Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 1

<< < (7/120) > >>

daibangden:
27. Lựu pháo 105mm M2A1

    Lựu pháo M2A1 (4,13 inch) loại vũ khí hạng nặng cổ điển cấp tiểu đoàn dã chiến, được quân đội Mỹ sử dụng trong toàn bộ thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai, loại lựu pháo này chiếm số lượng lớn trong lực lượng vũ trang các quốc gia khác trên thế giới. Trong cơ số đạn của nó tiếp nhận các loại đạn truyền thống, được sử dụng bởi các kiểu lựu pháo khác cùng cỡ. Pháo được thiết kế trong những năm 20, hiện đại hóa trong những năm 30 và vào thời điểm gần bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai được đưa vào sản xuất với số lượng lớn. M2A1 có càng pháo có thể xếp, mở, thiết bị chống giật khí thủy lực, khóa nòng trượt theo phương ngang và cơ chế nạp đạn riêng biệt. Vào thời điểm hiện tại, nó nổi tiếng hơn cả loại lựu pháo M101, mặc dù sự khác nhau về nguyên tắc giữa hai loại vũ khí “hiện đại” và “cổ điển” M2A1 là không có. Lựu pháo M2A1 có mặt trong lực lượng quân đội 67 quốc gia khác nhau. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, nó tham gia vào nhiều cuộc xung đột quân sự và chiến đấu ở Triều Tiên, Việt Nam, và thậm chí ở Grenada.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Cỡ đạn: 105mm (4,13 inch)
Khối lượng tác chiến: 2030 kg
Chiều dài nòng pháo:  gấp 22 lần cỡ nòng (2,31 mét)
Góc tầm: từ -5 đến +66 độ
Góc hướng: 46 độ
Kiểu và khối lượng đạn: đạn nổ mảnh/14,97kg
Sơ tốc đầu nòng: 472m/s
Tầm bắn xa tối đa: 11 200m



daibangden:
 Lựu pháo 105mm M2A1:

daibangden:
28. Pháo 105mm leFH 18 cấp tiểu đoàn

    Pháo 105mm leFH 18 là loại pháo thông dụng cấp tiểu đoàn trong quân đội Đức, được sử dụng trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ hai. Được thiết kế bởi hãng “Reinmetall” trong khoảng thời gian những năm 1929-1930, kiểu pháo này gia nhập quân đội năm 1935. Pháo có kết cấu truyền thống và gồm có càng pháo và bộ phận mấu chống trượt pháo trên mặt đất có thể xếp, mở được, cơ cấu chống giật khí thủy lực kép, có dạng khối, bố trí hai bên nòng pháo. Cũng như các hệ thống pháo trước đây, pháo có bánh gỗ hoặc kim loại không bọc cao su và có khả năng vận chuyển được bằng ngựa kéo. Kết cấu của nó rất vững chắc và tin cậy, nhưng bản thân pháo có khối lượng quá nặng và không được cơ động như yêu cầu cho quân đội Đức. Trong quá trình chiến tranh từ năm 1939 đến 1945, nó đã được hiện đại hóa, không tính đến các nhược điểm đã được chỉ ra, kiểu pháo này được một số quân đội các quốc gia Châu Âu tiếp thêm một vài năm nữa sau khi chiến tranh kết thúc.

   Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Cỡ đạn: 105mm (4,13 inch)
Khối lượng tác chiến: 1985 kg
Chiều dài nòng pháo:  gấp 24,8 lần cỡ nòng (2,61 mét)
Góc tầm: từ -6,5 đến +40,5 độ
Góc hướng: 56 độ
Kiểu và khối lượng đạn: đạn nổ mảnh/14,81kg
Sơ tốc đầu nòng: 470m/s
Tầm bắn xa tối đa: 10 700m

daibangden:
29. Pháo 105mm leFH 18(M)

     Đây là kiểu pháo được coi là bước phát triển tiếp theo của pháo 105mm leFH 18, nhưng khác với kiểu pháo trước, nó được trang bị bộ hãm đầu nòng súng, cho phép sử dụng các loại đạn có sức nổ mạnh và tăng tầm bắn, và đồng thời, cấu trúc của giá pháo và cơ cấu hãm cũng được tăng cường. Không ít hơn, một vài thay đổi có vị trí – thay đổi được tán đinh trên cơ cấu giật và tăng áp suất không khí trên hệ thống giật để bù lại năng lượng thất thoát đầu nòng. Sau các cuộc thử nghiệm đã chỉ ra một cách rõ ràng, rằng kết cấu bộ hãm đầu nòng cũng cần thực hiện một vài thay đổi, để cho sự tăng hiệu quả, cần lắp theo yêu cầu những ống chụp đầu nòng. Loại vũ khí này được sử dụng để bắn các loại đạn tầm xa đặc biệt, nhưng trong trường hợp cần thiết, nó cũng có thể tiếp nhận các loại đạn tiêu chuẩn như của leFH 18.

     Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Đức
Cỡ đạn: 105mm (4,13 inch)
Khối lượng tác chiến: 1985 kg
Chiều dài nòng pháo:  gấp 24,8 lần cỡ nòng (2,61 mét)
Góc tầm: từ -6,5 đến +40,5 độ
Góc hướng: 56 độ
Kiểu và khối lượng đạn: đạn nổ mảnh/14,25kg
Sơ tốc đầu nòng: 540m/s
Tầm bắn xa tối đa: 12 325m


daibangden:
30. Lựu pháo 105mm M3

     Vào năm 1941, quân đội Mỹ nhận thấy cần thiết có một kiểu lựu pháo 105mm, vũ khí thuận lợi cho sự vận chuyển bằng đường không. Loại vũ khí này phải có khối lượng 2500 funt (1134kg) và có tầm bắn thấp nhất là 7000 yard (6400m), nó được giới thiệu sẽ được sử dụng cho các đơn vị đổ bộ đường không. Kiểu pháo với các tính năng yêu cầu như vậy được thiết kế theo hướng nâng cỡ nòng lựu pháo 68,6mm (2,7 inch) M2A1 lên 105mm và thiết bị trên giá pháo từ loại lựu phaó 75mm (2,95 inch) M3A1. Cơ cấu chống giật lấy từ lựu pháo 75mm hạng nhẹ M8 đã được hiện đại hóa một cách đáng kể. Vào tháng 2 năm 1943, kiểu vũ khí này đã được trang bị cho lực lượng vũ trang với tên gọi lựu pháo 105mm M3. Pháo nòng ngắn M3 được sử dụng bởi các đơn vị bộ binh Mỹ tại Bắc Phi, nhưng theo chính quan niệm của loại vũ khí cùng chủng loại đã chỉ ra rằng loại lựu pháo này về chiến thuật, không đạt yêu cầu dành cho bộ binh, và đến cuối chiến tranh, chúng chỉ được trang bị cho các đơn vị thuộc binh chủng nhảy dù.

   Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Hoa Kỳ
Cỡ đạn: 105mm (4,13 inch)
Khối lượng tác chiến: 1132 kg
Chiều dài nòng pháo:  gấp 16,5 lần cỡ nòng (1,88 mét)
Góc tầm: từ -9 đến +69 độ
Góc hướng: 45 độ
Kiểu và khối lượng đạn: đạn nổ mảnh/14,96kg
Sơ tốc đầu nòng: 311m/s
Tầm bắn xa tối đa: 7585m

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page