Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long

<< < (4/21) > >>

menthuong:
Khi con người đã biết tới hôn nhân thì bất cứ ở chế độ nào vai trò của người phụ nữ cũng rất quan trọng. Càng quan trong hơn nếu họ là giai nhân bởi tuyệt sắc giai nhân càng hiếm và ảnh hưởng của họ lại càng tới nhiều người và là ở những người có vai trò quan trọng với tiến trình xã hội.

Người khởi đầu cho nhà Lý (李朝, 1009 - 1225) là Lý Công Uẩn. Lý Thái Tổ (李太祖; tên húy là Lý Công Uẩn 李公蘊; 974–1028) là người ở làng Cổ Pháp, nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh được quần thần nhà Lê (前黎氏,980 - 1009) suy tôn sau cái chết của Lê Long Đĩnh. Sau Lý Thái Tổ là Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054--1072), Lý Nhân Tông (1072-1127), Lý Thần Tông (1128-1138), Lý Anh Tông (1138-1175), Lý Cao Tông (1175-1210), và Lý Huệ Tông (1210-1224) chấm dứt khi vua nữ Lý Chiêu Hoàng (1224-1225), khi đó mới có 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (太宗陳煚, 1225-1258) vào năm 1225, mở ra triều Trần (陳朝,1225 - 1400).

Nhà Lý là triều đại nhiều công lao trong việc định đô (Thăng Long, 1010), đặt quốc hiệu (Đại Việt,  tháng 10 năm 1054), sửa sang chính sự, mở khoa thi đầu tiên (02/1075), đánh tan quân Tống (1076), đòi đất nhà Tống lấn, giao hảo tốt với các nước, được vua Tống chính thức phong Vương ( An Nam Quốc vương cho Lý Anh Tông vào năm 1164) thu phục được các tù trưởng thiểu số, thực hiện bước Nam tiến đầu tiên (1069) …Chính vì vậy, nước Đại Cồ Việt trở thành Đại Việt tuần tự đi lên không bị suy sút, thua thiệt vững vàng trước ý đồ bành trướng của Bắc triều và sự tráo trở của người Chiêm.

Trong 216 năm cai quản Đại Việt, ngoài những đấng minh quân sáng lập, củng cố và phát triển Vương triều, thời đại này cũng có sự đóng góp của các nhân vật có nhiều công lao và tài năng như Lý Thường Kiệt, Lê Phụng Hiểu, Lý Đạo Thành, Lê Văn Thịnh...Đặc biệt đây cũng là triều đại mà trong quá trình tồn tại, phát triển, suy tàn có sự đóng góp không nhỏ của những tuyệt sắc giai nhân, họ là các bậc “mẫu nghi thiên hạ”, các Công chúa “lá ngọc cành vàng”.

Thời phong kiến Vua là Thiên tử có quyền tối thượng nên chuyện phòng the, hậu cung của Vua cũng khác thảo dân và vợ, mẹ, bà, họ hàng bên ngoại Vua, con trai, con gái, anh em Vua có danh xưng tôn quý khác người thường.

 Hoàng hậu là vợ chính của Vua còn vợ thứ gọi là Hoàng phi khi con lên ngôi trở thành Thái hậu hay Hoàng Thái hậu, còn bà nội Vua được suy tôn là Thái Hoàng Thái hậu còn vợ Thái tử được gọi là Hoàng Thái tử phi. Hoàng Thái hậu nhiều khi còn được gọi dưới danh xưng Quốc mẫu. Trường hợp Hoàng hậu không con trai hoặc không được yêu quý nhiều thì người vợ chính là Nguyên phi và khi con trai người này lên ngôi thì Nguyên phi được tôn xưng là Hoàng Thái phi. Ngoài ra Vua còn có nhiều phi tần, nàng hầu mà mỗi thời gọi, phân hạng khác nhau.

Mẹ Vua, vợ các Vua đã băng hà được ở trong cung Diên Thọ (kéo dài tuổi thọ); mẹ, vợ các Vua tại vị ở cung Trường Sinh còn Hoàng Quý phi ở cung Khôn Thái gần nơi Vua ở. Ba cung này hợp thành Tam cung, phối đủ âm dương, trời đất.

Khi Vua lên ngôi, bố vợ Vua được gọi là Quốc trượng, được tặng Quận công, vợ là Quận Phu nhân và họ hàng vợ Vua được gọi là Quốc thích.

Trong hoàn cảnh đó, khi con gái Vua đi lấy chồng (chữ gọi là Hạ giá) có quan tước Công, tước Hầu làm chủ hôn nên được gọi là Công chủ hay Công chúa. Còn chị em Vua khi đó gọi là Trưởng Công chúa và cô Vua được tôn là Đại trưởng Công chúa hay Thái Trưởng Công chúa. Còn con gái các quan trong tôn thất có tước Vương, con gái Chúa Trịnh được gọi là Quận chúa.

Phò mã nguyên là chức quan cưỡi ngựa theo hầu bên cạnh Vua, về sau được dùng để chỉ chồng của Công chúa còn chồng Quận chúa gọi là Quận mã.

Thời nhà Lý có là những bà Hoàng, bà Phi giúp chồng làm nên nghiệp lớn (Nguyên phi Ỷ Lan), giúp cha nắm chặt đảm bảo được sự trung thành của các tù trưởng nơi phiên trấn (các Công chúa) nhưng cũng người để lại vết nhơ cho Vương triều (Cảm Thánh phu nhân Lê Thị) bởi thói dâm tình hay là cầu nối để vương quyền về tay họ khác (Hoàng hậu Trần Thị Dung) hoặc lên đến ngôi tuyệt đỉnh - Nữ Hoàng, để từ đó chấm dứt 216 năm của Vương triều (Lý Chiêu Hoàng Phật Kim). Công tội của họ, chuyện tình của các bậc tuyệt sắc giai nhân này với các đấng quân vương, với những thủ lĩnh tài ba đầy những tình tiết đẹp đẽ, bi hùng.
Chính sử thì chép qua loa, dã sử thì cũng ít và tản mát, chuyện về các “bóng hồng” này đến nay cũng rất thưa bóng. Qua những cuốn chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử lược, qua các trang trên Internet, qua cuốn “Chuyện tình Vua Chúa Hoàng tộc Việt Nam” tôi tìm thấy nhiều chuyện hay, nhiều chi tiết thú vị và cảm nhận được nhiều bài học lý thú. Thiết nghĩ cũng nên chép lại.

menthuong:
Một số Hậu và Phi nổi tiếng của Vương triều:
Tiếp nhận Vương quyền từ nhà Tiền Lê, trong việc hậu cung, hai Vua đầu nhà Lý đều phong các bà vợ mình là Hoàng hậu mà không nêu cụ thể ai thực sự là chính thê, các đời sau phong cả Phi, Ngự nữ.

1. Khi lên ngôi, năm 1010 Lý Thái Tổ lập 6 Hoàng hậu trong đó nổi bật là Lập Giáo Hoàng hậu, sinh ra Thái tử Phật Mã có quy chế xe ngựa, y phục khác. đến năm 1016 lập lại 3 Hoàng hậu là: Tá Quốc, Lập Nguyên và Lập Giáo. Thái Tổ sinh hạ được 13 Công chúa.

2. Lý Thái Tôn Phật Mã (1028-1054) tôn mẹ là Lê thị (Lập Giáo Hoàng hậu) làm Linh Hiển Thái hậu và năm 1028 lập Kim Thiên Mai Thị (mẹ Lý Nhật Tông) và 6 vị khác làm Hoàng hậu. Đặc biệt năm 1035 lập nàng hầu làm Hoàng hậu Thiên Cảm sau lại lập Đào Thị (vốn giỏi nghề ca hát) làm Phi. Vua sinh 2 Hoàng tử và nhiều Công chúa, trong đó trưởng nữ là An Quốc Công chúa. Trong thời Lý Thái Tôn, một người con gái nước Chiêm là Mỵ Ê được ông phong là Hiệp Chính Hựu Thiện Phu nhân. Bà chính là phi của Sạ Đẩu bị bắt khi kinh thành Phật Thệ của Chiêm thất thủ (1044) khi được Thái Tôn vời đã lao xuống sông để giữ lòng trinh.

3. Lý Thánh Tông Nhật Tôn (1054-1072) lập Dương thị làm Hoàng hậu Thượng Dương (không con trai, sinh hạ Công chúa: Từ Thục, Từ Huy), Ỷ Lan Lê Thị Khiết là Nguyên phi, Dương Thị Quang là Thứ phi (mẹ Công chúa Động Thiên, Khâm Thánh). Trong đó nổi bật Nguyên Phi Ỷ Lan mà sử sách hay nhắc đến.

 Bà này người làng Thổ Lỗi nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội được Nhật Tôn cảm yêu khi nghe tiếng hát vào năm 1063 phong làm Ỷ Lan (cô gái tựa gốc Lan) phu nhân. Hai năm sau Ỷ Lan đậu thai (truyền rằng do Chi hậu Nội nhân Nguyễn Bông dùng thuật “đầu thai thác hoá” học được từ sư thầy mà ra) và sinh hạ Hoàng năm vào năm 1066 (khi Vua đã 43 tuổi). Ấu tử Càn Đức lập tức được lập làm Hoàng Thái tử và mẹ nâng thnàh Thần phi. Hai năm sau Ỷ Lan sinh tiếp 1 Hoàng tử nữa (Minh Nhân Vương) rồi năm sau sinh tiếp Sùng Hiến Hầu. Ỷ Lan góp nhiều kế trị nước an dân cho Vua nên được Lê Thánh Tông yêu và từng được Vua giao chấp chính khi Thánh Tông cầm quân đi đánh Chiêm Thành (Ất Dậu, 1069). Tháng Giêng Nhâm Tý (1072) Thánh Tông băng, Càn Đức nối ngôi, Ỷ Lan Nguyên phi được tôn làm Hoàng Thái phi, Thượng Dương Hoàng hậu tôn làm Hoàng Thái hậu cùng buông rèm nghe chính sự. Năm 1073, vua nghe lời mẹ đẻ đã bắt giam, sau đó bức tử Dương Thái hậu và 76 thị nữ bởi lòng ganh ghét và lòng đó kị trả thù thời gian 4 tháng bị Thượng Dương và Lý Đạo Thành gạt ra khỏi guồng máy quyền lực. Bà có công trong việc cho các công thần trên 80 tuổi được chống gậy ngồi ghế khi lâm triều; mở khoa thi “Minh kinh bác học”, “Nho học tam trường” (1075); huy động nhân tài, vật lực cho công cuộc “Kháng Tống, Bình Chiêm”; đắp đê sông Như Nguyệt (1077); sửa đê La Thành (1078). Nhưng bà đã bất nhẫn trong vụ giết hại Hoàng hậu Thượng Dương và 76 cung nhân năm 1073. Sau đó chắc do hối hận sự tàn bạo của mình, Ỷ Lan đã cho trai giới cầu tự (1102); xuất tiền chuộc những người con gái bị gia đình bán độ để gả cho người goá vợ (1103); để Thánh Tông lập 3 Hoàng hậu, 36 cung nhân; dựng chùa cầu Phật. Không hiểu hiệu quả ra sao nhưng vào năm Bính Thân 1116, Phu nhân họ Đỗ của Sùng Hiến hầu (một người con khác của Ỷ Lan) sinh con trai (Dương Hoán) được Thánh Tông lập làm Hoàng Thái tử. Ngày 25/7 Đinh Dậu (1117) Ỷ Lan băng được hoả táng và chôn theo 3 thị nữ.

4. Lý Nhân Tông Càn Đức (1072-1128) nối nghiệp, lập 3 Hoàng hậu (Lan Anh, Khâm Thiên, Chấn Bảo) và 36 cung nhân nhưng không có con. Có thuyết nói kiếp trước ông là hoạn quan (chuyện Nguyễn Bông) hay bởi tại quả báo của cái ghen chết người năm 1073. Lại có chuyện rằng, Kiến Hải vương Lý Dương Côn, tước đô đốc thủy quân, con nuôi của vua Lý Nhân Tông, khi vua băng, triều thần muốn đưa Lý Dương Côn lên làm vua nhưng không được. Do vậy năm 1150, Lý Dương Côn mang gia quyến lên thuyền lưu vong đến Cao Ly, khởi lập dòng họ Lý Tinh thiện. Hậu duệ đời thứ 6 của Lý Dương Côn là tướng quân Lý Nghĩa Mẫn (Lee Ui Min), một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Cao Ly dưới triều vua Uijiong, kế đó theo phò tướng Jeong Jung-bu, sau này giữ chức tể tướng suốt 14 năm. Tiếc là một cuộc binh biến trong triều đã hạ sát Lý Nghĩa Mẫn cùng các con trai, chỉ còn một người anh bà con trốn thoát. Từ đó dòng họ Lý Tinh thiện phát triển không mạnh mẽ dù hậu duệ vẫn còn đến hôm nay (như giáo sư Lý Gia Trung ở Đại học Seoul). Công lao của tể tướng Lý Nghĩa Mẫn từng được phản ánh trong một bộ phim truyền hình nhiều tập thể loại dã sử do Đài truyền hình KBS phát sóng cuối năm 2002, trong đó đề cập cụ thể Lý Nghĩa Mẫn có dòng dõi từ vua nhà Lý ở An Nam.

5. Lý Thần Tông Dương Hoán (1128-1138) nối nghiệp Vua bác và ông này lập con gái Lê Bá Thiên làm Hoàng hậu Lê Thiên và có 5 phu nhân: Lý Thị, Minh Bảo, Cảm Thánh Lê Thị (mẹ Thái tử Thiên Tộ), Nhật Phong, Phụng Thánh; sinh hạ Thái tử Thiên Tộ, Hoàn tử Minh Đạo Vương; Công chúa Thuỵ Thiên, Thuỵ Minh…Thần Tông là ông Vua từng cho phép vợ mình về thăm nhà (1128); ban chiếu: Con gái các quan chỉ được lấy chồng khi việc chọn vào hậu cung bị loại ra (1130), cấm gia nô hoàng thân quốc thích lấy con gái các quan chức đô và của nhân dân (1131).

6. Lý Anh Tông Thiên Tộ (1138-1175) lập Đỗ Thị làm Phu nhân (sinh ra Long Trát Thái tử) và có lẽ là Hoàng đế đầu tiên lấy vợ ngoại quốc: Con gái vua Chiêm Chế Bilabut. Vua có bảy người con là Long Xưởng, Long Minh, Long Đức, Long Hòa, Long Ích, Long Trát và Long Tường. Trong số đó, hoàng tử Lý Long Tường , con trai thứ của Lý Anh Tông, để tránh hoạ tru di, vào năm 1226 cùng đoàn tùy tùng khoảng 40 người vượt biên sang lập nghiệp ở Cao Ly tức Korea, lập ra dòng họ Lý Hoa Sơn. Tại đây, ông lập công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông được phong Bạch mã tướng quân, cấp Thái ấp tại Hoa Sơn, cho dựng Thụ hàng môn và khắc Thụ hàng môn bi kí. Tám trăm năm sau, hậu duệ đời thứ 31 của Hoàng tử này là ông Lý Xương Căn đã về Việt Nam thăm lại đất Tổ.

Đây là triều đại đã để lại vết nhơ: Bởi Anh Tông còn nhỏ (3 tuổi) nên Thái hậu Lê Thị cầm quyền nhiếp chính nhưng Thái hậu lại tư thông với đại thần Đỗ Anh Vũ. Vì vậy Anh Vũ lộng quyền, triều thần căm giận tìm cách trừ khử nhưng lộ mưu Đỗ Anh Vũ đã giết họ. May nhờ các tôi trung tài giỏi như Tô Hiến Thành nên nước được giữ yên và khi Anh Tông khôn lớn càng chăm lo kiến quốc, giữ vứng biên cương. Dù sao bậc “Mẫu nghi thiên hạ” lại tư thông với gian nịnh, hại trung thần đã là dấu hiệu báo trước sự suy vi của Vương triều.

7. Lý Cao Tông Long Trát (1176-1240) được nối ngôi không nằm trong ý muốn của Chiêu Linh Thái hậu lại ham mê săn bắn, không lo triều chính nên Vương triều đã suy vi rõ. Ông này lập An Toàn Hoàng hậu lại lấy Đàm Thị làm phi. Đàm thị là mẹ của Thái tử Long Sảm và Hoàng tử Long Thầm. Đây là triều đại đã xẩy ra loạn Qúach Bốc (1209) buộc Vua chạy lên Tam Nông còn Thái tử về Lưu Gia ở miền biển Thái Bình. Họ Trần họp hương binh đánh về Thăng Long, rước Thái tử về triều, trừng trị phản loạn, đón Cao Tông về triều. Thấy Trần Thị Lý đẹp, Thái tử Sảm lấy làm vợ. Và cuộc hôn nhân Lý-Trần này là bước ngoặt để họ Trần thay thế họ Lý làm chủ Đại Việt.

8. Lý Huệ Tông Long Sảm (1211-1224) thay cha kế nghiệp đã lập người vợ yêu sắc nước hương trời thuộc dòng họ Trần ở Lưu Gia làm Nguyên phi mặc dù không được Đàm Thái hậu ủng hộ.

Mối tình giữa Long Sảm và Trần Thị Dung (con Trần Lý) ban đầu (1209) chỉ là mối  tình của Thái tử chạy loạn với cô gái vùng biển đẹp xinh. Nhưng Trần tộc sớm nhận ra yếu tố chính trị của mối tình này và Trần Thủ Độ đã nén tình riêng để mưu việc lớn. Song Huệ Tông vẫn chưa hẳn đã tin người họ Trần, nghi Trần Thị dung thông mưu làm phản nên đã từng giáng Nguyên phi xuống làm Ngự nữ (1213) đến 1216 sắc phong làm phu nhân Thuận Trinh. Vì quá yêu Trần Thị Dung nên Huệ Tông đã nhiều lần cứu vợ mình thoát chết trước những mưu toan của Thái hậu và có lần đã phải đem Trần Thị Dung đi trốn. Từ những biến cố đó, tình duyên của họ càng mặn nồng và em họ Hoàng hậu (được sắc phong cuối 1216) là Trần Thủ Độ, bộ óc của Trần tộc, được đưa lên giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ nắm giữ toàn bộ binh quyền, quyết định mọi việc của Lý triều và “tình cũ không rủ cũng tới”, Hoàng hậu xinh đẹp, trẻ trung cùng vị tướng đầy quyền uy, mạnh khoẻ đã có những việc làm ngoài lẽ quân thần. Trong khi đó vua chỉ sinh được 2 gái Thuận Thiên (sinh 1216) và Chiêu Thánh (sinh 1218). Công chúa lớn được gả cho Phụng Kiền Vương Trần Liễu. Vua ngày càng rượu chè, bỏ bê chính sự, chỉ nắm hư quyền. Tháng 10 Bính Thân Trần Hoàng hậu cùng quan Thái sư họ Trần ép Vua nhường ngôi cho Chiêu Thánh Công chúa, không nhường ngôi cho các cháu trai của Lý tộc và vào chùa Chân Giáo đi tu. Sau Huệ Tông tự tử mất tại đó. Khi đó Trần Tự Khánh (người Trần Thủ Độ kiêng dè nhất) cũng đã mất, đôi Trần Thị Dung-Trần Thủ Độ không còn kiêng dè gì nữa và thao túng toàn bộ Lý triều. Cuối 1225 Trần Thị Dung thấy Trần Cảnh là cháu ruột (con Trần Thừa - anh của Dung) nhà Lý đã hết vượng khí, quân Nguyên lại lăm le cõi bờ nên đã thông mưu cùng người tình Thái sư Trần Thủ Độ dàn cảnh để CLý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Khi nhà Lý mất ngôi, triều Trần nắm quyền thì tân triều đã tổ chức hôn lễ cho 2 chị em họ. Sau đó Trần Thị Dung được phong là Linh từ Quốc mẫu và bà đã có công không nhỏ trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất (1257). Đối với nhà Trần, với đất nước bà có công song đối với nhà Lý và nền đạo đức phương Đông thì bà lại có tội. 

9. Lý Chiêu Hoàng Phật Kim (1225) là con gái thứ hai được vua cha, dưới sức ép của Thủ Độ lập làm Thái tử và  nhường ngôi khi mới 7 tuổi.

Do đạo diễn của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh, con anh trai Thái hậu là Trần Thừa khi đó 8 tuổi được đưa vào làm Chánh thủ (Đội trưởng Đội Hậu cần). Giữa Nữ hoàng và Chánh thủ có cảm tình và trong lúc vui đùa đã đụng chạm vào nhau. Nhân đó Thủ Độ loan báo Bệ hạ có chồng và ngày 21/10 Ất Dậu ban Chiếu nhường ngôi để nghi lễ trao Long bào cho chồng Vua là Trần Cảnh diễn ra ngày 11/12 năm đó. Nhà Lý qua 8 đời Vua chấm dứt ở vị Nữ hoàng nhỏ tuổi này (Vua thứ 9) và vương quyền về tay họ Trần. Lý Chiêu Hoàng trở thành Nữ hoàng duy nhất của nước ta, là người kết thúc triều Lý, mở ra triều Trần. Sau khi nhường ngôi, Chiêu Hoàng trở thành Hoàng hậu Chiêu Thánh của triều Trần. Nhưng hơn 10 năm sau Chiêu Thánh vẫn không sinh nở, Thủ Độ sợ không người nối dõi nên vào năm 1237 lấy Thuận Thiên (chị Chiêu Thánh, vợ Trần Liễu tức chị dâu Trần Cảnh) làm Hoàng hậu Thuận Thiên, giáng Chiêu Thánh xuống làm Công chúa. Trần Thái Tông muốn chống lại việc vô luân đó cũng không được, Chiêu Thánh uất ức ẩn trong cung sâu.
20 năm sau, vào năm Mậu Ngọ 1258, khi ban thưởng sau chiến thắng quân Nguyên Mông, Thái Tông đã cho Lê Phụ Trần (tức Lê Tần, từng cứu Trần Thái Tông thoát hiểm trong trận Bình Lệ, 1257 thuộc dòng dõi Lê Hoàn) làm Ngự sử đại phu và gả Công chúa Chiêu Thánh cho ông này. Làm vợ tướng quân Lê Tần, Chiêu Thánh sinh được Lê Tông và Ngọc Khuê. Lê Tông sau được phong Thượng Vị hầu, Ngọc Khuê được ban Ứng Thuỵ Công chúa. Còn con người vợ trước của Lê Tần do lập công lớn đã được ban Quốc tính chính là dũng tướng Trần Bình Trọng. Chiêu Thánh thọ 60 tuổi, mất Bính Dần 1278 trong niềm yêu thương của chồng và con.

Việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng đã gợi cho Trần Thủ Độ một bài học và từ đó nẩy ra cái lệ: Vua quan nhà Trần chỉ lấy người nội tộc và thói loạn luân gây hậu quả từ đó mà ra. Nhưng dù muốn hay không sau đó 175 năm nhà Trần vẫn phải dẫm lại bước chân nhà Lý là mất ngôi về tay họ ngoại, họ Hồ.
Như vậy Chiêu Thánh đáng thương hơn đáng trách và bà có công chứ chẳng có tội gì với cả đất nước, hay 2 triều Lý-Trần. Việc Đình Đô chỉ thờ Bài vị 8 Vua nam xem ra chưa mấy công bằng.

menthuong:
Những Công chúa  đem thân  Lá ngọc cành vàng rời lầu son gác tía ra nơi biên cảnh phục vụ chính sách nhu viễn của Vương triều:
Cho đến khi họ Lý nắm quyền thì triều đình phong kiến Việt Nam cũng mới chỉ nắm chặt vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ ngày nay. Còn vùng núi phía bắc xa xôi, tại các châu, động, do điều kiện địa lý và giao thông nên các triều đình phong kiến chưa thực sự đặt được bộ máy cai quản theo đúng nghĩa tại vùng này. Đây là vùng do các tù trưởng người địa phương cai quản, nắm giữ theo chế độ kimi từ đời Đường. Những thổ hào vùng này chịu nộp thuế cho các thế lực nào mạnh hơn và nó là trái độn giữa Đại Việt, Đại Lý, và các triều đại Trung Hoa.

Để nắm giữ và tăng cường ảnh hưởng, ràng buộc, liên kết giữa chính quyền trung ương với các châu mục, thổ ty các địa phương miền núi , nhà Lý áp dụng chính sách nhu viễn và đưa con của mình làm vợ những người này.

1.Vào thế kỷ XI, ở biên giới đông bắc nước Đại Việt có vùng đất tên là Lạng Châu (phía bắc tỉnh Bắc Giang và phía nam Ải Chi Lăng thuộc tỉnh Lạng Sơn nay). Ở đó có Động Giáp mà chúa Động là Giáp Thừa Quý cai quản một bộ lạc dân tộc lớn. Giáp Thừa Quý được vua Lý Thái Tổ gả con gái (chưa tra được tên), trở thành Phò mã của triều đình. Từ đây, ông đổi tên họ Giáp thành họ Thân và lấy tên là Thân Thừa Quý. Đây chính là việc đầu tiên thành lệ các vua nhà Lý gả Công chúa cho dòng hok Thân tù trưởng vùng này.

2. Tiếp theo chính sử có chép chuyện Công chúa Bình Dương, con gái của Lý Thái Tông vào năm 1029 được gả cho Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái. Năm 1059, quan lại nhà Tống lại dụ dỗ một số dân vùng châu Lạng sang Tống, Phò mã Thân Thiệu Thái đưa quân lên vùng biên giới đòi nhà Tống trả lại dân. Tướng Tống ở Ung Châu là Tống Sĩ Nghiêu đem quân đánh sang châu Lạng, bị quân ta do Thân Thiệu Thái chỉ huy đánh cho đại bại và  cùng với các cánh quân khác, Thân Thiệu Thái rầm rộ tiến quân lên Ung Châu, bắt sống tại trận viên chỉ huy quân Tống là Dương Bảo Tài và nhiều quân giặc, trâu, ngựa...Triều đình Tống yếu thế, viện cớ rằng những cuộc xung đột ở biên giới là do các tướng Tống ở biên giới gây ra và phải xin thương lượng với ta. Từ đây dòng họ Thân xứ Lạng nối đời thế tập nắm giữ biên cương xây dựng vùng này trở thành “phên dậu quốc gia” đi đầu trong việc cảnh báo, ngăn chặn các thế lực bành trướng từ Bắc quốc tràn sang.

3. Sau đó người em là Công chúa Kim Thành được gả cho Châu mục châu Phong là Lê Thuận Tông vào năm 1036. Cùng năm gả tiếp Công chúa Trường Ninh cho Châu mục Thượng Oai là Thiện Lãm. Đây là những châu lớn, lắm tiền nhiều người và là áo giáp che chắn cho Kinh thành.

4. Năm 1066, con của Thân Thiệu Thái là Thân Cảnh Phúc được vua Lý Thánh Tông gả con gái là Công chúa Thiện Thành. Đây là vị phò mã thứ 3 của tộc Thân thời 3 vị Vua đầu triều đại nhà Lý. Mối quan hệ hôn nhân giữa các vị đậu mục Thân tộc nói trên với các công chúa  nhà Lý đã góp phần quan trọng giúp đất nước ta, từ Ải Nam Quan đến thung lũng sông Lục Nam, củng cố biên giới chiến thắng quân Tống xâm lược và giữ yên bờ cõi. Sử Tống triều chép rằng nhiều lần họ Thân kéo quân đánh sang đất Tống để đuổi bắt bọn người chạy trốn sang nước ngoài, đánh bại quan quân nhà Tống giữ người không trả.Phò mã Thân Cảnh Phúc, vào đầu năm 1077 đã lãnh đạo quân dân Châu Lạng chiến đấu kiên cường và đầy mưu trí làm tiêu hao sinh lực địch rất nhiều khiến quân Tống phải gọi là “Thiên thần động Giáp”. Cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi của nhà Lý ghi một chiến công hào hùng cho lịch sử dân tộc. Thân Cảnh Phúc đã hi sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến như một vị tướng của quê hương.

5. Đến đời Lý Nhân Tông, vào năm 1082 ông đã đem em mình là Công chúa Khâm Thánh gả cho Châu mục Vị Long là Hà Di Khánh.

6. Năm 1127 Lý Thần Tông gả em mình là Công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Phủ Phú Lương là Dương Tự Minh và 17 năm sau Lý Anh Tông lại gả tiếp cô mình là Thiều Dung cho thủ lĩnh vùng núi phía Bắc kinh thnàh và gia phong ông làm Phò mã Lang. Chính Dương Tự Minh có công lớn giữ yên vùng phía Bắc Thắng Long, được nhân dân suy tôn “Thủ lĩnh áo chám”.

7. Cũng Lý Anh Tông, năm 1148 gả Công chúa Thuỵ Thiên về Châu Lạng.

Trên đây là một số Công chúa triều Lý được gả cho các thủ lĩnh vùng biên viễn, vùng áo giáp để che chắn cho kinh thành. Nhưng khi cần thiết thì vua, con trai vua hay các quan cũng có thể đánh dẹp để đảm bảo khối thống nhất của đất nước. Trong sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có rất nhiều đoạn nói về việc đánh dẹp của các vua đối với các châu (Vị Long, Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên, Định Nguyên, Trệ Nguyên, Thất Nguyên, Văn Châu, châu Hoan v.v). Đỉnh cao là đánh dẹp cha con Nùng Tồn Phúc và Nùng Trí Cao ở châu Quảng Nguyên (1039-1053).

8. Hai Công chúa cuối cùng của Lý triều được gả cho người họ Trần và đó là cái cầu bắc để vương quyền về tay họ khác, bước đệm để hào khí Đông A toả sáng.

Chuyện những “Lá Ngọc cành Vàng” của triều Lý được gả về cho các tù trưởng, các dòng họ có thế lực ở những vùng xung yếu quốc gia đã góp phần củng cố vương quyền, giữ yên xã tắc, đưa đất nước thịnh trị đi lên. Việc làm này không mới với sử Hoa nhưng trong sử Việt, đặc biệt là chính sử thì ghi chép rất mờ nhạt.

 Nếu viết thành truyện chắc lâm ly, hấo dẫn chẳng kém chuyện Tầu. Nhưng ai làm?

menthuong:
Trích dẫn từ: menthuong trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 06:22:29 PM


6. Năm 1127 Lý Thần Tông gả em mình là Công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Phủ Phú Lương là Dương Tự Minh và 17 năm sau Lý Anh Tông lại gả tiếp cô mình là Thiều Dung cho thủ lĩnh vùng núi phía Bắc kinh thnàh và gia phong ông làm Phò mã Lang. Chính Dương Tự Minh có công lớn giữ yên vùng phía Bắc Thắng Long, được nhân dân suy tôn “Thủ lĩnh áo chám”.



Như vậy Dương Tự Minh được lấy tới 2 Công chúa và theo lẽ thường phải là 2 lần Phò mã, vậy sẽ là chức gì? và trong lịch sử Việt Nam, thế giứoi có trường hợp tương tự nào không? (Dĩ nhiên không tính triều Trần bởi ở đó nội tộc lấy lẫn nhau)!

menthuong:
Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Trước đó vua sai Viên ngoại lang Lý Khánh Thần và [30b] vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn, Viên ngoại lang Trần Ngọc Độ và vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sư Lý Sơn,…, sách lập con gái Sơn làm hoàng hậu Lê Thiên,…; thắng Sơn lên tước hầu…”

Ta biết rằng, thời phong kiến những người nắm giữ chức vụ cao đa phần là người hoàng tộc. Hơn nữa Thần Tông (1128-1138) là vua thứ 5 của triều Lý và khi đó họ Lý đã xác lập vương quyền được 118 năm (1128-1010) nên  rất có thể quan Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn (cha Lê Thiên hoàng hậu) là người trong Lý tộc.

Nếu đúng vậy Triều Lý Thần Tông đã đặt tiền lệ cho việc các vua và quan đầu triều lấy vợ trong Hoàng tộc, tức tệ loạn luân cho triều Trần sau này!

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page