Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Tư, 2017, 02:58:51 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:35:18 PM 
Tác giả hong c9d3e866 - Bài mới nhất gửi bởi Phicôngtiêmkích
Ngày này cách đây đúng 50 năm thì Không quân Mỹ tập trung đội hình lớn bao gồm các máy bay cường kích F-105 và tiêm kích F-4 yểm hộ đánh vào các mục tiêu quanh Hà Nội. Bộ Tư lệnh Không quân quyết định giao nhiệm vụ chiến đấu cho cả MiG-17 và MiG-21 tham chiến. Sau những trận đánh bị tổn thất lớn đầu tháng 1-1967, MiG-21 tạm dừng bay để rút kinh nghiệm và huấn luyện bổ sung. Đây là thời cơ để MiG-21 quay trở lại tham chiến và giành thắng lợi.
 Biên đội MiG-17 bao gồm Nguyễn Văn Bảy, Hà Đình Bôn, Nguyễn Thế Hôn và Nguyễn Bá Địch cất cánh đánh tốp máy bay địch trên vùng trời Vĩnh Yên. Cùng vào thời gian đó, biên đội MiG-21 của Vũ Ngọc Đỉnh, Trần Thiện Lương, Lê Trọng Huyên và Đồng Văn Song cũng cất cánh từ sân bay Đa Phúc lên chặn đánh tốp F-105 và F-4C ngay trên đỉnh sân bay Đa Phúc.
 Tuy nhiên, trận đánh ngày 26-4-1967 không thành công đối với cả hai loại máy bay MiG-17 và MiG-21. Theo văn bản nhật ký ghi chép thì Trung đoàn KQ 923 tổ chức đánh 4 trận, 4 biên đội cất cánh, có biên đội cất cánh 2 lần nhưng hiệu quả không đạt được yêu cầu. Trong không chiến, do khâu hiệp đồng không tốt nên phi công Trần Thiện Lương bay trên MiG-21 bị bắn nhầm và đã hy sinh.
Câu chuyện của nửa thế kỷ trước là vậy đấy.

Còn trở lại trang nhà thì cám ơn Xuanv338 đã giải thích cho anh em chúng tôi rõ hơn. Thật đúng là như trong các chuyện dài truyền kỳ, bao giờ cũng có câu "Hồi sau sẽ rõ !". Vậy là Giangtvx yên tâm nha ! Xuanv338 mới điểm xạ phát một thôi !. Mà sao Xuãv338 lại dịch nghĩa Giangtvx là "Tào Giang" được nhỉ ?. Thú vị thật đấy !.
Ngày mai thì tôi có chuyến đi Phú Thọ thăm mấy anh phi công bị ốm. Nếu về sớm và không quá mệt mỏi , tôi sẽ tiếp tục hầu chuyện các đồng đội sau.

 2 
 vào lúc: Hôm nay lúc 11:18:18 AM 
Tác giả menthuong - Bài mới nhất gửi bởi loc85c5
Người Việt thường có câu: "ăn quả nhớ người trồng cây", " ăn cây nào rào cây đó".
Nhưng người Việt không quên, vẫn khắc cốt ghi tâm những xương máu, những chiến sĩ đã ngã xuống để giữ vững chủ quyền, cũng chẳng quên những sinh mạng của người dân vô tội trong năm 1979, và trận Gạc Ma- Cô Lin-Len Đao. Ơn là một chuyện, xương máu, sinh mệnh là một chuyện, chủ quyền là một chuyện, chúng ta cũng nên ghi nhớ.

 3 
 vào lúc: Hôm nay lúc 08:24:32 AM 
Tác giả menthuong - Bài mới nhất gửi bởi Cuong Vu
Trung Quốc là nước đóng vai trò chủ chốt và to lớn nhất trong tiến trình giải phóng dân tộc thế kỷ qua. Đạn dược và tên lửa từ Liên Xô sẽ không tới Việt Nam được nếu không thông qua lãnh thổ Trung Quốc. Trung Quốc cũng chi viện cho Việt Nam rất nhiều dù trải qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn những năm 1950-1960. Dù quan hệ hai nước đã chuyển sang đối địch từ sau chiến tranh chống Mỹ nhưng vai trò của họ vẫn phải được nhìn nhận khách quan.

 4 
 vào lúc: Hôm nay lúc 08:18:54 AM 
Tác giả Cuong Vu - Bài mới nhất gửi bởi Cuong Vu
Chiến tranh thế giới thứ I là cuộc chiến chủ yếu ở Châu Âu, với hai phe Hiệp Ước (Entente: gồm Anh, Pháp, Nga và sau này là Mỹ) chống lại phe Trung Tâm (Đức, Áo-Hung và Thổ Nhĩ Kỳ). Các nước nhỏ như Rumanie, Bulgarie và Italie chỉ tham chiến về sau.

Theo các bác, nước nào có hệ thống quân sự mạnh nhất thời kỳ này?

 5 
 vào lúc: Hôm nay lúc 08:04:35 AM 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
       Hitler gõ gõ ngón tay lên bản đồ. Ông ta hét lên, “Steiner! Steiner! Steiner!” Quốc trưởng đã tìm ra đáp án. Ông ta quyết định để quân của tướng SS Felix Steiner tấn công tức thời từ khu rừng Eberswalde, bên hông Tập đoàn quân Thiết giáp 3 của Von Manteuffel; rồi tiến về phía nam, chặn mũi tiến công Berlin của quân Nga. Cuộc tấn công của Steiner sẽ khép lại khoảng cách bị hở ra khi cánh phía bắc của Tập đoàn quân 9 của tướng Busse bại trận. Trên bản đồ, đó có vẻ là một bước đi khôn ngoan. Hiện tại, mũi tiến công của Zhukov có dạng mũi tên, xuất phát từ sông Oder, mũi hướng thẳng vào Berlin. Dọc sườn phía bắc của Zhukov có một lá cờ nhỏ, trên đó ghi “Nhóm Steiner.” Hitler thấy tự tin trở lại. Cuộc tấn công của Steiner sẽ tái thiết lập mối liên hệ giữa Tập đoàn quân 3 với Tập đoàn quân 9.

      Kế hoạch của ngài Quốc trưởng chỉ có một chỗ không ổn. Steiner gần như không có lính. Trước đó, Heinrici đã quyết định để Steiner chỉ huy các nhóm tàn quân bị quân Nga đẩy lui về phía bắc. Không may là, do hỗn loạn trên diện rộng ngoài mặt trận, thêm nữa là thời gian thiếu hụt, nên không thể tập trung đủ quân để hình thành Nhóm Steiner được. Thực sự thì không có Nhóm Steiner nào cả. Nhưng cái tên đó vẫn tồn tại, và cả lá cờ nhỏ trên bản đồ của Hitler cũng thế.

      Hitler gọi cho Steiner. Steiner nói, “Theo tôi nhớ thì cú điện thoại đó là vào khoảng 8 giờ rưỡi hay 9 giờ gì đó. Nguyên văn lời của Hitler là thế này: ‘Steiner, anh có biết là ngài Thống tướng [Goering] có một đội quân riêng ở Karinhall không? Cần giải tán đội quân này và đưa ra chiến trường ngay lập tức.’ Trong lúc tôi còn đang cố đoán điều đó nghĩa là thế nào thì ông ta nói tiếp, ‘Tôi đã ra lệnh mọi phương tiện có thể thu thập được ở giữa Berlin và biển Baltic cho tới Stettin và Hamburg cần được đưa vào cuộc tấn công này.’ Tôi phản đối, nói là đội quân do tôi chỉ huy không có kinh nghiệm, rồi tôi hỏi chính xác thì cuộc tấn công sẽ diễn ra ở đâu, và ngài Quốc trưởng không trả lời tôi. Ông ta cứ thế gác máy. Tôi hoàn toàn không biết mình phải tấn công bằng cái gì, ở đâu, và khi nào.”

      Steiner gọi cho Krebs, giải thích tình hình của mình và nói với Chỉ huy trưởng của OKH là ông không có quân. “Rồi tôi nhớ lại việc Hitler đột nhiên gác máy. Lúc đó, tôi đang giải thích với Krebs là quân của tôi hoàn toàn không hề có kinh nghiệm, và bọn tôi cũng không có vũ khí hạng nặng. Hitler giảng cho tôi một tràng và chốt lại thế này, ‘Steiner, rồi anh sẽ thấy. Anh sẽ thấy. Bọn Nga sẽ phải chịu thất bại nặng nề nhất trước ngưỡng cửa Berlin.’ Tôi nói với ông ta rằng tôi thấy tình hình Berlin đã vô vọng rồi. Thế là tôi bị lơ luôn.”

      Không lâu sau đó, Steiner có lệnh tấn công chính thức. Đoạn cuối tờ lệnh viết:
     “Cấm không được rút lui về phía tây. Sĩ quan nào không tuân thủ mệnh lệnh này sẽ bị bắt và bị xử bắn ngay lập tức. Anh, Steiner, phải lấy đầu mình ra đảm bảo thực hiện mệnh lệnh này. Số phận của thủ đô tùy thuộc vào thành công của anh.
      ADOLF HITLER.”


     Sau khi nói chuyện với Steiner, Hitler gọi Tham mưu trưởng Không quân là tướng Koller đến. Hitler cao giọng nói, “Giao toàn bộ không quân có thể huy động được ở miền bắc cho Steiner chỉ huy và đưa tới chỗ ông ấy. Sĩ quan nào giữ người sẽ bị xử bắn trong vòng 5 tiếng đồng hồ. Nói cho họ biết như thế.” Rồi ông ta thét: “Anh, anh đó, lấy đầu anh ra mà đảm bảo thằng nào cũng phải ra trận.”

      Koller ngây người ra. Đây là lần đầu ông nghe nói tới Nhóm Steiner. Ông gọi điện cho tướng Dethleffsen ở OKH hỏi, “Steiner đang ở chỗ nào? Chúng ta phải đưa quân đi đâu?” . Dethleffsen cũng không biết, nhưng hứa sẽ nhanh chóng tìm hiểu.

      Suốt quãng thời gian điên rồ này, có một người lại không hề hay biết gì về toàn bộ kế hoạch, đó là Heinrici. Khi chuyện tới tai ông, Heinrici liền gọi cho Krebs. Heinrici giận dữ nói, “Steiner không đủ lực để tấn công. Tôi phản đối mệnh lệnh này. Tôi cực lực yêu cầu để Tập đoàn quân 9 rút lui. Nếu không làm thế thì đội quân duy nhất còn lại để bảo vệ Hitler và Berlin cũng sẽ tiêu tùng đấy Krebs. Giờ tôi nói cho anh biết, nếu đề nghị cuối cùng này không được chấp thuận, thì tôi sẽ xin từ chức.” Heinrici hỏi có thể để ông gặp Hitler để bàn bạc về tình hình được không. Krebs thẳng thừng bác bỏ. Ông ta nói, “Việc đó là không thể nào. Quốc trưởng đã quá tải rồi.”

      Chính xác thì, Heinrici viết về kết quả của cuộc nói chuyện trên trong nhật ký chiến tranh của ông như sau: “Tôi khẩn khoản yêu cầu các quan chức cấp cao hãy ghi nhớ rằng họ phải có trách nhiệm với binh lính, nhưng tôi đã bị từ chối bằng một câu, ‘Trách nhiệm đó thuộc về Quốc trưởng.’”

      Sinh mệnh của Cụm Tập đoàn quân Vistula đang dần đi tới hồi kết. Heinrici biết họ chỉ có thể cầm cự thêm vài ngày nữa. Sự nghiệp của ông có vẻ cũng sắp tiêu tan rồi. Viên thượng tướng hiểu rất rõ, sự ngoan cố không chịu khuất phục của mình về cách đánh trận chiến sắp thua tới nơi này sẽ bị Krebs coi là kiểu tư tưởng chủ bại tồi tệ nhất. Trong đêm 21/4, Heinrici được tin Tham mưu trưởng của Cụm Tập đoàn quân Vistula, tướng Eberhard Kinzel sẽ bị thay thế mà không hề báo trước. Người sẽ đảm nhiệm vị trí đó là Thiếu tướng Thilo von Trotha, một trong những môn đồ hăng hái nhất của Hitler. Heinrici tin là Krebs cố ý đưa Von Trotha tới đây để gây ảnh hưởng lên các quyết định của ông. Nếu vậy thì ông ta đã uổng công.

       Heinrici nói với Đại tá Eismann, “Tôi biết thằng cha Von Trotha này. Có lẽ hắn ta cũng khá thông minh đấy, nhưng luôn thích thêm mắm dặm muối; thuộc dạng lạc quan điên rồ.” Ông mỉa mai, “Người đâu cứ ở trên mây.” Heinrici quyết định, khi Von Trotha tới, ông sẽ cô lập hắn ta hoàn toàn và sẽ chỉ bàn bạc với Eismann mà thôi. Làm lơ kẻ được Hitler sủng ái là một bước đi nguy hiểm, nhưng giờ Heinrici không rảnh bận tâm đến điều đó.

       Trước rạng đông ngày 22, Heinrici lại nhận được thông báo thứ hai. Sĩ quan chỉ huy Berlin, tướng Reymann gọi điện cho ông và nói, “Tôi bị cách chức rồi.” Vụ việc diễn ra sau đó thì cứ như một tuồng hề. Người kế nhiệm Reymann là một nhân vật cao cấp khác trong đảng Nazi, một đại tá Kaether nào đó, một kẻ vô danh tiểu tốt tới mức tên riêng của ông ta đã bị biến mất trong dòng chảy lịch sử. Kaether lập tức được thăng vượt cấp lên hàm thiếu tướng, bỏ qua hàm chuẩn tướng. Ông ta vui sướng dành cả ngày để gọi điện báo tin cho bạn bè. Đến chiều tối thì Kaether lại trở về với hàm đại tá, và bị cách chức: Hitler quyết định tạm thời tự mình chỉ huy.

      Trong khi đó, người có tương lai gắn bó chặt chẽ với những ngày tháng cuối cùng của thành phố lại đang gặp rắc rối nghiêm trọng. Tướng Karl Weidling đã mất liên lạc hoàn toàn với các sở chỉ huy, kể cả với cấp trên trực tiếp của ông là tướng Busse. Quân đoàn Thiết giáp 56 của Weidling đã quá sức tơi tả, và thường xuyên bị Tập đoàn quân tăng Cận vệ 1 của tướng Katukov bao vây, tới mức ông đã mất toàn bộ liên lạc với các đồng nghiệp. Người ta đang đồn ầm lên là Weidling cố ý rút lui, mà Weidling thì chẳng thể nào bác bỏ tin đồn được. Chuyện tới tai Hitler. Và cả Busse nữa. Sau khi đợi tin tức trong gần 24 giờ đồng hồ, cả hai đã ra lệnh bắt giữ và xử bắn Weidling ngay tức khắc.


                                *************

 6 
 vào lúc: Hôm nay lúc 08:02:43 AM 
Tác giả star - Bài mới nhất gửi bởi Cuong Vu
Tôi đã dịch gần hết Nguyên Sử, An Nam Truyện Quyển 129 kèm theo chú thích từ nhiều sách chữ Hán khác và các tài liệu nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài:

http://dammenghiencuulichsu.blogspot.com

Do thời gian dịch đã gần 3 năm mà công tác dịch thuật ngày càng nhiều nên có lẽ tôi sẽ không thể update được trong tương lai gần.

Bản dịch còn thiếu phần chú dẫn chi tiết cho trận Bạch Đằng, đó là vì tôi chưa bên nên sắp xếp như thế nào để người đọc không bị rối. Đa số nội dung không nằm trong An Nam Truyện mà ở các liệt truyện khác.

 7 
 vào lúc: Hôm nay lúc 08:00:11 AM 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
     
 Elfriede Wassermann và chồng bà, Erich đã trốn trong căn hầm rộng lớn nằm cạnh nhà ga Anhalter. Erich bị mất chân trái ở chiến trường Nga hồi năm 43,và chỉ có thể đi lại bằng nạng. Trước đó, ông đã nhanh chóng nhận ra tiếng pháo nổ, và giục vợ xuống hầm. Elfriede đã gói ghém đồ đạc của hai người vào hái cái vali và hai túi to khác. Bà cho chiếc quần lính cũ của Erich lên trên quần áo của mình, và cho áo len cùng áo lông của mình lên trên cùng. Vì chồng bà phải chống nạng bằng cả hai tay, nên bà chất một túi lên lưng ông, cái còn lại quàng trước ngực. Một trong hai túi chứa đồ ăn: mấy ổ bánh mì vỏ cứng, vài lon thịt và rau đóng hộp. Elfriede bỏ một hũ bơ lớn vào một chiếc vali. Lúc họ tới được nhà ga Anhalter, căn hầm ở đó đã chật cứng. Elfriede cuối cùng cũng tìm được một chỗ cho hai người ở bên cầu thang. Một ngọn đèn sáng yếu ớt treo trên đầu họ. Trong ánh sáng lờ mờ, có thể thấy người ta đứng chật kín từng tấc đất, từng bậc cầu thang của tòa nhà. Tình hình trong hầm thực không thể tin nổi. Tầng trên dành cho người bị thương, tiếng rên la của họ vang vọng cả ngày lẫn đêm. Nhà vệ sinh không dùng được vì không có nước; nên phân vương vãi khắp nơi. Ban đầu mùi hôi thối làm người ta thấy phát ói, nhưng ròi Elfriede và Erich cũng quen dần. Họ cứ ngồi đó thờ ơ, hầu như không nói chuyện, không biết bên ngoài đang xảy ra chuyện gì. Chỉ có một điều len lỏi vào tâm trí họ: tiếng trẻ con la hét liên hồi. Nhiều bậc cha mẹ đã hết sữa và đồ ăn. Elfriede thấy “ba em bé đưa đưa xuống từ tầng trên, và cả ba đều đã chết đói.” Ngồi cạnh Elfriede là một phụ nữ trẻ với đứa con chừng ba tháng tuổi. Ở trong hầm được một thời gian, Elfriede chợt nhận thấy đứa bé không còn nằm trong vòng tay mẹ nữa. Nó đang nằm trên nền xi măng ngay cạnh Elfriede, và đã chết. Người mẹ như đã dại đi. Elfriede cũng vậy; bà nhớ là “tôi thấy đứa bé đó chết nhưng lại chẳng thấy buồn thương gì cả.”

      Trên đường Potsdamerstrasse, văn phòng của Cục Du lịch đang bị bắn phá. Trong căn hầm 44 phòng có hơn hai nghìn người, và bà Margarete Promeist phụ trách căn hầm này bận rộn không ngơi tay. Ngoài dân chúng ra, mới đây còn có hai tiểu đoàn Volkssturm vừa chuyển vào, vì Margarete được bảo là “quân Nga đang đến ngày càng gần.”

      Liên tục bị làm phiền và sắp gục tới nơi, Margarete cực kỳ biết ơn cú điện thoại bà vừa nhận được cách đây không lâu. Một người bạn thân đã tình nguyện tới đây đem cho bà ít đồ ăn. Khi bà quay vào hầm thì có 44 dân thường bị thương được đưa từ ngoài đường xuống đây. Margarete vội vàng đi hỗ trợ những người bị thương.

      Một trong số bọn họ không thể cứu được nữa – bà lặng lẽ ngồi cạnh thi thể người bạn đem đồ ăn đến cho mình, Margarete thấy “ghen tị với nụ cười nhẹ nhàng và bình yên của cô ấy. Ít ra cô ấy sẽ không phải đi trên Con đường khổ nạn (*).”

      Trong khi ai nấy đều chạy xuống hầm trú ẩn trong suốt trận chiến thì dược sĩ Hans Miede lại đang đi tuần, làm giám sát không kích cho hầm trú ẩn công cộng ở số 61 đường Bismarckstrasse, quận Charlottenburg. anh căm ghét đứng nhìn tấm áp phích trên tường tòa nhà đối diện, trong khi đạn đại bác đang nổ ầm ầm xung quanh. Dòng chữ to đùng trên đó viết “GIÂY PHÚT TRƯỚC BÌNH MINH LÀ LÚC TĂM TỐI NHẤT.”

       Với bác sĩ Rudolf Hückel thì bình minh thật là xa xôi. Bà Annemaria vợ ông đã lo lắng cho nhà nghiên cứu bệnh học xuất chúng này suốt mấy tuần nay. Bà tin là ông sắp bị suy nhược thần kinh. Không lâu trước đó, ông đã cho bà xem một viên thuốc cyanide mà ông đã tăng cường độc tính cho nó bằng cách cho thêm axit acetic. Ông nói với bà, nếu tình hình Berlin xấu đi, bọn họ sẽ tự tử.

       Từ lúc đó, bà Hückel đã thấy được “mức độ nghiêm trọng và sự vô nghĩa của chiến tranh, và cơn giận dữ của chồng tôi với Hitler đã choáng hết tâm trí ông ấy.” Sức chịu đựng của bác sĩ Hückel đã tới giới hạn. Sau mấy tiếng đồng hồ nghe tiếng pháo nổ, ông bác sĩ đột ngột đứng dậy, chạy ra mở cửa sổ và hét to hết cỡ, “Der Kerl muss umgebracht werden!” – Phải giết thằng cha đó [Hitler]!

                           ******************

……………………
      (*): Nguyên văn Via Dolorosa, là một con đường tại thành cổ Jerusalem. Chúa Jesus đã vác cây thập giá đi đến chỗ đóng đinh trên con đường này – ND.


 8 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:57:27 AM 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
   

      3.


       Âm thanh đó khác hẳn những thứ dân Berlin từng nghe, không giống tiếng bom rơi xé gió, cũng không hề  giống tiếng hỏa lực phòng không nổ đùng đùng. Khách mua đang xếp hàng ngoài tiệm tạp hóa Karstadt ở quảng trường Hermannplatz hoang mang nghe ngóng: tiếng động trầm thấp đó từ xa vọng tới, rồi to dần thành tiếng rít khủng khiếp xé tai. Nhất thời, khách mua hàng như bị mê hoặc. Rồi thình lình hàng người vỡ ra tán loạn. Nhưng đã quá muộn. Những quả đạn pháo đầu tiên bắn vào thành phố nổ ầm ầm trên khắp quảng trường. Những mảnh thi thể đập vào mặt tiền cửa hàng lát ván. Ngoài đường, đàn ông và phụ nữ nằm rên la quằn quại vì đau đớn. Lúc đó là đúng 11:30 trưa thứ 7 ngày 21/4. Berlin đã biến thành tiền tuyến.

      Đạn pháo bắt đầu bắn vào khắp nơi. Những lưỡi lửa lan trên các mái nhà khắp trung tâm thành phố. Các tòa nhà vốn đã bị bom làm suy yếu đổ sụp xuống. Xe hơi nằm chổng ngược và bốc cháy bừng bừng. Cổng Brandenburg bị trúng đạn, một cái gờ đắp nổi bên trên rớt xuống dưới đường. Đạn pháo cày nát từ đầu này tới đầu kia đại lộ Unter den Linden; lâu đài Hoàng gia vốn đã bị hư hại sẵn giờ lại bùng cháy. Tòa nhà Quốc hội cũng vậy, mấy thanh xà nhà chống đỡ cho cái mái vòm đổ sụp, sắt thép rơi xuống như mưa. Trên đường Kurfürstendamn, người ta chạy loạn xạ, làm rơi cặp táp, túi xách tùm lum, chạy từ nhà này qua nhà khác. Ở công viên Tiergarten cuối đường, một chuồng ngựa bị trúng đạn trực tiếp. Tiếng ngựa hí hòa cùng tiếng khóc la của người ta; một giây sau, mấy con ngựa lao ra khỏi biển lửa, chạy tán loạn trên đường Kurfürstendamn, đuôi và bờm cháy phừng phừng.

     Đạn pháo thi nhau trút xuống thành phố một cách có hệ thống đàng hoàng. Phóng viên Max Schnetzer của tờ báo Thụy Sĩ Der Bund, đứng bên cạnh Cổng Brandenburg, ghi lại rằng cứ mỗi 5 giây lại có ít nhất một quả đạn pháo rơi xuống trung tâm khu hành chính của chính phủ ở đường Wilhelmstrasse. Rồi sau đó sẽ ngừng khoảng nửa phút tới một phút, rồi bom đạn lại ập xuống tiếp. Từ chỗ đứng, anh có thể thấy lửa bốc lên cao từ phía nhà ga Friedrichstrasse. Sau này anh viết, “Vì khói và bụi mù làm tán xạ ánh sáng, nên trông cứ như mây đang sà xuống ngay bên trên ngọn lửa vậy.” Những nơi khác trong thành phố cũng bị đạn bắn dày đặc như vậy. Ở quận Wilmersdorf, Ilse Antz cùng mẹ và chị gái thấy cả tòa nhà đang rung chuyển. Hai cô bé nhào xuống sàn nhà. Bà mẹ bám vào khung cửa la hét, “Chúa ơi! Chúa ơi! Chúa ơi!” . Ở Neukölln, Dora Janssen thấy chồng cô, là một thiếu tá Lục quân bước trên lối đi nhỏ tới chỗ chiếc limousine. Người lính cần vụ mở cửa xe rồi đột nhiên bị một quả đạn pháo “xé tung thành từng mảnh.” Khi bụi tan hết, cô thấy chồng mình vẫn đứng cạnh chiếc xe, đầu ngẩng cao, nhưng gương mặt thì vặn vẹo đi vì đau đớn. Khi Janssen chạy tới chỗ chồng, cô thấy “một ống quần của anh ấy đẫm máu, chảy xuống ủng rồi lan ra vỉa hè.” Một lát sau, vừa nhìn chồng được đưa lên cáng, cô vừa có một cảm giác kỳ quặc xen lẫn nỗi lo cho chồng. Cô không thể không nghĩ, “Sao anh bị thương nặng thế mà vẫn đứng vững được nhỉ. Đúng là một sĩ quan thực thụ!”

      Cách đó không xa, có một sĩ quan khác, anh chưa bao giờ tin quân Nga có thể tới tận đây. Anh ta là Đại úy Gotthard Carl, viên kế toán cuồng tín làm việc cho Không quân, vẫn luôn chào cả nhà bằng điệu chào Hitler, nhưng giờ anh bắt đầu thấy tuyệt vọng. Khi quân Nga tiến đến gần hơn, Carl vẫn ăn diện bảnh bao sáng lóa như xưa; thậm chí còn rõ rệt hơn.

       Dù Gerda vợ anh chẳng bao giờ dám nói, nhưng cô nghĩ Carl trông thật buồn cười trong bộ lễ phục, cộng thêm mấy cái khuy măng-sét bằng vàng, rồi mớ tua rua vô dụng nữa. Mấy ngày này anh vẫn không quên mang chiếc nhẫn có con dấu riêng của anh, trên đó có một chữ thập nạm kim cương.

     Nhưng Gotthard Carl vẫn biết rõ tình hình đang xoay chuyển ra sao. Buổi trưa, từ văn phòng ở Tempelhof quay về nhà, anh giơ tay lên chào “Heil Hitler” như thường lệ rồi bảo vợ, “Đợt pháo kích bắt đầu rồi, em đi xuống hầm rồi cứ ở dưới đó. Anh muốn em ngồi ngay đối diện lối vào hầm.” Gerda ngạc nhiên nhìn anh; đó dường như là chỗ kém an toàn nhất mà. Nhưng Gotthard cứ khăng khăng. “Anh nghe nói ở các thành phố khác, quân Nga dùng súng phun lửa chĩa vào hầm và hầu hết người trong đó đều bị thiêu sống. Anh muốn em ngồi ngay trước cửa hầm để có gì thì em sẽ chết đầu tiên. Em sẽ không phải ngồi chờ tới lượt mình.” Rồi không nói thêm gì nữa, anh siết tay vợ, chào kiểu Nazi và bước ra khỏi căn hộ. Gerda lặng người, rồi làm theo những gì anh vừa nói. Cô ngồi trước những người khác, ngay lối vào hầm trú ẩn, liên tục cầu nguyện trong lúc bom đạn đang dội trên đầu. Lần đầu tiên kể từ khi kết hôn, cô không nhắc tới tên Gotthard trong lời cầu nguyện. Đến chiều, tầm giờ chồng cô thường về tới nhà, Gerda đi lên cầu thang bất chấp lời chồng dặn. Cô chờ một hồi lâu, run rẩy và sợ hãi, nhưng Gotthard không trở về. Cô không bao giờ còn được gặp lại anh.

       Đợt pháo kích bắt đầu ngay sau khi không kích kết thúc. Đợt không kích cuối cùng của phương Tây vào Berlin, đợt thứ 363 trong cuộc chiến, bắt đầu lúc 9:25 sáng, do Không lực 8 của Mỹ thực hiện. Suốt 44 tháng, Anh và Mỹ đã liên tục thả bom xuống “B Lớn,” phi công Mỹ gọi Berlin thế. Người Berlin dứ nắm đấm về phía máy bay ném bom, than khóc vì những cái chết của bạn bè và người thân, vì nhà cửa bị phá hủy. Cơn giận dữ của họ cũng giống những quả bom không trực tiếp nhằm vào ai, mà nhằm vào những kẻ họ sẽ không bao giờ được gặp. Pháo thì lại khác. Kẻ bắn pháo đứng ngay ngoài cửa nhà họ, sắp đối mặt với họ.

      Còn có một điểm khác biệt nữa. Người Berlin đã học cách chung sống với bom và thích nghi với nhịp điệu đều đặn như đồng hồ của các đợt không kích. Đa số người ta có thể nghe tiếng bom xé gió mà đoán được điểm rơi của nó; nhiều người còn quen với các đợt không kích tới mức không buồn đi trú ẩn. Hỏa lực của pháo phần nào nguy hiểm hơn. Đạn pháo tiếp đất thình lình và không đoán trước được. Những mảnh đạn hình lưỡi liềm sắc như dao cạo nổ tung ra mọi phía, thường văng tới mấy mét khỏi điểm nổ ban đầu.

       Nhà báo Hans Wulle-Wahlberg bước quanh quảng tường Potsdamer đang bị đạn pháo cày nát, thấy xác chết và cả những người đang hấp hối nằm la liệt khắp nơi. Anh thấy dường như một số người đã chết vì áp suất của vụ nổ “làm xé toạc phổi của họ.” Đi lắt léo để tránh đạn nổ, anh chợt nghĩ trước kia người Berlin cùng chống lại kẻ thù chung là những chiếc máy bay ném bom, nhưng “giờ họ không có thì giờ đâu mà bận tâm đến người chết hay bị thương nữa. Ai cũng bận rộn lo cứu cái mạng nhỏ của mình.” Đợt pháo kích tàn nhẫn này chẳng có khuôn mẫu gì. Nó cứ bắn lung tung không dứt. Dường như càng ngày nó càng mạnh thêm. Tiếng súng cối và tiếng nghiến ken két của mấy khẩu Katushka phóng tên lửa nhanh chóng nhập hội. Giờ phần lớn thời gian gười ta đều ở trong hầm, trong các chỗ trú không kích, các boong-ke của tháp phòng không và nhà ga xe điện ngầm. Họ chẳng còn cảm giác về thời gian nữa. Ngày trôi qua mơ hồ giữa nỗi sợ hãi, hoang mang và chết chóc bủa vây. Những người Berlin vẫn luôn viết nhật ký tỉ mỉ cho tới ngày 21/4 thì đột nhiên bị lẫn lộn ngày tháng hết cả lên. Nhiều người viết là quân Nga vào trung tâm thành phố vào ngày 21 hoặc 22/4, dù khi đó Hồng quân còn đang chiến đấu ở ngoại ô. Nỗi khiếp sợ quân Nga của họ thường tăng thêm bởi một nhận thức tội lỗi. Ít nhất thì một số người Đức có biết về cách quân Đức đã hành xử trên đất Liên Xô, về những tội ác khủng khiếp và bí mật mà Đệ tam Quốc xã đã làm ở trại tập trung. Khi quân Nga tiến gần hơn, một nỗi sợ hãi như cơn ác mộng phủ khắp Berlin, ko giống với bất kỳ thành phố nào trước giờ, kể từ khi Carthage bị san bằng (*).
……………………
         (*): Carthage là một đô thị cổ, thuộc Tunisia ngày nay, từng phát triển rất huy hoàng, mở ra nền văn minh Punic. Sau nhiều lần đem quân xâm lược các nước thù địch là Syracuse và La Mã, Carthage đã bị quân La Mã san bằng vào năm 146 TCN, sau lại được người La Mã tái thiết thành phố – ND.


 9 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:53:06 AM 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
     Hiện giờ, mối bận tâm lớn nhất của ông là tập đoàn quân của Busse; ông chắc chắn là nếu nó không bị đẩy lui nhanh chóng thì cũng sẽ bị bao vây. Trước khi tới mặt trận vào sáng sớm hôm đó, ông bảo tham mưu trưởng của mình gửi cho Krebs một bức điện: “Tôi không thể nhận trách nhiệm hoặc chỉ huy dưới tình hình này, trừ khi cho quân của Busse rút ngay – và bảo ông ta nói thế với Quốc trưởng.”

      Rồi ông chạy xe khắp mặt trận. Dấu hiệu tan rã hiển hiện khắp chốn. Ông thấy “đường phố đông nghẹt xe của người chạy nạn, lẫn trong đó có những chiếc xe quân đội.” Lần đầu tiên ông đụng độ một đám lính rõ ràng là đang chạy trốn. Ông kể, trên đường tới Eberswalde, “Tôi không gặp một thằng lính nào không nói là nó được lệnh về hậu phương lấy đạn dược, xăng dầu hay gì gì.” Ông kinh ngạc, và nhanh chóng hành động.

      Ở phía bắc Eberswalde, ông thấy “một đám người đang đi về phía tây bắc, nói là sư đoàn của bọn họ tập trung lại ở gần Joachimsthal”; ông bèn ngăn cả bọn lại rồi để bọn họ tập trung ở gần Eberswalde. Ở chỗ giao nhau với con kênh trong vùng, ông gặp “một phần của Sư đoàn Cảnh sát SS 4 đang di chuyển. Bọn họ còn khá trẻ, mới được thành lập, nhưng chỉ có một số là có vũ khí. Họ được bảo là sẽ nhận vũ khí ở Eberswalde.” Ở phía nam, ông thấy nột con đường đông nghẹt những dân với lính. Heinrici bước ra khỏi xe hơi và ra lệnh cho các hạ sĩ quan đưa người quay lại. Ông nói, “Quay trở lại mặt trận.”

      Ở thị trấn Schönholz, ông thấy “các sĩ quan trẻ tuổi ngồi không và cứ nhìn quanh quất. Họ được lệnh phải dựng một giới tuyến để bắt đám quân tản mác.” Cánh rừng giữa nơi này và Trammpe “đông đen quân lính đang nghỉ ngơi hoặc rút lui. không ai có lệnh hay bổ nhiệm gì cả.” Ở một nơi khác, ông bắt gặp “một đội lính xe tăng trinh sát đang ngồi nghỉ cạnh mấy chiếc xe.” Ông lệnh cho cả đội “đi tới Biesenthal ngay và chiếm lại ngã tư đó, nó cực kỳ quan trọng.” Quanh Eberswalde quá sức hỗn loạn, sau này Heinrici kể, “không có ai có thể nói tôi biết ở đó mặt trận có tồn tại hay không.”

     Nhưng đến nửa đêm, ông đã lập lại trật tự trong vùng và đưa ra nhiều mệnh lệnh mới.

      Rõ ràng ông bị thiếu hụt quân số, vũ khí và cả sĩ quan chỉ huy tài ba, và Heinrici biết mặt trận này khó lòng cầm cự được lâu. Tập đoàn quân Thiết giáp 3 của Von Manteuffel ở phía bắc có một số thành công nhất định khi phải chống lại Rokossovskii, nhưng việc Von Manteuffel phải rút lui chỉ là vấn đề thời gian.

      Lúc 12:30 sáng, ông gọi cho Krebs. Ông nói với ông ta là tình hình sắp vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Ông đặc biệt nhấn mạnh tới Quân đoàn Thiết giáp 56, “dù đã có nhiều cuộc phản công trước quân Liên Xô, nhưng vẫn đang bị đẩy lui ngày càng xa.” Ông nói, tình hình ở đó “rất căng thẳng và sắp bùng nổ.” Ông đã trao đổi riêng với Krebs hai lần trong ngày hôm nay, rằng tình hình của Tập đoàn quân 9 đang xấu đi nhanh chóng; lần nào Krebs cũng lặp lại quyết định của Hitler: “Busse phải trấn giữ mặt trận Oder.” Giờ Heinrici lại đấu tranh vì Busse thêm lần nữa.

      Heinrici nói với Krebs, “Trước giờ tôi vẫn luôn bị từ chối không cho Tập đoàn quân 9 di chuyển tự do. Giờ tôi yêu cầu điều đó – trước khi quá muộn. Tôi phải nói là tôi không chống lại mệnh lệnh của Quốc trưởng vì ngoan cố hay bi quan vô lý. Anh có thể thấy từ kinh nghiệm chiến đấu ở Nga của tôi là tôi không dễ dàng bỏ cuộc đâu. Nhưng giờ cần phải hành động ngay để cứu Tập đoàn quân 9 khỏi bị tiêu diệt.”

       Ông nói, “Tôi đã được lệnh là Cụm Tập đoàn quân Vistula phải ở lại vị trí hiện tại và giữ vững tiền tuyến, và đưa mọi lực lượng có thể có ra đây để khép khoảng trống giữa Tập đoàn quân 9 với tập đoàn quân của Schörner ở phía nam. Từ tận đáy lòng, tôi rất tiếc phải nói là mệnh lệnh này không thể thi hành được. Đơn giản là việc hành quân không có tí khả năng thành công nào. Tôi yêu cầu được chấp thuận đề nghị để Tập đoàn quân 9 rút lui. Tôi đề nghị điều này vì chính bản thân Quốc trưởng.”

      Heinrici nói, “Thực ra, việc tôi nên làm là đi thẳng tới chỗ Quốc trưởng và nói, ‘Thưa Quốc trưởng, vì mệnh lệnh này sẽ gây nguy hiểm cho ngài, nó không có khả năng thành công và không thể được thực thi, tồi đề nghị ngài rút lại quyền chỉ huy của tôi và giao cho ai khác. Rồi tôi có thể thực hiện nghĩa vụ của một người lính Volkssturm và chiến đấu với kẻ thù.’” Heinrici đang ngả bài: ông tuyên bố với cấp trên là ông thà chiến đấu trong cấp thấp nhất còn hơn thực thi một mệnh lệnh gây ra thương vong vô ích.

       Krebs hỏi, “Có thật là anh muốn tôi nói thế với Quốc trưởng không?” Heinrici trả lời ngắn gọn, “Tôi yêu cầu điều đó. Tham mưu trưởng và các sĩ quan của tôi làm chứng cho tôi.”

       Một lát sau Krebs gọi lại. Tập đoàn quân 9 phải giữ nguyên vị trí. Đồng thời, mọi lực lượng hiện có phải cố gắng khép khoảng trống với Schörner ở phía nam, “để mặt trận liền lạc trở lại.” Heinrici biết thế là Tập đoàn quân 9 coi như xong.

      Trong căn hầm Führerbunker, cuộc họp quân sự ban đêm của Hitler kết thúc vào lúc 3 giờ sáng. Trong buổi họp, Hitler đã khiển trách Tập đoàn quân 4 – tập đoàn quân bị Koniev đánh tan vào ngày đầu tiên của đợt tấn công – về mọi vấn đề xảy ra từ đó tới nay. Ông ta quy tập đoàn quân này vào tội phản quốc. Tướng Dethleffsen sửng sốt hỏi, “Thưa Quốc trưởng, ngài thực sự tin là người chỉ huy đã phản bội tổ quốc hay sao?” Hitler nhìn Dethleffsen “bằng ánh mắt thương hại, như thể chỉ có thằng ngu mới hỏi một câu ngớ ngẩn thế.” Rồi ông ta nói: “Mọi thất bại ở miền Đông của chúng ta đều có thể quy vào tội phản quốc – chỉ có thể là tội phản quốc mà thôi.”

       Khi Dethleffsen chuẩn bị ra khỏi phòng, Đại sứ Walter Hewel đại diện cho Von Ribbentrop ở Bộ Ngoại giao bước vào, gương mặt lộ vẻ muộn phiền sâu sắc.

     Ông nói, “Thưa Quốc trưởng, ngài có lệnh gọi tôi ạ?” Ngừng một chặp, Hewel nói: “Nếu chúng ta vẫn muốn đạt được gì đó trên phương diện ngoại giao, thì chính là lúc này đây.” Theo Dethleffsen kể, Hitler nói “bằng một giọng nhẹ nhàng và hoàn toàn thay đổi”: “Chính trị. Tôi chẳng có gì để làm với chính trị nữa. Nó làm tôi thấy phát tởm.” Dethleffsen nhớ lại, ông ta lê bước về phía cửa “chậm chạp và mệt mỏi.” Rồi ông tay quay người lại và nói với Hewel, “Khi tôi chết rồi thì anh sẽ bận rộn với chính trị đấy.” Hewel căng thẳng cả người. Ông ta nói, “Tôi nghĩ giờ ta nên làm gì đó.” Khi Hitler ra tới cửa, Hewel kích động nói thêm: “Thưa Quốc trưởng, chỉ còn năm giây nữa là tới nửa đêm rồi.” Có vẻ như Hitler không nghe thấy.



                                        ******************

 10 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:47:13 AM 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
       Ở Gresse, phía bắc sông Elbe, các kiện hàng của Hội Chữ thập Đỏ đã tới chỗ 12.000 tù binh chiến tranh của Chuẩn úy Dixie Deans. Deans đã sắp xếp xong xuôi. Anh thậm chí còn thuyết phục viên sĩ quan chỉ huy là Đại tá Ostmann cho phép nhóm Không lực Hoàng gia Anh đi tới trung tâm của Hội Chữ thập Đỏ Quốc tế ở Lübeck rồi lái xe tải quay về đây để tiết kiệm thời gian.

       Hiện tại, hàng hàng lớp lớp người đứng chật kín các con đường quanh thị trấn, nơi đang phân phát đồ. Deans thông báo, “Một người được hai gói.” Trung sĩ Không lực Hoàng gia Anh Calton Younger kể, “Nó có tác động lớn lao đến tinh thần của mọi người. Các kiện hàng đó tới được đây là cả một phép màu và chúng tôi lập tức tôn Deans làm thánh.”

       Deans đạp xe từ hàng này sang hàng khác bằng chiếc xe đạp cà tàng với cái lốp xe tơi tả, thấy ai nấy đều đã nhận được khẩu phần của mình, anh cảnh báo những người tù đang chết đói tới nơi vì bao lâu nay chỉ ăn toàn rau là không được ăn quá nhiều mà “phải để dành càng nhiều càng tốt, vì ai biết được bọn Đức còn giở trò gì.” Dẫu vậy, Deans thấy đa số đều “ăn như thể đây là bữa cuối cùng.” Trung sĩ Không lực Hoàng gia Anh Geoffrey Wilson ăn ngấu nghiến cả gói: thịt bò muối, bánh quy, sô-cô-la – và hơn hết là 120 điếu thuốc lá. Anh “ăn như khùng, hút thuốc như điên, vì tôi thà chết no chứ không muốn làm ma đói.”

       Chín chiếc máy bay chiến đấu Typhoon của Không lực Hoàng gia Anh phát hiện ra bọn họ khi họ đang ngồi ăn. Mấy chiếc máy bay lượn vòng vòng trên đầu, và rồi, theo Wilson mô tả, chúng tách ra và hạ dần độ cao “một cách diệu kỳ như trong mơ.” Ai đó kêu lên, “Chúa ơi! Họ đang đến chỗ chúng ta đấy!” Mọi người chạy tứ tán. Có người cố phủ lên người tấm vải sọc ngụy trang nhiều màu đem theo phòng khi khẩn cấp. Kẻ thì nhảy xuống hố, nấp sau các bức tường, chạy vào kho thóc trốn hoặc trốn trong mấy ngôi nhà. Nhưng có nhiều người không chạy kịp. Từng chiếc Typhoon sà xuống, bắn tên lửa và thả bom sát thương xuống đoàn người. Bọn họ la hét: “Chúng tôi là phe mình! Chúng tôi là phe mình!” Tám chiếc máy bay tiếp tục tấn công; chiếc thứ chín có lẽ nhận ra mình đã lầm lẫn nên dừng lại. Mấy phút sau mọi chuyện chấm dứt. Sáu mươi người đã chết. Nhiều người khác bị thương, và một phần trong số đó chết trong các bệnh viện của Đức vì vết thương quá nặng.

       Deans bước trên đường phố, quan sát cuộc tàn sát và thấy muốn phát điên vì tuyệt vọng. Anh lập tức ra lệnh nhận dạng những người chết. Một số thi thể bị trúng đạn tới mức không nhận diện được nữa – sau này Deans kể, “chỉ còn lại những mảnh thi thể, và bọn tôi phải lấy xẻng xúc vào trong huyệt.”

      Sau khi đã chôn cất xong xuôi, và đưa người bị thương tới các bệnh viện của Đức, Deans lạnh lùng đạp xe tới chỗ Đại tá Ostmann đang ở trong sở chỉ huy tạm thời của ông. Lần này Deans không buồn giữ phép lịch sự nhà binh nữa. Anh nói, “Này Ostmann, tôi muốn ông cấp cho tôi một cái giấy phép để tôi đi tới trận tuyến của Anh. Không thể để chuyện thế này xảy ra lần nữa.”

      Ostmann sửng sốt nhìn Deans. Ông nói, “Deans à, tôi không thể làm thế được.”

       Deans nhìn ông ta chằm chằm. Anh ta cảnh cáo, “Chưa biết được ai sẽ kiểm soát chúng ta đâu. Có thể là quân Anh – hoặc cũng có thể là quân Nga. Bọn tôi không quan tâm ai sẽ giải phóng mình. Nhưng ông muốn đầu hàng ai hơn hả?”

       Deans nhìn thẳng vào viên đại tá Đức. “Tôi nghĩ các ông sẽ không có tương lai với bọn Nga đâu.” Anh dừng lại, để câu cuối dần dần thấm sâu hơn. Rồi anh lạnh lùng nói, “Đại tá, hãy viết giấy phép đi.”

      Ostmann ngồi xuống bàn và lấy một tờ giấy của Lục quân ra, rồi viết mấy dòng cho phép Deans đi đến vùng địch chiếm đóng. Ông nói với Deans, “Tôi không biết anh sẽ vượt qua tiền tuyến bằng cách nào, nhưng ít ra cái này sẽ giúp anh tới được đó.” Deans nói: “Tôi muốn lính gác Charlie Gumbach đi chung với tôi.”

      Ostmann suy nghĩ một chốc rồi nói, “Đồng ý.” Ông lại viết giấy phép cho Gumbach. Dixie nói, “Và tôi cũng cần một chiếc xe đạp khá khẩm hơn.” Ostmann nhìn anh rồi nhún vai, nói ông có thể thu xếp chuyện này.

      Khi rời khỏi văn phòng, Deans nói một câu cuối cùng. “Tôi hứa với ông là tôi sẽ quay lại cùng Charlie, để đưa người của tôi đi.” Rồi Dean làm một cử chỉ chào dứt khoát và nói, “Cảm ơn ngài, Đại tá.” Viên đại tá cũng chào lại. Ông nói, “Cảm ơn anh, Deans.” Đêm đó, có Hạ sĩ Đức Charlie Gumbach đi cùng, Dixie Deans bước vào chặng hành trình dài tới trận tuyến của Anh.

      Vào lúc hoàng hôn, Koniev lo lắng nhìn bản đồ, thấy xe tăng của Zhukov tiến nhanh tới Berlin, ông giục lính của mình hành quân nhanh hơn nữa. Ông nói với tướng Rybalko, tư lệnh Tập đoàn quân tăng Cận vệ 3, “Không cần lo cho hai cánh của anh đâu, Pavel Semenovich. Không cần lo bị tách khỏi bộ binh. Cứ đi tiếp.”

      Nhiều năm sau, Koniev kể lại, “Lúc đó tôi biết hẳn các tư lệnh xe tăng của mình đang nghĩ: ‘Ông quăng bọn tôi vào cái lỗ cống này, rồi bắt bọn tôi phải hành quân mà không có quân hai bên sườn – lỡ bọn Đức cắt mất liên lạc hay tập hậu thì sao?’”
Koniev vỗ vỗ cầu vai Nguyên soái của mình, rồi nói với các tư lệnh xe tăng, “Tôi sẽ có mặt. Các anh không phải lo. Điểm quan sát của tôi sẽ đi cùng các anh, ngay giữa hàng ngũ.”
      Rybalko và tướng D. D. Lelyushenko, tư lệnh Tập đoàn quân tăng Cận vệ 4 rạng rỡ đáp lại. Với tốc độ chóng mặt như Sư đoàn Thiết giáp 2 và Sư đoàn Thiết giáp 5 của Mỹ tiến tới sông Elbe, những chiếc tăng Liên Xô vọt qua quân thù – dù theo như Rybalko kể thì “các sư đoàn Đức chưa bị tiêu diệt vẫn còn sau lưng chúng tôi.”

      Sau 24 giờ vất vả, kỳ diệu thay, Rybalko đã đi được 38 dặm. Đoàn xe tăng của Lelyushenko đi được 28 dặm. Rybalko hớn hở gọi về cho Koniev. Ông nói, “Đồng chí nguyên soái, chúng tôi đang chiến đấu tại ngoại ô Zossen.” Các đơn vị này của Phương diện quân Ukraine số 1 giờ chỉ còn cách Berlin có 25 dặm.

      Còi báo động ở Zossen vang vọng. Có vẻ quân Liên Xô sẽ tới được đại bản doanh của Bộ Chỉ huy Tối cao trong 24 giờ tới, và đã có lệnh di dời. Các sĩ quan chủ chốt đã tới sở chỉ huy mới nằm gần Postdam. Số còn lại trong đại bản doanh, cùng với các nhân viên văn thư, máy giải mã, các tủ tài liệu được đưa lên xe buýt và xe tải. Trong khi đang đóng gói đồ đạc chất lên xe, mọi người đi vòng vòng trong lo âu, muốn được đi thật mau. Tướng Erich Dethleffsen, người đảm nhiệm vị trí cũ của Krebs làm Trợ lý Tham mưu trưởng, nói rằng vào lúc đó, “chúng tôi để lại cho không quân của địch một mục tiêu xứng đáng.”

      Không lâu trước khi trời tối, đoàn xe xuất phát, tiến về Bavaria. Dethleffsen chạy xe tới Berlin để dự buổi họp đêm của Quốc trưởng, rất sung sướng khi thấy một đoàn máy bay của Không quân bay trên đầu ông về phía nam. Sau đó, trong buổi họp, ông nghe một sĩ quan Không quân báo cáo với Hitler là “đã thành công tấn công đoàn xe tăng Liên Xô đang tiến về Zossen, bảo vệ được vùng này khỏi bị tấn công.” Cuộc oanh tạc này còn hơn cả thành công nữa: “đoàn xe tăng Liên Xô” hóa ra lại là đoàn xe buýt và xe tải của OKH đang chạy về phía nam. Máy bay Đức đã tấn công đúng đoàn xe của họ.


       Nửa đêm ngày 20/4, Heinrici vẫn cẩn thận nghiên cứu bản đồ và cố phân tích tình hình. Mấy tiếng sau, một nỗi sợ của ông đã tới: giờ ông không chỉ điều hành Cụm Tập đoàn quân Vistula mà còn chỉ huy cả Berlin nữa. Gần như ngay sau khi được lệnh, ông đã gọi Reymann tới và bảo không được phá hủy các cây cầu trong thành phố. Reymann than phiền là dù gì thì thành phố cũng chẳng có gì phòng bị, giờ đến số quân khá khẩm nhất trong lực lượng Volkssturm của ông cũng bị đưa tới các phòng tuyến ngoài này. Thực ra, Heinrici biết hết; ông nói Reymann đưa nốt phần còn lại của Lực lượng Phòng vệ Địa phương tới. Heinrici mệt mỏi nói, “Reymann, anh không hiểu tôi đang cố gắng làm gì sao? Tôi muốn bảo đảm là trận chiến sẽ chỉ diễn ra bên ngoài thành phố, chứ không phải ngay trong đó.”Heinrici biết, với tình hình hiện tại, không thể phòng hộ Berlin được. Ông không định để quân của mình rút lui về thành phố. Xe tăng sẽ không được đi tới đó. Vì có nhà cửa, nên không thể dùng pháo được; chẳng có chỗ mà bắn. Hơn nữa, nếu phải giao chiến trong thành phố thì số dân thường thương vong sẽ cực kỳ lớn. Bằng mọi giá, Heinrici hi vọng tránh được hiểm họa giao tranh trên đường phố.



Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM