Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Sáu, 2017, 06:32:53 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Biên giới Tây Nam-Truyện ngắn nhiều tác giả  (Đọc 82714 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #140 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2017, 11:48:56 AM »


        Chuyện đó thì Na Ri chẳng quên được. Cô đã khóc hết nước mắt khi đốt đuốc cùng dân làng đi tìm Hưng trong cánh rừng khộp ở cuối phum. Đuốc cháy hết lại thắp đuốc mới, đi hết mảnh rừng này đến mảnh rừng khác, vẫn không tìm ra Hưng. Xã đội trưởng Rơn cùng đi với Hưng, thoát khỏi tay phỉ, chạy về báo với đội công tác và dân phum nơi chúng phục bắt hai người. Rơn kể:

        - Anh Hưng bảo tôi cùng đi xuống phum Tức Lò O. Chúng tôi không ai mang theo vũ khí. Đến khoảng rừng trống trải thì bọn Pốt xông ra. Bất ngờ quá. Khi đi qua chỗ rừng rậm, cây cối um tùm, cảnh giác thì không gặp chuyện gì. Ba thằng phỉ chĩa súng vào chúng tôi, bắt giơ tay. Hưng bình tĩnh nói:

        - Chúng tôi là dân ở phum Tức Lò O lên thăm người quen ở Luông Sval, bây giờ về nhà mà.

        - Tại sao hai thằng mày đi tối thế, định phục kích chúng tao phải không?

        Thú thực tôi run quá, chưa biết trả lơi thế nào thì Hưng đã nói:

        - Không phải mà, ngươi quen mổ trâu, giữ ở lại ăn, bây giờ mời về được, thật mà.

        Nghe thấy ăn ba thằng phỉ cùng nuốt nướt bọt. Tôi nghĩ thầm, chắc chúng nó đói. Một thằng phỉ nói:

        - Hai thằng mày đi theo chúng tao, vào rừng nói chuyện sau. Hưng giả bộ nằn nì:

        - Các ông tha cho chúng tôi về, vợ con đợi ở nhà.

        Bọn phỉ nhất định không nghe, súng lăm lăm trong tay dọa, không đi thì chúng giết. Gay go quá. Toi bụng nghĩ thầm, cứ xem Hưng làm thế nào thì làm theo thế. Hưng bảo:

        - Được thôi, chúng tôi sẽ đi. Nhưng thèm thuốc quá xin cho hút một điếu.

        Ba thằng phỉ nhìn nhau không đứa nào nói gì. Hưng móc túi lấy bao thuốc lá. Tôi lờ mờ đoán ra ý định của anh. Anh không hút mà chìa bao thuốc lá cho thằng phỉ ở gần bên nhất, khúm núm nói:

        - Xin mời ông trước.

        Anh giả vờ để rơi bao thuốc lá. Có lẽ vì quá thèm thuốc nên thằng phỉ mất cảm giác, cúi xuống quờ nhặt bao thuốc. Nhanh như chớp Hưng đá cho nó một cài. Không chậm trễ tôi cũng xô thằng giặc đứng cạnh, chạy bổ trào vừng. Tôi cứ chạy không dám ngoảnh lại. Nghe thêm mấy loạt súng nổ về phía ngược với hướng của tôi. Không biết Hưng có thoát không? Hay bọn phỉ giết anh rồi mang xác đi mất? Trời ơi, tôi thật có lỗi quá.

        Nhiều người cũng nghĩ như xã đội trưởng Rơn. Một nhà sư lên tiếng. Mọi người chợt im bặt. Nhà sư nói:

        - Dân phum phải làm lễ cầu hồn cho anh Hưng. Người tốt như thế khi chết phải được lên cõi niết bàn, phải được sống cuộc sống trường tồn.

        Thế là mọi người nghe theo. Không có ảnh Hưng người ta đem chiếc mũ có ngôi sao vàng của anh đặt lên bàn thờ. Nhà sư có chức sắc cao nhất trong chùa được mời làm chủ lễ. Trong lúc mọi người đang lầm rầm cầu nguyện thì Hưng xuất hiện. Anh ngạc nhiên hỏi:

        - Bà con làm gì thế này? Tụng kinh cho ai thế?

        Bố Na Ri ôm lấy anh, sờ nắn khắp người xem có thật là anh không, rồi nói:

        - Đúng là thằng Hưng đây, thằng Hưng bằng xương bằng thịt hẳn hoi đây. Nó còn sống, đạn của phỉ không giết được nó. Mọi người bỏ hết mọi thứ, chạy đến vây lấy Hưng, mỗi người hỏi một câu làm anh trả lời không kịp.

        - Tôi đánh ngã thằng phỉ, cướp được cái cặp tài liệu này, chạy vào rừng để tìm đường về phum, trời tối quá bị lạc, bây giờ mới về được. Cảm ơn bà con đã lo lắng cho tôi. Từ nay xin bà con coi tôi là dân của phum này.

        Hôm sau Na Ri nói với Hưng:

        - Anh mất cảnh giác để em sợ hết hồn, khóc như mưa trước mặt mọi người, bây giờ nghĩ thấy ngượng ghê.

        Hưng nhìn Na Ri thấy thương quá. Anh bảo:

        - Na Ri, em vào hội phụ nữ, đi vận động chị em làm cách mạng nhé?

        Na Ri ngước đôi mắt nhìn anh khẽ đáp:

        - Vâng!

        Tiếng Hưng kéo Na Ri ra khỏi dòng hồi tưởng:

        - Hội phụ nữ của em hoạt động có đều không? Kết nạp thêm được mấy hội viên nữa?

        - Chưa kết nạp được thêm ai, khó quá mà. Em chưa làm hết những việc anh bày cho đâu. Na Ri con kém lắm.

        Ngập ngừng một lát, Na Ri mới nói tiếp:

        - Anh có nhớ bà mẹ Sót ở cuối phum không? Bà già lúc nào cũng lặng lặng lẽ lẽ, nhà luôn đóng cửa im im, chẳng ai lui tới và cũng chẳng lui tới nhà ai bao giờ ấy, anh không nhớ à?

        - Nhớ, nhớ chứ - Hưng vỗ tay lên trán, đáp. Bà ấy đã gọi con ở rừng về rồi. Em bàn với Úc Nhem họp dân phum biểu dương bà ta, động viên anh con trai kể lại cuộc sống trong rừng, rồi làm lễ hứa hẹn chăm chỉ làm ăn, như thế có được không, đúng hay là trật?

        Na Ri ngượng đỏ mặt vì đã nói quá nhiều. Hưng nhìn Na Ri như nhìn thấy bông hoa vừa nở, sung sướng reo lên:

        - Đúng lắm! Na Ri tiến bộ nhiều lắm, anh mừng lắm!

        - Na Ri không thích anh khen nhiều thế đâu. Anh phải chê Na Ri thì Na Ri mới tiến bộ được.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #141 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2017, 08:39:08 PM »


        Những điều Na Ri nói thật là bất ngờ, giống như một chuỗi âm thanh trong trẻo reo vào lòng anh, cứ ngân nga mãi. Ở tâm hồn cô gái Khơ-me này có cái gì đó thật khó gọi tên ra, nhưng cảm thấy được, gần gũi. Hưng nhìn Na Rì với một đôi mắt thật lạ, khiến cô phải kêu lên:

        - Trời ơi, anh Hưng đừng nhìn em như thế, em ngượng lắm đấy!

        Bây giờ Hưng mới hiểu rằng, bắt đầu từ hôm ấy Na Ri đã chiếm lĩnh trái tim anh, nhưng anh đã tìm cách tự dối mình, hoặc cố làm ra vẻ không nhận thấy điều đó. Chợt Na Ri cất tiếng hát:

        Chiều buồn man mác
        Chim bói cá bay từng đàn
        Đậu dọc theo những dòng thác

        Giọng Na Ri trong, cao vút lên lan tỏa trong không gian. Giai điệu bài ca mênh mang như sông nước Mê Kông xôn xao những đàn cá, ào ạt cơn mưa như khói trắng trời. Gió thổi làn tóc của Na Ri bay tung, thoáng thơm hương làai hoa rừng nào đó. Hôm nay đón Hưng về, ngày mai tiễn Hưng đi, lòng Na Ri vừa vui vừa buồn, vừa chộn rộn trống trải. Hưng là người Việt Nam, Na Ri là người Khơ-me, họ có thể yêu nhau được không? Không biết. Nhưng hơi thở của Hưng luôn luôn sưởi ấm tâm hồn cô. Nhịp đập trái tim Hưng luôn luôn đập trong trái tim cô. Bây giờ nhớ lại cô chẳng còn ngượng nữa, chỉ tiếc rằng không giữ được giây phút đó dài mãi. Ước chi có thể kéo được thời gian lại.

        Dạo ấy đang mùa mưa. Đội công tác của Úc Nhem và Hưng đi hoạt động ở Tức Lò O. Luông Sval chỉ còn một số dân quân làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác xung quanh khu vực nhà ủy ban và kho thương nghiệp. Vắng Hưng, Na Ri thấy nhớ làm sao. Chiều nào ngôi trên nhà sàn cô cũng ngóng ra con đường rừng, chỉ mong sao nhìn thấy bóng anh. Bố đưa xuồng chở Úc Nhem về huyện họp. Vì thế căn nhà trống trải, buồn nhũn người ra. Mưa chốc chốc lại dội ào ào lên mái nhà, chớp lóe ở đâu đó. Tối ấy là tối thứ bảy vắng Hưng ở nhà. Na Ri khép cửa, đến thăm một cô bạn gái. Họ đang trò chuyện thì có ba kẻ lạ mặt xông vào, đứa nào súng cũng lăm lăm trong tay. Phỉ Pôn Pốt rồi. Na Ri thầm kêu như vậy. Cả hai cô chân tay cứ run lên, không biết làm thế nào. Bọn chúng thấy không còn ai nữa nên xúm lại quanh hai cô gái, đòi lấy gạo và rủ trốn ra rừng. Chúng nói:

        - Ra rừng chúng mày mới lấy được chồng, thanh niên đi hết với Khơ-me đỏ chúng tao rồi. Lấy chồng rồi, muốn ở Campuchia thì ở, muốn sang Thái Lan thì sang, sướng lắm. Ở lại không có thanh niên, không lấy được Việt Nam, chết già đấy.

        Phụ nữ Campuchia sợ nhất là không có chồng, nhưng Na Ri nói:

        - Chúng tôi ở lại phum thôi, có nhà không mưa ướt, có cơm không đói bụng. Các người nói sung sướng sao lại phải đi xin gạo?

        Lúc ấy cô nghĩ đến Hưng, thấy không còn sợ hãi gì nữa. Cô nói:

        - Chúng mày nên ra đầu thú với chính quyền cách mạng đi, sống lén lút như thế khổ lắm.

        Bọn phỉ bảo:

        - May đừng có mà tuyên truyền, đứng dậy đi theo chúng tao, chúng mày phải ra rừng làm vợ chúng tao.

        Na Ri không sợ chết, nhưng Na Ri sợ phải làm vợ phỉ. Cô muốn khóc nhưng cố nuốt nước mắt. Đừng để cho bọn phỉ thấy là mình sợ. Chúng giục:

        - Lấy váy áo nhanh lên!

        Na Ri nói với chúng:

        - Nhà tôi ở cách đây không xa, cho tôi về lấy tư trang.

        Bọn phỉ cười nhạt. Tiếng cười của chúng nghe như tiếng cóc nhái kêu:

        - Mày đừng có đánh lừa chúng tao. Mày đẹp đấy, khôn đấy, nhưng mà chưa ngoan. Đi người không cũng được, váy áo mà làm gì.

        Bọn phỉ dí súng vào lưng cưỡng ép Na Ri và cô bạn gái đi theo chúng. Đêm ấy bọn phỉ còn bắt thêm một cô gái nữa, nhà ở cuối phum. Chúng buộc ba cô vào một gốc cây để mặc cho mưa xối, sau đó mắc tăng võng ngủ lẩn khuất xung quanh. Sáng hôm sau chúng cởi trói, giục các cô lên đường sớm.

        - Nhanh nhanh lên, mấy con ranh này!

        Do mùa mưa, nước ngập, chúng phải đi đường vòng xa gấp đôi đường tắt, vì thế luôn luôn lo sợ bị bộ đội và dân quân đuổi theo.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #142 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2017, 08:39:40 PM »


        Na Ri lại trượt chân ngã. Thằng phỉ tức giận nện cô mấy báng súng vào vai, đau ê ẩm. Chúng dong ba cô gái đi suốt ngày không nghỉ. Tuy vậy chúng vẫn chỉ quanh quẩn ở khu vực Luông Sval - Tức Lò O, chưa thoát được đi xa, đói, mệt và rét khiến ba cô gái dường như không còn sức lực. Thằng phỉ vừa đánh Na Ri mấy báng súng đến bên cô, cất giọng khàn khàn:

        - Mày định đợi bọn Việt Nam đến cứu mày phải không? Đồ ngu. Chúng nó cũng sợ chúng tao giết, chúng nó chẳng tội gì mà chết vì một đứa con gái như mày. Đi nhanh lên.

        - Nói láo! Na Ri muốn thét lên, muốn nhổ vào mặt thằng phỉ.

        Nhưng cô không còn đủ sức lực, người cứ rũ xuống. Hai cô bạn gái cũng tả tơi chẳng khác gì Na Ri, cố sức dìu cô đi, nước mắt ròng ròng.

        Trời lại chạng vạng tối. Một ngày đang trôi qua. Mới qua một đêm, một ngày mà sao Na Ri cảm thấy dài như một đời người. Bọn phỉ vẫn giục đi chưa nghỉ. Bất chợt, Na Ri nghe tiếng ai đó thét gọi tên cô, kêu cô nằm xuống. Na Ri chẳng kịp nghĩ gì hơn vội vàng cùng hai cô bạn nhào xuống đất. Súng nổ những tràng dài, bọn phỉ bỏ chạy tán loạn. Như từ trong cổ tích, Hưng đột ngột xuất hiện. Anh chạy đến bên côm đỡ cô dậy.

        - Na Ri!

        Cô nghe tiếng anh gọi cô. Cô nhắm mắt ôm choàng lấy anh, gục đầu vào ngực anh, khóc. Anh để vậy một lúc lâu, sau mới khẽ thì thào vào tai cô:

        - Xuống thuyền về nhà đi, Na Ri!

        Cô ngoan ngoãn nghe theo lời anh. Ngồi bên cạnh Hưng, tựa nhẹ vào vai anh, Na Ri thỏ thẻ:

        - Sao anh biết được mà đi tìm cứu em?

        - Anh Khon dân quân đi thâu đêm sang Tức Lò O, báo tin dữ ấy. Bọn anh lo cho em quá, huy động dân quân truy tìm ngay. Lần theo dấu vết bọn phỉ thật hệt như chơi trò ú tim. Nhờ đi thuyền tắt rừng, bọn anh mới tới kịp, nếu không thì...

        Na Ri xen vào lời anh, giọng nũng nịu:

        - Thì anh để cho phỉ bắt em luôn chứ gì?

        - Đời nào lại thế, Na Ri!

        Hưng lần tìm bàn tay Na Ri trong bóng tối, nắm chặt. Na Ri cũng lần tìm tay anh, không rời ra nữa.

        ... Hưng bâng khuâng bắt gặp đôi mắt nhìn xa xăm của Na Ri, lời ca từ đâu dâng lên như dòng suối, tràn qua môi anh:

        Em có vóc người đẹp đẽ tuyệt vời
        Từ đâu tời mà duyên dáng quá thôi
        Thân hình em thơm ngát
        Tóc kết thành hoa tươi...

        Hưng hát, đối với Na Ri đó là điều bất ngờ. Cô lẩm nhẩm rồi cất tiếng hát theo, lòng tràn lên hy vọng.

        Đúng như Hưng dự đoán, xuồng về đến Luông Sval thì trời tối. Nơi bến sông đèn đuốc sáng rực, từ xa trông như đêm hội hoa đăng. Mặt nước tối sẫm chốc chốc lại được chiếu sáng lấp lánh. Khi Hưng bước lên bến, bà con vây lấy anh, cuốn anh đi. Những lời trách móc, những lời thăm hỏi, Na Ri ngắm nhìn anh suốt ngày trời bây giờ hòa vào toán bạn gái thi thoảng lại cười ré lên vì một lý do gì đó, chả ai biết. Bố Na Ri nhắc lại câu hỏi mà khi gặp anh ở trường quân chính cô đã hỏi:

        - Hưng, sao con đi mà không chào bà con trong phum một lời, đường có xa xôi gì, một ngày công thôi mà.

        - Con có bỏ Luông Sval đâu, Hưng đáp, con đi học một năm lại về mà.

        Ông lão gật đầu không nói gì, kéo Hưng vào thẳng nhà ủy ban. Leo lên sàn đã thấy một ngọn đèn măng-xông sáng trắng, giữa sàn đặt một chiếc mâm trên có để những sợi chỉ màu. Ông lão bảo Hưng ngồi xuống một phía, còn ông ngồi phía bên kia. Dân phum ngồi xuống theo, làm thành một vòng tròn, bao bọc lấy hai người. Ông lão nói:

        - Bây giờ con làm theo lời ta, đặt một tay lên vành mâm này, còn tay kia đưa lên trước ngực, thế được rồi.

        Ông già cũng đặt tay lên vành mâm. Na Ri đến ngồi sau lưng Hưng từ lúc nào, đặt nhẹ tay lên lưng anh. Người khác đặt tay lên lưng Na Ri, cứ thế lần lượt cho đến hết. Ông lão đọc những lời cầu nguyện, chúc cho Hưng đi chân cứng đâ mềm, không ốm đau bệnh tật, không hòn tên mũi đạn nào chạm tơi. Rồi tiếng hát cất lên. Chúng ta buộc chỉ cổ tay bằng ba sợi chỉ hồng. To như những sợi dây vàng...

        Mọi người lần lượt buộc chỉ cổ tay cho Hưng, ai cũng cầu chúc cho anh một điều tốt đẹp. Mắt Hưng như mờ đi. Những gương mặt thân quen, những làn hơi thở nóng bỏng. Anh ngỡ mình đang trôi bồng bềnh, mọi cảm giác đều không thật nữa. Những ai đó hỏi. Chúc con... Chúc cháu... Chúc em... rồi trống nổi lên. Hưng không con nhớ anh đã bị cuốn vào dòng người múa hát như thế nào nhưng anh nhỡ rất rõ tiếng Na Ri thì thầm:

        - Anh đừng quên Luông Sval có Na Ri nhé!

        - Na Ri ơi!

        Hưng gọi cô, nhưng tiếng trống bập bùng bao bọc lấy tiếng, nói của anh.

Stung Treng 10-1984       
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #143 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2017, 08:57:35 PM »

         
QUÃNG ĐỜI XƯA IN DẤU

SƯƠNG NGUYỆT MINH        

        Chồng tôi đang dạo một vòng quanh căn biệt thự nhỏ, vung tay chân làm các động tác thư giãn ở vườn hoa kiểng. Chồng tôi có thói quen này kể từ khi đứa con gái duy nhất của chúng tôi sang Pháp du học. Tôi biết, chồng đang đầy kiêu hãnh, tự mãn với những gì mình đang có.

        Tôi định kêu chồng vào nghỉ sớm thì con bé trực gallery gọi điện thoại về. Nó nói, có khách muốn mua bức tranh của tôi. Bức tranh có trận địa cao xạ pháo 37 ly hai nòng lúc hoàng hôn ở biên giới Tây Nam. Mấy cây thốt nốt rũ lá, một cây bị mảnh đại bác phạt cụt ngọn đứng như trời trồng gần công sự trận địa đen thầm in lên chân trời đang hồng rực. Mấy anh pháo thủ cầm mũ sắt ngồi nghỉ bên công sự đất đỏ nâu lở loét, nham nhở đạn pháo địch... Con bé trực gallery đã giải thích nhiều lần là bức tranh chỉ bày chớ không bán. Tác giả không hề có ý định kiếm tiền từ bức tranh. Nhưng người khách không chịu, nói, không bán, sẽ không rời khỏi phòng trưng bày.

        Tôi bảo:

        - Cháu nên nhẹ nhàng giải thích một lần nữa với khách. Họa sĩ mà cô được một người yêu tranh như thế là hạnh phúc lắm đó, cháu à. Đừng làm cho người ta mếch lòng.

        - Nhưng thưa cô! Khách cứ ngồi lỳ ở cạnh bức tranh đến ba giờ đồng hồ rồi. Bây giờ, đã gần mười giờ đêm, con không đóng cửa phòng tranh được. Khách là một người tật nguyền đi xe lăn nên con không nỡ... Cô đến giúp con đi.

        Tôi thay đồ, ra ngoài sân, bảo chồng: Có khách muốn mua bức tranh Hoàng hôn vùng biên của em. Con bé trực gallely không bán; nhưng khách cứ ngồi lý bảo quyết mua kỳ được. Con bé không đóng cửa phòng tranh được.

        Chồng tôi vừa làm một động tác thư giãn vừa bảo:

        - Bức đó nhiều khách hỏi lắm. Theo anh em nên bán đi.

        Tôi hơi cau mày:

        - Đã bao lần em biểu không bán là không bán.

        - Tiếc thì em lại vẽ cái khác, của nhà mình làm được mà. Món hời đó, em à. Để anh đưa em đi. Đêm hôm rồi, em đi một mình anh không yên tâm.

        Tôi bảo:

        - Anh không nhớ, năm mười bảy tuổi em đã vẽ bức tranh ấy ở biên giới Tây Nam à. Chỉ cần anh mở khóa ga ra ô tô cho em là đủ, em đi một mình được.

        Chồng tôi lắc đầu:

        - Em vẫn bướng bỉnh như ngày trước. Anh chịu em.

        Bạn bè bảo tôi may mắn, được chồng chiều chuộng, thương yêu. Anh không hề ghen cả khi nhìn thấy các bức họa chân dung tôi thời thiếu nữ do bạn bè vẽ ra viết những lời đề tặng chân thành, nghịch ngợm, ví như: Tình yêu của anh! hay Người yêu tôi hoặc Người tôi yêu. Nhà tôi rất giàu. Chồng tôi là nhà sưu tập tranh, có gallery ở ngay mặt tiền một đường phố lớn. Tranh của tôi cũng bán được. Chồng tôi chẳng phải là họa sĩ, nhưng thẩm tranh không đến nỗi nào. Anh là một người nhanh nhẹn, nắm bắt được thị hiếu người giàu. Nhìn tranh của các họa sĩ, anh biết cái nào bán được cái nào không. Chồng tôi có thể mua rẻ của họ và bán đắt cho người nước ngoài, người giàu trong nước. Anh lại có tài tranh thầu, thu gom, đặt vẽ, cung cấp hàng loạt tranh cho các cơ quan nhà nước hoặc khách sạn lớn mới xây dựng muốn trang trí nội thất. Suốt ngay, chồng tôi bận rộn với việc mua bán tranh.

        Tôi dừng ô tô ở trước cửa gallery thì vị khách mua tranh cuối cùng cũng vừa từ trong ra. Người đàn ông tật nguyền ngồi trên xe lăn, hai chân teo tóp buông thõng. Tay phải cụt đến khuỷu, bàn tay còn lại đẩy vành bánh xe vội vã như trốn chạy. Nhoang nhoáng trước mắt tôi là mái tóc xoăn bồng bềnh rũ xuống vầng trán cao, là khuôn mặt nhàu, khắc khổ, là vòng dây bạc có cái móng hổ đeo ở cổ... Chẳng lẽ đây lại là anh?

        Trời đất ơi! Chàng chuẩn úy tóc xoăn ngày nào. Mắt tôi nhòe đi...

        Dạo ấy là mùa khô năm 1978.

        Mặt trận biên giới Tây Nam đang đến hồi bỏng rát. Tin thắng trận hàng ngày hàng giờ dội về thành phố, nhưng thương binh cũng chuyển về tuyến sau dồn dập. Nghĩa trang liệt sĩ ở Gò Dầu và Trảng Bàng thêm nhiều mộ mới. Ở Sài Gòn, có lúc sôi lên sùng sục vì cái mùi chiến tranh đã ngào nghẹn lan về thành phố. Nhưng đêm về, sài Gôn vẫn lung linh, êm ả, thanh bình, như không hề có mất mát và chia ly.

        Giữa những ngày vừa bình yên và chiến tranh ấy, tôi và mấy bạn sinh viên cùng lớp đáp xe đò, hòa vào dòng người thanh niên xung phong, bộ đội lên biên giới Tây Ninh. Chỉ có điều, chúng tôi không đi chơi, đi cầm súng mà đi thực tế. Hồi đó, chúng tôi đang là sinh viên cao đẳng Mỹ thuật thành phố.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #144 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2017, 08:58:22 PM »

         
        Ông trung tá, chủ nhiệm chính trị sư đoàn xem giấy giới thiệu xong, bảo:

        - Tuần trước có cô nhà báo, nghe đại bác bọn Pôn Pốt bắn sang cứ ôm mặt khóc trong hầm, đến bữa chẳng dám ra ngoài ăn cơm. Tôi chỉ sợ các cô các cậu không chịu nổi bom đạn ba ngày lại bỏ về thành phố.

        Tôi tự ái, muốn phát khóc, van nài:

        - Cháu đọc truyện biết, ở ngoài Bắc năm 1970, sinh viên các trường Đại học xếp bút nghiên đi đánh giặc...

        Ông trung tá, ngắt lời tôi:

        - Ghê chưa kìa! Thì tôi cũng trong số sinh viên dạo ấy. Đó là thời cả nước có chiến tranh. Bây giờ, chiến tranh đang trước mặt các cô các cậu đó, nhưng sau lưng là Sài Gòn phồn hoa, đèn màu rực rỡ... Mà thôi, để tôi bảo trực ban xếp chỗ nghỉ cho. Lán dã chiến gần đây thôi, cùng khu ở và làm việc của sư đoàn bộ này.

        Dạo ấy, tôi mới mười bảy tuổi. Tóc xõa ngang vai, trẻ trung, tinh nghịch, tôi ra trận hồn nhiên quá. Tôi không biết chiến tranh mỗi ngày một lan rộng và ác liệt. Pháo từ bên kia biên giới vẫn vãi xuống sông Vàm Cỏ Đông, rót xuống thị xã Tây Ninh, câu vào Gò Dầu Hạ. Mảnh đại bác cắt ngang cây bần ly, phạt đứt ngọn thốt nốt. Dọc đường biên, phum, ấp bị đốt sạch chỉ còn trơ trọi cột nhà cháy dở đen thui, đứng im không chịu đổ, uất ức chọc lên trời...

        Từ sư đoàn bộ, chúng tôi tỏa đi các ngả, theo các anh chị phóng viên báo Binh đoàn xuống tận các đại đội. Có lúc chợp chảo còn đến tận các tiểu đội đang ở chốt, lấy tư liệu, ký họa ngay ở chiến hào. Nhưng phần lớn thời gian đi thực tế, chúng tôi vẽ chỉ ở trong tầm đại bác địch. Chẳng thấy gian khổ, vất vả, có lúc sợ cái chết, sợ bị thương vào mặt hay cụt tay không vẽ được nữa; rồi cái sợ hãi cũng qua nhanh vì ở mặt trận biên giới Tây Nam, người ta đều sống như nhau; nhịp điệu nhanh, mạnh, gấp gáp của chiến trận cuốn chúng tôi theo. Mãi sau này, tôi mới hiểu vì sao tôi đi vẽ ở mặt trận say sưa, hồn nhiên đến thế. Gần một tháng sau, để bảo đảm an toàn cho tổ sinh viên đi thực tế, người ta yêu cầu chúng tôi trở về sư đoàn bộ vẽ và tổ chức một phòng tranh cho bộ đội lần lượt đến xem. Tôi con nhớ rất rõ buổi chiều trước ngày Bộ tư lệnh Sư đoàn tổ chức "Rút kinh nghiệm giữ chốt", có một chàng chuẩn úy tóc xoăn xuất hiện ở lán dã chiến Ban tuyên huấn. Anh cắm cúi viết, vẽ cả sơ đồ có những mũi tên khác màu lên bảng. Gương mặt anh sạm nắng gió biên cương và hình như vương cả mùi thuốc đạn. Có thể anh rất từng trải trong trận mạc và ngày mai anh sẽ báo cáo điển hình.

        Chiều hoe hoe nắng. Bóng lá những cây thốt nốt đổ từng đám loang lổ. Rừng biên ải im ắng. Dường như đang có cuộc củng cố trận địa và bổ sung quân của cả hai bên nên đại bác không thấy nổ nũa. Chàng chuẩn uý tóc xoăn ra giếng lấy nước. Giáp mặt tôi anh giật mình sững sờ:

        - Trời ơ!? Bông hoa rừng hiếm hoi miền biên ải!

        Từ ngữ sặc mui học trò, có lẽ đây cũng chỉ là một cậu ấm mới rời giảng đường chưa lâu. Tôi nghĩ thế và hất mái tóc xõa, bĩu môi:

        - Đây không phải cổng trường đại học. Đừng chọc con gái. Tui hông chịu đâu.

        Anh nhìn tôi đăm đắm, rồi âu yếm:

        - Cưng ơi! Em có lúm đồng tiền duyên lắm.

        Tán gái giỏi ghê! Anh khen làm tôi ấp úng như ngậm hột thị không nói thành lời.

        - Tên em là gì? - Anh lại hỏi.

        Chưa kịp làm quen đã gọi là cưng, đã khen, đã hỏi tên. Tôi nóng bừng mặt, mắc cỡ, cái mắc cỡ của cô gái mới lớn được người khác giới khen. Tôi lắc đầu, chạy thình thịch về lều dã chiến của mình. Lán vắng lặng. Bọn bạn cũng đi xuống đại đội tăng – thiết giáp, vẽ ở đó đã hai ngày chưa về; chỉ có những bức tranh treo khắp chung quanh và bức của tôi trên giá đang vẽ dở dang. Tôi lấy gương, đứng một mình lặng lẽ soi. Đúng là lúm đồng tiền tôi duyên thật! Lời khen của anh khiến tôi tự tin, tôi ngắm khuôn mặt mình trong gương và khẽ mỉm cười.

        Rồi tôi lại vẽ. Mải quá, lúc buông cọ đã thấy hơi thở của anh nóng hổi bên má. Anh đến bên, lặng lẽ xem tôi vẽ Hoàng hôn vùng biên từ lúc nào chẳng biết.

        - Em bố cục hình chặt chẽ. Dùng màu bạo quá.

        Mặt tôi rạng rỡ vì lời khen, còn hơn lời khen của thầy khi trả bài ở trường. Tôi hỏi:

        - Thế ra... anh cũng... thạo...

        Không để ý đến câu hỏi nửa chừng của tôi, anh bảo:

        - Cây thốt nốt mọc ở ngay thành công sự trận địa pháo cao xạ thế nãy thí quay nòng pháo thế nào được hở cưng? Người lính xem tranh Hoàng hôn vùng biên sẽ cười em đấy.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #145 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2017, 09:01:57 PM »


        Tôi chịu anh nói đúng. Đi thực tế mà tôi không chịu hỏi và quan sát tỉ mỉ. Nhưng lòng tự ái của con bé mới thành người lớn trỗi dậy át cả lời nhận xét thẳng thắn, chân thành của anh và tôi không nói được một lời cảm ơn. Anh càng không để ý đến trạng thái tình cảm ấy. Anh ngồi lên võng, đu đưa nhẹ, rỗi rút cây chì 4B trong túi ngực, lấy tờ giấy, kê lên hai đùi vẽ. Tôi nhận ra chân dung mình. Bằng các đường nét phác thảo nhanh, gương mặt, đôi mắt, hai lúm đồng tiền của tôi sống động, thần thái đến lạ lùng, ngay cả tôi cũng chưa tự họa chân dung mình có cái thần như thế. Duy chỉ cái môi hơi cong bương bỉnh, mái tóc ngắn không xõa mà hất sang phải, đôi mắt sáng lắm. Anh thoáng nhìn tôi và mỉm cười tinh nghịch, việt nguệch ngoạc dòng chữ ở góc bức vẽ: Tình yêu của anh. Tôi bối rối thực sự. Anh ghi tiếp chữ: Tặng..., rồi ngừng lại, ngẩng lên. Lần này thì mắt anh nhìn tôi đăm đắm:

        - Đọc tên em đi cho anh đề tặng.

        - Hổng dám đâu!

        Tôi cúi đầu, hai má nóng ran... Lạ quá! Cả buổi chiều hôm đó, dường như anh không làm được việc gì. Anh có vẻ bần thần thế nào đó, chốc chốc lại quay người nhìn trân trân sang lán của tôi. Tôi thấy lòng mình cũng xốn xang đi ra đi vào. Bữa cơm chiều, tôi đi ăn muộn. Anh còn đến chậm hơn. Anh bưng đĩa quân dụng hai ngăn đựng nhiều thức ăn theo tiêu chuẩn đặc biệt đến ngồi bên cạnh tôi. Cái vòng dây bạc có móng hổ đeo toòng teng ở cổ anh, nhìn rất nghịch ngợm. Mái tóc xoăn bồng bềnh xõa xuống trán, trông thật dễ thương. Anh chọn những miếng ngon nhất bỏ vào bát cơm của tôi. Tôi ngượng ngùng chối đây đẩy. Anh ăn chậm, thỉnh thoảng lại gác đũa, chống hai tay ngồi nhìn tôi ăn, mắt thật buồn.

        - Anh ăn đi. Nhìn dữ zậy, em chịu hổng nổi.

        Anh cười hiền và lại nhìn tôi đăm đắm.

        Tôi nhấm nhẳng hỏi:

        - Ra trận anh không sợ à?

        - Em là con gái không sợ nữa là anh. Anh chỉ sợ mất bàn tay phải thôi. Mất bàn tay phải anh sẽ thành tàn phế, không vẽ được. Lúc ấy, anh sẽ là người như thế nào nhỉ?

        - Đừng! Anh đừng nói dại...

        Anh gật đầu, nhìn tôi âu yếm và hiền từ. Tôi cảm thấy anh thành thật và thân thiết, tin cậy vô cùng.

        Đêm ấy, trời biên giới Tây Ninh đầy trăng sao. Đại bác phía bên kia không bắn sang nữa, thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng đì đùng xa xa ngoại giáp biên rồi tắt hẳn. Ánh điện phía thị trấn Gò Dầu hắt lên nền trời một quầng sáng mờ mờ. Lá cây thốt nốt thêm đẫm ánh trăng, gặp gió lại xào xạc, xào xạc.

        Tôi ra sông Vàm Cỏ Đông tắm một mình. Dòng sông mênh mang đầy ánh bạc. Nước mơn man làn da mát dịu. Lập lềnh trên nước, tôi ngửa mặt nhìn trăng, sao. Trăng thì sáng rờ rỡ còn sao thì chi chít, nhấp nháy hoài. Dài Ngân Hà bàng bạc như chiếc khăn voan khổng lồ vắt hờ trên nên trời đêm. Trăng đổ ánh bạc xuống sông và sao cũng chen nhau ngụp lặn dưới dòng nước mênh mang. Bất chợt tôi nhớ đến bài hát Vàm Cỏ Đông. Bao nhọc nhằn, lo lắng, ám ảnh chết chóc ở vùng biên dường như bay biến hết. Tôi cảm thấy lõng mình dễ chịu, thư thái lạ. Đêm biên giới rõ ràng không hề có chiến tranh.

        Lên bờ. Nước chảy lướt thướt xuống bàn chân. Gió đồng bưng thổi khẽ xoa nhẹ lên tấm thân trần. Khoan khoái, tôi hít gió căng vồng ngực. Mùi phù sa non, mùi lá bần ly quyện lẫn, thoảng bay. Bất chợt, có tiếng hát nho nhỏ theo chiều gió bay đến. Lời ca: Vàm Cỏ Đồng! ới hỡi dòng sông. Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng... cứ mỗi lúc một gần. Tôi lúng tung, mới kịp cài xong cúc áo cuối cùng, anh đã hiện ra. Anh giật mình, sững lại. Tôi thu đống đồ ướt sũng, cong môi:

        - À. Lại là anh?

        - Xin lỗi! Tôi không cố ý.

        Tôi hất mặt lên, bướng bỉnh, hỏi:

        - Sao anh... lại đến đây?

        Giọng anh rầu rầu:

        - Chiều nay, đánh dữ lắm. Thằng bạn tôi ở đại đội tăng chết rồi. Chập tối mới biết. Tôi vừa ở đó về.

        Tự nhiên, tôi thấy thương anh, thương đồng đội của anh:

        - Đó là lúc chiều. Còn đêm nay yên tĩnh lắm, em nghĩ sẽ không đánh nhau đâu. Anh ngồi xuống đi, nghỉ một chút.

        Chúng tôi ngồi bên nhau. Sóng sông vỗ oằm oặp. Gió hơi lạnh. Vô tình tôi hơi nép vào người anh. Vẫn mùi phù sa non, mùi lá bần ly và lẫn thêm mùi thuốc súng từ áo anh. Tôi ngước mắt nhìn người lính, trong lòng tin cậy và thương. Gương mặt anh sạm nắng gió, rắn rỏi đến lạ lùng và phảng phất một nỗi buồn khó tả. Bên anh, tôi cảm thấy gần gũi, tự tin; bỗng nhiên thấy mình nhỏ bé, muốn được tựa vào anh.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #146 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2017, 09:03:12 PM »


        Anh bảo:

        - Hết chiến anh, anh sẽ về Hà Nội học nốt Đại học Mỹ thuật. Bây giờ anh tạm gác cọ, em gắng vẽ thay phần anh nhé.

        Tôi im lặng, gật đầu. Hóa ra, anh vào nghề trước tôi. Chiến tranh đã bứt anh khỏi cuộc đời sinh viên. Một thoáng ân hận trong lòng tôi bởi thái độ bướng bỉnh lúc ban chiều. Đúng lúc đó, anh khẽ khàng quàng tay lên bờ vai tôi. Tim tôi đập thình thịch, ngực dềnh lên như có sóng, da thịt nóng râm ran. Anh xoay người lại nâng cằm tôi lên và nhìn sâu vào trong mắt tôi. Trời ơi! Mắt anh có hình ngọn lửa. Giọng anh đầm ấm.

        - Anh yêu em.

        Rồi anh ôm tôi, ghi rất chặt. Da diết quá. Nóng bỏng quá. Nghẹt thở. Lồng ngực tôi tưởng như vỡ tung ra. Nhưng chẳng hiểu tại sao, khi đôi môi bỏng rát cuồng nhiệt lần tìm môi tôi thì tôi ứa nước mắt. Một thoáng thương yêu lẫn một chụt căm ghét, giận hờn bùng lên. Bốp. Tôi đã giang tay tát vào mặt anh. Anh lặng người, đầu rũ xuống. Bầu trời đêm chao đảo. Tôi bàng hoàng, không tin mình vữa hành động đúng hay là sai. Nước mắt tôi trào ra.

        - Anh... yêu... em... thực... lòng.

        Anh cố nói rõ ràng từng tiếng một, rồi đứng dậy bước nặng nề về lán dã chiến.

        Đêm. Tôi thao thức, nghĩ miên man. Chiến tranh ngày càng ác liệt chưa biết bao giờ sẽ kết thúc. Chiều mai, anh lại lên chốt. Ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh, mà anh thì trong trắng quá. Hơn hai mươi tuổi, phải chăng đây là lần đầu tiên anh định tìm mùi hương trên môi con gái. Nếu không may nằm xuống thì lòng anh có còn vấn vương, trĩu nặng vì chuyện mới xảy ra với tôi không? Thương anh quá! Tôi muốn vùng dậy chạy sang lán của anh, nhưng không sao cất nổi bàn chân...

        Đêm về sáng.

        Pháo bên kia biên giới lại câu vọt sang. Tôi chui vội xuống hầm. Pháo rơi gần quá. Căn hầm chữ A chao đảo. Lại có tiếng người kêu cháy. Nghĩ đến lán dã chiến của mình và những bức tranh, tôi hoảng hồn; nhưng lửa cháy to quá, tôi lại nép vào góc hầm.

        Lúc sau, pháo ngớt, tôi lóp ngóp chui ra. Mấy xe tải trúng đạn pháo, bình xăng nổ, cháy rụi. Lán dã chiến treo tranh cháy tơi tả. Tôi hốt hoảng chạy lại. Chú trưởng Ban tuyên huấn Sư đoàn đang đỡ chàng chuẩn úy tóc xoăn xuống cạnh cây thốt nốt. Thì ra, anh đã lao vào cứu những bức tranh khỏi cháy. Anh bị thương vào sống lưng và cụt tay phải đến khuỷu. Máu anh nhòa trên bức tranh Hoàng hôn vùng biên vẽ dở dang của tôi...

        Lát sau, anh tỉnh. Nhận ra tôi, anh cố nhìn thật lâu và khó nhọc hỏi:

        - Tên... em... là... gì?

        Tôi đả khóc, khóc như chưa bao giờ được khóc...

        Xe cứu thương đến. Người ta đưa anh về tuyến sau. Tôi chết lặng, đứng nhìn theo. Chiếc xe cứu thương xa dần rồi khuất hẳn vào bụi đỏ và những cây thốt nốt trong sáng sớm biên cương. Giật mình! Tôi mới sực nhớ chưa nói tên mình cho anh biết.

        Hôm sau, chiến tranh bùng lên dữ dội toàn tuyến biên giới Tây Nam. Binh đoàn cửu Long được lệnh chuyển quân làm nhiệm vụ mới. Chúng tôi trở về thành phố, mang theo những bức tranh đầy nắng gió, bụi đỏ và máu lửa.

        Năm tháng thời gian đã qua đi. Bức tranh Hoàng hôn vùng biên vẽ dở dang, có nét xóa cây thốt nốt ở thành công sự trận địa pháo cao xạ thấm những giọt máu của anh ngày ấy, tôi để nguyên không vẽ tiếp. Tôi cất giữ nó như báu vật vô giá. Tôi đã đi tìm anh khắp nơi. Gần hai mươi năm rồi! Tôi đã tốt nghiệp ra trường. Tôi đà thành đạt, được giải thưởng Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, Giải thưởng về đề tài Chiến tranh Cách mạng và Người lính của Bộ Quốc phòng. Tôi đã qua vài cuộc tình, rồi đứng đầu đứng số với người chồng bây giờ. Tôi vẫn không thể nào quên anh được. Thỉnh thoảng trong những giấc mơ đêm tối trời, tôi thấy anh hiện về. Tôi thảng thốt kêu, nhưng chẳng thành lời: Bây giờ anh ở đâu? Chàng chuẩn úy tóc xoăn ơi!

        Tôi đã để nguyên bức tranh vẽ dở dang ngày ấy thấm máu anh treo trong phòng vẽ và đặt ở vị trí trang trọng trong mấy cuộc triển lãm cá nhân. Xem tranh, người khen, người chê, người lắc đầu không hiểu. Tôi lặng im, chẳng một lời giải thích. Bức tranh dở dang, thấm máu người lính càng bí ẩn, linh thiêng. Tôi cũng treo bức chân dung tôi, anh ký họa dạo ấy và cũng có người hỏi mua. Bán làm sao được, khi quãng đời xưa ỉn dấu luôn đè nặng trên vai tôi.

        Tôi giật mình qua cơn mụ mị khi con bé trực gallery vỗ vào cánh cửa ô tô:

        - Cô ơi! Cô có vào phòng tranh hay là về? Muộn lắm rồi.

        Tôi đẩy cửa ô tô, bước ra, hấp tấp, bảo:

        - Cháu hạ bức tranh xuống. Không bán chác chi hết. Tặng... tặng cho khách.

        Con bé thấy tôi kỳ quá, ngẩn người không hiểu ra làm sao, đứng như trời trồng.

        - Kìa! Cô biểu cháu hạ bức tranh Hoàng hôn vùng biên xuống...

        - Đi rồi! Người khách ấy đi rồi.

        Lúc ấy, tôi mới thật sự hết mụ mẫm. Tôi xăm xăm bước vào phòng tranh. Con bé rảo bước theo, kể lể:

        - Đây! Ông khách ngồi trên xe lăn chỗ này đăm đắm nhìn bức tranh Hoàng hôn vùng biên. Năn nỉ hoài con không bán, ông khách lái xe đi vòng quanh phòng tranh. Nhìn thấy bức kỹ họa chân dung cô, ông khách giật mình, gọi con đến hỏi: "Chủ gallery của cháu là ai?” Con biểu: “Lá chồng người con gái trong tranh này.” Lạ lắm cô ạ! Ông khách lặng người đi rồi vội vã dùng bàn tay còn lại đẩy vành xe lăn ra ngoài, chẳng hỏi mua nữa. Vừa lúc cô đến đó.

        Tôi choáng váng, như vừa bị sét đánh bên tai. Tôi chạy vội ra ngoài. Người đàn ông tật nguyền tóc xoăn và cái xe lăn đã mất hút vào màn đêm phố đông người. Tôi khóc tức tưởi. Chẳng lẽ là anh - chàng chuẩn úy tóc xoăn ngày nào?

        Vừa lúc đó, chồng tôi phóng xe máy đến. Chồng tôi bảo:

        - Anh ở nhà nóng ruột quá. Khách đi rồi à?

        Tôi cúi mặt, cố gật gật đầu, không để chồng biết mình đang khóc. Chồng tôi bảo:

        - Đấy, anh biểu không nghe. Đi nhanh một tý nữa thì bán được. Để sẩy một món hời. Tiếc thật! Thôi đừng khóc nữa. Chẳng bán được cho người này thì bán cho người khác.

        Tôi chỉ còn biết kêu lên trong lòng: Chồng ơi! Là chồng! 
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #147 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2017, 09:32:18 PM »


SINH HOẠT TRÊN CHỐT

NGUYỄN ĐĂNG KỲ         

        Có thể nói Bổng thuộc lòng kế hoạch tết âm lịch của quản lý. Ba mươi cân nếp, hăm lăm cân thịt bò, một con heo... vẻn vẹn bấy nhiêu chữ làm gì chẳng thuộc.

        Kể ra, tết ở mặt trận Tây Nam tiểu đoàn cấp cho bấy nhiêu cũng đã tàm tạm. Con heo tuy chưa bằng thùng phuy nhưng béo ra béo, híp hết mắt, nằm ì một chỗ suốt ngày không nhúc nhích bước nào. Chất mỡ như vậy ổn rồi. Dưa hành thì xin thôi. Không rút người ra khỏi chốt xuống tận Plây-cu mua củ nén, củ kiệu, hành tỏi, cà-rốt đem lên chốt tiền tiêu? Diệu vợi quá, ăn bát cháo chạy ba quảng đồng. Không may bọn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri liều mạng nhổ mất chốt, thế có mà tai tiếng để đời. Cho cậu Hưng hai tờ giấy, vài viên kí-ninh vàng, chút thuốc đỏ, có ngay câu đối viền hoa lá cách điệu hẳn hoi, hết chỗ chê. Cây nêu hẳn là không được trồng. Có họa rồ mới đi dựng cột mốc cho bè lũ phản động quốc tế theo Mao nó hiệu chỉnh pháo. Mỗi ngày đánh nhau ít cũng dăm trận, nghe B.40, B.41 đã nhàm tai cần gì sắm pháo giấy. Cái khó nhất là bánh tết. Biết làm thứ gì cho hợp khẩu vị của mọi người? Những anh ở núi rừng Yên Thế, Lục Nam, Lục Ngạn thích bánh dày, bánh tro. Những anh ở Hải Phòng, Hà Nội, Thái Bình, ưa bánh chưng, bánh gai. Những anh ở Quảng Nam, Đà Nẳng, Nghĩa Bình, Thuận Hải, Phú Khánh lại khoái bánh tét, bánh tổ... Vả lại, nếp có đấy nhưng không có đậu xanh. Quanh đây đường kính mười lăm ki-lô-mêt tìm đâu ra một cọng lá dong? Có đạo diễn, có những diễn viên nhưng không có hóa trang, vở dàn dựng nên cho ai xem? Khán giả thì mỗi anh mỗi ý, mỗi anh một giọng điệu hài hước khá độc đáo. Bày đặt ra bánh trái không đâu vào đâu có mà i uôm hàng tháng cười ra nước mắt chứ chẳng chơi.

        Tính toán như vậy đã hết lẽ, xong Bông vần vừa ý với kế hoạch quá sơ lược của quản lý. Ngày nay người ta hay vin vào câu “hoàn cảnh chiến tranh” để đơn gỉản hóa mọi vấn đề. Bổng không thích cái lối đó. Bổng tán thành quan điểm của chính trị viên. Có lần anh đã nói trước đại đội: “Trong bất cứ hoàn cảnh nào người chiến sĩ cách mạng cũng phải tự làm chủ lấy cuộc sống của mình. Vui hay buồn, sướng hay khổ, tốt hay xấu, tiến bộ hay thụt lùi, có điều kiện khách quan mà cũng có điều kiện chủ quan. An phận thủ thường hay tạo thế bung ra, cái đó còn tùy ở ý chí của từng người”.

        Bổng cho rằng nói như vậy là đúng. Cứ nhìn vào cung cách ăn ở của đại đội 12 này đủ rõ. Cùng rừng săng lẻ, cũng nhà hầm cả thôi. Trung đội 1 cơm canh đặt tệch xuống đất, năm sáu người ngồi xổm vòng quanh, anh ngoảnh ra anh ngoảnh vào, chẳng ra làm sao. Trung đội 2 cơm ăn không hết, đổ trắng gốc cây, vần cho người đi nhổ củ mì, phạm kỷ luật thế có phen bị cạo trắng gáy. Trong khi đó trung đội 3 biết tranh thủ mọi thời gian ghép thùng B.40 làm giá súng, giường nằm, nền nềp như thế, ai dám bảo cái khó bó cái khôn? Trong chiến đấu cũng vậy thôi. Anh nào quen thói luộm thuộm, gặp đâu hay đó thì đánh đá chẳng ra gì. Anh nào ngăn nắp, trật tự thì tổ chức chỉ huy chiến đấu chặt chẽ, khoa học, đánh thắng không phải là việc khó khăn lắm.

        Kể cũng lạ, thường ngày có nhiều anh ù lì lúi xúi, nhưng tết nhất đến anh nào cũng cố tỏ ra có bàn tay tháo vát. Quản lý "Trương bụng” nhà ta hẳn vì thế mà càng thêm đau đầu.

        Thực ra tên cúng cơm của quản lý là Trương Văn Quý. Mới hăm hai tuổi mà trán Quý đã nhẵn bóng, đe dọa nay mai sẽ rụng sạch tóc. Đó là cái cớ để Bổng thả sức trêu trọc: “Nay mai ông Quý có phát tướng không thì chưa biết, còn như lên sói thì... đã rõ nét!". Rồi cái bụng Quý không biết vì sao cứ phề phệ ra mãi. Có phải Quý làm biếng tập thể dục đâu. Nói thế oan chết. Ở hậu cứ, chiều nào Quý cũng có mặt trên sân bóng chuyền, hò hét hăng ra trò. Khốn nỗi cái tạng người của Quý vẫn chẳng nhẹ nhõm đi được là bao. Trong một trận đấu bóng chuyền gay go, hai đội đuổi nhau sát nút, Quý nhảy lên đập hai quả liền. Không may cho Quý, cả hai quả cùng dính lưới bật trở lại làm cho tỉ số nghiêng hẳn về phía đội bạn. Bổng nóng máu quát một câu: “Thôi đi ông Trương bụng, nhảy với nhót, chưa qua ngọn cỏ mà cứ đập’’. Ấy thế là "Trương bụng” thành phụ danh của Quý.

        Những chuyện đùa tếu như thế đã thành cơm bữa. Quý không hơi đâu mà giận Bổng. Mặc dù tính cách đối lập như nước với lửa, anh mềm mỏng thâm trầm, anh năng nổ bồng bột. Quý và Bổng vẫn thân thiết với nhau như mọi người đều biết, điếu thuốc cấu làm đôi. Năm 1954, cha mẹ Quý và cha mẹ Bổng tập kết ra Bắc, cùng ở phố Cầu Đất Hải Phòng. Hai năm sau thành phố cảng có thêm hai công dân mới đó là Quý và Bổng. Đôi bạn cùng học một trường, cùng một thầy chủ nhiệm. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, gia đình Bổng và Quý lại về Quy Nhơn, thị xã quê hương. Bổng và Quý học tiếp khóa cuối của hệ phổ thông 12 năm. Nay thì Bổng đã thành trung đội trưởng trung đội 4 còn Quý phụ trách bộ phận hậu cần của đại đội...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #148 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2017, 09:32:45 PM »


        Trở lại câu chuyện của những ngày giáp tết này. Quý cứ vắt óc nghĩ ngợi mãi chỉ vì anh chưa thỏa mãn với chút hàng nghèo nàn như thế. Quý đang tìm cách cải thiện thêm cho anh em đón xuân thật thoải mái, đầy đủ về vật chất, sảng khoái về tinh thần. Tất nhiên chuyện đó ban chỉ huy đại đội đã lo. Nhưng Quy là quản lý, phải đề xuất ỷ kiến, lo lắng như thế đâu phải là xách đèn chạy trước ôtô. Cải thiện cách sao đạt yêu cầu mà không vỉ phạm kỷ luật? Gay lắm đấy, Bổng sẽ góp một tay với Quý. Bỏ mặc Quý xoay sở một mình thì chẳng ra làm sao, Bổng khẽ huých vào lưng Quý:

        - Thôi, ông Trương bụng à, bóp đầu mãi thế, nó múp ra như quả B.41 của tôi. Mai mốt thắng trận trở về bả ở nhà làm sao nhận được ra ông?

        Quý quay lại khẽ đẩy tay:

        - Giỡn hoài, có để người ta làm việc không?

        Chợt thấy bao thuốc cồm cộm trong túi áo Quý, Bổng reo lên:

        - A, bắt quả tang nhé, có Tam Đảo bao bạc mà giấu anh em.

        Chọc thế cho vui chứ Bổng thừa biềt bao thuốc chưa bóc tem. Quý rút bao thuốc đưa cho Bổng:

        - Hút đi rồi để cho mình yên, mệt quá.

        Bổng rút một điếu, trả Quý bao thuốc.

        - Nghỉ chút đã. Tết này cho nhà em tham gia một tay với.

        - Xin ông.

        - Bổng tôi bảo đảm 15 lít cay, còn măng miến mộc nhĩ thì...

        Quý đẩy Bổng ra.

        - Thôi thôi, ông ba hoa cái gì thế? Đem gói thuốc cho các cậu ấy hút chung với.

        Bổng cầm bao thuốc nhoẻn cười còn muốn đấu khẩu với Quý nhiều nữa. Đồng chí liên lạc lắc lắc cánh tay.

        - Anh Bổng, thủ trưởng bảo anh lên nhận công tác.

        Bổng quay lại:

        - Chốt hả?

        - Chắc thế.

        - Chốt thì chốt.

        Bổng ra khỏi cửa còn quay lại nháy mắt với Quý.

        - Tin tưởng nghe, ông Trương bụng. Thế nào cũng có 15 lít cay.

        Quý nhìn theo Bổng, chẳng thèm tin. Bổng đánh giặc giỏi, chuyện đó Quý xin học tập đội bạn. Trận trước cậu ấy tự tay diệt sáu tên Pôn Pốt, thu một B.40, được tặng thường huân chương Chiến công hạng ba, còn chuyện tương cà mắm muối, Bổng đã nhúng tay vào bao giờ. Giữa rừng săng lẻ đi suốt ngày đường không gặp một người dân mà tính chuyện măng miến mộc nhĩ thì quả là tào lao.

        Không, Bổng không dám tào lao. Mọi việc Bổng đã sắp đặt chu đáo cả rồi. Nếu không lên chốt Bổng có thể thực hiện lời hứa với Quý ngay chiều hôm nay. Trung đội 3 trực chiến suốt cả tuần, để các cậu ấy về tắm giặt, hớt tóc, cạo râu, đón xuân mới là vừa. Bổng dẫn trung đội lên thay chốt.

        Trận địa trống trơ. Cây đổ ngổn ngang, khô cháy, sặc mùi thuốc đạn, cứ như nằm giữa bãi B.52. Rừng ô rô bị phạt trụi. Tầm xạ giới được mở rộng nhưng như thế là lộ mục tiêu. Từ xa bọn địch có thể nhìn rõ từng cái hầm kèo. Vậy mà suốt ngày hôm nay chúng không tổ chức trận tấn công nào. Thỉnh thoảng chúng bắn vài quả cối 120 ly. Kể cũng lạ, mọi ngày chúng bu bám dai dẳng như đỉa đói, dùng đủ mọi cỡ hỏa lực mà bọn phản động ở Bắc Kinh tuồn cho. Có ngày chúng đánh liên tục từ bốn giờ sáng đến lúc mặt trời lặn. Thế mà nay... Trung đội trưởng trung đội 3 trước khi xuống chốt đã dặn Bổng phải cảnh giác, có khi chúng thay đổi thích ứng. Nghĩ kỹ, Bổng thấy không có gì đáng ngại. Có bao nhiêu bí quyết, bọn quan thầy nó ở Bắc Kinh đã hà hơi tiếp sức cho cả rồi. Chẳng qua là đánh hết đạn, chúng phải nai lưng ra gùi, ngày mai lại tiếp tục bu bám. Cũng có thể chúng thay quân. Cũng có thể chúng giãn ra đào công sự lấy chỗ núp tránh hỏa lực của ta. Các cậu pháo binh đoàn Ba Tơ hồi này làm ăn khấm khá gọi đâu bắn trúng đó. Lính Pôn Pốt chết và bị thương khá nhiều. Tuy vậy chúng vẫn liều mạng nhổ cái chốt của Bổng. Con đường 19 kéo dài chạy giữa, một bên là đầm lầy, một bên là điểm cao 232. Đặt được ở đây hai khẩu đội ĐKZ 82 ly, chúng có thể khống chế chặt con đường 19. Xe muốn vượt đèo phải qua ngầm, ở cự ly 300 mét, ngắm bắn trực tiếp, xe không nổ tung giữa ngầm, cũng khó lòng lên khỏi dốc. Bổng hiểu rõ điều đó quan hệ như thế nào đến việc chi viện cho các đơn vị của ta đang giữ bàn đạp. Bổng bàn với trung đội phó cho một tổ bò lên chặn địch từ xa. Nằm mãi một chỗ dang tay đỡ đòn là “dở ẹc". Họ đã chán ngấy cái lối be bờ thụ động. Bung ra tìm địch mà đánh bao giờ cũng thú hơn. Bốn giờ sáng hôm sau. Bổng dẫn hai chiến sĩ mang mìn Clây-mo, hai B.40, một AK bò lên. Mấy hôm trước bọn Pôn Pốt dũi mãi ở cánh tây bắc. Cây rừng xơ xác, trống huếch hoác. Bữa nay có đem mồi nhử chúng cũng không dám rúc qua cái bãi cây đổ đất lở xạm đen thuốc đạn ấy nữa. Bổng dẫn anh em nhằm hướng tây nam. Tự tay anh đặt quả mìn Clây-mo phủ lá khô cẩn thận. Ba anh em nằm sau gốc cây to cảnh giới. Mờ sáng chúng tập kích hỏa lực. Nghe tiếng rú của đạn cối 120 ly, Bổng biết bọn phản động Pôn Pốt ăn cơm nhà thổi tù và cho Bắc Kinh đang đốt vèo những đồng nhân dân tệ một cách không hề tiếc tay. Đạn rơi vào giửa khoảng cách từ tuyến trung đến tuyền tiền tiêu của đơn vị Bổng. Bắn phá cái mảng rừng ô-rô đã bị đào bới xới lộn hàng chục lần rồi chẳng bứt nổi sợi lông chân nào của ai. Bổng yên tâm bò lên dặn lại hai chiến sĩ, khi nào anh bấm mìn Clây-mo mới được nổ súng. Bổng còn phải nằm sau gốc săng lẻ ấy khá lâu. Điều anh lo nhất, nều địch đi chệch hướng thì đúng là xôi hỏng bỏng không. Tuy vậy, anh cũng rất tin, chúng sẽ không thể đi con đường nào khác. Phải đánh phủ đầu bọn giặc mới lên thay một trận ra trò thì ngày tết năm nay ta mới yên ổn được!
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12100


« Trả lời #149 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2017, 09:33:15 PM »


        Bỗng Bổng nhổm hẳn người lên. Tiếng cưa, tiếng cuốc nghe rất rõ. Bọn mới thay phiên thật rồi. Chúng đang đào công sự. Đã thế chúng sẽ cho trinh sát đi lùng sục vòng ngoài. Bổng ra hiệu cho anh em nằm im tiếp tục theo dõi. Tay Bổng cầm chắc cái công tắc điểm hỏa quả mìn Clây-mo, mắt đăm đăm nhìn phía trước. Một, hai, ba... Bổng đã thấy những tên lính quần đùi, áo đen, chít khăn rằn, huy hiệu Mao Trạch Đông đeo trên ngực. Chúng lom khom rúc rừng ô-rô. Thằng thứ chín mặc bộ Tô Cháu màu xanh lá cây, đội mũ lưỡi trai vải mềm. Nó cầm khẩu M.79 lại còn đeo bên hông một khẩu súng ngắn. Bổng tự hỏi: Tiểu đội trưởng trinh sát hay là cố vấn Bắc Kinh đi ốp đây? Chạm trán lính Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã nhiều nhưng chưa bao giờ gặp nhóm trinh sát lại gọn thế này, Bổng mừng quá, mừng đến run người. Quả mìn Clây-mo quật đổ cả chín tên giặc. Hai chiến sĩ bắn liên tiếp bốn quả B.40 vào đội hình địch đang cưa cây làm hầm. Nhưng đã hiệp đồng, khẩu cối 60 ly đặt ở tuyến trung nổ cấp tập vào mục tiêu đã chọn sẵn. Đó là trận đánh thứ nhất trong ngày của trung đội Bổng.

        Bổng và hai chiến sĩ trở lại trận địa chốt giữ vừa lúc Quý đem cơm. Bao Tam Đảo chỉ còn một điếu dành riêng cho Bổng. Quý còn gói thuốc lào. Từ ngày đứng trong đội hình của binh đoàn ở mặt trận Tây Nam, các chiến sĩ mới từ Nghĩa Bình, Phú Khánh, Thuận Hảl lên đã quen tay cuốn giấy chìa ra đón Quý. Sau trận đánh thắng được khói thuốc ngay trong chiến hào, anh nào cũng khoái quản lý như khoái trung đội trưởng của mình.

        Mãi đến chiều 30 tết trung đội 1 mới lên thay chốt. Bổng ở lại bàn giao tình hình. Anh về đến nhà khi trời đã xâm xẩm tối. Việc đầu tiên là Bổng chạy ra đầm lầy. Gọi là đầm lầy nhưng thực ra trước kia là ruộng lúa nước. Đồng bào bỏ làng đi lánh nạn. Lúa chín rũ xuống không ai gặt. Cỏ mạ xanh mượt cố vượt rạ khô ngoi lên. Bổng đã đào cái hố dài ba mét, rộng mét rưỡi, vơ rơm rạ ấn ống ủ nấm. Lạ thật, anh nào cuỗm mất nấm của Bổng? Rơm bới tung lên cũng không ủ lại lấy thêm lứa nấm thứ hai. Bổng chạy vội sang phía trái đầm lầy. Ở đây trước kia là làng đồng bào. Những nếp nhà sàn nép dưới bóng mít bóng xoài đà bị đạn pháo 105 ly của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xa-ri phá sập. Mít gãy cành. Xoài cũng gãy cành. Bổng vác cành mít khô xuống mé đầm lầy, cắt lau lách phủ lên. Độ ấm ấy, độ ẩm ấy, chỉ vài ngày mộc nhĩ mọc ra tua tủa. Ô hay, cậu nào chơi khăm nẫng tay trên của Bổng cả mộc nhĩ rồi? Kiểu này mấy cây bỗng bóng Bổng hì hục đục lỗ ủ men rượu khó mà an toàn. Bổng lao nhanh ra phía ấy.

        -Ai?

        Bổng quát, giọng giận dữ và sải chân nhảy tới. Ồ! Quý! Ai nói cậu biết thế? Quỷ đưa tay vuốt mái tóc lưa thưa trên cái trán nhãn bóng, nhe hàm răng trắng cười. Cái bụng quá cỡ của Quý ưỡn ra đằng trước.

        - Cậu lên chốt rồi, tớ nghĩ mãi. Những năm đánh Mỹ bộ đội mình được đồng bào cho uống rượu đót, khoái như uống bia. Chính trị viên chả nói cũng họ nhà đót cả thôi. Có phải cậu ủ men không? Tớ đoán chỉ cậu chớ không còn ai khác. Này, nếm chút ngon hơn rượu đót cậu ạ.

        Quý đưa bi-đông cho Bổng, hơi thở sặc mùi rượu.

        - Cậu dở lắm. Lần sau đục cái bụng cây to hơn, sâu hơn, ủ nhiều men, rượu mói đậm chứ.

        Bổng nhấp một ngụm. Chà, khoái quá! Ngọt như pha mật ong, thơm mùi rượu nếp. Rượu chè be bét thì chắc chắn bị kỷ luật rồi. Còn như cây hoang dại giữa rừng khéo chế biến thành thực phẩm, mạnh quân đánh thắng, không bằng khen cũng giấy khen. Thủ trưởng hẳn vừa lòng.

        Tiệc đón xuân của đại đội 12 sáng ngày mồng một tết có xôi đậu xanh. Nói thế chứ thực ra nõn bống báng băm nhỏ đồ xôi cũng bùi cũng ngậy lắm. Bổng tiếc là gấc chín đỏ rừng mà không cậu nào chịu đi hái về đồ xôi. Măng tươi xào thịt nạc đấy. Ấy, xin mách nhỏ để các đồng chí khỏi lầm. Đó là đọt bống báng thái nhỏ như măng tươi. Không tin đồng chí nếm thử xem, ngòn ngọt chứ không the thé cay đâu nhé. Món chân giò ninh nấm mộc nhĩ không ai dám chê. Nấm rạ tuy không thơm bằng nấm hương nhưng thử hỏi trên đời này đã mấy ai biết nấm rạ nấm hương như thế nào? Bống hứa với Quý 15 lít cay. Bây giờ không ai đem lít ra đo lường. Hai chục cái bi-đông xếp một hàng dài, 15 lít có dư rồi, không ai thắc mắc vào đâu được. Rượu bống báng nhắm giò ép, giò phê, giò lụa. Những món ăn cổ truyền Quỳ học cách làm từ ngày còn ở cảng Hải Phòng, bữa nay xem ra khá hấp dẫn.

        Xong tiệc mặn, đến tiệc trà. Khói thuốc um lên. Mấy cậu mắc chứng viêm họng bật ra ho. Lúc bấy giờ mặt anh nào cũng đỏ râng râng. Men rượu bống báng ngâm lâu ngà ngà chứ không hẳn là say. Kẹo đậu lạc tự nấu. Trà 331 vả thuốc Tam Đảo bao bạc, quà của hậu phương. Câu chuyện càng thêm đậm đà. Trung đội trưởng trung đội 2 đề nghị Bổng kể chuyện vui. Gì chứ cái đó Bổng có ngay. Anh nhìn Quý mủm mỉm đôi môi, ậm è nơi cổ họng, dập điếu thuốc đang cháy dở:

        - Nhân ngày xuân đề nghị các đồng chí chúc mừng quản lý nhà ta trước.

        - Tại sao?

        Quý chột dạ, cảnh giác ngay với trò đùa tếu của Bổng sắp nổ ra. Bổng tỉnh bơ, nói tiếp:

        - Trước ngày nhập ngủ Quý dẫn bà xã đi bệnh xá. Bữa đó có tôi đang ở đấy. Bà xã đi trước, Quý đi sau. Trời sắp tối lại mưa. Vợ chồng Quý cùng choàng ni-lông. Cô y sĩ thấy hai người bước vào cổng thì thở dài, ca cẩm:

        - Hai bà ở đâu mà sắp đến giờ nghỉ rồi mới rủ nhau đến khám thai!

        Cả đại đội phá ra cười. Bổng ôm lấy Quý xoa bàn tay vào cái bụng phề phệ quá cỡ và hôn lên má Quỷ.

        - Bạn bè với nhau đừng giãy thế. Cho tớ chúc mừng cậu cái nào. Xuân này cậu được lên chức ba rồi nhé. Hà hà!

        Tiếng súng từ chốt tiền tiêu nổ giòn. Bọn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri mò vào hay các cậu trung đội 1 đói bụng, đang "lên tiếng” giục anh nuôi mang cơm lên? Mọi người nghển cổ nhìn ra hướng chốt, nghe ngóng. Bổng phất tay một cái:

        - Yên trí, không có đòi gì hết. Mùng hai các cậu về ăn tết sau, đâu có đó. Nào, mời các bạn!
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM