Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Tám, 2017, 03:29:22 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:37:29 PM 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
Giữa lúc bế tắc ấy, có hai sĩ quan Mỹ và một phiên dịch đến quận Tây Quảng mộ quân. Họ đội bê-rê xanh rắn lục, rất khác với các sắc lính của Mỹ và Sài Gòn. Họ nói rõ hơn:

- Chúng tôi là Special Forces, là lực lượng đặc biệt trong tiếng Việt, nhưng không dính dáng tới lực lượng đặc biệt của Sài Gòn đội bê-rê đỏ. Chúng tôi không thuộc quân chánh quy của Mỹ, là đạo quân độc lập dưới quyền của cơ quan lừng danh thế giới C.I.A, tức là Cục tình báo trung ương Huê Kỳ, hiên ngang một cõi. Chúng tôi chia thành những  đội A, từ 12 đến 14 sĩ quan và hạ sĩ quan, cần tuyển mộ nhiều sĩ quan và binh sĩ cũng dám liều mạng như chúng tôi. Làm việc theo hợp đồng, lương cao, chỉ một điều kiện là tuyệt đối phục tùng sự chỉ huy của chúng tôi. Đội ngũ bê-rê xanh lúc này có rất nhiều lính Nùng, lính Ê-đê và Ya-rai, nhưng chúng tôi cần thêm những người thông thuộc vùng  rừng núi ở phía Tây tỉnh Quảng Nam. Nhờ quý ông cho dán các bản bích chương màu này ở tất cả các nơi thị tứ, các đồn binh trong quận. Riêng quý ông  ở quận, chúng tôi xin có chút quà ra mắt, sau này còn kết liên nhiều nhiều.

Các quan chức ở quận, tươi mặt lên khi viên đại úy Mỹ luồn xuống dưới tập bích chương một xấp giấy năm trăm in hình Trần Hung Đạo khá dày, không che giấu trong phong bì, để khỏi bị một mình quận trưởng ăn chặn bằng cách nhồi thay vào bì toàn giấy một trăm. Quận trưởng hiểu ý, cười gượng, nói với tả hữu: “Kiểu Mỹ vậy đó, tiền trao cháo múc. Tụi Pháp xử khéo hơn nhiều... Đừng dịch nghen!”.

Bảy Bòng là một trong những người đầu tiên đăng ký tên làm lính bê-rê xanh. Nhóm mộ quân cho làm đơn qua loa, thu ngay thẻ căn cước bọc nhựa và các giấy tờ, điền tên vào khống chỉ của quận tạm dùng để đi lại, trao ngay mười ngàn đồng trợ cấp bước đầu. Số định thuê là một trăm, quận tiếp tay ăn hoa hồng mà chi được bảy chục. Ngay số sĩ quan và lính Việt trong các đại đội bảo an cũng ngần ngại, vì sắc lính này hay bị ném từng toán lẻ vào vùng Việt Cộng, hễ từ chối là bị khử bằng mọi cách, chết mất xác.

Số lính mới được đưa về căn cứ Chu Lai bằng ô-tô, tiếp đi máy bay vào Nha Trang, nơi có căn cứ riêng của sắc lính S. Ba tháng để trắc nghiệm và huấn luyện. Ăn khá, thuốc men khá, chỉ tập tành rất căng, ai cũng đen trũi và to mập hẳn ra. Ngại nhất là nhảy dù với ba-lô và súng đạn, còn bơi võ trang và sục rừng núi có dễ hơn. Chỉ huy trưởng biệt kích là một đại úy người Đức, trước ở quân-lê-dương Pháp, đã từng ở tù Việt Minh hơn hai năm mới được trao trả, nói tiếng Việt kha khá. Cuối khóa, Bảy Bòng được giao chức trung đội phó trong đại đội mới lập, đặt dưới quyền một đội A toàn Mỹ, mười hai người.

Đại đội lập tức được tung vào cuộc hành quân trên miền Tây sông Linh và sông Thu Bồn. Các đơn vị quân chính quy Sài Gòn và các sắc lính khác bắt đầu ghen tức khi thấy “lính Xịa” ăn lương cao gấp rưỡi hay gấp đôi mình, đi đâu có trực thăng đưa đón và tiếp tế xả láng. Chỉ còn tự an ủi là Việt Cộng rất chịu khó lùng diệt thứ biệt kích đó lắm, coi chẳng kém gì tụi thám báo của quân đội Mỹ.

... Tiếng la làng inh ỏi ở xóm Chợ nổi to hẳn lên, lúc này cố đến năm sáu cột khói hiện rõ vì trời không gió và mù đã tan. Từng tốp dân làng ùn ùn chạy tới bót dân vệ, bị chúng chĩa súng chặn. Có người còn gánh, có người chạy tay không, vài chị trung niên và cô gái trẻ đã bị xé tan áo quần, chạy bay tóc. Họ bôi nghệ trên mặt hay đầy mình, giả làm đàn bà đẻ, làm người mắc bệnh sốt vàng da và sưng gan, nhưng không qua mắt được bọn “cọp trắng rừng xanh”.

Tên trung đội trưởng dân vệ nạt:

- Chưa hết giới nghiêm, mấy người đụng thứ lính nào cũng bị xăm mứt gừng nát bét (hắn thấp giọng) khờ lắm, kiếm chỗ rừng rẫy gì đó rúc vô núp tạm đã. Vợ con tụi tôi chạy không kịp cũng bị với bọn rằn ri đó, muốn chạy về coi chút mà cũng chịu bó cẳng đây.

Ông Tư gọi vợ con vào nhà, nói vội:

- Không xong, trúng cái bọn ăn gan uống máu đó thì lớn bùi nhỏ mềm, trẻ chẳng tha già chẳng thương... Con Năm với con Út mỗi đứa một gánh, băng qua rẫy, theo con đường cắt tranh đốn củi đó, chạy tuốt tới cụm rừng sau miếu nghĩa tượng, ở đó đợi. Để hai ông bà già với con Lúa đi sau. Gấp quá rồi, đừng cãi.

Con Lúa sợ quá cứ níu áo Năm Bưởi, ông cũng  cho nó đi luôn, đeo trên lưng cái bồng nhỏ. Còn lại hai ông bà với hai gánh. Ông tháo cái biển gỗ đen đề chữ trắng “LOẠI A” nhét xuống đáy thúng, trong khi bà Tư sực nhớ, cắm thêm hương vào cái âu sành trong cái thổ kỳ nhỏ dưới gốc mít. Còn may, ông với Út Thanh Yên đã đánh ba chuyến xe trượt trâu kéo, chở hết bộ đồ rèn vào trong ấp, được Cửu Áng chia cho một căn nhà khung gỗ lợp ở góc khu đất, gần giếng, cũng gần dòng khe Sặt bên ngoài hàng rào - khe này chảy qua đằng sau ấp phủ Đình trước khi nhập vào sông Linh. Lão khoe chỗ ở tốt -cũng tạm gọi là tốt trong cái chuồng chật ních rào kẽm gai này, sau sẽ dựng và đào đủ hai sông ba núi.

- Chỗ bạn già, tôi nói tình thiệt: tôi mua đời mà sống đó anh. Hồi nào Cả Chanh với Năm Chò về thăm, anh cứ nói giùm cho tôi mấy tiếng, đừng để cho tôi chịu phơi xác như Ba Mít là tôi mừng rồi. Dặn luôn anh nghen: rào dậu bấy nhiêu các ổng coi bằng trò con nít, vô ra như chơi. Anh cứ tiếp sao cho kín, nhắm chừng Giải phóng đi xa rồi thì đánh vài tiếng mõ cho có lệ, hễ lộ dấu chân dấu giép chẳng ai bắt bẻ được anh. Tôi có nói đôi câu giả hăm dọa, anh đừng chấp.

Ông Tư giữ ý, chỉ gật. Rốt lại, ông chuyển được hết số gạo bắp và khoai sắn khô vào căn nhà tôn, khóa cứng và chốt hai cửa sổ. Cửu Áng cầm loa pin đi nói ở hai ấp mới rằng hội đồng xã cho phép dân tháo dỡ nhà cũ vào dựng lại trong ấp, vì chánh quyền quốc gia chưa đủ nhà gỗ chế sẵn để phát cho dân. Nhiều người đã về làng vớt vát được cột kèo, đòn tay, nhà mới lợp còn lấy được tranh nữa.

Tại sao hôm nay lại xảy ra những vụ hiếp gái, cướp của, đốt nhà? Quân hồi vô lệnh là lúc khác, chứ dân đang lũ lượt kéo vào ấp tân sanh kia mà?

Cửu Áng rỉ tai là quân Mỹ sắp đánh lên núi, từ đây lên tận xứ Lèo, dữ dội chưa từng thấy, phải xua dân né ra cho đỡ chết. Chưa thấy Mỹ lên, chỉ thấy ác ôn hại dân. Vô ấp, chịu cảnh cá chậu chim lồng, các sắc lính rằn ri xông tới thì chạy đằng nào?

Tàn điếu thuốc này, ông Tứ lại móc cái chơơng đép, là hộp đựng thuốc hút đan bằng mây rất đẹp, xé một lá ra quấn kiểu xì-gà sâu kèm. Nó là vật kỷ niệm của anh Tơ-rin. Bà con Thượng bật lên núi cao, đã sống cách nào dưới những  thảm bom của tàu “sừng trâu” cùng các thứ chất độc xuống như mưa phun hay sương mù? Anh em Giải phóng còn cực khổ hơn cả người Thượng nữa, đói cơm lạt muối lại thêm các thứ bệnh nó hành, vẫn cứ lăn lộn đánh giặc.

Cách đây năm ngày, Năm Chò cùng đi với một tổ võ trang công tác, mở cửa sau vào nhà lúc một giờ sáng. Cà nhà dồn hết vào gian trong, khóc sụt sịt, trong khi ông Tư nắn bóp chàng rể coi thử có sứt mẻ gì không. Năm Chò vẫn vuông vức như cái tủ gỗ mun, chỉ thêm nhiều sợi bạc trong tóc. Ăn nói cứ ngang tàng như hồi nắm du kích Việt Minh. Út Thanh Yên ra gác ngoài cổng, tay cầm gậy, ám hiệu là tiếng la “chồn bắt gà”. Dưới ngọn đèn dầu buộc miếng mo che lửa, Năm Bưởi đọc thấp giọng đọc, lá thư Cả Chanh khá dài, kèm nửa trang thăm hỏi của Hai Thùy. Hễ liệu bề không cưỡng nổi thì cả nhà cứ tạm vào ấp tân sanh, về sau sẽ tìm cách phá ra. “Cha còn nhớ hồi đình chiến, Đảng mình dặn đấu tranh có lý, có lợi, có chừng mực, nay cứ vậy mà làm. Cách mạng không phải là liều mạng!”.

Mãi tối gần ba giờ, Năm Chò cùng anh em mới rút qua bên kia sông Linh với mỗi người một bồng nặng muối, gạo, khoai, sắn khô, thêm một bình nhựa to mắm nục nữa. Đợi chồng đi khỏi hơi lâu, Năm Bưởi mới úp mặt trên gối khóc rung cả nửa người, con Lúa bắt chước khóc theo tuy chưa kịp mếu người cha đã vắng mặt trước khi nó ra đời...

Hai chiếc trực thăng phản lực rà sát ngọn tre bay qua, quần lại, đảo nhiều vòng số 8 trên xóm Chợ đang cháy. Hình như bị đạn dưới đất quạt lên, chúng bay chéo rướn cao. Tiếp tới các loại súng to nhỏ nổ túi bụi chỗ đình Linh Lâm đã được xây đắp thành đồn lính bảo an với nhiều lớp rào kẽm gai và hầm hào lô-cốt gỗ đất. Súng ngớt chừng năm phút, một trái đạn đen vọt lên trời với tiếng kép “pình pung”. Vợ chồng ông Tư xốc gánh, đi theo con đường mòn xuyên rừng đến miếu nghĩa tượng, luồn ra đường 56, vào ấp Truông Dơi I.

Hỏi nhiều người mới biết, tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng đêm qua nhậu say bét, nhớ mang máng rằng cả làng Linh Lâm vào ấp cả rồi, của để lại là của bỏ, cho lính sáng mai đi vét. Đồn bảo an chặn lại, bị chúng trói ké và tước vũ khí hết. Đại tá tham mưu trưởng cuộc hành quân Gấu Trắng đi trực thăng lên, dùng máy PRC 25 hạ lệnh rút về khu cắm trại, bị lính bắn bừa. Thiếu tướng tư lệnh quân đoàn Một phải lệnh cho hai tiểu đoàn biệt động quân còn lại bao vây bọn làm loạn.

Ông Tư nói nhỏ với các con:

- Tiếc quá, để chó cắn cho thiệt nhừ xương, dân mình mới sướng bụng. Mới mười giờ sáng đã dứt hết. Nghe nói bọn tưởng chơi đêm, ngủ đến trưa tròn bóng mới dậy kia mà!

 2 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:34:49 PM 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
*
*   *

Liên gia Ba trước là xóm Chợ, gần cuối ấp Linh Lâm. Các nhà giàu ở đấy mất nguồn lợi buôn Thượng đã thuê đò dọc về Hội An, Đà Nẵng cả, nhưng hay để lại một vài con cháu để trông nom nhà, vườn, đến mùa thu hoạch lúa tô. Cửu Áng biết dân đây đã nổi loạn, phải dỗ đám nhà giàu đừng đòi truy thu nợ tô hồi chín năm Việt Minh hay trong hai năm Việt Cộng làm chủ các làng ven sông Linh và sông Thu Bồn, 1965 và 66. Sang năm nay 1967, tuy sắc lệnh cải cách điền địa xóa bỏ các đợt chia ruộng đất của Việt Minh được giữ nguyên, nhưng chưa thấy tăm hơi gì dân ruộng dân rẫy chịu gánh lúa nộp chủ. Ngay cụ tỉnh phó Ung Viết Đỉnh đi trực thăng về xem cơ ngơi cũng lắc đầu: ruộng đất còn đó nhưng bỏ hóa một nửa vì số đông lực điền cổ cày vai bừa làm rẽ chia đôi dưới quyền quan phủ nay chia nhau lên núi hay đi quân dịch. Ngôi nhà cụ Thượng xây làm hồi môn cho cô con gái chửa hoang bị trúng bom và rốc-két nhiều lần đã tan nát. Nhìn sang bên kia sông Linh, khu đất ngót một ngàn mẫu tây cụ nắm đủ giấy tờ để chiếm - cũng phải mất thêm nhiều triệu nữa, vì Nam triều không còn, quốc trưởng Bảo Đại bị đá bay, và người đá cũng chết toi cả mấy anh em - nay đã thành rừng non với những vạt sim, mua, bọ xít, chà là chen nhau phủ đất, bóp chết dần những trăm mẫu cà-phê, chè, trầu được trồng ngay ngắn và vun gốc dọn cỏ thời đồn điền La-phác-sơ còn thịnh.

Hôm nay, làng Linh Lâm sẽ bị xóa tên trên bản đồ Tây Quảng. Tiếng bom rải thảm của B.52 mé núi cao dội về từng đợt như sấm kéo dài mùa mưa bão. Cả làng Linh Lâm được lệnh dời về hai ấp chiến lược mới khoanh chỗ ở Truông Dơi, nằm hai bên con đường tỉnh số 56, đặt tên là Truông Dơi I và II, chỉ cách sông Linh chừng hơn một cây số.

Cửu Áng đã lên làm đại diện hội đồng xã, đi họp từng ấp dọc sông Linh, khoe mình khéo kiện cáo lên trên, dân mới khỏi dời xa ruộng vườn mồ mả như nhiều nơi khác.

- Mà cũng phải quá đi chớ. Bà con mình còn nhớ cái lụt kinh hồn năm Thìn, tức là năm sáu tư đó, nhiều làng chết ráo cạo không ai sống sót để tìm xác cha mẹ vợ con. Dân Linh Lâm không chạy vô Truông Dơi cũng chết trụi lủi. Ta dời làng lên chỗ cao ráo, hằng ngày trở về làm ruộng rẫy như thường. Dân Thượng cứ ba bốn năm dời làng một lần đi tìm đất tốt là khôn thượng đẳng, khôn hơn người mình quá sá.
Có điều lão biết và dân biết nhưng không nói ra: hai ấp chiến lược ấy gác giữ khúc đường nguy hiểm mà hồi trước cách mạng tháng Tám đội du kích Linh Lâm định phục đánh bảo an binh. Qua một cây số đường đèo lại có ba ấp chiến lược mới: khu chợ là Huề Bình I, tả hữu Huề Bình II và III, dàn thành bình phong che chắn cho khu quận lỵ mới đang xây rất gấp.

Cả nhà ông Tư Chua đã soạn gánh xong, đang chờ trái đạn đèn súng cối bùng lên báo hết giờ giới nghiêm, thường là sau lúc tan sương mù. Đằng nào cũng phải đi, thì đi, lúc khác mới đấu lý được.

Hôm nay mù đậm đặc và lâu tan. Bà Tư sực nhớ, rút bó hương trong gánh ra, châm cả bó, chia cắm mỗi nơi ba nén: trước cổng, hai bên cửa, bên bếp, chỗ lò rèn, chuồng trâu. Cắm đến đâu bà khấn lầm bầm tới đó, cố nhớ không bỏ sót một vị nào: thổ thần, môn hộ thần, ông bà táo, ông chuồng bà chuồng...

Bà Tư cố nhớ thêm cần phải khấn các vị nào nữa. Khấn không trúng là cúng không nhằm, y nguyên lời ông bà dặn vậy đó.

Cúng ông thành hoàng hay tiền hiến là việc của chức sắc nơi đình miếu không phải việc đàn bà. Đáng lẽ phải đắp mấy cái mả cô bác để nhờ các âm hồn cô hồn giữ cho nhà vườn được yên lành...

Tiếng la làng nổi lên lảnh lói phía xóm Chợ. Cả nhà dỏng tai nghe. Lạ quá, mấy nhà giàu ở đó là nơi lui tới ăn ngủ liên miên của bọn bảo an và dân vệ đi tuần gác dọc hai bờ sông Linh, ai ức hiếp gì mà kêu điếc con ráy vậy? Năm bảy phút sau, hai ba cột khói từ từ bốc lên trời, tiếp theo là tiếng tre nổ rời rạc như trẻ con đốt nghịch những trái pháo tép ngày Tết.

Thấy ông Tư ngứa máu “kiến ngãi bất vi”, chạy ra xem nhiều lần, Năm Bưởi cười buồn:

- Cha ơi, đâu phải như hồi làm chủ tịch nữa mà nghe đâu chạy đó! Nhà mình là thân cá chậu chim lồng, cha quên sao?

Có lẽ câu than thở của cô chỉ huy du kích ốm o và xanh lướt đã làm sôi máu ông thợ rèn già. Ông bước dấn ra ngõ, rẽ về phía xóm Chợ.

- Ai? Đi đâu?

- Tôi đây, Tư Rèn đây. Đi coi họ la làng cái gì...

Tên dân vệ quen chúc mũi súng xuống. Cùng lúc, tên trung đội trưởng trong bót chạy ra:

- Bác Tư về nhà đi, chưa dứt giới nghiêm, họ bắn chết tươi giờ.

- Họ nào dữ quá vậy?

- Biệt động quân mới về. Thằng Chín tiểu đội trưởng gác bót Chợ bị nó cho mấy trái đấm sặc máu mũi, kéo cả bầy chạy về đây. Bọn đầu cọp đó chặn đồn bảo an không cho bắn đạn đèn, để đi hiếp con gái, úp gánh cướp của, ai cuồng thì đốt nhà. Bác coi, khói lên nhiều rồi đó.

Tên trung đội trưởng này là con Cửu Áng, làm đúng lời cha dặn là cố kiếm tiền chứ không gây nợ máu với dân, hết sức tránh tờ cáo trạng ác ôn và viên đạn tử hình. Riêng đối với nhà ông Tư Chua phải có biệt nhỡn, ông Cả Chanh mà nổi xung điên lên thì cả ngàn quân trên núi kéo về lập tức.

Nhưng các thứ lính con cưng của Sài Gòn thì chẳng cần biết ai là ai. Biệt động quân, lính dù, thủy lục chiến, lực lượng đặc biệt, đám rằn ri đó tới đâu thì dân khiếp đã đành, mà cả bảo an, dân vệ, cảnh sát, hội đồng xã, các trưởng thôn đều rúng xương trốn kỹ. Gần đây còn thêm thứ lính bê-rê xanh rắn lục, gọi là biệt kích Mỹ nữa. Quân này do Mỹ chỉ huy, trả lương cao hơn cả lính dù Sài Gòn, chuyên rúc núi đánh du kích chống Việt Cộng.

Thượng sĩ Bảy Bòng, con ông Tư Chua, lại đầu quân vào thứ lính biệt kích Mỹ này.

Bảy Bòng bị hất khỏi chức cảnh sát trưởng xã Tây Giang sau một đợt rà soát và trắc nghiệm của Ty công an tỉnh. Hắn bị điểm kém ở tất cả các môn thi. Các vị cấp trên Mỹ và Việt xếp hắn vào loại cảnh sát trào Ngô Đình Diệm, hung dữ và dốt nát, chỉ biết tra khảo, hốt hối lộ đầy túi, ăn gan uống huyết cộng sản. Nay đến thời bình định nông thôn, còn gọi là cách mạng nông thôn, xây dựng nông thôn, phải cho dân thấy chế độ này là dân chủ, tự do, đầy khoan hồng nhân đạo để chiêu hồi cộng sản và dân chúng tin phục ở nước bạn Huê Kỳ. Kẻ đến thay Bảy Bòng là một mật vụ thời Diệm - cũng vào đảng Cần lao nhân vị như Bòng nhưng kín tiếng hơn - nói tiếng Anh tàm tạm, dùng  mưu mẹo nhiều hơn dùi cui, mượn tay người khác để khử Việt Cộng, gạt bỏ nhũng đứa giành ăn. Giết Việt Cộng hàng loạt thì đã có sức mạnh khủng khiếp của Huê Kỳ với những trận mưa bom, những đám mây hơi độc, những cuộc hành quân trực thăng “phượng hoàng vồ mồi”. Dân vệ và thôn vệ dẫn đường cho quân mũi lõ mắt xanh là vừa sức.

Chi trưởng công an quận thương tình thằng thượng sĩ trung thành, bàn với quận trưởng  cho Bảy Bòng về quận làm đại đội phó đại đội bảo an thứ ba mới lập. Lại bị tên thiếu úy đại đội trưởng không chịu nhận. Bảo an chỉ lo canh gác là chính, nhưng tên này cứ bịa ra lý do là Bòng chưa hề chiến đấu, chỉ biết bốc hốt của dân, lâm trận chắc sẽ bỏ quân chạy cong đuôi. Lý lịch cũng đáng ngờ lắm: hầu như cả nhà đều là tình nghi can cứu loại A, ông anh làm gì to lắm phía cộng sản, thêm một anh rể nữa cũng là Việt Cộng thứ dữ, chí ít cũng là thiếu tá hay trung tá gì đó.

Thượng sĩ Bòng được cho ba tháng nghỉ có lương để tìm việc. Không nơi nào chịu nhận. Quân chính quy rất thiếu lính, gặp thanh niên trốn quân dịch là nhào vô như chụp ếch, nhưng đưa một thượng sĩ vào thì chặn đường số lính cũ, mất một chức vụ dù nhỏ mà cũng bán được tiền bỏ túi.

 3 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:32:05 PM 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
*
*   *

Sau đợt bom ném hụt xuống cầu Long Biên, Hoàng Lan và Hai Thùy trở về buồng, vẫn căn buồng Đông Đức viện trợ đã bị mảnh đạn cao xạ rơi xuống phá toác hai lỗ trên mái tôn, trần bìa cứng, làm nứt sàn gỗ. Lan phải lấy nhiều mảnh ni-lông và thùng gỗ tạm vá cho đỡ dột. Một anh bạn đã đun hắc ín, pha dầu lửa, quét nhiều lớp trên mái tôn vì không đủ tiền thuê thợ hàn chữa mái.

Con Dồ đã quen hiệu còi báo động, hay tiếng nổ trước khi báo động. Nó đến đứng trước cửa hầm lớn xây xi-măng, đợi người xuống hết mới xuống cuối cùng, ngồi trên bậc cấp gấn đấy, như hồi nào nó nằm trước cửa hang giữ cho ông chủ ngủ bên trong.

Thùy ra đến Hà Nội, nghe tin anh Chanh cũng sắp từ Liên Xô về, có thể có cả Sáu Cam nữa. Sau ba tháng lẻ mười ngày lang thang dọc Trường Sơn - các cháu từ Gia Lai hay Nam Quảng Nam ra còn phải cộng thêm mười ngày, nửa tháng - đoàn trẻ em mới được ăn ngủ đàng hoàng ở K.5B, là trạm đón tiếp miền Nam đóng tại Quảng Bá. Anh bác sĩ vẹo chân đi “chấm phẩy” thương các cháu ghê gớm. Đáng lẽ tách riêng về nơi đón tiếp của quân đội, anh cứ nhất định không rời đoàn trước khi bàn giao hồ sơ từng cháu mà anh ghi đủ diễn biến sức khỏe dọc đường. Ôm lên ôm xuống vô số: sốt rét nhiều nhất, lỵ a-míp hay trực trùng thứ nhì, bệnh vặt khác thì không kể xiết.

Trong khi anh đại úy quân y chạy liên hệ với bệnh viện bà mẹ trẻ em, Thùy và Xíu lo nhận tiêu chuẩn của các cháu. Mỗi cháu được hai quần dài ka-ki, hai sơ-mi dài, một sơ-mi ngắn, một đôi dép nhựa sau đổi sang cấp tiền tự sắm vì có khá nhiều cỡ chân, hai bộ đồ lót. Khó khăn nảy ra tơi tới. Bộ đội được phất quân phục theo khổ người, sửa qua là dùng được. Đây lại mỗi cháu một cỡ, trai và gái chung đoàn, giữ kích thước đến các xưởng may quân trang thì hàng tháng mới được nhận, mà để nguyên các cháu rách rưới như thế đi các bệnh viện chuyên ngành của miền Bắc thì không đành. Ông quản lý ôm đầu: “Đón đưa tới hai chục cháu mà khó hơn trang bị cho một đại đội vào Nam”.

Hoàng Lan nhảy luôn vào cuộc. Bệnh viện bà mẹ trẻ em nằm trên đường Tràng Thi, gần bệnh viện Việt - Đức trên đường Phủ Doãn. Lan gửi hai con cho cô Tuyền ở chung nhà chỗ sơ tán, xung phong thay một quân y sĩ bị thương nhẹ cần lui về sau, giúp chị Thùy thu xếp.

Chị đo kích thước từng cháu, cắt riêng từng bộ, đưa đi thuê may tại các gia đình Lan quen. Với số phiếu vải cung cấp bốn mét một năm, nghề may rất ế, tiền công may do K.5B cấp không bị hụt. Chỉ sau ba ngày, mỗi cháu đã có áo quần mới tươm tất. Sau một ngày nữa đo chân lại đủ giép cao-su chững chạc. Lan còn thuê xích-lô chở về một máy khâu đạp chân để chị Thùy may đồ riêng cho mình bằng các thứ vải được cấp và Sáu Cam gửi về nước.

Để tránh bệnh nhân bị ùn, khi báo động, các bệnh viện chỉ nhận người ốm nặng nằm nội trú. Trạm đón tiếp có xe buýt đưa đón người bị nhẹ đi rải xuống các bệnh viện Hà Nội để khám và làm thuốc từ sáng sớm đến gần trưa, hẹn giờ họp lại cùng đi cùng về. Các cháu rất mừng khi thấy dì Hai Thùy và dì Xíu đi chung xe tới bệnh viện bà mẹ trẻ em, sau mới biết là dì Thùy đi khám thai và dì Xíu cũng mắc bệnh gì đó của “đờn bà con gái” mà dì giấu biến.

... Lên khỏi hầm đã năm giờ chiều. Cuối đợt bom ngày, chưa đến bom đêm. Hoàng Lan đóng bếp mùn cưa, Thùy vo gạo, nhặt rau muống. Bỗng con Dồ đang chạy loăng quăng lùng chuột cống dừng phắt lại, dạng chân rướn mũi, ngọ nguậy hai tai. Rồi nó chạy ào ra cổng sau bệnh viện, nơi phát ra giọng nói rất quen của ông chủ. Nó chồm dựng hai chân mà không chạm ngực chủ. Bác thường trực bỏ chỗ gác chạy ra đuổi, nó chỉ nằm bẹp xuống nhận lỗi. Bác luống cuống khi thấy ông khách mới đến mặc com-lê ca-vát, xách cặp da, đi xe Vôn-ga có lái riêng, thêm một cậu trẻ nữa chắc là thư ký. Xem dáng bộ là hàng thứ trưởng. Bác chỉ liếc qua chữ B trong vòng tròn chỗ góc giấy giới thiệu, nghĩ ngay : “Ông này khiêm tốn thật, thưa gửi và trình giấy như người nhà bệnh nhân, lại cho lái xe và thư ký đi chơi, hẹn giờ đón”.

Cả Chanh đi vào khu tập thể mà anh đã đến tìm hụt Hoàng Lan và các cháu, chỉ gặp cái ổ khóa, lên chỗ sơ tán mới gặp người. Con Dồ xoắn xuýt chạy trước.

- Ôi chao, Thùy!

Người vợ rất yêu thương đứng sững trước mặt Chanh, nước mắt lớn từ từ. Chanh nhận thấy ngay màu da sẫm đi như tráng một lớp khói đen, đôi má gầy, cái bụng bắt đầu đội áo. Anh cười gượng:

- Cùng ra Bắc một lần, mà khoảng cách tới gần hai tháng...

- Coi bộ anh khỏe ra, nặng ký hơn...

Vẫn theo thói quen cũ, Chanh hỏi thăm những người chung quanh trước, để dành những giờ riêng của vợ chồng cho đêm khuya vắng. Vợ và em đều thi nhau hỏi, nghe, ngót một tiếng sau mới sực nhớ bữa tối chưa kịp nấu. Chanh góp một tay cùng làm bếp, bùi ngùi khi bữa cơm chỉ có nửa gạo nửa mì sợi đã hơi mốc, bát canh rau muống luộc đánh mấy quả sấu, nửa chén ma-gi dầm ớt. Ở căn cú trong Nam thế là khá, nhưng giữa thủ đô anh tưởng phải khác chứ. Hai chị em phân trần mãi rằng các tiêu chuẩn của ngon đều làm thức ăn mặn gửi cho các cháu cả, người lớn sao cũng được. Nhưng Chanh chưa quên được những bữa chiêu đãi thừa mứa trên nước bạn, đặc biệt là vùng Trung Á...

Con Dồ từ lúc đã chen vào nằm bên chân Chanh. Nó chỉ cần hít ngửi ông chủ là đủ vui. Chanh chợt nhớ đến nó:

- Sao không để nó ở chỗ sơ tán, Lan?

- Là tại nó... không, tại nó chút xíu thôi. Lũ chó trong làng thấy nó lạ, xúm bầy ăn hiếp, cắn nó rách tai toạc da, nó cứ cúp đuôi chạy. Anh bác sĩ quen nó đoán chắc không phải nó nhát sợ, mà không quen đánh nhau với đồng loại. Anh Chanh nói là chó săn nòi lai chó miền Thượng, chỉ quen đánh thú dữ như gấu, beo, cọp. Một hôm ảnh đi với nó gặp chó làng ùa ra, ảnh xì xịt sao đó mà nó cắn đứt họng hai trự, gãy chân một trự nữa. Kiện cáo tùm lum. Bệnh xá phải bỏ tiền ra mua cả ba, may nhờ ủy ban dỗ chủ nhà lấy giá phải chăng, bệnh viện thêm tí đạm không quá đắt. Trên ấy nhà nào cũng nuôi chó bầy, đất trung du mà, lâu lâu lại đánh một cầy, khác trong ta nhiều.

Con Dồ ăn sạch cái âu cơm sứt men, vẫy đuôi cảm ơn. Chanh chỉ vào hai bà chủ nói:

- Bà Hai Thùy, Thùy, Thùy, tao nhắc mày nhớ. Tới đi, làm quen đi! Còn bà này là Hoàng Lan, Lan, Lan, nhớ nghen.

Lan cười xòa:

- Sức mấy mà anh giới thiệu! Nó giầu tình cảm lắm anh ơi. Hai đứa con em được nó che chở mới dám đi tập múa hát ban đêm không sợ rắn rết, chó làng không nhảy ra đớp được nữa, lảng xa hết. Dồ, lại đây coi... Đó, nó liếm tay chớ không hề liếm chân, kiêu ghê chưa!
Bộ ba tạm thu xếp cuộc sống trước mắt. Cả Chanh vẫn ở Văn phòng Trung ương, chỉ cách Quảng Bá độ nửa cây số, tiếp tục làm việc với đoàn khu Năm, sau đó chữa bệnh. Thùy và Thanh Bình ở Quảng Bá để chữa lành các thú bệnh miền Nam mang ra, sau đó sẽ cho con Bình đi học và Thùy đi đẻ, làm gì sẽ tính sau.

Gia đình Chanh đã ra Bắc, nhưng chưa đến lúc đoàn tụ.

 4 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:30:00 PM 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
Cuộc chia tay ở gia đình bà mẹ nuôi Ôn-ga là một nỗi đau xé ruột. An-đrây cùng chị vợ mới cưới - điện báo viên ở một trạm Cực Bắc - đều nói rằng tình cờ về thăm nhà, ra mắt mẹ, nhưng thật ra đã nhận được điện của Ô-léc báo tin anh Cam về nước. Bà Ôn-ga lánh mặt Cam, giấu đôi mắt sưng đỏ. Tô-nhi-a đã lên mười sáu tuổi, cái lứa tuổi nữ sinh hay phải lòng thầy giáo dù thầy đã có vợ con, bỏ lớp đi lang thang từ sáng đến tối, anh Ô-léc phải gọi điện khắp nơi và đi tìm về.

An-đrây cố giở trò đùa tếu cho cả nhà vui:

- Các bạn anh đọc chung thư mẹ, sửng sốt khi nghe mẹ kể nhà ta đến bữa cơm nói ba thứ tiếng Nga, Pháp, Việt. Chỉ bốn người mà như liên hợp quốc. Ô-léc khoe mình nói tiếng Việt gần bằng người Việt, thế mà trong đợt thực tập anh Cam giao có lúc phải gọi điện hỏi bạn anh Cam, mấy lần thế.

- Tại có mấy ông bà ở miền Nam mới ra phát âm không chuẩn ngay trong đoàn nói với nhau đôi khi cũng hỏi lại “hả, hả?”.

Cam bật cười:

- Đúng thế đấy, An-đrây. Người miền Nam ra Bắc, người Bắc vào Nam, vài tháng đầu phải tập làm quen với giọng địa phương và các từ rất lạ tai...

Nhưng rồi cũng đến lúc Cam phải nói lời từ biệt chính thức:

- Thưa mẹ, chiều mai con phải lên tàu liên vận...

Bà Ôn-ga kéo tấm tạp dề, hàng ngày chỉ rời bà khi bà ra phố hay đi ngủ, úp vội lên mặt trong khi Cam ấp úng nói những lời cảm ơn thắm thiết nhất.

- Chính mẹ phải cảm ơn con. Từ ngày con về ở chung, mẹ vui hẳn lên, hai em học giỏi và ngoan thêm nhiều. Con không khuyên nhủ nhiều, chỉ làm gương  bằng nếp sống mẫu mực và ý chí học tập, như một ông giáo kiểu Giăng-Giắc Rút-xô... Nay mai mẹ sẽ thấy trống vắng lắm. An-đrây bay lên Cực Bắc, Ô-léc sang thực tập ở Việt Nam, Tô-nhi-a lấy chồng và theo chồng… Đừng làm bộ, Tô-nhi-a, đừng  thề suốt đời ở với mẹ, là sợi chỉ ắt theo cây kim thôi. Có đứa nào như thằng Cam sẽ đến với mẹ?

An-đrây vội vớt:

- Cam nó sẽ quay lại mẹ ơi. Nó về nước lấy thêm tư liệu, viết luận án tiến sĩ, sẽ sang đây bảo vệ. Ngày trao bằng, nhà ta sẽ đứng hoan hô trong hội trường. Chỉ sợ khi nó lên viện sĩ Hàn lâm, mẹ con mình tới chào, nó lại hếch mũi lên trần nhà, hỏi lại: “Hình như tôi có gặp bà và các cô cậu ở đâu ấy nhỉ?”.

Nhân đà An-đrây cao hứng đùa quấy, Cam tiếp luôn:

- Bấy nhiêu buồng của mẹ không đủ chứa các cháu nội ngoại đâu. An-đrây với Liu-ba sinh cháu ở Cực Bắc, không thể nuôi con trong nhà vòm xây bằng nước đá. Rồi con của Ô-léc ở Việt Nam chịu nóng không nổi, thêm bom Mỹ ngày đêm, phải về với mẹ (Cam tránh đôi mắt nồng cháy của Tô-nhi-a). Tô-nhi-a nữa... Rồi bồng một đứa con của thằng Cam lù lù hiện ra trước cửa, mẹ đón nó vì thương nó xa nhà.

Tất cả cười rúc rích, xúm vào trêu bà Ôn-ga. An-đrây ôm đầu lắc lư hệt như bà mẹ: “Ôi, lũ trẻ này khiến tôi phát điên mất thôi. An-đriut-ska, mày mở nhạc be bé được không? Ô-léc trốn đâu rồi, đến phiên giúp tao rửa bát... Tô-nhi-a, thôi, đuổi bắt trong nhà vỡ hết cả bây giờ... Sao mà tôi khốn khổ thế này, hỡi chúa?”.

Bà Ôn-ga rất ít đi xa. Hồi sang Việt Nam và trở về, ông chồng làm hàng không thu xếp cho vợ con đi máy bay. Bà rất lo khi nghe Cam đi xe lửa ít nhất một tuần, nếu bị quấy rối dọc đường thì khó biết bao giờ tới. Ăn trên xe lửa thì nhất định là đắt, dở, không sạch. Ngay cái tủ lạnh cũng chẳng có. Bà để hai ngày đi lùng các thứ đồ hộp loại ngon nhất, cùng các thứ không đóng hộp nhưng lâu hỏng như dồi, pho-mát, mứt, dưa chua. Cả nhà ra ga tiễn Cam, khệ nệ khiêng lên chỗ nằm của Cam cả một sọt nặng đầy của ngon.

Đã rất lâu bà Ôn-ga không thờ cúng gì, chỉ gọi tên Chúa vì quen miệng. Nhưng khi tàu chuyển bánh, bà không cưỡng nổi, làm dấu chữ thập vào không khí không ngớt tay. Cam chỉ trông thấy được mấy dấu đầu, sau đó mắt nhòa không nhận ra gia đình bà mẹ Nga nữa.

 5 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:22:03 PM 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
Con Dồ đã kết bạn được với hai đứa trẻ và bà chủ mới, chỉ rên rỉ sơ sơ khi ông chủ để nó ở lại. Nó liếm tay hai đứa biết rằng từ nay nó phải che chở cho các con bà chủ, chưa khỏe và khôn như nó nhưng vẫn là dòng giống người thân. Trẻ con trong làng không phải nòi thân, đừng hòng nó cho sò nó.

Cả Chanh đã nghe ít nhiều về nạn dùng người trái nghề, ở miền Nam có khác, hoàn cảnh buộc nhiều giáo viên làm rẫy quanh năm, nhiều kỹ sư cơ khí chuyên dựng lán và đào hầm, nhiều chuyên viên điện tử cõng hàng dọc đường dây giao liên. Những trí thức “rấm sẵn” ấy tự nguyện kiếm việc mà làm trong những năm “thời cơ chưa đến”. Năm 1965, những tưởng ngụy đổ sụp đến nơi, họ sắp vào thành phố tiếp quản các cơ quan ngụy, nhưng quân Mỹ ồ ạt tràn vào, họ lại quay về với cái gùi, cây rựa.

Ở miền Bắc không đến mức tréo cẳng ngỗng như thế, nhưng chất xám bị xài phí cũng chẳng vừa. Thà rằng tổng động viên như các nước có chiến tranh, đang làm gì cũng bỏ đấy đi cầm súng, hoặc chỉ lọc lấy một số cần thiết để ở lại hậu phương  phục vụ chiến tranh như ngành quân giới, vận tải, cầu đường. Thế nhưng ta phải để dành và tiếp tục đào tạo trí thức cho mai sau, cho nên không ít người nghiên cứu khoa học xã hội như Cam về một cơ quan nào đó, lắm khi chỉ quanh năm xếp hàng mua nước mắm, xì dầu cho tập thể.

Tốt hơn hết, có lẽ thu xếp cho thằng em tiếp tục nghiên cứu ở Liên xô, làm luận án tiến sĩ theo đề nghị của bạn là hơn cả. Anh Bảy Quý biết nó là đứa chỉ học chứ không ham tiền, ham ăn chơi, chắc sẽ vui lòng giúp, tiếng nói của một ủy viên dự khuyết Bộ chính trị nổi tiếng liêm khiết hẳn là nặng ki-lô lắm. Trở ngại cuối cùng lại quy vào chính Sáu Cam. Nó không chịu nổi nổi ám ảnh kéo dài: cả nước đang đổ máu hằng ngày, nó lại xa tít tắp, sống khá giả cặm cụi nhồi kiến thức vào đầu mình, không đóng góp được gì cho đồng bào đồng chí. Như thế là trốn lánh, ích kỷ, gần như đào ngũ! Không làm sao gột được cái mặc cảm ấy ở Sáu Cam.

- Nè Cam, hồi ở chủ lực 108, hễ được giao làm đơn vị dự bị em cũng thấy nhục à? Hay là cuối chiến dịch, lính chủ lực lui về hậu phương chấn chỉnh và học tập, giao địa bàn cho du kích, em cũng coi như đào ngũ? Xa hơn nữa, khi mới bắt đầu đánh Tây ở Đông Nam Bộ với anh Năm Chò, trên bắt rút lui để giữ quân giữ súng, lui đâu dân chửi đó, em có coi như bỏ dân mà chạy thoát mạng không?

- Hồi đó khác. Quân lệnh như sơn, ai dám trái?

- Bây giờ không phải vậy?

- Bây giờ chỉ có một mình em lãnh đủ. Thà rằng có ba bốn người như em thì không ai ghen ghét được. Đây các giáo sư chỉ đề nghị riêng em, đó rồi ai cũng coi như chủ nghĩa cá nhân.

- Tỉnh mình chỉ có một bí thư thôi, chắc anh cũng bị ghép vô chủ nghĩa cá nhân?

Cam chưa kịp nghĩ thêm lý lẽ gì, các anh chị ở mấy buồng bên đã sang rủ đi dạo phố và ăn chiều. Sáu người cùng đi Trung Á đã bàn với nhau giảm bớt thì giờ giúp lùng hàng cho Cam, đừng như mấy ngày đầu mỗi người buộc Cam dẫn và dịch mấy tiếng liền đến mệt nhoài, mà đoàn lúc ấy những mười bốn vị.

Nhờ đó, Cam giới thiệu nền văn hóa nước chủ nhà được nhiều hơn, gây được lòng ham hiểu biết ở từng người. Và Cam làm thêm được một việc ngoài chương trình: giúp mỗi đoàn viên lên cân nhanh.

Các khách sạn thường dọn theo khẩu vị Châu Âu cho tiện, vì khách du lịch đến đây thường là người Âu, Mỹ, Nga, với túi tiền lép của một nghiên cứu sinh, Cam thường là ngủ nhờ nhà các bạn cùng trường và kiếm ăn ở các quán nhỏ dọn món ăn địa phương, rẻ và hợp với vị Việt Nam. Nay Cam thử đưa đoàn đến ăn ở mấy nơi như thế. Các anh chị rất khoái được ăn cơm, nhiều nhất là món cơm thịt cừu plôp của khắp vùng Trung Á, cơm rang thập cẩm từ Ấn Độ truyền sang, vài quán đã quen dọn cơm trắng  theo kiểu Trung Hoa, Nhật Bản. Thức ăn được ưa chuộng là sa-slức, thịt cừu nạc nướng lụi với gan và cà chua. Các món khô xào nấu khác đều rất gần kiểu Việt Nam. Cộng vào đây là mồm mép khéo tán của Cam, khiến cho mấy quán đã bày bếp điện và soong trên bàn để cho các khách Việt Nam biểu diễn ăn thịt bò nhúng dấm với cải bắp và đủ thứ rau thơm. Ông chủ hiệu nọ cao hứng mang ra mấy chai rượu nho ngon nhất, cùng chạm cốc và chơi xả láng với các bạn Việt Nam anh hùng, cuối bữa xô Cam ra cửa khi nói đến trả tiền: “Các bạn bày cho tôi một món ngon lạ miệng, tôi thù lao”.

Cam làm thủ quỹ, có khi cả tuần mỗi đoàn viên chỉ tốn mỗi người mười hai rúp, mà ăn ngon hơn tại khách sạn, phải trả tiền từ giàn nhạc sống đến ông gác cửa. Cam tiết kiệm hộ cho các anh chị từng tí: đi đường khát nước thì đừng vào tiệm kem, mà ghé lại các quán trà tsai-ka na uống nước chè bằng thích, tốn chỉ mươi kô-pếch mà rất hợp với dân mình. Đêm khuya, ai đói bụng cứ đến bấm chuông buồng Cam: có bánh mì dẹt, xốp, tuyệt ngon kiểu Trung Á ăn với dồi, đùi heo sấy hay cá hộp, kèm nước chè pha bằng cái phích nhỏ luôn sẵn nước sôi. Cam cười xòa khi lấy thêm xì dầu, tương ớt ra:

- Thói quen của người quen làm việc khuya, mà không thích ăn đồ ướp lạnh, vậy thôi. Anh chị thích chè hay cà-phê?

Sau bốn ngày thăm khu dầu lửa trên biển Ba-cu và vùng chuyên trồng chè, Chanh ở gần biên giới Thổ-nhĩ-kỳ trở về Mát với những khuôn mặt rám nắng và béo khỏe. Cam nhận được quyết định về nước: thôi, thế là khỏi bàn cãi dằng dai. Hai cách nghĩ ngược nhau tình cờ đưa đến cách giải quyết giống nhau: về nước góp sức đánh Mỹ, về nước để nhường cho nhiều người đi “chính sách”.

Theo lịch của sứ quán, Cam sẽ lên đường bằng xe lửa liên vận hai ngày sau khi đoàn anh Chanh về nước bằng máy bay. Xe lửa qua Mông Cổ, xuyên Trung Quốc, về đến Hà Nội trong khoảng một tuần, nếu không bị Hồng vệ binh chặn phá dọc đường như vài chuyến trước. Đoàn tham quan rất mê Sáu Cam giúp dọc đường về, đã cử ba cán bộ đến sứ quán xin cho Cam cùng đi máy bay với đoàn, bị lễ phép từ chối: “Giải quyết riêng đồng chí Cam như thế, anh chị em khác sẽ ghen tị”. Nhưng khi Cam đến để làm các thủ tục về nước, có tới tám vị đến gạ gửi hàng về nhà, trong đó có tới bốn năm vị chỉ lạnh lùng gật đầu mỗi khi Cam có việc phải đến sứ quán. Lại phải giở chiến thuật “đánh lạc hướng” của giới lưu học sinh: “Tôi đang  ở lang thang các Ốp có bạn bè, xin gọi điện báo sau”. Đôi bên nhìn nhau và đoán ý nhau khá đúng:

- Mày miễn cưỡng mang hộ, nhưng sẽ giao đầy đủ... Mày nhận và ăn bớt một phần, nói dối là hàng  bị lạc hay giao lầm... Mày lấy sạch và đổ vạ cho máy bay Mỹ....

- Thưa các bác, các anh chị. Chúng tôi học gạo đến mửa mật từ phổ thông hay các trường trong nước lên, sang đây sống tằn tiện bằng học bổng chỉ có kiếm thêm chút kiến thức mang về xây dựng đất nước. Các bác sống thanh liêm thì không dám nói, còn các anh các chị dựa vào ô dù sang đây để lánh né chiến tranh, bỏ cái phần cứu nước lo cứu mình và cứu nhà, còn muốn chúng tôi biến thành con buôn chuyến để các vị làm giàu nhanh hơn nữa... Chúng tôi xin đủ!

 6 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:19:18 PM 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
Người dân Liên Xô hồi ấy quý trọng Việt Nam hết cỡ. Hai tiếng Việt Nam là chìa khóa mở cửa mọi trái tim. Chỉ có vài lần anh chị em ra phố mà quên đeo huy hiệu xanh đỏ sao vàng bị lầm là người Trung Quốc, gặp ngay thái độ ghẻ lạnh ra mặt của tất cả những người Liên Xô qua đường hay mua hàng.

Theo kế hoạch đã bàn với bạn, đoàn này sẽ còn tham quan hai nước Cộng hòa Trung Á là Uz-bê-ki-xtan và A-zer-bai-djan nữa. Nhưng Cam hơi nản. Đợt tham quan Lê-nin-grát này chỉ tạo hấp dẫn phần nào khi đoàn đi thăm tuần dương hạm Rạng Đông, lều cỏ của Lê-nin bên hồ Raz-líp, chỉ gây xúc động trước những mộ tập thể chôn chung nửa triệu người chết bom đạn và chết đói trong chín trăm ngày quân Đức bao vây. Về văn hóa nghệ thuật thì chỉ có ba bốn người muốn học hỏi...

- Anh cả nè. Coi bộ phần lớn các bác, anh chị muốn ở lại Mát-xcơ-va hơn là đi tham quan xa, tìm thăm người thân quen hay bà con ở đó, đi chơi dạo quanh thủ đô rồi về. Em đã đưa anh tới ăn cơm nhà bà Ôn-ga coi em như con nuôi, có con là Ô-léc học cuối năm thứ hai ở Trường đại học Ngôn ngữ phương Đông, nói tiếng Việt khá, anh thử rồi đó. Nó cũng muốn đi với người Việt để thực tập.

- Chưa chắc Hội Xô - Việt hữu nghị bằng lòng. Thêm một người cũng tốn kém tiền khách sạn, tiền thù lao...

- Anh cứ gọi điện về Mát... tức Matxcơva, hỏi thử. Em thấy rất nhiều đoàn có một cán bộ hướng dẫn thuộc Ban đối ngoại, một phiên dịch. Vì họ biết em vừa dịch vừa hướng dẫn được nên giảm bớt một người. Mà cậu Ô-léc ở ngay Mát, ăn cơm nhà, hằng ngày đến đưa bà con ta đi dạo phố, tối ngủ nhà cũng chẳng tốn mấy. Hễ phía bạn bằng lòng, em gọi điện cho Ô-léc là nó chịu ngay, đang nghỉ hè mà. Với lại các bác có con cháu là lưu học sinh cũng  hay tách đi riêng lắm.

Chanh mời đoàn họp tối hôm ấy. Thì ra Sáu Cam đoán đúng. Mười bốn người trong đoàn, có tám người muốn trở về Mát trong hai mươi ngày còn lại, trong đó ba người muốn đi riêng với người thân là lưu học sinh hay cán bộ nhân viên ở sứ quán, đại diện miền Nam. Đoàn ủy nhiệm cho Cam sáng mai gọi điện cho Hội Xô - Việt, nếu được đồng ý thì cho Ô-léc biết sớm để ra ga đón.

Mọi việc trôi chảy, chỉ khác tí chút là các khách sạn loại sang đã hết chỗ, chỉ còn khách sạn U-ran có thể nhận thêm mươi khách nữa. Tiền ăn thì tiếp tục phát như cũ là mỗi ngày sáu rúp, tiền ở do Hội thanh toán. Ô-léc được thù lao mỗi ngày đủ sáu rúp, ở thì tự túc vì nhà gần.

Cam đưa tám vị cao tuổi lên xe lửa điện tốc hành “mũi tên xanh” lúc mười giờ đêm, nhưng trời sáng như bình minh trong đêm trăng Cực Bắc. Phải thu xếp chăn đệm, nước uống khuya, hướng dẫn chỗ nằm đúng vé, chỗ vệ sinh, tàu sắp chuyển bánh mới trở về khách sạn Châu Âu, thích thú cuốc bộ dưới quang cảnh độc đáo đã kéo theo nhiều ngày hội dân gian “Đêm trắng Cực Bắc” mãi đến cuối tháng Sáu mới ngớt dần.

Cam dẫn tiếp sáu đồng chí còn lại đi Uz-bê-ki-xtan, nơi thành phố Tas-ken đã sống lại sau những cơn động đất hủy diệt năm ngoái. Các nước cộng hòa và các khu vực lớn đến giúp xây dựng lại đã đưa tất cả các kiểu kiến trúc toàn Liên Xô vào những ngôi nhà lớn do mình xây dựng, biến thành phố ngót hai triệu dân và già hơn hai chục thế kỷ này ra một vùng triển lãm kiến trúc hết sức độc đáo của rất nhiều dân tộc trong Liên bang. Rồi đi Bu-kha-ra với nhũng chuyện kể về Na-xrê-din, một nhân vật Trạng Quỳnh rất quen thuộc ở Trung Á. Cam chỉ dịch mấy câu chuyện về Na-xrê-din đủ cho cả đoàn cười tức bụng. Tiếp đi Xa-mar-kan với những thành quách, trường Hồi giáo, tu viện đồ sộ khảm sành sứ màu từ chân đến đỉnh. Và nơi kết thúc là khu khẩn hoang vùng hoang mạc Phér-ga-na, mọc lên chung quanh con kênh đào 345 cây số ra đời trước Đại chiến Hai, với cuốc xẻng nhiều hơn sức máy.

Cam đã đến vùng đất rất cổ kính và giàu văn hóa này trong hai kỳ nghỉ hè liên tiếp, lần theo những con đường ngày xưa đoàn lạc đà và lừa ngựa chở hàng giữa Châu Âu và Ấn Độ, Trung Hoa, cùng các nước sản xuất đủ thứ gia vị hiếm quý ở Đông Nam Á. Lần này, Cam say sưa nói về giao lưu văn hóa Âu - Á và ảnh hưởng đối với Việt Nam, Đông Dương, một đề tài hiểm hóc chưa ai động đến, nhất là khi Mỹ, các nước trong SEATO và NATO đều đánh hoặc bao vây Việt Nam.

Cả Chanh thử sức em kín đáo bằng nhiều cách. Dựa vào một bài nghiên cứu được đọc trên đài Hà Nội, anh hỏi về giao lưu giữa nền văn hóa Đông Sơn với các nước gần xa. Gặp một đoàn du lịch Ấn Độ nói tiếng Anh, Chanh gọi Cam đến dịch nói chuyện suốt buổi tối, sau đó một ông bạn biết được ít tiếng Pháp đã khen Cam nói giỏi tiếng Anh tuy chỉ tự học. Rõ ràng Cam học chăm, học giỏi không đuổi theo một học vị “chiếu cố, hữu nghị” mà một số giáo sư quá yêu Việt Nam hay cho nới điểm.

Chỗ lủng củng giữa hai anh em chỉ có một : Cam vẫn nằng nặc đòi vào miền Nam “chỉ ngửi mùi thuốc súng  vài tháng cũng được”. Chanh không muốn thế.

Trong hai ngày ở chung với Hoàng Lan và hai đứa cháu - thêm con Dồ nữa - Chanh được nghe kể không ít chuyện vui buồn về miền Bắc chống Mỹ. Văn phòng Trung ương cho một xe con đưa anh với con Dồ lên chỗ sơ tán của bệnh viện cùng với một gói quà theo tiêu chuẩn của cán bộ miền Nam có gia đình ở miền Bắc. Anh cán hộ cùng  đi nói nhỏ với Đảng ủy bệnh viện về quy định bảo vệ và bí mật, hẹn sau hai ngày sẽ cho xe lên đón.

Bí mật là “bật mí”. Chỉ sau một ngày, anh chị em miền Nam tập kết thuộc bệnh viện, cả các gia đình gốc Bắc có con em đi nghĩa vụ quân sự và Thanh niên xung phong vào bên trong giới tuyến đã kéo nhau đến chật nhà. Sau đó lại kìn kìn các ông bà nông dân đã gửi con em đi chiến trường. Nhiều bà cẩn thận mang theo ảnh con trai hay gái nhờ Chanh nhận mặt xem “có gặp cháu ở đâu không”. Anh phó bí thư Đảng ủy phụ trách khu sơ tán lo cuống lên, đành phải bàn với Đảng ủy xã mời hẳn một cuộc họp mặt ở sân phơi lớn của hợp tác xã, có máy điện và phóng thanh của bệnh viện, có dân quân gác máy bay và giữ an ninh.

- Nhờ anh nói giùm về tình đoàn kết quân dân, cán bộ công nhân với nông dân miền Nam...

Chanh bật cười. Trong kia, cán và lính chỉ có cái bồng nhỏ trên lưng, lương bổng chẳng có, không  lăn vào dân thì chết đói!

Định họp hai tiếng, cuộc mít-tinh kéo dài năm tiếng, các ông bà đứng lên hỏi tới tấp như trong đại hội xã viên. Chanh không thể nói hết như trong các cuộc họp Đảng. Không tô vẽ gì, nhưng chỉ nói một phần các mặt trái, các tổn thất phía ta. Biết làm sao được. Kể hết những cảnh máu đổ thịt rơi trong khi cả nước đang đau đáu chờ tin con em mình đang chiến đấu với một đế quốc mạnh chưa từng thấy từ khi có loài người, một chọi với trăm với ngàn, chỉ gây thêm những cơn buốt lòng như xát muối.

Hoàng Lan không bàn góp vào việc của chồng:

- Tánh nết ảnh vậy đó. Việc nhỏ hằng ngày thì quá dễ, em tự quyết định hết, có gì ăn nấy, mặc nấy, việc nặng thì nhắc đâu ảnh làm đó. Vậy chớ đến công tác của ảnh thì em chịu đứng ngoài. Ảnh ở lại Liên Xô, về nhận việc ở ngoài này, vô miền Nam, em không khuyên gì được đâu. Ảnh phục nhứt là anh, hai anh bàn tính sao đó tùy lòng. Sức em nuôi được hai đứa con cho ảnh tung hoành phỉ chí. Thời buổi chống Mỹ này, lắm chị em nuôi cả cha mẹ chồng với ba bốn đứa con còn cực hơn em nhiều.

 7 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:16:09 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Anh T vẫn sừng sộ: “Tại sao mày trừ của tao tám đồng”. Tôi nhớ lại ngay việc trừ tiền và nói: "Tám đồng này là trên Tiểu đoàn báo và bắn nợ về. Có phải hôm ở Hà Tiên, Tiểu đoàn giết lợn, anh với hai đồng hương của mình ốm ở nhà, nhượng lòng lợn của Tiểu đoàn ăn đúng không?”. Anh T nói: “Đúng rồi tao có ăn nhưng ba thằng ăn sao mày lại trừ có một mình tao?”. Tôi nói: “Anh là người đứng tên mua lòng lợn đúng không?”. Anh T đáp: “Đúng”. Tôi nói: “Vậy thì quân nhu Tiểu đoàn chỉ biết trừ vào tiền của anh, chứ làm sao trừ được hai người kia. Mà hai người kia là ai?” Anh T nói “Nó ở Đại đội 4 nhưng bỏ về phía sau rồi”. Tôi nói: “Vậy bạn đồng hương với anh. Anh đứng tên mua, anh phải chịu chứ còn kêu nỗi gì? Mà anh còn chửi tôi?”. Anh T vẫn không hiểu mà còn tiếp tục: “Mày trừ của tao là tao cứ chửi đấy, mày làm gì được?”

        Tôi nói: “Tôi không chấp với anh nữa. Nhưng anh không được phép chửi tôi. Càng không được đụng đến gia đình tôi. Ở đây, chỉ có hai anh em là cao tuổi nhất. Anh làm thế, mọi người cười cho đấy”. Anh T đuối lý, nhưng vẫn làm già: “Tao cứ chửi đấy mày dám trừ tiền tao à?” Lúc này tôi đã rất tức cũng không kiềm chế được nữa, tôi nói: “Ông vừa chửi ai đấy.” Anh T nói: “Tao chửi mày đấy, tao sợ gì mày”. T đưa súng cho một anh bên cạnh, rồi xấn xổ áp sát gán tôi. Tôi lùi lại hai bước và nói: “Ông đứng lại, ông mà chỉ tay nữa là tôi không để yên đâu”. Anh T chắc thấy xung quanh toàn đồng hương nên lại càng làm già. Mồm nói: “Tao cho mày một quả, cho biết mặt”. Và T vung tay tấn công về phía tôi. Quá bực tức đến uất ức tôi bèn né người tránh, đưa tay trái lên đỡ. Bước chân phải lên sau T kéo ngược lại. Dùng tay phải đẩy mạnh vào ngực T. Đúng là một miếng đánh hoàn hảo, mà mấy năm huấn luyện tập mãi, không ngờ hôm nay lại áp dụng với đồng đội mình. Có điều là tôi đẩy ngã chứ không đánh ngã. Nhưng T cũng bị lộn ngã uỵch xuống. Nếu là thù, là đối kháng thực sự thì đòn đánh này làm đối phương gẫy tay, vỡ quai hàm rồi. Bất ngờ trước đòn phản của tôi. Anh T lồm cồm bò dậy định lao vào tôi. Lúc này tôi xuống tấn, gằn giọng nói: “Đứng im. Mày mà lao vào lẩn này tao cho miếng quật bò liền, bảy ngày nữa mày vỡ bao tủ chết”. Riêng miếng quật bò này, là tôi nghe kể nhưng không hiểu sao lại ứng xử, bốc phét võ mồm ngay được như vậy. Chứ tôi có được học miếng đánh này bao giờ đâu. Nhưng không ngờ, câu dọa của tôi có tác dụng. Anh T không nói, không rằng, lấy lại súng rồi bỏ đi luôn.

        Chuyện là như vậy, nhưng nó cũng là kỷ niệm, không đẹp mà rất buồn, thời làm quản lý trong quân ngũ của tôi ở miền biên giới Tây Nam này. Sau này tôi day dứt mãi, ai ngờ giữa cảnh giặc dã, đồng đội từng chung lưng ấm lạnh mà hành xử thiếu văn hóa đến thế. Nhưng cuộc sống thì ở đâu cũng vậy, luôn có hai mặt, tốt và xấu. Có điều, người có văn hóa, biết hành xử sẽ mang lại điều tốt đẹp hơn.

        Trước tình hình chốt chặn phức tạp, Sư đoàn 341 sau khi điều nghiên kỹ tình hình đã thay đổi lại cách bố phòng, phòng ngự. Phương án tác chiến của ta là trả cuộc chiến về phía địch. Khu vực Cây Me, xã Long Khánh và tới giáp xã Phước Chỉ. Lực lượng địch lấn chiếm ta, là Tiểu đoàn 121 thuộc Trung đoàn 182 của Pôn Pốt. Đây cũng là một Tiểu đoàn lỳ lợm của Pôn Pốt. Sư đoàn 341 tổ chức cho Trung đoàn 273 và 270 bao vây tiêu diệt Tiểu đoàn này của địch. Sau đó sẽ tiến công tiêu diệt địch ở khu vực rừng thốt nốt trước khu vực Tiểu đoàn 1. Qua 4 giờ chiến đấu các đơn vị đã làm chủ được các mục tiêu. Trận này ta thắng lớn, tiêu diệt được hơn 200 tên, thu được rất nhiều vũ khí và bắt sống được 14 tên.

        Toàn đội hình lại dâng lên qua PaVét 1 - 2 lập tuyến phòng ngự ở khu vực Rừng Sở. Tiểu đoàn 1 chốt ngay tại trục đường số 1 sang phía trái Rừng Sở.

        Như vậy, chỉ trong một ngày tiến công. Toàn bộ Sư đoàn đã tiến công và chốt sâu vào đất địch từ 5 đến 7 km. Các đơn vị được lệnh cũng cố hầm hào, chốt giữ đánh địch lâu dài tại đầy.

        Lúc này, mùa mưa đã đến. Những cơn mưa đầu mùa ào ào trút nước. Nắng mãi, được mưa đất trời hồi sinh mát mẻ trở lại. Anh em tranh thủ tận dụng các nhà bỏ hoang, làm các điểm chốt giữ. Rất khẩn trương cũng cố hầm chiến đấu, hầm ngủ, nghỉ, tạo nên một thế phòng thủ liên hoàn vững chắc.

 8 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:11:46 PM 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
Chương 18


- Thưa các bác, các anh chị. Viện bảo tàng Er-mi-ta-giơ này là một trong những kho tàng văn hóa nghệ thuật lớn nhất thế giới. Từ khi lập chính quyền Xô-viết, cung điện mùa đông của Nga hoàng được mở rộng, số hiện vật trưng bày đã tăng hơn gấp ba lần, đặt trong bốn trăm phòng. Có những tranh vô giá của Lê-ô-nác-đô đa Vin-si, Ra-pha-en, Rem-branđ, Ru-benx, Go-ya và các bậc thầy cổ điển khác. Mỗi năm có trung bình ba triệu đến ba triệu rưỡi khách viếng thăm...

Sáu Cam thoáng thấy một bác tóc gần trắng che miệng ngáp dài. Một ngón tay mổ nhẹ vào vai Cam. Một chị từ miền Nam mới ra thì thào: “Các ông bà này có nhiều công lao với cách mạng mới được vẽ hình triển lãm ở đây, hả anh?”. Làm sao nói để chị hiểu các bức tranh cổ vẽ hoặc khác gỗ trong i-côn không phải là chân dung những nhà cách mạng? Cam chỉ “Ờ, ờ, họ cũng tiến bộ...”.

Đoàn miền Nam mà Cam đưa đi tham quan một tháng ở Liên Xô có chín cán bộ cao tuổi tập kết ra Bắc từ 1954, được đi để “giải quyết chính sách trước khi về hưu”, mang theo một bản kê rất dài những thứ vợ, các con và cháu cần mua. Trọng tâm chú ý của các bác dồn và các cửa hàng GUM, TXUM, hay “Thế giới thiếu nhi”, khi cần thì sục tận “Cửa hàng quân đội” ở Mát-xcơ-va. Mua một thứ vặt như bàn là, dây may-so, họ cũng làm Cam mất hàng giờ để giúp so sánh mặt hàng, vì tiền rúp có hạn. Ghép vào đoàn có năm cán bộ miền Nam mới ra, ít chạy mua sắm cho con cháu nhưng lúng  túng trăm đường, phải dẫn đi đái, bày đi thang máy, dùng điện thoại, cách cầm dao nĩa trong bữa cơm.
Cam nhận hướng dẫn đoàn này vì có anh Cả Chanh.

Hai anh em ôm ghì nhau thổn thức mãi ở Mát-xcơ-va, trong phòng khách của Cơ quan đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, chưa được nâng lên cấp đại sứ quán vì chưa có chính phủ. Đại sứ quan Việt Nam dân chủ cộng hòa, với con trai ông Trà Đình Mậu vừa chuyển sang quản lý lưu học sinh - số này đều có trình độ cao hơn nhiều so với đoàn miền Nam này, có lẽ vì họ nghèo xác xơ so với các đoàn kinh tế.

Chẳng khó gì khi thuyết một tràng về nghĩa vụ và tình cảm đối với miền Nam ruột thịt, trong khi người nói chỉ nghĩ đến đồng rúp hay đô-la buôn lậu và chuyển của về nước cách nào ít tốn nhất.

Chỉ có mấy người như anh Cả Chanh muốn hiểu về nền văn hóa nước bạn. Vài ba cặp mắt chăm chú xem tranh, tượng. Anh Chanh cùng một bác nữa ghi sổ tay, cũng là hai người hỏi nhiều nhất, rõ ràng là cố học thêm trong chuyến tham quan này.

Sáu Cam luôn ở chung buồng với trưởng đoàn là anh Chanh, đêm nào cũng rủ rỉ đến khuya. Cam hỏi không  ngớt miệng, nghe như uống từng lời. Cứ giục nhau “ngủ đi” trằn trọc một lát, lại một người lên tiếng trước. Hai anh em chỉ cách nhau mười hai tuổi, nhưng Cả Chanh đã héo hắt râu tóc đã đốm bạc, còn Cam béo trắng, hồng hào cao hơn anh tới nửa cái đầu, tuy khuôn mặt vẫn nhiều nét chung như lông  mày nét mác và cái cằm chẻ giữa. Vài người đã lầm anh em là cha với con đầu lòng.

Anh Chanh rất mừng khi thằng em mà anh túm gáy ấn xuống ghế nhà trường năm xưa đã trở nên một trí thức cộng sản trẻ, nổi tiếng học giỏi, được số đông nghiên cứu sinh coi là đặc biệt thông minh, sẽ thành cán bộ đầu ngành về văn hóa dân gian Đông Á và Nam Á. Nó mới ba mươi lăm tuổi thôi, đường học hỏi còn dài.

Đoàn khu Năm đi gấp, chỉ nghỉ vài ngày để tắm giặt và sửa soạn, báo cáo với Bộ chính trị và Ban bí thư suốt ba ngày. Sau đó mỗi tỉnh vào “thi vấn đáp” một ngày nữa, Quảng Nam là chiến trường trọng điểm của khu được ưu tiên một ngày rưỡi. Cả Chanh không  cần lời căn dặn “nói thẳng, nói thật, nói hết”, cứ biết gì tuôn ra không hề kiêng nể. Có cả những điều trắng trợn:

- Khi tôi mới đến Hà Nội, được gặp vài đồng chí ủy viên Trung ương đến thăm, khuyên rằng việc này chỉ nên báo cáo với đồng chí A hay B, đừng báo cáo với đồng chí C. Sao lạ vậy?

Hai đồng chí trong thường vụ tỉnh ủy cùng đi trách Chanh “lần đầu gặp Trung  ương đã gây căng thẳng”. Anh không đổi ý: “Đã né tránh phê bình từ dưới lên thì không còn là người cộng sản nữa”. Bác Hồ đang lúc ốm mệt, chỉ gửi mấy chữ thăm chung cả đoàn, hẹn hôm nào khỏe Bác sẽ tiếp. Chừ Bác đã hơi run nhưng còn rõ. Anh Tố Hữu mang thiếp đến cho đoàn nói thêm: “Bác bảo thăm hỏi mà nhờ người khác viết thì thiếu cái tình, để Bác tự viết mới thân thiết”. Anh chị em cầm tấm thiếp mà ứa nước mắt. Ước gì có thể mỗi người góp năm năm tuổi sống nữa, dân mình sẵn sàng quyên mười thế kỷ tuổi để Bác sống đến ngày thống nhất!

Chị Hai Thùy còn lang thang trên đường 559 với bầy trẻ em, các cán bộ quen “ông Chanh xe lửa” từ hồi chống Pháp đã gọi điện ra Văn phòng Trung  ương báo tin chị và các cháu đi chậm nhưng không bị bom đạn hay đau ốm, chỉ phải cái bụng mang thai của chị cứ đội áo lên to dần. Cả Chanh báo cáo xong, được xếp di tham quan Liên Xô trong khi đợi Trung ương họp toàn thể. Tin đồn mang máng trong giới cán bộ cao trung là ta sắp mở một cuộc tổng tiến công  và nổi dậy ở miền Nam, ngày tháng nào chưa biết, chỉ đưa bộ đội, vũ khí, thuốc men vào ngày càng ùn ùn.

Một ngày trước khi lên máy bay, đoàn khu Năm nhận được tin về trận càn lớn vào Tây Quảng  Nam. Nó không còn lớn như kế hoạch ban đầu của Mỹ: thủy quân lục chiến Mỹ ở vùng chiến thuật Một bị điều ra Quảng Trị và đường Chín - Nam Lào nhiều, chỉ gom được ba nghìn quân đưa lên Quảng Nam. Cánh quân Kỵ binh hay từ Kon-tum xuống rút còn hơn một ngàn, chia nhiều mũi thăm dò để dùng B.52 hủy diệt, chứ tránh chọi nhau đối mặt với ba sư đoàn Việt Cộng chưa biết đang ở đâu trong núi rừng chập trùng này. Quân ngụy cũng chỉ huy động được một trung đoàn rất thiếu lính chiến tuy lương phát đủ, một tiểu đoàn biệt động quân, hai đội biệt kích Mỹ ước chùng hơn trăm quân, với hơn hai chục sĩ quan và hạ sĩ quan Mỹ chỉ huy. Cả đoàn khu Năm thở phào: chúng nó bấy nhiêu thì sức ta chọi không khó, chỉ cố xóa phiên hiệu một cánh quân Mỹ là nó khiếp.

Đường bay hồi đó khá nhiêu khê. Phải đi máy bay nhỏ IL-14 lúc tối trời từ Gia Lâm sang Nam Ninh, làm thủ tục quá cảnh tại đây. Hôm sau lại đi IL-14 bay chậm và khá xóc lỗ không khí, đến Vũ Hán xuống nghỉ ăn trưa một lát, lại bay tiếp đến tối mịt mới tới Bắc Kinh. Khách sang nghỉ tại khách sạn Kinh Tây hay Bắc Kinh, khách thường vào khách sạn Tân Kiều. Thời gian chờ chuyển sang  tuyến bay TU-104 của A-ê-rô-flốt Liên Xô có khi kéo dài tới ba bốn ngày, các đoàn Việt Nam đủ thì giờ cuốc bộ đến quảng trường Thiên An Môn, Bách hóa đại lầu, chợ Đông An vừa đổi ra Đông Phong , xây cách nhau không xa mấy. Đại tự báo dán nhan nhản khắp nơi, tiếng máy tăng âm đặt ở các góc chợ và ngã ba ngã tư của các phái Hồng vệ binh tố cáo lẫn nhau là phản bội Mao chủ tịch. Một bác biết chữ Hán đọc cho đoàn tham quan nghe những báo chữ to thuộc sáu phái Hồng vệ binh: Cờ đỏ, Tạo phản, Tư tưởng Mao Trạch Đông, gì gì nữa không nhớ hết. Các đồng chí ta nhìn nhau ngẩn ngơ.

Các đồng chí ở Cơ quan đại diện Mặt trận cho biết chỉ qua ngót một năm đấu đá và giành chính quyền ở cơ sở mà hàng hóa đã khan hiếm như mấy năm “tiến nhảy vọt” và lập các công xã nhân dân khổng lồ. Còn may vài năm nay thóc mì được mùa, không bị đói. Thật khó hiểu, nhưng có thể nói ngay rằng không phải “cách mạng văn hóa” theo đúng nghĩa đen.

 9 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:11:40 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

Đang sửa

        Sự thoái quân tiếp diễn ở Ba Lan. Một cuộc rút lui nhanh chóng và xôn xao hơn, nhưng không phải là một sự bại trận. Những mảnh vụn của các đại đơn vị Bộ binh Đức (Wehrmacht) đã rút lui mau chóng trước áp lực nặng nề của đoàn Thiết Kỵ Nga, nhưng, thỉnh thoảng, dòng sông người ấy lại chuyển sang hướng khác nhường chỗ cho một phân đội hay một liên đội thiết giáp, thường thì một liên đội "Waffen ss". Đội quân này ở lại tại chỗ, hay trở ngược lại để tung ra một trận đánh cầm chân địch.

        Nhiều đồn Hiến binh được thiết lập dọc theo con đường. Những viên Hiến binh Đức được tuyển chọn trong số những quân nhân đanh ác, ham thích uy quyền. Các binh sĩ tháo lui nào đã toan xoay sở để chạy nhanh hơn đều phải suy nghĩ khi nhìn thấy bọn Hiến binh này. Tốt hơn nên gia nhập vào một đơn vị đã được tổ chức lại", tự giới thiệu và tự đặt dưới quyền của vị sĩ quan chỉ huy.

        Những làng mạc hiếm hoi mà người ta chỉ thấy trong các nông trại và các isba (isba : một loại nhà nhỏ bằng gỗ thông của dân quê nước Nga) vài ông già, đôi khi vài trẻ nít. Những người lớn đã đi, mang theo gia sủc, không phải đi theo quân đội Đức - Hồi kết cục chưa đến - mà là đi vào rừng ẩn trốn để chờ kết quả của biến cố,

        Nhiều đơn vị mới đã bắt đầu đến từ Varsovie và Đông Phổ, ngược dòng với đoàn quân đang di tản chiến thuật. Đã cho các đơn vị này thiết bị thành lũy, toán quân mà chúng ta vừa đề cập đến, nhận lịnh bổ trí, ngày 20 tháng bảy 1944, tại ven một làng (không có tên) giữa Wolkowysk và Bialystock, cầm chân đội thiết kỵ tiền phương Nga. Đội thiết giáp này không còn đông đảo bằng lúc trước và ít hung hãn hơn, có lẽ vì thiếu đạn dược và nhiên liệu. Sự tiến quân Sô viết đã như sấm sét. Ngoài đại bác 88 của các chiến xa, toán quân hỗn hợp vừa "tập hợp lại" này còn có thêm ba đại bác 37 và hai súng cối 80 ly, cộng với vũ khi cá nhân.

        Các chiến xa bố trí hai bên đường, cạnh các ngôi nhà. Một chiếc xe hơi Nga hiện ra ở khúc quanh, cách đó bốn trăm thước, một chiếc xe du lịch thường mang dấu hiệu ngôi sao. Một thoáng, nó không còn nữa. Hai xe đại liên đến đằng sau, trong khoảnh khắc, chúng đã nổ tan tành. Đến lượt một chiến xa Nga xuất hiện.

        Bấy giờ, một tuyến ánh sáng chói lọi tóe ra từ mặt đất ở đầu làng. Mặt đất rung chuyển, đã có một sự chấn động trong không khí, ngột ngạt và đinh tai, và, trong một quảng thời gian dường như vô tận đối với những người không bị chết, phân nữa ngôi làng biến mất giữa một cụm khói đen xuyên qua bởi những tia chớp đỏ và vàng trong khi nhiều tiếng nổ khác tiếp theo. Một trong rất nhiều đạn dược (hoặc hỏa tiễn, hoặc chất nổ) đã được chôn dấu dọc theo trục lộ Varsovie-Minsk-Smo- lensk đã nổ tung. Người ta không làm sao biết được sự hiện hữu cùng vị trí của các hầm kho dự trữ này từ khi các người có trách nhiệm canh giữ chúng bỏ chạy. Cũng không thể biết được có phải là sự phát nô đã do một hỏa tiễn bắn ra từ chiến xa Nga hoặc do một sự bất cằn của các người phòng ngự hay một ngẫu nhiên nào. Sự phát nồ đã tiêu diệt một trong hai chiến xa và có khoảng năm mươi nạn nhàn, chết và bị thương.

        Trong số các người bị thương có Trung sĩ Ernst Sírobel, đã được nói đến, kẻ sống sót từ những trận đánh Orel, Kiev, Mohilev, Bobruisk và Minsk, hắn ta đã kể lại các sự việc trên trong nhiều bức thư gửi từ Quân y viện Stettin về cho gia đình ở Cologne. Những bức thư này đã được thu nhặt, chỉ có trời mới hiểu được bằng cách nào, từ sau sự phá hủy hầu như toàn bộ thành phố Cologne bởi những cuộc oanh tạc của không lực Đồng Minh, và chung cuộc nằm trong hồ sơ của cơ quan tình báo của Đạo quân thứ I của Mỹ. Còn về phần Trung sĩ Strobel, hình như phải kể hắn ta vào số nhiều triệu người Đức mất tích.

        Ngày 20-7-1944, nhiều toán quân Đức hay đồng minh của Đức, thường cũng tơi tả như toán quân mà chúng ta vừa theo dõi, đã đánh tháo khắp nơi ở phòng tuyến Miền Đông, từ biển Baltique (Baltique là biển phụ của Đại tây dương ở giữa các nước Suède, Finlande, Russie, Lithuanie, Allemagne, và Daneinark) đến dãy núi Carpathes. Sự thất bại của Phần Lan ở Carélie đã làm Đội quân thứ XX của Đức đóng tại Laponie hoàn toàn bị cô lập bên kia bẳc cực khuyên (cercle polaire arctique) những nước vùng Baltique hầu như bị bao vây ; trên hai mặt trận vùng biển Ballique và ba trận tuyến ở Bạch Nga. Chiến thuật gia Joukov, điều động một khối người và chiến xa đông đảo phi thường nhứt vào cuộc chiến, đã tiến gần năm trăm cây số trong không đầy ba tuần lễ.

        Ở Rastenburg, những xếp lớn của O.K.W. (Oberkommando đer Wehrmacht : Bộ Tổng tư lệnh tối cao Quân lực Đức Quốc Xã) không có vẻ gì là mất tinh thần vì những biến cố quân sự ở phương Đông cả : "Không có một cuộc tấn công nào có thể tiếp diễn mãi mãi, chúng ta biểt rõ điều đó hơn ai hết. Sẽ có một lúc mà người ta phải dừng lại để đợi tiếp tế và chấn chỉnh lại các hàng ngũ. Lúc đó sẽ là lúc mà chúng ta phản công lại".

 10 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:08:55 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Sự giận hờn của người phụ tá thứ nhứt của Hitler đã không gây được một ấn tượng nào nơi Hitler. Trước cũng như sau, Hitler không thèm hỏi ý kiến ông. Khi đã quyết định khai chiến với Nga rồi - một quyết định quan trọng nhứt lịch sử Đức - Hitler mới điện thoại cho Goering :

        "Tỏi đã quyết định khai chiến với Nga".

        Gocbbels lúc ấy chỉ là bù nhìn quay theo lời của Hitler. Hess chỉ là một "siêu tùy viên", Bormann là một con vật vô cơ. Himmler không được hỏi ý kiến về một vấn đề gì bao giờ. Ribbentrop chẳng quan trọng hơn hạt đậu. Chẳng bao giờ có những kẻ xúi xiểm bí mật đến thì thầm bên tai Fuhrer những ý kiến. Tôi sẽ cho thấy Bộ tham mưu của ông ta ra sao.

        Goering đã nói : "Không khi nào người ta hỏi rnột vị tướng lãnh xem có chấp thuận một chính sách nọ, một chính sách kia không. Trong khi Fuhrer trình bàv ý kiến của mình, không bao giờ có vấn đế tìm hiểu xem các tướng lãnh có đồng ý về các kế hoạch quân sự của ông hay không. Nếu có một vị tướng nào đứng lên mà nói : Thưa Fuhrer, theo tôi, ý kiến của Ngài sai - Tôi không đồng ý về thỏa ước mà Ngài đã ký kết và về những biện pháp mà Ngài sẽ áp dụng", thì đó là điều không thể nào hiểu được. Không những người đó sẽ bị bắn, mà tôi còn coi y là một tên khùng".

        Không có một sáng kiến chính trị nào của Đức quốc xã đã được đem ra bàn thảo trước. Hội đồng Nhà Nước, mà Schac-ht ngồi chủ tọa làm vì, đã không họp một lần nào. Người ta thấy hàng trăm hội đồng để thi hành ; nhưng không có lấy một cái để quyết định. Lúc nào cũng chỉ có một lề lối duy nhất : Hitler triệu tập 3 hay 4 nhân vật cao cấp có liên hệ trực tiếp tới các dự án của ông và bảo họ : "Đó là điều tôi muốn làm. Các anh đề nghị thế nào ?" Ban đầu ông ta còn nghe những lời phản đối; sau cùng ông ta chẳng nghe gì nữa.

        Ổng không dung thứ cho một ai có một cái nhìn toàn bộ chính sách và các mưu định của ông. Ông nói :   

        "Mỗi người chỉ được biết những điều gì có liên hệ trực tiếp đến minh, và chỉ được biết duy nhất một điều đó vào lúc tiện lợi, nghĩa là càng trễ càng tốt".

        Các nhà ngoại giao không biết gì về các kế hoạch quân sự. Các nhà quân sự không biết các sự bố trí về ngoại giao. Các người chế tạo vũ khỉ không biết gì về chính sách của công việc chế tạo vũ khí.

        Keitel nói : "Bộ tư lệnh tối cao quân đội (Ober Kommando der Wehrmacht bị cấm chỉ không được để cho Bộ Ngoại giao thấy một dấu hiệu cỏn con nào về các cuộc hành quân".

        Ribbentrop thì nói : "Bộ Ngoại giao bị cấm chỉ không được để cho OKW (Bộ tư lệnh tối cao quân đội) thấy một dấu hiệu cỏn con về cuộc vận động ngoại giao Speer, Tổng trưởng Bộ Vũ khí, thành viên hội đồng nội các trong chính phủ Đức quốc xã, quả quyết rằng ông ta đã biết tin quân Đức đã tiến vào Ba-Lan qua đài phát thanh. Điều đó có vẻ điên. Tôi thì tin chắc là sự thật

        Nhưng những kẻ mù lòa này chấp nhận sự mù lòa của họ. Cho tới pháp đình ở Nuremberg, họ đã biện minh cho một bộ máy chính quyền đã biến họ thành những bánh xe và cuối cùng đã đưa họ vào tù hay lên đoạn đầu đài.

        Goering đã nói : "Chế độ Dân Chủ đã đưa nước Đức tới thảm họa. Chỉ có chế độ Lãnh tụ mới cứu được nước này".

        Thật là đúng khi bảo rằng những mối ưu tư thực sự và mãnh liệt ngay từ những ngày đầu đã dày vò một số người mà cái chế độ quái dị này lôi theo.

        Xuống dưới chúng tôi sẽ đan cử những bằng chứng được lặp đi lặp lại về điều đó. Tuy nhiên, ngay những người không phải đảng viên Đức quốc xã, ngay những người mà bất cứ cái gì cũng làm họ chán ghét ý thức hệ của Hitler, cũng đã tuân phục, đi theo và phục vụ.

        Sự khủng bố, cái khía cạnh cảnh sát và đê tiện của một chính quyền thoát thân từ cống rãnh, không báo cáo được mọi sự. Cái thói quen vâng lời lúc nào cũng mãnh liệt nhất ở tột đỉnh của đẳng cấp, cái quan niệm cho rằng vận mệnh của Đức dù muốn dù không đã trùng lẫn với chế độ Quốc xã, cũng chưa phải là những lời giải thích đầy đủ. Lịch sử chắc hẳn sẽ phải đề ý đến ảnh hưởng không thể tưởng tượng của Hitler đối với các trí khôn và các ý chí. Chồng hồ sơ Nuremberg, các cuộc thẩm vấn các bị cáo, các lời khai của các nhân chứng, biết bao nhiêu lời tuyên bố của những người đã biết và đã gần lãnh tụ Hitler sẽ giúp tạo lại cái bầu không khí gần như bị "thư, yểm" nó bao phủ tấn thảm kịch Đức quốc.   

        Lời chứng gây xúc động mạnh nhất là lời của một người, nay đã trở thành người thiên cổ, người mà ngày sinh cũng như dĩ vãng ở cách xa chế độ Quốc xã, người đã thử kiềm chế Hitler nhưng đã bị Hitler đánh lừa, chế nhạo và nghiền nát - đó là Thống chế Von Blomberg.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM