Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 30 Tháng Chín, 2014, 12:55:43 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Về câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại cửa Đền Giếng  (Đọc 24929 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 401


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:16:47 PM »

1.   Mở đề:

Trong khối di sản của Chủ tịch Hồ Chí về xây dựng và bảo vệ tổ quốc có câu nói nổi tiếng:  "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cung nhau giữ lấy nước". Chỉ một câu nói chỉ gồm gần hai chục từ nhưng đã bao quát được nhiều vấn đề. Một mặt Bác khẳng định nước ta là một nước văn hiến có truyền thống dựng nước giữ nước lâu đời và công lao dựng nước thuộc về các Vua Hùng. Một mặt Bác khẳng định và động viên quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nguyện giữ vững độc lập tự do của Tổ quốc và muốn thực hiện đwocj công việc thiêng liêng đó phải biết cùng nhau, tức là đoàn kết; lòng quyết tâm đó như là một lời hứa trước vong linh Quốc Tổ.

Câu nói trên được Bác nói vào sáng ngày 19/9/1954 tại cửa Đền Giếng trong khu di tích Đền Hùng thuộc núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thau, tỉnh Phú Thọ trước cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong.

Tìm hiểu kỹ: hoàn cảnh ra đời, nguyên văn câu nói; ý nghĩa, tác dụng; việc văn bản hoá câu nói đó của Bác; quá trình thực hiện lời dạy đó của Bác cũng như ý nghĩa và vận dụng câu nói đó trong thời đại ngày nay chắc chắn sẽ thu được nhiều kết quả bổ ích và theo tôi, nó thiết thực hơn một vài chủ đề khác.

Do vậy, tôi đưa ra ý này mong được QTV cho phép và các bác, chú, anh, chị và các bạn hưởng ứng.

Về nguồn gôc những tư liệu trích dẫn vừa ghi trong bài và sẽ thống kê tại các bài sau.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:50:16 PM gửi bởi menthuong » Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 401


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #1 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:18:52 PM »

2. Những người trực tiếp nghe Bác dặn:

Đại đoàn Quân Tiên phong (nay là Sư đoàn 308) là Đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta (thành lập ngày 28/8/1949). Sau chiến thắng Điện Biên phủ, Đại đoàn được giao nhiệm vụ ở lại làm công tác Quân quản, thực thi việc trao trả tù binh. Thời điểm này, cuộc đàm phán ở Giơnevơ chưa kết thúc nên Trung ương, Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu chủ trương mở chiến dịch mùa hè để gây sức ép trên mặt trận ngoại giao và Đại đoàn 308 được giao tấn công một số cứ điểm của Pháp còn lại nên Đại đoàn bàn giao nhiệm vụ Quân quản cho Đại đoàn 316 (thành lập 01/5/1951) và đi thực hiện nhiệm vụ đó. Khi có kế hoạch tiếp quản Thủ đô, Đại đoàn 308 lại vinh dự được Trung ương, Quân ủy chọn thực hiện nhiệm vụ này. Cán bộ Đại đoàn được tập trung huấn luyện, giáo dục chính trị tư tưởng, chuẩn bị mọi mặt.

Từ tháng 7 đến tháng 9/1954, trước khi về Hà Nội, Bác Hồ và cơ quan Trung ương chuyển từ xã Kim Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang về thôn Vai Cầy, xã Văn Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.  Ngày 18/9/1954, Bỏc đi từ Đại Từ (Thái Nguyên) trên chiếc xe  Zep mang biển số KT- 032 (KT ký hiệu của Ban kiểm tra 12- Bí danh của Văn phòng Phủ thủ tướng) do đ/c Ngọc điều khiển. Cùng đi trên xe còn có đ/c Đinh Văn Cẩn (người phục vụ, nấu ăn), nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định, đ/c Dũng bảo vệ. Đến Đoan Hựng, Bác vào thăm đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam mới ở Lào về đúng ở  xã xã Chân Mộng. Sau đó đến thị xã Phú Thọ, Bác dừng xe nói chuyện với hai thương binh rồi vào thăm Tỉnh ủy Phú Thọ đóng ở Thanh Hà. Tối hôm đó Bác đến Đền Hùng và nghỉ đêm  ở Đền Giếng. Sáng 19/9/1954, Bác đi thăm khu vực di tích Đền Hùng. Đến cây Vạn tuế, trước cửa chùa Thiền Quang, Bác nghe đồng chí Song Hào (Chính ủy Đại đoàn Quân Tiên phong), đồng chí Thanh Quảng (Phó văn phòng Quân ủy Trung ương) báo cáo về tình hình Đại đoàn và kế hoạch đưa bộ đội về tiếp quản Thủ đô. Bác thăm Đền Trung, Đền Thượng và đọc bài Minh trên quả chuông treo ở cây Đại phía bên trái Đền. Người chụp ảnh kỷ niệm ở cửa cạnh Đền Thượng. Sau đó Bác xuống Đền Giếng chờ bộ đội.

Khoảng 9 giờ, có cán bộ của Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô), Trung đoàn 36, Trung đoàn 88 (Tu Vũ) và một số tiểu đoàn trực thuộc của Đại đoàn đi từ 5 hướng: Từ núi Thằn Lằn (Vĩnh Phúc), từ Gia Thanh (Phù Ninh), từ Trại Cờ (Hiệp Hòa, Bắc Giang), từ Đại Từ (Thái Nguyên) và từ Phùng (Hà Nội) đến hội tụ. Ngoài ra, còn có cán bộ văn công của Đại đoàn và nhà báo Nguyễn Khắc Tiệp- phóng viên báo Quân đội nhân dân. Bác ngồi trên cửa ngách bên phải Đền Giếng, đồng chí Song Hào và đồng chí Thanh Quảng ngồi trên bậc lát gạch cạnh Bác. Khoảng gần 100 các đồng chí cán bộ, chiến sĩ của Đại đoàn ngồi dưới sân Đền nghe Bác nói chuyện.

Trong hồi tưởng của Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, Bộ Quốc phòng thì vào thời điểm 9/1954 ông là Phó Chính ủy Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 và là người có mặt trong buổi nói chuyện lịch sử ngày 19/9/1954 của Bác. Trong buổi gặp mặt đó Bác đã giảng giải: "Đền Hùng thờ các vua Hùng. Hùng Vương là người sáng lập ra nước ta, là Tổ tiên của dân tộc ta". Tiếp theo Người nói : "Bộ đội ta đánh giức giỏi nhưng làm sao chiếm được lòng dân. Không phải chiến thắng rồi muốn làm gì thì làm. Nắm lấy dân để dân tin cậy, đó là điều quan trọng. Các chú phải lo cho việc tiếp quản Thủ đô cho chu đáo, phải bảo vệ tài sản trong thành phố, bây giời thuộc về nhân dân chứ không phải thuộc về địch mà ta phá phách. Đối với kẻ thù, khi nó phá hoại, chống đối thì ta ra tay trừng trị, còn khi nó đã hạ súng quy hàng thì ta phải đối phó với nó nhân đạo. Bác cháu ta gặp nhau ở đây tuy tình cờ nhưng lại rất ý nghĩa... Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đồng thời Bác căn dặn và giao nhiệm vụ cho đơn vị về tiếp quản Hà Nội và nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của Cách mạng Việt Nam, của Quân đội.

Sau buổi nói chuyện đó Bác lên xe trở về căn cứ. Khi đến bến Bình Ca, xe Bác gặp đoàn đ/c Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng BCA, Bí thư Thành ủy Hà Nội trên đường về chuẩn bị tiếp quản Thủ đô. Đến 12/10/1954 Bác, Trung ương và Chính phủ rời Đại Từ về ngoại vị thị xã Sơn Tây. Nghỉ ở phố cổ Sơn Tây 2 ngày Bác về Hà Nội sau gần 8 năm  xa cách. Ngày đầu tiên trên đất Thủ đô vừa giải phóng, Bác nghỉ trong một ngôi nhà nhỏ ở Đồn Thủy.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 401


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #2 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:21:21 PM »

3. Văn bản hoá câu nói của Bác:

Câu nói "Ngày xưa các Vua Hùng đã có công dựng nước. Ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" lần đầu được công bố trên báo Nhân dân trong bài tường thuật của nhà báo Thép Mới về buổi nói chuyện đó. Rất tự nhiên, câu nói đó được nhân dân và quân đội ta ghi nhớ và khắc sâu trong tâm tưởng, nó trở thành sức mạnh tinh thần giúp quân dân ta vượt bao gian khó, lập nên nhiều kì tích trong công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Nhưng ở một khía cạnh khác nguyên văn câu nói của Bác có như hôm nay đwocj gắn với một người rất nổi tiếng. Đó là ông Đặng Văn Đang.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 401


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #3 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:23:01 PM »

4. Nơi ấy, đơn vị ấy ...bây giờ:

Làm theo lời Bác, 55 năm qua, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308, nay là Đoàn B08 đã phát huy truyền thống binh đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của quân đội, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, SSCĐ, huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, xây dựng đơn vị VMTD, Đảng bộ TSVM. Đặc biệt, tháng 1-1976, Chủ tịch nước đã tuyên dương công trạng Đoàn B08 và phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân.

Bác đã trở lại Đến Hùng ngày 19/8/1962. Tại đây Bác đã căn dặn phải bảo vệ, trồng thêm cây, hoa để khu di tích Đền Hùng "ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến thăm quan".

Ngày nay, Đảng, Nhà nước ta và Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Phú Thọ đã và đang thực hiện lời dạy đó của Người.

 Câu nói: các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" đã được thể hiện trong bức phù điêu hoành tráng đặt ở lối lên Đền Giếng. Bức phù điêu có hình tượng Bác Hồ nói chuyện với Đại đoàn 308 ngày 19/9/1954 được Bộ quóc phòng xây dựng năm 2001. Bức phù điêu hoành tráng này được ghép từ 81 khối đá xanh, nặng 253 tấn, cao 7 m, rộng 12 m đặt trong một khuôn viên trên 4000 m2.
Logged

dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:24:26 PM »

Nguồn, bạn menthuong ơi!
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 401


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #5 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:52:56 PM »

Nguồn, bạn menthuong ơi!
Tôi đã có nhời ở đây:
1.   Mở đề:

...
Về nguồn gôc những tư liệu trích dẫn vừa ghi trong bài và sẽ thống kê tại các bài sau.

Nếu buộc phải đưa ngay thì xin báo cáo luôn đây là nội dung cơ bản mà tôi đã tham gia cuộc thi 60 năm nước CHXHCN Việt Nam đã đạt giải và bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử Quân khu II" đã đạt giải Đặc biệt của con trai tôi (Trung tướng Ma Khánh Toàn ký giấy). Khi làm bài chủ yếu lấy tư liệu từ sách, báo, tạp chí của Đảng, Quân đội...có trong thư viện cơ quan, đơn vị, thư viện tỉnh và tủ sách gia đình. Nay đưa lên đã kiểm tra, đối chiếu lại và bổ sung thêm từ các nguồn:

http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_xfaq&task=answer&Itemid=55&catid=88&aid=161
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/230/232/232/93901/Default.aspx
http://www.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=120745
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%B0_%C4%91o%C3%A0n_308,_Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_Nam
http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.nhandan.com.vn/Ghi-sau-loi-Bac-dan-Cac-Vua-Hung-da-co-cong-dung-nuoc-Bac-chau-ta-phai-cung-nhau-giu-lay-nuoc/3223752.epi
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 09:33:31 PM gửi bởi menthuong » Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 401


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #6 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:56:39 PM »

3. Văn bản hoá câu nói của Bác:
...
Nhưng ở một khía cạnh khác nguyên văn câu nói của Bác có như hôm nay đwocj gắn với một người rất nổi tiếng. Đó là ông Đặng Văn Đăng.

Nhà thơ Bút Tre với việc văn bản hoá câu nói của Bác:

Theo tác giả Ngô Quang Nam trong Bút Tre-Thơ và giai thoại, NXB VHTT, 2006 thì:

Trong những người theo Bác lên Đền Hùng hôm đó có ông Đặng Văn Đăng, khi đó là Phó Trưởng ty Tuyên truyền thuộc UBHC tỉnh Phú Thọ. Ngày đó báo Đại đoàn quân Tiên phong có in bài phóng sự về sự kiện này. Thâu tóm ý Bác, ông đã chép lại thành câu:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”

Nhưng sau này nhiều vị lãnh đạo đã sửa lại. Lần thứ nhất vin vào câu nói của Bác tại Hội nghị Thuỷ lợi toàn quốc năm 1959 nên đã sửa lại là:

“Các vua Hùng đã có công dựng đất nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy đất nước”.

Vị lãnh đạo nọ cho rằng ”nói đến nước phải nói đến đất” và bức Hoành phi khảm câu đó đã xong nhưng ông Đặng Văn Đăng cho đó là cách hiểu máy móc và kiên quyết không cho sửa câu nói của Bác.

Sau đó, trong tập ảnh Việt Nam chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV thì đã bỏ chữ “cùng nhau” và chữ “lấy” cốt để đối “đã có công” với “phải ra sức” kiểu Hán tự:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải ra sức giữ nước”.

Lúc này ông Đăng đã nghỉ hưu nhưng ông không chịu, cho rằng như vậy không hợp văn phong và ý nghĩa sâu xa trong câu nói của Bác. Ông đã  đạp xe lên tỉnh kiến nghị và đề nghị gửi kiến nghị của ông lên cấp trên.

Nhớ rằng từ năm 1973, các đ/c Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng lên thăm Đền Hùng đều nói và còn ghi sổ vàng nguyên văn:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”

Cũng từ đó, câu nói của Bác đã được khẳng định, không ai và tờ báo nào nói hoặc viết khác đi.

Như vậy, lời ý Bác, hợp lòng dân, đúng phong cáh lại được những người có trình độ, tâm huyết ra sức bảo vệ đã đi vào nhân dân, đi vào lịch sử.

Thiết nghĩ cũng cần ghi công cho nhà thơ Bút Tre xứ rừng cọ chứ. Tuy rằng không có việc này ông đã nổi tiếng rồi.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 401


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #7 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2009, 10:36:20 AM »

 
Hoàn cảnh ra đời của câu nói :

Từng câu nói, bài viết của Bác thường xuất hiện trong điều kiện cần thiết. Nó vừa có giá trị chỉ đạo trước mắt, vừa có tác dụng định hướng lâu dài. Bác nói câu trên trong một hoàn cảnh đặc biệt về Trên thế giới có những chuyển biến lớn, có lợi cho cách mạng nhưng đã tiềm ẩn nhiều mối đe đọa mới; Trong nước: Cuộc kháng chiến, kiến quốc của nhân dân ta đã giành được tháng lợi nhưng nguy cơ chiến tranh xâm lược vẫn rình rập và đe dọa ; Lực lượng VTND đã trưởng thành về mọi mặt; Đảng, Bác, và Chính phủ cùng các cơ quan đang chuẩn bị mọi điều kiện để về tiếp quản Thủ đô. Phân tích kĩ hoàn cảnh ngoài nước, trong nước, trong LLVT lúc đó càng thấy rõ giá trị và ý nghĩa của câu nói.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới hiện đại, Lịch sử Đảng
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 401


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #8 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2009, 10:40:09 AM »

1- Tình hình quốc tế :

1.1-   Thế giới sau Đại chiến II:

Chín năm sau khi kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, "Trật tự hai cực Ianta" đã được thiết lập và từng bước phát triển. Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế của tất cả các nước có chủ quyền, được thành lập từ 26/6/1945 đã có những vai trò nhất định. Tuy nhiên, do lập trường, bản chất giai cấp của nhà nước khác nhau nên có sự khác biệt giữa "cực" Liên Xô và "cực" Mĩ, dần hình thành sự đối đầu gay gắt giữa hai "cực", dẫn đến sự đối đầu giữa hai khối Đông-Tây, hình thành cuộc "Chiến tranh lạnh" và cuốn hút từng quốc gia, từng khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc đối đầu này.

"Cực" Liên Xô luôn làm hậu thuẫn, là chỗ dựa  cho phong trào Cách mạng, cho hòa bình thế giới. Trong điều kiện đó, đến 1948, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân ở Châu á, Châu Âu sau khi ra khỏi chiến tranh đã giành được nhiều thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, tái thiết đất nước. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh ở á, Phi và Trung Cận Đông. Để đối phó với các thế lực thù địch, tháng 9/1947, Hội nghị đại biểu 7 Đảng Cộng sản Đông Âu, Pháp và Italia họp tại Vacxava thông qua bản Tuyên bố chúng, quyết định thành lập cơ quan thông tin của một số Đảng Cộng sản gọi là Cục thông tin Quốc tế (KOMINFORM). Sau đó Hội đồng tương trợ kinh tế, gọi tắt là khối SEV, được thành lập ngày 08/01/1949 với sự tham gia của 7 nước Đông Âu và tới 14/5/1955 Hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ Vacxava được kí kết đối trọng với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) được kí kết trước đó, ngày 04/4/1949.

"Cực" Mĩ luôn ra sức cấu kết, giúp đỡ các thế lực phản động chống phá Cách mạng, âm mưu vươn lên vị trí "thống trị" thế giới. Đế quốc Mĩ, với "Chủ nghĩa Tơruman, 3/1947" và "Phương án phục hưng Châu Âu" của Ngoại trưởng  Macssan, 6/1947, đã làm được việc vừa vực dậy, vừa không chế, thao túng các nước Tây Âu, phát động và duy trì "Chiến tranh lạnh" với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ; chia cắt lâu dài nước Đức. Thời kì 1952-1960 là thời kì giới cầm quyền Mĩ thực hiện chiến lược đối ngoại phản Cách mạng Tơruman-Aixen hao với chính sách ngăn chặn.

1.2- Âm mưu của Mĩ, Pháp đối với Châu á và Việt Nam

Tại Châu á, Mĩ ra sức giúp đỡ bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc, Lý Thừa Vãn ở Hàn Quốc, Bảo Đại ở Việt Nam; đồng thời giúp Anh đánh Mã Lai, giúp Pháp tái xâm lược Việt Nam. Ngoài Hiệp ước Mĩ Nhật kí 9/1951, Mĩ còn kí Hiệp ước ANZUS (với úc, Niu Dilen, 9/1951), Khối liên minh quân sự SEATO (với các nước ở Đông Nam á, trừ Đông Dương, 9/1954).Tất cả những việc làm đó đều phục vụ cho chiến lược toàn cầu phản cách mạng: "đảm nhiệm sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do", "chống lại "sự đe dọa" của chủ nghĩa cộng sản", vươn lên ngôi vị bá chủ thế giới.

Nhưng trước xu thế của thời đại, Mĩ liên tục thất bại. Cách mạng Trung Quốc thành công (01/10/1949), liên quân Trung-Triều đã kìm chân được Mĩ và tay sai, buộc chúng dừng ở vĩ tuyến 38 (7/1953) , cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thắng lợi (5/1954), buộc Mĩ và đồng minh phải kí Hiệp định Giơ Ne Vơ (7/1954). Chủ nghĩa xã hội đã hình thành một hệ thống thế giới, công cuộc xây dựng CNXH ở Đông Âu và Liên Xô thu được nhiều thành tựu quan trọng. Phong trào giải phóng dân tộc, do phản ứng dây chuyền của chiến thắng Điện Biên Phủ, đã tiến lên mạnh mẽ, thu được những thắng lợi lớn trên khắp các châu lục, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc dần sụp đổ. Song Mĩ luôn nuôi tham vọng và không bao giờ chịu từ bỏ chiến lược toàn cầu

Pháp, do bị thiệt hại nặng nề trong chiến tranh, phải nhận viện trợ của Mĩ theo kế hoạch Macsan nên ngày lệ thuộc vào Mĩ. Thất bại trong chiến tranh ở Đông Dương làm cho Pháp thêm khó khăn, phải để Mĩ can thiệp ngày càng sâu hơn vào Đông Dương. Ngoài số quân đã đóng ở Nhật, Hàn và các đảo trên Thái Bình Dương, Mĩ có dự tính sẽ đưa quân đóng trực tiếp ở Đông Dương.

Đế quốc Mĩ ra sức thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam, tiến tới đọc chiếm Đông Dương. Một tháng trước khi Hiệp định Giơ Ne Vơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương được kí kết, Mĩ đã ép được Pháp đưa tay sai của mình là Ngô Đình Diệm về thay Bửu Lộc làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn ở miền Nam Việt Nam. Tháng 9/1954 Mĩ lôi kéo mọt số nước đồng minh như Pháp, Anh...và một số nước ở Đông Nam á lập Khối liên minh quân sự Đông Nam á ( SEATO), ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này.

Đúng như Bác Hồ đã khái quát trong lời khai mạc Hội nghị TW7, 03/3/1955: Từ sau hội nghị Giơnevơ, tình hình thế giới căng thẳng hơn… ở Phương Đông, đế quốc Mĩ xâm chiếm Đài Loan và tổ chức khối Đông-Nam á nhằm mục đích phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại hòa bình ở Đông Dương và ở Đông Nam á….Chính sách của phe đế quốc do Mĩ cầm đầu là chính sách chuẩn bị chiến tranh…

 Những vấn đề quốc tế và khu vực nêu trên đều có ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến nhiệm vụ Cách mạng nước ta, của lực lượng VTND.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 401


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #9 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2009, 10:42:26 AM »

2-Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) thắng lợi:


Sau khi tuyên bố Độc lập vào ngày 02/9/1945, trước thù trong (bọn Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, các đảng phái phản động khác...), giặc ngoài (20 vạn quân Tưởng, quân Pháp được quân Anh hỗ trợ...), ta buộc phải kí Hiệp ước sơ bộ 06/3 và Tạm ước 14/9/1946 để có thời gian chuẩn bị, củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng. Nhưng kẻ địch đã bội ước, lấn tới. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, toàn dân, toàn quân ta bước vào thời kì mới, thời kỳ kháng chiến và kiến quốc.

Sau thời gian giữ vững và phát triển lực lượng, chiến đấu kiềm chế, tiêu hao lực lượng, cầm chân địch tại các đô thị; thời kì đẩy mạnh chuẩn bị kháng chiến lâu dài, ta bắt đầu triển khai thế trận chiến tranh nhân dân trên phạm vi cả nước. Nhất là từ sau Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ Hai (3-6/4/1947), ta chuyến sang chiến thuật "du kích vận động chiến, giành quyền chủ động về chiến thuật". Quân đội ta đã trưởng thành, đủ sức  mở các chiến dịch lớn, đẩy mạnh cuộc kháng chiến.

 Trong đó đáng chú ý là : Chiến dịch Việt Bắc- Thu Đông, 1947; Chiến dịch Biên giới, 1950;  Chiến dịch Trần HưngĐạo (chiến dịch TrungDu), 1951; Chiến dịch đường số 18 Hoàng Hoa Thám, 1951; Chiến dịch Quang Trung, 1951; Chiến dịch Hoà Bình, 1952; Chiến dịch Tây Bắc, 1952; Chiến dịch Thượng Lào ,1953 và cuối cùng là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, 1954. Chiến thắng đó buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (7/1954), miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp với trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ không những bảo vệ và phát triển những thành qủa Cách mạng tháng 8 mà còn mở ra giai đoạn mới, giai đoạn tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược cách mạng: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam.

Theo Hiệp định Giơnevơ, ngày 22/5/1955 người lính Pháp cuối cùng rút khỏi miền Bắc ở đảo Cát Bà. Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch về lại Thủ đô. Nhân dân Hà Nội tổ chức cuộc mít tinh chào mừng vào Ngày 01/01/1955. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đất nước tạm chia làm 2 miền, chờ Tổng tuyển cử. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới.

3- Cuộc chiến đấu mới đang đặt ra trước nhân dân, quân đội ta:

 Với nhãn quan chính trị sáng suốt và với tinh thần chủ động tiến công, tinh thần cảnh giác Cách mạng, trên cơ sở nhận rõ âm mưu kẻ thù, đánh giá tương quan so sánh lực lượng, dự báo được tình hình, nhiệm vụ Cách mạng cả nước và nhiệm vụ cụ thể của từng miền, Tại Hội nghị TW 15, Đảng ta đã sớm đề ra Nghị quyết: "Tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược cách mạng: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam"
Logged

Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM