Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Tư, 2014, 08:45:04 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai  (Đọc 104710 lần)
china và 1 Khách đang xem chủ đề.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #160 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 01:14:21 PM »

Hi, ở đâu đó mình đã post đoạn video về cơ cấu AK.

Mình đã nói chuyên về "thời kỳ hy sinh toàn diện" của các nhà thiết kế súng Nga, khi xã hội suy đồi chỉ chăm chăm mua súng nước ngoài, thậm chí cả khẩu Mosin danh tiếng cũng bị bán các hợp đổng sản xuất ra nước ngoài. Trong thời kỳ đó, các nhà thiết kế súng phải nỗ lực hết mình mà hầu như không được để ý từ chính quyền, quân đội và các nhà công nghiệp. Trong nố lực đó, các nhà thiết kế súng Nga đã vượt lên hàng đầu thế giới cả về nguyên lý chiến đấu và cơ cấu máy súng. Họ đi trước thời đại tròn nửa thế kỷ.

Chính trong hoàn cảnh đó, các nhà thiết kế súng Nga đã gắn bó trong một nhóm giao lưu, có lớp trước lớp sau và tất cả đều đứng về phía Cách Mạng. Fedorov và Degtriarev cùng về Korvov và cùng nhau xây dựng nhà máy súng máy đầu tiên ở Nga và là nháy sản xuất súng máy bộ binh chủ yếu của Liên Xô nhiều năm sau đó. Năm 1918, trong một cuộc bầu cử dân chủ, hai ông trở thành lãnh đạo một xưởng vũ khí lúc đó còn không có tên tuổi. Ngày nay, đây là nhà máy lớn nhất ở Nga, sản xuất từ AT-14 Konhet, Inga SAM, súng máy cho bộ binh, súng trên máy bay và súng bắn dưới nước, có gần 10 vạn nhân viên, cũng là một hãng cơ khí-chế tạo máy hàng đầu thế giới. Phần quan trọng không kém, nơi đây là cái nôi hàng đầu đào tạo cấc nhà thiết kế súng bộ binh Liên Xô

Nhày máy được xây dựng khoảng năm 1917-1918. Trong những ngày đầu tiên, nhà máy sản xuất súng tự động Fedorov.

Phiên bản súng trường Fedorov, nhưng dùng đạn Mosin do bị cấm vận, và từ nó nó là trung liên, cũng thêm một vài cải tiến dùng đạn 6,5mm của súng này xuất hiện, nhưng kế hoạch sản xuất đạn mới bị loại do quá khó khăn. Khẩu súng có tên "súng máy xách tay của Fedorov", trong khoa học quân sự Nga, súng máy xách tay tức là trung liên. Khẩu súng có một vài cải tiến.

Tuy nhiên, phát minh quan trọng nhất lúc đó là kiểu khóa nòng Degtriarev . Kiểu súng trường tấn công và súng trường tự động áp dụng kiểu khóa nòng này là "ПУЛЕМЁТ РУЧНОЙ ФЁДОРОВА-ДЕГТЯРЁВА", Kiểu súng trường tự động này là kiểu súng đầu tiên áp dụng mẫu khóa nòng Degtriarev. Súng có phương thức quân sự và dáng vẻ bề ngoài giữ truyền thống Fedorov.

Detriarev là người cộng sự cho Fedorov từ năm 1908, trước đó, cùng làm việc với Fedorov, ông hưởng sự chỉ dẫn của nhà khoa học cơ bản Nikolai M. Filatov , người tham gia tính toán cùng Fedorov. Năm 1916, cùng khẩu Fedorov, Detriarep cũng trình bầy khẩu súng gần giống, nhưng có khóa nòng kiểu của ông. Khẩu súng không được hội đồng sún trường chú ý.

Chính quyền Cách Mạng đặc biệt quan tâm ngay lập tức đến ba mấu súng tự động Tokarev, Fedorov, và Degtriarev, đó là những súng đầu tiên được sản xuất ở nhà máy súng đạn đầu tiên, cũng là những súng đầu tiên dược quan tâm phát triển. Ngoài ra, phiên bản nữa là súng trường tự động Tokarev không được sản xuất ở nhà máy này (chung số phận bị Nga Hoàng xếp xó hơn chục năm trời), nhưng Tokarev cũng trở thành một trong những nhà thiết kế súng sáng chói nhất Liên Xô.

Дегтярев Василий Алексеевич, Vasily Alecksyevich Detriarov súng ra trong một gia đình truyền thống lại xưởng vũ khí lâu đời Nga Tula năm 1880. Năm 11 tuổi, bất chấp gia đình, ông bỏ học và đi làm thợ trong xưởng đó, đó cũng là năm mà súng trường Mosin ra đời và chế thử nghiêm tại đây. Năm 1901, ông đi lính và dần trở thành người lích nổi tiếng vì tài hiểu biết về vũ khí. Filatov chú ý đến ông và từ đó, Detriarov DP ra đời từng bước hơn 20 năm sau.


Như vậy, khẩu súng đầu tiên mà Detriarov  thiết kế mang kiểu khóa nòng mới không phải là khẩu trung liên DP, mà là khẩu súng trường tấn công. Sau này, khi đạn 6,5 mm không còn, thì nó là một trung liên, đồng thời, khóa nòng Degtriarov thay dần máy lùi. Lúc đó, xã hội rất lộn xộn và đến khi hết chiến tranh 1922, thì Liên Xô cũng rệu rã ốm đói, không có những kế hoạch phát triển lớn. Cuối thập niên 1920, DP trở thành khẩu súng đầu tiên được chấp nhận phục vụ chính thức dưới thời Liên Xô. Tuy nhiên, kể từ 1918-1922, súng đã được sản xuất khá nhiều, lúc đó không có khái niệm thử nghiệm, mà khẩu nào sản xuất ra cũng lên đường ra mặt trận ngay, người ta khó mà sổ sách được đâu trong chúng là súng trường tấn công, súng trường tự động, hay trung liên, đâu của Fedorov, đâu của Detriarov....


Có thể kể đến một số mẫu súng được sản xuất ở Kovrov thòi gian đó

SÚng máy cho máy bay kiểu 1922 Fedorov-Detriarov, ПУЛЕМЁТ АВИАЦИОННЫЙ ФЁДОРОВА-ДЕГТЯРЁВА, ОПЫТНЫЙ ОБРАЗЕЦ 1925 г. bắn đạn 6,5mm hai nòng. Kiểu 1925 gần giống, cũng đạn 6,5mm hai nòng.

Trung liên kiểu 1921 Fedorov-Detriarov, làm mát nước. Cũng bắn đạn 6,5mm. ПУЛЕМЁТ РУЧНОЙ ФЁДОРОВА-ДЕГТЯРЁВА, ОПЫТНЫЙ ОБРАЗЕЦ 1921 г. Kiểu 1922 có cả làm mát nước và không.

Trung liên hai cỡ đạn kiểu 1922 Fedorov-Shpagin, hai nòng, hai hộp băng song song cắm bên trên. Đây là một biểu hiện khó khăn về đạn lúc đó. Liên Xô lưỡng lự giữa việc tổ chức sản xuất một đạn mới rất tốn kém-đạn không gờ móc, trong điều kiện khó khăn, và việc nữa là bỏ hẳn loại đạn này.



Súng trung liên 6,5mm kiểu 1921


Tung liên 6,5mm kiểu 1922


Súng máy bay 6,5mm kiểu 1922


6,5 mm máy bay kiểu 1925


Trung liên hai cỡ đạn Fedorov-Degtriarev kiểu 1922

« Sửa lần cuối: 25 Tháng Hai, 2009, 07:38:14 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #161 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 01:20:04 PM »

Khẩu súng trường tẫn công đầu tiên trên thế giới có một anh em mang khóa nòng Degtrairov, cũng không ai biết đến, và nó biến thành trung liên vì đói như trên. Ngoài ra, Fedorov Avtomat còn được dùng trên xe tăng, máy bay...

Từ năm 1942-1943, КАЛАШНИКОВА đã thiết kế hai mẫu súng, một alf trung liên, hai là súng ngắn. Khẩu trung kiên RPA năm 1943 rất giống dáng vẻ bề ngoài của DP, nhưng dùng khóa nòng mới. Một vogf tròn của súng trường tấn công như vậy

Trung liên Kalasnikov



Còn đây là khẩu súng ngắn bắn nhanh cùng tác giả, ông vẽ trên giường bệnh năm 1942.



Đây là những khẩu liền trước của AK-46.

Từ AK-46 tiến lên AK-47, AK đã nhập một đặc điểm rất đặc biệt của AS-44. Đặc điểm đó thật ra không phải có một không hai, nhiều khẩu súng đã có. Nhưng kẻ thù của đặc điểm đó là những nhà lái buôn súng đạn, nên trong các quảng cáo ở phương Tây người ta im đi.

Đó là, thiết kế nhão, với khoảng các cách chi tiết lớn. Kiểu thiết kế này làm khẩu súng nhão dão, lắc long sòng xọc và không hiện đại tí nào. Nó làm giảm ma sát, chấp nhận ngững bụi bẩn lớn. Nhưng nó tạo thuận lợi cho kỹ thuật thấp chế súng, làm mất độc quyền của các ông lớn, vậy nên FSA M1916, M16, FSA M1917... ghét cay ghét đắng dặc tính này và suốt đời dặt dẹo.

Mondragon sử dụng 6 tai trước và 6 tai sau vì độ chính xác gia công hồi đấy quá tệ (khóa nòng mài giũa tay), lại không có điều kiện gia công phay hay tện móc số lượng lớn. 12 tai của ông như là các bộ phận thay thế nhau.

M1916 được làm trong quân xưởng nhà nước, cấc quân xưởng này có từ thời Nã Phá Luân, nhưng gia cônt và thiết bị bán cho chúng thì không nhà nước, vậy nên mới sử dụng thiết kế kín khít, không những hay tắc mà gây chong mỏi vật liệu.

Rõ hơn là M1916, nó bớt bỏ nhiều thứ cho rẻ, đến cả cò và hãm phát một cũng gắn liền. Thế nhưng cái nó cố giữ là hộp khóa nòng, khóa nòng trụ và rãnh xet ren cắt, chỉ có thể gia công trên các máy đắt tiền hồi đó.

Tư tưởng thiết kế như vậy đã làm súng trường Pháp chết ngỏm, nước Pháp đánh đâu thua đấy, rất giống nước Mỹ ngày nay. Đến năm 1949, sau 30 năm phát triển, khẩu súng trường tự động M.A.S. 49 mới được chấp nhận.

Ở đây, ta đáng nói về Degtriarev và DP, vậy liên quan gì đến MAS 49 ??

Liên quan nhiều chứ, khóa nòng của ông được áp dụng khắp nơi. Kiểu nguyên thủy có hai ngạnh xòe ra chống vào hai bên thành hộp khóa nòng (vỏ máy súng, reciver). Kiểu này có thể có loại không có búa, mà dùng ngay bệ khóa nòng làm búa. Một cải tiến nữa là không cần ngạnh nữa, mà chính khóa nòng nghiêng đi làm một ngạnh duy nhất. Vì ít bộ phận, ít chuỷen động rắc rối (ví dụ, khóa nòng không quay), nên kiểu súng này bền, tin cậy.

Không những kết cấu đơn giản, mà các kiểu khóa nòng này còn tận dụng được nhiều vật liệu như gang cầu, hay thép đen... rồi những công nghệ đơn giản, như mài rèn. Tỷ lệ vật liệu tốt và công nghệ cao ít. Không phải tự nhiên mà DP là loại súng máy đầu tiên của Hồng Quân. Các bạn có thể hình dung ra, một khẩu súng nào dùng khóa nòng như vậy, không có búa rời, hoàn toàn làm được từ thép đen và gang, trừ cái nòng khoan, trích khí, lỗ kim hỏa.. thì toàn bộ khóa nòng, bệ khóa nòng và vỏ hộp khóa nòng... đều có thể được thiết kế để chỉ dùng mài giũa tán đinh mà gia công lên, điều lý tưởng cho các cuộc khởi nghĩa khốn khó. Không ít mẫu súng đầu tiên có dáng vẻ khốn khó như vậy.

Đến những loại súng hiện đại hơn dùng kiểu ngạnh này, cũng chỉ tốn một ít hợp kim tốt ở dạng hai ngạnh. Còn dạng một ngạnh thì vẫn dùng khóa nòng gang cầu thoải mái, bất cứ người thợ lành nghề nào cũng có thể cưa một đoạn ray tầu hỏa và mài ra một cái kóa nòng chưa tính lỗ kim hỏa.

Và vì cái khóa nòng không quay, lại khá to, nên cái lỗ kim hỏa và kim hỏa cũng không cần thiết kế đặc biệt gì, thậm chí chả cần khoan mà đục tia lửa điện, kiểu gia công cả cần vật liệu máy móc cao quý gì cả.

Đứng trên quan điểm một người thợ, một người lính. DP có thiết kế súng cho chiến đấu và sản xuất, không vì quyền lợi của những người bán súng và bán máy làm súng. Đó là đặc điểm chung của Modragon, Fedorov, Degtriarov, Kalasnikov....

Kiểu máy Fedorov sau chỉ dùng cho súng ngắn bắn phát một và pháo. Vì cơ cấu lùi cả nòng có khối lượng và kích thước các bộ phận chuyển động lớn, không lợi khi bắn nhiều, vì chóng mòn các giá đỡ nòng. Tuy vậy, các bạn có thể thấy nguyên lý này cũng có các chi tiết to tướng, đảm bảo độ tin cậy, rất lính tráng. Trước đây súng trường không bắn nhiều như bây giờ, nên dần dần cơ cấu lùi nòng càng bị tránh.

ngạnh chéo và ngang này có ở khắp nơi. Từ khẩu nên gọi là pháo đúng hơn là súng, PTRD-1941, kiểu một ngạnh này được MP44 copy y sì (thế nhưng dân liệt não tiếng Anh luôn quảng cáo là khẩu nào đó copy MP44). Đây cũng là kiểu khóa nòng của SVT, AG-42 và MAS-49, cũng như phiên bản thử nghiệm súng trường tấn công Anh SM2.

AG-42 dự tính copy nguyên bản SVT, nhưng để cho rẻ, họ đã cải thành kiểu trích khí  trực tiếp có "key", kiểu mà AR-15 với M16 sẽ copy y hệt sau này. Thật ra AG-42 rất tồi, sau vài phát bắn, ở 100 mét có thể sai số 1 mét do nòng nóng không cân. Nhưng nước Thụy Điển không cần đánh ai, mà chỉ cần khỏi mua súng thằng nào lúc đó, để mà "trung lập". M16 thì dốt nát nên mới copy y nguyên cái nhược điểm này, nên Mỹ và Pháp đánh đâu chạy đấy. AG-42 có khóa nòng rất giống SVT, hơi khác MAS 49.

Thật ra, mình nói G43 copy SVT là không đúng lắm. SVT là kiểu khóa nòng một ngạnh, giống MAS, CKC (SKS), MP44, PTRD, AG-42... CÒn G43 chỉ copy SVT y hệt cái trích khí mà thôi (kiểu trích khí SVT sau được dùng AR-8 và LWRC). Còn kiểu khóa nòng của G43 là kiểu hai ngạnh  giống của DP và RPD sau này. Còn cái nắp hộp khóa nòng đúc hình mái nhà thì G43 rất giống AG-42. Nắp này kiêm luôn chức năng của bệ khóa nòng, cùng với chốt mở ngạnh. Đúng hơn là G-43 bằng DP lai với SVT, dáng súng và trích khí SVT còn cái khóa nòng DP.

Nhìn lại xa hơn, thì trích khí có "Cup Piston"-từ bọn Mỹ dở người dùng để gọi Cylinder, cũng là của DP. Nhưng cơ cấu này ở DP chưa thật tin cậy đặc trưng như SVT sau này.

Có thể nói, kiểu khóa nòng Degtriarev là kiểu khóa nòng tốt nhất thế giới lúc đó, đây là kiểu khóa nòng súng máy đầu tiên mà Hồng Quân sản xuất lớn, mở đầu cho thời kỳ vô địch súng bộ binh của Liên Xô. Trong nội chiến 1918-1922, hầu như chỉ các phiên bản súng của Fedorov được sản xuất. Khi chiến tranh vừa kết thúc thì DP được phát triển và sản xuất ít một.

Đây là hình ảnh nguyên thủy của "Cup Piston"-từ bọn Mỹ dở người dùng để gọi Cylinder, sau được dùng trên AR-18 và LWRC. Cấu trúc này được phát minh bởi DP, tuy vậy, đến cải tiến ở SVT nó mới trở thành hoàn hảo.

« Sửa lần cuối: 25 Tháng Hai, 2009, 02:43:40 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #162 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 03:52:50 PM »

Ngay sau khi chiến tranh vừa kết thúc, Cạ Fedorov và Degtriarev bắt tay vào sản xuất súng trường tự động khác thay thế cho Fedorov Avtomat. Có một điểm khó khăn nữa thúc đẩy tiến trình này, đó là lãnh đạo Hồng Quân không duyệt sản xuất loại đạn 6,5mm cho Fedorov. Việc sản xuất loại đạn quy trình hoàn toàn khác trong nước Nga ốm yếu có vẻ làm nhiều người ngại. (Đạn Fedorov 6,5mm là đạn không gờ móc, phải dùng máy kiểu khác máy dùng cho đạn Mosin, chứ không chỉ là thay khuôn).

Khi sử dụng đạn lớn thì súng trường tự động không còn là súng trường tấn công nữa. Chúng có thể là trung liên hay súng trường tầm xa, hay kiêm chức như RPK sau này. Tuy nhiên, DP không có chức năng súng trường tầm xa, súng bắn tỉa, vì súng không bắn khi đã khóa nòng, điều này làm súng rung khá mạnh khi khóa nòng trước viên đầu tiên, tức là khả năng bắn tỉa 1 viên kém, đây là chức năng quan trọng bậc nhất của súng trường tầm xa, súng trường đối kháng battle rifle.

Dĩ nhiên là DP còn có một số nhược điểm nũa, ví dụ nó nặng chẳng hạn, nhưng nó rất tin cậy và dễ chế tạo. Thật ra thì súng cũng không nặng lắm. Việc bắn khi đã khóa nòng phải thêm bộ búa quay có hãm phát một rắc rồi, chúng không nặng lắm, quan trọng là lúc đó không có. Để so sánh, BAR cũng quên phéng mất chức năng súng trường, nặng hơn chút và dĩ nhiên không thể khỏe bằng đạn Mosin, rẻ bằng DP và tin cậy như DP.

Như vậy, DP đã chấp dứt sự nghiệp ngắn ngủi của Fedorov Avtomat, mặc dù sự nghiệp hoành tráng của nhà nghiên cứu Vladimir Fedorov vừa mới bắt đầu. Súng DP phát triển từ năm 1923, được thử 1926, duyệt năm 1927 nên được gọi là DP-27. Sau này súng còn được sửa vài lần nữa, thành DM-46, DPM... Đây là trung liên chủ lực của Liên Xô đến 195x, súng đầu tiên do Liên Xô thiết kế.

Thật ngược đời, DP sinh ra từ nỗ lực chế tạo súng trường tấn công Fedorov !!! Nhưng sự thật là như vậy. Từ khi phụ việc cho Fedorov, Degtriarev đã ngày đêm nghĩ đến một thiết kế súng có cấu trúc thật hoàn hảo. Những cấu trúc cơ bản của khóa nòng và trích khí được hình thành trước 1916. Năm 1916, Degtriarev ông chế tạo một súng thử nghiệm với sự giúp đỡ của hai ông ông chủ.  ( Fedorov và Filatov nâng đỡ Degtriarev, ban đầu Degtriarev đi làm thợ lính dưới quyền Filatov, sau đó Fedorov kéo về, vừa dưới quyền, vừa dạy dỗ và vừa .... tận dụng tài hoa khéo léo trong việc chế thử, cũng như các ý kiên thiên tài trong góc nhìn của người thợ và người lính). Khi thời gian trôi đi, việc bắn một lượng đạn lớn thể hiện việc ổ trượt nòng của khoá lùi mòn, đồng thời việc mất đi đạn súng trường tấn công và các khó khăn thời ốm đói khác đã đẩy kiểu khoá này thay thế.

Súng Degtriarev 1916 là khẩu súng trường tự động, súng trường tấn công, dùng khóa nòng và trích khí Degtriarev. Nhưng hỡi ơi, Súng trường Tokarep được chế bởi nhà bác học lừng danh như thế còn bị vứt xó đã hơn chục năm, nữa là chàng cần vụ chả học hành gì. Cũng may cho Degtriarev, Fedorov, Filatov đều đã sống thời kỳ "hy sinh toàn diện",  hiểu rằng người thợ tài hoa kia chả còn trông chờ được vào ai ngoài các ông chủ cả. Ở đây, một lần nữa chúng ta thấy sự cần thiết của những người thợ, người lính phi thường qua AK, Degtrỉaev, Mondragon... và cũng một lần nữa nhìn rõ tên vua đẻ non M16, hay FSA M197, FSA M1916...  được thiết kế bởi những người mới đọc về súng qua sách báo, những nhà kỹ thuật 100%.

Như trên đã nói, kiểu khóa nòng ngạnh do Degtriarev phát triển có một phiên bản cấu trúc cực kỳ đơn giản, không cần nhiều hợp kim, máy gia công... trừ cái nòng và trích khí thì hầu như được làm từ mài, rèn và tán đinh. Cấu trúc này không thèm cả búa và nẫy chống bắn phát thứ 2. Đó chính là DP-27. Cái trích khí này về sau khi tách rời piston ra sẽ thành SVT, G43, AR-18, LWRC... Nhưng DP còn rất khốn khó, lò so piston làm luôn lò so đẩy về duy nhất của toàn máy súng.

Kiểu máy súng ngạnh ngang này sau được G43 Hitler cải chút lắp trong vỏ súng và trích khí y hệt SVT. RPD về sau vẫn dùng kiểu máy súng như này, gần như giống hệt. Có thể hiểu rằng kiểu máy súng này nặng hơn các kiểu khác khi so RPD và RPK. SVT về sau vẫn trích khí bằng ống nối dài nòng gần giống DP, rồi mới chuyển sang lỗ khoan ngay trên nòng. Khẩu trung liên Đức MG 42 cũng cơ cấu gần giống nhưng thay hai ngạnh bằng hai vòng bi, trơn tru hơn nhưng lại cần kỹ thuật cao và hợp kim, sau này, người ta phát triển kiểu này thành máy lùi có con lăn làm chậm được dùng trong MP45 và phát triển về sau này, cấu trúc giống nhưng nguyên lý khác. Khẩu trung liên đầu tiên của Đức là MG 13 Dreyse, cùng hãng với súng mỳ danh tiếng của Phổ, khẩu này lùi ngắn như máy Fedorov, nhưng chi tiết máy làm nhỏ hơn, truyền thống Đức. Khẩu MG 34 là khoá nòng ren cắt nhiều tầng như FSA M1916, FSA M1917. Điều đó cho thấy, kiểu khóa nòng ngạnh ngang và ngạnh đứng đã làm nên cuộc cách mạng máy súng không chỉ ở Liên Xô, mà còn ở cả nước Đức. Thời cách mạng súng này chuẩn bị từ 192x và trang bị cuối  192x, 193x đã làm cho súng bộ binh Liên Xô từ vị trí thứ 2 vươn lên vị trí hàng đầu thế giới, ngoài khả năng lý thuyết khoa học, điểm trội nổi bật nữa là gia công và sử dụng đơn giản, rẻ, tin cậy, là những yêu cầu cơ bản của vũ khí Nga cho đến nay.

Madsen là khẩu trung liên đầu tiên trên thế giới 1896, xuất phát từ súng trường tự động. Khẩu này dùng máy lùi ngắn, đẩy khóa nòng và một thiết bị gạt vỏ đạn, nạp đạn riêng ngóc lên ngóc xuống. Madsen được Nga Sa Hoàng và Hồng Quân mua về dùng. Chức năng súng trường tự động thì kém Fedorov về độ tin cậy, nhẹ và đặc tuính súng trường tấn công. Trung liên thì dến tận thập niên 1950, Madsen Saetter chuyển sang dùng máy giống hệt DP, đúng hơn là giống hêth DPM, RP-46 và RPD. Madsen có máy làm lắc súng lên xuống, không hợp vơiis trung liên, mình sẽ nói sau. Nhược điểm này cũng có nhưng nhẹ hơn cả các súng ngạnh dọc một ngạnh như SVT, MP44... nên kiẻu khóa đó thường dùng cho súng trường tự động bắn phát một, riêng MP44 áp dụng cho súng liên thanh, MP42, MP43. MP44 đã trở thành trò cười dài tập trong giới chế súng Đức 1940-1945 thế nào thì thỉnh thoảng mình sẽ đề cập.

Máy súng này nó đơn giản thế nào ?? tốt nhất là ta xem ảnh.
http://www.nvkz.kuzbass.net/michael/raznoe/Dp.htm

Bệ khóa nòng lùi xuống đẩy về, đương nhiên là thế rồi. Khóa nòng có hai ngạnh , mỗi ngạnh có một mấu, mỗi mấu chạy trên một ray ở nền vỏ hộp khóa nòng (vỏ máy súng, reciver). Khi đẩy về, kim hoả chọc vào làm xòe ngạnh ra, khớp với đoạn ray xòe ra cùng, ngạnh chống vào thành hộp khóa nòng. Bệ khóa nòng phi lên làm búa luôn. Vì cái búa này khá hoành tráng nên kim hỏa cũng chả cần phải gia công chính xác ưu việt làm gì. Khi lùi, búa là bệ khoá nòng lùi trước, thả kim hoả tự do, mất tác dụng chốt nên, trong khi đó hai gờ vát của thanh vỏ máy súng ở nơi ngạnh chèn vào ép ngạnh khép nép vào khoá nòng, không còn chống nữa và khoá nòng lùi theo bệ khoá nòng. Cò chỉ có tác dụng chặn bệ khóa nòng đẩy về, khóa an toàn cũng vậy. Kiểu khoá nòng này nhà ta gọi là khoá nòng then, AK là khoá nòng xoay, khác tiếng Anh.

Cái gọi là máy súng chỉ có mấy khối: piston, bệ khóa nòng, khóa nòng, hai ngạnh, kim hỏa và cò. 2 cái lò xo duy nhất của đẩy về cổ piston và cò, hết chuyện. Trừ cái nòng và piston thì máy súng toàn các mặt phẳng. Một người thợ lành nghề cắt mẩu gang cầu ray tầu hỏa, chỉ cần dùng cái máy mài là gia công được gần hết cái khóa nòng. Phần còn lại là  vỏ hộp máy súng cũng mài và rèn được gần hết.

Súng cũng chả có chuyển động gì phức tạp nên đương nhiên là bền. Gang cầu làm khóa nòng không đủ độ bền mỏi như hợp kim làm ren cắt, hầy, nhưng cái khóa nòng này lại không phải đứng trên đầu gót chân giống diễn viên Ba Lê mà chịu mỏi. Hai tai ngạnh dồn lực chống đều sang cơ cấu lớn nhất của súng là vỏ hộp hóa nòng. Hai ngạnh này cũng như cái khóa nòng, không có máy móc thì du kích ta đem ta mài cũng ra.

Kểu ren cắt của đạn bác đặt trên súng trường thì khi một ren chỉ cần trội lên 1/10 ly, là nó chịu toàn bộ lực. Sự mỏi sinh ra khi nó phải đàn hồi 1/10 ly trên 1-2ly chiều dài để sẻ lực cho các ren khác. Ở pháo, sai số 1/10 ly thì ren vài chục ly, đường kính vòng cỡ tấc chịu được, áp dụng vào súng trường cõ lẽ cần gia công chính xác 1/100 ly, ngày đó chỉ dùng gia công... máy thí nghiệm và ngày nay chỉ dùng để làm súng trường có tuổi thọ một vài phát bắn.

Hai tai chống thế kia thì không tên nào ăn gian được hay cố chịu giúp bạn thêm tí cũng không xong. Lực tác động lên tai chỉ là lực nén, loại lực kim loại chống tốt nhất, không có một tí bẻ, uốn,kéo... nào cả. Vì các cơ cấu chịu lực chính không cái nào phải đứng nhón chân làm xiếc cả, nên độ bền mỏi cao. Thêm nữa, cái cơ cấu này cho mòn độ 1mm vô tư, thế là bắn được cả vạn viên rồi.

Tóm lại, để chế tạo súng thì đương nhiên phải có máy chuốt nòng. Nhưng phần việc còn lại chỉ là một xưởng trên thảo nguyên, ở một thành phố nhỏ, có một ga xép, vài cái máy phay, tiện và khoan nhỏ do một toa tầu ì ạch chở đến, rồi một chú sỹ quan Nga Hoàng cũ kéo theo anh cần vụ, tóc thầy trò đã điểm bạc mới được đổi đời, thế là có thể 90 năm sau trở thành xí nghiệp lớn nhất nước Nga.

Khó có thể hình dung hết những khó khăn của năm 1917 đó. Có lẽ, việc đầu tiên các nhà chế súng làm là hoán cải một đầu tầu hỏa thành máy phát điện. À, không, việc đầu tiên cáo lẽ là đi đào công sự và kiếm mấy bộ quần áo dân sự, mấy con ngựa để lẩn cho nhanh khi Hồng Quân kém khí thế lúc nào đó. Đấy là sự thật, nhà máy Kovrov cách Maxcơva 200km, mà Max còn tranh đi giật lại suốt 2-3 năm trời.

Trong những điều kiện như thế, ta hãy so sánh với BAR: Browning Automatic Rifle. Chúng nặng như nhau, BAR thì yếu hơn do dùng đạn 03-06 và hơi năng hơn chút vì có cái quạt gió. Thật ra đến lúc này đạn Mosin tuy mạnh hơn nhưng chỉ đến sau 1930 mới hoàn thiện hơn. Sử dụng loại máy súng được đánh giá là nặng, nhưng nó lại chả nặng hơn "các cường quốc năm châu" bao nhiêu, chỉ do tài hoa của người chế súng. Việc làm mát ?? thực tế đã chứng minh là trung liên không cần. Chức năng súng trường mà DP thiếu do dùng cái máy quá ư đơn giản ?? BAR thì máy tốt nhưng cũng quên cái đó. Các đặc điểm của súng vẫn còn ưu việt cho đến Thế chiến II. Đặc điểm rẻ và tin cậy thì đương nhiên không trung liên nào trên thế giới có được.

Trung liên là anh em của súng trường. Súng trường được hiểu là súng dùng chung đạn với súng trường tầm xa và trung liên. Dùng đạn bé hơn là súng ngắn, đạn to hơn là trọng liên đại liên ... Trung liên có chức năng chính là hỗ trợ nhóm. RPK thêm chức năng súng trường tầm xa, còn thời DP, ai cũng có súng trường bắn phát một tầm xa rồi nên trung đội thiếu đi một tay súng trong nhiệm vụ bắn tỉa cũng không đáng kể lắm.

Trước đây, mình tháo tung RPD ra và ngạc nhiên về cấu tạo tin cậy, đơn giản của nó. Thế nhưng vẫn thua xa DP về các đặc điểm cho dẽ chế tạo. Mình tự hỏi, nếu có một cuộc kháng chiến chống Pháp mà không có Chiến Dịch Biên Giới, chắc trong rừng sẽ có DP, SVT... là những súng dùng kiểu khóa nòng ngạnh.

Ngoài ưu điểm đơn giản, tin cậy, thiết kế ưu việt không làm mỏi vật liệu... kiểu khóa nòng DP đặc biệt hợp với trung liên thời giữa hai Thế Chiến ở chế độ bắn. Toàn bộ chuyển động của phần nặng như bệ khóa nòng, trích khí, khóa nòng... đều trước sau. Như vậy, súng không rung mạnh theo chiều đứng hay ngang, mà rung theo chiều trước sau, đây là đặc điểm làm loạt đạn liên thanh rất chụm. Súng trường bắn phát một ngày đó không cần loạt chụm. Súng máy hỗ trợ như đại liên, trọng liên... thì lại bắn loạt dài sát thương diện tích. Trung liên là súng máy hỗ trợ, tầm xa như đại liên, nhưng vẫn sát thương mục tiêu điểm bằng các loạt ngắn, nên nó cần loạt đạn chụm nhất trong các súng ngày đó. Và lúc đó, DP thỏa mãn yêu cầu này hoàn hảo. Thời Thế chiến II, khi chưa có súng trường tấn công, thì các MP, PP được dùng nhiều và do đó, các đơn vị dùng MP, PP sẽ thiếu khả năng sát thương điểm tầm xa, và trung liên bắn loạt ngắn chính xác cực kỳ cần để bù vào ở cấp đơn vị nhỏ nhất.

Nhược điểm.
Súng có hai nhược điểm khá lớn. Một là, băng đạn không tin cậy, nó đặt chênh vênh và dễ bị biến dạng khi vận động. Hai là, súng vẫn giữ hơi hướng súng trường, nên không bắn liên tục các loạt dài. Khi bắn như vậy súng trở nên nóng. Ba là, trích khí kiểu đó khá nặng, nhiều người nói như vậy (tuy nhiên, theo mình, trích khí đó không nặng mà do kiểu máy này bệ khóa nòng nặng, nên trích khí phải to khỏe).
Nhược điểm thứ hai khó phân biệt. Nó được bổ sung khi chuyển từ băng đĩa dang băng dây DPM, Đến năm 1946 DPM có tên chính thức là DP-46. Cái "nhược điểm" trích khí đó thì vẫn được dùng cho đến RPD.

« Sửa lần cuối: 27 Tháng Hai, 2009, 11:35:36 AM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #163 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2009, 11:35:51 AM »

Cái băng đạn đĩa này dùng để khắc phục gờ móc của đạn Mosin, khi bắn nhiều gờ móc dễ sinh kẹt. Đây là điểm rất dở của loại gờ móc. Trước đây, trong các kế hoạch thiết kế dạn 1890, 1898, 1908... chính quyền Nga Hoàng đều lo không đủ lực lượng công nghiệp để chế đạn không gờ. Hồng Quân giai đoạn trước 1930 không đủ lực để sản xuất hàng loạt máy chế đạn mới. Nhưng đến năm 1930, khi áp dụng thiết kế đạn mới, Hồng Quận vẫn quyết dịnh dùng đạn có gờ vì tốc độ sản xuất súng trường vẫn rất thấp, không dễ gì quyết định ném hết súng cũ đi. Lần nữa như vậy cho dến ngày nay.  RPD chuyển hướng tháo vỏ đạn nên xoay móc hất vỏ đạn đi

DP rỗng nặng từ 8,3 đến 8,8 kg, tùy đời. Kiểu DPM (RP-46) mang băng dây vài như RPD sau này nặng hơn chút do có thêm một tầng trên nóc hộp khóa nòng cũ để kéo dây và nhổ  đạn ra khỏi dây, nòng cũng to hơn, súng RP-46 (DPM, DP-46) nặng hơn 13kg và nếu mang băng trống 200 viên nặng cộng 21kg, RPD thì nhẹ hơn DP vì dùng đạn AK M43 nhỏ hơn. DP băng đĩa có một số loại băng, phổ biến nhất là băng hai hàng xoắn vào nhau như lò xo. Loại băng 4 hàng cũng được trình diễn năm 1926-1928 và phiên bản Phần Lan copy, (nước Phần Lan vẫn tự coi là một phần của nước Nga và chỉ dùng vũ khí Nga, họ vẫn tự coi mình là tiền tuyến đánh Thụy Điển như thời Piotr Đại Đế). Các loại băng đĩa đầy đạn nặng từ 1,5kg đến 3kg.

DP dùng nòng dài 550mm ở phần xoắn, tổng 605mm chiều dài nòng (không kể loa), sơ tốc 840m/s. Tốc độ bắn của DP 600 phát/phút. RP-46 (PDM) và RPD đều có khả năng bắn loạt dài rất tỹ tã.


Trung liên DP-27, hộp đạn hai tầng 49 viên. Nhược điểm vị trí hộp đạn nhìn rõ. Khác với băng đạn cùng nằm trên một mặt phẳng với súng như các súng máy khác, kiểu băng này tuy chứa được nhiều đạn, nhưng lại cồng kềnh khi mang vác, đeo lưng... vừa gây khó khăn cho người mang súng, vừa làm băng đạn hứng chịu nhiều va đập.
Sau này, khi có đạn nhỏ M43 thì vai trò của DP tiến dần lên như là loại súng máy hỗ trợ bắn đạn to hơn đạn súng trường, một dạng như đại liên cá nhân ngày nay-loại đại liên nhưng mang vác bởi một người-Pecheneg, trong khi đó loại trung liên đúng nghĩa là RPD. Cải tiến theo hướng đó, RP-46 bắn băng dây nhiều đạn hơn, nòng to hơn. Băng dây cho phép bố trí nhiều đạn gọn gàng hơn. RP-45 và RPD dùng dây vải.
Sau này, quyết định thay RPD bằng RPK có nhiều vấn đề phản đối. RPK nhẹ hơn nhưng nhanh nóng nòng, khó bắn loạt dài tỹ tã. Lúc đó, RPK có chức năng súng trường tầm xa, cần hơn khi mà súng trường tấn công AK ngắn nòng giảm chức năng này.









Đây, cái trích khí gián tiếp với "key type cylinder" và "cup type piston" của LWRC và AR-18 đây. "cup type piston" là tên bọn quảng cáo nhồi liệt não cho .... mới, tức là cái cylinder trong ngôn ngữ dở người. "key type cylinder" là cái piston. Thật ra, kiểu trích khí đùng tiết lưu thì cấu trúc này bền, khỏe và tiết kiệm gas nhất. Nhưng đến SVT thì mới hoàn thiện bằng làm rời piston và lò xo đẩy về, được copy nguyên xi trong G43 và các súng trên.


















khóa nòng, kim hỏa, không hiểu của đời nào, hình như là RPD. Các bạn nhìn cho rõ nhé. Ơn cái búa to khủng bố, chính là bệ khóa nòng. Việc này vừa bớt được bộ búa, vừa chả tội gì phải dè sẻn khi thiết kế kim hỏa cả, to vô tư. Thế là các bạn xem, trừ cái lỗ kim hỏa đục bằng tia lửa điện, thì toàn bộ khóa nòng chỉ cần cưa, mài, rèn là được !!!
Cái này không hiểu của đời nào nhưng có điểm ưu việt của RPD, là làmg thêm khe kẹp ngạnh vào khóa nòng lúc chuyển dịch, khi kim hỏa đẩy lên thì ngạnh mới rời vị trí bị kẹp. Điều này làm súng chịu được sai số do mòn tốt hơn, bền hơn.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Hai, 2009, 11:59:24 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #164 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2009, 01:41:50 PM »

Buồn cười là bọn Mỹ rất tị nạnh với các nước khác về súng. Nhưng lại ngu ngộ. Ví dụ, để bĩu môi AK: "chúng bay chỉ là học Đức thôi", chúng dựng đứng lên chuyện MP44 là súng trường, mặc dù tên nó là MP-súng ngắn bắn nhanh, và chính Hitler trong quyết định đưa MP4 vào dùng, ngày 6 tháng tư năm 1944, đã chỉ rõ vai trò của nó phân biệt với súng máy G42 và súng trường G43. Bọn Mỹ ngu ngộ dịch láo G là súng trường vì G98, G43 là súng trường, nên G44 (STG44, MP44) là súng trường. Ngay trong cái quyết định 6-4-1943 đó, nếu theo bọn Mỹ ngu ngộ, thì ... MG42 cũng là súng trường. Thực tế, MG là "Maschinen gewehr" = súng máy của bộ binh, cũng như STG44= Sturmgewehr = súng tấn công của bộ binh.

Bọn Mỹ cố kiết cãi súng ngắn là súng trường vì đặt gewehr=súng trường, trong khi nó là vũ khí bộ binh, bất chấp người Đức và đứng đầu chính phủ Đức đều định nghĩa rõ, rập chữ MP44, MP45 lên vỏ súng... Đổi lại, người Đức gọi Thompson SMG là ... STG1928.  Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin. Mình đã nói, ở nước Mỹ có thứ súng đạn nhỏ dưới âm 280m/s, tầm bắn 50 mét, nhình hơn súng cao su, kém cung tên... được goịn là súng ngắn, thì loại súng ngắn như M1 carbine ở đó nên gọi là súng trường, AL-47 là đại bác còn Mauser, Mosin... phải là tên lửa dạn đạo xuyên lục địa. Người Đứic còn giễu cợt hơn mình cái khái niệm G là súng trường khi đặt cho cái súng cao su Thompson M1 SMG. He he he, cái súng cao su ở Mỹ là súng trường.

Bạn SSX nói đúng, không ở đâu mà kiến thức về vũ khí tràn ngập trong hoang tưởng, tham nhũng và sự đầu độc của dân lái súng, đông đảo dân liệt não... như ở Mỹ.

http://www.brpguns.com/stgm1a.htm


Vì hàng loạt súng trường và trung liên hồi đó dùng kiểu máy ngạnh ngang và ngạnh đứng, nên ta tìm hiểu chúng để hiểu thêm về các yêu cầu cần có, ưu nhược của các kiểu máy trong súng liên thanh, súng trường và súng trường tấn công. Trung liên được Tầu gọi là một loại "tạp tân thương", súng tầm xa. Tầm ở đây là tầm với các súng sát thương mục tiêu điểm của đơn vị bộ binh nhỏ nhất, chứ không kể đại liên trọng liên.

Như mình đã nói, Trung liên là anh em với Súng trường, cùng ở đơn vị bộ binh nhỏ, cùng nguồn gốc. Nó là súng hỗ trợ, nhưng không như kiểu hỗ trợ bắn sát thương diện tích loạt dài như đại liên trọng liên. Thực chất, trung liên thừa kế kiểu chiến đấu của súng trường đối kháng battle rifle, đứng cố định diệt địch điểm tầm xa bằng các loạt ngắn, chỉ khác là bắn loạt thay cho từng phát thời cổ. Trong những yêu cầu của Hội Đồng Súng Trường dược Fedorov thỏa mãn qua Fedorov Avtomat có điều này, chính là súng đối kháng trong thời đại mới, thời đại liên thanh, battle rifle, battle gun sẽ là trung liên. Súng trường liên thanh rẽ làm hai nhánh trung liên và súng trường tấn công như vậy. Khi ta có trận địa như WWI, thì đó là trung liên, còn khi địch có trận địa, thì có súng trường tấn công.

Buồn cười, bị bọn lái súng làm liệt não, dân Mỹ lội ngược dòng nay từ ý tưởng. Họ yêu cầu M16 tương lai là súng trường đối kháng, battle rifle nhưng dùng.... đạn nhỏ. Đương nhiên là họ có ông vua đẻ non, không phải súng trường tấn công và cũng không phải trung liên, một thứ quái thai dặt dẹo, cũng như Pháp, người Mỹ đánh đâu là chạy tụt dép ở đó.


MG42 cũng sử dụng nguyên lý của DP. Người Đức tự hào về trình độ toán học và cơ khí, đầu tư nhiều phức tạp vào súng. Chính điều đó làm súng của họ càng đánh càng kém, khi chiến tranh khốc liệt, điều kiện chiến trường phức tạp làm súng hay hỏng, cấm vận làm nguyên liệu quý hiếm cạn... và nhường chỗ vị trí số một thế giới cho Liên Xô.

MG42 không khóa chết nòng như DP, mà để nòng lùi ngắn. Điểm này sẽ làm giảm lực giật dọc ảnh hưởng đến độ chụm loạt đạn ngắn. Nhưng các kiểu lùi nòng về sau chỉ dùng cho súng ngắn và đại bác, là những súng bắn ít đạn. Ở súng bộ binh bắn nhiều và ít được chăm hơn, thì lùi nòng làm mòn nhanh ổ lùi. Điều này làm giảm độ chính xác khi để thước ngắm lên bệ không lùi. CÒn nếu để thước ngắm lên khối nòng lùi, thì khi bắn nó giật liên tục chả nhìn thấy gì. Chính vì điều đó mà sau này bậc thầy tiên phong Fedorov đã dùng kiểu khóa DP.

Kiểu khóa hoạt động khá phúc tạp. Khi hệ thống lùi, ngoài việc khóa nòng, còn sinh ra một lực đẩy lùi kim hỏa về sau qua hai vòng bi. Trước điểm hỏa, kim hỏa tiến lên khóa chặt nòng và khóa nòng, khi kim hỏa lùi đến mức nào đó, nó mở khóa. Làm chậm việc mở khóa nòng bằng giảm lực tác động vào kim hỏa, làm kim hỏa lùi chậm.

Sau này, người Đức cải tiến kiểu khóa nòng này, gắn chết nòng vào giá súng, nhưng thay kim hỏa bằng khối lùi nặng, gọi là kiểu khóa con lăn làm chậm, được áp dụng trên MP45. Kiểu khóa này làm súng rất nhẹ trong khi ít cấu trúc phức tạp. Nhưng lại yêu cầu vật liệu quý ở con lăn và các mặt mà con lăn hoạt động ở vỏ hộp khóa nòng, khóa nòng và khối lùi. Sau này nhiều súng châu Âu áp dụng ở cỡ súng trường và trung liên. Tuy nhiên, kiểu con lăn làm chậm không lùi nòng, phải chấp nhận khoảng lùi khá lớn của vỏ đạn. Đìều này làm khả năng vỡ vỏ đạn tăng lên và người Nga chưa áp dụng, như khá nhiều mẫu súng có khoảng lùi vỏ đạn giống thế, như đòn bẩy làm chậm, đã được thiết kế. Đạn có độ côn ít, không gờ móc như đạn Mauser hay M16, NATO 7,62x51... lùi vỏ đạn tốt hơn.

MG42 bắn dây băng như DPM, RP46, RPD. Súng dài 122cm, nòng dài 53cm và nặng 11,6kg rỗng, ngang DPM hay RP-46. Súng có tuổi thọ nòng thấp 3000-4000 viên (độ vài trận), sau đó là phiên bản phủ crom thọ hơn. Khả năng nhanh nóng nòng ngang DP, thua xa DPM hay RP-46, RPD... vì khối lượng nòng giảm đi thế chỗ cho máy súng nặng.

Cũng như DP, súng bắn khi khóa nòng mở, không có khả năng súng bắn tỉa như RPK sau này, điều chưa cần khi súng trường tấn công chưa có.

Sau này có phiên bản súng trường tự động.

Ngoài chuyện phức tạp, súng cần nhiều hợp kim quý với tỷ lệ cắt bỏ khi gia công là gần 2/3 (cần 27,5kg hợp kim).

Tuy khó, nhưng về mặt gia công, súng rẻ hơn và cần 75 giờ máy, số giờ máy bằng một nửa MG34. Về mặt này thì ưu việt củat DP rất thể hiện.

Cũng có thể dễ dàng so sánh DP và MG42. MG42 dùng cùng nguyên lý nhưng đầu tư độ phức tạp của máy móc để có độ ưu việt hơn trong khẩu súng mới cứng. Nhưng điều đó, trước mắt làm tăng khối lượng chung và để đảm bảo, nó lại làm giảm khối lượng nòng và do đó, dẫn đến một nghịch lý, là DP bắn tin cậy, chính xác hơn. MG42 chỉ bắn chính xác hơn trong điều khiện tuổi thọ chưa đến 4000 viên, độ 20 băng, quá ít so với một trung liên..
Trung liên có một đặc trưng là dùng cá nhân bộ binh thường. Nếu là súng cộng đồng, lính hoả lực chuyên nghiệp... thì nó có các nhược điểm của đại liên. MG42 có khả năng thay nòng nhanh của một khẩu đội 2 người chuyên nghiệp, điểm này giống hệt PKMS, đại liên kiểu máy AK sau này. Thế nhưng, do tuổi thọ và nóng nòng, nó lại có tính năng giới hạn của trung liên. Dùng thì tốn như đại liên, tính ngang ngang DP và tuổi thọ kém hơn.
So sánh này làm nổi trội tính năng ưu việt của DP: nguyên lý phức tạp nhất khi thể hiện ưu việt trong cấu trúc đơn giản nhất.

Các kiểu DPM, RP46... thể hiện một tính năng mà đến ngày nay người Nga thấy cần thiết và xây dựng lại, đó là "đại liên cá nhân" PKP Pecheneg. Một súng có khả năng bắn loạt dài đạn nặng như đại liên, nhưng lại dùng cá nhân. Tuy nhiên, trong việc biên chế lại bởi sự xuất hiện AK, tính năng mà Detriarev một lần nữa đi trước thời đại khi cải tiến DP thành DPM (RP-46), đã bị bỏ qua trước RPK và PKMS. Nói đi cũng nói lại, RP-46 quá nặng so với đại liên PKMS, nhưng nó lại ra trước cả chục năm (thiết kế từ 1956, chấp nhận năm 1961). Tuy là trung liên, nhưng một người vác khẩu súng trên 20kg chắc khá vất. PKP Pecheneg ngày nay nặng 8-9 kg chính là điều mà các trung liên ngày đó mơ đến, nhưng khó thực hiện.


http://www.mg-42.net/mg42.htm





« Sửa lần cuối: 27 Tháng Hai, 2009, 11:57:24 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #165 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2009, 07:40:43 PM »

Kiểu máy súng ngạnh ngang trên thường được áp dụng cho súng máy. Nó hết sức đơn giản, tin cậy, dễ chế tạo, đặc biệt là các phiên bản không dùng búa riêng mà dùng bệ khoá nòng kiêm búa như DP thì càng đợn giản.

Kiểu khoá nòng ngạnh nữa là một ngạnh còn đơn giản hơn nữa, kiểu này được áp dụng ở SVT, AG-42, PTRS-41 (súng trường chống tăng), CKC (nhà ta hay gọi là xê ca xê, đúng ra là SKS).... Vẫn có bệ khoá nòng, nhưng thay cho khoá nòng gồm 3 khối, hai tấm ngạnh và một cục khoá, thì kiểu một ngạnh chỉ có đúng một cục, là khoá nòng, khi cần khoá, nó nhiêng đi chống vào thành vỏ máy súng (hộp khoá nóng, reciver). Nhược điểm của kiểu này là làm súng rung theo chiều đứng không cân, nên chỉ áp dụng tốt tro0ng súng trường tự động bắn phát một. Thế nhưng không hiểu tại sao mà MP44 lại áp dụng cho súng bắn loạt. Nó đã là trò cười suốt mất năm trời ở Đức, nên nó có những cái chẳng giống ai là đương nhiên. Sau này, khẩu súng thử nghiệm SM-2 của Anh Quốc cũng vậy, nhiều nhà ái quốc trẻ tuổi của nước Anh tung hô SM-2 nhiều thứ, nhưng nhìn chung nó dừng ở thử nghiệm.


Nhiều súng hâm dùng máy phát một cho súng liên thanh. Nhưng cũng có kiểu súng phát một dùng máy liên thanh. Đó là G-43 Đức. G-43 tức là  "vũ khí chính của bộ binh, năm 1943". Súng được thiết kế từ đầu 194x bằng cách tham khảo súng Liên Xô, nhưng hoạt động rất tồi cho đến khi dùng kiểu trích khí của SVT. Kiểu trích khí SVT được hoàn thiện từ cấu trúc cơ bản của DP, hiện nay vẫn là kiểu trích khí áp lực-tiết lưu tốt nhất, hiện AR-18 và LWRC đang tung hô là tốt nhất vũ trụ, không biết có đúng không ? Grin. Khác biệt với DP là SVT dùng trích khí hành trình ngắn có đẩy về riêng.

Trích khí như vậy, còn máy súng thì là kiểu DP cải tiến cho súng trường tự động bắn phát một. Khoá nòng hình trụ tròn, tư tưởng khoá nòng và bệ khoá nòng trụ tròn thịnh trị khá lâu ta sẽ bàn sau. G-43 cũng dùng kim hoả chọc cho hai ngạnh xoè ra. Khi đẩy về lùi về, nó có một bộ phận chèn hai ngạnh xoè ra, bộ phận này chọc từ trên xuống, chèn vào phía trước hai ngạnh làm nó gập vào, chứ không dùng ray như DP. Bệ khoá nòng có ray riêng chạy trên nắp trên vỏ máy súng (hộp khoá nòng, receiver), có hình mái nhà bằng vật liệu đúc. Kiểu máy nhà này trông giống như AG-42 của Thụy Điển. AG-42 là bản sao của SVT nhưng lại không dùng trích khí piston.



Việc học toàn bộ cấu trúc của kè thù một mất một còn ngay trong chiến tranh khốch liệt, rồi dùng làm vũ khí chính, chứng tỏ danh tiếng lấu lừng của Mauser đã bị người Nga cướp mất.

Tuy nhiên, vấn đề là khi cải tiến thành khóa nòng trụ nhỏ, người Đức đã đánh mất các chi tiết to, ngắn, thẳng, khối đặc của DP, mà trở nên mảnh mai, cong queo, rỗng và dài, có các mặt trượt nhỏ. Điều này làm súng mới hoạt động trơn tru, nhưng máy súng chóng biến dạng hao mòn và không chấp nhận các tình huống "khó ở" như bụi , kẹt ... Sự êm ái trơn tru có lẽ tốt hơn với súng trường tấn công bắn loạt, nhưng G-43 là súng phát một !!!.

Hitler thì nhiều cái rồ, trong những cái rồ của hắn thì dặc biệt về kỹ thuật và "thân pháp" của bộ binh, hắn rồ dại bậc nhất. Lấy máy súng liên thanh cho súng trường và lấy máy súng trường gắn vào súng liên thanh !!!

Nhìn về trước. Kiểu máy hai nhạnh ngang này được một nhà thiết kế Thụy Điển lần đầu tiên vẽ vào thập niên 190x, năm 1907, cùng lúc Fepdrov Avtomat dược thiết kế, Rudolf Henrik Kjellman đã vẽ kểu máy hai ngạnh dùng kim hỏa đẩy xòe ngạnh ra. Nhưng các bản vẽ này không bao giờ được chế tạo mẫu thử. Nửa đầu TK20, Thụy Điển dùng lung tung các loại trung liên khác nhau thiết kế lại để dùng đạn 6,5mm của họ. Đáng chú ý có khẩu Swedish Kulsprutegevaer (Kg) m/1914  ( Sao lại Madsen của Đan Mạch).  Kg m/1939 sao lại khẩu Kulomet VZ/26 (ZB/26) Của Tiệp Khắc, đây là khẩu trung liên dùng máy trích khí, có trích khí khí động thẳng xiên ngược giống của AK say này, máy của khẩy này dùng khóa nòng chèn một ngạnh. Kg m/1940 do người Đức Hans Lauf thiết kế tại Magdeburg Maschinenfabrik AG.  Kg m/21 and Kg m/1937 chính là sao lại BAR. Các súng Thụy Điển đều không được thiết kế kỹ càng.

Bản vẽ của Rudolf Henrik Kjellman cũng vậy, ông đã không thực hiện nó và cũng đương nhiên không nỗ lực hoàn thiện thiết kế theo các yêu cầu thực tế.

Ta xem xét từ khẩu một, đầu tiên là G43. G43 ban đầu dùng loại động lực khí động Bang-tên người Đức Soren Hery Bang), nhưng thiết kế kiểu động lực thay cho trích khí khí động này không tin cậy, nặng. Năm 1941, cả hai phiên bản G41 của Mauser và Walther đều dùng trích khí này.  Đây là một thiết kế xuất phát từ những ước lượng sai lầm. Nhiều mẫu súng thử nghiệm của Liên Xô cũng dùng trích khí kiểu này nhưng rồi bỏ, không khẩu nào chấp nhận kiểu đó trong thực tế. G-43 mượn trích khí từ SVT, khóa nòng cải tiến vài chi tiết nhỏ.

Hệ thống động lực cho máy súng tên Bang do nhà thiết kế Đan Mạch trình bầy năm 1911, trong một nghiên cứu về súng trường tự động bắn phát một trước người Mỹ. Hệ thống gồm một piston đặt ở đầu nòng, đạn bay qua piston này nhờ một lỗ ở tâm. Luồng khí tốc độ cao đẩy piston về trước, kéo máy súng chạy. Máy này cũng dùng động lực giống trích khí vòng cung, như của Hans Lauf trong Kg m/1940 Thụy Điển. Nhưng Hans Lauf rất khác, có thể nói đây là thiết kế đầu tiên sử dụng cơ chế khí động giống như AK-47 sau này, luồng khí trong nòng được dẫn qua ống cung làm quay ngược lại, thời gian để dòng khí lộn ngược lại đủ để đạn ra khỏi nòng, nhờ đớ trích khí không làm ảnh hưởng đến đạn.

Kulomet VZ/26 chính là nguyên lý rất giống AK-47, tuy nhiên, trích khí không được tính toán hoàn hảo, thậm chí trông rất thô cổ. Nguyên lý đúng nhưng việc thiết kế không được đầu tư thử nghiệm công phu, khi thời đại mô phonghr máy tính chưa đến, cũng như áp dụng các sáng kiến tiên tiến nhưng thiếu kiến thức cơ bản để tính toán ra cấu trúc đúng đắn. Mình nhắc lại nguyên lý này chút, nó là một ống thằng chéo ngược về. Dòng khí lộn ngược lại rồi nén trong ống chậm, nên dạn kịp bay đi mà không bị ảnh hưởng. Piston hoạt động được bằng năng lượng đã tích lũy trong ống, ưu điểm là ống rất to, thẳng không bao giờ tắc như trích khí tiết lưu.

Nguyên lý AK-47 không mới, nhưng từ nguyên lý được áp dụng trên những khẩu súng vô danh tiểu tốt cho đến máy AK là đoạn đường dài. Trong thời đó, kiểu máy trích khí tiết lưu có buồng tích áp và điều chỉnh tiết lưu được dùng phổ biến nhất. Các thành phần cơ bản được hoàn thiện lần đầu trên DP và SVT vẫn còn đến ngày nay. Kiểu SVT gọn nhỏ, lại không vướng đường hất vỏ đạn và nạp đạn, tiện dùng cho súng trường. Buồn cười, gấn đây cả nước Mỹ ồn ào lên máy LWRC có trích khí nguyên lý tốt nhất vũ trụ, dân liệt não không biết đó là trích khí AR-18, chứ đừng nói đến thủy tổ SVT.

Kiểu trích khí DP thích hợp cho súng máy thường xuyên được chăm kỹ và bắn nhiều, nó lớn nhưng lại ít chi tiết. Kiểu này vẫn được dùng nhiều trên các súng trường và súng máy ngày nay, cùng một số cải tiến. Trong lúc đó, Garand, BAR không phát triển đầy đủ chỉ áp dụng một phần trong số các nguyên tắc và áp dụng nhiều nguyên lý sai lầm. Garand dùng một khe hình vòng khuyên trong nòng, xẻ cắt ngang nòng, với mục tiêu làm tác động đến đường đạn và độ co dãn nòng đồng đều, điều này chấp nhận một đai to nặng và chẳng ai ngày nay làm thế. BAR là trích khí hành trình dài đơn giản. Cả hai đều dùng tiết lưu và piston lớn, nặng, chấp nhận độ kín khít piston cao.

G-43, MG-42, STG-44 được Hiler quyết định là ba vũ khí chủ lực của quân đội Đức ngày 6-4-1944. MG-423 là súng máy, G là súng chủ lực, súng trường, STG là súng tấn công. MG-42 tức là súng máy của bộ binh năm 1942, Maschinen Gewehr.

NHiều bạn bè mình khó hình dung cơ cấu làm việc của máy súng MG-42 qua hình vẽ, nên mình post lại chút. Dưới đây là toàn bộ khối lùi, súng lùi ngắn cái nòng, rồi nòng dừng lại và sau đó cái kim hỏa vẫn lùi tiếp. Nạnh ngang là hai ổ quay C, gờ D ở vỏ hộp khó nòng, khi lùi về, gờ D đẩy hai ngạnh tròn C ép vào kim hỏa, làm kim hỏa lùi với tốc độ nhanh hơn. Khi kim hỏa chưa rời xa nòng, thì khối lùi ở tư thế bên phải: kim hỏa chèn hai trụ C ra hai bên ngoài, khóa nòng K kéo hai ngạnh tròn C, ngạnh kéo theo nòng, cả khối cùng lùi. Khi trụ ngạnh đi đến gờ D, gờ ép trụ vào trong, trụ lăn đẩy kim hỏa về sau. Khi kim hỏa lùi đủ xa để trụ lăn rơi vào khe khóa nòng, thì khóa nòng thả ra, thôi không kéo nòng đi cùng nữa, nòng dừng lại trong khi khóa nòng lùi tiếp.

Sau này, trong MP-45, người ta làm nòng tĩnh không lùi, nhưng làm phần kim hỏa nặng hơn. Do tốc độ lùi của nó cao mà khối lượng nhỏ nhưng lực hãm lớn. Kiểu máy lùi có con lăn làm chậm này được dùng trên một số súng trường tấn công, súng trường nặng và súng ngắn bắn nhanh nổi tiếng sau này. Khi dùng kiểu máy này làm súng bắn chỉ liên thanh thì súng rất nhẹ, ít bộ phận. Nhược điểm là khả năng tắc do vỡ vỏ đạn tăng lên, đặc biệt khi máy súng cũ mòn, do vỏ đạn lùi với nòng súng ngay trong khi bắn. Nhược điểm nữa là con lăn cùng các mặt công tác dính đến nó cần chế tạo bằng vật liệu quý. Ưu điểm là bỏ được ổ trượt nòng phức tạp, dễ hỏng, kém bền và nặng uỵch của MG-42.













Thằng cha khỉ nào vẽ cái hình động trên của MG-42 quên mất phần quan trọng là kim hỏa. Kim hỏa bị đẩy lùi với tốc độ cao bởi hai con lăn kẹp vào đầu nhọn vát của kim hỏa, làm chậm vận động khép lại cùa hai con lăn, đảm bảo thời gian khóa nòng.
Hình trên phải thêm hình dưới này, đây là kiểu máy lùi con lăn làm chậm cải tiến từ kiểu máy MG-42.



MG-42 chỉ bắn băng dây, nó bắn băng kim loại gần giống PK sau này, chứ không bắn băng vải như DPM, RP-46, RPD. Cũng như RP-46, không như RPD, MG-42 có vai trò như đại liên PK sau này, chứ không phải là trung liên. Tổ chiến đấu 3 người, xạ thủ bên phải, phụ bên trái, tổ trưởng và phụ mang theo súng ngắn bắn nhanh MP. Súng có các loại giá 2 chân và 3 chân. Điểm này chính là cái dở của MG-42: nó hiệu quả như trung liên nhưng lại nặng nề như đại liên. Súng cũng có hộp trống tròn tiện mang và hộp chữ nhật to chứa nhiều đạn. Phổ biến lắp băng 200 viên.

Vào thời MG-42, DP cũng cải thành DPM (RP-46), cũng nặng như vậy. Tuy nhiên, DPM cũng như RPD, rất bền và bắn loạt dài tỹ tã. Việc biến súng trung liên thành đại liên hồi đó do việc dùng súng ngắn bắn nhanh MP trở nên phổ biến, hỏa lực liên thanh đông đảo nhưng MP tầm gần. Cái cần bù lại là một súng máy tầm xa chứ không phải là một súng máy cá nhân-vốn đã đầy MP, dùng bắn kiềm chế khi các MP xung phong, cần loạt dài liên tục cho đến khi các MP vào tầm bắn. Sau này, RPD, RPK lại trở thành súng cá nhân vì kỹ thuật mới cho phép súng gọn hơn, cần nhiều súng hơn để đem xuống tiểu đội. MG-42 mà đem xuống tiểu đội thì xơi mất 1/3 biên chế.

Cũng vì cải tiến này mà DPM (RP-46) không được sản xuất nhiều, sau đó được thay bởi RPD rồi RPK, lại trở về cá nhân, nhờ đạn nhỏ. Đến năm 1949 thì Liên Xô thống nhất biên chế tiểu đội 9 người, 1 trung liên RPD và 1 B40, 7 AK. Về sau tiểu đội Liên Xô có khi 6 người. Ở Vịt, tiểu đội chia làm 3 tổ, 2 tổ mỗi tổ 3 AK, tổ hỏa lực 1 AK, 1 B40 và 1 RPD. Mỗi đại đội Vịt thêm 2 tổ đại liên PK và 2 tổ cối 60.

DP, MG... hồi đó tuy to, nhưng so với đại liên Maxim 40 cân thì nhẹ nhàng lắm rồi. DP ra đời từ súng trường tấn công Fedorov, đến Thế Chiến II, DP thoát hẳn kiếp súng trường khi nó nặng như đại liên ngày nay.  Nhưng đó cũng là phát triển cuối cùng của kiểu trung liên cá nhân trung gian DP nguyên thủy, trước khi súng trường tấn công được sản xuất số lượng lớn.





Kiểu động lực Bang. Có rất nhiều kiểu máy súng được phát triển cùng hướng, nhưng DP đi trước và hoàn thiện nhất, được lưu truyền đến ngày nay, trong khi các kiểu khác chỉ còn là kỷ niệm.




KG m/40 do Hans Lauf thiết kế cho Thụy Điển. Trích khí dùng cơ chế khí động, làm chậm quá trình trích khí bằng lộn ngược chiều chuyển động dòng khí. Nguyên lý thì giống AK-47 sau này, nhưng thiết kế thì "người nguyên thủy" quá.

« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2009, 11:45:34 AM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #166 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2009, 08:51:36 AM »

MG-42 và MP-45 đều dùng một kiểu máy khá đặc biệt có con lăn, mặt công tác của con lăn đều phải chịu một lực rất lớn, cỡ 5-6 tấn khi bắn, điều mà bên Liên Xô không thể chấp nhận được. Ngoài ra, chúng còn có những ưu nhược khác dưới đây.

NHiều bạn bè mình khó hình dung cơ cấu làm việc của máy súng MG-42 qua hình vẽ, nên mình post lại chút. Súng có nguyên lý DP nhưng toàn bộ máy súng di chuyển được trong máng chung. "thành hộp khóa nòng" như bên DP gắn liền với nòng, cùng khóa nòng và kim hỏa chuyển động trong máng súng.

Trên đây là toàn bộ khối lùi, súng lùi ngắn khối gồm cái nòng + khóa nòng + máng trượt khóa nòng + kim hỏa, rồi nòng dừng lại và sau đó cái kim hỏa vẫn lùi tiếp, kim hỏa lùi làm mở khóa nòng và khóa nòng lùi theo kim hỏa. Ngạnh ngang là hai ổ quay C, gờ D ở vỏ hộp khóa nòng, khi lùi về đến D, gờ D đẩy hai ngạnh tròn C ép vào kim hỏa, làm kim hỏa lùi với tốc độ nhanh hơn. Khi kim hỏa chưa rời xa nòng, thì khối lùi ở tư thế bên phải: kim hỏa chèn hai trụ C ra hai bên ngoài, khóa nòng K kéo hai ngạnh tròn C, ngạnh kéo theo nòng, cả khối cùng lùi.

Sau này, trong MP-45, người ta làm nòng tĩnh không lùi, nhưng làm phần kim hỏa nặng hơn. Do tốc độ lùi của nó cao mà khối lượng nhỏ nhưng lực hãm lớn. Kiểu máy lùi có con lăn làm chậm này được dùng trên một số súng trường tấn công, súng trường nặng và súng ngắn bắn nhanh nổi tiếng sau này. Khi dùng kiểu máy này làm súng bắn chỉ liên thanh thì súng rất nhẹ, ít bộ phận. Nhược điểm là khả năng tắc do vỡ vỏ đạn tăng lên, đặc biệt khi máy súng cũ mòn, do vỏ đạn lùi với nòng súng ngay trong khi bắn. Nhược điểm nữa là con lăn cùng các mặt công tác dính đến nó cần chế tạo bằng vật liệu quý. Ưu điểm là bỏ được ổ trượt nòng phức tạp, dễ hỏng, kém bền và nặng uỵch của MG-42.

Ở đây, có một bài toán khá đơn giản nhưng làm đau đầu các nhà chế súng khi quyết định lắp khóa nòng lùi như MP-45 hoặc lùi ngắn cả nòng như Fedorov, MG-42. Với đầu đạn 10 gram, sơ tốc 800 m/s, khối lùi ngắn gồm nòng, khóa nòng vào cỡ 4-8kg, thì vận tốc lùi chỉ vào 1-2,5 m/s. Vận tốc đó khá nhỏ để máy súng làm việc trơn tru, máy súng quá chậm, gặp bẩn tắc có thể bị hãm lại dễ dàng. Mặt khác, quãng đường lùi và đẩy về của khóa nòng cần ít ra 15-20 cm nhân hai, ra 30-40 cm, với vận tốc lùi như trên thì tốc độ bắn quá thấp. Nếu như sử dụng nòng nhỏ để tăng vận tốc lùi, dùng loại nòng chỉ 1-2-3kg, thì MG-42 rất nhanh nóng và chóng hỏng nòng. MG-42 có giải pháp là làm thêm nòng dự trữ, cơ cấu thay nòng nhanh... nhưng như thế thì nó cần tổ súng như đại liên PK sau này rồi, không còn là trung liên, được định nghĩa là súng máy cá nhân nữa. MG-42 tăng vận tốc kim hỏa lên, kim hỏa nặng sẽ kéo khóa nòng nhanh hơn vận tốc lùi nòng, đồng thời, trục quay trơn tru làm các bộ phận máy súng hoạt động thuận tiện hơn, để thêm phần giải quyết vẫn đề này.

Vì bài toán này mà súng MG-42 tuy to nặng như vẫn nòng nhỏ, tuy dùng cơ cấu trơn tru nhưng vẫn dễ tắc, tuy dùng nhiều hợp kim mà vẫn không bền. Ưu điểm của súng là trụ quay, vòng bi... có thể sản xuất hàng loạt rẻ, còn lại các cơ cấu khác của súng thì hình dáng đơn giản gần như DP, nhưng các mặt công tác với con lăn cần hợp kim đắt, đây là những nhược điểm chung của vũ khí Đức khi bị bao vây cấm vận. MG-42 có máy rất độc đáo, nên tạo nhiều ấn tượng với giới trẻ tìm hiểu súng nghiệp dư sau này, nhưng rõ ràng không nước nào theo Đức phát triển kiểu máy này cả, nhà ta thì sử dụng súng trong chiến tranh kha khá, súng Tây lấy của Đức, rồi ta chiến của Tây đánh Pháp, rồi viện trợ cho du kích miền nam đánh Mỹ Ngụy. Súng rất ít dùng, vì thế nên không để lại dư âm nhiều, nhưng cũng chứng tỏ súng không hay ho gì, đặc biệt trong điều kiện chiến tranh phức tạp của nhà ta, khí hậu tồi, đất bùn bắn nhiều, quân du kích nhiều...

Với máy như MP-45, lại gặp vấn đề khóa nòng chuyển động ngay khi bắn, cùng với đạn bắt đầu chuyển động, nếu chuyển động khóa nòng lớn sẽ tăng khả năng đứt vỏ đạn, buộc lòng phải thiết kế khóa nòng sao cho chuyển động của nó trong lúc còn áp suất trong nòng không được đến mức kéo vỏ đạn hết phần dầy ở đuôi, phần này đạn Mauser và các đạn không gờ móc khác lớn, thêm nữa, đạn Mauser và đạn 5,56 x 45 (M16) NATO sau này có độ côn nhỏ, tránh dãn vỏ đạn trong loại máy này.  Mặt khác, lực đẩy khóa nòng lùi trong kiểu máy này lớn hơn nhiều kiểu trên, do diện tích đuôi vỏ đạn lớn, lực đẩy này thường lớn gấp hai lần lực đẩy đạn trong loại đạn lớn như AK-47. Loại đạn như MP-45 lực đẩy trung bình đoạn 40cm của nòng có thể đến 1500-2500 kg-lực. Ví dụ, với đạn nặng 10gram, khối lùi nặng 5kg, nòng dài 400mm, thì vỏ đạn lùi 1mm nếu không dùng đòn bẩy và đường kính vỏ đạn bằng đường kính đạn, nếu lực đẩy lùi gấp đôi thì quãng đường trên là 2mm, vượt quá con số chấp nhận được, vả lại, cũng không ai chấp nhận khối lùi 5kg nếu không lùi cả nòng như MG-42. Việc nhân tốc độ khối lùi trong trường hợp trên với 10 bằng đòn bẩy giảm được khối lùi xuống còn 0,5kg, vẫn là quá lớn với một MP nhưng có thể chấp nhận được với một súng trường. Tuy nhiên, loại đòn bẩy nhân tốc độ với 10 chắc chắn là khó gia công và không bền. Loại con lăn làm chậm như MP-45 có thể nhân tốc độ lùi gấp 2-3-4 lần, tức là cần những khôi lùi cỡ 1 kg. nếu không như thế thì phải chấp nhận khả năng vỡ vỏ đạn lớn.

Hai loại máy lùi trên, một thì quá nhanh, một thì quá chậm, nên được áp dụng rất chậm. Đây là hai điểm độc đáo của Đức. Bên Liên Xô không chấp nhận kiểu con lăn, vừa yêu cầu mặt công tác đắt, vừa không bền và không hợp với đạn có độ côn khá cao của AK. Liên Xô sau này cũng có hướng phát triển đòn bẩy được thử nghiệm, nhưng không được sản xuất lớn.

Cái photo bucket chán òm, chít rùi. Mình để đoạn post sau viết tiếp vậy. Cùng nhau tham quan một số loại máy súng máy đầu tiên, ta tìm thấy điểm hơn điểm kém của từng loại và sẽ hiểu nhưng ưu thế của AK quý giá như thế nào.

Chúng ta lấy DP mà so với các súng cùng nguyên lý MP-45 và MG-42. Cả hai súng Đức đều có ổ con lăn phải chịu một lực đến 5-6 tấn khi bắn, sự biến dạng của chúng ảnh hưởng luôn đến quá trình khóa. Đặc biệt, MP-45 và các máy có con lăn hãm lùi thì chụ lực lớn như trên trong khi con lăn đang di chuyển, sinh ra mòn lớn, mà mòn con lăn làm thay đổi mạnh tỷ số đòn bẩy. MG-42 con lăn đứng yên khi chịu lực lớn, giống như DP, nhưng đổi lại, nó buộc phải dùng cái nòng nhỏ xinh mỏng, không thích hợp với điều kiện lính tráng. So sánh, chúng ta thấy DP trích khí rất khác biệt, kể cả so với các súng sau nó trên thế giới, điều đó đã làm DP không phải chịu cảnh nòng nhẹ như MG-42. Còn hàng  loạt các súng máy khác hồi đó dùng các trích khí thiết kế đơn sơ về nguyên lý, to nặng và phức tạp về cấu trúc... mà mình sẽ post lên khi cái photobucket nó chạy.

Trích khí hay máy lùi... là các cơ cấu phát động, là động cơ của máy súng, một máy súng tốt phải có điều kiện tiên quyết là động cơ súng. DP quá tự hào khi thiết kế cái động cơ mà ngày nay được AR-18. LWRC... tung hô đến mây xanh, G-43 sao chép như là điều kiện tiên quyết để súng được chấp nhận trang bị...


Rudolf Henrik Kjellman Thụy Điển vẽ kiểu ngạnh ngang chèn kim hỏa đầu tiên năm 1907. Kiểu này không bao giờ được chế thử nghiệm. Mình chưa thấy bản vẽ nào cổ hơn, coi đây là bản vẽ khai sinh của kiểu máy then ngạnh.



BRNO ZB26

« Sửa lần cuối: 04 Tháng Ba, 2009, 09:46:20 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #167 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2009, 09:47:39 AM »

Chúng ta có một so sánh nữa, đó là khẩu ZB-26 (26zv) của Tiệp Khắc ( Czech-Slovakia), một trong những khẩu trung liên tốt nhất Thế giới lúc đó. Đức chấp nhận phiên bản dùng đạn Mauser 7,92mm với tên MG-36. Khẩu súng được Thụy Điển chấp nhận phiên bản dùng đạn Mauser với tên KG m/1939 sản xuất theo license tại Thụy Điển và thiết kế lại một chút, Thụy Điển có cả hai phiên bản 6,5 mm và 7,92mm Mauser được gọi theo tên nhà máy là BRNO, Anh Quốc chấp nhận phiên bản copy có licensse với tên Bren LMG.

ZB được Đức chấp nhận để hay thế MG đời cũ quá lạc hậu sau thời nước Đức bại trận. Khẩu MG-34 vẫn dùng máy ren cắt của pháo mà, sau đó, ZB nhanh chóng được thay bởi MG-42, anh em ngạnh ngang của DP, nhưng đã quá muộn cho nước Đức. ZB được chấp nhận do Đức chiếm Tiệp Khắc và tổ chức sản xuất hàng loạt trung liên có thể tiến hành ngay lập tức, chứ không đợi nghiên cứu thử nghiệm, cũng như các máy móc và quân xưởng mới. Được Đức chấp nhận trang bị chứng tỏ súng cũng không tồi lắm.

Đám ái quốc  Anh Quốc , cũng ngu lợn như các đám ái quốc nói tiếng Anh khác, thường quên béng Bren chính là ZB, sản xuất theo license. Liên Xô có một ít thu được khi đánh Rumania, Hungaria, các nước Baltic và sau trang bị cho các quân đoàn Tiệp Khắc.
Súng được tầu Tưởng mua và tổ chức sản xuất nhái, sau được tầu Cộng thu và dùng, nhưng hàng tầu rất chuối. ZB mang nhãn hiệu Bren được Anh cấp cho Pháp và ta thu được khá nhiều, một trong những loại trung liên chủ yếu của ta, nếu không nói là nhiều nhất.

Trong giai đoạn 1950 đến 1954 ta quan hệ thân mật với Tiệp Khắc, không hiểu bạn có viện trợ cho ta súng này không, có thể là có, vì ta đang dùng nhiều Bren, thận lợi để dùng hàng chính hiệu-tuy nhiên lại vướng vấn đề đạn, vấn đề này các bạn cứ hỏi bác Đoành và Cao Sơn. Sau 1954 thì chắc là ta dùng DP rồi, vả lại, RPK lúc đó cũng bắt đầu được sản xuất ở Liên Xô nên điều kiện để nhập DP dôi ra chắc xông xênh.

Súng được thiết kế bởi hai anh em người Szech là Vaslav và Emanuel Holek, một người Áo tên Marek và một người Ba Lan tên Podradsky tham gia thiết kế. Chúng ta cần nhớ rằng, dải Đông-Bắc Âu là quê hương của công nghiệp súng ống châu Âu. Mông Cổ đã đem thợ từ khắp thế giới đến đây, rồi tiếp theo, Otoman cũng đặt những công xưởng lớn nhất ở đây làm hậu phương cho họ. Cho đến đầu TK20 thì nơi này vẫn là trung tâm công nghiệp vũ khí.

BRNO ZB26 có chất lượng cao do thép đặc biệt sản xuất tại nhà máy Skoda . Nòng súng nóng đỏ nhúng luôn xuống nước mà không hỏng, giống nòng đại liên PK sau này, cũng như PK và MG-42, ZB 26 cũng có khả năng thay nòng nhanh. Tất nhiên, cả ZB và MG đều không có khả năng thay nòng cực nhanh bằng ổ nòng chính xác cao và bền trong điều kiện nóng đỏ của PK. Cũng may, đại liên PK không được cung cấp rộng rãi như AK, không thì khối lợn sẽ nói đại liên PK lấu mẫu từ ZB, hai khẩu súng dáng khá giống nhau.

Súng dùng trích khí, điểm đặc biệt là trích khí có nguyên lý rất giống nguyên lý của AK-47 sau này, có ống chéo ngược thẳng, nhưng thiết kế hình dáng cụ thể thì không như AK, mà to, phức tạp, dùng đoạn nối thêm nòng. Trích khí ZB26 không tận dụng được khả năng khí động như AK-47, không hiểu sao các nhà thiết kế lại tính toán sai cái điều ngay cả ước lượng cũng thấy, thời gian đạn bay trong ống nối thêm, tức từ lúc đạn đi qua lỗ trích khí đến lúc ra khỏi nòng, chỉ còn một phần ngàn giây, trích khí xiên xuôi như của Kg/1940 Thụy Điển trên đã yếu rồi, đừng nói là xiên ngược. Hiệu quả sử dụng luồng khí yếu, nên ZB26 dùng trích khí to đùng bù lại, do với DP có lẽ giống như gậy người nguyên thủy so với đồng hồ Thụy Sỹ.
Sau này có phiên bản dùng khuyên rống trong nòng chỗ trích khí, như ảnh dưới, khuyên này không cân đối. Tuy vậy, việc ảnh hưởng mạnh đến đường đạn không bao giờ được giải quyết đáng kể.

ZB-26 dùng khóa nòng chống vào thành vỏ máy súng bằng ngạnh nghiêng một cục chéo, giống của SVT, MP44, CKC (SKS), MAS49... Nhưng trích khí đặt dưới, ngạnh chống ngược lên trên. Như mình đã nói trên, kiểu ngạnh này làm rung súng theo chiều đứng một chút, một chút này được khếch đại lên bởi trích khi to, nặng, lỗ trích khí quá to đến mức phản lực của dòng khí trích có thể đẩy lệch nòng...

ZB-26 dùng băng hộp cắm trên, băng hai hàng hiện đại lúc đó, 20 viên.

ZB-26 có bắn phát một và chọn chế độ bắn. Trong thời đại súng trường thì việc làm một súng cộng đồng bắn phát một có vẻ thừa. Tuy nhiên, kiểu máy súng thích hợp với bắn phát một hơn là bắn liên thanh.

Nhược điểm của trích khí so với AK-47 do thiếu tính toán chu đáo của cácchuyeen gia kỹ thuật. Nhưng việc kém khả năng bắn liên thanh so với DP chứng tỏ việc thiết kế súng không được thử nghiệm kỹ càng, không được định hướng và đánh giá uốn nắn bởi các chiến binh. Súng có thép tốt, điều mà DP sinh ra trong ốm đói không có, có điều kiện gia công tốt... nhưng chất lượng chung lại không sánh được với DP.

DP trông thô lỗ, nhưng được thiết kế công phu để có thể chế tạo trong những điều kiện khó khăn, và dùng tin cậy, và trông như vậy nhưng DP nhẹ hơn ZB, lại chuyển động cân đối và êm ái hơn. Điểm quan trọng làm DP chất lượng cao, đó là súng nhìn rõ những yêu cầu của bắn liên thanh, đã làm loại trích khí chạy êm, máy súng cân bằng... điều mà các súng cùng thời cũng như sau DP rất nhiều còn thiếu.

Ngoài Bren (ZB 26) thì chỉ còn FN đầu bạc và BAR là trung liên nổi danh cùng thời với DP, mà chúng ta sẽ xem tiếp. Mịe cái bucket chứ, tiêu rồi. FN đầu bạc là một phiên bản gần giống của BAR, BAR là Browning Automatic Rifle, lúc đặt tên người ta chưa phân biệt được đâu là súng máy và đâu là súng trường, chức năng súng trường của BAR thì cũng như DP, khó mà tốt được vì bắn từ khóa nòng mở. Xem chừng, BAR ít nhất kém về cái trình độ đặt tên so với DP, đó là sự thật và quan điểm quân sự không đúng trong thiết kế súng sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời nó lâu dài. FN đầu bạc còn là biệt hiệu của Thiệu, cha này chơi gái khỏe nên có cái hỗn danh vậy.

Điểm khác biệt nữa của DP và ZB-26 là biên chế. DP nguyên thủy là trung liên đúng nghĩa, là súng máy dùng cá nhân, bắn loạt ngắn. Còn RP-46 (DPM), MG-42 đều là đại liên cỡ nhỏ, tuy năng lực bắn của chúng không sánh được với PK sau này, nhưng chúng là súng cộng đồng, súng của tổ 3 người, mà súng máy cộng đồng là hàng đại liên trọng liên rồi. Người ta gọi chúng là LMG (trung liên), là so với Maxim ngày đó nặng 40 cân (lúc nào sẽ xem lại Maxim-Tokarep).

DP-27 là súng máy cá nhân dùng cho tiểu đội vì lúc đó biên chế chủ yếu là súng trường lên cò tay Mosin, nên súng máy cá nhân rất cần để biên chế hoặc bổ sung cho các nhóm nhỏ, ví dụ tiểu đội phụ trách phòng ngự một hướng, nếu dùng súng cộng đồng thì ... 1/3 biên chế tiểu đội hầu hạ khẩu súng, thực tế, trong Kháng chiến chống Pháp, quân ta đánh giá 3 khẩu "MAS49 bán tự động" tương đương một trung liên, chưa kể 3 khẩu súng trường cơ động hơn ZB nhiều, cứ buộc 3 khẩu súng trường lại vào nhau mà so. DPM chiến đấu cùng tỷ lệ lớn MP, (tiếng Nga là PP, tỷ lệ ngang súng trường trong số lượng chung, với nhưng đơn vị mạnh lúc đó như cơ giới, hay đơn vị thường lúc tấn công ... thì tỷ MP cao hơn nhiều, chiếm chủ yếu), lúc đó cũng là thời buổi thai nghén AK. Ai cũng có súng máy rồi, nên súng máy chỉ dùng cho tầm xa, ở tầm xa thì chỉ đại đội phụ trách, nên ít cần trung liên mà cần nhiều đại liên. Sau này RPD, RPK dùng đạn nhỏ chung với AK, còn đại liên PK dùng như chức năng của DP-46 (DPM), MG-42, ZB-26. Và thực chất, MG-42, ZB là dạng đại liên nếu theo quan điểm ngày nay.

MG-42 và ZB-26 cần đông người vì sao ?? năng lực bắn của chúng có thể cao hơn DP-27, vì thay được nòng, nhưng liệu cao hơn bao nhiêu khi ZB bắn 150 viên liên tục phải thay nòng ?? Việc ZB rung mãnh liệt làm nó kém hiệu quả khi bắn loạt ngắn, mà bắn liên thanh loạt ngắn chính là chức năng trung liên, diệt mục tiêu điểm chứ không bắn diện tích. ZB do rung, kém bắn loạt ngắn, đâm ra phải bắn diện tích, là chức năng của đại liên. Làm đại liên thì ZB lại quá kém. Nói nôm na hơn, 3 khẩu DP-27 bắn tốt hơn nhiều 1 khẩu ZB hay MG-42. Còn để làm súng cộng đồng, bắn loạt dài thì các súng này không được cải tiến như DPM, RPD. DPM (RP-46) nặng 21 cân, hơn gấp đôi ZB và gấp hai rưỡi MG-42 8 cân, cũng to hơn nhiều DP-27 8 cân, nhưng với tổ 3 người thế quá nhỏ, đằng nào cũng tổ 3 người mà DPM bắn được loại dài tỹ tã và thực chất là trung liên nhưng có khả năng của đại liên.

Đây là điểm thiết kế đúng của DP, nó làm trung liên ra trung liên, đại liên ra đại liên. ZB tuy nhỏ như vẫn cần tổ chiến đấu đại liên và năng lực chiến đấu vẫn của trung liên. Điểm này thể hiện tầm quan trọng của việc thiết kế súng bởi những người lính, những người thợ, chứ không phải những quý bà hở lưng và những chàng sáng dạ được lòng các tiểu thư.

ZB mang tính chất như vậy, nó hàm chứa nhiều sáng kiến rất sáng giá sau này. Nhưng tất cả các chi tiết của ZB đầu được thiết kế rất vụng về, sơ khai, trong khi sử dụng nguyên liệu quý phái. Các ưu điểm của những kỹ thuật nổi tiếng sau này không sử dụng được, chỉ là áp dụng hình thức cho có, cho hay, cho thiên hạ biết ta là khí động đây. Trong khi đó nguyên lý trích khí của DP cổ điển, áp lực-tiết lưu, được hoàn thiện tiếp ở SVT và phát minh cylinder dịch chuyển cho đến nay vẫn được LWRC tung hô là tốt nhất vũ trụ. Không nhứng không tận dụng được ưu thế mạnh và tin cậy của AK-47, ZB còn gánh sự rung bật của loại trích khí này với mức độ khủng khiếp nhất có thể.

Một điểm hài hước là cái ống chéo được dùng để tiết kiệm khí, nhưng ZB bị ảnh hưởng đường đạn rất mạnh, tùy trích khí tốt xấu mà sơ tốc thay đổi đến 40m/s, từ 760-800.

Ta có thể thấy, AK làm trích khí cách đầu nòng khá xa điều này sẽ cho nhiều ưu thế trong máy súng, nhưng do đó cần tiết kiệm khí trích, nên mới dùng ống xiên ngược, dòng khí phải lộn ngược lại mới chui được vào ống nên thời gian khí vào ống bị làm chậm, lúc đó đạn đã ra khỏi nòng và đó là tiết kiệm khí trích. Đoạn này áp suất khí giảm chậm, nên việc tính toán hợp lý sẽ làm áp suất khí đẩy piston xung đi mạnh mẽ. Vì vậy, AK không cần tiết lưu nhỏ như DP mà ống trích to thẳng không bao giờ tắc. ZB đưa đoạn trích khí lên đầu nòng, lúc đó đạn đã sắp ra khỏi nòng không cần tiết kiệm khí trích, rồi áp suất ở đoạn này giảm nhanh, piston xung hoạt động yếu ớt. Cái hình thức lắp cho có, cho sang ở ZB nó như vậy. AK-47 không bao giờ tự hào về khả năng chống rung bật khi bắn liên thanh vì trích khí quá mạnh mẽ của mình. Máy của ZB vì trích khí yếu, nên phải làm piston to nặng dài, lỗ trích khí to mà ở tận đầu nòng, đẩy súng lệch rất khỏe, máy cũng chuyển động không cân bởi một ngạnh chéo. Điểm khác biệt nữa là ZB lại chuyên.... bắn loạt dài.

ZB có máy ngạnh cục chặn chéo, máy này được dùng trên các súng bắn phát một như SVT, MAS49, Ag-42... Nhưng cũng có những súng liên thanh lắp máy này là ZB, MP44 và SM2 Anh Quốc sau này. ZB ta đang bàn, MP44 trở thành trò cười suốt mấy năm trời trong làng chế súng Đức. Sau đó, MP44 lên ngai vàng trong cơn điên dại của Hitler, khi nước Đức đang sụp đổ trước SVT, DP và PPS, nó chỉ như một niềm hy vọng mới, quá đáng cười, khi một súng ngắn lại nặng như trung liên, một kết cấu mới được lắp từ những gì cổ lỗ nhất như ta đã biết. SM2 thì chỉ là khẩu súng thử nghiệm, chương trình có mục tiêu thiết kế súng trường tấn công theo AK-47 lúc đó đã phổ biến, và Anh Quốc không bao giờ thiết kế được loại súng trường tấn công nào cho đến nay. Một loại máy rung không cân thích hợp với súng bắn phát một, những súng liên thanh dùng nó có số phận như vậy.
Khi vừa được chấp nhận chưa đầy vài tháng (6/4/1944), MP44 đã phải nhường thiết kế mới cho MP45, máy cân không rung ngang. Máy MP45 còn nhiều điều đáng bàn, nhưng là máy súng liên thanh chứ không phải máy súng phát một.

Một khẩu súng nữa tuy được thiết kế trong thời đại còn rất lạc hậu, nhưng có tuổi thọ cao, vẫn bắn đều trong hai Thế chiến, đó là khẩu Madsen Đan Mạch, khẩu trung liên đầu tiên trên thế giới được chấp nhận. Nó cũng được thiết kế bởi những người lính. Madsen rung, lạc hậu... nó quá cổ mà, nhưng có nhiều chất lính tráng để người ta còn sử dụng nó lâu dài. Madsen sau này (Sau WWII). được Đan Mạch thay thế bằng kiểu súng sao chép DP của họ, cũng ngạnh chống giống hệt DP chứ không hơi khang khác như MG-42.


   
Phiên bản Đức MG-26(t) 7.92x57 mm, cũng là phiên bản BRNO Thụy Điển kg m/39. 6.5 x 55 mm Thụy ĐIển nhỏ hơn chút.
sơ tốc 760-800m/s
dài cả súng 1160 mm
nòng dài 668 mm
Khối lượng 10 kg
Tốc độ trung bình: 500 phát phút   
2 chế độ bắn phát một và liên thanh.
Băng 20 đạn hai hàng

Hôm nay cái bucket mới trơn trơn một chút

Trính khí xiên ngược kiểu AK, có lẽ đây là lần đầu tiên áp dụng. ZB-26 là một trung liên tốt bậc nhất phương Tây lúc đó, nhưng việc áp dụng kiểu này quá thô sơ, trích khí tiến quá lớn về đầu nòng, làm thời gian khí tác động quá nhỏ, đáng ra, vị trí này nên dùng kiểu khí động xiên xuôi như trung liên Kg m/1940 (SAV) (Knorre-Bremse), ZB-26 được chấp nhận ở Thụy Điển là Kg m/39 (Kg= trung liên, m= kiểu, 39=1939). NHư vậy, chỉ một năm ngắn ngủi kiểu xiên ngược đã phải thay bằng kiểu xiên xuôi như ảnh đã post trên. Vì trích khí yếu, nên phải làm trích khí rất to và tạo rãnh khuyên quanh lòng trong nòng chỗ trích khí. TRích khí này to nặng khủng bố so với DP và cái khuyên sau này không ai dùng. Những kiểu trích khí tuy có sáng kiến nhưng thiếu đầu tư tính toán cơ bản và thử nghiệm thực tế này mất đi nhanh chóng, trong khi kiểu trích khi DP phát triển mãi và đến nay vẫn được LWRC tung hô.
Trích khí AK-47 lừng danh về tin cậy mạnh khỏe, cùng áp dụng một sáng kiến, nhưng AK-47 chứng minh vai trò của việc tính toán và thử nghiệm công phu, vai trò của khoa học nền tảng và kinh nghiệm chiến trường.



Máy súng dùng khóa nòng chèn một ngạnh. Kiểu máy này làm súng trường phát một tốt vì nó dẹt nhẹ và đơn giản hơn DP hai ngạnh. Tuy nhiên máy súng rung theo chiều đứng, không hợp với súng liên thanh. Kết hợp với trích khí quá lớn và đặt xa tăng đòn bẩy làm rung, ZB rung rất mạnh và chỉ có chức năng bắn diện tích như đại liên là thực dụng.



m /1940 chuyển trích khí lên trên, băng đạn sang ngang
 Kgm1940 SAV Knorre-Bremse nhìn thấy ngay nhược điểm trích khí. Cũng là khí động, xiên ngược làm chậm quá trình trích khí, đây là đặc điểm tuyệt vời nhất trong trích khí của AK-47, nó to thẳng đặt sâu về cuối nòng mà vẫn mạnh khỏe và tiết kiệm khí. ZB dùng chức năng xiên ngược tiết kiệm khí ở vị trí đầu nòng, nơi không cần tiết kiệm khí, và làm máy súng yếu và rung, nhược điểm của trích khí AK-47 là quá mạnh làm rung súng, ZB khuếch đại điều đó lên với việc để lực rung ở điểm xa. Km/40 chuyển sang xiên xuôi để tăng cường khí trích, làm hai trích khí hai bên để cân bằng rung, cải tiến máy nhỏ đi giảm rung... tuy nhiên điều này làm súng quá cồng kềnh mà cải thiện chông rung cũng không được bao nhiêu.
Thụy Điển không muốn đầu tư nhiều vào súng đạn vì họ chả cần đánh ai, họ chỉ cần tự sản xuất súng cho có để tránh nhập khẩu, mà nhập khẩu là chơi với một bên nào đó và mất thế trung lập. Tuy nhiên, họ đã sớm nhìn ra nhược điểm lớn nhất của ZB-26. Trong khi đó, phương Tây thiếu khả năng đánh giá súng thực tế hơn Thụy Điển.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Ba, 2009, 05:20:56 AM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #168 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 09:24:10 PM »

Ôi trời, tưởng là cái photobucket hỏng, hóa ra máy mình dính một chú spy, nó đóng mở cổng thế nào ấy, bực cả mình.

ZB-26 sau này được cải tiến thành các phiên bản nhỏ ZB-30 và ZGB-33. ZB-30 cũng khắc phục những nhược điểm của trích khí và đến ZGB-33 thì hoàn toàn dùng trích khí của BAR, ngay từ ZB-30 đã thêm phần hiệu chỉnh khí trích. Trung liên Bren chính là phiên bản ZGB-33 sau dùng đạn Anh ".303 British" (7,7 x 57 Anh).

Trung liên Bren và ZB sau này bỏ đi cái trích khí kiểu AK đó, một minh chứng cho sự áp dụng các sáng kiến đáng giá một cách hào nhoáng bề ngoài, sẽ chỉ làm mọi thứ tồi đi. ZB sau này dùng trích khí lui vào đoạn giữa nòng, nhưng không thực hiện biện pháp tiết kiệm khí trích nào nữa, lỗ tiết lưu lớn. Nhắc lại là ZB sau được Đức sử dụng với tên MG-26(t), việc không hoàn thiện một trích khí nào cho trung liên cũng là một sức ép để MG-42 dùng máy lùi, vấp phải khó khăn từ cái nòng quá nhỏ.
Mẫu thử nghiệm ZB trước khi được chấp nhận hiện trong bảo tàng, chưa có trích khí xuôi sau của AK. Những kiểu trung liên lúc đó như Chauchat, BAR... không hoàn thiện trích khí và sau đó, ZB nỗ lực tiết kiệm khí.


Bren (ZGB-33), lùi trích khí vào trong, để mình tìm hình mặt cắt bốt lên, trích khí vuông góc tiết lưu lớn. Cũng là chuyện tình cờ, sau này AK-74 cũng dùng tiết lưu vuông góc, vì cỡ nòng nhỏ của AK-74 không sử dụng được trích khí xiên ngược nữa, rung mạnh của nó làm giảm hiệu quả chụm đạn loạt liên thanh của đạn nhỏ. Còn ở đây, sự thay đổi do bế tắc kỹ thuật trích khí, người ta không muốn tiết kiệm khí trích nữa.


-----------------

Chúng ta xem xét một hẩu súng nữa, BAR.

BAR không được gọi là trung liên, mà là Browning Automatic Rifle. Ở đây có một sự hài hước, hàng đống nhà ái quốc Hoa Kỳ, mà các nhà ái quốc này mang tiếng chung ngu si hơn bò, tung hô rầm rỹ "BAR là súng trường tấn công đầu tiên trên thế giới", he he he he he, quá đê tiện tị nạnh trước ánh sáng tỏa ra từ AK mà, hết AK học MP đến AK chỉ là hậu duệ của BAR mà thôi .  Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin

Ôi trời, các nhà ái quốc ấy nói đúng mới chết chứ. Hóa ra họ cũng chỉ ngu si bằng những người thiết kế concept BAR. Chuyện BAR là thủy tổ AK mấy năm trước ồn ào lắm, sau thì nó xẹp đi vì thối quá, dân làm ra ZB chưa bao giờ gọi nó là súng trường tấn công cả.

Câu chuyện bắt đầu từ Chauchat, trung liên Pháp. Người Pháp dự định thiết kế một loại súng trường tấn công thật sự, là Chauchat và BAR đó, các nhà kỹ thuật đã thỏa mãn ý muốn của các chuyên gia quân sự Pháp.  Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Nghe quá hài, nhưng đó là sự thật, không phải tự nhiên mà Tây Phú có truyền thống đánh đâu thua đấy, rồi anh Mỹ thừa kế Grin. Lúc đó người Pháp gọi kiểu súng này là Walking Rifle. AK bắn được trong khi chạy, còn Chauchat và BAR bắn khi... dạo phố thong dong. Người Pháp tính thiết kế một súng trường dùng khi đang tấn công (nhưng không xung phong  Grin Grin Grin  ), không tỳ vai bắn  được thì xách bắn (ai mà tỳ vai đứng bắn được khẩu súng chục kg).
 Grin Grin Grin Grin Grin Grin
Theo người Pháp thì người ta không cần xung phong khi tấn công, mà dạo chơi sang công sự địch... làm khách quý.

Quá hài hước, nhưng đó là sự thật. Vào thời gian Thế chiến I, Đức đưa ra concept MP, kiểu súng có thể bắn thực hành không tỳ vai, cầm tay bắn ngang người. Nhưng kiểu bắn đó chỉ tác dụng ở tầm rất gần, và tầm đó chỉ cần đạn súng ngắn không cần đạn súng trường, đó chính là súng tấn công, STG, xung phong thương. Người Đức cho rằng thời điểm tấn công, giáp lá cà trong hào, người ta cần chạy rất nhanh, vừa chạy vừa bắn liên tiếp loạt ngắn, di chuyển thuận tiện trong hào chật hẹp...

Người Pháp thì nghĩ ngược lại (đúng lúc đó !!!), làm một khẩu súng to nặng gấp đôi ba súng trường thường, khi tấn công đi bộ dạo chơi. Rồ người, người Pháp đã lấy tốc độ tiến công của thời đại khối người Nã Phá Luân, lắp vào thời đại súng máy.  Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin và chế ra "súng trường tự động đi bộ" Chauchat.


Thế nhưng cái rồ dại ấy cũng có học trò, anh Mỹ anh ấy chấp nhận ngay một chú BAR tương tự. Browning là nhà thiết kế súng lừng danh, nhưng ông đã đem kỹ thuật cao minh đi thỏa mãn một yêu cầu ngu si của các nhà quân sự tồi.

Kết quả, súng bắn được khi đang di chuyển như AK, nhưng mà là đi bộ ỳ ạch chứ không ào ạt tiến công, một loạt bắn chỉ may ra trúng mục tiêu ở vài chục mét và nóng súng văng ngoắt về hướng.... quân ta. Làm súng trường thì cũng được, có điều nó bắn từ khóa nòng mở, là loại súng trường bắn tồi vì chuyển động của khóa nòng sẽ đẩy xiên đường ngắm đi. Thêm nữa, một khẩu súng trường nặng 9-11 cân thì cũng... nên đổi lấy 3 khẩu súng trường thường cho lành.  Grin Grin Grin

Cái đoạn dở người của Chauchat và BAR như vậy. Anh Pháp Mỹ luôn luôn sai concept vũ khí, cho đến ngày nay. Chúng là súng trường tấn công đầu tiên của thế giới, có thể, nhưng là trong những cuộc tấn công của người khổng lồ giữ được chúng bắn loạt liên thanh trên tay, cầm chúng ngang người xung phong trong chiến hào, và dĩ nhiên cũng chiếm công sự của loại người khổng lồ, chiều ngang chiến hào rộng hàng mét để súng không vướng.

BAR cũng dùng khóa nòng nghiêng, kiểu như SVT, MP44, MAS49... nhưng khóa nòng có hai phần khớp với nhau bằng một bản lề, khớp này nối lên bệ khóa nòng, khi bệ khóa nòng tiến lên khớp này ấn khóa nòng xuống, khóa súng, phức tạp hơn các khóa nòng nghiêng khác. Trích khí đặt dưới nòng và cũng không tính tiết kiệm khí trích, trích khí nằm sâu về cuối nòng và to. BAR có băng dưới hộp khóa nòng 20 viên. Cái độc đáo của BAR là có một vỏ phụ ngoài vỏ chính, môt bơm khi gắn với piston bơm khí qua khe này giúp thêm làm nguội nòng. Kiểu này sau gần trăm năm được áp dụng trở lại trong đại liên cá nhân Nga PKP Pecheneg, tuy nhiên, PKP đã ở thời đại mới, nhiệt độ làm việc của nòng cao hơn.

BAR được đánh giá là không thành công ở cả hai concept, súng trường và trung liên.
Ngoài việc nặng và không chính xác trong bắn phát một, nó còn quá phức tạp với việc bảo dưỡng một súng cá nhân. (tháo lắp súng bằng mỏ lết và búa, tô vít to...). Nếu dùng như súng trường liên thanh cũng không được, vì Không thể giữ nó khi bắn liên thanh mà không đặt súng xuống đất.
Khi là trung liên súng quá nhanh nóng nòng, điều này giống như các trung liên nhẹ cỡ 8kg thời đó, nhưng BAR không thay được nòng nưa ZB, Bren... hơn nữa, băng đạn 20 viên quá ít cho một trung liên... Và tóm lại, BAR chỉ có thể dùng như một súng trường nặng khủng khiếp.

Về mặt kỹ thuật, BAR cũng như các trung liên khác phương tây, một là dùng khóa nòng chèn ngạnh nghiêng, rung mạnh hướng nòng trong loạt liên thanh, mình đã nói rối, loại khóa này chỉ hợp cho súng trường phát một. Trích khí không hoàn thiện như DP dẫ đến trích khí lớn, không tiết kiệm khí và rung súng.

Khóa nòng BAR có cái dở là phức tạp nhất trong các khóa nòng nghiêng, trong khi khóa nòng nghiêng đem đến ưu thế là đơn giản, tin cậy, chỉ có một cục, thì BAR vứt điều đó đi. Cấu tạo súng nhìn chung cũng rất dở về mặt đơn giản hóa về kết cấu và vận hành, tháo súng phải dùng mỏ lết, búa ta và tô vít.

Không phải tự nhiên mà ngày nay LWRC vẫn tung hô kiểu trích khí SVT này, trích khí SVT hoàn bản hoàn thiện nhỏ gọn hơn của DP, thích hợp cho súng trường phát một và súng máy nhỏ. Kiểu máy súng chỉ rung theo chiều dọc hợp với súng liên thanh thì còn có các kiểu khóa nòng xoay như MG-34 Đức, nhưng súng này dùng ren cắt kiểu đại bác, hết sức lạc hậu. Sau này có MG-42 lừng danh như mình đã post, cũng rung cân đối, cùng nguyên lý với DP và cải tiến tiếp nữa ở MP-45. Không một súng nào lúc đó sánh chức năng trung liên nhẹ-LMG với DP cả. DP có nhược điểm không bắn loạt dài như các LMG cỡ trên dưới 10kg, đến DPM để toản mãn điều đó thì nặng đến 21kg, và chỉ quay lại khối lượng trung liên ở RPD, khi dùng đạn nhỏ. Cũng không trung liên nào lúc đó cỡ DP bắn được dài hơi cả.

Các súng khác kém trung liên DP vì nhiều lý do, nhưng BAR và Chauchat tệ hại vì sai concept (nguyên lý chiến đấu, nói nôm na là "cách chiến đấu chủ yếu", "cách chiến đấu nổi trội", "cách chiến đấu ưu thế", "miếng tủ"... của người chiến sỹ cầm súng), song song với đó là những nhược điểm về máy và trích khí. Không hiểu sao người ta ngu si đến mức lấy tốc độ Nã Phá Luân ghép vào súng máy. Mà BAR được chấp nhận năm 1918, đúng lúc MP18 bên Đức. Chết cười.

Chú Mỹ đang dạy chú ngụy bắn dọa chim.
Bắn ứng dụng không tỳ vai ngắm chỉ chính xác được ở vài chục mét, vì vậy MP chỉ cần đạn súng ngắn. Không hiểu từ đâu ra cái ý tưởng dùng đạn súng trường hạng nặng bắn liên thanh ứng dụng thế này ?? Bắn tầm xa mà không ngắm, không giữ được hướng súng thì vô dụng, chỉ tổ lộ vị trí.


Browning M1917 và M1919 là những phiên bản súng máy Mỹ cùng thời với BAR M918, chúng chỉ nặng hơn BAR chút (14-15kg), nhưng bắn loạt dài tỹ tã. Đây là kiểu súng chức năng đại liên, bắn loạt dài tầm xa, nhưng tốc độ bắn hồi đó, cũng tương đương các đại liên khác thời đó, chỉ 400-600 phát phút. Súng máy ra máy, trường ra trường nên làm nổi rõ sự dở hơi của BAR.

Sự dở người của BAR thể hiện nhanh chóng, nhưng súng có tuổi thọ rất lâu vì nó trở thành con của Colt, như ông vua đẻ non M16 sau này. Ngay sau Thế chiến I, Colt cải tiến BAR lần đầu, bỏ hẳn chức năng súng trường và phát triển thành một súng máy hỗ trợ nặng ba chân, gọi là "BAR ba chân" luôn, tức phiên bản M1922. Phiên bản súng trường bắn phát một tự động được sản xuất cùng có tên Colt model 75 "Monitor", nó ban đầu được dùng cho cảnh sát-chức năng như bắn tỉa chống khủng bố, tuy nhẹ đi nhưng vẫn quá nặng với một súng trường và sớm chứng minh trong thực tế là thất nghiệp, chả hợp với vị trí nào. M1922 thì có bộ giá quá nặng, thiếu tin cậy và lại yêu cầu như một đại liên trong khi làm chức năng trung liên vẫn tồi.

BAR M1918A1 bỏ giá ba chân dở đi đầu thập niên 193x, thay bằng giá hai chân gấp được như trung liên ngày nay. Trích khí sửa thành đoạn nối dài nòng theo hướng tiết kiệm khí trích, nhưng kết cấu này chỉ làm tồi súng đi mà thôi, cũng như các nỗ lực trích khí nối dài khác.

Năm 1939, BAR M1918A2 ra đời. Một số súng được sửa lại từ sũng phiên bản cũ. Kiểu A2 vẫn có thể mang được giá ba chân nhưng thường thấy là giá hai chân đặt gần đầu nòng. Hệ thống làm mát được cải tiến chút. Điều quan trọng là bỏ hẳn phát một, thay bằng chọn hai chế độ bắn liên thanh nhanh và chậm (400-600 phát / phút). Tuy các nhà kỹ thuật chứng minh rằng cần vứt bỏ hẳn vai trò súng trường, nhưng như ảnh trên, đến tận nước Vịt, sỹ quan Mỹ ngu si vẫn giáo dục đám đàn em cái concept quá thông thái đó. Để cho đến nay, hàng chục chú đê tiện trước ánh sáng của AK vẫn tung hô: BAR và Chauchat là súng trường tấn công đầu tiên trên thế giới.

BAR không bao giờ thay được cái băng đạn còi cọc, cho nên tuy bỏ hẳn chức năng súng trường, thì nó cũng vẫn là trung liên đói.
-----------------

Chúng ta thấy rằng, DP không bao giờ có ý định làm súng trường. Trước và cùng BAR, Fedorov đã được các nhà quân sự đặt yêu cầu bắn được khi đang chạy, đó là yêu cầu cơ bản của một súng tấn công. Phải ở những nơi mà khoa học quân sự quái thai thế nào mới có việc ghép tốc độ tấn công của khối người vuông thời Nã Phá Luân vào thời đại súng máy. Khi DP dùng "cup piston" của LWRC ngày nay thì phương tây xoay xở với hàng loạt kiểu trích khí. Cuối cúng, có hai loại động cơ súng tồn tại: không trích khí của MG-42 và trích khí đơn giản, chỉ cần chạy được ổn định khi không hỏng, vứt quách chuyện tiết kiệm khí, tin cậy ... của Bren hay BAR đời sau. Các trích khí này ống to, vuông góc, xa đầu nòng tốn khí, piston to mà kín khít, nên đương nhiên có tuổi thọ kém và dễ hỏng, cũng như ảnh hưởng mạnh đến đường đạn.

Đăc điểm trích khí của DP đi theo hướng khác AK. AK-47 đơn giản và mạnh mẽ bằng khí động. Còn DP dùng tiết lưu như các súng phương Tây khác, dùng áp lực tĩnh và hạn chế khí trích qua lỗ tiết lưu. Các trích khí tiết lưu đều có chung nguyên tắc: qua lỗ tiết lưu là khoang dự trữ khí, khi đạn đi qua lỗ tiết lưu, diện tích bé của lỗ làm khí trích chậm, càng bé càng chậm-càng chậm càng ít ảnh hưởng đường đạn, khí trích vào khoang và khi áp suất nòng mất, áp suất trong khoang giảm chậm cũng vì lỗ tiết lưu bé. Vì áp suất khoang giảm chậm nên nó đẩy piston máy súng làm việc muộn hơn khi đạn đã bắn đi. Nếu áp suất giảm nhanh, thời gian lực tác động lên piston ngắn, khối lùi chưa đủ vận tốc và do đó, phải làm piston lớn với trích khí to để lực mạnh, là loại trích khí tiết lưu tồi.

Kiểu của DP là dùng tiết lưu nhỏ, khoang dự trữ nhỏ, piston nhỏ, điều này tuy hiệu quả cao, tiết kiệm khí, dễ điều chỉnh, máy chạy êm rất cần cho súng bắn loạt, nhưng dẫn đến yêu cầu piston kín khít và dễ hỏng nên các súng trung liên trên không dùng được.

Ở DP, dòng khí phải lộn ngược trong cylinder di động (mà LWRC gọi ngược đời là "cup piston"), hạn chế sự thất thoát nên hạn chế yêu cầu kín khít trong thời đại ốm đói. Thực chất, sau khoang chứa là tác động của khí động, ngoài lỗ tiết lưu vào từ nòng, khoang chứa có một tiết lưu ra nằm trong lõi của piston cố định gắn vào trích khí, khí nén trong khoang chứa tăng tốc qua lỗ giữa piston cố định, lỗ giữa này có tác dụng như một tuye, đập vào mặt cylinder di chuyển, mặt là đáy cái chén nên LWRC mới gọi tên như vậy, dòng khí lộn ngược trong chén mới thoát được ra miệng chén, nên không cần lo chống thất thoát giống như turbine, vì là tác động khí động nên giống như AK, nó không cần kín khít. Vả lại, piston cố định và che chắn tốt trong ống ray của cylinder, ( cylinder gắn liền vào cần đẩy máy súng lùi ), piston lại kích thước nhỏ nên càng dễ bảo vệ, nên bền, thực chất piston và cylinder không làm ray cho nhau như các bộ piston thường, không mài vào nhau trong điều kiện khói bụi nhiệt độ cao.

Sau này, SVT sửa lại một chút, tách rời piston và cần của nó khỏi máy súng, lắp lò xo đẩy về riêng. Cải tiến này có thể làm nặng nề rắc rối và gây thêm hỏng hóc với súng máy, vốn hay hỏng hóc từ các nguyên nhân bên trong như chi tiết biến dạng hay cũ mỏi, nhưng lại tiện dùng cho súng trường, đồng thời có thêm ưu thế là hành trình piston ngắn nên đóng kín được cả khối, tăng độ bền, khả năng bảo vệ, độ tin cậy trước các ảnh hưởng bên ngoài. Đây chính là kiểu trích khí mà G43 sao lại y nguyên không thay đổi gì, LWRC học của AR-18. AR-18 phát chán cái kiểu ống dẫn khí của AG-42 Thụy Điển được áp dụng trên AR-15 (M16) nên học theo SVT.

Thật ra, Armalite lúc đó mới chập chững chế súng không biết một điểm, AG-42 là bản sao của SVT nhưng bớt cái cần piston đi cho rẻ (chuyện này thì người Thụy Điển nói trên trang của họ), Thụy Điển đã thử nghiệm và nhận ra nhược điểm của việc tiết kiệm, họ cũng đã nghiên cứu và chỉ rõ các nguyên nhân là nóng cong nòng, bẩn vào máy, lực đẩy yếu, khó điều chỉnh... nhưng họ không cần súng tốt và cũng không nên đầu tư súng ống lúc nước sôi lửa bỏng ấy, thằng Nga thằng Đức đang khát máu nó phẩy tay vãi vài quả bom thừa sang tèo đời. Và, cả mấy chi họ G43, AR-15, AR-18, LWRC...  con quên bố mẹ, chả ai nhớ đến tổ tiên SVT và xa hơn nữa là DP cả. Ờ, ông trời có mắt, các chi họ này đều đại diện cho bại trận, cả ở trên thương trường và chiến trường. Nhìn chung, chúng ta nếu có phải đi làm súng cũng nên thắp hương khấn vái tổ tiên một chút, gương kia to tày liếp.

mặt cắt dọc máy DP
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=654.msg81087#msg81087
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Ba, 2009, 10:27:52 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #169 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2009, 11:22:53 PM »

Như trên mình đã nói, Chauchat là "súng trường tấn công đầu tiên của Thế Giới" và theo nhịp bước đó có anh BAR. Một ý tưởng ngu ngốc, ghép tốc độ của thời Nã Phá Luân với thời đại súng máy. Ngu ngốc hơn nữa, chính thời điểm Chauchat được chấp nhận sử dụng, Đức cũng chấp nhận khẩu MP đầu tiên trên Thế Giới, đó là MP-18. Khẩu súng tấn công này phát triển rực rỡ và đi ngược ngoắt 180 độ với Chauchat, BAR, tức là nhẹ đi chứ không to uỵch lên.

http://www.mitrailleuse.fr/France/Chauchat/Chauchat.htm
Louis Chauchat (sỹ quan, đại tá) và Charles Sutter (kỹ thuật) đặt ra việc chế tạo một súng tự động năm 1903, lúc đó họ đã dự tính nguyên lý máy súng lùi dài như sau này. Thiết kế hoàn thành năm 1908 với tên kiểu súng mới là "Fusil-Mitrailleur"="súng trường-máy". Thiết kế được xây dựng trên cơ sở Rudolf Frommer của Hungaria. Nhưng súng không được sản xuất mua bán cho đến khi Chauchat phiên bản 8 mm Lebel được chấp nhận tháng 7-1915, nên còn được gọi là "Fusil-Mitrailleur MLE 1915".

Chauchat có may mắn là con của một đất nước giầu có hùng mạnh, khoa học vũ khí không đỉnh lắm nhưng có công nghiệp kỹ thuật cao quy mô lớn và hiện đại bậc nhất Thế Giới, nên nó dễ dàng triển khai sản xuất số lượng lớn. 2 năm cuối Thế chiến I, khoảng 250 ngàn khẩu được sản xuất. Nhưng thời điểm sản xuất Chauchat ngắn, chỉ thế thôi vì súng yếu, dễ hỏng và đắt.

Chauchat có các phiên bản xuất khẩu sang Ba Lan bắn đạn 7.92x57mm Mauser và phiên bản Bỉ bắn đạn 7.65x54mm Mauser. Súng cũng được Pháp sản xuất phiên bản đạn 03-06 để đồng đội Mỹ dùng. Chính từ đây mà nó biến ngoắt thành "súng trường tấn công" ngược đời. Cái hài hước đầu thế kỷ là anh Mỹ anh ấy lại còn đầu tư lớn để phát triển nguyên lý ngược đời này, do ngộ độc từ quảng cáo Chauchat.

Súng còn có tên FNCS, "F.N.C.S" FN là Fusil-Mitrailleur, C và S là Chauchat và Sutter. Súng cũng hay được gọi tên FNGR, "F.N.G.R." R là tên giám đốc và G là tên xưởng Gladiator tại Paris.


Bọn Mẽo ngu si bao giờ cũng nhận Chauchat học từ máy Browning nhà nó !!! vì tự ái chuyện BAR là hậu quả của cái ... từ Chauchat: "súng trường tấn công nặng 10 cân". Thật ra, mỗi khi người nào tự hào về súng ống Mỹ là thấy cái ngu ngu khùng khùng trong họ rồi. Máy lùi dài kiểu Chauchat lúc đó đã có nhiều, được áp dụng trên nhiều súng ngắn và pháo cho đến ngày nay. Kiểu súng gần gũi về lùi dài là súng trường Rudolf Frommer (Hungaria). Kiểu Madsen, trung liên đầu tiên của Đan Mạch, trung liên đầu tiên được chấp nhận lớn trên Thế Giới cũng là lùi, nhưng nó dùng một con thoi chạy vòng đẩy khóa nòng ngóc nên xuống. Madsen có phiên bản súng trường được chấp nhận trang bị năm 1896, khẩu súng trường tự động đầu tiên được chấp nhận, và phiên bản trung liên năm 1902, trước khi Browning hay Chauchat mọc mũi sủi tăm vác phác thảo đi xin tiền đầu tư. Và do Chauchat rất yếu nên Madsen phổ biến khắp châu Âu và nước Mỹ, trước và sau khi Chauchat được sản xuất.

Thế nhưng máy súng Chauchat lại giống hệt AK-47 bây giờ. Chỉ có cái động cơ lùi dài là giống súng ngắn, giống đại bác. Còn máy Chauchat là khóa nòng xoay hai tai. Browning chưa bao giờ thiết kế súng ngắn nào dùng khóa nòng xoay hai tai cả, nên các bạn yêu nước Mỹ lại một lần nữa chứng tỏ sự ngu si của mình khi tung hô súng ống Mỹ. Mà ai tung hô súng ống Mỹ Anh đều có vẻ liệt não cả.

Chauchat được thiết kế với ý tưởng như vậy, nhưng nó không đến nỗi dại như BAR theo đuôi nó, sao vậy ??  Chauchat cũng được thiết kế bởi một người lính, nên concept của nó không đến nỗi ngược đời. Thật ra, Chauchat được thiết kế cùng lúc các súng trường tự động đầu tiên trên thế giới, khá sớm và do đó khó hoàn thiện chu đáo.

Khi chọn kiểu máy súng, những nhà thiết kế đã xác định đây là một trung liên đúng nghĩa. Lúc bấy giờ, súng máy như Maxim rất nặng (nửa tạ), nên khi tấn công, bộ đội chỉ toàn súng trường và lựu đạn, yếu thế. Một khẩu súng máy nhẹ xách được theo đội hình (nhưng không xung phong) là đúng concept. C và S đã chọn kiểu này để có cái bơm khí làm mát nòng.

Súng này có thể không bắn loạt dài tỹ tã như đại liên làm mát nước, chỉ bắn loạt ngắn và mang được ít đạn, nhưng sẽ hơn chán vạn đội hình toàn súng trường. Và điều khác biệt cơ bản với súng tấn công, ngược hẳn lại, là các súng máy này nặng, dùng hỗ trợ từ vị trí xuất phát xung phong, chứ không tham gia vào cuộc xung phong.

Nói tóm lại, đây là trung liên. Nó không phải là một súng tấn công vì không bắn được khi đang chạy.

Việc Chauchat biến thành súng trường tấn công là do một tranh cổ động, một người lính ôm Chauchat trong tư thế xung phong, miệng hét vang. Thế là người xem (và có thể là họa sỹ) hình dung khẩu súng đó đang nhả đạn tằng tằng và đường đạn lúc đó rất chính xác !!! Lúc đó, chiến tranh đang bế tắc ở trận địa chiến, hai bên đều sa lầy và khả năng xung phong quả thật là ... rạch trời rơi xuống cứu thế, đem bao hy vọng, như cái cọc cho khoa học chiến tranh đang chết đuối. Cái cọc thật sự là MP-18, nhưng không đủ sức cứu kẻ chết thật, còn kẻ không chết thì tưởng là mình có một cái cọc.

Nói cho đúng hơn thì trận địa chiến chỉ bị xe bọc thép các loại đánh bại mà thôi, khi trận địa bị đánh tan, thì chiến tranh trở thành cơ động và súng trường tấn công, MP... lên ngôi. Đức cũng có xe, nhưng họ đói quá, xe tốt nhưng ít, rồi thua, để các chú tây tưởng là Chauchat đại thắng, đem Chauchat ra là Đức chít liền.

Lúc đó, học vấn còn ít, đại đa số chiến binh, sỹ quan và dân chúng trình độ học vấn rất thấp, nên vẫn tồn tại khái niệm văn hóa đại chúng và văn hóa sự thật tách rời nhau (một sự dối trá công cộng). Không ít người tin vào cái tranh cổ động đó và đương nhiên báo chí tha hồ tung hô cái cọc cứu nguy cho khoa học quân sự đang chết chìm trong bãi lầy Véc-Đoong, trong trào lưu được lái bởi các nhà bán súng, ai dám bảo không thể giữ được Chauchat trên tay khi bắn liên thanh là phản quốc tức khắc.

Khi Chauchat chế ra khẩu súng của ông, ông đã thiết kế một súng trung liên có chức năng súng trường tự động, như ZB sau đó hay Madsen trước đó. Nhưng những nhà quân sự chưa bao giờ làm lính đã chuyển hướng sang một dạng khác, "súng trường đi bộ", một khẩu súng bắn khi đặt trên đất thành một khẩu súng bắn khi mang trên tay tìm chim.

Khổ thân cho các chú Mỹ, là các chú lại chỉ thích hấp thụ cái loại văn hóa hạ đẳng vốn được nói đến nhiều hơn là văn hóa đúng đắn, và dở người, văn hóa hạ đẳng thường xuyên trở thành quyết sách quốc gia ở nước Mỹ dân chủ tự do. Thế mới có chú BAR. Điểm khác của Chauchat và BAR ?? Chauchat chỉ bị người ta đổ tội cho là súng trường xung phong vì một cái tranh cổ động, còn BAR thì được thiết kế theo nguyên lý cổ động đó.

Đây là tranh cổ động, từ đây, Chauchat trở thành súng trường tấn công. Những người bốc phét và những vị sỹ quan quýt sờ toọc chưa bao giờ bắn súng tưởng rằng người ta có thể cầm chạy thế này một khẩu súng 10kg và bắn loạt chính xác bằng đạn súng trường hạng nặng.


Còn đây là tư thế chiến đấu của Chauchat, súng phải được bắn cố định khi tỳ trên đất.



Về cấu tạo, Chauchat là máy có lùi dài khóa xoay. Súng dài 1170mm, ngắn hơn các súng trung liên khác lúc đó. Đây là kể cả chắn lửa đầu nòng 100 mm. Loại nhẹ nhất không vỏ trụ làm mát 8,870kg rỗng, đầy đủ vỏ hình trụ và loa chắn lửa 9,5 kg rỗng. Khối lượng có đạn hai kiểu trên là 9,8 và 10,45 kg. Nòng dài 445mm, quá ngắn. Súng có chọn bắn liên thanh và phát một, một khóa an toàn 3 chế độ: không bắn, phát một và liên thanh, nguyên lý khóa an toán rất giống AK sau này bất chấp hình dáng rất khác. Khóa nòng cũng giống AK.  Băng đạn một hàng đặt dưới bụng, có thể thấy nhược điểm do độ côn quá lớn của đạn 8mm Lebel, băng đạn quá cong. Băng 20 viên. Tốc độ bắn liên thanh rất thấp, 250 phát phút. Sơ tốc cũng chán óm, 630m/s, chưa xứng đáng là súng trường. Súng bắn liên thanh chậm, năng lực đầu đạn như MP, mà nặng 10kg, nên tính năng hỗ trợ quá kém. Súng còn nhiều nhược điểm nữa, nhưng cần nhớ rằng, đây là loại súng liên thanh ra đời rất sớm.

Đạn: mle 1886 D (đầu đạn khí động nhọn Spizer 12,8 g . 3 g thuốc BN3FD)

Súng dở chỉ do nó lạc hậu, nó lạc hậu do nó ra đời lâu rồi, lúc nó ra đời nó không là tiên tiến nhưng cũng là loai có sáng kiến. Có điều, cái sai là khi chấp nhận sử dụng. Nhiều loại súng liên thanh dạng trung liên đã có và mạnh mẽ hơn nhiều, tốt hơn nhiều, thế nhưng nước Pháp lôi một khẩu súng mà họ bỏ quên 7-8 năm lên sản xuất, khi chiến tranh bế tắc và đổi thành "súng tường tấn công đi bộ". Họ "chết đuối vớ được cọc" và tưởng tượng ra một concept chiến đấu mới cho trung liên, sản xuất ồ ạt. Thật ra không phải người Pháp vớ được cọc, mà vài ông cơ hội trong làng chế súng đã lau sạch bụi một khẩu súng cổ lỗ rồi phù phép biến thành cái cọc kiếm ăn. Họ bịa ra một nguyên lý chiến đấu hoàn toàn vô lý và ngược đời.

Một cái thuận lợi cho việc đó là khóa nòng giống kiểu AK của Chauchat, lúc đó còn ít nhà máy làm được, lúc đó thực hiện chi tiết này bằng cắt gọt, yêu cầu phải có các máy cắt gọt chính xác, hành trình dao đồng bộ, lúc đó rất hiếm. . Thật là công cụ đắc lực cho các hợp đồng độc quyền siêu lãi tiến triển. Nói một cách bi kịch, Chauchat là công cụ để những con đỉa hút máu đất nước đang khốn khổ bế tắc vì chiến tranh.

Chauchat lùi dài cả nòng và khóa nòng hết toàn bộ quãng đường lùi. Đây là nguyên nhân làm súng bắn rất chậm. Nó cố làm ngắn nòng đi cho thật nhẹ để cải thiện tốc độ bắn nhưng cũng chỉ đạt đến thế mà thôi, trong khi sơ tốc đầu đạn rớt xuống dưới mức súng trường, ở mức MP.

Nhược điểm của đạn quá côn thì mình nói rồi. Để xem băng đầy vơi, người ta làm nắp băng rất hở, tha hồ đất bụi bắn vào, rồi còn hàng loạt sơ khai của súng nữa, như tay cầm tròn  Grin.

Khóa nòng xay hai tai giống như AK sau này, khóa nòng cũng có chuôi hình trụ, hai mấu ghép vào hai gờ xoắn trên bệ khóa nòng, rất giống AK. Dây là điểm hay của súng, khóa nòng rất nhỏ nhẹ so với các khóa khác lúc đó. Mặc dù gia công loại này lúc đó đắt, nhưng nếu Chauchat thay lùi dài bằng trích khí thì đã có loại súng máy tốt nhất thế giới lúc đó nếu không kể khoản khó-dễ gia công, đắt-rẻ, cái mà không có trích khí thì Chauchat cũng đã phải gánh chịu.

Kim hỏa cũng nằm trong khóa nòng như AK, búa chính là bệ khóa nòng.

Khi lùi hết chiều dài, bệ khóa nòng bị mắc lại bởi một mấu, nòng về vị trí ban đầu trước-mở khóa nòng-trên đường đi nòng hất vỏ đạn ra, rồi bệ khóa nòng mới đẩy về móc theo đạn. Khi tiến lên vị trí nòng, khóa nòng quay hai tai và khóa buồng đốt. Khi đạn nổ, khóa nòng đẩy bệ khóa nòng về giữ trong tư thế khóa và tai khóa nòng kéo theo nòng súng, tất cả cùng lùi.

Cửa hất vỏ đạn bên phải, khá tiên tiến ngày đó  (nhưng anh MAS lại quay về cổ đại hất lên trên, Tây Phú lắm sáng kiến nhưng thiếu nghiên cứu sâu bao giờ cũng áp dụng sáng kiến rồi bỏ cuộc như vậy). Ke hất vỏ đạn khá giống M1916, M1917 FSA sau này.

Chauchat có giá hai chân, người ta thiết kế nó là một trung liên đúng nghĩa. Còn BAR chỉ sau khi thấy mình lố quá mới làm giá hai chân, rồi 3 chân. Chắc lúc đầu khi không có giá, BAR thương "súng trường tấn công" Chauchat lắm, lão già quá cẩn thận, bắn xách tay còn mang theo chân giá làm j` !.

Một điểm rất đáng chú ý, đó là bơm khí làm ngội. Khối lùi làm piston nén khí, nòng được bao bởi một vỏ, không khi đi qua khe giữa vỏ nòng và nòng làm mát nòng súng. Về sau, BAR học theo nhưng bơm chạy bằng trích khí theo máy súng. BAR là kết quả một trò đùa của Chauchat mà.

Súng làm súng trường phát một rất dở vì bắn khi khóa nòng mở. Làm súng máy thì nặng 10kg nhưng có động năng đầu đạn của MP và tốc độ bắn bằng 1/3, băng đạn bé tí xíu và đạn to đùng chỉ mang được vài băng. Ngoài ra, còn các đặc điểm thiết kế lạc hậu khác đem lại nhiều điểm không tốt. Súng dễ bị ảnh hưởng bời bụi bẩn, va đập và mang di chuyển khó. Trong khi đó rất đắt và chỉ chế tạo được bằng những máy tiên tiến nhất lúc đó.









thời điểm bắn, khóa nòng đóng


lùi hết, khóa nòng đóng


Nòng đẩy về trước, khóa nòng mở


bệ khóa nòng đẩy về, hết quãng đường này khóa nòng đóng


Khóa nòng


Bộ máy phức tạp và khít khao, rất dễ tắc.




Mỗi lần các nhà ái quốc nói tiếng Anh bình luận về súng ống thì lại một lần họ thể hiện ngu si liệt não. Họ chế bai ánh sáng huy hoàng của AK-47: "chỉ là học của MP-44 mà thôi".

AK chả có gì chung với MP-44 cả, một súng là MP, tiếng Nga là PP, như PPSh-41, là súng ngắn bắn nhanh. Còn AK là súng trường. Súng ngắn thì không phải là súng dài. Máy móc thì AK chả có gì giống MP cả. AK trích khí động lực xung ngắn. MP-44 trích khí tiết lưu áp lực hành trình dài. AK là máy khóa nòng xoay hai tai. MP-44 là máy khóa nòng chèn nghiêng giống SVT, PTRS...

Buồn cười, cái ngu nhất của các chú bị đầu độc bởi quảng cáo, liệt não ngu si này không biết, là thế này. Bộ khóa nòng và móc đạn, đầu băng đạn của AK là học từ M1 Garand lừng danh của chính Mỹ.  Grin. KHóa nòng kiểu này được áp dụng đầu tiên ở đây, Chauchat.

Đây là điểm tiên tiến nhất chủa Chauchat. Nhóm thiết kế Louis Chauchat và Charles Sutter xuất sắc đã đi trước xa các súng Pháp M1916, M1917 và xa hơn nữa là MG-34 Đức về khóa nòng. Súng bộ binh khác pháo, áp dụng khóa nòng ren cắt nhiều tai, nhiều tầng vào súng nhỏ sẽ sinh ra việc chỉ một vài tai hoạt động, nó quá sức và chóng mỏi. Mondragon có thể đã áp dụng nhiều tai để thay thế nhau trong điều kiện gia công rất thiếu chính xác ngày đó, nhưng không còn những khẩu súng mới ngày đó để xem độ chính xác gia công thế nào để chứng minh được ý này. Khó nòng hai tai làm quãng được chuyển độn của bệ khóa  nòng dài, nhưng súng bộ binh chỉ dùng hai tai mà thôi.

Cũng lại buồn cười. Chauchat đi trước thời đại quá xa, sau này chính Pháp không dùng hai tai.

Cũng có thể lúc đó Pháp có thiết kế trung liên khác tốt hơn Chauchat đã lạc hậu, rất yếu, nhưng dù yếu, Chauchat là súng máy duy nhất dùng cá nhân, súng máy tiểu đội suy nhất của Pháp, trung liên duy nhất của Pháp được sản xuất lớn lúc đó. Có thể Chauchat được động viên vì một lý do xấu, nhưng nó đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, vì bản chất concept của nó đúng, nó là trung liên, chứ không phải súng tấn công, bất chấp người ta gán cho nó nguyên lý sai lầm.

Mặc dù già, yếu, nhưng Chauchat đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chắc những người thiết kế và bán Chauchat rất tốn công nhịn cười khi các chú BAR tung hô vạn tuế và xung phong theo cái ... nghịch của mình: "nguyên lý súng trường tấn công đi bộ".
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Ba, 2009, 04:32:48 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM