Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Mười Một, 2019, 07:36:40 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vai trò quân sự của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam  (Đọc 18536 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« vào lúc: 09 Tháng Ba, 2008, 03:14:22 PM »

Nguồn: Tài liệu dịch từ bài viết của Tướng 4 sao B.Pan-mơ - Phó tham mưu trưởng lục quân Mỹ.
   
       I. Đánh giá những hoạt động quân sự Mỹ.
           
Mỹ đã điều khiển và tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1962 đến 1969, nói chung là không đến nỗi tồi. Từ năm 1969 cho đến khi người lính cuối cùng của Mỹ rút khỏi Việt Nam (8 -1972), hoạt động quân sự giảm dần. Việc phát hiện ra nạn nghiện ma tuý lan tràn trong lính Mỹ ở Việt Nam mùa xuân năm 1970 đã báo hiệu trước nguy cơ về tinh thần kỷ luật rệu rã. Thỉnh thoảng lại có vụ tấn công làm "tan xác" cấp chỉ huy, đúng là những dấu hiệu của sự sa sút tinh thần, trở thành vấn đề phải quan tâm sâu sắc.
           
Những tuyên bố của các quan chức cấp cao ở Mỹ, kể cả các thượng nghị sĩ chống lại sự dính líu vào Việt Nam, tác động nghiêm trọng đến lính Mỹ ở chiến trường, làm nguy hại trầm trọng đến tinh thần của họ. Nó tác động đến cả thái độ của tù binh Mỹ bị giam ở Bắc Việt Nam. Nó thể hiện qua con số tù binh bị tố cáo là đã cộng tác với đối phương cao hơn so với những năm đầu của cuộc chiến.
           
 Đã có những lời ngợi khen các hoạt động của quân đánh bộ, cơ bản là lục quân Mỹ. Theo truyền thống, lính thuỷ đánh bộ trao nhiều trách nhiệm và quyền hạn hơn cho hạ sĩ quan. Đó là một nguyên tắc cố hữu hợp lý mà lục quân đã làm ngược lại: họ giao phó cho sĩ quan cấp uý gánh vác quá nặng. Vì vậy, sĩ quan không giám sát thích đáng hạ sĩ quan. Các sĩ quan cấp cao không khi nào biết được điều gì đã xảy ra trong hàng ngũ binh sĩ, do đó không chăm sóc binh sĩ của họ một cách thích đáng.
           
Cuộc tấn công bằng không quân do Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương điều khiển, không ít thì nhiều đã tách rời cuộc chiến tranh ở Việt Nam do tư lệnh Mỹ ở Việt Nam chỉ huy. Cuộc tấn công bằng không quân ở Bắc Việt Nam cũng gồm 2 chiến dịch khác nhau : đánh các mục tiêu ở Bắc Việt Nam và đánh đường tiếp tế qua Lào. Hai chiến dịch đó thường chồng chéo lên nhau về địa lý, vì lực lượng  không quân tham gia, có bộ phận đóng ở Việt Nam, có bộ phận ở tàu sân bay ngoài biển Đông. Không có thống nhất chỉ huy thật sự. B - 52 tham gia đánh phá nhưng lại do Bộ chỉ huy không quân chiến lược (SAC) điều hành.
           
Không quân của hải quân (tàu sân bay) và không quân chiến thuật (trên đất liền) phối hợp hoạt động rất khó, vì phương thức hoạt động và học thuyết của hải quân và không quân khác nhau. Hệ thống liên lạc và trang bị của hai quân chủng cũng khác nhau. Thông thường họ không được huấn luyện để hoạt động phối hợp. Hoả lực phòng không của Bắc Việt Nam dày đặc và ghê gớm nhất mà lực lượng không quân Mỹ chưa từng gặp trong lịch sư chiến tranh. Bom " tinh khôn" đưa vào sử dụng trong giai đoạn chót của cuộc chiến là một lợi thế quan trọng nhưng tổn thất về máy bay và đoàn phi hành vẫn lên cao. Thời tiết xấu và địa thế hiểm trở cũng là điều bất lợi. Cuối cùng, phải thay đổi cả các quy tắc chiến đấu vẫn áp dụng từ trước đến nay.

 Vấn đề nảy sinh từ các cuộc tấn công của không quân là, nếu nó được tiến hành từ các căn cứ ở đất liền, có phương tiện phục vụ lâu dài mới thuận lợi. Đằng này, máy bay phải xuất phát từ các tàu nổi, không ở vị trí hoạt động lâu ngày. Do đó các nhóm tàu  sân bay đặc nhiệm gặp rất nhiều khó khăn trong việc tu bổ định kỳ. Cho đến nay ảnh hưởng bất thường này vẫn gây tác động trong hải quân. Việc không quân của lính thuỷ đánh bộ tự yểm trợ lực lượng của mình, ngoài vấn đề đáng ca ngợi, còn có việc không khai thác được khả năng cơ động của trực thăng. Trong khi đối phương bao vây  vị trí Khe Sanh năm 1967, tướng Oét-mo-len cử tư lệnh không đoàn số 9 chỉ huy tất cả hoạt động không quân của mọi quân chủng để yểm trợ cho lính thuỷ đánh bộ. Quân lính thuỷ đánh bộ đã kịch liệt phản đối vì họ chống lại mọi mưu toan đặt một bộ phận kiểm soát bên ngoài xen vào giữa  thành phần quân đánh bộ và thành phần không quân yểm trợ riêng của họ.
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Ba, 2008, 03:20:51 PM gửi bởi thanhlong » Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #1 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2008, 03:15:36 PM »

Mọi hoạt động hành quân sẽ không đạt kết quả nếu tin tức tình báo thiếu chất lượng. Do đó, chúng ta hãy xem xét vắn tắt hoạt động tình báo của Mỹ ở cấp quốc gia cũng như ở cấp chiến trường. Với tổng thống và các nhà làm chính sách ở Oa-sinh-tơn thì có quá thừa các bản nghiên cứu và ước tính tình báo về Việt Nam. Nhiều nguồn cung cấp như toà đại sứ Mỹ, cơ quan tình báo khu vực, Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ (MACV), Bộ tư lệnh Thái Bình Dương và vô số cơ quan tình báo ở Oa-sinh-tơn.
           
Cộng đồng tình báo ở Oa-sinh-tơn gồm : giám đốc Trung ương tình báo (DCI) và cơ quan tình báo thuộc quyền, cơ quan tình báo Bộ Quốc phòng và Lầu Năm Góc (DIA), các cơ quan tình báo của các quân chủng, cục tình báo và sưu tầm (INR) thuộc Bộ Ngoại giao; cục an ninh quốc gia (NSA), các cục an ninh quân chủng. Giám đốc Cục tình báo Trung ương điều khiển cái liên minh lỏng lẻo này và chủ trì uỷ ban tình báo của Mỹ, được gọi là uỷ ban tình báo đối ngoại quốc gia. Quyền hành của giám đốc DCI có phần yếu bởi vì có 3 trong 4 thành viên chính của uỷ ban chịu trách nhiệm đối với một thành viên nội các.

Trong thời chiến, Tư lệnh chiến trường thường là viên tư lệnh thống nhất, có quyền điều khiển tất cả các nguồn cung cấp tình báo. Tuy nhiên, chiến trường Việt Nam là trường hợp duy nhất mà tổ chức thời chiến nói trên không được áp dụng. Hậu quả là nỗ lực thống nhất tình báo của Mỹ ở Việt Nam không thực hiện được, và đã xảy ra sự trùng lặp và cạnh tranh không nên có. Khốn thay, vấn đề này đã tác động tới cả các hoạt động tình báo hỗn hợp của Mỹ và Nam Việt Nam, đưa đến hậu quả vô ích. Một tỉnh lỵ hay một quận lỵ mà có đến hai trung tâm thẩm vấn, một dành cho cơ quan tình báo Trung ương Mỹ và Nam Việt Nam, một dành cho MACV và Nam Việt Nam.

MACV và Bộ tư lệnh Thái Bình Dương quan tâm đến các khía cạnh tình báo trực tiếp của cuộc chiến, tình báo quốc gia lại tập trung chú ý vào khía cạnh chiến lược dài hạn. Tình báo quốc gia cần sự đánh giá về chiến lược đối đầu giữa Mỹ-Bắc Việt, nhận thức của Bắc Việt về cố gắng quân sự của Mỹ, hiệu quả các cuộc ném bom ở Bắc Việt, khả năng tiến hành chiến tranh của họ, sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc đối với họ, triển vọng tồn tại của một Nam Việt Nam không cộng sản.

Sau khi cân nhắc kỹ, người ta thấy cơ quan tình báo Trung ương đã làm tốt công tác đánh giá tình hình trong thời kỳ 1965-1974 ở Đông Nam Á. Các tình báo của  CIA hầu hết là chính xác. Khi đánh giá hiệu quả các cuộc ném bom của Mỹ, CIA kết luận rằng các cuộc ném bom không làm suy giảm khả năng hậu cần để nuôi dưỡng chiến tranh của Bắc Việt, rằng Bắc Việt có thể chịu đựng được sự trừng phạt, rằng Hà Nội sẽ không nao núng, rằng tổn thất vật dụng do thiệt hại do các cuộc ném bom gây ra ở Bắc Việt sẽ được Liên Xô và Trung Quốc bổ sung… Trong khi đó, Hà Nội không ngừng cải tiến hệ thống phòng không, gây thiệt hại ngày càng tăng cho không quân Mỹ.

Về khả năng tiến hành chiến tranh lâu dài của Bắc Việt thì CIA ước đoán rằng Hà Nội sẽ lấy chiến tranh tiêu hao làm cơ sở chiến lược. Bắc Việt có đủ nguồn nhân lực cùng với nguồn vũ khí và vật tư bảo đảm thích đáng để tiếp tục tiêu hao một cuộc chiến tranh lâu dài; rằng các nhà lãnh đạo Hà Nội tin là họ có sức chịu đựng hơn Mỹ và Nam Việt Nam rồi cuối cùng họ sẽ thắng. CIA cũng phán đoán là sự phong toả của hải quân Mỹ không có tác dụng đối với Bắc Việt.
 
Cuối cùng, khi khả năng của Nam Việt Nam suy giảm và viện trợ của Mỹ cũng giảm vào cuối năm 1973 và 1974, thì CIA cũng dự báo là tình hình Nam Việt Nam trở nên nguy kịch. Bắc Việt có thể khai thác ưu thế quân sự để đạt chiến thắng. Nhưng họ đã không dự tính được chiến thắng này sẽ đến sớm vào mùa Xuân năm 1975.

Một vấn đề đặt biệt phức tạp gây tranh cãi trong cộng đồng tình báo suốt cuộc chiến tranh là ước tính số quân và xác định thành phần các đơn vị lớn của địch. Đó là sự xét đoán về tình báo quân sự khó khăn nhất, nhất là trong chiến tranh nhân dân ở Việt Nam, một cuộc chiến tranh mà quân chính quy rất khó phân loại các lực lượng trực tiếp chiến đấu với các lực lượng gián tiếp. Lại còn rất khó ước tính thương vong của bộ đội địch vì lực lượng  tham chiến có cả dân thường, quân chính quy, quân địa phương và dân quân. Ước tính giữa CIA và MACV về số đơn vị địch tham chiến phải trải qua thời gian lâu dài mới nhích gần lại nhau, còn với lực lượng quân du kích thì khác xa nhau một trời một vực.
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #2 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2008, 03:16:50 PM »

Ước tính số thương vong của địch bằng hội chứng "đếm xác" là vấn đề không có gì mới mẻ và là nhân tố rất phức tạp. Phóng đại số xác đếm được thổi phồng ước tính tổn thất của địch là một thí dụ. Phân biệt được số quân trực tiếp tham chiến là chính quy hay không chính quy rất khó khăn nên có xu hướng gây thương vong cho dân thường để làm tăng số "địch" bị chết. Nó khuyến khích các đơn vị chiến đấu vừa thổi phồng con số và thêm thắt vào báo cáo số địch thương vong làm cho hội chứng "đếm xác" gay gắt thêm. Ở đồng bằng sông Cửu Long có một số đơn vị làm như vậy và gây thương vong bừa bãi cho thường dân.
           
 Nguồn nhân lực dồi dào của địch là điều qúa rõ. Đối phương chọn vị trí và thời gian để mở trận địa, nhờ vậy họ có thể kiểm soát tỷ lệ thương vong. Có những đơn vị của họ rõ ràng là bị đánh tan tác mà chỉ vài tháng sau đã lại xuất phát từ các căn cứ an toàn, sẵn sàng tham chiến với đầy đủ số quân. Những sự kiện đó kết hợp với tin tức về mức xâm nhập theo đường mòn Hồ Chí Minh cấu thành những dấu hiệu cho thấy địch có thể tiến hành vô hạn định loại chiến tranh này. Nguồn nhân lực của đối phương, theo đúng nghĩa của nó, dường như vô tận. Với số thương vong của họ - mà giả thử là của Mỹ ắt hẳn đã gây ảnh hưởng quan trọng trong xã hội, ngược lại chẳng tác động gì tới Hà Nội và nhân dân họ. Do đó, người ta được phép kết luận là các quan chức Mỹ lẽ ra không nên để bị lừa về các báo cáo ước tính sai về tổn thất  và về số quân của đối phương.

Người ta có quyền hỏi tại sao các quan chức vạch chính sách ở Oa-sinh-tơn đã không chú ý đến sự bất đồng ý kiến trong nội bộ cộng đồng tình báo? Câu hỏi hóc búa này không dễ gì trả lời. Đặc  điểm của cộng đồng tình báo là không có lý do để mong đợi những quan điểm thống nhất đối với các vấn đề rất quan trọng. Về vấn đề Việt Nam, người đứng đầu CIA phải đương đầu với một lô quan chức đầu não làm chính sách: Tổng thống, bộ trưởng ngoại giao, bộ trưởng quốc phòng, chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, cố vấn tổng thống về an ninh quốc gia. Họ đều có quyền lực, họ biết cách sự dụng quyền hành giao phó. Giám đốc CIA  R.Helms đã để mặc cho các quan chức trên tự quyết định lấy.

Cần đề cập đến trường hợp đặc biệt đã gây nhiều khó khăn cho các nhà vạch chính sách. Đó là vấn đề Bắc Việt sử dụng đường biên cập bến tại Campuchia. Trường hợp này, CIA và DIA đều nhận định giống nhau  nhưng đều sai còn nhận định của MACV mới đúng. CIA và DIA đều ước tính quá thấp khối lượng tiếp tế qua cảng Xi-ha-núc-vin, mà MACV đánh giá đúng là đường tiếp tế quan trọng.
 
Còn phải nhấn mạnh đến một số điểm về các lĩnh vực chiến thuật và kỹ thuật. Ta hãy xét đến yếu tố bất ngờ. Việc Bắc Việt có đạt được sự bất ngờ thực sự về chiến lược theo ý nghĩa chính trị - quân sự tổng thể hay không còn nhiều ý kiến tranh cãi. Nhưng hiển nhiên họ đạt được bất ngờ trong hai trường hợp đáng chú ý. Đó là lần tấn công dịp Tết 1968 và lần tấn công qua khu phi quân sự trong dịp lễ Phục sinh tháng 3/1972. Sau hiệp định ngừng bắn, họ còn đạt bất ngờ quan trọng khi họ tấn công Buôn Mê Thuột tháng 3/1975, mở đầu cuộc tổng tấn công chiếm Nam Việt Nam.

Xem xét cơ sự tại sao đã xảy ra như vậy, người ta phải kết luận rằng nhân tố then chốt là Mỹ quá tin vào tin tức kiểm thính qua phương tiện thông tin, dựa vào đó để rút ra hầu hết những tin tức chiến lược và chiến thuật liên quan đến Đông Nam Aù. Loại tin tức như vậy rất dễ gây lầm lạc ghê gớm và cũng bị địch thao túng. Nó chỉ thích hợp để xét đoán tính chất chiến lược dài hạn chứ không thích hợp cho mục đích chiến thuật ngắn hạn. Ví dụ, xác định vị trí máy phát của một trung đoàn quân Bắc Việt nào đó, nhất thiết không có nghĩa là trung đoàn đóng ở đó, mặc dầu có dấu hiệu là các bộ phận của trung đoàn có mặt ở khu vực lân cận. Có bài học rõ nét là Mỹ không khai thác đúng mức nguồn tin do người cung cấp so với những nguồn tin điện tử.

Mỹ cũng yếu kém về phản tình báo, nghĩa là một cố gắng có tổ chức và có kỷ luật để ngăn chặn không cho địch biết về kế hoạch hành quân và về các vấn đề quân sự khác. Việc bảo đảm an toàn thông tin liên lạc của Mỹ ở Đông Nam Aù không được hoàn hảo, chỉ an toàn ở mức tương đối. Do thói quen cẩu thả, nói thẳng (không dùng mã) qua máy điện thoại hoặc máy vô tuyến không an toàn, nên địch thường biết trước kế hoạch của Mỹ rất rõ, kể cả các cuộc ném bom của Bộ Tư lệnh không quân chiến lược nên đã có biện pháp báo động cho bộ đội và người của họ. Hậu quả là Mỹ đã bỏ mất nhiều cơ hội và lợi thế quý giá gây bất ngờ cho địch.
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2008, 03:18:21 PM »

Việc bắn phá quấy rối và ngăn chặn, việc ném bom không hướng dẫn, thường căn cứ theo tin tức mơ hồ nhiều khi nhằm vào các khu vực tình nghi địch chiếm đóng gọi là vùng "oanh kích tự do". Về phương diện quân sự việc này không thực sự có hiệu quả và hoang phí đạn dược. Quân Mỹ và quân Sài Gòn thường trông đợi chủ yếu vào hoả lực dồi dào của đơn vị bạn mà xem thường cố gắng của đơn vị mình. thói quen này còn do quân bộ binh kém khả năng nên phải trông cậy vào hoả lực yểm trợ từ bên ngoài. Do đó khi hầu hết quân đánh bộ của Mỹ đã rút lui, hoả lực của không quân Mỹ không đủ để bù đắp những nhược điểm đó của quân đội Sài Gòn. Sau hiệp định ngừng bắn tháng 1/1973, quân Sài Gòn lâm vào tình trạng thiếu hoả lực không quân, thiết giáp và pháo cỡ lớn để chống chọi với quân Bắc Việt đông và hiện đại hơn.
           
Trực thăng nhiều, vừa là cái lợi, vừa là cái hại. Nó là phương tiện đắt tiền, cần bảo quản công phu. Phi công phải được huấn luyện chu đáo giỏi về chiến thuật. Nếu không thì hành quân có thể bị thảm bại. Nhưng quân Mỹ đã quá lệ thuộc vào trực thăng. Tuy trực thăng làm được nhiều việc nhưng vẫn không thay thế được quân đánh bộ, mạnh, dẻo dai, có thể di chuyển đường trường với sự yểm trợ ít ỏi. Quân bộ cứ dùng trực thăng để rút khỏi vị trí hiểm nghèo thì sao còn dám gan lì và quyết tâm chiến đấu đến cùng?

Trực thăng còn giúp sĩ quan cấp cao kiểm tra, nhưng nó là con dao hai lưỡi. Nó dẫn đến chỗ giám sát sĩ quan cấp thấp quá mức, tới độ làm thay họ tất cả. Nó làm cho người ta lầm tưởng quan cao cấp nắm vững tình hình trên mặt đất trong khi thực tế không phải như vậy.

Người Mỹ có nhiều hướng hoang phí cho nên quân đội Mỹ cũng vậy. Tích trữ hàng đống lớn đồ tiếp tế, tiện nghi cho các căn cứ quá ư thừa thãi. Điều này gây ảnh hưởng tâm lý không tốt cho binh lính Mỹ và binh lính Sài Gòn, lại gây ảo tưởng về sự có mặt của Mỹ. Một nếp sống khắc khổ có lẽ tác động tốt đến người lính hơn.

Khó khăn nghiêm trọng nhất của lục quân là nhân lực và quân số. Nguyên nhân cơ bản là do không động viên và quyết định giữ nhiệm kỳ phục vụ một năm ở Việt Nam. Không động viên cục bộ nên lục quân không sử dụng được các đơn vị được huấn luyện thành thạo, có kinh nghiệm. Kết quả là kinh nghiệm tác chiến của lục quân bị giảm, đặc biệt ở cấp chỉ huy gồm cả sĩ quan và hạ sĩ quan. Không động viên hoặc ban bố tình trạng khẩn cấp nên chế độ nhập ngũ vẫn như trong thời bình. Do đó công dân phục vụ ở nước ngoài lâu nhất chỉ 16 tháng. Trong số quân lính ở nước ngoài, có hơn một nửa phục vụ ở Việt Nam phải thay thế hàng năm. Bài toán đơn giản đối với lục quân là Mỹ không đủ chỗ để cung cấp số quân được huấn luyện theo nhu cầu thay thế hàng năm ở Việt Nam. Vì lý do chính trị (súng và bơ, cùng nhu cầu của "xã hội vĩ đại") bộ trưởng quốc phòng Mc Na-ma-ra bỏ qua việc thiếu hụt nhân lực của lục quân và không chấp thuận yêu cầu tăng quân cho đúng biên chế.

Các đơn vị đưa đến Việt Nam gặp vấn đề khó khăn là làm thế nào duy trì được hiệu quả và sự gắn bó của đơn vị trước nhịp độ số quân di chuyển nhiều? Do thương vong, ốm đau, tổn thất khác về  sinh mạng, số quân về nước đều đặn vì hết nhiệm kỳ phục vụ nên cứ từ 9 đến 10 tháng thì đại đội bộ binh lại hoàn toàn đổi mới một lớp người khác.

Khó khăn quan trọng khác là các đơn vị Mỹ không giữ được cấp chỉ huy có khả năng theo tiêu chuẩn. Đơn giản là lục quân không thể nào cung cấp thích đáng để thay thế hàng loạt cấp chỉ huy, cả sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm tương xứng với bổn phận của họ. Do nhiệm kỳ phục vụ một năm ở Việt Nam và do không ban hành được lệnh động viên nên phải phân tán mỏng cấp chỉ huy chuyên nghiệp có kinh nghiệm trong lục quân Mỹ trên khắp thế giới. Ngoài ra nhiều sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên nghiệp, sau khi hoàn thành hai hoặc ba nhiệm kỳ ở Việt Nam, bị gia đình ngày càng thúc ép, đã quyết định xin về hưu, do đó càng mất mát. Số chỉ huy dày dạn kinh nghiệm ở Việt Nam dần dần làm hại mọi cố gắng của chúng ta, xói mòn tinh thần tận tuỵ đối với nhiệm vụ giao phó.

Chiến tranh Việt Nam đã làm bộc lộ một khuyết điểm quan trọng trong việc huấn luyện quân nhân Mỹ, cả sĩ quan lẫn binh sĩ. Quân đội Mỹ, dù ở trong nước hay ở Đông Nam Aù đều đã không làm tốt nhiệm vụ đối đầu với loại chiến tranh du kích vì thiếu cấp chỉ huy chín chắn có kinh nghiệm, cả sĩ quan lẫn hạ sĩ quan.

Như trên, sau khi xem xét hoạt động của quân đội Mỹ, hệ thống tình báo Mỹ, một số nhược điểm về chiến thuật và hậu cần, điểm yếu nghiêm trọng trong hệ thống nhân lực, chúng ta có thể đặt giả thiết nếu có những cải tiến quan trọng trong hoạt động của Mỹ thì có đem lại kết quả khả quan hơn không? Câu trả lời có lẽ là " Không"! Chúng ta đã thua cuộc chiến tranh chủ yếu là ở phạm vi chiến lược, ngoại giao và chính trị nội bộ. Tuy nhiên, quân nhân chuyên nghiêp Mỹ chúng ta có thể học hỏi được nhiều từ kinh nghiệm bi thảm ở Việt Nam. Những bài học thấm thía đó có thể tác động đến thắng trận hay thua trận trong một cuộc chiến tranh tương lai.
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2008, 03:22:18 PM »

             II. Chiến lược của Mỹ.
           
Những bài học đau đớn, những câu hỏi đã nêu lên cùng những vấn đề tồn đọng đều thuộc về di sản Việt Nam. Chắc chắn những kinh nghiệm của Mỹ ở đó sẽ tác động lâu dài đến chính sách đối ngoại cùng chính sách quốc phòng. Thảm kịch Việt Nam chắc chắn là nhân tố hạn chế trong quan hệ đối ngoại và đối nội của chúng ta ít nhất là một thế hệ.
           
 Tôi đánh bạo làm một cuộc  đánh giá toàn bộ chiến lược cuộc can thiệp của chúng ta ở Việt Nam, bàn luận những nhân tố bất lợi cho Mỹ, duyệt lại chiến lược của Mỹ và xem xét chiến lược của Hà Nội.
           
 Chúng ta không giấu giếm gì việc Mỹ đã không đạt được các mục tiêu của mình ở Việt Nam. Mọi cố gắng của chúng ta nhằm xây dựng một quốc gia không cộng sản có thể đứng vững được đã bị thất bại khi nước này bị Bắc Việt tràn ngập vào tháng 4/1975. Phải chăng mọi việc đều là vô ích? Có đáng hy sinh hơn 58.000 sinh mạng Mỹ, hàng tỷ đô la, không biết bao nhiêu tài nguyên vật chất, chưa kể số thương vong của người Việt Nam cùng sự tàn phá vật chất trong khu vực hành quân không? Chắc chắn sự thiệt hại đối với sự tự trọng và tự tin của chúng ta ở trong nước cũng như uy tín của Mỹ ở ngoài nước là không thể lường được và chỉ có qua dòng thời gian mới có thể xét được hậu quả lâu dài.
           
Nếu trong năm 1965, Mỹ không đưa các lực lượng  chiến đấu trên bộ vào tham chiến thì chắc chắn Nam Việt Nam đã sụp đổ và Bắc Việt Nam đã chiếm lấy nó ngay rồi. Quả thực cuộc chiến đấu của chúng ta ở Việt Nam đã đóng góp vào việc duy trì toàn bộ tư thế của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Nếu chúng ta không chiến đấu bên cạnh Nam Việt Nam thì tư thế các đồng minh của chúng ta đã yếu kém trầm trọng.
           
Giờ đây tôi xin đánh giá cuộc can thiệp của chúng ta, cố gắng xác định xem chúng ta sai lầm ở chỗ nào và nhận ra các bước sai lầm quan trọng. Lúc đầu, phải công nhận Mỹ gặp ba điều bất lợi quan trọng:
           
Thứ nhất, là Nam Việt Nam gồm Nam Bộ (tập trung quanh Sài Gòn) và Trung Bộ (tập trung quanh Huế) thiếu sự cố kết về chính trị và xã hội, không có lịch sử truyền thống một nước thống nhất hay một dân tộc đoàn kết. Người lãnh đạo thì hiếm và thường xuất hiện và xuất thân từ lớp người có đặc quyền.
           
Thứ hai, là dân chúng Nam Việt Nam rất khác biệt với thứ dân xông xáo, lăn lộn ở đồng bằng sông Hồng. Vùng sơn cước ở Tây Nguyên là sự cản trở rõ rệt về chính trị và xã hội đối với Sài Gòn. Người sơn cước là dân sơ khai sống rất nghèo khổ. Người Việt nghi ngờ và không tin họ. Đã có sự thù hận lâu đời giữa hai dân tộc.
           
Thứ ba, là Mỹ cũng như các nước phương Tây không có khả năng tạo cho dân chúng loại quyết tâm và lòng sốt sắng gần như có tính cách tôn giáo mà cộng sản đã làm được. Động cơ thúc đẩy này là một thứ vũ khí kinh khủng. Sự truyền thụ chủ nghĩa cộng sản cho một số thanh niên được lựa chọn biến họ thành những đảng viên nòng cốt và những người lãnh đạo tương lai. Cần nhớ rằng, đầu những năm 60, một phần dân cư Nam Việt Nam đã nằm dưới quyền cộng sản hơn một thế hệ.
           
Về mặt chiến lược, Mỹ cũng ở thế bất lợi rất lớn so với Liên Xô và Trung Quốc. Trong khi hai cường quốc này không phải chịu thương vong mà chỉ tốn phí tài nguyên vật chất thì Mỹ phải chịu thương vong cao và tốn phí một số tài nguyên to lớn để duy trì một lực lượng Mỹ ngày càng phình to, chiến đấu cách nước mình nửa vòng quả đất. Để đối phó với một tình hình quân sự vốn dĩ khó khăn, Mỹ đã quyết định không  động viên mà lại bành trướng các lực lượng  đang tại ngũ của mình khi chiến tranh mở rộng và tăng cường. Việc không động viên này cùng với những quyết định nội bộ khác của bộ quốc phòng đã dẫn đến việc làm xói mòn đều đặn các lực lượng  Mỹ, không chỉ ở Đông Nam Aù mà ở cả những khu vực khác, đặc biệt là ở châu Âu, nơi mà một tập đoàn quân dã chiến Mỹ một thời  có tiếng là cừ khôi đã lâm vào tình trạng không sẵn sàng chiến đấu một cách kỳ quặc, không có khả năng làm tròn nhiệm vụ trong khối NATO của mình. Quyết định trên cũng đặt thành nghi vấn nhu cầu về vệ binh quốc gia cùng các lực lượng dự bị, làm thiệt hại trầm trọng uy tín và tinh thần họ. Sau cùng, Mỹ đã bị thất thế một cách hiểm nghèo về mặt chiến lược vì đã không chú trọng đến các lực lượng của mình ở châu Âu và Đại Tây Dương.
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #5 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2008, 03:24:16 PM »

Mỹ cũng bị bất lợi nghiêm trọng về mặt chính trị và tâm lý. Người ta đã buộc tội việc Mỹ vào Việt Nam không khác gì sự có mặt trước kia của Pháp, do đó Mỹ đã bị liệt vào nước thực dân như bất cứ cường quốc phương Tây nào khác. Trong khi điều này là cản trở chính về tâm lý cho phía chúng ta thì nó lại là thuận lợi lớn cho Việt cộng và Bắc Việt Nam. Các đồng minh châu Âu của Mỹ, do còn lo ngại bối rối vì chúng ta ủng hộ các thuộc địa cũ giành độc lập từ tay các giám thị châu Âu nên không muốn ủng hộ các nỗ lực của chúng ta. Những đồng minh ủng hộ chúng ta là những đồng minh ở châu Aù và Tây Thái Bình Dương. Do cái vẻ có bộ mặt thực dân, Mỹ bị tuyên truyền thù địch tấn công và mất cả sự ủng hộ của dân chúng trong nước và ngoài nuớc. Việc Mỹ ném bom Bắc Việt Nam là một ví dụ của tình trạng bị tấn công này. Mỹ luôn luôn bị xem là một kẻ khổng lồ bắt nạt một nước nhỏ không có gì chống đỡ đang cố gắng tự phòng thủ trong một tình huống vô cùng ngặt nghèo.
           
Mỹ còn đánh giá sai tình hình ở Việt Nam. Chúng ta đã không nhận thức đầy đủ mức độ lật đổ từ địa phương đến cấp quốc gia. Khi đưa lực lượng  chiến đấu Mỹ vào Việt Nam năm 1965, chúng ta chỉ biết rõ các dấu hiệu bên ngoài của tình trạng sắp sụp đổ - một đạo quân bản xứ bại trận, mất tinh thần và một nền kinh tế lao đao - mà không hiểu được chiều sâu cuộc  nổi dậy của cộng sản. Mỹ chỉ nhìn thấy bề nổi của tảng băng trôi. Chúng ta đánh giá quá thấp Việt cộng và quân Bắc Việt Nam nhất là sức chịu đựng của họ. Họ có khả năng phục hồi rất khác thường, chịu những thương vong nặng, chúng ta không thể nghĩ đến việc bổ sung nhân lực, huấn luyện, bồi dưỡng lại về tư tưởng cho những chiến binh rồi đưa họ trở lại chiến đấu.
           
Tương tự như vậy, chúng ta cũng đánh giá thấp ý chí, sự ngoan cường và quyết tâm của chế độ Hà Nội. Các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam chủ trương đánh trường kỳ. Họ dự tính hàng thế hệ. Cuộc chiến tranh càng kéo dài họ càng bền bỉ. Ý chí kiên trì của họ là không thể dập tắt. Trái lại Mỹ quá tin tưởng rằng kỹ thuật cao, sự ứng biến, sức mạnh công nghiệp quân sự hiện đại, cùng truyền thống giải quyết khủng hoảng trong hoà bình và chiến tranh, chắc chắn phải đưa đến thắng lợi ở Việt Nam, nơi mà Pháp đã thất bại.
           
Nhiều nhà lãnh đạo quân sự Mỹ, kể cả tôi, thấy rõ những bất lợi nghiêm trọng về việc chúng ta tự đặt mình vào thế thủ, hạn chế các  hoạt động trên bộ của chúng ta trong phạm vi biên giới lãnh thổ của Nam Việt Nam, nhưng vẫn còn tin là ắt phải tìm được cách nào đó để khắc phục những trở ngại này. Đó là hội chứng "có thể làm được". Nhưng đối với phần lớn chúng ta, việc nhận thức ra rằng thời gian chẳng mấy chốc không còn đứng về phía chúng ta nữa đã đến quá muộn.
           
Một trong những trở ngại của chúng ta là ít người Mỹ hiểu được bản chất thực sự của cuộc chiến tranh này. Đó là một cuộc chiến tranh kết hợp khéo léo đến mức quỷ quái kiểu chiến tranh thông thường ở mức thấp với chiến tranh du kích chiến đấu theo lối cổ điển. Hà Nội luôn luôn chú trọng các mục tiêu chính trị của mình, nên mỗi hành động lựa chọn quân sự hay phi quân sự đều nhằm giúp cho các mục tiêu đó. Theo quan điểm của Hà Nội đây là cuộc chiến tranh tổng lực.
           
Trong khi đó, theo cách nhìn của Mỹ, đó là chiến tranh hoàn toàn hạn chế. Các nhà lãnh đạo Mỹ, dân sự cũng như quân sự, hình như không nắm được đầy đủ những hệ quả của quyết định chiến đấu trong một cuộc chiến tranh cục bộ với những mục tiêu hạn chế, nên tìm cách ngăn không cho Bắc Việt Nam giành thắng lợi ở miền Nam qua việc buộc họ phải trả giá cao. Bây giờ chúng ta hãy xem xét những hậu quả của quyết định tiến hành một cuộc phòng thủ chiến lược thụ động ở Nam Việt Nam như vừa nói.
           
Thứ nhất, nó dành cho Hà Nội quyền chủ động và lợi thế tấn công chiến lược. Các lực lượng  Mỹ và đồng minh ở miền Nam chỉ có thể phản ứng và vũ khí tiến công duy nhất của họ là sức mạnh không quân để chống lại miền Bắc. Hơn nữa, việc áp dụng dần dần từng phần sức mạnh không quân đã làm cho tình hình trở nên xấu hơn nữa. Nó giúp cho Bắc Việt Nam xây dựng các hệ thống phòng không đến mức chưa từng có, tập cho dân quen chịu đựng hậu quả các cuộc ném bom. Cho nên xét cho cùng thì không quân đánh miền Bắc Việt Nam mà không có một mối đe doạ đáng  tin cậy và toàn bộ trên mặt đất đối với Hà Nội là không đạt đến kết quả quyết định.
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #6 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2008, 03:25:45 PM »

Thêm nữa, việc hạn chế các vùng lãnh thổ của chiến tranh có nghĩa là hầu như không có cách nào để chặn đứng cuộc xâm nhập người và vật tư vào Nam Việt Nam. Việc ngăn chặn bằng cách dùng máy bay bắn phá khắp miền Bắc Việt Nam và vùng cán xoong Lào có thể tổn thất về người và của nhưng có thể đoán trước là không thể ngăn chặn được dòng xâm nhập. Gần như không thể ngăn chặn đóng kín biên giới Nam Việt Nam, khó khăn này còn trở nên tồi tệ hơn nữa, do chỗ chế độ Hà Nội sử dụng Lào và Campuchia làm đất thánh và căn cứ. Quân Bắc Việt Nam rõ ràng đã xây dựng được một cơ cấu hậu cần rộng lớn, hữu hiệu, hoạt động qua mọi mùa ở những nước làng giềng này.
           
Những mục tiêu giới hạn còn buộc đồng minh phải chiến đấu với các lực lượng  địch theo điều kiện của địch, ở những khu vực do địch lựa chọn trên đất Nam Việt Nam. Do đó sự tàn phá, sự gián đoạn trong đời sống chính trị-kinh tế-xã hội, sự tổn hại đối với các cố gắng xây dựng là không thể tránh được.
           
Một số tiết lộ về chính trị còn gây thêm những hậu quả bất lợi. Khởi đầu năm 1965, tổng thống Giôn-xơn đã để cho các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam biết là Mỹ không có ý xâm lược Bắc Việt Nam hay tìm cách lật đổ Chính phủ Hà Nội. Sau đó, mọi hành động của Mỹ đều xác nhận lại ý định này. Điều đó thực tế đã quyết định số phận của Nam Việt Nam, vì nó giúp cho Hà Nội được hoàn toàn tự do sử dụng mọi lực lượng  của mình ở miền Nam Việt Nam. Không ai tranh cãi với quyết định không xâm lấn Bắc Việt Nam vì nó ở sát Trung Quốc. Kinh nghiệm đánh giá sai cuộc can thiệp của Trung Quốc ở Triều Tiên hãy còn sờ sờ trong trí óc của người Mỹ. Nhưng đáng lý ra Mỹ phải giữ kín không để cho ý định của mình lộ ra rõ ràng và không bao giờ để cho Hà Nội hết nơm nớp về một cuộc xâm lược. Bằng cách duy trì mối đe doạ đổ quân thuỷ - bộ vào bờ biển Bắc Việt Nam, chúng ta có thể đã đặt quân Bắc Việt Nam vào tình trạng thấp thỏm và buộc họ phải giữ nhiều quân dự bị ở miền Bắc.

Qua cuộc đột kích vào trại tù binh Sơn Tây ngày 20/11/1970, đã chứng minh cho thấy Bắc Việt Nam dễ bị tấn công. Nhưng  nhờ không bị mối đe doạ nào, Bắc Việt Nam đã tăng cường số dự trữ chiến lược của mình và sau cùng phái gần hết số dự trữ đó vào miền Nam.
           
Mỹ còn làm yếu thêm cánh tay sức mạnh của mình bằng cách tìm dịp thương lượng hoà bình, quá sớm. Suốt thời gian từ 1964 đến 1968, tổng thống Giôn - xơn đã có trên 70 đề nghị hoà bình xen lẫn với 16 lần ngừng ném bom. Cho đến năm 1968, tư thế của chúng ta ở Nam Việt Nam còn lâu mới đủ mạnh để biện minh cho các cuộc thương lượng. Hà Nội xem những mưu toan này của Mỹ như dấu hiệu yếu kém và thiếu tin tưởng của chúng ta.
           
Với bối cảnh này, chúng ta hãy xem  xét tổng quát chiến lược Mỹ. Chiến lược  Mỹ có hai phần, ít liên hệ với nhau theo nghĩa quân sự nhưng liên quan chặt chẽ với nhau về chính trị và tâm lý. Phần thứ nhất là cuộc tiến công bằng không quân đối với miền Bắc đi đôi với thương lượng hoà bình về ngoại giao, nhằm thuyết phục Hà Nội đừng tìm cách chiếm Nam Việt Nam. Phần thứ hai là cuộc chiến tranh trên bộ ở Nam Việt Nam.
           
Mặc dầu cuộc tiến công bằng không quân được tranh luận sôi nổi ở Oa-sinh-tơn, cuộc tranh luận tương tự đối với chiến tranh trên bộ đã diễn ra từ từ. Oa-sinh-tơn vẫn lỏng tay để tướng Oét-mo-len, trong thời gian từ 1965 đến 1966 - vận dụng sáng kiến chiến lược sai lầm toàn bộ là tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao giới hạn trong phạm vi biên giới lãnh thổ Nam Việt Nam, dùng binh sĩ Mỹ làm mũi nhọn tấn công. Có nhiều điểm yếu kém trong chiến lược này chồng chéo với nhau làm lợi cho địch theo nhiều cách.
           
Thứ nhất là Mỹ quá tin vào hiệu quả cuộc tấn công bằng không quân leo thang dần và tiến hành riêng rẽ nhằm buộc Bắc Việt Nam thôi xâm lăng Nam Việt Nam. Một lần nữa xin nói rằng, nó được sử dụng mà không có cuộc hành quân trên bộ hoặc đe doạ tấn công trên bộ nên nó không đạt hiệu quả như người ta tưởng. Dòng xâm nhập người và vật tư vào Nam Việt Nam tuy bị ngăn trở nhưng không chặn đứng được. Tệ hơn nữa, cuộc tấn công bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc đã giúp cho Hà Nội có một thứ vũ khí tuyên truyền lý tưởng mà họ đã sử dụng đạt hiệu quả to lớn trên phạm vi toàn cầu.
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #7 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2008, 03:26:49 PM »

Thứ hai là Mỹ đã bị bất lợi một cách tai hại do chiến lược phòng thủ thụ động không thể làm tiêu hao các lực lượng  địch. Dù số thương vong có cao, Bắc Việt Nam vẫn thực sự tăng cường được sức mạnh của họ ở miền Nam. Họ có đủ nhân lực, tài nguyên, có thể điều khiển nhịp độ chiến tranh trên  bộ và đương nhiên là cả mức thương vong nữa.
           
Chiến lược phòng thủ đòi hỏi Mỹ phải triển khai lực lượng chiến đấu lớn ra gần khắp cả Nam Việt Nam. Nhiệm vụ phòng thủ không giới hạn phạm vi toàn lãnh thổ nhằm đánh bại địch ở nơi nào có thể kéo họ vào trận chiến đòi hỏi phải tăng cường nhân lực và tài nguyên vật chất của Mỹ. Hình thể địa lý Nam Việt Nam cùng tính chất hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt nói chung chạy song song với bờ biển đã góp phần làm tăng nguy cơ dễ bị tấn công.  Các lực lượng  địch có căn cứ ở các khu vực biên giới và núi non hẻo lánh không cần phải đi xa mới  đến được đồng bằng dọc bờ biển đông dân. Sử dụng những đường sông có sẵn, họ có thể dễ dàng và nhanh chóng đi đến các trung tâm dân cư, các đường giao thông lớn và đường sắt là những mục tiêu dễ bị tấn công.
           
Thứ ba là chúng ta tìm cách Mỹ hoá cuộc chiến tranh, nhanh chóng tổ chức một lực lượng chiến đấu Mỹ to lớn tương đương 8 Sư đoàn, 7 không đoàn chiến thuật vào cuối năm 1966, triển khai khắp Nam Việt Nam. Nơi nào không có các đơn vị Mỹ, chúng ta có rất nhiều cố vấn, tất cả là 23.000 vào cuối năm 1964. Đến 1968 - lực lượng Mỹ đã bành trướng ra tương đương 11 sư đoàn và 9 không đoàn chiến thuật. Thêm nữa, lúc này đoàn cố vấn Mỹ, tính riêng sĩ quan và hạ sĩ quan tương đương 7 sư đoàn lục quân nữa. Các thành phần công binh, không quân của gần như toàn thể quân đội Mỹ đã được triển khai ở Việt Nam. Nỗ lực khổng lồ này của Mỹ làm cho các đồng minh Nam Việt Nam chưng hửng và nản lòng. Tất nhiên họ sẽ để cho chú SAM làm như vậy. Còn phải kể đến các lực lượng đồng minh vào cuối năm 1966 đã đạt mức gần 3 sư đoàn, tất cả đều được Mỹ yểm trợ và tài trợ.
           
Nhưng dù có sự tăng cường đông đảo các lực lượng Mỹ và đồng minh, hình như chúng ta cũng vẫn vấp phải một cuộc chiến tranh vô tận. Binh sĩ lại càng chán ngán, cứ vài tháng lại giáp trận với những đơn vị địch ở những khu vực cũ. Chúng ta không có gì mấy để trình bày, ngoài những tổn thất của Mỹ và đồng minh, nên rất khó chứng minh là trên thực tế đang có tiến triển. Những bài tường thuật chiến trận đăng trên báo chí Mỹ cho thấy rõ điều này một cách đau lòng.
           
Điều quan trọng nhất là, bị thu hút vào các hoạt động của Mỹ, chúng ta không quan tâm đầy đủ vào công tác quân sự số một của chúng ta là phát triển lực lượng vũ trang Nam Việt Nam để họ có thể bình định và phòng thủ chính đất nước họ. Không có đoàn cố vấn và trợ giúp quân sự riêng nào của Mỹ dành để làm nhiệm vụ đó. Chúng ta có thể đánh bại thứ quân tinh nhuệ mà Việt cộng và Bắc Việt Nam đưa ra, nhưng việc này không phải là mục tiêu căn bản của chúng ta.
           
Quyết định có ý thức của chúng ta, đặt ưu tiên số một cho việc đánh bại lực lượng chính quy của địch ở chiến trường bằng cách gần như chỉ sử dụng lực lượng Mỹ đã gây ra những hậu quả to lớn, bao gồm những điều mắc mớ bất lợi. Quyết định đó khiến người ta không tập trung ưu tiên nguồn tài lực của Mỹ vào công tác chính là phát triển quân đội Sài Gòn để họ đảm nhiệm chính lấy việc chiến tranh và phòng thủ đất nước. Nó còn tạo cho Hà Nội một cơ hội tuyên truyền tố cáo rằng người Mỹ đã gạt Sài Gòn ra rìa và tiến hành chiến tranh phục vụ mục đích ích kỷ của đế quốc Mỹ. Quyết định đó còn mắc mưu chiến lược chính trị toàn bộ của Hà Nội là gây thương vong tối đa cho các lực lượng Mỹ, đưa tổn phí chiến tranh lên quá mức chịu đựng của chúng ta, làm xói mòn ý chí và quyết tâm chịu đựng của Mỹ theo đuổi cuộc chiến. Nó cũng phá hoại tâm lý các lực lượng Nam Việt Nam bằng cách hàm ý là Sài Gòn không đủ khả năng, không có can đảm đánh bại các lực lượng Bắc Việt Nam (thật ra nhân dân và các người lãnh đạo Sài Gòn có mặc cảm tự ty như vậy). Sau cùng, quyết định đó làm hao phí thời gian mà chúng ta không thể lấy lại được. Người Mỹ trong nước đã mất kiên nhẫn đối với cuộc chiến tranh, không còn tin vào các nhà lãnh đạo của mình và hoang mang lo sợ. Đến lúc Mỹ chuyển hướng, đặt việc xây dựng lực lượng vũ trang Sài Gòn lên hàng ưu tiên cao nhất thì đã quá muộn. Sự ủng hộ của quần chúng Mỹ đã bị xói mòn.
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
thanhlong
Thành viên
*
Bài viết: 199



« Trả lời #8 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2008, 03:28:03 PM »

Phần lớn các điều nêu trên, chỉ là một sự duyệt xét khi nhìn lại quá khứ, nhưng vẫn có thể lập luận là phần nhiều những hậu quả này có thể đã dự kiến được một cách khá đúng.
           
Sau khi xem xét tổng quát chiến lược Mỹ, chúng ta hãy quay sang phía Bắc Việt Nam. Chiến lược của Bắc Việt Nam đã bộc lộ rõ nét trước sau như một, nhằm vào mục đích chính trị cơ bản là không những chỉ thống nhất lại và cộng sản hoá toàn thể Việt Nam, mà còn có vai trò quyết định trong xứ Đông Dương thuộc Pháp cũ. Đối với Hà Nội, cuộc xung đột là một thử thách về ý chí hơn là thử thách về sức mạnh. Bắc Việt Nam vận động dư luận thế giới chống Mỹ và chuyển dư luận trong nước Mỹ chống chiến tranh bằng cách gây thương vong tối đa cho Mỹ. Họ làm cho người Mỹ hết kiên nhẫn bằng cách kéo dài cuộc xung đột, làm tăng phí tổn về đô la và tài nguyên vật chất. Họ còn phỉ báng cố gắng của Mỹ như cuộc chiến tranh vô đạo đức, bất  chính và phi pháp chống một nước nhỏ, yếu (Bắc Việt Nam) đang giành quyền thống nhất dân tộc dười quyền một chính phủ.
           
Làm cách nào để sử dụng cánh tay quân sự hỗ trở cho toàn bộ chiến lược này, hiển nhiên là đề tài của một số cuộc tranh luận giữa các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam. Hình như câu trả lời của Hà Nội là phải dự trù và chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh lâu dài nhưng cùng lúc phải sẵn sàng để khai thác bất cứ khả năng chiến thắng sớm nào. Đầu não cuộc lật đổ ở miền Nam là một cấu trúc chính trị mạnh - chính phủ bí mật của Việt cộng - hoạt động ở mọi cấp. Như vậy nhiệm vụ chính của cánh tay quân sự hỗ trợ của Bắc Việt Nam là phải bảo vệ cấu trúc đó trong lúc nó lớn mạnh, bằng cách làm thất bại mọi nỗ lực bình định của Nam Việt Nam, bằng cách làm suy yếu các lực lượng chính quy, địa phương và dân vệ Nam Việt Nam.
           
Chiến lược quân sự phát triển nhằm thực hiện nhiệm vụ này được kiên trì theo đuổi trước, trong và sau khi có cuộc can thiệp của Mỹ. Quan niệm chiến lược của Bắc Việt Nam là hay. Về cơ bản, chiến lược lợi dụng hình thể địa lý Nam Việt Nam dài và hẹp làm cho nó có điều kiện dễ dàng xâm nhập từ sườn biên giới. Ở các vùng phía Bắc và trung tâm không có chiều sâu ngăn cách các khu vực biên giới hoang vu với vùng bờ biển đông dân. Chiến lược đó cũng lợi dụng những yếu kém về địa chính trị của Nam Việt Nam, khai thác việc đi bộ giỏi và cơ động bằng thuyền tam  bản của các đơn vị Việt cộng và Bắc Việt Nam.
           
Quan niệm chiến lược này gồm ba mũi hướng về Sài Gòn về các tỉnh cực bắc và vùng Tây Nguyên. Mối đe doạ to lớn đáng tin cậy luôn luôn được duy trì hướng về thủ đô Sài Gòn. Các chiến khu rộng lớn của họ, gần như không thể đánh chiếm nổi, được phát triển ở những khu ít dân cư và rừng rậm, phía bắc Sài Gòn. Các khu căn cứ địa an toàn được thiết lập tại nhiều nơi dọc biên giới  hoặc nằm ngay trong lãnh thổ Campuchia. Vô số những đường tiến quân nhanh chóng dẫn từ những chiến khu này được phát triển để quân đi bộ có thể theo đó đi đến các khu lân cận Sài Gòn trong vài giờ. Sư đoàn 9 thiện chiến của Việt cộng, đơn vị giỏi nhất của họ đã đóng căn cứ ở khu bắc Sài Gòn này.
           
Ở các tỉnh phía bắc thuộc vùng chiến thuật I, địch lợi dụng con đường tiến quân qua khu phi quân sự đến phía nam là ngắn và trực tiếp, yểm trợ và tiếp tế từ miền Bắc đều dễ. Khu vực này còn là phần hẹp nhất thuộc Nam Việt Nam. Địch thường kỳ tạo áp lực mạnh ở khu vực này đe doạ sự toàn vẹn của tỉnh Quảng Trị, đe doạ Huế - một cố đô có tầm quan trọng lớn về tâm lý - ở tỉnh Thừa Thiên.
           
Ở Tây  Nguyên thuộc vùng chiến thuật II, địch cũng khai thác sự thiếu chiều sâu, định kỳ đe doạ chiếm các tỉnh biên giới Công Tum và Plây Cu, có khả năng tiến dọc theo quốc lộ 19 ra biển, chia cắt đất nước làm hai. Tây Nguyên gây thêm mối lo cho Việt Nam vì đây là một xứ sơn cước, không bao giờ trung thành hoặc sẵn sàng tuân lệnh chính quyền trung ương. Vì có sự ác cảm giữa người Việt và người sơn cước nên người Mỹ ở vùng này thấy mình lâm vào cảnh làm xiếc đi trên dây. Buôn Mê Thuột là thủ đô sơn cước truyền thống, do đó thường là mục tiêu chính của địch. Nếu có một chìa khoá cho việc phòng thủ quân sự ở Nam Việt Nam thì đó là Tây Nguyên. Đây là điểm tựa của phòng thủ. Mất khu vực này là dẫn tới hiểm hoạ. Nó dẫn ngay tới việc cắt đôi đất nước, rồi sau đó chia cắt dần những nơi còn lại. Thật vậy, Buôn Mê Thuột không chỉ là chiến trường chính đầu tiên trong cuộc tấn công cuối cùng của Bắc Việt Nam năm 1975 mà còn là chiến trường quyết định mở đầu sự tan rã của Nam Việt Nam.
           
Bằng cách phối hợp khéo léo các hoạt động khu vực của ba mũi áp lực chính này, các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam tìm cách buộc Bộ chỉ huy tối cao Sài Gòn phải chú trọng ưu tiên đến việc đóng quân và phòng thủ chúng. Địch cố làm sao nhử cho Nam Việt Nam sớm tung quân dự bị chiến lược thường đồn trú ở khu vực Sài Gòn. Trước khi có sự can thiệp của quân Mỹ, Hà Nội đã thành công trong những cố gắng như thế, làm cho Sài Gòn phải bối rối. Đã có những lần, quân dự bị chiến lược gồm lính dù và lính thuỷ đánh bộ Nam Việt Nam bị kiệt sức do phải vận động và tham gia ứng cứu thường xuyên. Lại còn có những mục đích khác đằng sau chiến lược này của địch: làm suy yếu chương trình bình định của Nam Việt Nam bằng cách nhử các lực lượng ra khỏi khu vực đông dân, để các khu vực quan trọng khác rơi vào cảnh sơ hở dễ bị tấn công, gây thương vong cho các lực lượng đồng minh và làm cho họ phải phí thời gian cùng tài nguyên vào những hoạt động không cần thiết và vô ích.
Logged

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay
ChimViet
Thành viên
*
Bài viết: 58


« Trả lời #9 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2008, 07:14:52 AM »

Thằng này có vẻ thạo "nói sau" đấy.
Nó đánh giá cao cái vụ "đe doạ tấn công miền Bắc". Chắc là liên tưởng chiến tranh Triều Tiên.
Logged
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM