Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Một, 2019, 10:47:11 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 61 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:48:40 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

18

NAM TƯ VÀ HY LẠP

        Lúc này cơ hội đã đến, khi phải thi hành quyết định không thể thay đổi, dù có phái hay không đạo quân sông Nil đến Hy Lạp. cần phải có bước quan trọng này, không chỉ để giúp Hy Lạp đang trong hiểm họa và đau khổ, mà còn để hình thành một mặt trận Balkan gồm Nam Tu, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ chống cuộc tấn công của Đức sắp xảy ra, bất chấp những tác động đến nước Nga Xô Viết mà chúng tôi không thể đánh giá được. Những việc này có thể hết súc quan trọng nếu các lãnh tụ Xô Viết thực hiện điều gì đang chợt nảy ra trong óc họ. Không phải điều gì chính chúng tôi có thể đưa ra thì điều đó có thể quyết định lối thoát cho các nước vùng Balkan. Hy vọng có giới hạn của chúng tôi là kêu gọi và tổ chức các hành động một cách thống nhất. Nếu vào lúc chúng tôi vẫy chiếc đũa thần mà Nam Tư, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ tất cả cùng hành động một lúc, thì dường như đôi với chúng tôi, hoặc Hitler có thể tha cho các nước vùng Balkan trong thời gian này, hoặc đánh nhau dữ dội với các nước có lực lượng hỗn hợp của chúng tôi đến mức tạo thành một mặt trận chủ yếu ở đây. Lúc đó chúng tôi không biết rằng y đã sắp đặt một cách sâu sắc từ trước cuộc xâm lược đại quy mô vào nước Nga. Nếu biết được thì lẽ ra chúng tôi đã cảm thây tin tưởng hơn vào thành công của chính sách của chúng tôi. Chúng tôi lẽ ra đã thấy rằng y có cơ lưỡng lự giữa hai con đường và có thể dễ dàng làm suy yếu nhiệm vụ tối cao của mình vì lợi ích của một biện pháp sơ bộ cho vùng Balkan. Đây là điều thực sự đã xảy ra, nhưng lúc đó chúng tôi không thể biết được. Một vài người nghĩ rằng chúng tôi trưởng thành một cách thích đáng, ít nhất chúng tôi cũng trưởng thành tốt hơn chúng tôi biết được. Mục đích của chúng tôi là cổ vũ và liên kết các nước Nam Tư, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ lại với nhau. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải giúp đỡ người Hy Lạp trong chừng mực có thể được. Bốn sư đoàn của chúng tôi được đặt ỏ một vị trí rất tốt trong vùng châu thổ để thực hiện các mục đích này.

*

        Ngày 1 tháng 3, Đức bắt đầu tiến quân vào Bulgaria. Quân đội Bulgaria được động viên và đảm nhiệm các vị trí dọc biên giới Hy Lạp. Quân Đức tiến hành một cuộc tổng nam tiến được người Bulgaria giúp đỡ bằng mọi cách. Hôm sau, ông Eden và tướng Dill lại tiếp tục các cuộc hội đàm quân sự ỏ Athens. Như là kết quả của các cuộc hội đàm này, ông Eden gửi đi một bức điện rất quan trọng, thế là xảy ra một sự thay đổi rõ rệt liên quan đến quan điểm của chúng tôi ở Luân Đôn. Không còn nghi ngờ  gì nữa về những rủi ro nguy hiểm và to lớn của hải quân ở Địa Trung Hải đang thu hút tâm trí mọi người, mặc dù vũng tin vào chính sách của chúng tôi là đúng đắn, đô đốc Cunningham đã bỏ mặc chúng tôi. Các tham mưu trưởng đưa ra những nhân tố khác nhau đang phát triển một cách bất lại trái với chính sách đối với vùng Balkan của chúng tôi và đặc biệt trái với việc đưa quân sang Hy Lạp. Họ tuyên bố rằng "những rủi ro nguy hiểm của việc làm táo bạo này đã tăng lên nhiều". Tuy nhiên cho đến bây giờ, họ không cảm thấy rằng họ có thể nghi ngờ lời khuyên của những người tại chỗ đã mô tả tình thế không phải là không hy vọng chút nào.

        Tối chủ nhật, sau khi suy nghĩ một mình bên bàn cờ về chiều hướng cuộc thảo luận tại Nội các Chiến tranh buổi sáng ấy, tôi gửi bức điện sau đây cho ông Eden, lúc này đã rồi Athens đi Cairo. Điều này dứt khoát thể hiện một quan điểm khác của tôi. Nhưng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định cuối cùng này, bởi vì chắc chắn tôi có thể giữ nó lại hoàn toàn nếu tôi đã bị thuyết phục. Dùng lại thì dễ dàng hơn nhiều, hơn là cứ tiến hành.

 62 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:47:29 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Leathers tình nguyện phục vụ tại Bộ Hàng hải khi chiến tranh bùng nổ năm 1939. Chúng tôi không gặp nhau nhiều khi tôi ở Bộ Hải quân, bởi vì nhiệm vụ của ông ta được chuyên môn hóa và mang tính phụ thuộc. Nhưng năm 1941, trong tình hình căng thẳng của trận Đại Tây Dương và với nhu cầu kết hợp  việc quản lý tàu bè của chúng tôi với tất cả những việc vận chuyển hàng cung cấp bằng đường sắt và đường bộ từ các cảng bị tàn phá thì càng ngày, tôi càng chú ý tới ông. Ngày 8 tháng 5, tôi tìm đến ông. Sau nhiều cuộc thảo luận bàn cãi, tôi tổ chức hai bộ Hàng hải và Giao thông lại thành một bộ máy hoàn chỉnh. Tôi cử Leathers đứng dầu bộ máy này. Nhằm đem lại quyền hành cần thiết cho ông, tôi phong chức Bộ trưởng Vận tải Chiến tranh. Bao giờ tôi cũng ngại đưa người vào những vị trí cao ở cương vị Bộ trưởng ở Hạ viện, nếu họ không được giáo dục trong khá nhiều năm ở đó. Những thành viên có kinh nghiệm của cơ quan có thể làm phiền người mới đến và ông luôn luôn sẽ bị quấy rầy quá đáng do phải chuẩn bị và đọc những bài diễn văn. Bởi vậy tôi đệ trình lên Nhà vua là nên ban Huân tước cho Bộ trưởng mới.

        Từ đó về sau, cho đến kết thúc chiến tranh, Huân tước Leathers vẫn lam chủ Bộ Vận tải Chiến tranh và danh tiếng ông ta mỗi năm mỗi tăng trong bốn năm qua. Ông ta thu phục được lòng tin của các Tham mưu trưởng và của tất cả các bộ trọng nước, củng cố các mối quan hệ mật thiết rất tốt đẹp với các nhà lãnh đạo Mỹ trong lĩnh vục quan trọng này. Ông ta không hòa hợp mật thiết với ai hơn là với ông Lewis Douglas của Bộ Hàng hải Hoa kỳ, sau này là đại sứ ở Luân Đôn. Leathers là người giúp tôi rất cừ trong việc lãnh đạo chiến tranh. Rất hiếm trường hợp ông không thể hoàn thành những nhiệm vụ khó khăn mà tôi giao phó. Nhiều lần khi tất cả những phương pháp của toàn thể nhân viên và của bộ không giải quyết được những vấn đề vận chuyển thêm một sư đoàn hoặc chuyển nó từ tàu Anh qua tàu Mỹ hoặc đáp ứng một nhu cầu khác nào đó, thì tôi có lời thỉnh cầu riêng tới ông, thế là mọi khó khăn dường như biến mất giống như một trò ảo thuật.

        Suốt những tháng nguy kịch này, hai tuần dương hạm chiến đấu của Đức vẫn trong tư thế sẵn sàng ở Brest. Dường như vào bất cứ lúc nào, chúng cũng có thể bất thình lình tiến vào Đại Tây Dương một lần nữa. Chính do không quân Hoàng gia mà chúng vẫn đúng yên không hoạt động. Những trận không kích liên tục nhằm vào chúng trên cảng có kết quả hoàn toàn như vậy đã vô hiệu hóa chúng suốt cả năm. Chăng mấy chốc mà quân địch phải lo đem chúng trở về, nhưng cả đến việc này họ cũng không thể thực hiện được trước năm 1942. Người ta sẽ chứng kiến đúng lúc phân đội phụ trách ven biển của Hải quân và Không quân Hoàng gia nhận trách nhiệm: chúng tôi trở thành người chủ các cửa sông như thế nào, máy bay khu trục của chúng tôi bắn rơi máy bay khu trục Heinkel 111 như thế nào, còn tàu ngầm Đức thì bị chết ngạt trong chính vùng biển mà chúng cố bóp nghẹt chúng tôi, cho đến lúc lại một lần nữa, với vũ khí chiếu sáng, chúng tôi quét tất cả các đường đi vào đảo.

 63 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:46:40 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Việc mở rộng những nỗ lực của quân địch cũng đưa lại những vấn đề cho chính bản thân họ. Vào khoảng tháng 7, ngoài những tàu đang luyện tập, họ có khoảng 35 tàu ngầm ngoai khơi những tàu mới bây giờ trở thành tiên tiến nhưng nó đã vượt quá khả năng về mặt đào tạo thủy thủ ở mức cao và nhất là về mặt thuyền trưởng có kinh nghiệm. Nhũng đoàn thủy thủ "không lành nghề" của các tàu ngầm mới của Đức trên quy mô lớn, gồm những người trẻ không có kinh nghiệm, để lộ sự sa sút về tính ngoan cường, về kỹ năng và việc dàn rộng trận đánh vào trong vùng biển hẻo lánh hơn của đại dương đã phá vỡ sự phối hợp nguy hiểm của tàu ngầm Đức và máy bay. Số lớn máy bay Đức không được trang bị hoặc huấn luyện để hoạt động trên biển. Tuy thế mà trong ba tháng 3, 4 và 5 như nhau, 179 tàu trọng tải 545.000 tấn bị không quân đánh đắm, chủ yếu ở những vùng ven biển. Trong tổng số này thì 40.000 tấn bị phá hủy trong hai trận tấn công ác liệt vào bến cảng Liverpool đầu tháng năm. Tôi biết bọn Đức không kiên trì tấn công mục tiêu nay. Suốt thời gian đó, mối đe dọa âm thầm của mìn từ tính vẫn tồn tại gần các bờ biển chúng tôi, có thu được thắng lợi khác nhau nhưng thắng lợi đó cũng bị giảm bớt. Chúng tôi phát triển và mở rộng các căn cứ ở Canada và Băng đảo với mọi tốc độ có thể và do đó đặt kế hoạch cho các đoàn tàu trong tương lai. Chúng tôi tăng thêm sức chứa nhiên liệu của các tàu khu trục cũ hơn và tiếp theo là tăng thêm tầm hoạt động của chúng, sở chỉ huy hỗn hợp ở Liverpool mới thành lập, nhiệt tình lao vào cuộc chiến đấu. Vì có thêm nhiều đội hộ tống phục vụ và toàn thể cán bộ công nhân viên đều có kinh nghiệm nên Đô đốc Noble tổ chức họ lại thành những tốp thường trực dưới sự chỉ huy của các tư lệnh tập đoàn. Tinh thần đồng đội được cổ vũ và mọi người quen làm việc nhất trí, hiểu rõ những phương pháp của các viên chỉ huy. Các tốp hộ tống này có năng lực hơn bao giờ, và do sức mạnh của họ gia tăng thì sức mạnh của tàu ngầm Đức lại suy sụp.

        Vào quãng tháng sáu, một lần nữa chúng tôi lại bắt đầu chiếm ưu thế. Những nỗ lục cuối cùng đã được thực hiện nhằm cải tiến việc tổ chức các đội hộ tống tàu bè của chúng tôi phát triển vũ khí và thiết bị mới. Những nhu cầu chủ yếu là cho các đội hộ tống nhiều hơn, cho máy bay tầm xa hơn và trước hết cho khá nhiều rađa. Chỉ có máy bay có căn cứ ở bờ biển thì không đủ, mọi đoàn tàu đều cần những máy bay được chở trên tàu để phát hiện bất cứ tàu ngầm Đức nào trong tầm tay đánh được ban ngày, và do bắt buộc nó phải lặn xuống nên ngăn chặn được nó đi lại hoặc gây tiếng nổ có thể kéo các tàu ngầm khác đến nhập cuộc. Máy bay khu trục phóng đi từ các máy phóng máy bay trên các thương thuyền thông thường cũng như trên các tàu đã được cải tạo do hải quân Hoàng gia cung cấp thủy thủ, chẳng mấy chốc đương đầu với cuộc tấn công của máy bay Focke-Wulf. Phi công lái máy bay chiến đấu được tung lên như con chim ưng trực diện với con mồi, muốn khỏi chết phải trông mong vào sự cứu thoát từ mặt biển của một đội hộ tống. Dần dần máy bay Focke-Wulf trở thanh kẻ bị săn đuổi hơn la kẻ đi săn đuổi. Việc xâm lược nước Nga buộc Hitler phải bố trí lại bộ máy đông đảo, và tổn thất của chúng tôi từ đỉnh cao nhất trong tháng 4 là gần ba trăm nghìn tấn thì đến giữa mùa hè đã thu hẹp lại còn khoảng một phần năm.

        Lúc này Tổng thống đi một nước cờ quan trọng khác. Ông quyết định thiết lập một căn cứ ở Băng đảo. Đã thỏa thuận là lực lượng vũ trang Hiệp Chủng Quốc nên thay thế đơn vị đồn trú của Anh. Ngày 7 tháng 7 họ đến Băng đảo và hòn đảo này nằm trong hệ thống phòng thủ của Tây bán cầu. Sau đó, các đoàn tàu của Mỹ do các tàu chiến Mỹ hộ tống, thường xuyên chạy đến Reykjavik, và tuy Hiệp Chủng Quốc vẫn không trong tình trạng chiến tranh, họ nhận cho các tàu ngoại quốc có được sự bảo vệ của các lực lượng hộ tống của họ.

        Vào lúc cuộc chiến đấu lên tới cục điểm, tôi đã thực hiện một trong những vụ bổ nhiệm quan trọng nhất và thuận lợi nhất của chính quyền chiến tranh của tôi. Năm 1930 khi rời khỏi chúc vụ, lần đầu và là lần duy nhất trong đời, tôi nhận chúc giám đốc tại một trong những Công ty chi nhánh của cơ quan viễn dương tuyến đường hàng hải Peninsular và Oriental của Lord Inchcape. Trong tám năm, tôi hoàn thanh nhiệm vụ của mình một cách chu đáo và thường dự các cuộc họp hàng tháng của ban lãnh đạo. Tại các cuộc họp nay, tôi dần dần nhận thấy một người rất đáng lưu ý. ông ta đứng đầu ba mươi hoặc bốn mươi Công ty, một trong số này tôi có quan hệ là một đơn vị nhỏ. Tôi sớm nhận ra Frederick Leathers là bộ não quan trọng nhất và là người có quyền thế điều khiển tập đoàn này. Ông ta hiểu biết mọi việc và có sẵn sự tin cậy tuyệt đối. Năm này qua năm khác, từ vị trí tầm thường của tôi, tôi theo dõi ông ngay kề bên. Tôi tự nhủ: "Nếu có khi nào xảy ra một cuộc chiến tranh nữa, thì đây là con người cũng sẽ giữ vai trò như vậy, như những nhà lãnh đạo công tác thạo giỏi đã phục vụ dưới quyền tôi ở Bộ Quân giới năm 1917 và 1918".

 64 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:45:45 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

*

        Trong tình hình căng thẳng ngày càng tăng, hành động với tất cả quyền hạn dành cho mình với tư cách là Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang, và được qui định trong Hiến pháp Mỹ, Tổng thống bắt đầu chuyển viện trợ quân sự cho chúng tôi. Ông kiên quyết không cho phép tàu ngầm Đức và chiến tranh bằng máy bay oanh tạc đến gần bờ biển nước Mỹ và đảm bảo cho đạn dược gửi sang Anh ít nhất cũng đi được gần nửa đường từ bên này sang bên kia. Xuất phát từ các kế hoạch đã chuẩn bị từ lâu, xuất hiện bản thiết kế rõ ràng về công cuộc phòng thủ chung Đại Tây Dương của hai cường quốc nói tiếng Anh. Vì chúng tôi thấy cần phải mở mang căn cứ ở Băng đảo nên ông Roosevelt áp dụng các biện pháp để thiết lập một căn cứ không quân của riêng ông ở Greenland. Được biết bọn Đức đã lắp đặt những đài báo thời tiết trên bờ biển phía đông trước mặt Băng đảo, nên hành động của ông ta là đúng lúc. Bằng nhiều cách giải quyết khác, không chỉ tàu buôn của chúng tôi mà tàu chiến của chúng tôi bị hư hại trong các trận đánh dữ dội ở Địa Trung Hải và nơi khác nữa, bây giờ có thể được đem sửa chữa tại các xưởng đóng tàu của Mỹ, được trợ giúp ngay tức khắc, rất cần thiết đôi với tài nguyên căng thẳng trong nước của chúng tôi.

        Đầu tháng tư có nhiều tin tức quan trọng. Ngày 11 tháng 4 Tổng thống đánh điện cho tôi rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ mở rộng cái gọi là vùng an ninh và khu vực tuần tra đã có hiệu lục từ rất sớm trong chiến tranh, đến một tuyến bao gồm tất cả vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía tây ở khoảng Tây kinh tuyến 26°. Nhằm mục đích này, ông đề nghị dùng máy bay và tầu của hải quân hoạt động tích cực từ Greenland, đến New Foundland, Nova Scotia, Mỹ, Bermuda và West Indies, có thể sau này mở rộng tới Brazil. Ông đề nghị chúng tôi cho ông biết một cách tối mật sự di chuyển của các đoàn tàu của chúng tôi "để cho các đơn vị tuần tra chúng tôi có thể tìm thấy bất kỳ tàu thủy hay máy bay của các nước xâm lược đang hoạt động phía tây đường tuyến mới của các vùng an toàn", về phần mình, người Mỹ sẽ công bố ngay vị trí của tàu hay máy bay có thể của nước xâm lược, khi vị trí đó được xác định trong vùng tuần tra của Mỹ. Tôi chuyển bức điện này cho Bộ Hải quân với một cảm giác nhẹ nhõm sâu sắc.

        Ngày 18 Chính phủ Mỹ công bố giới tuyến giữa Đông và Tây bán cầu mà Tổng thống nói đến trong bức thông điệp ngày 11 tháng 4. Tuyến này sau đó trở thành biên giới biển thực sự của Hiệp Chủng Quốc. Hiệp Chủng Quốc sẽ tuần tra vùng biển Tây bán cầu và nhân thể sẽ cho chúng tôi biết bất cứ hoạt động nào của địch tại đây. Tuy vậy Hiệp Chủng Quốc vẫn không tham chiến và trong phạm vi hoạt động này, không thể lo việc bảo vệ các đoàn tàu của chúng tôi. Việc này chỉ một mình Anh chịu trách nhiệm trên toàn bộ tuyến đường.

        Ảnh hưởng của chính sách này của Tổng thống là sâu rộng, còn chúng tôi tiếp tục cuộc chiến đấu, mặc dù hải quân Hoàng gia Canada và Hiệp Chủng Quốc đã đảm nhận những phần việc quan trọng trong trách nhiệm nặng nề của chúng tôi. Hơn bao giờ  Hiệp Chủng Quốc đang tiến gần tới chiến tranh, chiều hướng này trên thế giới thậm chí còn được đẩy mạnh hơn nữa do tàu Bismarck xông vào Đại Tây Dương hồi cuối tháng 5. Trong buổi phát thanh ngày 27 tháng 5, ngày thực sự tàu Bismarck bị đánh chìm, Tổng thống tuyên bố "cho đến khi địch ở trong sân trước của chúng ta thì đó là hành động tự sát của họ được chờ đợi. Vì vậy chúng ta đã mở rộng việc tuần tra trong vùng biển Bắc và Nam Đại Tây Dương". Kết thúc bài diễn văn này, Tổng thống tuyên bố : "Tình trạng khẩn cấp toàn quốc không giới hạn".

        Rất rõ ràng là bọn Đức hết súc bối rối trước tất cả những chuyện này, và các đô đôc Raeder và Doeninz van nài Hitler ban cho tàu ngầm Đức quyền hoạt động rộng rãi hơn, cho phép chúng hướng về bờ biển nước Mỹ cũng nhu chống lại tàu biển Mỹ nếu các tàu này được hộ tống hoặc chạy mà không có đèn đuốc. Tuy nhiên Hitler vẫn kiên quyết. Bao giờ y cũng khiếp sợ hậu quả của chiến tranh với Hiệp Chủng Quốc, và nhấn mạnh rằng lực lượng vũ trang Đức phải tránh hành động khiêu khích.

 65 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:44:57 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

*

        Ngày đêm tôi mải suy nghĩ về vấn đề đáng sợ này. Lúc này niềm hy vọng chiến thắng duy nhất chắn chắc của tôi tùy thuộc vào khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài không hạn định cho đến khi giành được sự hơn hẳn áp đảo về không quân và cho đến khi có khả năng xảy ra là nhiều cường quốc vĩ đại khác đứng về phía chúng tôi. Nhưng mối hiểm nguy ghê gớm đối với những con đường huyết mạch của chúng tôi day dứt lòng tôi. Đầu tháng ba, đô đốc Pound báo cáo với Nội các Chiến tranh những vụ đánh chìm tàu đặc biệt nặng nề. Tôi đã xem những con số và sau cuộc họp tại phòng Thủ tướng tại Hạ nghị viện, tôi nói với Pound: Chúng ta đã bắt đầu nâng công việc này lên đến mức cao nhất, trên tất cả mọi việc khác. Tôi sắp sửa công bố "Trận đánh Đại Tây Dương" giống như nét đặc biệt của trận đánh trên đất Anh chín tháng trước, việc này là một tín hiệu nhằm tập hợp tất cả những người tài trí và tất cả các bộ có liên quan đến chiến tranh tàu ngầm của Đức.

        Để theo dõi đích thân việc này một cách chu đáo kỹ lưỡng nhất và kịp thời ra những chỉ thị giải quyết khó khăn trở ngại, và thúc đẩy một số lớn bộ và ngành có liên quan hành động, tôi thành lập Úy ban Chiến đấu Đại Tây Dương, ủy ban họp hàng tuần, tất cả các Bộ trưởng và các quan chúc cao cấp có liên quan của các quân chủng chiến đấu lẫn phái dân sự đều tham dự. Những cuộc họp này thường diễn ra không ít hơn hai tiếng rưỡi. Toàn bộ trận đánh được xem xét kỹ lưỡng, mọi việc được tranh luận triệt để và đi đến kết luận, không có việc gì đưa ra mà không giải quyết. Khắp các nhóm rộng lớn của bộ máy chiến tranh của chúng tôi gồm hàng nghìn con người có tài năng, tận tụy, một bộ phận mới được sắp xếp lại, và từ một trăm khía cạnh, cái nhìn chằm chằm của những con mắt sâu sắc được tập trung.

        Lúc này tàu ngầm Đức bắt đầu sử dụng những phương pháp mới gọi là chiến thuật "bầy chó sói". Chiến thuật này gồm những trận tấn công từ nhiều hướng khác nhau do nhiều tàu ngầm hoạt động cùng một lúc. Lúc này những cuộc tấn công thường tiến hành ban đêm, trên mặt biển, với hết tốc lực. Chỉ những tàu khu trục mới có thể nhanh chóng đuổi kịp tàu ngầm, con Asdic thì gần như bất lực1. Cách giải quyết không chỉ nằm trong việc nhân lên các đội hộ tống chạy nhanh mà nhiều hơn vẫn là trong việc phát triển rađa có hiệu lực, có thể báo trước cho chúng tôi khi tàu ngầm   đến gần. Các nhà khoa học, thủy thủ, và phi công, cố gắng hết sức nhưng kết quả đến một cách chậm chạp. Chúng tôi cũng cần vũ khí từ trên không để diệt tàu ngầm Đức nổi lên mặt nước và cũng cần thời gian để huấn luyện lực lượng vũ trang của chúng tôi sử dụng vũ khí này. Khi cuối cùng cả hai vấn đề nay   được giải quyết thì tàu ngầm Đức một lần nữa bị đẩy lùi vào cuộc tấn công dưới mặt biển, trong cuộc tấn công này, nó có thể phải đối phó với những phương pháp cũ kỹ hơn đã được thử thách. Trong hai năm nữa, việc này không đạt được.

        Trong lúc đó, chiến thuật "đàn chó sói" do người đứng đầu quân chủng tàu ngầm, đô đốc Doenitz nghĩ ra, bản thân ông này cũng là một chỉ huy tàu ngầm trong chiến tranh trước đây, được đại tá hải quân Prien đáng gồm và các chỉ huy tàu ngầm hạng nhất khác áp dụng một cách sôi nổi. Nhưng rồi sự trừng phạt xảy đến. Ngày 8 tháng 3 tàu ngầm U-47 của Prien bị tàu khu trục Wolverine đánh chìm cùng với bản thân y và tất cả thủy thủ, và chín ngày sau, U-99 và U-100 cũng bị đánh chìm trong lúc đang giao chiến trong một cuộc tấn công phối hợp vào một đoàn tàu. Cả hai tàu đều do các sĩ quan nổi tiếng chỉ huy và việc loại ba con người tài năng này đã tác động rõ rệt đến sự tiến triển của cuộc chiến đấu. Vài người chỉ huy tàu ngầm kế tục họ là những kẻ ngang tài ngang sức với họ về khả năng tàn nhẫn và về mặt táo bạo. Trong tháng Ba, 5 tàu ngầm Đức bị đánh chìm trên các ngã đường phía Tây, và tuy chúng tôi cũng chịu những tổn thất nặng nề, lên đến 243.000 tấn, do tàu ngầm Đức và thêm nữa 113.000 tấn do máy bay tiến công, thì hiệp thứ nhất của trận Đại Tây Dương có thể nói là đã kết thúc với tỷ số hòa.

        Nhận thấy các ngả đường phía Tây quá khó khăn, tàu ngầm Đức di chuyển xa hơn về phía Tây, đi vào vùng biển mà ở đây, từ khi các cảng phía Nam Ireland khước từ chúng tôi thì chỉ có một vài đội hộ tống tàu nhỏ của chúng tôi có thể đi đến đó, và không thể có lực lượng không quân yểm hộ. Các đội hộ tống của Vương quốc Anh chỉ có thể bảo vệ các đoàn tàu của chúng tôi hơn khoảng một phần tư đường đi đến Halifax. Đầu tháng tư một "đàn chó sói" tấn công một đoàn tàu ở kinh tuyến 28o về phía Tây trước khi đội hộ tống đến với nó. Mười trong số hai mươi hai tàu bị đánh chìm, phía địch chỉ mất có một tàu ngầm. Bằng cách này cách khác, chúng tôi phải trù tính nới rộng tầm tay, hoặc đòi chúng tôi sẽ phải tính từng ngày.

        Giữa Canada và Anh là các đảo New Foundland, Greenland và Băng đảo. Tất cả những đảo nay nằm gần sườn con đường ngắn nhất, hay là vòng tròn hình cầu, giữa Halifax và Scotland. Những lực lượng vũ trang đóng trên các bàn đạp nay có thể làm chủ toàn bộ tuyến đường theo khu vực. Greenland hoàn toàn không có tài nguyên, nhưng hai đảo khác thì có thể nhanh chóng được sử dụng tốt có hiệu quả. Người ta từng nói: "Ai chiếm Băng đảo thì người ấy cầm súng vững chắc chĩa vào Anh, Mỹ và Canada". Chính là dựa vào ý kiến này mà với sự tán thành của nhân dân trên đảo chúng tôi đã chiếm giữ Băng đảo khi quân địch tràn vào Đan Mạch năm 1940 và tháng 4 năm 1941 chúng tôi thiết lập các căn cứ ở đây cho các tập đoàn hộ tống và không quân. Từ đó chúng tôi mở rộng phạm vi hoạt động của các đội hộ tống trên mặt biển đến 35o về hướng Tây. Tuy thế vẫn còn lại một kẽ hở đáng ngại về hướng Tây không thể khắc phục được trong thời gian này. Tháng Năm một đoàn tàu từ Halifax bị tấn công dữ dội ở 41o về hướng Tây, tổn thất chín tàu trước khi được tiếp viện.

        Rõ ràng không gì khác hơn đội hộ tống nối đầu vào nhau từ Canada đi Anh là đủ, và ngày 23 tháng 3 Bộ Hải quân đề nghị các chính quyền Canada và New Founland sử dụng căn cứ John Newfounland làm căn cứ tiền phương cho các lực lượng hộ tống  chung của chúng tôi. Lời đề nghị được hưởng ứng lập tức, và vào cuối tháng việc hộ tống liên tục trên toàn tuyến đường rốt cuộc được thực hiện. Sau đó Hải quân Hoàng gia Canada đảm nhận trách nhiệm bảo vệ các đoàn tàu trên khu vực phía tây của tuyến đương biển này bằng tài xoay sở của chính mình. Từ Anh và từ Băng đảo, chúng ta có thể bảo vệ phần còn lại của hành lang này. Mặc dù vậy số quân hiện có sẵn sàng để sử dụng của chúng tôi vẫn còn là ít một cách nguy hiểm, con tổn thất thì cứ tăng lên một cách quá quắt. Trong ba tháng kết thúc vào tháng 5, một mình tàu ngầm Đức đánh đắm 142 tàu trọng tải 818.000 tấn trong đó có 99 chiếc là của Anh.

-----------------
        1. Asdic: Anti submarine detection investigation committee - Ủy ban điều tra nghiên cứu phát hiện chống tàu ngầm.

 66 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:43:46 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Cuộc tấn công của tàu ngầm Đức có một khía cạnh khác. Dĩ nhiên từ đâu, trước hết Bộ Hải quân nghĩ đến việc đưa các tàu an toàn vào cảng và coi như hạn chế việc bị đánh chìm đến mức tối thiểu là thắng lợi. Nhưng bây giờ điều này là một sự thử nghiệm không lâu hơn nữa. Tất cả chúng tôi đều nhận thức rõ ràng cuộc sống và cố gắng chiến tranh của xứ sở đều tùy thuộc vào trọng lượng hàng nhập khẩu được đưa vào bờ an toàn. Trong tuần lễ kết thúc vào ngày 8 tháng 6, ở Pháp trong thời gian trận đánh đã lên tới tột đỉnh, chúng tôi đã đem vào nước gần một triệu hai trăm năm mươi nghìn tấn hàng, không kể dầu. Từ cao điểm này đến cuối tháng Bảy, con số hàng nhập sụt xuống còn dưới 750.000 tấn mỗi tuần. Mặc dù đến tháng 8 thực tế có khá hơn thì số lượng trung bình hàng tuần lại sụt, và trong ba tháng cuối năm thì hơn 800.000 tấn một chút. Càng ngày tôi càng lo lắng về số hàng nhập khẩu tụt xuống một cách đáng ngại. Giữa tháng 2 năm 1941 tôi lưu ý Bộ trưởng Hải quân "Tôi thấy rằng tàu vào có hàng trong tháng giêng không bằng nửa cùng thời gian năm ngoái".

        Quy mô thực sự và sự cải tiến các biện pháp bảo vệ của chúng tôi - đoàn tàu hộ tống, việc nghi binh, việc giải từ, việc dọn quang mìn, việc tránh xa Địa Trung Hải - việc kéo dài phần lớn các chuyên đi xa về thời gian và quãng đường, những chuyện chậm trễ ở các cảng do oanh tạc và do lúc tắt đèn phòng không, tất cả những sự việc này đã giảm bớt khả năng vận chuyển thực tế của tàu bè chúng tôi đến một mức thậm chí còn nghiêm trọng hơn những tổn thất thực sự. Mỗi tuần các cảng chúng tôi càng chật ních hơn và chúng tôi bị tụt lại đăng sau hơn nữa. Đầu tháng ba trên hai triệu sáu trăm nghìn tấn hàng chất đống lại do tàu bị hư hỏng, hơn một nửa số tàu đó không di chuyển được vì cần phải sửa chữa.

        Chẳng mấy chốc cộng thêm vào tai họa tàu ngầm là máy bay có tầm xa đi đầu tấn công trên đại dương. Trong độ này có loại Focke-Wulk 200 được gọi là kềnh kềnh khoang cổ là ghê gớm nhất, tuy vậy may thay lúc đầu chỉ có một vài chiếc. Chúng có thể xuất phát từ Brest hay Bordeaux, bay về bên phải, vòng quanh nước Anh, tiếp nhiên liệu lại ở Na Uy để rồi ngày hôm sau làm một cuộc hành trình khứ hồi. Dọc đường nhất định chúng thấy ở xa những đoàn tàu rất lớn gồm bốn hoặc năm chục chiếc trong cuộc hành trình đang di chuyển vào hoặc ra, việc thiếu thốn đội hộ tống đã buộc chúng tôi phải sử dụng đến những tàu rất lớn này. Chúng có thể tấn công các đoàn tàu này hoặc những chiếc riêng lẻ bằng bom phá, hoặc có thể báo hiệu những vị trí để tàu ngầm Đức đang chờ hướng vào chặn đánh.

        Đội tuần dương hạm hùng mạnh của Đức cũng tích cực hoạt động. Lúc này chiếc Scheer ở phía Nam Đại Tây Dương đang tiến về phía Ân Độ Dương, trong ba tháng nó tiêu diệt mười tàu tổng cộng sáu vạn tấn và sau đó thành công trong việc mở đường về Đức. Chiếc Hipper đang ẩn nấp ở Brest. Cuối tháng Giêng hai chiếc tuần dương hạm chiến đấu Schamhorst và Gneisenau, trong một thời gian dài, đã bù đắp lại sự thiệt hại bị giáng xuống Na Uy, được lệnh thực hiện một lần xuất kích vào Bắc Đại Tây Dương, trong lúc chiếc Hipper tiến hành đột kích tuyến đường từ Sierra Leone. Trong cuộc tuần tra hai tháng trên biển, chúng đánh chìm và bắt giữ hai mươi tàu trọng tải đến một trăm mười lăm nghìn tấn. Chiếc Hipper tấn công một đoàn tàu trên đường trở về nước ở gần nhóm đảo Azores, đoàn tàu này chua được đội hộ tống nối ghép lại, và trong một cuộc tấn công man rợ kéo dài một giờ, nó phá hủy bảy trong số mười chín tàu, không hề tìm cách cứu vót những người sống sót, và hai ngày sau thì trở lại Brest. Những con tàu ghê gớm này đã buộc phải sử dụng gần nhu mọi tàu bè chủ yếu của Anh có thể có vào nhiệm vụ hộ tống. Vào một thời kỳ nhất định Tổng tư lệnh Hạm đội Quốc gia chỉ có trong tay một chiếc tàu chiến.

        Tàu Bismarck chưa có trong danh sách hoạt động. Lẽ ra Bộ Hải quân Đức phải đợi cho nó và chiếc Tirpitz bạn đồng hành của nó, được hoàn thành. Hitler không còn cách nào có thể sử dụng hai tàu chiến khổng lồ của mình có hiệu quả hơn là giữ cả hai chúng lại trong tư thế sẵn sàng trong vùng biển Baltic và thỉnh thoảng cho phép tung ra ngoài những tin đồn về một cuộc xuất kích sắp xảy ra. Như vậy, lẽ ra chúng tôi buộc phải tập trung ở Scapa Flow hoặc quanh quanh gần đó,

        hầu như mọi tàu bè hiện đại của chúng tôi, tạo cho nó có thể có mọi lợi thế để lựa chọn cơ bội thích hợp mà không phải ở trong trạng thái căng thẳng lúc nào cũng phải sẵn sàng. Vì tàu bè  phải định kỳ sửa chữa lại nên việc duy trì một khoảng cách hợp lý về sức mạnh trội hơn hẳn có thể gần như là vượt ra ngoài khả năng chúng tôi, và bất kỳ một sự rủi ro nào cũng có thể phá vỡ khoảng cách đó.

 67 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:43:12 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

17

TRẬN ĐẠI TÂY DƯƠNG

        Điều duy nhất đã từng làm cho tôi sợ hãi trong chiến tranh là hiểm họa tàu ngầm Đức. Tôi nghĩ rằng mọi sự xâm lược ngay cả dưới sức ép của không chiến cũng nhất định thất bại. Sau chiến thắng của không quân thì đây là trận đánh khá lớn đối với chúng tôi. Đây là loại trận đánh mà ai trong hoàn cảnh chiến tranh tàn bạo, cũng phải lao vào. Nhưng lúc này con đường huyết mạnh của chúng tôi, ngay cả ở bên kia các đại dương bao la, và đặc biệt là tại các lối đi vào đảo, đang trở thanh nguy hiểm. Thậm chí tôi càng lo lắng về trận đánh này hơn là khi tôi tùng lo lắng về trận không chiến vẻ vang gọi là trận đánh trên đất Anh.

        Bộ Hải quân mà tôi vốn có quan hệ thân thiện chặt chẽ nhất, cùng chia sẻ những nỗi lo ngại của tôi, vì đây là trách nhiệm hàng đầu của họ phải bảo vệ bờ biển chúng tôi khỏi sự xâm lược và giữ cho các con đường huyết mạch không bị tắc nghẽn với xã hội bên ngoài. Lực lượng hải quân bao giờ cũng xem đây là nhiệm vụ chủ yếu, thiêng liêng, không tránh được. Như vậy là chúng tôi cùng nhau suy nghĩ cân nhắc về vấn đề này. Nó không cần kiểu đánh trận ra hiệu bằng pháo sáng và thành tích chói lọi. Tự nó biểu lộ nhờ các thông kê, biểu đồ, và những chỗ quanh co mà mọi người không biết, công chúng không hiểu.

        Liệu chiến tranh tàu ngầm của Đức sẽ làm giảm bớt hàng nhập và việc chuyên chở bằng tàu bè của chúng tôi là bao nhiêu? Liệu có bao giờ nó đạt tới điểm mà sự sinh tồn của chúng tôi bị hủy diệt? ở đây không có vận động viên nào thể hiện động tác hay làm chuyện giật gân mà chỉ có bản vẽ nhạt nhẽo, buồn tẻ những đường tuyến trên các hải đồ chỉ rõ sự tiêu diệt tiềm tàng. Không có giá trị nào trong những quân đội dũng cảm sẵn sàng lao vào kẻ xâm lược hoặc trong một kế hoạch tốt đẹp cho chiến tranh ở sa mạc được so sánh với việc này. Hoặc lương thực, nguồn cung cấp, và vũ khí từ Tân Thế Giới và từ các nước thuộc đế quốc Anh vượt các đại dương, đến nơi, hoặc thất bại không đến được. Với toàn bộ vùng bờ biển Pháp từ Dunkirk tới Bordeaux trong tay họ, bọn Đức không mất thời gian trong việc tạo ra những căn cứ cho tàu ngầm và không quân phối hợp của họ trong lãnh thổ bị chiếm đóng. Từ tháng Bảy trở đi, chúng tôi buộc phải làm trệch hướng việc vận chuyển hàng bằng tàu của chúng tôi từ các lối vào ở phía nam Ireland, ở đây dĩ nhiên chúng tôi không được phép để máy bay khu trục. Tất cả phải đi vào vòng quanh Bắc Ireland. Ở đây, nhờ ơn Chúa, vùng Ulster đã cung cấp một người lính gác trung thành. Hai con sông Mersey và Clyde là hai lá phổi để chúng tôi thở. Dựa vào bờ biển phía đông và trong biển Manche, những tàu nhỏ tiếp tục đi lại dưới cuộc tấn công luôn luôn ngày càng tăng của không quân, của tàu ven biển loại nhẹ và của mìn, và chuyến đi của mỗi đoàn tàu giữa con sông Forth và Luân Đôn mỗi ngày tự nó trở thành gần nhu một trận đánh.

        Những tổn thất giáng vào tàu buôn của chúng tôi trở nên nghiêm trọng nhất trong thời gian mười hai tháng từ tháng 7 năm 1940 đến tháng 7 năm 1941, khi chúng tôi có thể khẳng định rằng Anh đã thắng trận Đại Tây Dương. Ngày 22 của tuần cuối tháng 9 năm 1940 là ngày tệ hại nhất từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh và những vụ tàu bị đánh chìm nhiều hơn bất kỳ vụ nào chúng tôi phải chịu cùng thời gian năm 1917. Sức ép không ngừng tăng lên và tổn thất của chúng tôi đã vượt quá số đóng mới một cách đáng sợ. Nguồn tài nguyên rộng lớn của Hiệp Chủng Quốc chỉ đang được sử dụng một cách chậm chạp. Chúng tôi không thể trông mong thêm nữa vào của trời cho về tàu bè như của trời cho theo sau việc tàn phá Na Uy, Đan Mạch và các nước Bỉ, Hà, Lục hồi mùa xuân 1940. Hai mươi bảy tàu bị đánh chìm, trong số này nhiều chiếc ở trong đoàn tàu hộ tống ở Halifax, và trong tháng 10 một đoàn tàu được hộ tống khác ở Đại Tây Dương bị tàu ngầm Đức tàn sát, hai chục tàu bị đánh chìm trong số ba mươi tư chiếc. Trong lúc tháng 11 và tháng 12 tới gần, các lối vào cửa sông của hai con sông Mersey và Clyde, về ý nghĩa trọng đại, vượt xa tất cả các nhân tố khác trong chiến tranh. Dĩ nhiên chúng tôi lúc này có thể bất ngờ tấn công Valera’s Ireland và lấy lại những cảng phía Nam bằng sức mạnh của vũ khí hiện đại. Tôi luôn luôn tuyên bố rằng không có cái gì ngoài bản năng tự bảo toàn có thể ảnh hưởng đến hành động của tôi đối với việc này. Thậm chí biện pháp cứng rắn này có thể đem lại kết quả làm dịu bớt tình hình. Phương thuốc duy nhất chắc chắn là phải bảo đảm việc ra vào tự do trên hai con sông Mersey và Clyde. Ai cũng hiểu rằng người lặn ngập sâu dưới biển tùng phút phụ thuộc vào ống thông hơi. Anh ta sẽ cảm thấy gì nếu có thể thấy một đàn cá mập đang ngày càng tăng ngoạm vào ông thông hơi? Đặc biệt khi mà càng không có khả năng kéo người anh ta lên khỏi mặt nước. Đối với chúng tôi thì không có mặt nước. Người lặn xuống nước là bốn mươi sáu triệu dân trên một hòn đảo chật ních, đang tiến hành một công việc chiến tranh rộng lớn khắp thế giới, do nhu cầu tự nhiên và do sức hút bị néo chặt dưới đáy biển. Lũ cá mập có thể làm gì đối với ống thông hơi của anh ta? Làm thế nào anh ta có thể trách chúng hay tiêu diệt chúng?

 68 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:42:12 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Tại cuộc họp, thủ tướng ông Korysis đọc cho ông nghe một tuyên bố trình bày kết quả cuộc thảo luận của Nội các Hy Lạp trong một hay hai ngày qua. Vì bản tuyên bố này tạo thành cơ sở cho hoạt động của chúng tôi nên tôi nêu ra toàn bộ nhiệm vụ cụ thể như sau: "Tôi mong muốn nhắc lại hết sức dứt khoát rằng Hy Lạp, với tư cách là một đồng minh trung thành, kiên quyết tiếp tục chiến đấu bằng tất cả các lực lượng của mình cho đến thắng lợi cuối cùng. Quyết định này không giới hạn vào trường hợp của Ý mà sẽ áp dụng cho bất kỳ cuộc xâm lược nào của Đức... dù kết quả thế nào, và dù Hy Lạp có hay không có hy vọng nào đẩy lùi quân địch ở Macedonia thì Hy Lạp cũng quyết tâm bảo vệ lãnh thổ quốc gia của mình, dù cho chỉ dựa vào sức lực của chính mình". Chính phủ Hy Lạp đã làm cho chúng tôi hiểu rõ rằng quyết định của họ đã được thực hiện trước khi biết liệu chúng tôi có thể giúp đỡ họ hay không. Lúc đó ông Eden giải thích rằng chúng tôi ở Luân Đôn, hoan toàn nhất trí với các Tổng Tư lệnh ở Trung Đông, chúng tôi kiên quyết dành cho Hy Lạp sự viện trợ đầy đủ nhất theo khả năng của chúng tôi. Nhiều cuộc họp quân sự và tham mưu được tiến hành cả đêm và ngày hôm sau, và Eden gửi cho chúng tôi bức điện quan trọng nhất sau đây:

        "Tất cả chúng tôi lấy làm khâm phục sự chân thành và cách xử sự ngay thẳng của các đại diện Hy Lạp trên tất cả các vấn đề được thảo luận. Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng đó là quyết tâm của họ dốc hết sức lực của mình ra để kháng chiến, và Chính phủ Hoàng gia không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc ủng hộ cho dù kết quả cuối cùng là gì chăng nữa... Tất cả chúng tôi tin chắc rằng chúng ta đã chọn được cách giải quyết đúng đắn, và vì đã đến giờ phút cuối cùng, chúng tôi chắc rằng ngài nhất định không muốn chúng tôi chậm trễ trong việc hỏi ý kiến chi tiết trong nước. Rủi ro lớn, nhưng có cơ may thành công...".

        Dựa vào các thông báo này kèm theo sự tán thành của cả hai ông Dill và Wawell, Nội các quyết định hoàn toàn phê chuẩn các kế hoạch đề xuất.

        Lúc này, ông Eden đi tiếp đến Angora, tham dự các cuộc họp thảo luận kéo dài với những người Thổ Nhĩ Kỳ. Báo cáo của ông là không khích lệ. Họ nhận thức rõ những hiểm nguy của bản thân họ cũng sâu sắc như chúng tôi, nhưng họ tin chắc rằng lực lượng chúng tôi có thể dành cho họ, sẽ không đủ để tạo một sự chênh lệch thực sự nào cho một trận đánh thực sự. Vì không có khả năng tấn công, họ cho rằng sự nghiệp chung sẽ được phục vụ tốt hơn do Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đứng ngoài cuộc chiến cho đến khi nào những nhược điểm của họ được bù đắp và họ có thể được sử dụng với hiệu quả tối đa. Nếu bị tấn công dĩ nhiên họ phải tham gia. Tôi hiểu rõ tình thế của Thổ Nhĩ Kỳ đã trở nên hiểm nghèo biết bao nhiêu. Rõ ràng không thể xem hiệp ước chúng tôi đã tạo ra với họ trước chiến tranh như là ràng buộc họ trong những tình huống đã thay đổi. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1939 người Thổ đã động viên đội quân dũng cảm, mạnh mẽ, và khá đông của họ. Nhưng việc này hoàn toàn dựa vào hoàn cảnh cuộc Đại chiến lần thứ nhất. Bộ binh Thổ Nhĩ Kỳ sung súc nhất từ trước đến nay còn pháo binh đã chiến thì chỉnh tề. Nhưng từ tháng 5 năm 1940, họ không có một vũ khí hiện đại nào tỏ ra quyết định. Việc thiết kế và chế tạo máy bay non yếu và thô sơ một cách thảm hại. Họ không có xe tăng hoặc xe thiết giáp, cũng không có xuống chế tạo và bảo quản chúng, cũng không có người và bộ phận được đào tạo sử dụng chúng. Họ hầu như không có pháo phòng không hay pháo chống tăng. Hệ thống dịch vụ tín hiệu của họ còn thô sơ. Họ chưa biết gì về ra đa, và những phẩm chất thiện chiến của họ cũng không bao gồm bất kỳ năng khiếu nào về những phát minh hiện đại này.

        Mặt khác Bulgaria đã được Đức vũ trang trên qui mô lớn bằng khối lượng hết sức nhiều đồ trang bị và mọi thứ lấy được của Pháp, và các nước Bỉ - Hà - Lục như là thành quả của các trận đánh năm 1940. Vì vậy Đức có nhiều vũ khí hiện đại để vũ trang cho các Đồng minh của họ. về phần mình chúng tôi đã tổn thất nhiều ở Dunkirk, phải phát triển đội quân quốc gia chống xâm lược và đương đầu với sức ép liên tục của các cuộc ném bom của Đức vào các thành phố cũng như duy trì cuộc chiến ở Trung Đông, chúng tôi chỉ có thể cung cấp hết sức dè sẻn và phải hy sinh những nhu cầu cấp bách khác. Trong những hoàn cảnh nay, quân Thổ ở Thrace, ở vào thế bất lợi nghiêm trọng và gần như vô vọng so với quân Bulgaria. Nếu thêm vào mối nguy hiểm này là những phân đội máy bay và thiết giáp thậm chí chỉ là vừa phải của Đức, thì sức nặng đè lên Thổ Nhĩ Kỳ có thể chứng tỏ rõ ràng là không thể chịu nổi. Chính sách hay là hy vọng duy nhất suốt giai đoạn này của cuộc chiến tranh mở rộng mãi nằm trong một kế hoạch có tổ chức, thống nhất các lực lượng của Nam Tư, Hy Lạp và Thổ, và bây giờ chúng tôi đang cố gắng thực hiện việc này. Viện trợ của chúng tôi cho Hy Lạp trước tiên giới hạn trong một số phi đội trước đây đã gửi sang Ai Cập, lúc Mussolini lần đầu tấn công Hy Lạp. Giai đoạn tiếp đó là cung cấp các đơn vị kỹ thuật mà phía Hy Lạp không nhận với những lý do không phải là vô lý. Lúc này chúng tôi đến giai đoạn thứ ba. Trong giai đoạn này, dường như có thể thực hiện một sườn an toàn và chắc chắn ở sa mạc đằng sau Benghazi và tập trung đạo quân lớn nhất trong số đang tác chiến hoặc dự trữ chiến lược có thể có được ở Ai Cập.

        Cho đến bây giờ, chúng tôi chưa có biện pháp nào đi quá việc tập hợp lực lượng dự trữ chiến lược lớn nhất có thể có được ở vùng châu thổ và chuẩn bị kế hoạch, chuẩn bị tàu bè để vận chuyển một đạo quân sang Hy Lạp. Nếu tình thế thay đổi do Hy Lạp thay đổi hoàn toàn chính sách hoặc do một sự kiện nào khác, thì chúng tôi cũng phải ở trong tư thế tốt nhất để xử lý tình huống đó. Sau khi lâm vào cảnh    khó khăn 0 ép như thế, thật là dễ chịu khi có thể kết thúc một cách tốt đẹp các chiến dịch ở Abyssinia, Somali, Eritrea và đưa các lực lượng lớn vào "cuộc tấn công ồ ạt" ở Ai Cập. Trong lúc không thể tiên đoán hay dự báo ý định của kẻ địch hoặc phản ứng của các nước bạn bè trung lập, chúng tôi dường như có nhiều sự lụa chọn quan trọng khác nhau còn để ngỏ. Tương lai vẫn còn khó nhìn thấu, nên lúc này không có một sư đoàn nào được tung ra hoạt động.

 69 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:41:54 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

*

        Trong cuộc chiến tranh lớn, không thể chia công việc quân sự ra khỏi công việc chính trị. Xét cho cùng phải xem mặt quân sự là duy nhất và quan trọng nhất và thậm chí họ đã nói đến những lý do chính trị với nhiều thái độ khinh thường nhất định. Danh từ "công việc chính trị" đã bị làm cho rối rắm, thậm chí bị làm cho lu mờ, kết hợp nó với các công việc chính trị của đảng phái. Như vậy nhiều tài liệu của thế kỷ bi thảm nay theo quan niệm cho rằng trong chiến tranh chỉ có lý do quân sự là đáng quan tâm, và những người lính bị cản trở cách nhìn nghề nghiệp của họ do sự xâm nhập của các nhà chính trị vì lợi ích riêng, hoặc đảng phái, đã làm nghiêng cán cân đáng sợ của cuộc chiến đấu. Những cuộc tiếp xúc hết sức bí mật riêng biệt thường xảy ra nhiều giữa Nội các Chiến tranh, các Tham mưu trưởng và bản thân tôi hoan toàn không có những ý kiến về đảng phái. Ở Vương quốc Anh vào lúc này, đã giảm bớt những nỗi bất hòa này tới mức thấp nhất.

        Trong lúc cuộc chiến tranh với quân Ý ở Đông Bắc châu Phi tiếp tục thắng lợi, và quân Hy Lạp chiến đấu dũng cảm ở Albania, thì tất cả những tin tức chúng tôi nhận được về việc di chuyển và ý đồ của quân Đức cho thấy rõ rằng Hitler sắp sủa can thiệp trên qui mô lớn vào vùng Balkan và Địa Trung Hải. Từ đầu tháng Giêng tôi đã hiểu rõ việc số lượng lớn không quân Đức đến Sicily, việc này sẽ uy hiếp Malta và tất cả mọi hy vọng của chúng tôi lấy lại sự giao thông xuyên qua biển nội địa. Tôi cũng lo ngại quân Đức, có thể đoán chừng là lực lượng thiết giáp, di chuyển vào Tripoli. Chúng tôi có thể không nghi ngờ  kế hoạch của họ tiến tới thiết lập một hành lang bắc nam xuyên qua Ý đến châu Phi, đồng thời cùng với những biện pháp đó cắt đứt tất cả các cuộc chuyển quân của chúng tôi về hướng đông và hướng tây vào Địa Trung Hải.

        Thêm vào đó, lúc này còn xảy ra việc đe dọa các nước vùng Balkan kể cả Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, họ bị lôi kéo hoặc bị ép buộc gia nhập chế độ Hitler hoặc họ bị xâm chiếm nếu họ không tuân theo. Phải chăng cũng cùng phương pháp ghê tởm đó mà chúng tôi đã chứng kiến ở Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ và Pháp lại được sao chép lại ở Đông Nam châu Âu? Có phải tất cả các nước vùng Balkan kể cả Hy Lạp anh hùng, đều lần lượt bị chinh phục và Thổ Nhĩ Kỳ bị cô lập, đều buộc phải mở đường cho các quân đoàn Đức đến Palestine, Ai Cập, Iraq và Ba Tư chăng? Có phải không có cơ may tạo ra một sự đoàn kết các nước vùng Balkan, và một mặt trận chung vùng Balkan có thể khiến cho cuộc xâm lược gây hấn vừa mới bắt đầu của Đức phải chịu quá hao tiền tốn của? Phải chăng sự kiện kháng chiến của các nước vùng Balkan đối mặt với Đức không thể gây ra những trận phản công quan trọng và có ích ở nước Nga Xô Viết đó sao? Nhất định đây là một khu vực trong đó các nước vùng Balkan đều bị tác động vì quyền lợi, và thậm chí vì tình cảm, chừng nào mà họ thừa nhận điều đó nhằm ảnh hưởng đến những tính toán hơn thiệt của họ. Từ những tiềm lực quân sự và kinh tế đã được sử dụng quá mức nhưng đang ngày càng tăng, chúng ta có thể cung cấp phần đóng góp đặc biệt tối đa để kích động tất cả những quốc gia này có quyền lợi như nhau trên qui mô lớn, đi vào hành động cho một sự nghiệp chung chăng? Mặt khác, hoặc chúng tôi phải lo công việc của riêng mình, chuẩn bị cho chiến dịch của chúng tôi ở đông bắc châu Phi được thắng lợi, bỏ mặc cho Hy Lạp, các nước vùng Balkan và có thể Thổ Nhĩ Kỳ và tất cả những nước nfo khác nữa ở Trung Đông sụp đổ?

        Một quyết định dứt khoát như vậy lẽ ra đã làm cho tinh thần được thư thái nhiều, và điều này có thể có được sự ủng hộ trên lý thuyết của nhiều sĩ quan, giữ những vị trí phụ thuộc, đã nêu ra những ý kiến của họ. Nhất định các tác giả này đã có hoàn cảnh thuận lợi để vạch ra những điều bất hạnh mà chúng tôi phải chịu, nhưng họ không có kiến thúc để cân nhắc đầy đủ kết quả của chính sách đối lập kia có thể như thế nào? Nếu sau một trận đánh nào, Hitler đã có thể bắt Hy Lạp phải đầu hàng và toàn bộ các nước vùng Balkan phải gia nhập vào chế độ của y, sau đó buộc Thổ Nhĩ Kỳ phải để cho quân của y đi qua về hướng Nam và hướng Đông, thì có lẽ là y sẽ không thể thỏa thuận với những người Xô Viết về việc chinh phục và chia cắt những vùng rộng lớn này, và hoãn việc tranh chấp cuối cùng không thể tránh với họ đến một nhiệm vụ sau của chương trình của y chăng? Hay, có lẽ đúng hơn, la phải chăng y đã không thể tấn công nước Nga bằng số quân hiện có lớn hơn vào một thời điểm sớm hơn? vấn đề chủ yếu mà những chướng tiếp theo sẽ điều tra và vạch trần là có phải Chính phủ Hoàng gia bằng cuộc chiến đấu của mình, đã tác động một cách dứt khoát hoặc thậm chí một cách đáng kể, đối với những cuộc chuyến quân của Hitler ở Nam Âu không, và hơn nữa có phải cuộc chiến đấu đó không tạo ra những hậu quả trước nhất đối với thái độ của nước Nga và sau đó là đối với vận mệnh của họ không.

        Suốt tháng Giêng và tháng Hai, chúng tôi tiếp tục nhận được những tin tức tốt lành từ Trung Đông. Malta đã được tăng viện và chỉ vừa mới qua khỏi cuộc tấn công dữ dội ác liệt đầu tiên của không quân Đức vào Sicily. Sự chinh phục Eritrea, Somalia và Abyssinia của đế quốc Ý đang được hoàn tất. Trong hai tháng, đạo quân Sa mạc đã tiến năm trăm dặm, tiêu diệt hơn chín sư đoàn quân Ý, chiếm cứ thành phố Banghazi và toàn bộ vùng Cyrenaica. Nhưng mặc dù những chiến thắng nay, các vấn đề cả về ngoại giao và quân sự đều nghiêm trọng và phúc tạp đang bị đe dọa, mà tướng Wawell đã cáng đáng quá nhiều, đến nỗi tại cuộc họp của Ủy ban phong thủ ngày 11 tháng 2, phải quyết định phái Bộ trưởng Ngoại giao và tướng Dill Tổng Tham mưu trưởng Hoàng gia đến gặp ông ta ở Cairo. Từ đây, Eden cùng với Wawell, Dill và một số sĩ quan khác bay đi Athens bàn bạc với Vua và chính phủ Hy Lạp.

 70 
 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:40:35 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

*

        Trong lúc Đức tiếp tục không kích, nhưng đặc biệt khác thường, vào cuối năm 1940 Hitler hiểu rằng không thể tàn phá Vương quốc Anh hoàn toàn bằng tấn công không quân. Trận đánh trên đất Anh đã là thất bại đầu của y, còn việc ném bom hiểm ác các đô thị cũng không làm cho dân tộc hay chính phủ của Anh sợ hãi. Việc chuẩn bị xâm lược nước Nga đầu mùa hạ năm 1941 đã thu hút nhiều sức mạnh không quân Đức. Rất nhiều trận oanh kích dữ dội mà chúng tôi đã chịu đựng, không còn tiêu biểu cho toàn bộ sức mạnh của quân địch. Đối với chúng tôi những cuộc đột kích đó là cực kỳ tai hại nhưng chúng không còn là sự quan tâm hàng đầu hoặc của Bộ Tư Lệnh Tối Cao Đức hoặc của Hitler. Đối với Hitler, việc tiếp tục tấn công Vương quốc Anh bằng không quân là tấm màn che cần thiết và tiện lợi cho việc tập trung chống lại nước Nga. Biểu thời gian lạc quan chủ nghĩa của y cho rằng người Xô Viết cũng như người Pháp sẽ bị đánh bại hoàn toàn trong một chiến dịch sáu tuần lễ và rằng tất cả lực lượng quân đội Đức lúc ấy sẽ rảnh rỗi để dứt khoát đánh bại hoàn toàn Vương quốc Anh, vào mùa thu năm 1941. Trong lúc đó dân tộc cứng đầu, cứng cổ này bị kiệt sức dần, một là do sự phối hợp phong tỏa của tàu ngầm Đức được không quân có tầm xa yểm trợ, hai là do các cuộc không kích vào các đô thị và đặc biệt là vào các cảng. Đối với quân Đức thì chiến dịch Sư Tử Biển (chống Anh) lúc này được thay thế bằng chiến dịch Barbarossa (chống Nga). Hải quân Đức được chỉ thị tập trung đánh vào giao thông của chúng tôi ở Địa Trung Hải, còn không quân Đức thì tập trung đánh vào các cảng và các lối vào cảng. Đây là một kế hoạch rất kinh người hơn việc ném bom bừa bãi xuống Luân Đôn và dân thường, và cũng may cho chúng tôi là việc này không tiếp tục với tất cả những lực lượng sẵn có và cũng không dai dắng lắm.

        Trong tháng Giêng và tháng Hai quân địch thất bại vì thời tiết xấu và ngoài các cuộc tấn công Cardiff, Portsmouth và Swansea ra thì các ngành dân quân tự vệ của chúng tôi giành được một thời gian nghỉ xả hơi rất xứng đáng mà họ không quên lợi dụng. Nhưng khi thời tiết tốt hơn thì những cuộc không kích của Đức lại bắt đầu diễn ra. Điều được gọi là "Cuộc kinh lý các cửa biển của Không quân Đức Quốc xã" bắt đầu vào tháng Ba. Nó gồm những trận tấn công đơn hay kép, tuy dữ dội nhưng không làm tê liệt nổi các cảng của chúng tôi. Ngày 8 và trong ba đêm liền tiếp theo, Portsmouth bị tấn công dữ dội, nhiều xưởng sửa chữa và đóng tàu bị hư hại. Ngày 11 Manchester và Salford bị tấn công. Vào ngày 13 và 14 lần đầu tiên Không quân Đức ồ ạt ập xuống vùng sông Clyde, giết và làm bị thương hơn hai nghìn người, làm tê liệt nhiều xưởng đóng tàu, một số đến tháng 6, một số khác đến tháng 11 mới hoạt động lại. Cho đến tháng 4 không có những trận đánh dữ dội nào, ngày 8 địch tập trung đánh vào Coventry. Sự và chạm rõ ràng nhất trong phần còn lại của xứ sở là ở Portsmouth. Ngày 16 và 17 Luân Đôn chịu những trận tấn công dữ dội, hơn hai nghìn ba trăm người bị giết, hơn ba nghìn người bị thương nặng. Kẻ địch tiếp tục cố gắng tàn phá phần lớn các cảng chính của chúng tôi bằng những trận tấn công kéo dài, trong một số trường hợp kéo dài cả một tuần lễ và Bristol bị tàn phá tan tành. Plymounth bị tấn công từ ngay 21 đến 29 tháng 4, và mặc dù hỏa lực dụ địch nhằm cứu nguy các xưởng sửa chữa và đóng tàu, nhưng cuối cùng cũng phải trả giá bằng cả thành phố này. Cuộc đánh phá lên đến đỉnh cao nhất ngày 1 tháng 5 khi Liverpool và Mersey bị tấn công bảy đêm liền. Bảy vạn sáu nghìn người không con nhà của, ba nghìn người bị giết và bị thương. Sáu mươi chín trong số một trăm bốn mươi tư nơi tàu bỏ neo bị tê liệt và trọng tải đưa lên bờ trong một lúc giảm tới một phần tư. Nếu kẻ địch cứ kiên trì thì trận đánh ở Đại Tây Dương thậm chí được chỉ huy sát sao hơn như đã diễn ra. Nhưng như thường lệ, họ bỏ đi. Trong hai đêm họ nã pháo dữ dội vào Hull, phá hủy nhà ở của bốn vạn người, phá hủy các của hàng lương thực, còn các nhà máy kỹ thuật công trình hàng hải bị tê liệt gần hai tháng. Trong tháng này họ đánh phá Belfast lần nữa, nơi đây đã hai lần bị không kích.

        Trận tấn công tệ hại nhất cũng là trận cuối cùng. Ngày 10 tháng 5 quân địch quay lại Luân Đôn với bom cháy. Chúng đã gây ra hơn hai nghìn đám cháy, và đã phá tan gần một trăm năm mươi ống dẫn nước chính nối liền với thủy triều ở mức thấp nhất của dòng sông Thames, chúng ngăn cản chúng tôi dập tắt các ngọn lửa. Đến sáu giờ sáng hôm sau, hàng trăm đám cháy được báo cáo là chưa bị dập tắt và bốn đám cháy vẫn còn cháy tới đêm 13. Đó là trận tấn công tàn phá nhất trong toàn bộ các cuộc tấn công trên không chớp nhoáng vào ban đêm của Đức. Năm xưởng đóng tàu và bảy mươi mốt địa điểm then chốt mà một nửa là các nhà máy, bị đánh trúng. Gần như một trong số các nhà ga xe lửa quan trọng nhất bị tắc nghẽn hàng mấy tuần lễ, mãi đến đầu tháng 6 mới hoàn toàn thông đường. Trên ba nghìn người bị giết hay bị thương, về nhiều phương diện khác, trận này cũng được ghi vào lịch sử. Nó phá hủy Hạ viện. Chỉ có một quả bom mà tạo nên cảnh đổ nát trong nhiều năm. Tuy vậy chúng tôi cũng vui mừng là phòng họp không có người. Mặt khác các khẩu đội pháo và máy bay khu trục đánh đêm của chúng tôi đã tiêu diệt mười sáu máy bay địch, dù sao cũng là con số cao nhất chúng tôi đạt được trong chiến đấu ban đêm.

        Việc này, dù chúng tôi không biết là điệu vũ sôi động để ra đi của kẻ địch. Ngày 22 tháng 5 Kesselring dời tổng hành dinh của đội máy bay của y đến Posen, và đầu tháng 6 toàn bộ lực lượng di chuyển về phía Đông. Gần ba năm trôi qua trước khi tổ chức dân quân tự vệ của chúng tôi ở Luân Đôn phải đối phó với những cuộc tấn công chóp nhoáng "có tính chất trẻ con" của không quân Đức hồi tháng 2 năm 1944 và cuộc tấn công dữ dội sau đó của tên lửa và bom bay. Trong mười hai tháng từ tháng 6 năm 1940 đến tháng sáu năm 1941 số thương vong thường dân của chúng tôi là 43.381 bị giết và 50.856 bị thương nặng, tổng cộng là 94.237.

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM