Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 12 Tháng Mười Hai, 2018, 07:09:16 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: Hôm nay lúc 06:34:21 PM 
Tác giả tranphu341 - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
Chúc mừng bác Phú !

 2 
 vào lúc: Hôm nay lúc 05:04:38 PM 
Tác giả vaphothotu - Bài mới nhất gửi bởi vaphothotu
TRở lại chiến trường xưa
(Tiếp theo)
Đang chìm trong kí ức bổng nghe tiếng còi ô tô vang lên. Tôi  đưa tay rửa vội khuôn mặt đẫm mồ hôi,dòng nước mát của suối Đa Ha làm tôi chợt tỉnh...
   Tạm biệt suối Đa Ha yêu dấu, tạm biệt các đồng chí kiểm lâm nhiệt tình và mến khách, chúng tôi lên xe sang Tà Nốt. Xe đưa chúng tôi qua cầu Lò Gò rồi lao vút  vào một con đường đất đỏ. Và trước mắt chúng tôi hiện lên một bãi tráng mênh mông, thoáng đãng, bãi tráng Lò Gò. Xe dừng. Tôi mở cửa một làn gió nhẹ phả vào mặt tôi, mát lạnh. Tôi nhìn khắp bốn phía mà không nhận ra một nét thân quen nào. Ừ 40 năm rồi còn gì. Rừng thì tươi trẻ lại còn chúng tôi thì đã già nua. Nhưng tình cảm của chúng tôi với rừng vẫn ấm áp như xưa. Chẳng vì thế mà chúng tôi đã vượt một quãng đường dài hàng nghìn ki lô mét để đến với rừng đó thôi. Rừng đã che chở và bảo vệ cho chúng tôi trong những ngày giữ chốt. Kỉ niệm xưa lại ùa về trong kí ức. Phải rồi đây là vị trí đóng quân của trung đoàn bộ trung đoàn 52. Cũng dưới bóng hoàng hôn của núi rừng này anh em tân binh chúng tôi đứng xếp hàng ngay ngắn để chờ  biên chế về đơn vị mới.
Mới đó mà đã 40 năm!
Hoàn hôn buông xuống núi rừng thật nhanh, điện đã bừng sáng trong Chốt bảo vệ rừng Tà Nốt. Tiếng còi xe ô tô lại vang lên lần nữa như thúc dục như báo hiệu giờ chia tay đã đến. Tôi chạy hết nơi này đến nơi khác như cố nhìn kĩ hơn khu rừng một lần cuối. Dẫu vẫn biết chỉ là tạm biệt nhưng với tôi cơ hội trở lại nơi biên cương xa xôi đầy kỉ niệm này lần nữa là không nhiều. Tôi hít một hơi thật sâu. Ôi không khí của núi rừng sao mà mát dịu và trong lành đến thế. Tạm biệt nhé Tà Nốt thân yêu.
   Đi trên con đường Lò Gò trở về thành phố, về với đời thường, với bao vất vả nhọc nhằn lo toan, tôi lại nôn nao nhớ về những đồng đội đã mãi mãi ra đi để lại tuổi mười tám đôi mươi nơi dải đất biên cương này. Tôi chợt nghe văng vẳng đâu đây lời bài hát: “Nhưng giờ đây có giây phút bình yên, sao tôi quên, sao tôi quên, bài ca tôi đã hát, với quê hương, với đồng đội, với cả lòng mình, tôi không thể nào quên… Trong lòng tôi hình như có cái gì dâng lên nghèn nghẹn. Lòng tự dặn lòng phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả của biết bao đồng đội thân yêu.

Nghi Vạn, ngày 30/4/2018
Phan Công Vượng




 3 
 vào lúc: Hôm nay lúc 12:59:19 PM 
Tác giả tranphu341 - Bài mới nhất gửi bởi tranphu341

Thưa các bạn!

            Sau rất nhiều cố gắng, sự nhiệt tình của đồng đội Đại Tá Nguyễn Quốc Trung nhà văn nhà báo quân đội. Sự giúp đỡ của ban biên tập nhà xuất bản tổng hợp TP Hồ Chí Minh.
Hôm nay tập 3 cuốn sách: Từ biên giới Tây Nam đến Đất Chùa Tháp" của tác giả Trần Ngọc Phú đã hoàn thành đúng dịp kỷ niệm ngày thành lập quân đội 22/12, ngày thành lập Sư đoàn 341 đoàn bộ binh Sông Lam anh hùng.

            Đặc biệt ngày kỷ niệm dấu ấn lịch sử trọng đại 40 năm chấm dứt chiến tranh Biên giới Tây Nam và nhiệm vụ Quốc Tế của Đảng Của Nhân dân của Quân đội ta làm nhiệm vụ Quốc Tế giúp bạn nước láng giềng tiêu diệt tận cùng tập đoàn phản động Pôn Pốt - Ieeng Xa Ri tay sai quan thầy bành trướng phương Bắc. Cứu giúp Dân Tộc Khơ me khỏi họa diệt chủng hồi sinh.
Tên Sách được chuyển thể từ topic:" Tranphu341 đoàn bộ binh Sông Lam biên giới Tây Nam" trong trang mạng Dựng Nước Giữ nước.

           Sách đã được kênh Win Win Việt Nam đọc phát trên YOUTUBE cùng những hình ảnh cùng những nhân chứng là đồng đội tác giả có tên hoặc không có tên trong sách những nhân chứng về những trận đánh những ngày tháng gian khổ cam go của cuộc chiến mà sách dù có cố gắng thế nào cũng khổ thể nói hết được, tả hết được sự hy sinh hào hùng và bi tráng của cuộc chiến dài.
Rất trân trọng cảm ơn Nhà báo Đại tá Nguyễn Quốc Trung cùng nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. Kênh Win Win Việt Nam cùng các bạn đọc các bạn khán thính giả đã cổ vũ cho tôi tác giả bộ sách đã được hoàn thành!
 
          Kính !!!

 4 
 vào lúc: Hôm nay lúc 09:42:33 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

III

        "- Không đánh với Mét-séc-mít! Không săn gioong-ke! Chủ yếu là không để chúng ném bom bằng kính ngắm.

        Rát-sô-khin nhắc đến mười lần. Nói xong anh hỏi:

        - Mọi người đã rõ cả chứ?

        - Rõ cả! - Sê-pen-kin trả lời.

        Lu-nin không rõ lắm, nhưng lặng yên. Không đánh với Mét-séc-mít. Không săn gioong-ke lẻ. Vậy thì làm gì?

        Khi họ ra khỏi hầm, mặt tròi đã lên, những ngôi sao muộn đã lặn.

        - "Chết oanh liệt hay làm kinh ngạc mọi người!" - Bê- sây-tcíp cất tiếng hát.

        - Im đi! - Rát-sô-khin gắt.

        Sáu khu trục đỗ trên đường vòng, hướng về phía gió. Trong ánh nắng sớm, Lu-nin thấy các thợ máy đang tất tả. Rát-sô-khin đi đầu dáng khệnh khạng như con gấu, hình như không quen đi trên đất liền. Bê-sây-tốp theo sát không rời một bước, và cứ một quãng lại ngoái cổ nhìn qua vai. Anh chàng Ka-ban-kổp bé nhỏ đi nhanh hơn mọi người, và nhẩy như hòn bi sắt trên cò sân bay. Đồng đội của anh, Sê-pen-kin nặng nề to lớn, theo rất mệt. Họ vượt Rát-sô-khin và đến máy bay trước nhất. Lu-nin và Sê-rốp cùng đi. Sê-rốp chỉ:

        - Máy bay của đồng chí đây.

        Người thợ máy đứng nghiêm trước Lu-nin và chào lối quân sự.

        - Báo cáo đồng chí thiếu tá, chữa xong. Bộ phận đánh xe đã nắn; sáu lỗ đã bịt.

        Thân và cánh máy bay còn giữ lại vết tích các trận của Ni-cơ-ri-tin, kể cả trận cuối cùng, trận mà anh mang được máy về trong khi đã hấp hối. Đầy thương tích, máy bay vẫn sống tuy chủ nó đã chết.

        Lu-nin đội mũ bay, ngồi vào trong buồng máy, mắc dây da đeo người, và cho máy chạy. Anh cảm thấy hết sức bình tĩnh, 5 phút trước đây, anh cảm động khi các phi công, ngủ chưa đủ giấc, co ro trong khí lạnh ban mai, đứng nghe Rát-sô-khin, dưới ánh sáng vàng nhạt cúa chiếc đèn dầu lửa, nói cho biết là hôm nay quân Đức đến ném bom Hạm đội từ phía tây nam. Lúc đó, hình như có một cái gì ảm đạm, ngay cả đến những hình người xù xù in lên tường. Nhưng tiếng máy đã làm Lu-nin trở nên bình tĩnh hơn: từ bao năm, tiếng ồn đó có phép làm cho dây thần kinh anh hết căng thẳng.

        Trời sáng mau, đã thấy cỏ run rẩy trong gió cánh quạt của Rát-sô-khin. Máy bay của đại úy lấy đà và cất cánh, đằng sau là Bê-sây-tốp. Họ lượn trên trường bay khi Ka- ban-kôp và Sê-pen-kin cất cánh. Đến lượt Lu-nin. Anh rời mặt đất, và trông thấy ngay biển lấp lánh sau rừng.

        Quay lại, anh thấy thẳng sau là máy bay của Sê-rốp. Lấy chiêu cao, Rát-sô-khin quay mũi ra biển. Họ bay theo một hình ba cạnh rộng, đi đầu là Rát-sô-khin và Bê-sây- tốp, Ka-ban-kốp và Sê-pen-km bên phải, Lu-nin và Sê- rcíp bên trái. Họ vượt qua bờ biển. Phía dưới, gương nước phản ánh da trời mỗi lúc một sáng.

        Lê-nin-grát ở tay trái về phía đông: thành phố vĩ đại có sông Nê-va chảy qua còn lò mờ vì ánh sáng loé mặt trời mọc. Bên phải, trên hòn đảo thon, dẹt, Cờ-rông-stát với những ống khói nhà máy, những cần trục, và giữa những cái đó, hiện ra một mái nhà thờ giống như cái bánh ngày lễ Phục sinh. Đằng trước, trên bờ nam có cây che, những ngôi nhà thấp của Pê-tê-rốp và O-ra-ni-a-bôm, in thành những chấm trắng. Hai mươi nhăm cây số trên vịnh Phần Lan đó, giữa Lê-nin-grát và Cơ-rông-stát, cái khuỷu trồi ra nhất phía đông cửa biển Ban-tích, mang tên là vũng Mác-ki. Từ cái vũng đó, tất cả đông Ban-tích trong tay quán Đức và quân Phần Lan. Và chính ở đây, giữa Cơ-rông-stát và Pê- tê-rốp, tập trung hạm đội của ta.

        Lu-nin nhận rõ các chiến hạm. Chúng im lìm, nhưng các bệ súng động đậy, kéo theo các cỡ nòng. Chúng đã nhả dạn, tất cả chĩa về nam, và đông nam.

        Nhưng không thể nhận được cái gì ở phía tây nam. Một đám mây lốn mầu tro tím nhạt đã bò đến ngay trên đỉnh bờ biển và dừng sững ở dấy như có bức tường vô hình ngăn lại. Lu-nin chỉ nhìn thấy bờ biển, mà ở đấy thì chẳng có cái đáng nhìn; đạn của Hạm đội nổ xa về mé bên kia.

        Rát-sô-khin dẫn phi đội đến đám mây, rồi men theo mép trái nó, mũi hướng về đông. Bên phải Lu-nin, như một rặng núi, bốc lên những luồng hơi khổng lồ chậm chạp, với những hõm sâu đầy ánh sáng lúc tím lúc đồi mồi. Đến đinh bên tầu, Rát-sô-khin lại ngoặt về phía bắc. Họ vượt ngang một lần nữa vũng Mác-ki ngay trước cửa sông Nê-va, và tiến về tây men theo bờ bắc. Đến gần "lưỡi cáo" - một dải đất dài có cây che chạy ra biển về phía Cơ-rông-stát, - họ lại ngoặt lại phía nam và nhào thẳng về dám mây.

        Nó to ra không ngừng không chỉ như một quả núi không thể vượt qua mà còn rung rinh chất lỏng của thời cổ sơ. Và đột nhiên Lu-nin thấy máy bay địch vụt ra.

        Chúng ra khỏi những luồng hơi nước từng tốp 8, 12, 15, từ khắp chân trời, ở mọi khoảng cao, thoạt dầu độ vài ba chục, đen thuôn, hơi chậm, nhưng rồi không ngừng tràn khắp ngoài đám mây, như ong võ tổ, rồi chẳng mấy lúc đầy trời, từ đông nam qua tây nam. Từng cụm bay lại nhau, tập hợp, lại tập hợp nữa, mũi hướng về Hạm đội.

        Lu-nin quay đầu và kiếm một lượt phi đội của Rát-sô- khin - sáu chiếc bé nhó.

        Tay nắm chặt tay lái, anh nhìn chiếc máy bay dẫn đầu. Đại úy sẽ làm gì đây? Lu-nin nhớ lại tiếng nói của anh: "Không đánh với gioong-ke lẻ!". Nay với cả đống như thê này thì chắc chá còn phải lo đánh nữa chứ! Rát-sô-khin ngoặt. Chắc anh sẽ quay lại dẫn phi đội về trường bay.

 5 
 vào lúc: Hôm nay lúc 09:41:14 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Nhà ăn, thường gọi là "nhà vuông" theo thói quen của con nhà đi biển, ở trong một biệt thự nhỏ có những cây phong trắng vặn mình trước mái hiên. Phía trong cửa sổ che giấy xanh. Một ngọn đèn dầu lửa chiếu sáng hai chiếc bàn to vừa phải và kê theo hình chữ "T". Đĩa bát đủ cho sáu người ăn. Bê-sây-tốp, Sê-pen-kin và Sê-rốp ngồi mãi đằng đầu bàn, có vẻ quen thuộc. Sê-pen-kin gọi to:

        - Đồng chí Hin-đa! Mau lên!

        Lu-nin lưỡng lự, chưa rõ nên ngồi ở chỗ nào. Sê-rốp chi cho anh một cái ghế giữa Bê-sây-tốp và Sê-rốp. Hin-da, một cô gái nhỏ nhắn xứ Ét-tô-ni cái mặt sáng sủa đáng yêu như mặt búp bê, đi vào với một khay đầy đĩa. Trong đoàn đã qua những tháng đầu của chiến tranh ở Ét-tô-ni và đã đem Hin-đa từ đó về. Cô dừng lại trên ngưỡng cửa vì thấy Lu-nin ngồi giữa Bê-sây-tốp và Sê-rốp, và sự kinh hoàng hiện lên trong khoé mắt:

        - Trung úy Ni-cơ-ri-tin không về ư? - Cô hỏi.

        Sê-rôp quay mặt đi.

        - Anh ấy không về nữa. - Sê-pen-kin trả lời buồn bã.

        Hai dòng lệ chảy trên má cô thiếu nữ, và cô không gạt đi được vì tay cô còn mắc bận. Cô để khay xuống mép bàn, che mặt sau khăn, và chạy xuống bếp. Mấy phút sau trở lại, mắt cô đã ráo. dáng bình tĩnh, cô đặt trước mỗi ngươi một đĩa cơm thịt bò.

        Mọi người im lặng ăn, riêng Bê-sây-tốp thì không nói hẳn với ai nhưng luôn luôn cố gợi chuyện. Anh nói, mắt long lanh:

        - Chảng gì bằng săn tự do để thấy mình thực là chủ. Tại sao người ta không cho tụi mình đi săn tự do nữa nhỉ? Ái dà! Thời kỳ ở Ét-tô-ni thật là khoái. Trên đường Pác-nu Tan-lin, đầy ắp mô tô Đức. Mình ở sau rừng vụt ra, bổ nhào xuống, nã vào tốp đầu. Chúng rụng đầy đường; thằng đi sau bổ vào thằng trước. Một món nháo nhào. Cứ việc nã vào cả đống.

        Anh phá lên cười và lại ngoái cổ lại để thử xem có ai đằng sau. Mọi người yên lặng. Anh kể thêm:

        - Và còn ôtô! Món săn bở! Bao giờ cũng có tụi quan to ở trong. Mình ở sau lại lia một băng. Chúng chúi mũi chổng bánh lên trời!

        Anh lại phá lên cười và ngoái nhìn qua vai. Không ai nói một tiếng. Anh đứng dậy, đĩa cơm còn nguyên, cầm mũ đi ra; ngang cửa, anh suýt va phải Ka-ban-kốp và tránh ra một bên. Hai người gặp nhau im lặng. Ka-ban-kôp ngồi cạnh cái ghế của Rát-sô-khin. Anh thấp quá đến nỗi chân không tới sàn.

        Anh gọi:

        - Đồng chí Hin-đa! Đề nghị cho tôi ăn với.

        Anh gập chân phải lại và ngồi đè lên, thành ra có vẻ cao ra. Hin-đa đem một đĩa lại và cất bát đĩa của Bê-sây-tốp.

        - Cậu ấy không ăn tí gì à? - Ka-ban-kốp vừa hỏi, vừa ăn đầy mồm.
   
-   Chẳng ăn gì. - Sê-pen-kin trả lời. - Cậu ấy kể chuyện là thích săn tự do.

        - Ai chẳng thích. - Ka-ban-kốp trả lời.

        - Đúng cậu ấy đã hạ một gioong-ke thật. - Sê-rôp nhẹ nhàng nói. - Chính mắt tôi trông thấy, và nhìn xuống đất thì càng rõ. Đồng chí ấy săn nó và đuổi kịp, hạ nó ở gần O-ra-ni-en-bôm. Chiếc gioong-ke đâm xuống ngay trước chỗ có hai hàng cọc ấy.

        - Tôi không nghi ngờ là cậu ấy hạ chiếc gioong-ke hay không. - Ka-ban-kôp nói một cách bực tức. - Thế nhưng, không phải lối hạ như thế. Không, không như thế! Phải hạ nó mà lại không thiệt mất dồng chí mình, nhất là đồng chí đó còn bằng mấy mình.

        - Đúng. - Sê-pen-kin công nhận.

        - Cậu nghĩ xem - Ka-ban-kốp tiếp tục - Từ tháng 6, người ta đã hạ bao nhiêu gioong-ke. Từ Đông Đức đến Lê- nin-grát, đầy rẫy xác nó. Nếu mỗi gioong-ke hạ dược lại phải trả giá bằng sinh mạng một dồng chí, thì đã từ lâu, không còn một người trong bọn mình.

        Mọi người lặng im. Chỉ còn nghe tiếng đĩa. Lu-nin biết mọi người đang nghĩ đến Bê-sê-tốp.

        - Cậu có nhận thấy hắn hay ngoái cổ không? - Ka-ban- kốp hỏi và nhìn Sê-rốp.

        Sê-rốp gật đầu.

        - Ngay khi ăn cơm cũng thế.

        - Mình biết thế là thế nào rồi. - Ka-ban-kốp nói tiếp với Sê-rốp. - Cậu còn nhớ Ku-lê-sôp?

        Sê-rõp gật đầu.

        - Thế là thế nào? - Lu-nin hỏi. Ka-ban-kốp nói:

        - Đồng chí ấy ngoái cố xem có cái Mét-séc-mít nào phía sau không.

        Thấy Lu-nin không hiểu, anh tiếp:

        - Cố tật nhà nghề.

        - Đồng chí ấy cứ 40 giây đồng hồ lại ngoái cô một lần, như khi bay. Vì khi bay, tối thiểu cứ 40 giây phải quay lại xem, không cho Mét-séc-mít bám được vào đuôi mình.

        Sê-pen-kin nói:

        - Một bữa ở nhà ăn, Ku-lê-sốp bắt đầu mắc tật ấy. Thì hôm sau, anh bị hạ.

        Lẽ ra Sê-pen-kin không nên nói câu đó thì phải. Ka- ban-kôp lườm anh. Đôi má thanh niên của Sê-pen-kin ửng đỏ. Anh chàng từ đó đến cuối bữa không nói một tiếng nào nữa.

        Khi mọi người ra khỏi nhà ăn, Lu-nin đêm trước thức suốt sáng, cảm thấy mệt; vừa đi vừa ngủ. Các phi công ơ biệt thự cạnh đó và họ đặt tên là "trạm phi công". Ớ đó cũng một ngọn đèn dầu lửa chiếu sáng sáu cái giường, kê làm hai hàng hai bên vách.

        Bê-sây-tốp đã đi nằm và đang ngủ. Khuôn mặt sạm nắng in thành một vệt đen trên gối.

        Ai nấy ngồi xuống giường mình để cởi quần áo, cởi bỏ đôi bốt lông và bộ quần áo bay một cách khoan khoái. Những thân thể trẻ, chắc đầy bắp thịt, ngực rộng. Chàng Ka-ban-kốp bé nhỏ nhưng lực sĩ nhất: dưới làn da, bắp thịt anh cuộn như những thỏi thép. Nhưng mọi nét mặt đều sạm lại vì mệt. Không còn sức nói chuyện và vừa cởi xong quần áo đã ngủ mất rồi!

        Lu-nin đặt va li lên sàn, lưỡng lự. Hai giường bỏ không. Không biết ngủ giường nào.

        - Đấy là giường đồng chí đại úy. - Sê-rốp nói khi thấy anh không nằm xuống - đồng chí ấy thường ngủ ở Chỉ huy sở. Nhưng cũng lưu một giường ở nhà ngủ. Đồng chí thiếu tá ngủ giường này.

        Lu-nin ngồi xuống mép giường và cởi cúc áo ngoài. Chiếc bàn đêm ở đầu giường, phủ một chiếc khăn. Một chiếc gương tròn nhỏ, in trên mặt khăn một vệt sáng tươi. Còn những bức thư gấp chéo, một tấm ảnh phai màu, là lại cho khỏi nhầu: hình một bà cụ trùm chiếc khăn len. Lu-nin  đột nhiên hiểu những vật đó của ai, và giường của ai. Anh đứng dậy: đêm trước, đồng chí phi công Ni-cơ-ri-tin ngủ trong chăn này, soi trong gương này; và ảnh là ảnh bà mẹ. Mọi người đã ngủ, trừ Sê-rốp nằm im lặng ở giường bên, sau cái bàn đêm. Lu-nin cởi quần áo và đắp chăn.

        Sê-rốp đột nhiên nói:

        - Thế là chúng ta ở ngay cửa Lê-nin-grát, không thể lùi thêm.

        - Đồng chí có người nhà ở Lê-nin-grát? - Lu-nin hỏi.

        - Không, chả còn ai. - Anh nói tiếp giọng hơi run. - Cô ta đã đi. Tôi lại tìm thì cô ta đã đi với trẻ con.

        - Con đồng chí à?

        - Coi như là con tôi.

        - Đồng chí bao nhiêu tuổi.

        - Đã 27.

        Lu-nin hơn tuổi hắn, nhưng chưa có con.

 6 
 vào lúc: Hôm nay lúc 09:38:44 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        HISAO KIMURA

        Sinh-viên ban Kinh-tế chính trị Đại học đường Đông-Kinh. Nhập-ngũ tháng 10 năm 1942. Bị kết tử-hình vì là tội-nhân chiến tranh. Bị xử giảo tại khám lớn Changi, Tân-gia-ba, ngày 23-5-1946, lúc 28 tuổi.

        Bức thư này Kimura viết trên mép trang cuốn « Triết-học yếu-lược » của Gen Tanabé, nhờ tay một người bạn được phóng-thích đem trao cuốn sách cho cha mẹ. Đọc thư này ta thấy có lẽ tác-giả bức thư bị oan-ức. Những lầm-lẫn như thế rất thường xảy ra trong những cuộc trừng-trị hấp-tấp. Vả, một khi con người đã bại trận, sao lại không có tội ? nếu những người chiến-thẳng đã không « chiến-thắng » thì họ có thoát bị lên án không ?


        Do sự ngẫu-nhiên mà con nhận được cuốn « Triết- học yếu-lược » của Gen Tanabé, con đã đọc cuốn sách này trước khi chết. Lần thứ nhất con đọc tác-phẩm triết-học này, thời-kỳ đang là sinh-viên bên Nhựt. Thời gian đã 4, 5 năm qua rồi.

        Hiện giờ con đang ngồi trên chiếc ghế đá, hình ảnh cái chết bao trùm, con sắp qua đi như giọt sương sa buổi mai, con mường-tưởng đến quê-hương. Con đã lấy lại được lòng ham mê học-hành sẵn có từ trước. Mặc dầu định-mệnh bắt con bị treo cổ trong mấy ngày nữa, nhưng con cũng đọc đi đọc lại tác-phẩm tới 3 lần, và lần nào con vẫn cảm thấy thú-vị hơn mãi lên. Con viết những ý-tưởng cuối cùng trên mép trang sách, khác nào di-ngôn của con vậy.

        Từ 4 năm nay, việc học-hành bị gián-đoạn. Tuy nhiên, con vẫn còn hiểu rõ ý-nghĩa cuốn sách. Con lấy làm hiên-ngang vì cuốn sách thường được coi là rất khó hiểu. Con chưa thể nào mất được cái ham-thích học-hành. Con sắp viết ra đây những ý-tưởng trước khi chết. Con không được phép xin giấy trắng, vậy con tạm viết trên mép các trang sách này.

        Con đã bị kết án tử-hình. Ai có thể ngờ được sự việc xảy ra như thể ? Ai lại không chắc được con sẽ sống ngoài 30 tuổi, lúc mà việc học-hành còn đang dang dở ? Cuộc đời sóng gió của con sắp tan đi như cơn gió, mà chưa ai ngờ được. Con tưởng như đang đọc cuốn tiểu-thuyết mà con đóng vai chính vậy.

        Lúc biết định-mệnh đã được định đoạt rồi, con nhẫn nhục chịu.

        Lịch-sử chẳng qua là tất cả bao nhiêu hi-sinh thầm- kín nối tiếp nhau. Sự hi-sinh và cái chết của con chẳng hạn có khác chi giọt nước rớt vào dòng nước thác chảy xiết mạnh!

        Nước Nhựt đã bại trận trước cơn cuồng-nộ và xỉ- vả của hoàn-cầu. Các nước khác đã vùng dậy chống lại những hành động vò nhân-đạo của người Nhựt. Cái chết của con sẽ trả thù thay cho nhân-loại và thoa dịu lòng căm-phẫn của nhàn-loại. Con sung-sướng và hân-hạnh vì được chết để mở đầu một tương lai sán-lạn cho đất nước.

        Con không phạm một lỗi nào đáng án tử-hình này. Tất cả lỗi lầm đều do người khác làm nên, thế mà con không được phép nói thực để minh-oan. Con phải đền tội thế cho người khác, đó là điều thậm vô-lý và bất-công! Nhưng trải bao năm qua, người Nhựt đã bắt bao người ngoại-quốc chịu những cái mà con đang chịu bây giờ như thế hỏi có chi là bất-công và vô-lý ?

        Con phải công-nhận điều đó, vì con chỉ được phép minh-oan bằng cách nói lên sự thật ở đây thôi. Quân đội Đồng-Minh đã chú-trọng vào con, đó cả là một điều không may cho con. Con không thể hi-sinh mạng sống cho quân đội Nhựt, không bao giờ con chịu như thế! Nếu hi-sinh mạng sống để đền tội toàn dân phạm, lại là việc khác. Con không được phép nói lên để phản đối việc bất-công đó, nên đành chịu chết với nụ cười trên môi còn hơn !

        Trong vụ án này, các sĩ-quan Bộ-Binh đã hoàn- toàn hèn-nhát. Trái lại, hàng sĩ-quan Hải-quân đã cư xử rít đứng-đắn. Bao nhiêu cái con làm được trong suốt thời gian điều-trạ vụ án và cả sau khi tuyên án,

        con đều làm cả để tự minh-oan. Nhưng vì con đã tận- hiến cả xác lẫn hồn con cho nước Nhựt, cũng có trách- nhiệm một phần nào. Nhưng quả thực, con vô tội. Trường-hợp của con nào có khác chi những vị anh- hùng đã chết ở Okinawa, đột nhiên họ bị liệt vào hạng tội-nhân chiến-tranh, vì đã phạm các điều luật thế-giới.

        Chính lúc con khám phá được một ổ gián-điệp đối-phương ở đảo Kanikobal, sắp được tuyên dương công-trạng, được tặng thưởng huy-chương thì bỗng nhiên nước Nhựt bại-trận. Tình-hình chỉ trong một tháng đã xoay chiều đổi hướng. Những hành-động anh-hùng đầy công-trạng của con bỗng biến thành lý- do lên án tử-hình. Cuộc thất-bại điêu-đứng này đã ảnh- hưởng đến tất cả mọi người dân Nhựt. Riêng con, con phải hi-sinh mạng sống.

        Ý con định vùng lên chống lại với tất cả phái quân- phiệt vì họ tự lao mình vào cuộc chiến-tranh, mặc dầu họ biết rằng theo đuổi chiến-tranh chỉ đưa dân-tộc đến chỗ diệt-vong. Cái trách-nhiệm đó hoàn-toàn quy vào đầu tất cả người dân Nhựt, vì họ trao phó toàn quyền cho hàng tướng-lãnh, được tự-do hành-động từ hồi chiến-tranh Mãn-Chàu.

        Bây giờ dân chúng cần phải hồi-tỉnh lại! Sự thức- tỉnh này phải bao-hàm một mầm mống nảy nở một tương-lai rực-rỡ cho đất nước. Còn chỉ tiếc rằng chết đi mà không được chứng-kiến cái ngày huy-hoàng đó thôi !

 7 
 vào lúc: Hôm nay lúc 09:34:12 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
       
CHƯƠNG XXXIII

        Bảy tháng sau khi cuộc chấp cung các bị can chấm dứt, tới ngày 4 tháng 11 năm 1948, Toà mới chánh thức đăng đường trở lại để tuyên án. Lúc này trên hàng ghế bị cáo, người ta thấy thiếu nhiều bộ mặt như bác sĩ Okawa hiện ở trong dưỡng trí viện, Tướng Matsuoka và Đô đốc Nagamo đã chết trong tù. Ông này chính tà người đã chủ trương phát động chiến tranh để giải quyết nạn thiều dầu của Nhật. Hôm nay là phiên xử để tuyên án, nên lôi cuốn khá đông khán giả tới dự thính. Ba mươi thông dịch viên Mỹ - Nhật thay phiên nhau làm việc, phiên dịch tại chỗ các phán quyết của Tòa. Đại ý bản án tổng quát như sau :

        «Cuộc chinh phục Mãn châu và Trung Hoa là âm mưu của phe quân phiệt và do Chánh phủ Nhật phát động. Do sự thúc đẩy của các Tướng lãnh, Chánh phủ Nhật đã thi hành một chánh sách bành trướng bằng võ lực, gây hấn với các quốc gia láng giềng. Nhật Hoàng và dân chúng vô can. Phe quân nhân đã nắm hầu hết các chức vụ quan trọng, khiến không ai có thể chống đối được đường lối và hành động của họ. Các Tướng lãnh đã tìm cách lừa dối Thiên Hoàng.

        Cuộc đàn xếp với Mỹ của Chánh phủ Nhật trước lúc chiến tranh xảy ra không có thực tâm, mà chi là thù đoạn của Phe Trục».

        Hoàng thân Konoye mặc dầu đã chết vẫn bị lãnh một bản án vì tội đã ký hiệp ước đưa Nhật vô Liên minh phe Trục Đức - Ý. Hoàng thân cũng là người cầm đầu chủ trương chiếm cứ các lãnh địa giữa Nam Dương, Miến Điên, và một phần Tân Tay Lan. Ông và Bá tước Kido là hai nhân vật chánh phải chịu trách nhiệm về việc Nhật Bản thành một nước độc đảng.

        Các Tướng lãnh Araki, Hata, Koiso, Umeai và Bá tước Kido, Đô đốc Shimada, Đại tá Hashimoto và 9 nhân vật khác đều bị tuyên án khổ sai chung thân. Shigenori Togo, cựu ngoại trưởng trong Nội các Tojo bị kêu án 20 năm tù ở. Mamoru Shigemitsu : 7 năm tù ở về tội không âm mưu nhưng có tham dự vào việc phát động chiến tranh xâm lăng, và không chu toàn công cuộc điều tra về các hành động ngược đãi tù binh. Nhà ngoại giao với giọng ôn tồn cho rằng trong một nội các chiến tranh, quyền hạn của ông bị hạn chế, không thể làm gì được.

        Các Tướng lãnh Đoihara, Itagaki, Kimura và Muto đều bị kêu án tử hình vì các tội : âm mưu phát động chiến tranh xâm lược, phá hoại hòa bình, chịu trách nhiệm về những hành động ngược đãi tù binh chiến tranh và tù dân sự. Đồng một số phận tử hình là các Tướng Yamashita và Homma, đã bị hành quyết tại Manila. Tướng Matsui, người chịu trách nhiệm về việc không ngăn cản những hành động «bạo hành giết chóc tập thể và cá nhân, trộm cướp hãm hiếp tại Nam kinh» cũng lãnh án tử hình. Đồng lãnh án tử hình còn có một nhân vật dân sự, đó là Koki Hirota. Cựu Thủ Tướng Hiranuma : chung thân khổ sai. Sau cùng là Hideko Tojo, bị buộc vào các tội : âm mưu phát động chiến tranh xâm lược, phá hoại hòa bình, trách nhiệm về việc hành hạ, ngược đãi tù binh trong công tác làm đường xe lửa Thái Lan — Miền Điện.

        Nguyên văn bản án của Tojo như sau :

        «Bắt đầu từ năm 1937, sau khi nắm chức Tư lệnh Đạo binh Kwangtung ở Mãn châu, bị can bắt dầu tham dự vào các âm mưu của phe Tướng lãnh. Bị can đã thảo kế hoạch xâm lăng Nga sô và đề nghị đánh Trung quốc để bảo đảm cho hậu quân Nhật trong kế hoạch tấn công Nga. Từ đó bị can luôn luôn nuôi dưỡng ý tường phát động những cuộc chiến tranh xâm lược.

        Từ tháng 7 năm 1940, sau khi trở thành Tổngtrưởng . chiến tranh, bị can đã tiến hành nhiều công cuộc chuẩn bị và âm mưu lập kế hoạch phát động chiến tranh xâm lăng các nước láng giềng. Bị can là người chủ chốt và thi hành công việc một cách quyết tâm, khéo léo, kiên trì.

        Bị can trở thành Thủ Tướng Chánh phủ Nhật Bản vào tháng 10 năm 1941, và tiếp tục lãnh đạo chiến tranh xâm lược cho tới năm 1944. Với chức vụ Thủ Tưởng Chánh phủ kiêm Tổng Trưởng chiến tranh, bị can đã chủ động trong việc xâm lăng Trung Quốc, Hoa Kỳ, và toàn thể Đông Nam Á để bảo đảm việc cung cấp nguyên liêu cho kỹ nghệ Nhật.

        Bị can đã dùng tất cả ảnh hưởng và quyền hạn để hỗ trợ chánh sách xâm lăng của Nhật, đóng vai chánh yếu trong các quyết định hỗ trợ chánh sách đó. Bị can là người chủ chốt chịu mọi trách nhiệm về các hành động tấn công xâm lăng của Nhật. Trước Tòa án này, bị can vẫn cho rằng đó là những hành động tự vệ chánh đáng của Nhật. Nhưng Tòa đã nhận thấy lập luận đó không có căn bản vững chắc nào.

        Và Tòa tuyên án tử hình».

 8 
 vào lúc: Hôm nay lúc 09:26:29 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Cuối tháng Ba năm 1943, Yamamoto đề nghị vói Đề đốc Kusaka, chỉ huy trưởng tại Rabaul, đem 300 máy bay từ bốn hàng không mẫu hạm của Đệ Tam Hạm Đội căn cứ tại Truk họp với các phi đội của Bộ binh để đánh phá các vị trí Đổng minh tại quần đảo Solomon và New Guinea, đồng thời tiêu diệt không lực Hoa Kỳ trong vùng này. Ông gởi các sĩ quan tham mưu đi Rabaul trước, và ông sẽ tới sau với các chi tiết của kế hoạch, được mệnh danh là cuộc Hành quân I, đánh phá các hải cảng và phi trường tại Tulagi và Guadalcanal.

        Yamamoto bay tới Rabatil ngày 3 tháng Tư, một ngày trước khi cuộc Hành quân khởi sự. Ông nhận thấy Rabaul thật là một căn cứ vĩ đại, còn hơn cả ở Truk, với năm phi trường và một hải cảng trải rộng với khoảng 100.000 binh sĩ đồn trú trong các doanh trại san sát. Ngoài ra, Rabaul còn nổi tiếng vỉ có 600 quân điếm gồm các phụ nữ Triều Tiên và Nhật để hộ lý cho các sĩ quan và binh lính trên đảo.

        Yamamoto tới đảo được các sĩ quan tham mưu đón ngay về Tổng hành dinh của Đô đốc Kusaka. Hai người bắt tay mừng rỡ và bàn ngay tới cuộc Hành quân ngày mai. Nhưng hôm sau đó cả vùng bị mưa dông tầm tã ba ngày liền khiến cuộc hành quân cũng phải dời lại.

        Tư thất dành riêng cho Yamamoto ở ngay cạnh Bộ Tư Lệnh, nhưng ông rất ít ở nhà. Thường thường người ta thấy ông ở tại các phi trường để thăm hỏi binh sĩ, hay trong bệnh viện, an ủi thương bệnh binh.

        Trước rạng đông ngày 7 tháng Tư, các oanh tạc cơ cất cánh bay nhập với các đoàn máy bay đông đảo ở Ballale để mở cuộc tấn công. Yamamoto đứng ở phi trường vẫy chào các phi công cho tới chiếc chót.

        Đợt tấn công đầu tiên gồm tất cả 188 chiếc, trong số có 117 chiến đấu cơ Zero và 71 oanh tạc cơ, nhắm thẳng hướng Guadalcanal và Tulagi bay tới đánh phá. Họ bất chấp các đợt phi cơ Đồng minh từ dưới bay lên chận đánh, cứ việc nhào xuống các chiến hạm và phi trường địch bắn phá, oanh tạc. Trận không chiến gần phi trường Handerson dữ dội nhất. Hàng trăm phi cơ quần thảo, rượt đuổi nhau trên một vùng trời rộng 400 cây số vuông, trong suốt ba giờ đồng hồ.

        Sau khi trút hết bom, đạn các phi công Nhật trở lai phi trường ở Rabaul và nhận thấy Yamamoto đã đứng chờ sẵn ở đó để đón họ. Mọi người có cảm tưởng như suốt từ sáng tới giờ ông vẫn đứng chờ yên một chỗ. Kết quả trận đánh đầu tiên được báo cáo: hai mươi sáu chiến hạm Đổng minh bị đánh chìm. Phía Nhật mất hai mươi mốt phi cơ. Tổn thầt hơi cao, nhưng so với thiệt hại của địch như vậy, Bộ Tham mưu cũng tạm hài lòng. Yamamoto cho rằng đánh Guadalcanal như vậy đủ rồi, và ông hạ lệnh tấn công các căn cứ khác của Đồng minh. Các phi công tập họp ở phi trường, Trước mặt họ có một tấm bảng ghi tên từng người và từng tên chiến hạm hay máy bay địch họ đã hạ được. Họ nghiêm chỉnh đưa tay chào khi Yamamoto xuất hiện trong bộ đồ trắng của một vị Đô đốc Hải quân, Ông dùng những lời lẽ hùng hồn, cảm động khuyến khích mọi người.

        Ngày 11 tháng Tư, một phi đội gồm chín mươi bốn oanh tạc cơ và chiến đấu cơ đánh vào vịnh Oro, ở New Guinea khiến sáu chiến hạm và hai mươi mốt phi cơ đồng minh bị phá hủy. Phía Nhật chỉ bị mất có sáu chiếc.

        Ngày 12 tháng Tư, Yamamoto phái 174 phi cơ tới bắn phá hải cảng ở New Guinea, nơi đặt Bộ Tư Lệnh của Tướng MacArthur và Kenny, phá hủy hai mươi tám phi cơ địch, đánh chìm một hải vận hạm và làm hư hại nặng phi trường.

        Những thắng lợi trên đã khiến Yamamoto và mọi người đều lên tinh thần. Ngày 13 tháng Tư, Kusaka mở tiệc họp mặt các cựu sinh viên sĩ quan Trường Hải quân Etajima. Yamamoto mang tới hai chai johnny Walker để góp vui.

        Hôm đó, tại căn cứ thủy phi cơ ngoài khơi Bougainville, tin tức về lộ trình thị sát các căn cứ tiền tuyến được loan báo cho tất cả các Bộ Chỉ huy trong vùng. Đô đốc sẽ rời Rabaul lúc 6 giờ sáng để tới thăm Ballale, Buin và Shortland. Điện văn được mã hóa và xếp vào loại tối mật, có mang chữ ký của Đô đốc Samejima, Chỉ huy trưởng Không đoàn 8.

        Ngày 14 tháng Tư, các phi công đánh phá vịnh Milne và một phi trường gần đó. Kết quả có mười hải vận hạm Hoa Kỳ bị chìm, bốn mươi bốn phi cơ bị hạ. Đây là trận oanh tạc cuối cùng, kết thúc cuộc Hành quân I. Ngày 16 tháng Tư, các phi công họp mặt, mở tiệc mừng chiến công.

        Tổng kết kết quả cuộc hành quân I đem lại là: một thiết giáp hạm, hai khư trục hạm, hai mươi lăm hầi vận hạm của Hoa Kỳ bị đánh chìm, 134 phi cơ bị hạ. Phía Nhật bị thiệt hại 54 máy bay.

        Theo lòi Đô đốc Ưgaki, kết quả to lớn không ngờ đó đã khiên mọi người phấn khởi, và tăng thêm uy tín của Yamamoto rất nhiều. Hôm sau, Ban Tham mưu,bắt đẩư phát họa các cuộc hành quân khác trong tương lái, và Chù Nhật thì Yamamoto lên đường thị sát các căn cử tiền tuyền để ủy lao và ăn mừng chiến thắng với binh sĩ.

 9 
 vào lúc: Hôm nay lúc 09:25:59 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
 
CHƯƠNG VI

CHIẾN LƯỢC MỚI

        Chiến thắng của Hoa Kỳ trên đảo Guađalcanal đã đưa mặt trận xa về phía đảo Rabaul, nơi quân Nhật dang đóng đại bản doanh tại Thái Bình Dương.

        Hòn đảo này trước đây do người Úc chiếm, nhưng sau đó phải bỏ đi vì núi lửa trên đảo hoạt động trở lại. Khi xảy ra chiến tranh, quân Nhật đã tới lập doanh trại. Trên đảo toàn là rừng rú, mưa lũ ngập lụt, ướt át, ẩm thấp quanh năm. Muỗi, vắt, bò cạp, nhện độc lớn bằng chiếc dĩa và vô số các loại rắn rít khác.

        Đặt căn cứ tại đây, Yamamoto vẫn còn hy vọng cắt đứt đường tiếp tế của Đồng Minh và tiến đánh Úc châu. Kể từ mùa Xuân, căn cứ Truk đã được củng cố chu đáo. Yamamoto hình như muốn tới thăm Rabaul để xúc tiến cuộc phản công đã bị trì hoãn từ lâu nay. Lúc này là thời gian thuận tiện, các phi cơ đã được bổ sung đẩy đủ. Lần đầu tiên trong chiến tranh, Nhật sản xuất tới 500 máy bay trong một tháng. Tokyo ra lệnh cho Isoroku tiến xuống phía Nam.

        Yamamoto cho rằng chính vì sự chỉ huy thiếu thống nhất trong quân đội nên Guadalcanal đã bị mất. Sự kèn cựa giữa Bộ binh và Hải quân càng ngày càng ráo riết. Bộ binh lo đóng riêng lấy các hải vận hạm và tàu ngầm của mình. Hải quân lập xưởng chế tạo động cơ riêng. Phe nào cũng muốn nắm quyền kiểm soát các kỹ nghệ. Quân đội lúc này có ba đài khí tượng riêng cho bộ binh, không quân và hải quân, Sự thiếu thống nhất về đường lối chiến lược tổng quát có thể dẫn tới những sụp đồ trầm trọng.

        Yamamoto có một niềm vui nhỏ, khi bạn cũ là Trung Tướng Imamura ghé thăm ông trên đương đi nhậm chức Chỉ huy trưởng Lộ Quân 8 tại Rabaul. Imamura gặp Yamamoto trên Soái hạm Musashi neo tại Truk, và báo tin mừng Bộ binh sắp gởi hai Sư đoàn mới xuống phía Nam Thái Bình Dương. Nhưng Yamamoto thúc ông phải đòi Tokyo gởi thêm nữa mới đủ. «Chúng ta đã bị thiệt hại nặng. Không lực địch đang cắt đứt các đường tiếp tế của ta. Chừng nào tới Rabaul, tôi nhờ anh nghiên cứu sự chênh lệch giữa Không lực của ta và địch. Và chắc chắn thể nào anh cũng thấy mình cần thêm nhiều phi cơ nữa.»

        Hai người dùng cơm với các sĩ quan Tham mưu trên Soái hạm, và sau đó ngồi nói chuyện riêng. Nét mặt Yamamoto đầy vẻ nghiêm trọng : « Tình hình đã thay đồi nhiều. Lúc chiến tranh mới khởi sự, một phi công của ta sức chiến đấu ngang với năm phi công địch. Nhưng hiện nay ưu thế đó không còn nữa. Trong trận Midway ta đã bị thiệt nhiều phi công giỏi, và cho tới nay cũng vẫn chưa được bổ sung. »

        « Bây giờ phi công địch giỏi hơn hay sao ? »

        Yamamoto không muốn ca tụng địch : « Dĩ nhiên càng huấn luyện thì càng tiến bộ. Nhưng vấn đề khó khăn của chúng ta là về kỹ thuật chế tạo và trang bị phi cơ chiến đấu. Những phi công điêu luyện của ta hiện đang phải đem tài sức khéo léo để đối phó với các loại phi cơ tối tân của địch. »

        Trước khi chia tay, Yamamoto nói thêm : « Hiện nay tỷ lệ tương đương giữa ta và địch là một chọi một hoặc hai. Nhưng số bổ sung hàng ngày của địch gấp ba lần của ta. Vì vậy trong tương lai sự tương quan lực lượng sẽ cách biệt rất lớn. Tình thế thật là khó khăn cho ta. Về phương diện Khoa học, hình như người mình không tiến thêm được bước nào. Kỹ thuật sản xuất vũ khí và trang bị cũng quan trọng không kém gì tinh thần của binh sĩ, nhất là đối với Không quân. »

        Lúc Tướng Imamura rời tàu, Yamamoto vẫn can đảm hứa với ông sẽ nỗ lực yểm trợ để đánh đuổi quân địch về phía Tây qua quần đảo Solomon.

        Vào tháng Ba năm 1943, sau trận thất bại quá nặng nề tại vùng biển Bismarck, Không quân Nhật ở Thái bình dương chỉ còn tất cả chừng 300 chiếc, trong đó hết 200 chiếc là của Hải quân. Tokyo không tăng viên bổ sung các tổn thất của Tướng Imamura. Phi cơ Đồng Minh hầu như bay tự do trên doanh trại của ông.

 10 
 vào lúc: Hôm nay lúc 09:24:37 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Những chiếc p. 38 quá lớn, không tiện cho việc nhào lộn chiến đấu cặp đôi, nhưng Mitchell nhận thấy nó trở nên vô cùng lợi hại khi đuổi theo phía sau và nhào xuống những chiếc Zero. Trong lúc lượn vòng, P.38 không thể bay nhanh như những chiếc Zero, nên các phi công cho phi cơ lượn ở phía dưới phi cơ địch và đuổi theo bằng cách vọt lên cao với tốc độ thật nhanh. Với sự điều khiến bánh lái một cách điêu luyện, các phi công có thể lượn vòng nhỏ như các loại máy bay khác trên không phận Thái Bình Dương.

        Loại máy bay mới này cũng khiến cho địch ngạc nhiên rất nhiều. Một phi công tù binh Nhật được đưa vào phòng lái của một chièc p. 38 để xem phản ứng của anh ta ra sao. Anh ta đã tỏ vẻ vô cùng thích thú và ngạc nhiên trước những tiện nghi tối tân. Hết rờ kính gió, lại rờ các mặt đồng hồ và lớp trần bọc thép trên đầu, miệng anh kêu lên : « Thật là tuyệt ! Tuyệt quá ! » Nhưng sau đó, anh ta quay lại nói với người thông ngôn : «Tụi tôi ngán loại phi cơ này chớ không ngán mấy phi công Mỹ. » Mit- chell và các bạn cười lớn trong khi người tù binh được dẫn đi.

        Máy bay Nhật không còn đánh phá Guadalcanal tự do như trước được nữa. Mitchell khai triển một kế hoạch ngăn địch như sau : Khi nghe còi báo động, lập tức tất cả máy bay đều cất cánh. Những chiếc p. 38 ở độ cao 10.000 thước, các phi cơ F4F của Hải quân và Thủy Quân Lộc Chiền 8 ngàn thước, và những chiếc P.40 4.000 thước. Tất cả chờ sẵn ở vị trí như vậy, và khi những đoàn oanh tạc cơ hay Zero của địch bay tới là nhào xuống đánh nhầu. Kết quả của chiến thuật này đã khiến cho số tổn thất của máy bay Nhật gia tăng mau chóng. Vào ban đêm, phi cơ Nhật cũng hết còn đến quầy rầy giấc ngủ của mọi ngươi, kế từ hôm Mitchell bất kể lệnh cấm, bay lên hạ được một chiếc.

        Vào tháng Chạp, các phi công trong phi đội 70 trước kia lại có dịp gặp nhau, khi Viccellio dẫn một toán anh em mới tới tăng cường cho Guadalcanal. Trong số đó có Lanphier và Barber. Tuy không bay chung với nhau trong cùng phi đội, nhưng anh em đều ăn ngủ chung và thường trao đổi với nhau các kinh nghiệm không chiến. Mọi người, ai cũng đều công nhận Mitchell là một anh hùng không quân,

        Toán phi công mới tới bắt đầu lập chiến công. Đầu tiên là Lanphier, hạ một chiếc Zero vào hôm trước lễ Giáng Sinh, ngay bên trên phi trường. Trong một phi xuất hai ngày sau đó, đi oanh tạc tại đảo New Georgia, anh lại hạ được hai chiếc Zero nữa, và mấy anh em khác thả bom làm cháy các bồn xăng và mười hai phi cơ địch đậu bên dưới. Anh được gắn Anh dũng bội tinh không quân sau phi vụ này. Anh em tất cả đều cảm phục trước sự bình tĩnh của anh trong khi chiến đấu. Một hôm trông thấy một hải vận hạm của địch, anh liền gọi máy đề nghị cá mỗi người năm đô la, ai thả bom đúng nhất thì ăn. Tất cả nhào xuống, và một trái bom 250 ký của anh thả trúng ngay boong tàu. Thế là hôm đó anh được ba chục đô la.

        Một ngày kia ngồi tính sổ lại, Viccellio thấy từ khi phi đội tới công tác ở đây, mỗi người đã có được sáu mươi lăm giờ bay chiến đấu, hạ tất cả bảy chục máy bay địch, và phi đội không bị mất người nào. Một vài người ghi được những thành tích vẻ vang, xuất sắc. Barber đơn thương độc mã, bất kể các phi cơ hộ tống địch, đã nhào xuống hạ được mệt oanh tạc cơ khổng lồ của địch ngay lúc nó đang hạ cánh tại đảo New Georgia. Sau thành tích này, anh được thưởng Ngôi Sao bạt. Jacobson cũng được Ngôi Sao bạc sau khi đã đánh nhầu với các máy bay Zero trên cao độ, tới gần hết bình dưỡng khí anh mới nhào xuống chiến hạm địch bên dưới, và tiêu diệt nằm sáu ổ súng phòng không. Cùng ngày đó, anh và tám bạn đồng đội khác đánh một hạm đội địch gồm năm hải vận hạm và tám khu trục hạm. Một chiếc đã bị chìm ngay sau đó.

        Canning lần đầu tiên xử dụng đại liên của loại phi cơ P-38 đã vô cùng ngạc về hỏa lực mạnh mẽ này. Anh chỉ bấm cò nhẹ là một tràng đạn đã bay ra cắt đứt nguyên chiếc đuôi của một phi cơ địch ở cao độ 2.000 thước, khiến nó bốc cháy và nổ tung giữa bầu trời trên đảo Kahai.

        Tình đồng đội giữa các phi công trên đảo thật là thắm thiết. Họ chiến đấu cùng với nhau, ăn ngủ và vui buồn cũng đều có nhau. Mọi người thường lấy tên bạn gái hay tên các nhân vật trong tiểu thuyết để đặt tên cho phi cơ của mình.

        Về đêm, họ không biết làm gì hơn là nằm nghe nhạc. Những bản «Ánh sáng kinh kỳ», «Ngôi Sao cài trên áo anh», «cỏi ra, cởi ra» được mọi người ưa thích, nghe đi nghe lại mãi không chán.

        Sau này trên đảo có một thư viện nhỏ của quân đội, và họ thường tới mượn các truyện bằng tranh về coi, cười ầm lên cả phòng. Hồi này không có ai đánh bạc như lúc ở Fiji nữa.

        Ngày I tháng Giêng năm 1943, Mitchell tổng kết thành tích của phi đội 399 như sau : hạ tại trận hai mươi mốt máy bay địch và bảy chiếc khác nghi ngờ đã bị hạ. Phi đội mất bốn phi công trong lúc chiến đấu, và năm sáu người khác bị các tai nạn. Phi đội đã bảo vệ hữu hiệu Guadalcanal và oanh tạc vị trí địch tại các nơi khác. Kể từ tháng Chạp, TQLC bắt đầu rời đảo để tiến đánh các mặt trận xa về phía Tây, bắt đầu từ đảo Rabaul.

        Mitchell bị sốt rét rừng, phải vô nhà thương ít lâu. Sau đó anh lại được phép qua Úc chơi một tuần rồi mới trở về tiếp tục chiến đấu. Viccellio thăng Thiếu tá và được bổ nhiệm chi huy Phi Đoàn 15 tại Noumea.

        Bẳt đầu từ tháng Hai, Bộ Chỉ huy Không quân được thành lập tại Solomon dưới sự chỉ huy của Đô đốc Mason. Nhu cầu không lực mỗi lúc một gia tăng. Một hôm trên đường oanh tạc hạm đội địch trở về, Barber gặp một tàu địch, anh nhào xuống bắn và bỏ bom quá thấp nên cánh máy bay đụng cột ăng-ten tàu đứt mất một bên cánh. Thế mà anh vẫn bay về được căn cứ an toàn. Sau vụ này Bar- ber được thương Ngôi Sao bạc.

        Nhiều nhân vật tới thăm phi trường Handerson, nơi đồn trú của phi đội 399. Trong đó có cả ông Bộ Trưởng Hải quân Knox. Hôm đó chỉ huy trường đã điều động hơn một trăm máy bay bay lên để đón và đưa ông Bộ Trưởng. Vào đầu tháng Ba, Tình báo của Đô đốc Mason cho biết địch bắt đầu sắp quậy trở lại.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM