Anh Ngạn

<< < (18/20) > >>

macbupda:
KHU ỦY HỌP Ở ĐÌNH LÀNG

Cuộc đấu tranh ở Hội nghị Giơnevơ kéo qua hai tháng 12 ngày kể từ lúc đoàn đại biểu ta chính thức vào dự phiên họp toàn thể lần thứ nhất. Phải qua tám phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp, ngày 20-7-1954 mới kí kết được Hiệp định về đình chỉ chiến sự.

Đồng chí bí thư Khu ủy Tả Ngạn liền triệu tập Khu ủy họp mở rộng, bàn nhiệm vụ trước mắt.

Lần đầu tiên từ khi Pháp xâm chiếm vùng này, cuộc họp Khu ủy được mở tại ngôi đình làng Do (Quỳnh Côi), trong không khí hòa bình và thắng lợi. Đồng chí bí thư đọc báo cáo tình hình nhiệm vụ mới. Hòa bình lập lại nhưng tình hình miền Bắc vẫn rất phức tạp, kẻ địch thất bại nhưng vẫn còn âm mưu và hành động chống phá ta. Đảng và Chính phủ phải lo nhiều công tác mới, sông mấy việc nổi lên là tập trung chỉ đạo đấu tranh buộc Pháp rút quân đúng thời hạn; chống địch dụ dỗ, cưỡng ép nhân dân, nhất là đồng bào Thiên chúa giáo di cư vào Nam… Ở Tả Ngạn, công việc nặng nề hơn, vì có đường sắt, đường 5, cảng Hải Phòng, là nơi địch rút qua. Nhưng chúng chưa rút ngay, mà còn tạm trú, ít nhất là tỉnh Hưng Yên 80 ngày, nhiều nhất là thành phố Hải Phòng 300 ngày. Trong khi tạm tú, địch sẽ gây cho ta nhiều khó khăn, thiệt hại, nhưng ta phải tuân thủ hiệp định, không được đánh chúng mà chỉ đấu tranh ngăn chặn. Chúng sẽ giở trò chiến tranh tâm lí, tuyên truyền xuyên tạc, làm giảm giá trị thắng lợi của ta. Tiếp tục kìm giữ và bắt thêm ngụy binh theo chúng. Cài mạng lưới gián điệp của Pháp và của Mỹ, nhằm chống phá miền Bắc lâu dài và thi thố âm mưu mới từ vĩ tuyến 17 trở vào, v.v. Thế là đấu tranh từ thời chiến chuyển sang thời bình, từ dạng thức này chuyển sang dạng thức khác, không kém phức tạp, gay go…

Đồng chí bí thư tỉnh ủy Thái Bình phát biểu, nhất trí với ý kiến của bí thư Khu ủy, và báo cáo về việc địch rút chạy khỏi Thái Bình trước khi kí Hiệp định Giơnevơ 20 ngày. Quân địch ở 22 đồn bốt, séctơ thị xã chạy tán loạn theo ba hướng thủy, bộ ra phía sông Hồng, bị đánh đuổi ráo riết. Thế là hơn bốn năm, quân Pháp mở 6.349 trận và càn lớn nhỏ, bình quân mỗi ngày bốn trận, có 18 trận càn lớn từ 5.000 đến 20.000 quân. Để rồi lúc này chúng phải rút chạy trong vòng ba ngày, khi Hội nghị Giơnevơ đang còn tranh cãi.

Đồng chí bí thư tỉnh ủy Hưng Yên báo cáo: ở thị xã, ngụy quân hoang mang, ban chỉ huy ngán ngẩm, địch phải đưa sĩ quan Pháp về chỉ huy, không cho lính tiếp xúc với nhân dân. Đưa một tên phản động đội lốt Thiên chúa giáo về làm tỉnh trưởng, nhằm thực hiện âm mưu dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư. Hầu hết đồn bốt vi phạm hiện định, bắn đại bác vào ấp Dâu, bắn súng cối vào cánh đồng Đặng Cầu và Phố Hiến, cài 94 quả mìn ở Nhà Thành, Trại Mới, đốt 130 nóc nhà ở Cao Xá, Ngọc Đồng… Ta đẩy mạnh hoạt động ở thị xã, tuyên truyền ý nghĩa thắng lợi Hội nghị Giơnevơ, địch phải rút khỏi miền Bắc. Giải thích chính sách đối với hàng binh, tiếp nhận vũ khí, cấp giấy tờ cho họ về gia đình. Đang có nhiều ngụy quân bỏ ngũ.

Đồng chí bí thư tỉnh ủy Hải Dương báo cáo: địch dồn tụ về thị xã rất đông. Ngụy quyền các loại hàng nghìn tên từ các tỉnh khác kéo tới. Ngụy quân gồm lính của Bảo Đại, lính của Toà Giám mục Phát Diệm, lính “gamô” của tổng cướp giật của dân, bắt cóc người, tống tiền và đánh lẫn nhau tranh gái, tranh ăn… Ta vận động nhân dân chống lại những hành động vi phạm hiệp định của chúng.

Không giấu vẻ bực tức, anh Ngạn đứng lên, miệng nói, tay chém chém vào không khí: Phải kiện chúng tới Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến. Yêu cầu Ủy ban đó gặp bọn cầm đầu ở thị xã, cả Pháp lẫn ngụy, đòi chúng phải ngừng ngay những hành động vi phạm hiệp định. Bên cạnh việc hướng dẫn cho dân đấu tranh hợp pháp, trực diện, cần tổ chức viết bài đăng báo ở Hà Nội, tố cáo tội ác của chúng. Dùng người thân của ngụy quân, ngụy quyền vận động chồng con, anh em họ tham gia chống vi phạm hiệp định. Chúng ta có cơ sở pháp lí quốc tế, cần dựa vào đó để đấu tranh với chung. Bản chất đế quốc của chúng ở hoàn cảnh nào cũng thế, trước đây, hôm nay và sắp tới không có gì thay đổi, mà còn tệ hại thêm. Vi phạm hiệp định, tiếp tục gây tội ác, chúng sẽ càng bị nhân dân ta căm ghét, phản đối. Kinh nghiệm vận động quần chúng đấu tranh chính trị cần được vận dụng mạnh mẽ vào thời điểm này!

Anh Nguyễn Khai, thay mặt Bộ tư lệnh khu giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 42 chuẩn bị tiếp quản Hải Dương; Trung đoàn 50 chuẩn bị tiếp quản Hưng Yên. Một kế hoạch chi tiết về công tác tiếp quản được đề ra để từng bước thực hiện.

macbupda:
CUỘC ĐẤU TRANH TIẾP DIỄN

Địch liên tiếp vi phạm hiệp định ở bắc Hưng Yên, nơi chúng chỉ được tập kết 80 ngày. Chúng bắn bị thương 17 người, bắt 66 người. Chúng móc nối với bọn thầy tu phản động, đẩy mạnh việc dọa dẫm giáo dân: “Ở lại miền bắc sẽ bị Việt Minh trả thù”; “Mỹ sẽ ném bom nguyên tử”; “Hiệp định Giơnevơ không được Mỹ và Bảo Đại kí thì sẽ không được thi hành; “Đình chiến bảy tám tháng rồi lại có đánh nhau”… Chúng còn rải truyền đơn ở Yên Mỹ, dụ giáo dân ra Hải Phòng đón tàu vào Nam, rằng vào Nam sẽ được nước Mỹ giàu có giúp đỡ…

Đồng chí bí thư Khu ủy Tả Ngạn nghe ông Ngô Duy Đông, phụ trách Mặt trận Liên Việt khu, báo cáo tình hình trên. Trước đó, đồng chí cũng nhận được tin: Mỹ phái Hồng y giáo chủ Spenman - tổng tuyên úy trong quân đội Mỹ - sang Việt Nam tổ chức cuộc di cư cho giáo dân. Cùng lúc, Pháp cũng giở trò bịp, hải quân cho những chiếc tàu “ma quỷ” chập chờn ven biển khiến giáo dân lo sợ, tung hàng loạt những chiếc kính có khúc xạ lồng tranh Đức Mẹ, khiến người ta thấy Mẹ liếc mắt, nhếch miệng, rồi ngoa truyền là Mẹ hiện hình kêu gọi vào Nam.

Ông Đông báo cáo tiếp: - Tỉnh trưởng ngụy quyền Nguyễn Văn Phùng ở Hưng Yên câu kết với linh mục Đức (Xứ Bầu) linh mục Thập (xứ Cao Xá) cho rao giảng: “Chúa đã vào Nam, ai không theo chúa thì mất phần hồn, sẽ bị “rút phép thông công””. Linh mục Minh (xứ Lực điền) lập danh sách phát tiền cho người di cư… Do sợ hãi, một số giáo dân ở Bến Tàu, Cao Đường (thị xã Hưng Yên) phải bán nhà cửa rồi đi Hải Phòng. Giáo dân ở Ngọc Đồng phải dỡ nhà, phá đồ đạc trước khi đi. Bọn phản động ở Cao Xá chôn mìn trên đường làng, để giáo dân ra đi không dám trở về…

Hưng Yên là nơi địch sẽ rút sớm nên bọn phản động vội vã cưỡng ép giáo dân di cư. Đây là nơi địch cần làm mạnh để cho các nơi khác trong khu làm theo. Cuối tháng 7-1954, gần 5.000 giáo dân ở Ngọc Đồng, Hạnh Lâm, Ngô Xá (Kim Động) cùng linh mục Hiến ra đi. Xá Cao Xá có 93% giáo dân đi.

Ngay sau đó, đồng chí bí thư Khu ủy họp ban Thường vụ xem xét công tác chống dụ dỗ, cưỡng ép di cư, một việc đã được đề ra ngay sau khi có hiệp định đình chiến. Khu ủy đã có chỉ thị cho các tỉnh, các trung đoàn, vừa làm nhiệm vụ trước mắt vừa chống âm mưu di cư. Phải đẩy mạnh vận động, tranh thủ giáo dân, làm cho bà con thấy tội ác địch, phá hoại đời sống yên lành. Kêu gọi mọi người bám đồng ruộng quê hương, an tâm giữ đạo. Lập ban vận động tới tận các làng xã, gặp gỡ giáo dân hoặc đón trên các ngả đường bà con sẽ đi để khuyên bảo ở lại. Những ngời ở lại hoặc đi rồi trở lại, phải được giúp đỡ thiết thực để bà con yên tâm làm ăn… Song các hoạt động đó không phải ở đâu cũng có hiệu quả. Nay cần rút kinh nghiệm để làm cho tốt hơn. Cần lập thêm các tổ chống cương ép di cư, gồm các cán bộ Thanh Công Nông Phụ, và một số anh em bộ đội đã từng có kinh nghiệm bám đất bám dân thời địch tam chiếm, tỏa về các làng có đạo Thiên chúa, vận động nhân dân, ngăn chặn sự cưỡng ép trắng trợn của bọn phản động…

Dẫu vậy, tin cuối cùng đưa về: tỉnh Hưng Yên có 32.900 giáo dân thì bị cưỡng ép đi hơn hai phần ba. Ở tỉnh Thái Bình, Pháp cho tàu “há mồm” vào áp sát Cồn Đen đưa giáo dân ra biển. Gặp khi gió to biển động, đồng bào bị sóng cuốn chết nhiều. Bọn phản động nhân lúc Ủy ban Quốc tế về xem xét thi hành hiệp định ở thị xã Thái Bình, tập trung đến từ nửa đêm ở cửa Ủy ban tỉnh, để sáng mai gặp Ủy ban Quốc tế đòi di cư, vu cáo chính quyền “vi phạm điều khoản tự do đi lại”. Được đồng bào thị xã đi sát giải thích rõ ràng phải trái, những người tụ tập giải tán dần, ngay trong đêm ấy trở lại quê nhà.

Đồng chí bí thư Khu ủy nói với ông Ngô Duy Đông: - Không ngờ chiến tranh đã chấm dứt mà đồng bào vẫn đau khổ, chết chóc. Ta phải hết lòng hết sức cữu gỡ cho đồng bào. Còn nước còntát. Tin cho biết số đồng bào ra Hải Phòng, còn phải chờ tàu chở vào Nam. Ta tiếp tục vận động để những người đang ăn chực nằm chờ ở Hải Phòng trở về quê nhà, để tránh gặp tai họa khi xuống tàu vượt biển. Dân lương dân giáo đều là đồng bào ruột thịt của ta. Phải thương dân, bám dân để thuyết phục vận động đến cùng. Vạn bất đắc dĩ họ buộc phải ra đi, thì khi vào Nam họ sẽ dần dần hiểu ra ta có thiện ý, để trong cuộc đấu tranh mới, bà con nghiêng về phía ta, sẽ hiểu âm mưu địch và chống địch.

macbupda:
KHU 300 NGÀY ĐẦY PHỨC TẠP

Hải Phòng là nơi bọn Pháp tạm trú 300 ngày. Trước khi bỏ vùng đất cực kì quan trọng này, địch âm mưu làm mọi việc tệ hại cho ta, nhằm có lợi cho chúng. Ở đây có sự phối hợp ăn ý giữa Mỹ và Pháp, nhằm vơ vét người và của, chia chác với nhau khi rút vào trong vĩ tuyến 17. Pháp đưa viên tướng Vulác tới thay viên đại tá Nêmô chỉ huy vùng này. Việc chúng cần làm là nhằm âm mưu sau này đánh trở lại miền Bắc. Trước mắt là khiến ta gặp nhiều khó khăn: - Gây sự thiếu niềm tin trong dân ta về việc thi hành hiệp định; nếu được thì kéo dài thời gian ở lại Hải Phòng. - Củng cố mạng lưới gián điệp, tay sai phản động để bí mật chống ta. - Giữ vững và bắt thêm lính bổ sung vào số quân còn lại để đưa vòa Nam. - Dụ dỗ và cưỡng ép giáo dân di cư. - Phá hoại hoặc cướp tài sản, máy móc, tài liệu của thành phố, để khi ta vào tiếp quản thì mọi nhà máy, công sở, bệnh viện… không hoạt động; sản xuất và đời sống tê liệt.

Với âm mưu hất cẳng Pháp để nhảy vào Việt Nam và Đông Dương, Mỹ không coi nhẹ những việc cần làm ở khu 300 ngày. Chúng phái tướng Côlin đến Hải Phòng cùng 200 chuyên viên, cố vấn Mỹ, tiến hành những hoạt động phá hoại hiệp định đình chiến, và lâu dìa là phá hoại miền Bắc nước ta. Bọn này xúi bẩy quân Pháp làm những việc có hại cho ta. Chúng bày đặt cho tên Lê Quang Luật, đại diện Ngô Đình Diệm ở Hải Phòng, thực hiện mưu kế phá hoại. Trước mắt là dụ dỗ, cưỡng ép thật nhiều ngụy binh, tay sai phản động và giáo dân vào Nam. Vì thế, chỉ trong bốn tháng sau khi kí hiệp định, địch đã vi phạm: 123 cuộc vây bắt, hơn 200 lần nổ súng vào khu dân cư, bắt 852 thanh niên Thiên chúa giáo vào lính, giam 517 người dân, bắn chín người, đánh bị thương 167 người…

Trước âm mưu nham hiểm và hành động tàn tệ của địch, Trung ương quyết định lập Ban Chỉ đạo khu vực tập kết 300 ngày, chỉ định đồng chí Đỗ Mười làm trưởng ban, cùng các đồng chí Hoàng Hữu Nhân, Hoàng Mậu, Nguyễn Tài, Nguyễn Đàm, Bùi Công Trừng, Lý Ban, Nguyễn Công Thành, Nguyễn Văn Ngọc, và một số đồng chí đại diện Bộ Quốc phòng.

Anh Ngạn không đột ngột khi nhận nhiệm vụ, vì công tác chuẩn bị tiếp thu vùng giải phóng và quản lí các thành thị là việc Khu ủy Tả Ngạn đang làm. Nhưng nghĩ sâu sắc, cụ thể vào nhiệm vụ vùng 300 ngày mới thấy đầy phức tạp, khó khăn. Đây không còn là việc dùng vũ lực mà phải mưu trí đấu tranh chính trị, kinh tế. Thượng sách vẫn là dựa vào sức mạnh nhân dân để làm mọi việc cần làm và đấu tranh với địch.

Ban Chỉ đạo họp, đề ra những công tác cấp bách làm ngay. Rút kinh nghiệm của Hà Nội, nơi đấu tranh thi hành hiệp định và tiếp quản thành phố đầu tiên, thường xuyên nhận sự chỉ đạo của Trung ương, tập trung lực lượng cán bộ cần thiết vào công tác này. Làm cho các cấp từ tỉnh, thành xuống cơ sở, nhận rõ ý nghĩa mà Bộ Chính trị đã chỉ ra: “Việc tiếp quản được các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng khiến chúng ta không những có nông thôn mà còn có thành thị, đường sắt, cửa biển, vùng công nghiệp… Đó là biến đổi to lớn, ta có đủ điều kiện kiến thiết quy mô một quốc gia”. Anh Ngạn trực tiếp giảng giải cho đội ngũ cán bộ về nhiệm vụ mới và cách thực hiện, về phương pháp đấu tranh chống địch… Đội ngũ này gồm một số đồng chí tỉnh ủy, thành ủy và nhiều cán bộ cốt cán, hợp pháp tỏa về nội thành, nội thị, xây dựng cơ sở nhân dân ở các thành phố, nhà máy, xí nghiệp, trở thành lực lượng “tác chiến” tại chỗ. Những nơi cần thiết phải sớm lập đội tự vệ bí mật để bảo vệ tải sản, máy móc, chống địch phá hoại trước khi rút, như nhà máy xi măng, nhà máy đèn, sở hỏa xa, bến cảng, v.v. Ở vùng nông thôn chưa giải phóng, ta tăng cường cán bộ và đội tuyên truyền, xây dựng thêm cơ sở nhân dân, củng cố các đoàn thể chính trị, dân quân du kích để họ làm nòng cốt đấu tranh…

Đội ngũ cán bộ khu 300 ngày phải làm nhiều việc cùng một lúc. Bộ phận binh vận phát huy kinh nghiệm dày dạn dựa vào dân đấu tranh đòi chồng con, anh em ở lại với gia đình. Họ đến các nơi đóng quân của địch hỏi tin tức về chồng con, đòi gặp người thân thích, khóc lóc kêu than, sợ phải chia lìa. Họ đem cơm nắm đến ăn chờ quanh trại lính, ngày này qua ngày khác để đón người nhà. Có những cuộc tụ tập hàng trăm, hàng nghìn ông bà già đòi con cháu, hàng trăm phụ nữ bồng con đi đòi chồng. Nhiều truyền đơn được trao tận tay những người lính sắp bị kéo đi xa. Khiến họ thương cha mẹ già, vợ trẻ, con thơ. Họ lo cho bản thân không có gì bảo đảm trong lúc đã hòa bình. Ở Kiến An, chỉ sau một tháng đã có trên 3.500 lính rời đội ngũ. Ở thành phố Hải Phòng và huyện Thủy Nguyên có 5.030 lính (cả một tiểu đoàn pháo binh, cả một đại đội địa phương quân) đào ngũ. Cán bộ và nhân dân khu 300 ngày bền bỉ vận động, làm tan rã phần lớn số ngụy binh từ các tỉnh đến tập kết nơi đây. Địch muốn bảo toàn số lính để đem vào Nam nhưng không được nhiều.

Những người lính Âu - Phi trải qua chiến tranh ác liệt, được sống tới thời hòa bình, lại được cán bộ nhân dân ta tuyên truyền giải thích càng thêm tỉnh ngộ. Truyền đơn tiếng Pháp chữ to “Hòa bình và hồi hương sớm” đặt ngay nơi ăn, nơi nghỉ của họ. Học đọc rồi trao tay nhau, bất chấp sự ngăn cấm của bọn sĩ quan. Họ tận mắt thấy 92 hàng binh và cả một số tù bình được chính quyền tỉnh Kiến An trả tự do… Họ hiểu rằng hòa bình đã trở lại miền Bắc Việt Nam, nhưng miền Nam thì chưa, vì người Pháp và người Mỹ đang bắt tay nhau làm những chuyện gì đó từ vĩ tuyến 17 trở vào. Họ bảo nhau đòi về quê trước thời hạn. Họ tỏ rõ ý chí xa rời đội quân đã gần chục năm giết người, cướp nước. 13 cuộc đấu tranh của họ vào thời gian này có kết quả. Một tiểu đoàn lính Phi, 120 lính Marốc ở đồn Khinh giao, 435 lính Âu ở đồn Rế, 120 lính Thái ở đồn Quang Cư… buộc bọn chỉ huy cho về nước sớm…

Trưởng ban chỉ đạo khu 300 ngày theo dõi đều đặn cuộc đấu tranh đấu mưu của đông đảo quần chúng chống ham muốn của Chính phủ Pháp: “Lấy việc giữ gìn quân đội viễn chinh làm mục tiêu chủ yếu cần ưu tiên”. Đồng chí nói với anh em: - Vấn đề càng được địch ưu tiên ta càn tìm cách phá mạnh. Chúng ta phải làm xộc xệch, rời rã một đội quân rồi đây sẽ thực hành cái việc “Tiễu trừ hết mọi Việt Minh ở vùng Trung và Nam Đông Dương” (ghi trong chỉ thị của Chính phủ Pháp cho tổng chỉ huy quân Pháp), và bọn đó sẽ gây tội ác mới với đồng bào ta từ vĩ tuyến 17 trở vào. Đấy cũng là làm một tiệc đầy tính nhân đạo, mở đường cho những người lính ngụy, những người lính Âu - Phi sớm trở về đoàn tụ với gia đình. Chúng ta phải ra sức làm tốt việc này cũng như việc chống dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư, nằm trong kế hoạch hậu chiến lâu dài và thâm hiểm của đế quốc Mỹ…

macbupda:
NGƯỜI GIỮ CHỨC TRÁCH TO KHÔNG CẨN THẬN SẼ MẮC LỖI LỚN

Việc tiếp quản thị xã Hưng Yên diễn ra nhanh chóng, chỉ sau mười ngày ngừng bắn có hiệu lực. Phía Pháp cử người ra gặp Ban Tiếp quản của ta, hẹn đến 14 giờ ngày 6-8-1954, họ sẽ bàn giao thị xã. Nhưng mới 12 giờ 45, họ đã rút và chẳng bàn giao. Bộ đội ta vào xếp hàng hai bên đường, cầm cờ đỏ sao vàng vẫy chào bộ đội, mừng thị xã hoàn toàn giải phóng.

Ngay sau đó, tỉnh ủy Hưng Yên họp hội nghị liên tịch Quân Dân Chính Đảng, Thanh Công Nông Phụ, bàn kế hoạch tiếp quản phía bắc tỉnh, đường 5, đường sắt, thuộc khu tập kết 80 ngày.

Ngày 8-8-1954, ta tiếp quản thị xã Ninh Giang. Nơi đây phía Pháp rút sớm nhiều ngày so với quy định. Họ cũng chẳng bàn giao các vị trí, công sở, tài liệu… Rút kinh nghiệm ở thị xã Hưng Yên, ta chuẩn bị kĩ về mọi việc, nên khi họ rút, ta kịp thời vào quản lí ngay. Nhân dân hoan hỉ đón chào và nhiệt liệt ủng hộ.

Đồng chí bí thư Khu ủy Tả Ngạn tới Ninh Giang. Một số đơn vị thuộc Trung đoàn 42 đóng quân ở đây, chuẩn bị vào tiếp quản thị xã Hải Dương. Họp với ban Thường vụ tỉnh ủy Hải Dương, đồng chí bí thư Khu ủy nhận định: - Thị xã Hải Dương thuộc khu tập kết 100 ngày của Pháp. Thời gian tập kết lâu gấp 10 lần so với thị xã Hưng Yên, nên kinh nghiệm chống phá của chúng cũng sẽ nhiều hơn. Nơi đây đã được Pháp coi là sở chỉ huy lớn, điều khiển chiến tranh đối với cả một vùng rộng. Lúc này nó là một trong mấy cái “rốn vó” chứa đựng mọi thứ lính tráng, mọi loại phản động, mọi thứ đầu trâu mặt ngựa… Ở đây chúng còn cả hai sở chỉ huy cấp liên khu, cấp sư đoàn, còn 72 nơi đóng quân lớn nhỏ. Thị xã này đã và đang là tiền đồn quan trọng của Hải Phòng, của khu tập kết 300 ngày. Kẻ địch rất cảnh giác bảovệ tiền đồn của chúng. Ta cũng không quên là ở Hội nghị Giơnevơ, Pháp cứ nằng nặc đòi đóng quân ở Hải Phòng, như cấy một cái nhọt bọc rất to và cơ thể miền Bắc. Điều đó đã bị ta gạt bỏ. Nhưng ta vẫn phải cảnh giác, gởi âm mưu của Pháp cũng làm âm mưu của Mỹ. Một phái đoàn chuyên gia Mỹ do một viên tướng Mỹ cầm đầu đã đến Hải Phòng… cho nên việc tiếp quản thị xã Hải Dương và sau đó là thành phố Hải Phòng, sẽ không đơn giản như Hưng Yên, Ninh Giang. Việc này cũng phải dựa vào nhân dân, dựa vào giai cấp công nhân để làm, với sức mạnh toàn dân, toàn diện, với mưu cao, trí rộng. Đây không chỉ là một cuộc vui chiến thắng, mà còn là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn phức tạp.

Đồng chí bí thư truyền đạt nghị quyết của Ban Thường vụ Khu ủy về việc lập Đảng ủy Quân Chính Hải Dương, do đồng chí Lê Đức Thịnh làm bí thư, cùng tỉnh ủy và hai trung đoàn ủy lãnh đạo toàn bộ việc chuẩn bị tiếp quản. Bộ tư lệnh giao cho Trung đoàn 50 cùng bộ đội huyện tiếp quản hai thị trấn Kẻ Sặt và Cẩm Giàng. Trung đoàn 42 cùng tiểu đoàn bộ đội tỉnh tiếp quản thị xã Hải Dương. Lập Ủy ban Quân Chính do đồng chí Nguyễn Như Thiết, trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 làm chủ tịch, điều hành việc tiếp quản thị xã Hải Dương… Đồng chí bí thư Khu ủy đặt ra những câu hỏi, nêu những gợi ý để cán bộ bàn bạc, giải đáp, bổ sung. Những kinh nghiệm dựa vào dân, dựa vào trí tuệ tập thể có từ trong chiến đấu nay được vận dụng vào nhiệm vụ mới.

Họp với cán bộ các tỉnh và các trung đoàn xong, đồng chí bí thư Khu ỷ nói chuyện với bộ đội. Bao nhiêu năm tháng mải tập luyện kĩ thuật chiến đấu, lúc này anh em mới có thì giờ để học tập về điều lệnh nội vụ, luyện tập đội ngũ, tập đứng tập đi… Anh em rất vui mừng được đóng đồng chí bí thư Khu ủy kiêm chính ủy khu.

Tại một khu sân rộng, bộ đội nghiêm trang trong đội ngũ. Đồng chí chính ủy lần đâu tiên mặc quân phục đứng trước hàng quân. Qua mấy giây im lặng quan sát đội ngũ, chính ủy cất tiếng: “Các đồng chí thân mến”. Bộ đội liền đứng nghiêm. Chính ủy xúc động quên cả việc cho anh em nghỉ. Đồng chí vào chuyện ngay, giọng thân mật và sôi nổi: - Tôi thay mặt Khu ủy và Bộ tư lệnh khu mong các cán bộ, chiến sĩ toàn trung đoàn vui vẻ, luyện tập dẻo dai, khỏe về thể lực, giỏi về chiến thuật kĩ thuật, đoàn kết đội ngũ, đoàn kết quân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, trước hết là tiếp quản khu vực 100 ngày, rồi tiếp quản khu vực 300 ngày. Đề cao cảnh giác, sẵn sàng chống mọi âm mưu phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Muốn vậy, các đồng chí phải vừa học tập chính trị vừa huấn luyện quân sự. Phải hiểu rõ chính sách và kỉ luật trong vùng mới giải phóng. Các đồng chí đã học những điều căn dặn của Bác Hồ rồi phải không? Tôi nhắc lại: “Khi nào tiếp quản phải hết ức đề phòng những âm mưu mà kẻ thù của hòa bình sẽ dùng để phá hoại hàng ngũ ta. Phải luôn luôn giữ gìn phẩm chất cách mạng, cán bộ phải sống gương mẫu và giản dị, bộ đội phải giữ kỉ luật nghiêm chỉnh… Quân đội ta không được vì hòa bình mà lơi lỏng tay súng. Còn đế quốc ở miền Nam, thì còn phải xây dựng quân đội mạnh mẽ…”. Tôi mong các đồng chí ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ để thực hành nghiêm chỉnh, khi đi làm nhiệm vụ tập thể cũng như khi đi một mình…

Chính ủy cao hơn những người bình thường, nay đứng trên bục, giọng nói hào sảng, đôi tay minh họa cho lời nói, thành tiêu điểm cuốn hút mạnh mẽ các chiến sĩ. Chẳng có máy tăng âm và loa phóng thanh, mọi người vẫn tận thu thiếng nói to, khỏe, dễ nghe, dễ hiểu, sinh động, xuất phát từ thực tế phong phú.

Bộ đội chăm chú nghe; chưa được lệnh nghỉ nên cứ đứng nghiêm. Anh Thiết bảo tôi; “Đề nghị chính ủy cho anh em nghỉ”. Tôi lựa lúc chính ủy nhẹ giọng để nhắc; “Anh cho các chiến sĩ nghỉ”. Nhưng anh lại chuyển giọng sôi nổi hơn, không nghe thấy tôi nói. Tôi e mình nhắc sẽ mất trật tự, liền viết vào tờ giấy khổ “đúp” chữ to, nét đậm: “Anh cho các chiến sĩ nghỉ!”. Rồi giơ lên cho anh thấy. Song anh vẫn chẳng để ý, vì quá tập trung vào những điều mình nói. Tôi hiểu các chiến sĩ đã quá mỏi chân, cố nói to: “Anh cho anh em nghỉ!”. Anh vẫn không nghe thấy. Tôi đành bảo anh Thiết: “Ông cứ lệnh cho các chiến sĩ nghỉ!”.

Anh Thiết bước gần hàng quân ra lệnh “Nghỉ”. Có lẽ lúc này chính ủy mói hiểu ra là mình quên. Đồng chí mỉm cười rồi tiếp tục nói với các chiến sĩ, cuồn cuộn, trôi chảy và hấp dẫn.

Sau tôi nhác lại chuyện ấy, anh Ngạn cười: - Mình quen nói chuyện với cánh dân sự, không nhó là nói với cánh quân sự phải theo điều lệnh nội vụ. Sơ suất làm phiền một người đã không nên, làm phiền hàng trăm người càng phải tránh! Tôi hiểu tính anh: chưa biết thì hỏi đến cùng, có lỗi sẵn sàng nhận lội. Có lần ảnh bảo tôi: “Người giữ chức trách to không cẩn thận thì sẽ mắc lỗi lớn”.

macbupda:
ÔNG CHỈ HUY “NGŨ TỈNH ĐƯỜNG 5”

Lễ truy điệu anh Dương Đức Miên tổ chức tại thị xã Ninh Giang. Trời xụt xùi lúc tạnh lúc mưa, khiến lòng người thêm rầu rĩ. Cỗ quan tài tượng trưng phủ quốc kì, đặt kề ban thờ khói hương nghi ngút. Dự lễ có các đồng chí đại diện Quân Dân Chính Đảng, Thanh Nông Công Phụ, các đồng chí trong Bộ tư lệnh khu cùng các ban, phòng trực thuộc, và nhiều anh em đồng chí. Túc trực hai bên quan tài là các đồng chí Nguyễn Khai, Nguyễn Chất (tỉnh đội Hải Dương).

Đang giờ hành lễ thì anh Nguyễn Sáng tới. Tin anh Miên hi sinh đến với anh Sáng hơi chậm, vì anh đang công tác ở Việt Bắc. Anh mượn được chiếc xe đạp cũ kĩ của bộ phận hậu cần, xin phép cơ quan về Hưng Yên (quê anh Miên) rồi về Hải Dương. Biết lễ truy điều tổ chức tại đây, anh tức tốc qua mấy chục cây số, đạp xe trên đường gồ ghề, lầy lội sau trận bão, để kịp tới dự. Anh đứng bên quan tài, nước mắt giàn giụa. Nhiều người tưởng anh là thân nhân ruột thịt của người quá cố.

Cuộc lễ trang nghiêm, trọng thể, kết thúc trong nỗi nhớ tiếc của mọi người đối với anh Miên. Bước khỏi lễ đường, tôi còn thấy anh Ngạn đưa khăn lên thấm nước mặt. Anh lại nhắc anh Khai: cần xúc tiến việc tìm thi hài…

Cuộc hành trình của anh Sáng gây ấn tượng sâu sắc trong anh em chúng tôi. Tôi nhớ có lần anh Sáng kể về mối quan hệ mật thiết giữa anh với anh Miên: “Chúng tôi gắn bó với nhau trong một đơn vị. Anh là trung đoàn phó, tôi là quản trị trưởng (tức tham mưu trưởng)”.

“… Khi ấy thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị gây sự trong nội thành Hải Phòng”.

“Ngày 18-11-1946, anh Thịnh, anh Miên đi họp ở trụ sở Ủy ban Kháng chiến hành chính thành phố về nói: “Pháp gửi tối hậu thư cho ta, đòi phải nộp vũ khí và để chúng quản lí thành phố, tức là buộc ta đầu hàng””.

“Anh em trung đoàn bộ chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Gói ghém, niêm phng tài liệu chuyển sang Kiến An, gửi cơ quan Chiến khu bộ. Súng nổ lác đác ở khu cảng, sáu kho, bến Bính…”.

“Rồi cả thành phố, nhất là ở phía sáu kho, khu cảng, nhà ga, bưu điện, bến Bính… súng nổ như đốt pháo. Tiếng xe gần rú trên một số đường phố”.

“Cả ngày 21 và 22, máy bay “bà già’ vè vè bay lượng, ngó nghiên, từ 7 giờ sáng tới 16 giờ chiều, chỉ huy bắn pháo vào thành phố. Một trong những mục tiêu chủ yếu mà chũng nã pháo là trung đoàn bộ chúng tôi”.

“Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra như vậy cho đến 26-11, tức sáu ngày. Sau đó, có lệnh của chiến khu trưởng Hoàng Minh Thảo, cho rút hết các đồng chí qua Cầu Niệm sang Kiến An, rồi đóng lại ở huyện Vĩnh Bảo. Khi ấy có tiểu đoàn trưởng Long Vân, qua một ngày chiến đấu đã tự động bỏ đơn vị rút về phía sau. Đồng chí đó bị thi hành kỉ luật nặng, cho ra khỏi quân đội”.

“Ngày 28-11, tức ngày thứ tám trụ lại ở cơ quan trung đoàn bộ, nhận được thư anh Đinh Thịnh, tôi và anh Miên rút ra chùa Dư Hàng. Chúng tôi họp bàn khe tác chiến theo lệnh của Chiến khu 3”.

“Sống với anh gần trọn cuộc kháng chiến chín năm, tôi và anh có biết bao kỉ niệm buồn vui. Vì thế, tôi không cầm được nước mắt trước hương hồn anh…”.

Tôi chăm chú nghe anh Sáng nói, giọng xúc động chân thành. Tôi nắm chặt bàn tay anh.

Sau đó không lâu, anh Khai sang báo cáo với anh Ngạn một tin cần thiết, lĩnh ở đồn Cầu Ghẽ tan rã, về nhà kể chuyện: chúng được lệnh của chỉ huy, phục đánh bọn lái buôn lắm tiền sẽ qua đường 5. Nhưng chúng đã bắn phải một ông to “Chỉ huy ngũ tỉnh đường 5” (trong cái xà cột đeo vai anh Miên, có tờ giấy giới thiệu anh là chỉ huy trưởng Mặt trận 5, nên chúng hiểu như thế). Chúng đâm lo sợ: nếu các ông Việt Minh biết chúng sát hại người chỉ huy, thì sẽ đem bộc phá đến đánh sập đồn Cầu Ghẽ. Chúng phải đưa thi hài ba người về ngầm mai táng trong khu vực đồn, để giấu tung tích. Và chúng đã giấu được đến lúc này.

Anh Ngạn cũng như mọi người chúng tôi, trải qua cả một thời gian băn khoăn, bứt rứt, nay mới được giải tỏa. Anh nói với anh Khai: - Bộ tư lệnh cần cử cán bộ đến thẩ trả cẩn thận, và bảo vệ phần mộ chu đáo, rồi trù liệu việc đưa hài cốt anh Miên và hai đồng chí bảo vệ về quê hương cho trang trọng. Cần đặt vấn đề với tỉnh, huyện, giao cho chi bộ Đảng và Hội phụ nữ xã, thường xuyên săn sóc thăm hỏi chị Miên, và giúp đỡ hai cháu học hành đến nơi đến chốn.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page