:24:38 PM »


Navarre ngồi vững trong chiếc ghế bành của mình. Nào, nếu như bầu không khí bị ô nhiễm và cái công cụ xộc xệch thì cần phải có mưu kế. Một nụ cười kéo dài hiện lên trên nét mặt của vị tổng chỉ huy mới, khiến cho khuôn mặt hiền từ của ông có pha chút cay đắng.

Ngày 7 tháng 5 vừa rồi, ngài René Mayer, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã cho gọi Navarre tới phố Varenne. Navarre vừa đi kiểm tra ở nước Đức trở về. Được thống chế Juin - Navarre vốn là tham mưu trưởng của thống chế - báo trước cho biết, Navarre đã trình bày những lý do từ chối của mình: ông chưa từng phục vụ ở Đông Dương và hoàn toàn không có khả năng. Khi mà ngài René Mayer, giữa khung cảnh của những đường thiếp vàng, những tấm thảm bằng dạ và những khu vườn lộng lẫy ở điện Matignon(1), đề nghị ông thay thế tướng Salan, Navarre đã không kịp giải trình những lý lẽ để phản đối: vị chủ tịch Hội đồng bộ trường gạt bỏ tất cả bằng một cái phẩy tay nhẹ. Ngài René Mayer cho là ông có khả năng nhìn mọi việc bằng con mắt mới mẻ và nhanh chóng học hỏi được, ngài tỏ lời khen ngợi tính thận trọng, đầu óc thông minh lạnh lùng và sự khôn ngoan của Navarre. Hiển nhiên, đối với một chức vụ cao cấp như vậy, người ta đã phải tìm kiếm khá lâu trong niên bạ để có được vị tướng bốn sao Henri Navarre, những ý kiến bác bỏ đã không đứng vững được khi mà những tài năng thiếu đến mức như vậy và rằng không một ai hơn được. Tướng Valluy, người duy nhất nắm được vấn đề và là người chịu trách nhiệm về vụ oanh tạc Hải Phòng vào năm 1946 không phù hợp với điều mà ngài René Mayer đòi hỏi Navarre phải tìm ra: một lối thoát trong danh dự cốt để cho chính phủ có thể thương lượng và chấm đứt cuộc chiến tranh. Tăng viện ư? Không có vấn đề đó. Tướng Navarre sẽ không nhận được gì to lớn. Quân lực ư? Ngài René Mayer đọc cho ông nghe bài báo mà ngài Edouard Daladier viết trên một số báo buổi chiều: "Quốc hội sẽ phản đối một việc làm ngớ ngẩn như vậy ".

Khi rời khỏi điện Matignon, tướng Navarre nghĩ về ngài René Mayer: "Ông ta điên...". Trở về Fontainebleau, ông báo cáo với thống chế Juin:

- Ngài có nhiều cách để giữ tôi lại, ông bổ sung thêm như vậy ít nhất tôi phải ở cùng với ngài trong hai năm ở Trung Âu.

- Nghĩa vụ của anh là phải nhận lời, thống chế đáp lại, trước sự sửng sốt của Navarre. Cần phải có một ai đó chịu hi sinh.

Để động viên ông, thống chế Juin đưa cho ông xem một bản báo cáo của mình sau một chuyến khảo sát mới đây. Trong bản báo cáo này, thống chế tỏ ra lạc quan: để giải quyết bài toán, chỉ cần vài tiểu đoàn và vài tháng trời, nhưng cần phải đề phòng một cuộc tấn công tổng lực ở vùng đồng bằng. Tóm lại, người ta nghĩ rằng quân Việt không có đủ phương tiện để tiến hành một cuộc chiến tranh cơ động và rằng họ có thể gục ngã nếu người ta tràn lên xô đẩy họ. Chẳng phải Navarre đã từng là kỵ binh hay sao?

Ông nhận lời.

Navarre là ai? Cái tên phấp phới như một lá cờ tung bay trước gió kể từ năm 1915 khi mà hai anh em có tên Navarre trở nên nổi tiếng trong đội ngũ phi công khu trục. Tuy nhiên, không có mối quan hệ họ hàng nào giữa các phi công và vị tướng, lúc này năm mươi nhăm tuổi, xuất thân từ một dòng họ nhiều đời của những công chứng viên, luật sư và quan tòa vùng Normandie(2).

Sinh vào một ngày 31 tháng bảy, như vậy đó là một con sư tử. "Bởi vì đó là ý chí của tôi", là câu châm ngôn mà ông hay sử dụng. Về thể chất cũng như tinh thần, đó là một con báo. Chàng kỵ sĩ này không nhỏ bé nhưng mà nửa thân trên mảnh dẻ, hơi ngả ra phía sau, do vì luôn luôn ngồi trên lưng ngựa cho nên dáng điệu của ông không uyển chuyển và ông có vẻ được thoải mái khi đứng trước các tấm bản đồ và các bánh xích của xe tăng hơn là trong các cuộc đua ngựa. Ông không phải là người vung kiếm. Ở ông mọi chuyện diễn ra trong đầu óc; gần như trong toàn bộ sự nghiệp, ông hoạt động trong các đơn vị trinh sát và cơ quan tham mưu.

Vừa thân thiện vừa xa cách, độ lượng và lạnh lùng, ông có được sự tự chủ hiếm có và một tài khéo léo lớn để chinh phục người khác. Hình như ông giữ kín mọi chuyện kể cả khi ông ngờ vực. Quyết đoán, dút khoát, ông có thể giữ im lặng lắng nghe những lập luận dài dòng mà không bao giờ để mình bị lôi cuốn vào đó. Tự tin, nói nhiều, nếu như việc đó là cần thiết. Cứng rắn, nhanh nhẹn, cái nhìn của ông như một tia chớp chiếu thẳng vào những người đối thoại với mình rồi quay đi, khác hẳn với giọng nói có thể là nồng nhiệt, khoan dung hoặc gay gắt. ông làm cho người ta có cảm tưởng là ông nắm sâu các vấn đề đã được nghiên cứu kỹ lưỡng để cho giải pháp mà ông lựa chọn không vấp phải những sự phản đối.

Khuôn mặt ông sắc sảo dưới vầng trán nhẵn bóng và mái tóc mầu xám xẹp xuống. Một trong những nét tiểu sử cho thấy rõ là ông không biết âm nhạc và hội họa, và rằng ông yêu lũ mèo. Với nhiệt tình phục vụ ông, người ta đã so sánh ông, do đôi mắt mầu xám và đôi lông mày rậm, với thống chế De Saxe(3), một trong những vị tướng lĩnh vĩ đại nhất một thời đã qua. Cần phải tránh đi quá xa trong việc so sánh, khi mà người ta đề cập tới LỊCH SỬ và rằng kết cục của những tấm thảm kịch đã được biết rõ.
______________________________________
1. Matignon: Tòa nhà xây năm 1721 trên phố Verenne ở Paris. Là trụ sở của Hội đồng Bộ trưởng nước Pháp.

2. Normandie: Vùng Tây Bắc nước Pháp - Nơi quân đồng minh đổ bộ tấn công quân Đức trong đại chiến Thế giới lần II, 1944 – N.D.

3. Maréchal de Saxe: Viên tướng nước Pháp (1696 - 1750) là con vua Auguste II. Có trận tháng ở Fontenoy. - N.D.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #5 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2008, 05:28:46 PM »


Ngày hôm đó, trong Tòa nhà nước Pháp, trụ sở của viên cao ủy ở Hà Nội, ngài Letourneau đã mời các viên tướng ở Bắc Kỳ tới ăn trưa cùng với Navarre. Trong phòng khách, Salan chỉ trao đổi những câu chuyện xã giao tầm phào. Là con hổ hoàng gia có hàm răng sắc nhọn và khuôn mặt nở nang với nhiều nét nhăn, ông đưa đôi mắt buồn bã, lơ đãng nhìn con người sắp kế nhiệm mình. "Nho nhã, thanh mảnh, lịch lãm luôn luôn cảnh giác", ông thầm đánh giá con người ấy và giữ im lặng. Gonzalez de Linarès. Chỉ huy trưởng các lực lượng ở Bắc Kỳ, mà người ta gọi thân mật là "Chú Li", có những cử chỉ thoải mái hơn, có người tình là một cô gái lai Hoa xinh đẹp, ông nổi tiếng là một người nói thẳng. Bạn đồng khóa với Navarre, ông ngồi trên tay ghế của Navarre và dùng giọng nói thân mật:

- Này chú nhỏ Henri, chú đến làm cái quái gì ở cái "đống phân" này vậy? Tớ thì tớ ra đi.

- Chuyện anh ra đi đúng là chuyện rầy rà đối với tôi, Navarre đáp lại.

- Ai sẽ thay anh?

- Tôi đã yêu cầu Cogny.

- Đừng có chọn tay ấy, Linarès nói, khẽ chạm vào khuỷu tay Navarre. Đó là một tay đáng ghét.

- Anh có giới thiệu cho tôi ai khác không? - Quả thật, chẳng có ai, và dưới những chiếc quạt trần đang quay, ngài Letourneau đi quanh các viên tướng như một con gấu xù lông.

- Thưa tướng quân, ngài nghĩ thế nào? - Navarre hỏi Salan.

Đôi mắt của Salan long lanh tia chớp:

- Cogny có những phẩm chất tốt.

Ngài Letourneau chuyển cho Navarre một tờ giấy người ta vừa đưa cho ông. Navarre thích mạo hiểm. Hình như, thậm chí, ý kiến bác bỏ của những người ngang hàng với mình lại khuyến khích ông giữ vững ý định.

- Đây là bức điện đề bạt Cogny lên trung tướng, Navarre nói. Lát nữa, tôi sẽ chỉ định ông ấy là chỉ huy trưởng của xứ Bắc Kỳ.

Vả lại lúc này Cogny đã xuất hiện.

Điều nổi bật trước tiên ở Cogny đó là thân hình: cao 1m87 và tầm vóc vạm vỡ. Hoàn toàn không hề lợi dụng ưu thế đó, hình như lúc nào ông cũng muốn nhún mình. Giọng nói của ông nhã nhặn, đôi khi vuốt ve. Ông là người dễ tiếp cận, đôi mắt mầu xám dễ dàng xúc động, bàn tay ông rộng mở. Trước mặt hàng quân, ông không cần phải áp đặt: chỉ cần ông xuất hiện với đôi vai nở nang của một cầu thủ bóng bầu dục và cách nói thẳng thắn của vị nam tước trong vương quốc đích thực ở Jérusalem. Người ta quý mến đức tính giản dị, bộ trang phục dã chiến mà không lúc nào ông rời bỏ, chiếc thắt lưng nhà binh bằng da sần, dưới bộ ngực nở nang không có huân huy chương của ông.

Người ta đoán ra được là khi ở giữa bộ máy chiến tranh, ông như đang ở giữa nhà riêng của mình, với vẻ: chuyên dáng và lịch lãm của một nhà qúy tộc đi trên mảnh đất thuộc quyền sở hữu của mình. Cái anh chàng ba đời nông dân ấy, bị De Lattre chinh phục, tỏ ý rằng De Lattre vẫn là ông thầy và hình mẫu, cái bóng vĩ đại có đủ mọi khả năng, thậm chí xuất hiện là trừng phạt, áp đặt vầng hào quang cho các sĩ quan chỉ huy, áp đặt tài năng cho các binh sĩ. Lòng trung thành luyến tiếc - tưởng nhớ tới ông chủ cũ ấy - cuối cùng làm cho người ta cảm động. Bị cấp trên khó chịu vì nổi tiếng trong việc tranh cãi các mệnh lệnh, được cấp dưới yêu mến, Cogny tạo ra được một khung cảnh huy hoàng nào đó trong các nghi lễ xã giao và kể cả trong ngôi nhà quân sự của mình, ở đó ông tiếp đón các khách khứa bình thường nhất với những cung cách đặc biệt. Được gọi một cách vô lễ là "Coco tiếng còi" do vì cái sở thích của ông sử dụng quá mức các đội mô tô hộ tống, Cogny bị buộc tội là muốn tạo dựng một mảnh đất nam tước trong vương quốc Đông Dương, áp đặt ở đó các quan điểm và các nhân viên của mình, tổ chức ở đó những cơ quan mật vụ.

Là con người hùng mạnh với ngoại hình đáng sợ, Cogny là con bò tót do bởi vóc dáng của thân hình và sức mạnh mà nó chứa đựng, sức đề kháng mà khối thân hình đó trương ra trước đối thủ. sức nặng mà nó áp dụng trước các chướng ngại, những cơn giận dữ hình thành trong khối thân hình đó và bùng nổ với sức mạnh của những cơn giông tố xứ Bắc Kỳ. Trong bộ áo giáp tựa như che phủ cho ông từ đầu đến chân, ấy vậy mà lại có một khiếm khuyết thuộc lĩnh vực con tim: chỉ một tiếng nói có thể làm cho Cogny bị tổn thương sâu sắc. Lúc đó ông không hề tha thứ và luôn luôn cảm thấy mũi kiếm đã chạm vào người mình. Dễ dàng bị chinh phục và điều khiển, ông sẽ cúi đầu, lao thẳng vào cái người mà ông cho là chịu trách nhiệm về vết thương của mình, và tìm cách chà đạp kẻ đó dưới gót chân.

Mặc quần sóc, trông ông có vẻ càng cao to. Do mặc cảm vì thân hình to lớn của mình, đôi khi ông chỉ lùi lại để lắng nghe. Navarre kéo ông ra một góc và báo cho ông biết việc bổ nhiệm ông thay thế De Linarès với một ngôi sao thứ ba(1) trên quân hàm. Khuôn mặt Cogny rạng rỡ và một nỗi xúc động đột ngột đẩy ông về phía Navarre.

- Ngài sẽ không phải hối tiếc về việc đó, ông nói.

Cũng buổi tối hôm đó, khi bữa ăn kết thúc, vào lúc người ta phục vụ nước ngọt, Salan nói với Navarre.

- Thưa tướng quân, ngài phải đề phòng, bởi lẽ Việt Minh đang tổ chức những đơn vị lớn và theo một cơ cấu của châu Âu.

- Trong trường hợp đó, Việt Minh sẽ toi mạng, Navarre nói.

________________________________________
1. Cấp hàm trong quân đội Pháp: - Thiếu tướng: hai ngôi sao - Trung tướng: ba ngôi sao - Thượng tướng: bốn ngôi sao. - N.D.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #6 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2008, 05:34:21 PM »

Ngày 22 tháng năm 1953


Do vì vẫn chưa có được một cuộc trò chuyện nghiêm túc với Salan, Navarre yêu cầu sĩ quan tùy tùng của mình đề nghị với Salan một chương trình đi khảo sát chiến trường xứ Bắc Kỳ. Trước tiên, ông ấy muốn tới thăm pháo đài Nà Sản, việc duy trì cứ điểm này đang làm cho bộ chỉ huy và một vài thành viên trong chính phủ bận tâm.

Trong chiến dịch trước đây, tướng Giáp, vốn đã nắm giữ được phần lớn vùng phía Bắc xứ Bắc Kỳ, với ba mươi tiểu đoàn đã chiếm được toàn bộ vùng không gian nằm giữa con sông Hồng và con sông Đà. Trước cuộc tấn công mới của ông ta triển khai về hướng xứ Thái, thử hỏi Salan có thể áp dụng chiến thuật gì đây? Rút các đội quân đồn trú của ông ta ra khỏi xứ Thái để chuyển xuống vùng đồng bằng chăng? Như vậy là sớm hay muộn sẽ mở toang con đường đi sang Lào. Kể từ khi người ta rút bỏ Lạng Sơn và Cao Bằng, mọi việc kiểm soát sự thông thương giữa khu vực mạnh của đối phương và Trung Quốc đã không còn nữa. Một cuộc rút lui mới xuống đồng bằng có nghĩa là thú nhận sự yếu kém. Salan muốn tranh thủ thời gian và khiến cho đối phương bị bất ngờ khi đặt họ đứng trước một con nhím giận giữ khác thường. Để chặn ngang con đường phía Tây và bảo vệ Lai Châu, Salan đã ném từ trên trời xuống một cứ điểm vững chắc ở Nà Sản.

Thắng lợi của một kế hoạch mà tính táo bạo của nó đã làm cho tôi phải run người lên, lần đầu tiên khi tôi tới thăm cái pháo đài mà Gilles vừa mới nhận quyền chỉ huy, cái pháo đài được xây dựng dựa vào việc tướng Giáp thiếu thốn các phương tiện: hoặc là ông ta không thể kéo pháo binh tới sử dụng ở đó hoặc là việc duy trì ba sư đoàn và các vũ khí nặng ở một khoảng cách rất xa các căn cứ là ngoài khả năng lôgic của ông ta. Tướng Giáp cũng có thể tránh vật chướng ngại, nhưng nếu quay về các căn cứ của ông ta ở Bắc Kỳ để cho mùa mưa qua đi, ông ta có nguy cơ nhìn thấy con nhím ấy nở bung ra, cắt đứt con đường và quấy rối các tuyến giao thông. Theo lôgic tướng Giáp buộc phải tiến đến vật chướng ngại và nhổ bỏ nó đi. Salan tin rằng cuộc tấn công của đối phương sẽ vấp ở đó và do vì không đủ khả năng đảm bảo nhu cầu của năm mươi nghìn chiến binh và dân công để đứng chân tại chỗ, tướng Giáp sẽ rút lui, bị tổn hại mà không thể nuốt trôi một miếng xương quá lớn đối với ông ta. Đòn đánh táo bạo của Salan, tuy nhiên, mang theo một nguy cơ: tướng Giáp có thể đã có bước tiến trong việc chỉ huy các trận đánh; nếu như coi thường các tổn thất, tướng Giáp quyết định tấn công tổng lực thì tham vọng đánh bại quân Việt có thể quay đầu chống lại Salan, biến thành một thất bại thảm hại.

Hai viên tướng đối thủ đã từng gặp nhau trong những cuộc điều đình được móc nối, sáu năm về trước, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào thời kỳ mà Leclerc đã đặt chính phủ Pháp đứng trước ngã ba đường hoặc là huy động quân số để đánh bại cuộc nổi dậy hoặc là thỏa hiệp với nó. Từ đó được chấp nhận rằng Salan, mà người ta gọi là "anh Ba Tầu”, đã có kinh nghiệm về đối thủ trực tiếp và luôn luôn phá vỡ những ý định của họ. Tính cách bí ẩn, một nụ cười thoáng qua đôi khi xuất hiện trên khuôn mặt dầy dạn phong trần của ông, đôi mắt xám rất linh hoạt, trên ngực mang tấm biển bề thế của những cuống huân huy chương mầu sắc rực rỡ chứng minh ông là viên sĩ quan được tặng thưởng nhiều nhất trong quân đội Pháp, gắn liền với vẻ huy hoàng của vị tổng chỉ huy; Salan nổi tiếng về việc hút thuốc phiện để suy nghĩ tìm ra các sáng kiến. Bị ngăn cách với tướng Giáp bởi cả một vùng rộng lớn những khu vực không thể nào thâm nhập được cùng với những bí mật, Salan tựa như đang chơi ván bài pôkơ với ông Giáp. Vào thời kỳ này, khi những bức điện từ Nà Sản đánh tới, người ta nhìn thấy Salan đưa ngón tay khẽ chạm vào một con voi nhỏ bằng ngà, ông ta thường mang theo trong hành trang và đặt trên bàn làm việc.

Nét độc đáo của tình hình chiến sự đã thu hút cả một đám đông những phóng viên quốc tế tên tuổi. Lần đầu tiên trong cuộc đối chọi, hai quân đội có nguy cơ đụng đầu dữ dội trên bãi chiến trường, ở cách xa các thành phố và khối người đông đúc giữa các đồng lúa. Người ta quay lại kiểu chiến tranh cổ điển, quay lại với Jules César(1), với Scipion người châu Phi(2) hoặc với Jugurtha(3), người ta nghĩ tới trận chiến ở Zama, ở đó Annibal(4) khiêu khích quân La Mã. Tướng Giáp đã gửi cho bộ đội của ông ta một bản tuyên bố, trong đó ông ta nói với họ rằng, số phận cuộc chiến tranh tùy thuộc vào lòng dũng cảm của họ, bởi vì, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, ông ta đã quyết định, quả vậy, như Salan đã dự kiến, tấn công Nà Sản. 

Qua hai đợt ông ta bị tổn thất ở đó, có khoảng gần một nghìn tử sĩ trên hàng thép rào gai và nhón năm đầu ngón chân để rút lui, bằng lòng với việc kìm chân đội quân đồn trú bằng một vài tiểu đoàn. Salan thắng lợi nhưng chiến thắng có tính chiến thuật đó không có mảy may ý nghĩa quyết định. Một bộ phận của không quân phải dùng để tiếp tế và chi viện cho trận địa, nếu như người ta duy trì lâu hơn nữa, trận địa đó sẽ phơi mình trước những nguy hiểm của một đợt tấn công mới.

Chính vì Nà Sản vẫn là điểm nhạy cảm của khu vực chiến trường cho nên Navarre cảm thấy phải nhanh chóng tới thăm nơi đó. Trước ngày lên đường sang Đông Dương, ngờ vực rằng mình sắp tiếp nhận một tài sản thừa kế đã nhiễm độc, Navarre đã nói với ngài De Chevigné, Bộ trưởng Chiến tranh rằng: "Việc rút khỏi Nà Sản sẽ là hành động chỉ huy đầu tiên của tôi, và tôi sẽ không lặp lại những trận đánh kiểu như vậy... ". Ngoài ra, Cogny vừa mới khẳng định với ông rằng Nà Sản hiện không còn giúp ích gì nữa. Để đánh giá mọi chuyện bằng một cái nhìn thoải mái hơn, Navarre, thậm chí, không muốn có một thành viên nào của bộ tham mưu xứ Bắc Kỳ đi theo. Với viên phi công hỏi ông muốn bay ở độ cao nào, ông trả lời: "Ở một độ cao mà tôi nhìn thấy được một cái gì đó". Và ông ngồi trong khoang lái của phi hành đoàn để quan sát được tốt hơn.

Trong vùng lân cận Mộc Châu, ở đó các trận địa pháo cao xạ của quân Việt được bố trí, viên phi công không dám hạ độ cao. Một loạt đạn đột nhiên vây xung quanh chiếc Dakota, một loạt đạn khác chạm vào máy bay nhưng không gây thiệt hại gì nghiêm trọng. Máy bay tới Nà Sản và hạ cánh ở đó, hai cánh lỗ chỗ vết đạn.

Navarre được tiếp đón bởi một con người nét mặt buồn bã, khô khan, ngờ vực, với bề ngoài bí ẩn: đại tá Berteil. Berleil đã nhận được mọi văn bằng và các thánh lễ trong quân đội; ông ta đã sử dụng thứ ngôn ngữ chậm rãi và trừu tượng của những chức vụ cao cấp mà ông đang chuẩn bị bước tới. Vẻ bề ngoài không giúp ích cho ông. Đây không phải là con người của chiến trận mà là con người của cơ quan tham mưu. Ông ta suy ngẫm, xây dựng các lý thuyết, có vẻ như nắm giữ được những bí mật ghê gớm, có kinh nghiệm về những tính toán của cấp trên và có một niềm tin mà không một chuyện hài hước nào có thể làm cho suy giảm. Chẳng hạn, ông tin rằng Nà Sản đã có ích. Có lẽ bởi vì ông đã chỉ huy nó kể từ khi tướng Gilles, vốn là linh hồn của Nà Sản, ra đi chăng? Có lẽ bởi vì ông không muốn nghĩ rằng mình chỉ có thể là người đóng vai phụ chăng?

Ông ta dành cho Navarre sự quan tâm đặc biệt và đưa Navarre đi thăm trận địa với một thái độ tôn kính cứng nhắc. Theo bản năng, Navarre cảm thấy ở ông ta một đồng minh. Ông ta không để lộ liễu chuyện này giống như Cogny, ở Cogny người la cảm thấy có quá nhiều cá tính và sự nóng nảy. Vả lại, đối với Berteil, Cogny không phải là một nhà tiên tri. Navarre sẽ nhớ tới Berteil khi cần thiết và sau này đã sử dụng Berteil làm cấp phó cho mình, phụ trách về tác chiến, phối hợp hành động của phòng Nhì và phòng Ba. Thực tế, Berteil nhanh chóng trở thành viên sĩ quan đáng sợ nhất trong đám người vây quanh vị tổng chỉ huy mới. Mặc dù quyết tâm cao độ chấm dứt kế hoạch Nà Sản đến như vậy mà Navarre cũng bị ấn tượng bởi quang cảnh khu trận địa hầm hào, tại đó các tiểu đoàn của tướng Giáp đã kéo tới hít bụi, cũng như bởi sức mạnh, sức khỏe và sự thanh thản mà người ta cảm nhận được ở đó.
_________________________________________
1. Jules César: Một tướng giỏi người La Mã (101 - 44 trước C.N). Thắng lợi trong cuộc chinh phục những người Gaulois, và nhiều trận thắng khác. Trở về làm vua ở La Mã.

2. Scipion I'Africain: tướng giỏi của gia đình Cornélia (235 - 183 trước C.N) - Nhiều trận thắng ở Tây Ban Nha, thắng tướng Annibal của thành phố Carthage (202 trước C.N).

3. Jugurtha (vua xứ Numidie); sinh năm 154 trước C.N, chống lại người La Mã. Bị Marius đánh bại.

4. Anninbal: tướng giỏi của thành phố Carthage (247 - 183). Đã đánh chiếm Tây Ban Nha, miền Nam nước Pháp, vượt qua dãy núi Alpes - Trở về Châu Phi, bị L'Apricain đánh bại.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Tư, 2008, 12:01:58 PM gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #7 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2008, 12:10:01 PM »


Ngày 25 tháng năm 1953


Những nhân vật của tấm thảm kịch, chậm chạp bước tới chỗ ngồi của mình phía sau tấm rèm che kín. Đã bắt đầu lan truyền những tin đồn về Navarre, con người mà người ta quan sát bằng một con mắt phê phán và hơi lo ngại. Người ta nhắc lại việc ông đã tỏ ý ngạc nhiên rằng vùng đồng bằng vốn được đạo quân viễn chinh chiếm đóng vững chắc đến như vậy mà vẫn bị quân Việt quấy rối và rằng khi trao tặng các tấm huân chương, ông đã bất cẩn gắn những huân huy chương ấy lên bộ ngực phải của những con người được đón rước long trọng. Ông đã mở đầu một cuộc họp các sĩ quan với câu nói sau đây: "Thưa các vị, để thắng được cuộc chiến tranh này...", sau đó nhìn thấy có ai đó mỉm cười, ông đã ngừng lời và truy hỏi lý do, cái lý do mà người ta vội vã trí trá. "Thắng được cuộc chiến tranh này", ở đây không một ai nghĩ như vậy và đó cũng không phải là chỉ thị mà Navarre nhận được từ Paris. Rút ra khỏi cuộc chiến tranh đó với ít tổn hại nhất, hình như bên trong đầu óc mọi người, đó là công thức thích hợp nhất để áp dụng trong tình thế hiện tại.

Kể từ khi mối nguy của một thất bại đè nặng, các công ty lớn khai thác hầm mỏ, các nhà máy xi măng, nhà máy sợi, vải, các đồn điền cao su đã chuyển vốn và tài sản dự trữ tới các khu vực khác trên thế giới; tài sản mà nước Pháp còn sở hữu được tại các quốc gia liên hiệp không bằng khoản chi phí cho một năm chiến tranh: Sáu trăm tỉ và một trăm sĩ quan trẻ. Cứ trong ba năm người ta phải hi sinh cả một khóa sĩ quan trường đào tạo Saint Cyr để bảo vệ thế giới phương Tây. Cuộc chiến tranh Đông Dương, kể từ khi bắt đầu đã giết chết 3 viên tướng, 8 đại tá, 18 trung tá, 69 thiếu tá, 341 đại úy, 1.140 trung và thiếu úy, 2.683 hạ sĩ quan và 6.008 binh sĩ Pháp; 12.019 lê dương và người châu Phi, 14.093 lính bản địa. Những con số này không nằm trong số mất tích: hơn 20.000, cũng như những thương binh và bệnh binh phải hồi hương: hơn 100.000. Nếu như nước Mỹ cung cấp những đồng đô la, chính là bằng cách đó, nước Mỹ đã mua dòng máu mà nước Pháp đổ ra thay thế cho Mỹ.

Trong cuộc thập tự chinh nào đây? Người đầu tiên, De Lattre đã tung ra cái từ ngữ đó. Nước Mỹ vì sự sống còn của nó, đấu tranh chống lại nước Nga, có mọi lợi ích để tin vào điều đó Nhưng mà, nếu như điều đó là có thực, tại làm sao trong nước chúng ta lại không có một Pierre l'Ermite(1) mới đứng lên và hô hào trên các bãi công cộng kêu gọi mọi người vũ trang? Tại sao lại có ít những thanh niên đăng ký đi sang Viễn Đông như vậy, và tại sao, thay vì cống hiến những đứa con trai của mình, dân tộc lại đã lựa chọn việc trả tiền cho những kẻ đánh thuê? Ngược lại những người này bước xuống đầy những con tàu, đi bảo vệ một lý tưởng mà bản thân nước pháp cũng không tin tưởng. Những người Pháp duy nhất dám dũng cảm gánh vác lấy công việc đó, đã làm việc vì nghề nghiệp hay vì sở thích. Số lượng nhỏ nhoi của họ làm cho họ phấn khích, hơi ấm của dân tộc quất mạnh vào nhiệt tình của họ, các trung đoàn quân dù trở thành những chủng viện của lòng dũng cảm, của sự quên mình, của sự hi sinh hoàn toàn tự nguyện. "Bạn nên nhớ rằng cái đang chờ đợi bạn đó là cái chết", Bigeard nhắc lại câu nói này với các binh sĩ của mình khi anh xây dựng giáo lý về niềm tin của mình. Ở đấy, người ta không chiến đấu do vì vòng quay tác chiến chỉ định là Đông Dương và người ta coi khinh việc khi trở về mẫu quốc có thể mua được một chiếc xe ô tô: người ta chiến đấu vì nghĩa vụ quân sự và do vì người ta không chấp nhận việc mình bị đánh bại, trên chiến trường cũng như trong cuộc sống. Đối với những con người trong sáng này, vốn đã chọn lấy điều tốt nhất của cuộc sống ở trong chiến trận và biết rằng cái điều tốt nhất ấy dẫn tới cái chết. Thế còn Bảo Đại thì sao? Bảo Đại là công việc của quốc gia. Không phải là công việc của họ. ở trong các trung đoàn quân dù hay là dẫn đầu các đơn vị lê dương cũng những con người ấy, vốn sống cách xa những người mà họ yêu quý từ nhiều năm nay, và mang niềm tin cháy bỏng trong lòng đã tự chất vấn mình. Sau khi độc lập được trao trả cho Việt Nam, họ sẽ ra đi, nhưng mà ngay sau khi một vùng đất được giải phóng, bám gót theo họ, những nhân viên thu thuế kéo tới, thu thập những loại thuế lạc hậu và triều đại các quan lại tiếp tục đè nặng lên dân chúng. Lúc đó, làm thế nào đấu tranh với niềm hy vọng mà chế độ cộng sản huơ lên trước mặt?

Cùng một ý thức về nghĩa vụ đó đã kích động không quân và hải quân. Những sĩ quan không buộc phải phục vụ ở Đông Dương tình nguyện ra đi vì tình bạn. Họ không thể nào tiếp tục uống rượu trên quảng trường Elysés(2) trong khi các bạn bè đang ngã xuống. Một lớp người ưu tú mà người ta không yêu cầu đạt tới một mục tiêu đáng phấn khởi đã chuộc lại lỗi lầm về thái độ lãnh đạm của một dân tộc vốn chẳng hiểu gì về cuộc chiến tranh này và nghi ngờ rằng các chính phủ của mình bảo vệ những lợi ích mờ ám ở đó.

Chuyện gì đang diễn ra ở Đông Dương, quả thật, có ai biết đến chăng và nếu như biết, có ai dám nói lên chăng? Chưa một tờ báo nào dám công bố rằng tướng Salan đã cắm vào trong mỗi căn cứ và gần như trong mỗi đồn bốt một nhóm vô lại là những nhân viên mật thám, chúng tra tấn và hành động tùy thích, chúng chỉ chịu sự chỉ huy của những cơ quan trực thuộc một hội đồng, hội đồng này lại giả bộ không biết đến chúng. Không một linh mục nào dám đứng trên bục giảng, bác bỏ cuộc chiến tranh mà người ta tiến hành đối với một đất nước bị giai cấp phong kiến và những kẻ xâm lược áp bức từ nhiều thế kỷ nay và tuyên bố rằng nghĩa vụ đích thực của nước Pháp là chiếm được cái đế chế rộng lớn nhất trên thế giới: trái tim của mọi người. Ấy vậy mà, ngoại trừ những người thấy có lợi ích khi cộng tác với chúng ta, dù cho sau đó lại phản bội, hoặc là khiếp sợ thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản, còn thì đàn ông và đàn bà ở Việt Nam không đứng về phía chúng ta. Trong chuyến du hành thu thập thông tin, ngài Aldai Stevenson đã lấy làm ngạc nhiên về việc, trái ngược với những người Triều Tiên, không một ai mỉm cười khi ông ta đi qua và ông đã tự hỏi, làm thế nào những người lính đánh thuê của đạo quân viễn chinh lại có thể đòi hỏi ý nghĩa trong một cuộc chiến tranh chống lại Việt Minh mà lại là vì nước Việt Nam. Một người Mỹ khác, David Schoenbrun, nhà báo nổi tiếng không có dấu hiệu gì là bài Pháp, đã tố cáo tội lỗi cố hữu của thời đại thuộc địa: những cái quyền bất khả xâm phạm ấy mà nước Pháp vốn quên một những bài học của cuộc CÁCH MẠNG(3) của mình, đã không tôn trọng và như vậy vi phạm đến nền tự do của nước Việt Nam, trong khi nước Pháp chỉ có ở đó những lợi ích vật chất. Việc che giấu để duy trì những căn cứ chiến lược của cuộc thập tự chinh tạo ra một trạng thái mập mờ rất lớn. Những người ưu tú không hiểu được tại sao giới trí thức lại không ủng hộ họ và cho rằng mình bị phản bội. Mặc dầu không biết đến điều đó, bây giờ không phải là họ đi theo César mà là đi theo Ponce Pilate(4).

Navarre biết tất cả những vấn đề đó nhưng phải nói rằng, những vấn đề đó còn lâu mới làm cho ông phải phiền muộn, việc tiếp xúc với thực tế đã hướng ông tới một thái độ lạc quan nào đó. Khi trở về Hà Nội, ông bổ sung đầy đủ kíp của mình và phát hiện ra một viên chánh văn phòng, đại tá Revol, trước đây là cấp phó cho tướng Gilles, ở Nà Sản. Đây là một con người điềm tĩnh, có chiếc mũi dài, mảng đầu hói và đôi mắt hiền từ, tạo ra vẻ bề ngoài tốt bụng nhưng giả tạo của một con chó săn tài giỏi. Sinh ra với thiên hướng về châu Phi, ông ta không thấy thoải mái ở Đông Dương. Ngược lại tư tưởng không thủ cựu tinh tế và danh hiệu của ông là nguyên giáo sư về khoa sử dụng vũ khí trong trường Saint Cyr làm cho Navarre hài lòng, Navarre vốn đang tìm cách gắn bó với những con người độc đáo và thậm chí có những ý tưởng trái ngược với mình.

Tại sao Salan lại không đưa ra cho người kế nhiệm mình bản chỉ thị của chính phủ ngày 24 tháng 4 năm 1953 trong đó căn dặn ông nên ưu tiên cho việc mất đất hơn là những trận đánh uy hiếp sự an toàn của đạo quân viễn chinh? Nếu như đó là tài liệu quan trọng, thì vị tổng chỉ huy phải luôn luôn ghi nhớ trong đầu và nếu như tài liệu đó tuy không hướng dẫn cụ thể việc tác chiến nhưng lại đã nêu rất rõ những mối nguy hiểm không được phạm phải dù cho vì bất cứ lý do gì. Phải chăng Salan không dám thú nhận là mình đã bị bãi nhiệm hay là ông ta tưởng rằng Navarre đã được chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, người bổ nhiệm ông ta vào chức vụ mới, cho biết tinh thần của bản chỉ thị đó. Ngài René Mayer đã có cử chỉ ngần ngại vô bổ khi né tránh không đưa cho tướng Navarre đọc bản đánh giá của chính phủ về một số trận đánh mà người tiền nhiệm Navarre tiến hành trên vùng thượng du. Lẽ ra ông ta đã có thể giúp cho Navarre nhìn nhận dưới một khung cảnh khác cái trận địa hầm hào Nà Sản vốn đã mang nhiều dáng dấp của Điện Biên Phủ. Liệu Salan, trong những cuộc trao đổi ngắn ngủi giữa hai người, có thổ lộ cho Navarre biết những nguy cơ tồn tại khi lặp lại kinh nghiệm của Nà Sản, hoặc cho rằng Navarre có khả năng tự phân biệt được sự khôn ngoan nằm ở chỗ nào cho nên Salan đã không nhắc nhở Navarre nên phản đối chiến lược "những con nhím"? Liệu ông ta có nhấn mạnh đến khả năng thích ứng của tướng Giáp khi ông ta biết rằng Navarre có ý định bảo vệ hướng tây bắc bằng việc bổ sung Điện Biên Phủ thêm vào hai căn cứ Lai Châu và Nà Sản trong một hệ thống mà người ta đã mệnh danh là quần đảo Salan, bởi lẽ từ một năm trời nay, Salan đã mơ ước đánh chiếm Điện Biên Phủ? Đối với Salan quả là một việc thú vị khi để mặc cho một đối thủ là Navarre đem mạo hiểm ở nơi đó những ngôi sao ngây thơ mà bản thân mình thì chẳng gãp nguy hiểm gì...
_______________________________________
1. Pierre l'Ermite: Nhà tôn giáo sinh ở Amiens (Pháp) (1050-1115) - Người tích cực kêu gọi và tham gia cuộc Thập tự chinh thứ nhất - N.D.

2. Elysés: lâu đài nổi tiếng ở góc phố Saint Hononé và phố Marigny xây dựng năm 1718. là dinh tổng thống Cộng hòa Pháp từ năm 1873 - N.D.

3. Ý nói của cách mạng Tư sản ở Pháp 1789.

4. Ponce Pilate: Toàn quyền của người La Mã ở Judée. Do sợ bị nổi loạn đã giao chúa Jésus cho các quan tòa tôn giáo, nhưng không cho là mình có lỗi, mà cho là những người Do Thái phải chịu trách nhiệm về việc đó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #8 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2008, 12:13:19 PM »

Ngày 16 tháng sáu 1953


Kế hoạch Navarre là cái gì đây? Không có gì khác ngoài cái mà vị tổng chỉ huy trình bày với các viên tư lệnh các vùng đất, được ông triệu tập tới Sài Gòn, ba tuần lễ sau khi ông tới đó ông đã lần lượt tới thăm họ ở ngay sở chỉ huy của họ trong cái mùa thời tiết đã biến bầu không khí thành một lò lửa. Ông đã lắng nghe họ nói. Ông đã ghi chép vào sổ tay. Ông đã đi ra thực địa. Ông đã kiểm tra các đơn vị của đạo quân viễn chinh, các đồn bốt độc lập, các tiểu đoàn của quân đội Việt Nam. Ông đã nghe thấy tiếng đại bác nổ trong đêm khuya. Ông đã nhìn thấy xác chết của đối phương trên hàng rào thép gai, nhìn thấy những người nông dân cầy ruộng đi sau con trâu của họ, gập đôi người trên đoạn tay cầy hoặc lon ton bước đi trên đường cái, chiếc đòn gánh kĩu kịt trên hai vai. Ông đã điểm lại quân số, bố trí họ trên các tấm bản đồ, cân nhắc đi cân nhắc lại bài toán trong dầu. Ông đã tìm cách quên đi tất cả những gì đã học hỏi được ở châu Âu. Chưa một lúc nào ông có tham vọng đối với cái cương vị mà lời gợi ý của ngài René Mayer và vận mệnh của quân đội mang tới cho ông và không một ai có thể ngờ vực là ông làm việc để giành lấy thêm một ngôi sao, bởi lẽ Navarre là một con người trung thực. Được cảnh báo về những khả năng của con người, thậm chí ông biết rằng ông phải đề phòng đối với các tùy tùng của mình nhiều hơn là đối với đối phương. Tất cả đều phải thúc ép và ông cũng phải tự thúc ép mình giành chiến thắng. Cho đến tận lúc này, ông chưa hề có một quyết định nào. Có những quyết định được đề ra nhưng chưa bao giờ được lựa chọn ở cương vị này, và không phải là ông không biết rằng sẽ có những người phải chết vô ích khi các viên tướng mắc sai lầm. Nhưng mà giờ đây khi ông đã nhận nhiệm vụ chỉ huy, việc này không phải do mánh khóe cầu xin gì, thì ông sẽ chỉ huy.

Như vậy là ngày 16 tháng sáu, ông trình bày rằng bản thân ông, Navarre, sẽ giải quyết bài toán như thế nào. Trước hết, trong chiến dịch sắp tới, người ta sẽ giữ mức hạn chế thận trọng, cốt để khôi phục lại đạo quân viễn chinh, trả lại tinh thần và sức sống cho đạo quân đó. Việc cần làm là tránh chạm trán quyết liệt với đại bộ phận quân đối phương. Những nguy cơ lớn nhất nằm ở miền Bắc, nhưng vùng đất này nằm chắc chắn trong tay các đơn vị có năng lực; ở đó người ta sẽ tiếp tục cái mà người ta dè dặt gọi là "công cuộc bình định". Và người ta sẽ ngăn ngừa trước những hành động tấn công của đối phương bằng cách đập tan chúng trước khi chúng kịp nổ ra. Miền Nam có nguy cơ sụp đổ nếu như các mối đe dọa hiện ra ở đó được đẩy lên khẩn trương hơn. Nhờ vào một vành đai bao vây thực hiện ở phía bắc vĩ tuyến 18, một cuộc tấn công tương đối dễ dàng sẽ thanh toán các đơn vị thuộc quân khu 5 của Việt Minh, bị ngăn cách với xứ Bắc Kỳ bởi một dãy núi hình thành một đường giới tuyến tự nhiên. Cuộc tấn công này sẽ mang tên Atlante. Ngược lại, trong chiến dịch tiếp sau đó, người ta sẽ tìm kiếm mục tiêu đối chọi. Trước tiên, người ta sẽ tấn công vào các kho lúa gạo, các vùng dự trữ nhân lực và cuối cùng là bản thân khối chủ lực của đối phương để tiêu diệt nó. Ý tưởng này được tướng Salan để lại cho ông thừa kế cùng với Điện Biên Phủ, trở thành nền tảng của kế hoạch.

Còn về phần quân đội ngụy Việt Nam, Navarre đã lưu ý đến câu nói nhàm chán mà người ta lải nhải trước mặt ông để che giấu tình trạng bất tài của lớp sĩ quan và sự thờ ơ của binh sĩ: quân ngụy Việt Nam sẽ khôi phục mạnh mẽ các đơn vị chiếm đóng chính quy và sẽ cho phép chúng ta tăng cường khả năng tấn công. Đây chính là bản Kinh Thánh của nhà vua Jean(1). Nhưng mà nhà vua Jean thì đã chết rồi và Navarre không lầm lẫn đối với bảng cân đối cụ thể của những con số. Nếu như quân ngụy Việt Nam hiên ngang bước đi trong các cuộc diễu binh thì đối với chuyện đánh nhau họ chẳng thích thú gì. Người ta hiểu được đội quân ấy: khác với Việt Minh, đội quân đó không biết được tại sao, bởi lẽ họ biết quá rõ là vì ai, mà người ta muốn họ chiến đấu.

Đó là những nét lớn trong chiến lược của Navarre. Chúng mang dấu ấn của một kỵ binh: dựa vào việc phòng ngự để hồi phục sức khỏe về thể chất và tinh thần cho đạo quân viễn chinh, sau đó sẽ áp dụng một tinh thần tiến công, dồn ép đối phương để ngăn cản đối phương tổ chức hành động tổng lực của các sư đoàn và tiêu diệt đối phương ở nơi nào mà không có ưu thế về quân số. "Người ta chỉ có thể chiến thắng bằng cách tấn công" đó là chủ đề của lá thư thứ nhất ông gửi cho đạo quân viễn chinh.

- Thưa các vị, các vị có ý kiến phản bác gì không?

Cogny có ý kiến. Tình hình bế tắc trên vùng đồng bằng làm cho ông sợ hãi. Ông cho rằng hệ thống bố trí tĩnh của ông có nguy cơ bị quân đối phương tràn qua một khi xảy ra cuộc tấn công tổng lực. Ông cũng lo ngại việc tổng chỉ huy sẽ rút khỏi vùng đất của ông những binh đoàn cơ động để sử dụng cho cuộc hành binh Atlante, sắp ngốn mất nhiều quân số. Khi ở Bắc Kỳ, Cogny đã trình bày tình hình với tổng chỉ huy cũng với những tấm bản đồ, những bảng thống kê và cũng những ý tưởng đã phục vụ cho việc thuyết trình với thống chế Juin, bốn tháng trước đây. Để cho tổng chỉ huy hiểu rõ tình hình, thậm chí Cogny đã dùng một giọng nói nhỏ nhẹ gần như dịu dàng tỏ rõ một thái độ tôn kính quá mức, những dấu hiệu của tình cảm đó, Navarre đã tiếp nhận với một lòng khoan dung và hơi buồn cười. Điều mà Cogny muốn thật đơn giản, sáng suốt và đúng đắn: trên vùng thượng du, né tránh những trận đánh không nắm chắc phần thắng và chỉ tung vào đó những đơn vị biệt kích hoặc những đơn vị chính quy gọn nhẹ, có thể luồn lách được. ở vùng đồng bằng, nơi tình trạng thối ruỗng đang lan rộng, duy trì một tư thế tấn công thường trực chống lại quân đối phương đang thâm nhập, cuối cùng tung ra những đòn đánh thường xuyên và ầm ĩ ở những vùng ven để làm rối loạn hệ thống tiếp tế hoặc làm lung lay việc đứng chân của các sư đoàn Việt Minh.

Navare đảm bảo sẽ làm như vậy. Thống chế Juin đã nhắc ông về chuyện đó. Vì vậy ông cố gắng phá vỡ những đòn đánh của đối phương trước khi chúng diễn ra. Ông đã bật đèn xanh cho Cogny một loạt những hành động theo kiểu đó.

Tất cả những chuyện đó toát lên sức khoẻ, sự sáng suốt, trạng thái thăng bằng. Người ta chỉ có thể thảo luận về thời cơ và hiệu quả của trận tấn công mà Navare muốn chơi sang ở phía nam vĩ tuyến 18, nhưng người ta vỗ tay khi ông bộc lộ ý định sâu xa của mình: "Mục tiêu số một của tôi là xóa bỏ các thói quen. Đạo quân viễn chinh thiếu ý chí tiến công và tính cơ động. Tôi sẽ gắng sức để trả lại cho nó những đức tính đó". Cuộc tiến công này không có vẻ gì là đưa ông tiến thật xa và nó có thể giúp ông lay chuyển cái trạng thái vô cảm đang lan rộng. Một mình chịu trách nhiệm, ông là vị quan toà duy nhất. Điều tốt và rõ ràng, đó là việc ông quyết định và tuyên bố rằng trong chiến dịch sắp mở màn, ông sẽ né tránh trận đánh tổng lực.
_________________________________________
1. Bí danh của thống chế De Lattre de Tassigny. N.D.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #9 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2008, 05:20:48 PM »


Ngày 24 tháng bảy 1953


Cho mãi đến tận lúc này, riêng chỉ có Việt Minh là biết cách xây dựng các kế hoạch và thực hiện những kế hoạch ấy- Navarre bỏ ngoài tai những lời bàn tán ầm ỹ xung quanh kế hoạch của ông ta. "Chiến thắng sẽ đến nếu người ta thúc đẩy nó, sau khi đã loại bỏ mọi chướng ngại vật cản đường". Ông đã nói như vậy.

Sáng sủa, điềm đạm, khuôn mặt như rạng rỡ lên từ một vầng sáng nội tại, nảy sinh từ trận thắng ở Lạng Sơn, những bức điện khẩn của các phái viên đặc biệt về trận thắng này hãy còn đang rung lên, tướng Navarre trình bày một cách thoải mái, bằng một giọng nói tự tin và rành mạch, ở điện Elysés, bản kế hoạch mang tên mình nhưng sự thực phải nói ông là đồng tác giả cùng với Salan. Cử toạ thật đáng nể? Tổng thống, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tám bộ trưởng, bốn quốc vụ khanh, một thống chế của nước Pháp và bốn vị tham mưu trưởng các quân chủng. Phải chăng Cogny nhờ vào cuộc thử nghiệm vừa ghi được ở Lạng Sơn, cùng với những tiếng vỗ tay hoan hô đã nâng Navarre lên bệ tượng đài? Sẽ là hiểu sai lệch không khí của những cuộc họp chính trị ấy, trong đó mỗi người chăm chú đề phòng những người ngồi bên cạnh mình và bảo vệ lợi ích của bộ mình, của khu vực mình. Chiến thắng non trẻ của Navarre ngược lại, có vẻ như phục vụ cho mục đích của mỗi người, bởi lẽ nó cung cấp dẫn chứng là người ta có thể giành được bước tiến chỉ với những phương tiện mà Navarre hiện có.

Bị chảy máu, phải đương đầu với những vấn đề của thời hậu chiến và những khoản đầu tư cho các chương trình xây dựng và tổ chức, đất nước tiếp tục mong muốn chấm dứt cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng mới không hề giấu giếm rằng chính phủ có ý định bắt tay vào cuộc thương thảo với đối phương ngay sau khi hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký kết. Vấn đề sự chi viện của Trung Quốc không có vẻ gì là được chính Navarre xem xét ngay trong phần đầu của bản tường trình, với giả thuyết là nó không gia tăng, lại đã khơi gợi ra được nhiều ý kiến phản bác. Trung Quốc chỉ có thể thay đổi trong một thời gian dài, những kế hoạch đòi hỏi nỗ lực của nhiều triệu con người.

Trả lời ý định của ông muốn xây dựng một căn cứ không - lục quân ở Điện Biên Phủ để bảo vệ nước Lào, vấn đề phòng thủ mảnh đất này được đặt ra và không được giải quyết Từ đó Navarre kết luận rằng người ta để cho ông con bài trắng. Thực tế, nếu như các viên tham mưu trưởng đã góp ý với chính phủ là không nên bắt buộc Navarre phải bảo vệ nước Lào, tuy nhiên chính phủ lại cũng không dám xóa bỏ cho ông nhiệm vụ đó. Người ta không thể nào "nói ra hay ghi thành văn bản là chúng ta sẽ không bảo vệ nước Lào". Câu nói này là của vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng. Trong trường hợp câu chuyện bị rò rỉ, phải chăng người ta sẽ làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với các quốc gia liên hiệp? Nhất là, liệu người ta có thể đề ra quyết định đó từ Paris chăng? Nói ngắn gọn, Uỷ ban Quốc phòng chui ngay vào một đám mây mỗi khi có việc đề ra một chỉ thị cụ thể cho viên tổng chỉ huy. Nước Lào ư? Cần phải bảo vệ nó mà như không bảo vệ nó, lại vừa vẫn bảo vệ nó. Không được nói rằng người ta sẽ không bảo vệ nó và phải làm ra vẻ như người ta bảo vệ nó mà vẫn không có bất kỳ điều gì mạo hiểm khi ta bảo vệ nó. Còn về phần vị bộ trưởng tài chính, ông ta tuyên bố phản đối mọi việc làm rỗng ruột kho bạc của ông ta, không một xu cho kế hoạch Navarre.

Tướng Corniglion- Molinier, bộ trưởng không bộ phát biểu với cách nói hùng hồn và gay gắt vốn có. Sức mạnh của Corniglion nằm ở tính hài hước của ông, bởi lẽ đó là một con người rất tốt bụng. Là phi công, ông đã từng hạ cánh ở Điện Biên Phủ vào năm 1946 cùng với Leclerc.

- Điện Biên Phủ ư? Ông kêu to lên như vậy trước mặt cử tọa cao cấp lúc đầu vui thích rồi sau sửng sốt.

- Các vị cứ tưởng tượng ra một sân bay ở giữa quảng trường Mars trong khi kẻ địch chiếm giữ quả đồi Chaillot(1). Hơn nữa, với một cự ly như vậy, cách xa Hà Nội và Hải Phòng, thì các máy bay chỉ có mỗi việc là bay lên và bay về.

Tướng Navarre đáp lại rằng đây là một quan điểm của phi công không phù hợp với ý kiến riêng của ông về tình thế hiện tại, tuy nhiên nỗi ngờ vực đã nhen nhóm. Ngoài ra, trong khi vẫn thừa nhận rằng ông phải tiến hành một trận đánh rất ác liệt tướng Navarre đã thẳng thắn mà nói rằng trận đánh đó có thể gặp phải những thất bại nặng nề.

Để kết luận, Uỷ ban Quốc phòng hết lời tán dương bản kế hoạch, tuy nhiên yêu cầu Navarre áp dụng kế hoạch tuỳ theo khả năng của ông và đề ra những kiến nghị tiết kiệm hơn trong một thời hạn khá gần.

Về sau Navarre nhiều lần nói rằng biên bản cuộc họp này không hề được thông báo cho ông và không phải là ông không biết rằng ngài René Mayer chỉ yêu cầu có mỗi một chuyện: tìm ra một lối thoát trong danh dự và rằng lập trường của ngài Joseph Laniel dù cho có vẻ hết sức nước đôi trước con mắt của ông và rất khó thay đổi, cũng chẳng khác chút nào.

Không một ai nhấn mạnh để giúp cho vị tổng chỉ huy và viên quốc vụ khanh về quan hệ với các quốc gia liên hiệp tìm ra được một giải pháp đúng. Vị bộ trưởng quốc phòng, ngài René Pléven, phản đối việc đẩy mạnh cố gắng về quân sự nếu như chính phủ thuộc địa Việt Nam vẫn không quyết định xây dựng được một quân đội đích thực và ông yêu cầu rằng một nhiệm vụ rõ ràng phải được xác định cho tướng Navarre, việc này đã không được tiến hành. Đó chính là điều mà ngài Laniel coi như những chỉ thị cụ thể nhất mà một chính phủ có thể đưa ra cho một viên tướng chỉ huy. Thốt ra từ cửa miệng của ngài Laniel, câu nói thật có duyên. Ngài Laniel là một người thợ dệt thật thà của vùng Calvados(2), được ông bố thúc đẩy bước vào con đường hoạt động chính trị và trở thành bộ trưởng nhờ vào trò chơi của tình bạn và những công việc giúp ích cho người khác. Ở cái tuổi sáu mươi tư, các biến cố đã đưa ông trở thành một chủ tịch hội đồng bộ trưởng cũng như chẳng bao lâu sau đưa ngài Coty trở thành tổng thống nước cộng hòa, người này cũng như người kia đều là những mẫu số chung nhỏ nhất của các đảng chính trị.

Ngài Laniel không phải là một ai đó, cũng không phải là một vật gì đó, mà là một con số không. Nội các của ông được cấu tạo, cũng như các bài diễn văn của ông nhờ vào những cái kéo cắt và lọ hồ dán. Ở điện Matignon, người ta không gọi ông là "Chủ tịch" cũng chẳng gọi là "Ông chủ” mà là "Cái ông Joseph khốn khổ".
________________________________________
1. Đồi Chaillot: Tòa nhà xây trên đồi Passy năm 1878, nhân cuộc triển lãm năm đó. Xây lại năm 1937. – N.D.

2. Calvados: một vùng của xứ Normandie (Tây Bắc nước Pháp). Một vùng công nghiệp giàu có. – N.D.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM