Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:14:45 PM



Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:14:45 PM
Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Hà Nội - 1996
Người số hóa: macbupda

(https://scontent.fhan2-3.fna.fbcdn.net/v/t34.0-12/21942356_1542537635807911_460009728_n.jpg?oh=4d23dd8451e13cec4dcecc94bece3377&oe=59CC5125)

Chỉ đạo nội dung:
THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢNG NINH
THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH QUẢNG NINH
   - Thiếu tướng      TÔ QUỐC TRỊNH
   - Đồng chí      NGUYỄN DANH KÝ
   - Thượng tá      PHẠM NGỌC CƯƠNG
   - Thượng tá      NGÔ THẾ LỤC
   - Thượng tá      NGUYỄN CÔNG TRANH


Sưu tầm tư liệu và viết:
   - PHAN VĂN ĐẠT
   - LÊ MÃ LƯƠNG



“Bác mong tất cả công nhân và cán bộ cố gắng hơn nữa, đẩy mạnh ngành than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác và tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp”

(Trích lời Bác Hồ nói chuyện với đại biểu ngành than về Phủ Chủ tịch báo cáo với Bác và Trung ương Đảng công việc sản xuất than ngày 15 tháng 11 năm 1968)

LỜI GIỚI THIỆU
CỦA ĐỒNG CHÍ PHẠM VĂN ĐỒNG
CỐ VẤN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Quảng Ninh là vùng đất lịch sử với Bạch Đằng Giang lẫy lừng, vịnh Hạ Long một trong những kỳ quan của thế giới.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Ninh kế thừa truyền thống “Vùng mỏ bất khuất” đã chiến đấu cực kỳ dũng cảm, xây dựng và bảo vệ hậu phương vững mạnh, góp phần cùng nhân dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, có cống hiến to lớn về sức người, sức của chi viện cho miền Nam ruột thịt.

Cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” là một công trình lịch sử được biện soạn công phu, nghiêm túc, góp phần tổng kết những năm tháng chiến đấu hào hùng của nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Ninh chống sự xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ, đồng thời góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho các thế hệ ở vùng Đông Bắc duyên hải và cả nước. Là một người đã nhiều năm gắn bó với Quảng Ninh và tận mắt được chứng kiến trận giáng trả đích đáng không quân Mỹ đến gây tội ác chiều mồng 5 tháng 8 năm 1964, trện đầu đánh thắng của Quảng Ninh trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, tôi vui mừng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách này.


                                                                                                                                                                                 
Hà Nội tháng 1 năm 1996
PHẠM VĂN ĐỒNG


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:19:42 PM
LỜI NÓI ĐẦU

Tiếp sau cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” xuất bản năm 1991, Đảng ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh đã khẩn trương tổ chức, chỉ đạo nghiên cứu biên soạn cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ và cứu nước (1954-1975)” viết về quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân và dân Quảng Ninh dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện hai chiến lược cách mạng trên địa bàn tỉnh, góp phần xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Nhân dịp cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” xuất bản, chúng tôi xin chân thành cám ơn Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, Phòng Khoa học công nghệ và Môi trường Quân khu 3, Sở Văn hóa thông tin, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các đồng chí cán bộ cách mạng lão thành, các đồng chí chỉ huy của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh qua các thời kỳ đã góp nhiều ý kiến, cung cấp nhiều tư liệu nâng cao chất lượng bản thảo và giúp đỡ tận tình để cuốn sách ra mắt bạn đọc.

“Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975)” là một công trình khoa học lịch sử, nhưng do thời gian gấp, sự kiện nhiều, tư liệu chưa có điều kiện khai thác đầy đủ, do trình độ người viết, nên mặc dù đã có nhiều cố gắng vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót.

Thường vụ Đảng ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để tiếp tục bổ sung cho lần xuất bản sau được tốt hơn.


                                                                                                                                                                                   
THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY
BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ
TỈNH QUẢNG NINH


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:22:08 PM
Chương một

QUÂN DÂN QUẢNG NINH CỦNG CỐ, XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY
SỨC MẠNH CỦA CHẾ ĐỘ MỚI, LÀM THẤT BẠI MỌI ÂM MƯU
PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ TAY SAI
(1954-1964)

1. Nhanh chóng ổn định vùng mới giải phóng, hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Địa bản Quảng Ninh trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (21-7-1954) gồm hai tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai.

Theo thỏa thuận giữa Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ tổng chỉ huy Quân đội Pháp tại hội nghị Trung Giã thì lịch trình rút quân của quân đội Pháp và tay sai ở Quảng Ninh diễn ra như sau:

- Khu tập kết 100 ngày gồm các huyện Nam Sách, Chí Linh, Đông Triều, Kim Môn, Hoành Bồ.

- Khu tập kết 200 ngày gồm đại bộ phận tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai.

- Tỉnh Hải Ninh không có lịch cụ thể nhưng là nơi địch rút sớm nhất so với các tỉnh miền Bắc (23-7 – 8-8-1954) để đón quân vào khu tập kết 300 ngày.

Ngày 25 tháng 7 năm 1954 ta tiếp quản quân cảng Vạn Hoa, tuyên bố thành lập chính quyền dân chủ nhân dân ở vùng này. Đây là lần đầu tiên người dân Vạn Hoa (huyện Cẩm Phả) được hưởng không khí tự do, độc lập (trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ta chưa giải phóng được quân cảng này(1)).

Ngày 30 tháng 7 năm 1954, ta tiếp quản đảo Vân Hải. Ủy ban hành chính Vân Hải ra công khai hoạt động. Từ đó, lần lượt chính quyền cấp xã ở Hải Ninh, Cẩm Phả, Hoành Bồ cũng ra công khai hoạt động2.

Để thực hiện nhiệm vụ quản lý vùng mới giải phóng, ngày 2 tháng 8 năm 1954 đại đội 158 (tiểu đoàn 433 – trung đoàn 238) do tiểu đoàn phó Hoàng Hiên chỉ huy từ thị xã Lạng Sơn được lệnh hành quân ra tiếp quản thị xã Móng Cái. Khi đại đội đến Khe Tù, đồng chí Hiên đề nghị với chỉ huy quân Pháp cho đi qua thị trấn Tiên Yên rồi theo đường số 4 tiến thẳng đến Móng Cái, viên chỉ huy Pháp ở Khe Tù không đồng ý. Đại đội 158 phải trở lại hành quân theo đường mòn trong rừng, rồi huy động thuyền đi đường biển. Với sự giúp đỡ tận tình của tỉnh đội Hải Ninh và thị đội Móng Cái, sau năm ngày đêm đại đội mới tới thị xã Móng Cái. Đơn vị nhanh chóng chiếm lĩnh khu vực Tổ Sơn, Giếng Guốc và những vị trí trọng yếu trong thị xã, rồi bắt tay ngay vào việc động viên, vận động nhân dân, tuyên truyền giáo dục những người trước đây đã làm việc cho địch bảo vệ trật tự an ninh. Tiểu đoàn phó Hoàng Hiên được trên chỉ định tham gia Ủy ban quân quản thị xã.

Lực lượng còn lại của tiểu đoàn 433 tiếp quản thị trấn Tiên Yên, Khe Tù, Mũi Chùa, huyện lỵ Ba Chẽ, Khe Lò, các đảo thuộc vùng biển Hải Ninh, củng cố vùng mới giải phóng, giữ vững an ninh chính trị an toàn xã hội, tranh thủ và đoàn kết nhân dân các dân tộc, xây dựng và phát triển cơ sở quần chúng, lôi kéo những người theo địch còn lẩn trốn, phá tàn dự phỉ của Voòng A Sáng đang ẩn náu. Đồng chí chính ủy trung đoàn 238 Trần Đức được trên chỉ định tham gia Ủy ban quân chính Tiên Yên.

Ngày 15 tháng 8 năm 1954, tiểu đoàn 434 và trung đoàn bộ do trung đoàn trưởng Trương Cao Dũng và chỉnh ủy Tùng Giang đang ở thị xã Bắc Ninh thì nhận được lệnh của Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc tập trung lực lượng toàn trung đoàn ở tỉnh Hải Ninh để làm nhiệm vụ củng cố, bảo vệ vùng biên ải ven biển có ý nghĩa về chiến lược ở Đông Bắc duyên hải. Sau hai ngày, toàn bộ tiểu đoàn 434 và trung đoàn bộ lên đường ngược đường số 1, qua đường số 13 đến thị trấn Đình Lập sang đường số 4 ra Khe Tù.

Sau cuộc biểu dương lực lượng kỷ niệm ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1954 ỏ Tiên Yên, tiểu đoàn 434 do tiểu đoàn trưởng Hoàng Dũng, chính trị viên Vũ Thái và tiểu đoàn phó Hồng Quỳnh chỉ huy tiểu đoàn vào thị trấn Ba Chẽ, Khe Lò, Khe Kim thay thế đại đội 157 thuộc tiểu đoàn 433, làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị, tranh thủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc, diệt phỉ phản động do tên Lục Văn Thông cầm đầu.

Cùng thời gian này trung đoàn bộ và tiểu đoàn 433 tiếp tục làm nhiệm vụ củng cố bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng cơ sở chính trị ở Tiên Yên, Khe Tù, Mũi Chùa; đồng thời trung đoàn được lệnh tách ra một lực lượng đảm nhiệm việc bảo vệ tổ cố định của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ ở Tiên Yên. Khi tổ cố định này di chuyển đi làm nhiệm vụ ở các nơi khác trong tỉnh, lực lượng bảo vệ cũng cơ động theo để bảo đảm an toàn cho tổ. Để nắm vững sự hoạt động của tổ chức quốc tế này, đồng chí phó chính ủy trung đoàn Trần Đức được cấp trên chỉ định làm việc thường xuyên với tổ quốc tế với tư cách là tư lệnh địa phương cùng với đồng chí Đỗ Chính, Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh, danh nghĩa là nhà đương cục địa phương.


(1) 30 năm đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân ở Quảng Ninh, tư liệu, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh ủy Quảng Ninh, 1975, tr. 57.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:25:11 PM
Những tháng cuối năm 1954 đầu năm 1955 tiểu đoàn 434 đã lăn lộn với núi rừng Ba Chẽ, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Ngày đầu vào Khe Lò, bộ đội đã nhường cơm sẻ áo cứu 17 người dân sắp chết đói. Ngày ngày bộ đội cùng đồng bào lên nương, lên rẫy tra ngô, trồng sắn, trồng khoai. Qua những buổi cùng làm, đồng bào đã cho bộ đội biết những nhà trong khe, trong bản còn có người theo phỉ lên núi, lên hang. Được bộ đội và cán bộ hết lòng giúp đỡ, một số người lầm đường, lạc lối theo địch đã về nhà, về bản. Họ được chính phủ khoan hồng.

Trong khi tàn dư phỉ đang tìm cách lẩn trốn trong rửng sâu, núi hiểm Ba Chẽ, thì ở Đầm Hà, Hà Cối một bọn phản động người Hoa câu kết với tay chân Voòng A Sáng cài lại, do Trịnh Coóng Phí cầm đầu đã gây rối, bạo loạn cướp chính quyền. Dải đất các huyện phía đông từ Móng Cái đến Tiên Yên, chúng đòi thuộc quyền cai quản của chúng.

Một bộ phận của tiểu đoàn 433 đang làm nhiệm vụ ở Tiên Yên, Khe Tù được điều động gấp ra Đầm Hà, Hà Cối để cùng với các lực lượng địa phương giải quyết vụ bạo loạn này. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ban cán sự huyện, các đơn vị đã dựa vào dân, cô lập bọn xúi giục gây rối loạn, trừng trị những tên đầu sỏ gian ác, lập lại trật tự an ninh, giúp dân sản xuất và ổn định đời sống.

Đầu năm 1955, Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc quyết định bổ sung tiểu đoàn Bạch Dằng cho trung đoàn 238 để kiện toàn lực lượng, chuẩn bị làm nhiệm vụ mới.

Tiểu đoàn Bạch Đằng là một đơn vị chủ lực của tỉnh Quảng Yên, thành lập năm 1949, đã có bề dày thành tích chiến đấu suốt 5 năm ở vùng sau lưng địch. Trước khi bổ sung vào đội hình trung đoàn, tiểu đoàn Bạch Đằng đã hoàn thành nhiệm vụ cùng với tiểu đoàn pháo binh 178 tiếp quản thị trấn Phả Lại (huyện Chí Linh) và thị trấn Đông Triều (huyện Đông Triều) thuộc khu vực địch tập kết 100 ngày.

Sáp nhập vào trung đoàn 238, tiểu đoàn Bạch Đằng mang phiêu hiệu tiểu đoàn 48. Toàn tiểu đoàn được lệnh gấp rút chuẩn bị mọi mặt để cùng trung đoàn đi tiếp quản khu 300 ngày.

Ngày 17 tháng 2 năm 1955 Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thành lập khu Hồng Quảng(1). Đồng chí Hoàng Hữu Nhân được cử làm bí thư khu ủy kiêm chủ tịch ủy ban hành chính khu, đồng chí Tăng Văn Hội khu đội trưởng, đồng chí Trịnh Nguyên chính trị viên khu đội(2).

Lực lượng tham gia tiếp quản khu Hồng Quảng gồm: trung đoàn 238, trung đoàn 248, tiểu đoàn 244, trung đoàn 64 (đại đoàn 320) và các thủy đội 470, 471, 472.

Trung ương rất quan tâm việc tiếp quản khu tập kết 300 ngày mà trọng tâm là thành phố cảng Hải Phòng và khu công nghiệp than Hồng Gai.

Khu tập kết 300 ngày có tầm quan trọng về mọi mặt. Ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, việc quy định khu vực này thuộc về bên nào là một trong những điểm đấu tranh gay go giữa ta và Pháp. Đây là nơi tập kết cuối cùng trước khi địch phải rút bỏ hoàn toàn miền Bắc Việt Nam. Chúng tung dư luận có thể trì hoãn ngày rút quân khỏi đây.

Tranh thủ thời gian 300 ngày, chính quyền từ đặc khu đến cơ sở của ta kịp thời phổ biến văn kiện của Hiệp định Giơ-ne-vơ cho quần chúng, vận động mọi người đấu tranh chống những hành động vi phạm hiệp định của quân đội Pháp và ngụy quyền tay sai. Hưởng ứng lời kêu gọi của chính quyền, trong thời gian 300 ngày, công nhân vùng mỏ đã tổ chức 200 cuộc đấu tranh chống chủ mỏ cúp phạt, đánh đập, quỵt lương, thải thợ, buộc chủ không được ngừng sản xuất. Trong cuộc đấu tranh này, đáng chú ý là cuối năm 1954 công nhân mỏ Cẩm Phả đã mở cuộc đấu tranh lớn chống lại chủ đem máy móc đi Nam, khiến chủ mỏ Pháp không thực hiện được ý định. Sau đó họ phải xin phép Chính phủ ta cho chuyển đi một số. Một tháng trước ngày sau tiếp quản khu mỏ, phía Pháp đồng ý tiếp nhận một đoàn chuyên viên kinh tế của ta vào trước để nắm tình hình trang thiết bị, cơ sở sản xuất. Các cơ quan quân sự của khu, huyện và thị xã được kiện toàn và đã có những bộ phận thâm nhập vào các thị xã để gây cơ sở và nắm địch. Tiếp đó, ta đưa các đội hành chính, công an vào để cùng đối phương chuẩn bị công việc bàn giao. Được sự chỉ đạo của Khu ủy, các đoàn công tác vào trước đã bí mật liên lạc với cán bộ cơ sở tuyên truyền giải thích vận động công nhân và nhân dân ở nội thị đấu tranh chống âm mưu địch cưỡng ép di cư vào Nam. Đây là cuộc đấu tranh rất căng thẳng. Khi được giải thích cặn kẽ, hàng trăm gia đình ở mỏ bị địch dụ dỗ đến nơi tập trung đã lần lượt bỏ về quê, không theo Pháp vào Nam.


(1) Địa bàn Hồng Quảng gồm các thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả, Quảng Yên, Cửa Ông, Cát Bà, Uông Bí; các huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Cẩm Phả, Cát Hải, Thủy Nguyên, Đông Triều.
(2) Quảng Ninh lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr. 272.


Tiêu đề: Re: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:28:23 PM
Việc tiếp quản khu vực 300 ngày ở khu Hồng Quảng được chia làm nhiều đợt. Trung đoàn 238 nhận trọng trách tiếp quản ngay ngày đầu tiên của đợt đầu. Lúc này ban chỉ huy trung đoàn gồm có: trung đoàn trưởng Trương Cao Dũng, trung đoàn phó Long Xuyên, phó chính ủy Trần Đức. Bộ chỉ huy các lực lượng tiếp quản khu vực 300 ngày chỉ thị cho ban chỉ huy trung đoàn 238 phải tuyệt đối chấp hành kỷ luật giữ vững an ninh trật tự khi vào tiếp quản, không để xảy ra một tiếng nổ khiến địch vin cớ trì hoãn việc rút quân.

Mệnh lệnh tiếp thu khu chu vi Hải Phòng của Bộ Quốc phòng do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký ngày 16 tháng 1 năm 1955 chỉ rõ: “Trung đoàn 238 phụ trách khu vực Cẩm Phả Mỏ, Cẩm Phả Bến, vịnh Bái Tử Long và các quần đảo đông bắc vịnh Bái Tử Long cho đến Vạn Hoa”(1).

Trung đoàn 238 đã sử dụng lực lượng theo kế hoạch của Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu và của Bộ chỉ huy tiếp quản khu vực 300 ngày. Từ Tiên Yên, Khe Tù và Ba Chẽ, các đơn vị hành quân đến các khu vực tập kết cách Mông Dương 6km. Trước đó trung đoàn đã cho một trung đội trinh sát bí mật bám sát và bảo vệ đoạn đường mà trung đoàn sẽ hành quân vào tiếp quản từ Mông Dương, Cửa Ông, Cẩm Phả.

Ngày 21 tháng 4 năm 1955 tại khu vực tập kết, trung đoàn nhận được điện của Bộ Tổng Tham mưu báo cho biết dùng hành quân vào tiếp quản Cửa Ông, Cẩm Phả với các đơn vị có nữ ký giả Ma-đơ-len Ríp-phô, phóng viên báo Nhân đạo (Humianité) của Đảng Cộng sản Pháp.

Ngay chiều hôm đó, Ma-đơ-len đã đến thăm các đơn vị. Chị chụp ảnh những dãy lán đơn sơ, bữa cơm muối vừng của bộ đội và trò chuyện thân mật với cán bộ, chiến sĩ bằng tiếng Việt Nam.

3 giờ sáng này 22 tháng 4 năm 1955, toàn trung đoàn xuất phát. Tiểu đoàn 433 do tiểu đoàn trưởng Đinh Văn Kế chỉ huy cùng trung đoàn bộ vào Cửa Ông. Tiểu đoàn 434 do tiểu đoàn trưởng Hoàng Dũng và chính trị viên Vũ Thái chỉ huy vào Cẩm Phả Mỏ. Tiểu đoàn 48 do tiểu đoàn phó Đinh Viên và chính trị viên Đỗ Đức Nguyên chỉ huy cho hai đại đội dùng thuyền vượt biển tiếp quản Quan Lạn, quần đảo Kế Bào, một đại đội tiếp quản khu ven biển và vịnh Bái Tử Long, đại đội trợ chiến cùng tiểu đoàn bộ vào khu vực bắc Cửa Ông.

Để chuẩn bị cho bộ đội vượt sông Mông Dương, đồng bào quanh vùng đã huy động thuyền bè xếp ngang mặt sống rồi rải bè tre dọc lối đi, bảo đảm đội hình vượt sông khẩn trương và an toàn.

Các đơn vị hành quân vào tới bờ nam sông Mông Dương trời còn tối, đồng bào đã chờ sẵn đốt đuốc sáng bừng đôi bờ đón chờ bộ đội qua sông.

11 giờ ngày 22 tháng 4 năm 1955, chính quyền ta bắt đầu vào tiếp quản khu mỏ. Các đơn vị thuộc trung đoàn 238 đã vào các điểm tiếp quản từ Cửa Ông, cọc 6, Đèo Nai, Cẩm Phả đến Quang Hanh, Đèo Bụt. Các thủy đội 470, 471, 472 tiếp quản một số đảo phía ngoài. Đại đội 413, khu đội Hồng Quảng ra tiếp quản đảo Bạch Long Vĩ.

Cùng thời gian này trung đoàn 248, tiểu đoàn 244, trung đoàn 64 (đại đoàn 320) tiếp quản Uông Bí, Quảng Yên, Bãi Cháy, Hồng Gai, Hà Tu, Hà Lầm Đồng chí Trương Cao Dũng trung đoàn trưởng trung đoàn 238 được chỉ định làm chủ tịch ủy ban quân quản, đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm là phó chủ tịch ủy ban quân quản khu Hồng Quảng.

Sau 72 năm đấu tranh kiên trì, bền bỉ, dẻo dai và vô cùng anh dũng của quân dân khu mỏ (kể từ ngày thực dân Pháp chiếm đóng Hồng Gai ngày 12 tháng 3 năm 1883), ngày 25 tháng 4 năm 1955 tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi khu mỏ thân yêu của chúng ta.

Từ đây nhân dân khu mỏ vĩnh viễn thoát khỏi cuộc đời nô lệ, từ kiếp sống người làm thuê trở thành người làm chủ hoàn toàn mảnh đất giàu đẹp của mình(2).

Các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản khu Hồng Quảng có vinh dự được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng quốc phòng –Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Thiếu tướng Văn Tiến Dũng – Tổng tham mưu trưởng về thăm. Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đại diện trung đoàn 238 tại sân một trưởng học phía trong cầu 20 (Cả Ông), Thiếu tướng Văn Tiến Dung – Tổng tham mưu trưởng khẳng định: “Nhân dân khu mỏ sẽ đời đời ghi nhớ trung đoàn 238 đã về giải phóng, bảo vệ và giúp đỡ địa phương những ngày tháng đầu tiên mới hòa bình”(3).


(1) Trung đoàn bộ binh 238, Phòng khoa học lịch sử Quân khu 3, 1992, tr. 33.
(2) 55 năm chiến đấu và xây dựng của Đảng bộ vàn hân dân tỉnh Quảng Ninh, tr.55.
(3) Trung đoàn bộ binh 238, Phòng khoa học lịch sử Quân khu 3, 1992, tr. 35.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:32:16 PM
Sau hai ngày tiếp quản an toàn, vùng mỏ thực hiện lời kêu gọi của Chính phủ và của Bác Hồ kính mến. Giai cấp công nhân mỏ và cả những viên chức dưới chính quyền cũ đã trở lại vị trí làm việc. Chỉ trong thời gian ngắn, toàn bộ nhà máy, bến cảng, tầng lò đã hoạt động trở lại. 4.254 công nhân và lao động khác ở khu vực bị thất nghiệp được chính quyền cách mạng giải quyết việc làm. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chính trị và dân sinh giáng một đòn trí mạng vào bọn thực dân chủ mỏ đã từng hằn học và dọa chúng ta rằng “Ít ra cũng phải 20 hay 25 năm nữa người An Nam mới đào được than!”.

(https://lh3.googleusercontent.com/dpIikYEsiPz6pnyhUqpO6ngpQ8OzLPkoY9WE8nHrwp0AhHvCs-Z1wxyf3tLtQn4Z51oYq5S6JUY_YtbHLkyfPMQchIfzVEp34HU88VzlK-OIcfu1wm9_b5gb2Deaepx9aYmjiZ2RffvdzqJLKAzTcGkpIK-WK6fg6kbnOh3rH2LgkR5k853S-xSide_4-FIYZ4g6GpTkxLThvBOXh4Xao1_ddONsiCAo9ZE-dTsyqKrDBilRDuBkvY3rOkQNqhIaxjUUubO_7curs-D8kPTV_GGTzpH4LRHDgHdTJFORYVamkAJH1x-9PluJhuEKcmIk0cIKV_ss0PKqXL57e8r4xMVyhbvo2bKdXQlli86znyTPS5L5CR2Ki7nQRAKhCc8RID1o7PNTqGP8YXCFem-g1g1Dc5X8WP1NtG2ZtbTWVIffVHW3Ch2x3epLt0AAAKAHVMU1-qEy_nVZPG5KOoxZQk1v-9dtB9ubuna-c1_BhMbxDXv4NNDvI22VVU4X7YrgLGJpOmMRRWqJ2VwedDiZwYxSHoA7eBp7uJ1q6DQtaCVBlzi3yMMsrFH3SrCDMGOxL-9fIAeXmCnGXDQnf3e9skNs71b5XQHg3co7wxgQxg=w800-h556-no)

Ngày 26-4-1955, sau tiếp quản một ngày, tàu của Braxin lại tiếp tục vào lấy than

Bước vào cuộc chiến đấu mới, một thử thách và khó khăn đối với chính quyền cách mạng là trình độ tổ chức quản lý sản xuất và xã hội trên phạm vi rộng, quy mô lớn, tập trung cao đối với các cấp, vì vậy phải có nỗ lực lớn biết dựa vào khả năng công nhân và những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật của chế độ cũ tự nguyện làm việc cho cách mạng.

Tháng 8 năm 1955, vùng mỏ Cẩm Phả gặp khó khăn về vận chuyển, do đó cần phải khôi phục lại trục số 2 (mỏ Đèo Nai). Những kỹ sư Pháp còn ở lại làm việc với ta theo hiệp định giữa hai chính phủ khuyên không nên làm vì nó “lạc hậu”. Ta xác định quyết tâm làm. Họ nêu nhiều khó khăn và cho rằng nếu cứ làm thì ít nhất phải 9 tháng mới khôi phục xong. Cán bộ và công nhân ta khẳng định có thể làm nhanh ơn. Kỹ sư Pháp đành rút thời gian xuống 6 tháng rồi 3 tháng.

Với lòng nhiệt tình và ý thức làm chủ của người công nhân dưới chế độ mới, đường ray hỏng đã có vật liệu thay thế. Từ thời hạn 3 tháng mà kỹ sư Pháp xác định, anh chị em công nhân nghiên cứu và thấy khả năng có thể rút xuống 22 ngày. Nhiệt tình lao động sáng tạo, dám nghĩ dám làm lại được nhà máy quan tâm chăm sóc tinh thần và vật chất nên cuối cùng chiếc trục hỏng bị bỏ rơi vì “lạc hậu” đã được khôi phục trong 20 ngày, vượt kế hoạch 2 ngày so với dự kiến của ta, vượt 50 ngày so với ý định của kỹ sư Pháp.

Sau thắng lợi này, giai cấp công nhân mỏ còn tiếp tục khôi phục nhà máy, sản xuất hơi hàn, nhà máy luyện than, giải quyết đường điện cao thế ở cảng Cửa Ông phục vụ hoạt động cho các cần cẩu “poóc tích” trong điều kiện thiếu thiết bị kỹ thuật, thiếu kỹ sư và thợ lành nghề.

Một số ngành phụ trợ như hệ thống vận tải đường sắt, vận tải ô tô, các xí nghiệp tuyển than, các cảng, các nhà máy cơ khí sửa chữa cũng được tiến hành tìm kiếm phụ tùng thay thế, khôi phục những bộ phận hư hỏng để đưa vào vận hành, phục vụ sản xuất.

Ở mỏ than Mạo Khê - một khu mỏ hoang tàn, sau giải phóng, được lệnh của trên, 10 đồng chí bộ đội trong đó có một cán bộ kỹ thuật và một số là thợ mỏ cũ đã hạ ba lô khôi phục mỏ. Do mặt bằng thuận lợi, vỉa than dày, việc bóc đất đá đơn giản, nên sản xuất lúc đó chủ yếu là cuốc và dùng sức người gánh than từ nơi khai thác đến nơi vun đống tập trung.

Từ 10 con người đầy nhiệt huyết, mỏ quy tụ được vài trăm công nhân. Trong quá trình sản xuất mỏ đã áp dụng nhiều phương pháp sản xuất có hiệu quả, giảm sức người, năng suất cao.

Năm 1955, phương pháp sản xuất do Đậu Thị Nhàn đề xuất nhằm hợp lý hóa sản xuất, giảm động tác thừa đã được áp dụng. Phương pháp dùng vỉ sắt thay vỉ gỗ trong lò chờ đã giải quyết được khó khăn vì thiếu gỗ.

Thời gian này nguồn điện chủ yếu của vùng mỏ là nhà máy điện cọc 5 (Hồng Gai). Đây là nhà máy điện do Pháp xây dựng từ những năm hai mươi của thế kỷ này, công suất trên một vạn ki-lô-oát, chủ yếu là phục vụ sản xuất than và tiêu dùng của chủ mỏ. Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng sớm tổ chức quản lý sản xuất là nhờ giữ được nhà máy điện. Cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy điện cọc 5 (ngày 9 tháng 3 năm 1955) chống địch di chuyển máy móc trái phép đã giành được thắng lợi.

Cùng với việc sản xuất than, phong trào tăng gia sản xuất “Tấc đất tấc vàng” trong nông nghiệp đã góp phần hạn chế nạn đói, toàn bộ ruộng đất hoang hóa do địch khống chế trước đây đã được phục hồi, năng suất các loại khoai lang, ngô, sắn tăng nhanh, năm 1955 khoai lang đạt 32 ta/ha.

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh chủ trương chấn chỉnh một bước về tổ chức biên chế và cải tiến trang bị bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và chuẩn bị bước vào xây dựng theo hướng tiến dần lên chính quy, hiện đại.

Ở hướng Đông Bắc, ngày 25 tháng 6 năm 1955, Bộ quyết định thành lập sư đoàn bộ binh 332 gồm một số đơn vị, trong đó có trung đoàn 238 tiếp quản vùng mỏ thuộc biên chế của sư đoàn này. Cuối năm 1955, trung đoàn 238 được lệnh rút các tiểu đoàn đang làm nhiệm vụ ở các huyện thuộc Hải Ninh tập trung về khu vực cọc 6 (Cẩm Phả) để huấn luyện.

Trung đoàn 248 do đồng chí Vũ Nhung trung đoàn trưởng, đồng chí Hà chính ủy và Nông Tôn Vinh, trung đoàn phó, thay thế nhiệm vụ trung đoàn 238 đưa các đơn vị vào Hoành Bồ, Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà, Hà Cối, Móng Cái. Đầu năm 1956 Quân khu Đông Bắc được thành lập gồm sư đoàn 332 và các tỉnh Hải Ninh, Lạng Sơn. Cùng thời gian trên trung đoàn 238 rút khỏi Hồng Quảng về đội hình sư đoàn 332 Quân khu Đông Bắc. Ở hướng ven biển, từ ngày 5 tháng 6 năm 1955 Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc đưa trung đoàn phòng thủ bờ biển 701 triển khai lực lượng ở Mũi Ngọc, các đảo Cái Chiên, Cô Tô, Quan Lạn, Vạn Hoa và hai thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả, các tiểu đoàn cảnh vệ 470, 471, 472, 473 của Cục Phòng thủ bờ biển triển khai việc đặt đài quan sát và dựa vào thuyền của dân để tiến hành hoạt động tuần tra, cảnh giới vùng ven biển và hải đảo. Tháng 5 năm 1958 sư đoàn 332 và Quân khu Đông Bắc giải thể. Từ đây Hồng Quảng và Hải Ninh chuyển về trực thuộc Quân khu Tả Ngạn.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:34:38 PM
Cùng với việc tiễu phỉ, củng cố Đông Bắc, cuối năm 1955, chính quyền cách mạng thị xã Cẩm Phả được công an tỉnh và Bộ Công an chỉ đạo tiến hành bắt tên Phan Năm, một gián điệp được Pháp cài lại tại nhà máy cơ khí, khai thác mỏ than Đèo Nai (Cẩm Phả). Trước ngày giải phóng, Năm là tay sai đắc lực cho thực dân Pháp và bọn chủ mỏ, đã từng thẳng tay đàn áp nhiều cuộc đấu tranh của công nhân.

Trong thời gian Cẩm Phả còn là khu tập kết 300 ngày, Phan Năm đã thực hiện âm mưu phá dỡ, di chuyển máy móc của chủ mỏ, nhưng cuộc đấu tranh của công nhân mỏ Đèo Nai (Cẩm Phả) trung tuần tháng 4 năm 1955 đã giành được thắng lợi. Tòa án cách mạng tuyên án phạt Phan Năm mức án tử hình. Trên một bãi đất rộng ở cọc 6, hàng nghìn người dân Cẩm Phả đã chứng kiến cuộc xử bắn tên phản bội Tổ quốc Phan Năm.

Bản án tử hình đối với Phan Năm cũng đồng thời cũng là bản cáo trạng đối với âm mưu thực dân Pháp cài cắm gián điệp pháp hoại công cuộc lao động hòa bình của nhân dân ta.

Đến năm 1957, tiểu đoàn 3 trung đoàn 248 cùng lực lượng dân quân địa phương Ba Chẽ bắt được Lục Văn Thông, tên trùm phỉ chỉ huy cả mạng hành lang Thanh Phán đến vùng “xứ Nùng tự trị” cũ của địch.

Trên vùng cao Hoành Bồ, đại đội 103 (tiểu đoàn 1, trung đoàn 248) do đại đội trưởng Bùi Văn Thọ chỉ huy đã cùng lực lượng vũ trang địa phương đi sâu vào từng khe bản vận động đồng bào thực hiện các chủ trương của huyện, xây dựng các đoàn thể đẩy mạnh sản xuất, giúp đỡ bộ đội, gọi phỉ về nhà làm ăn sinh sống. Trên hành lang Thanh Phán ở vùng rẻo cao Hoành Bồ, địch đã cài một tên phản động chỉ huy một toán phỉ có vũ khí hoạt động nằm vùng tạo thế chân vạc phía sau vùng mỏ Hoành Bồ qua Ba Chẽ đến Tiên Yên.

Sau nửa năm thâm nhập quần chúng và tổ chức lực lượng đón lõng, đại đội 103 bắt mối được với cô gái người Thanh Phán, một phụ nữ xinh đẹp mà tên phản động đang rắp tâm chiếm làm vợ kế, nhưng bị cô phản đối. Cô đã báo cho bộ đội biết ngày giờ và nơi y hẹn đến gặp cô. Trung đội 1 đại đội 103 bố trí một trận phục kích trên đoạn đường dốc thuộc địa phận Lưỡng Kỳ Thượng cách Khe Bông 4km. Vào lúc nhập nhoạng tối khi tên này cùng đồng bọn xuống núi, lọt vào đúng điểm “phát hỏa”, cả trung đội bật lên bất ngờ và chính xác, y không kịp phản ứng. Các chiến sĩ trinh sát có võ thuật gỏi, bắt tên trùm phỉ cùng 15 tên cận vệ của y, chỉ có 5 tên chạy thoát.

Tên trùm phỉ cuối cùng ở vùng Đông Bắc bị trừ khử, mối hiểm họa của nhân dân bị đẩy lùi. Những tên phỉ còn lại lần lượt ra hàng. Người dân vùng Đông bắc yên ổn làm ăn.

Từ năm 1958 đến năm 1960, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương và được nhân dân giúp đỡ, cơ quan quân sự các cấp phối hợp lực lượng quân đội, công an, dân quân tự vệ khám phá và bắt gọn 11 vụ gián điệp, biệt kích, bắt 62 tên, diệt 25 tên, gọi hàng 142 tên, thu 136 súng và nhiều phương tiện hoạt động gián điệp, dập tắt một vụ bạo loạn của bọn phản động người nước ngoài ở Hà Cối (1956). Lực lượng vũ trang nhân dân phát triển rộng rãi, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững(1).

Từ năm 1958, Hải Ninh, Hồng Quảng bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong điều kiện mới.

Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Đảng bộ Hồng Quảng và Đảng bộ Hải Ninh lãnh đạo nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể.

Khu Hồng Quảng lấy việc phát triển công nghiệp và công tác cải tiến chế độ quản lý xí nghiệp là trọng tâm phát triển kinh tế(2).

Cơ chế quản lý “Đảng ủy lãnh đảo, giám đốc phụ trách, công nhân tham gia quản lý xí nghiệp” được hình thành từ trong cuộc vận động cải tiến chế độ quản lý xí nghiệp đẩy mạnh sản xuất trong toàn khu mỏ. Đây là cuộc vận động có ý nghĩa cách mạng to lớn về mặt tư tưởng tổ chức và quản lý sản xuất trong cán bộ, công nhân mỏ.

Hai năm cải tạo xã hội chủ nghĩa ở thành thị, 100% số tư sản công nghiệp, 99% số tư sản thương nghiệp đã chuyển hướng sản xuất, kinh doanh theo phương thức xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đánh dấu sự thay đổi sâu sắc trên các lĩnh vực kinh tế chính trị và xã hội của nhân dân Hồng Quảng và Hải Ninh.

Nhà máy điện cọc 5 được trang bị thêm hai nồi hơi do Ba Lan giúp dỡ (thay hai nội hơi cũ) bảo đảm công suất điện phục vụ sản xuất.

Có điện đi trước một bước, phương tiện vận chuyển được trang bị thêm hàng trăm xe “gấu” loại 10 tấn và một số xe xúc công suất lớn, năm 1958 khu mỏ lập một kỷ lục đáng khâm phục: khai thác được sản lượng than sạch cao hơn mức sản xuất của tư bản Pháp ở vùng mỏ này(3). Sản lượng năm 1958 cũng là năm sản xuất cao nhất của ta trong thời kỳ khôi phục kinh tế.


(1) 55 năm chiến đấu và xây dựng của Đảng bộ và nhân dân Quảng Ninh, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh ủy Quảng Ninh, 1985, tr. 62.
(2) Nghị quyết hội nghị đảng bộ khu Hồng Quảng lần thứ nhất.
(3) Năm 1939, năm sản xuất cao nhất thời chủ mỏ Pháp, đạt 1.612.339 tấn.
Năm 1958, ngành than khai thác đạt 1.700.500 tấn, vượt năm cao nhất dưới thời Pháp thuộc 88.161 tấn.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:36:00 PM
Sản xuất nông nghiệp cũng đạt được những thành tích đáng khích lệ. Đất đai của Hồng Quảng – Hải Ninh phần lớn khô cằn, bạc màu, bị xói mòn, độ dốc cao lại chua mặn, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất cây trồng vào loại thấp nhất miền Bắc. Năm 1958 thực hiện Nghị quyết 16 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về cải tạo nông nghiệp, tỉnh ủy và ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh phát động phong trào toàn dân sản xuất, tiến tới tự túc lương thực (không xin Trung ương viện trợ gạo) và bắt đầu xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

Chính phủ tặng Hải Ninh hai chiếc máy kéo nhằm tạo tiền đề cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp.

Năm 1959, Hải Ninh và Hồng Quảng tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân tỉnh, thị xã và thị trấn. Toàn tỉnh Hải Ninh và Hồng Quảng số cử tri đi bầu cử đạt tỷ lệ 97,74% so với cử tri ghi trong danh sách. Thành phần công nhân, phụ nữ và dân tộc ít người được bầu vào hội đồng nhân dân, ủy ban hành chính các cấp chiếm tỷ lệ cao, đại biểu phụ nữ trong hội đồng nhân dân là18%, trong ủy ban hành chính là 6,6%, đại biểu dân tộc chiếm 16% trong hội đòng nhân dân và 6% trong ủy ban hành chính, đại biểu công nhân trong hội đồng nhân dân chiếm 24% và trong ủy ban hành chính chiếm 33%.

Các ngành y tế, giáo dục, văn hóa của Hải Ninh và Hồng Quảng cũng phát triển với nhịp độ nhanh.

Phong trào vệ sinh phòng bệnh “sạch làng tốt ruộng” được phát động rộng khắp, mạng lưới y tế bao gồm bệnh viện, bệnh xá, trạm xá ở xã và khu phố được xây dựng, phát triển nhanh.

Sự nghiệp giáo dục có những tiến bộ đáng kể. Bên cạnh lớp vỡ lòng là hệ thống trường cấp II, cấp III ở Hồng Gai, Cẩm Phả, Hải Ninh với 471 giáo viên cấp III. Tổng số học sinh ở Hồng Quảng là 45.872 (trong đó cấp II có 2.510, cấp III có 157).

Khi vào tiếp quản, cả Hồng Quảng không có nhà văn hóa hoặc câu lạc bộ. Đến 1959 Hồng Quảng xây dựng 7 câu lạc bộ, 2 nhà văn hóa, 1 nhà bào tàng.

Việc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng bảo vệ quê hương đã ra đời một đội ngũ dân quân tự vệ được rèn luyện thử thách. Đó là một trong những lực lượng vũ trang nhân dân địa phương phát triển từ tiểu đội đến đại đội, được trang bị vũ khí và làm xung kích trong sản xuất, tuần tra canh gác, bảo vệ bản làng, nhà máy. Một số nơi dân quân tự vệ phối hợp với bộ đội truy quét thổ phỉ, tiêu biểu như dân quân xã Thanh Y (Đầm Hà) có người con trung hiếu của bản làng Lý A Coỏng chỉ huy bắt sống hai tên phỉ có nhiều nợ máu với nhân dân.

Tiểu đội dân quân xã Tấn Mái (Hà Cối) thành lập năm 1959. Anh chị em cấy 5 sào ruộng. Ngoài sản xuất, học tập, có đợt anh chị em còn leo núi hàng ngày trời lên tận vùng cao của người Dao vận động đồng bào xuống núi định canh định cư. Năm 1959 họ vận động được 13 thanh niên vào dân quân.

Ở đồn Đạc, Ba Chẽ có Hà Thị Thắm, người dân tộc Dao đã vào dân quân cùng bộ đội đi vây bắt phỉ. Trước cô, trên núi rừng Ba Chẽ này chưa có ai là con gái đứng trong hàng ngũ dân quân, chị em ở đây mới chỉ biết sớm tối còng lưng với cái nương, cái rẫy. dần dần, Thắm vận động bốn bạn gái cùng vào dân quân, cùng đi học chữ, học bắn súng.

Ở vùng mỏ, từ năm 1959 xuất hiện đại đội tự vệ nhà máy sàng Cửa Ông, một đơn vị xung kích trong sản xuất, làm tốt công tác trị an và huấn luyện quân sự. Sự kiện đầu tiên do đồng chí Quách, bộ đội phục viên cùng 10 tự vệ có sáng kiến làm thêm các lập là trong máy rửa số 2 để chắn đá, lại nâng mức rửa than sạch một ngày lên 20 tấn. Tiếp đó, cầu trượt bùn do Nguyễn Huy Tự sáng chế để than từ hố bùn chuyển lên xe, giải phóng lao động được 40 công nhân hàng chục năm từ thời Pháp thuộc vẫn phải đội thúng trên đầu. Bằng vai trò của mình, khẩu hiệu “đâu khó có tự vệ” ra đời.

Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng khen thưởng phong trào tự vệ nhà sàng Cửa Ông “không những đẩy mạnh sản xuất mà còn góp phần đào tạo nhiều công nhân giỏi về kỹ thuật”. Năm 1960 đại đội tự vệ nhà sàng Cửa Ông trở thành đơn vị ba nhất (sản xuất nhất, học tập nhất, huấn luyện nhất) của lực lượng tự vệ khu Hồng Quảng và một trong những lá cờ đầu của Quân khu tả Ngạn. trong đại đội có những chiến sĩ như Hà Thị Cẩm liên tục từ năm 1957 đến năm 1963, được bầu là chiến sĩ thi đua, lao động tiên tiến, tự vệ xuất sắc. Năm 1958 Hà Thị Cẩm được kết nạp vào Đảng và được đi dự hội nghị Thanh niên vượt mức kế hoạch toàn miền Bắc.

Cùng thời gian này, Quân khu tả Ngạn mở hội nghị “đầu bờ” rút kinh nghiêm xây dựng và hoạt động của tự vệ. Tại hội nghị này, Thiếu tướng Hoàng Sâm, Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn đã kết luận: “Tự vệ nhà sàng vừa là lực lượng sản xuất tiên tiến, vừa là lực lượng trị an giỏi và sẵn sàng chiến đấu”. Bộ tư lệnh Quân khu phát động các đơn vị tự vệ toàn Quân khu học tập tự vệ nhà sàng, 59 đơn vị ngoài khu Hồng Quảng đã kết nghĩa thi đua với tự vệ nhà sàng.

Trên vùng cao huyện Đình Lập dân quân du kích xã Châu Sơn liên tiếp giữ cờ thi đua của huyện trong nhiều năm.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:39:10 PM
Ngày 30 tháng 3 năm 1959 ngày đặc biệt ghi nhớ đối với Đảng bộ và quân dân vùng mỏ. Bác Hồ kính yêu đã thăm công trường khai thác mỏ than Đèo Nai (Cẩm Phả). Cùng đi với bác có đồng chí Nguyễn Lương Bằng.

Từ sáng sớm, hàng nghìn công nhân mỏ Đèo Nai và đại biểu công nhân toàn khu mỏ tề tựu ở công trưởng, nơi mà thành quả lao động của giai cấp công nhân mỏ lấp lánh trong những núi than cao ngất. Bác đến công trường với áo nâu, quần vải, dép lốp, mũ cát rộng vành. Nói chuyện với công nhân, Bác chỉ vào những vỉ than nục nạc rồi khen: “Than vùng mỏ vào loại tốt nhất của thế giới. Cảnh ở vùng mỏ cũng vào loại kỳ quan của loài người. Các chú phải làm than cho tốt”(1).

(https://lh3.googleusercontent.com/SjLp_Yh1lvuF1uZrbHKTnvyfJ8EI2Q_9hz3-nrx5Cp571AghPrx7cN-G74RbbLBKZ_eevAswujiOMEUlZlXKYPbVJuGba4uICCRnG5f9DZk0UFRt7HvILrHzR1zT0gwQqfVu4DI9sMamv6MdNzeeYyRHlaQiEfqrA2e6XL7ALqR_lNmdSJcV4rNwdN9W0fMWVgk_IMEwIrwIIgK6-35drfFy0ojy8jqyG60IAl-jVmJltnJ8maMM7LBHufcN53k_Ps-oVnA8TUNLGwkoekzLK1vI9nGpNi0brzz2wdnczz_t8ZXdhFs_sNXTZ7LCvlsI7mm_Zb88J7G9AUsRatUqivnyNAMAlgertpomF4ADH30ldsSpHfHfPdbNAxsk-YKXO4hqTxfo-r-6mokTTAe4-IJS36VRqqosBtmdhz_XytC8VGVoHCdHbqZaxqDlRD5_cweohdfGU7iTWjlrfN_diw7hx3jHsC7-UHRjNgdweJEdvcyiru_sXkqH7NruDHPKixSG2eVRdGTTnzaAYvUsaclZIINYwmAVmyEZabikh6i0wnTmpxC-MfzUdRF3XU88K_-Qsx-MNvmC-edd0A542BAieR7TYcCK04qkhcT4oQ=w563-h328-no)

Bác Hồ thăm mỏ Đèo Nai (tháng 3-1959)

Hôm sau, ngày 31 tháng 3 năm 1959, tàu 524 đại đội 3 Hải Quân có vinh dự đưa Bác đến thăm trận địa pháo trên đảo Hòn Rồng. Đây là trận địa của đại đội 34 thuộc Quân khu Tả Ngạn làm nhiệm vụ bảo vệ rừng, biển vịnh Hạ Long. Tàu tới gần đảo rồi buông neo, một xuồng con áp mạn tàu đón Bác. Thoáng thấy Bác ung dung đến nơi bộ đội xếp hàng chào đón Bác, các chiến sĩ không kìm được niềm vui sướng đã đồng thanh hô: “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Đến trước hàng quân, Bác nói với bộ đội: “Bác và anh cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra thăm các chú”. Bộ đội vỗ tay dào dạt như sóng vỗ vào bờ. Không chờ chỉ huy báo cáo, Bác đã nói với bộ đội:

- Các chú thiếu nước và sách báo lắm phải không?

Các chiến sĩ lễ phép trả lời:

- Thưa Bác, vâng ạ.

Sau đó Bác đi thăm nơi ăn ở và nhà bếp của bộ đội. Bác vui vẻ hỏi đồng chí anh nuôi:
 
- Củi đun các đồng chí lấy ở đây?

Đồng chí anh nuôi trả lời:

- Thưa Bác, chúng cháu tăng gia ạ.

Bác nói vui:

- Trời tăng gia chứ, các chú chỉ việc chặt về đun thôi!

Trước khi rời đảo, Bác chụp ảnh lưu niệm với bộ đội.

Một tuần sau, đại đội 34 được nhận quà của Bác. Một đài bán dẫn và mỗi người được một tấm ảnh các chiến sĩ chụp chung với Người. Cũng từ sau lần Bác ra thăm đảo, báo chí và nước ngọt đã được Tổng cục Hậu cần và Quân khu tìm cách chuyển ra cho bộ đội nhanh hơn, đều kỳ hơn(2).



Ngày 5 đến 10 tháng 9 năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng là một sự kiện rất trọng đại trong lịch sử cách mạng nước ta. Đại hội đã vạch ra đường lối chính trị nhằm đẩy mạnh cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, phát huy sức mạnh tổng hợp của hai cuộc chác mạng lớn của thời đại ở trong nước và trên ghế gới để đánh thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng.

Đại hội đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta, mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược đó, vạch ra triển vọng thắng lợi tất yếu của cách mạng và phương thực hoạt động giành thắng lợi của từng miền.

Trong phiên họp ngày thứ 3 của đại hội, ngày 7 tháng 9 năm 1960, đồng chí Tống Đăng Bồn trong đoàn đại biểu Đảng bộ khu Hồng Quảng đọc tham luận về phong trào phá kỷ lục đạt năng suất cao ở công trường khai thác than cọc 6 (mỏ Cẩm Phả). Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ngồi trên đoàn chủ tịch đứng dậy nói với đại hội:

“Cọc 6 đạt nhiều thành tích vì:

Giai cấp công nhân ta có chí khí anh hùng, có lòng yêu nước luôn luôn mong đạt kỷ lục ngày càng cao.

Cán bộ đã cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng bàn bạc, cùng thương lượng, cùng học tập với công nhân. Nếu tất cả các xí nghiệp, công trường đều học tập cách làm việc của cọc 6, vượt cọc 6 thì chắc chắn rằng kế hoạch 5 năm sắp tới của ta sẽ được hoàn thành và hoàn thành trước thời hạn”. Cả đại hội vỗ tay kéo dài(3).

Qua 5 năm (1954-1960) dưới ánh sáng các nghị quyết của Trung ương Đảng, chủ trương của Chính phủ, sự lãnh đạo trực tiếp của khu ủy, tỉnh ủy các cấp trên địa bàn tỉnh Hải Ninh – Hồng Quảng, giai cấp công nhân, quân và dân các dân tộc không ngừng phát huy truyền thống cách mạng, vượt qua nhiều khó khăn, quản lý trọn vẹn vùng mới giải phóng làm thất bại mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù, giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội(4) ổn định đời sống, hàn gắn vết thương chiến tranh, nhanh chóng khôi phục kinh tế, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa có hiệu quả, bước đầu phát triển sản xuất và văn hóa tạo nền móng và tiềm lực mọi mặt để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.


(1) Thủa xưa thi hào Nguyễn Trãi trên đường tới Vân Đồn thấy cảnh nước non tráng lệ của vịnh Hạ Long đã thốt lên “Thiên khởi địa thiết phó kỳ quan” (trời bày, đất đặt một vùng kỳ quan) trích bài Vân Đồn, Ức trai thi tập.
 Vua Lê Thánh Tông có thơ khắc ở chân núi Bài Thơ: “Sơn thượng cao phong quần ngọc lập. Tỉnh la ký bố thủy tranh vinh” (những ngọn núi cao mà ngọc thạch đứng sừng sững như muôn ngôi sao vãi, như quân cờ bay).
Cụ Quách Mạt Nhược nhà văn hóa lớn, Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc ví Hạ Long là “chốn đào nguyên ở trần thế”.
Ngày 17 tháng 12 năm 1994 UNESCO (của Liên hiệp quốc) cấp bằng công nhận vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới.
(2) Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 68.
(3) 30 năm đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân ở Quảng Ninh, tư liệu, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh ủy Quảng Ninh.
(4) Theo Những sự kiện công an tỉnh Quảng Ninh (1945-1954), đến cuối năm 1955 công an Hồng Quảng đã bắt 57 tên tội phạm chính trị, 104 tên tội phạm hình sự, lập 76 hồ sơ bọn đầu sỏ phá hoại, 42 hồ sơ mật thám và nghiệp đoàn Vàng, tập trung 204 tên tay sai, mật thám, nghiệp đoàn Vàng giáo dục, cải tạo, thu hồi 332 khẩu súng, 3 hòm đạn các loại.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:41:32 PM
2. Củng cố xây dựng lực lượng chuẩn bị chống chiến tranh phá hoại. Trận đầu đánh thắng không quân Mỹ ngày 5 tháng 8 năm 1964

Bước vào năm 1961, tình hình đất nước chuyển biến mạnh mẽ. Miền Bắc căn bản hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Ở miền Nam, sau cuộc đồng khởi của đồng bào Bến Tre, phong trảo quần chúng nổi dậy giành chính quyền đã làm chủ nhiều vùng rộng lớn, chế độ Mỹ - Diệm lâm vào tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Để cứu vãn sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm và chuẩn bị cho những bước can thiệp vũ trang vào miền Nam với quy mô lớn hơn, đế quốc Mỹ quyết định đưa một số lực lượng đặc biệt và hàng trăm cố vấn sang miền Nam mở đầu “chiến tranh đặc biệt”, một kiểu chiến tranh xâm lược “dùng người Việt đánh người Việt”, dưới sự chỉ huy, viện trợ, vũ khí và tài chính của Mỹ.

Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng về mặt quân sự, ngày 31 tháng 1 năm 1961, Bộ chính trị có cuộc họp quan trọng để phân tích đánh giá tình hình và xác định nhiệm vụ công tác cho cả hai miền Nam – Bắc.

Về tình hình miền Bắc, Bộ Chính trị nhận định “ngày càng xây dựng vững mạnh về mọi mặt, cùng với các nước xã hội chủ nghĩa trở thành một khối vững chắc! Ta càng có điều kiện giữ gìn hòa bình và phòng thủ miền Bắc vững vàng hơn, miền Bắc ngày càng trở nên chỗ dựa và là căn cứ địa vững chắc cho cách mạng giải phóng miền Nam và càng có tác dụng quyết định đối với sự nghiệp hòa bình thống nhất nước nhà”.

Với trách nhiệm vì Hồng Quảng – Hải Ninh và vì cả nước, từ năm 1961, quân dân Hồng Quảng – Hải Ninh dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) với niềm tin tưởng và phấn khởi.

Trong công nghiệp sản xuất than, được sự giúp đỡ của Liên Xô, việc cơ giới hóa, áp dụng khoa học kỹ thuật và cải thiện tổ chức quản lý được đẩy mạnh, sản lượng than tăng nhanh, chất lượng bảo đảm tốt.

Về nông nghiệp, 2 năm 1960-1961 là thời kỳ cao trào nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể, cả Hải Ninh và Hồng Quảng đã có 70% số hộ nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp (bậc thấp) trừ một số vùng cao ở huyện Hoành Bồ, huyện Cẩm Phả và một số vùng của Hải Ninh lúc này đang tiến hành cuộc vận động dân chủ kết hợp đưa nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể.

Nghề đánh cá biển và phong trào hợp tác hóa nghề cá, đến năm 1961 đã có 76,19% số hộ ngư dân bao gồm trên 2 vạn nhân khẩu, trong đó 6.861 lao động ngư nghiệp vào hợp tác xã. Quan hệ sản xuất thay đổi, việc tổ chức quản lý sản xuất đang đi dần vào nền nếp, bước đầu làm ăn theo lối công nghiệp, đi đôi với công cụ cải tiến đánh bắt cá và trang bị kỹ thuật mới đề ra khởi theo hướng tỉnh ủy xác định “cải tiến nghề lộng, phát triển nghề khơi để có thể đánh cá quanh năm, chuẩn bị điều kiện thành lập các đoàn tàu ra khởi đánh cá vào những năm tới”.

Ngày 9 tháng 5 năm 1951, trên đường ra thăm một số đảo vùng biển Hạ Long và Bái Tử Long, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghé thăm hang Đầu Gỗ, nơi xưa kia Trần Hưng Đạo dựng công trường làm cọc để cắm trên sông Bạch Đằng tạo ra những trận thủy chiến chiến lược, đánh tan quân xâm lược Nguyên – Mông. Đứng trước một hang động kỳ vĩ “ngũ thể tường vận động” (dịch: động năm sắc mây huy hoàng), động các kỳ quan (Grotte des merveilles) Bác xúc động nói với cán bộ chiến sĩ hải quân cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng và chính quyền Hồng Quảng đi theo. Người: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày và trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”(1).

Buổi chiều cùng ngày Chủ tịch Hồ Chính Minh ra đảo Cô Tô – chìa khóa vàng của tổ quốc. Tàu tiến vào gần bờ thì buông neo, thuyền ra đón Bác áp mạn tàu an toàn. Bác xuống thuyền vào bến.

Trên bến, nơi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ tập trung đón Bác, mọi người vỗ tay reo hò sung sướng:

- Hồ Chủ tịch muôn năm!

Sau khi dự mít tinh, Bác liền đi thăm nơi ăn ở, hầm hào chiến đấu của bộ đội, gặp gỡ cán bộ và nhân dân trên đảo.


(1) Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 71.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:44:01 PM
Để kỷ niệm ngày Hồ Chủ tịch ra thăm đảo, nhân dân Cô Tô đã dựng tượng Bác ở bãi Nam Văn, mảnh đất đầu tiên Người đặt chân khi lên đảo.

Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đó, trời trong, biển lặng, nắng giỏ reo vui. Phía sau tượng Bác là nhà lưu niệm, cạnh đó bên ruộng khoai lang, nổi lên tấm bia ghi lời Bác: “khoai này tốt và ngon lắm”. Từ đó,, quân dân trên đảo Cô Tô đẩy mạnh sản xuất, làm ra của cải ngày càng nhiều với những mùa khoai đầy sân, đầy bếp, những mùa cá nặng thuyền. Cuộc sống mới phơi phới đi lên.

Ngày 16 tháng 7 năm 1961 Mỹ - Tưởng tung vào địa bàn Đầm Hà, Hà Cối một toán đặc vụ biệt kích. Cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ và các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chặt chẽ với hai tàu hài quân 120 và 126 của căn cứ 1 bao vây, tiêu diệt và bắt sống một số tên.

Ngày 20 tháng 6 năm 1961, Tỉnh ủy Hải Ninh ra nghị quyết về xây dựng và nâng cao chất lượng dân quân tự vệ. Nghị quyết nhấn mạnh: “Phát huy khí thế diệt thổ phỉ biệt kích, tiếp tục củng cố nâng cao chất lượng chính trị và trình độ quân sự của các đơn vị… Hướng chính là đi vào vùng xung yếu, đi sâu xuống cơ sở, coi trọng chất lượng”.

Trên núi rừng huyện Đình Lập, dân quân xã Châu Sơn hàng ngày cơm đùm cơm nắm đi hàng chục ki-lô-mét đường rừng, trèo đèo lội suối bảo vệ trị an, tham gia xáo nạn mù chữ, tích cực xây dựng hợp tác xã, làm thủy lợi, làm phân bón, cấy lúa trồng khoai, vận động đồng bào Dao xuống núi, dân quân đi trước, xuống trước từng bước, lúc đầu xuống còn cách đường xa xa, về sau xuống gần đường hơn, ruộng tốt, đi lại dễ, “ở gần thương nhau nhiều hơn”.

Ở nông trường Thái Bình (nơi tiếp giáp giữa Ba Chẽ, Đình Lập), đảng ủy và giám đốc nông trường dù bộn bề công việc nhưng vẫn chỉ đạo xây dựng 8 trung đội tự vệ. Anh chị em được huấn luyện xạ kích và thực tập các phương án chống thổ phỉ và biệt kích.

Tại huyện Tiên Yên có đơn vị dân quân Mũi Chùa được thành lập từ năm 1960-1961 nhưng vẫn yếu kém rời rạc. Xã quyết tâm củng cố. Các đồng chí Tô Vương xã đội trưởng, Lưu Tầm chính trị viên và Vũ Văn Tương chủ tịch xã đều vào dân quân trung đội Mũi Chùa. Được bổ sung cán bộ, được học chính trị, học bắn súng, anh chị em càng quán triệt nghị quyết đảng ủy xã: “Muốn bảo vệ được bãi sắn, nương ngô khỏi bị thú rừng phá hoại, phải có cái dậu thật chắc, muốn làm ăn yên ổn trong lạch, ngoài khơi cũng không thể thiếu cái dậu thật vững. Ấy là lực lượng dân quân hùng mạnh”.

Ở Hồng Quảng, khu đội tích cực chỉ đạo bồi dưỡng cán bộ, trong hai năm (1960-1961) mở 27 lớp bồi dưỡng nhiều khoa mục mới. Xạ kích có các bài bắn bở biển, dưới nước, rừng núi và đồng bằng… và một bài nằm trên thuyền vận động đuổi bắn mục tiêu đang di động.

Cùng thời gian, ở mỏ Đèo Nai, nơi tự vệ có vinh dự là đơn vị đầu tiên của vùng mỏ làm nhiệm vụ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm công trưởng, giờ đây cờ “ba nhất” cũng đã tung bay trên mỏ Đèo Nai. Trong huấn luyện, 320 tự vệ được cấp bằng điền kinh cấp 1, 310 tự vệ được cấp bằng bơi lội cấp II, đơn vị có một đội bắn súng thể thao quốc phòng gồm 60 tự vệ. Đơn vị còn tự tạo vũ khí thô sơ: 100 ngọn mác, 34 dao găm, 12 kiếm. Công tác quần chúng canh gác được thực hiện nghiêm ngặt.

Trong sản xuất, tự vệ Đèo Nai có sáng kiến tổ chức các đội sửa chữa lưu động đảm bảo các phương tiện, trang bị khai thác than không bị ách tắc, phải chờ đợi lâu. Đơn vị còn lập đội chống mưa bão và các đội tự quản. Nhiều tự vệ công nhân làm đất đạt 53.000m3 (chỉ tiêu 20.000m3), sản xuất than 5.000 – 5.300 tấn (chỉ tiêu kế hoạch 2.800 tấn). Đơn vị còn có nhiều sáng kiến giá trị như: bắn mìn khoảng trống, bắn mìn nước tiết kiệm thuốc, đất tời cao, thu hồi sắt thép phế liệu tiết kiệm 53.250 đồng. Đơn vị còn nuôi 10 con lợn, 400 con gà, trồng 44.000 hốc sắn và 1.500m2 rau các loại để cai thiện bữa ăn trong những ngày tập trung học tập chính trị, huấn luyện quân sự.

Ở Yên Hưng, nổi lên trung đội nữ Minh Vương thuộc xã Liên Hòa, là đơn vị tỏ rõ sự bền gan, quyết chí, đảm đang, giỏi tay cày hay tay súng. Trung đội có 34 chị em, trong đó có tới 18 đảng viên, 1 bí thư chi bộ, 2 đảng ủy viên xã, 1 huyện ủy viên, 1 xã đội phó, 1 ủy viên ủy ban hành chính xã, 12 ủy viên ban quản trị hợp tác xã trực tiếp là đội trưởng đội sản xuất.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:45:13 PM
Trung đội Minh Vương gồm những người con gái sinh ra và lớn lên ở xã Liên Hòa, nơi dân làng thường ví như cái đỉa ở giữa sông. Người dân Liên Hòa quanh năm cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm lưng. Nơi đồng chua nước mặn, nuôi một con trâu cũng phải chèo thuyền sang Cát Hải xa 6-7km để cắt cỏ hàng ngày. Đàn ông trong xã, người ra khơi đánh cá, người lang thang tứ xứ với cái cưa thợ xẻ, với cái bay thợ nề, với cái đục tràng thợ mộc… việc ở quê đều chồng chất lên vai người phụ nữ, một nắng hai sương mới làm được hạt gạo mà vẫn bữa cơm, bữa cháo, nhọc nhằn.

Hai tiểu đội của trung đội Minh Vương được chính quyền xã và nhân dân trợ giúp đã vào Yên Cư khoanh đầm, biến 300 mẫu sú thành ruộng cày cấy được. Trung đội vận động 50 gia đình trong xã (có 6 gia đình hội viên dân quân) lên Yên Cư lập quê hương mới. Đơn vị còn đưa một tiểu đội lên Hoành Bồ khai hoang, trồng sắn. Một năm sau, gia đình 34 chị em trong trung đội đủ thóc ăn cả năm. Chị em còn làm được 221 công thủy lợi (cao hơn năng suất hợp tác xã đề ra 21 công), trồng hàng trăm cây vẹt giữ đê và hàng chục cây dừa ăn quả. Hàng tối có một tiểu đội ngủ tập trung “có lệnh là đi, có địch là đánh”, mỗi tối tuần phòng một quãng đê chạy sát biển 8km. Chị Hà Thị Quyên chồng đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam, con chưa đầy năm vẫn đảm nhiệm sáu công việc bí thư chi bộ, chủ nhiệm hợp tác xã, đại biểu hội đồng nhân dân, đảng ủy viên xã, huyện ủy viên và đội viên dân quân. Chị Nguyễn Thị Thiềm trung đội trưởng, đảng ủy viên, ngày đêm lặn lội cùng chị em, việc nào vất và và gian khổ chị đều có mặt, thực sự là một “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Trung đội Minh Vương là niềm tự hào của đảng bộ và nhân dân xã Liên Hòa. Chị em là một biểu hiện đáng quý về sự trưởng thành mau chóng của người phụ nữ khi đã được giải phóng, nhạy bén tiếp thu sự giáo dục và lãnh đạo của Đảng.

Ngày 18 tháng 12 năm 1962 khu Hồng Quảng tổng kết phong trào dân quân tự vệ. Đồng chi Nguyễn Thọ Chân, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, nhiều đồng chí trong thường vụ khu ủy và hầu hết bí thư huyện, thị ủy đã về dự. Hội nghị đánh giá: năm 1962 các mặt công tác hoàn thành tốt, huấn luyện đạt loại giỏi, phát triển lực lượng đạt 104,6%, dân quân tự vệ toàn tỉnh thực tế đã giữ vai trò xung kích trong sản xuất và công tác địa phương, cả 8 huyện, thị đều đạt chỉ tiêu “huyện, thị tiên tiến”.

Nói chuyện với hội nghị, đồng chí bí thư khu ủy biểu dương thành tích của phong trào như “những con đại bàng đang cất cánh bay cao”, nhưng không được chủ quan, tự mãn, phải học tập, nâng cao cảnh giác, sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Ngày 22 tháng 1 năm 1962, trên tàu Hải Lâm (tàu du lịch do Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh), Bác Hồ đưa thiếu tá Ghéc-man Ti-tốp, anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô đến thăm và tắm biển vịnh Hạ Long. Khi con tàu vào vịnh Hạ Long, Bác Hồ đã đội mũ thủy thủ và thay vị trí người chỉ huy cầm lái đưa con tàu rẽ sóng đi giữa vịnh. Bác chuyển tay lại cho Ghéc-man Ti-tốp, người đã lái con tàu vũ trụ bay quanh trái đất 17 ngày đêm để lái tàu Hải Lâm thưởng ngoạn Hạ Long.

Trên đường trở về, Ghéc-man Ti-tốp xin phép Bác được dừng lại bên một hòn núi đá có bãi cát vàng bao quanh. Ti-tốp dừng lại đây trong chốc lát, nhưng tên tuổi người anh hùng vũ trụ thứ hai của loài người (sau Ga-ga-rin) đã thành tên một hòn đảo ở vịnh Hạ Long, đảo Ti-tốp.

(https://lh3.googleusercontent.com/JZEYDYod4UyWcGnRyYt_HrTqwonJpwuB04qziAvasQQtZaWYYkoOIbfKZ7qvJknNaTOQp_6vbY6vrlediIVHTA1SLwSiMZ0-St3cpMXEzjDpWgtC-0_JaX7mF94HilfCLukzB_4sR5KzyZcqd5DVGhVVVEpAzWcyvLeb5r8o-zah5GbFqP-tX4zIR2Hhc5q_rtEk4gcoPMNsWgmuxTPSwKvt4vknUrwFB_PKoIT96ZHkK2jupdqRcdbpaOBQEr0ItRgSpcceBovUFJabjFVrWfX1zJJlu2DNekgVybA8dwIY2S_6ar6nyVCRT82rdJAbIVi0whCCAcBfcaC75tO6Zz9pH_k0Iir-Afy5B6HNaZpI2pxXBHVGHn3DV4wlmOFQ1MPhjbJHYJydC8F6jVymfYlLFWvIDzkpcbpR19TnDDBYYA8uoGDe5NUw9EoeUVOY2njo78gtzWGiEkgQrGCWe7KkZrRuJRGYsp5ScIa3lCoBNVdwIagPp4y7E2ARfZR4FYxvfpRJ_KAChnroDWG-k7JNFEIOKrkYRyY05FKr4nznY6XMMNGFR3dXnTIKKNlCw6K9yzlau0lNma_IyPY00_uvmS-TQQVn9FyJRlnZ_Q=w1024-h720-no)

Bác Hồ và anh hùng vũ trụ Liên Xô Ghéc-man Ti-tốp với thanh niên, thiếu nhi Quảng Ninh

Ngày 13 tháng 11 năm 1962, vùng vịnh Bái Tử Long và các quần đảo phía ngoài nơi diễn ra các cuộc thảo diễn những loại tàu hải quân hiện đại lần đầu được trang bị cho quân đội ta. Đoàn 135 tàu phóng lôi sau khi tiến hành cuộc diễn tập với lực lượng tàu săn ngầm và pháo binh bờ biển quân khu đạt kết quả cao vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm tại quân cảng Vạn Hoa. Bác rất vui khi thấy bộ đội hải quân có bước trưởng thành mới, đồng bào trên đảo sản xuất và đời sống tiến bộ. Nói chuyện với bộ đội và cán bộ lãnh đạo địa phương, Bác kể lại câu chuyện về Trần Khánh Dư, một danh tướng đời Trần đã dùng mưu đánh chiếm đoàn thuyền tiếp lương của quân Nguyên. Bác dặn cán bộ, chiến sĩ phải phát huy truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên ta… phải biết yêu quý đảo như nhà mình, chịu khó cải tạo xây dựng đảo thành mảnh đất vừa giàu, vừa đẹp, vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho đất nước.

Vịnh Hạ Long, niềm tự hào về thắng cảnh của vùng mỏ, cũng là niềm tự hào về những điểm dừng lịch sử đời đời ghi đậm hình ảnh kính yêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:45:48 PM
*
*   *

Thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” duy trì ách thống trị thực dân kiểu mới ở miền Nam, đế quốc Mỹ đồng thời xúc tiến những hành động do thám, khiêu kích và tung lực lượng biệt kích ra phá hoại miền Bắc. Những hoạt động này của Mỹ ngày càng tăng lên về số lần, quy mô và sự liều lĩnh, trắng trợn.

22 giờ 30 ngày 1 tháng 6 năm 1963, nhân dân một số xã thuộc hai huyện yên Hưng và Đông Triều phát hiện thấy một máy bay lạ bay qua. Khi đến vùng núi Yên Tử, máy bay sà xuống thấp rồi bay thẳng.

Nghi là máy bay thả gián điệp, biệt kích, các xã, lâm trường quanh vùng lập tức nổi hiệu lệnh báo động. Đến địa phận hai xã Hoàng Quế và Yên Đức, những chiếc dù được thả xuống và máy bay bay thẳng. Dân quân xã Hoàng Quế và tự vệ lâm trường liền bủa ra bao vây theo phương án đã tập. Tới một khe núi, thấy dù và đồ đạc ngổn ngang, tự vệ lâm trường chia làm hai bộ phận bao vây. Thấy động, bọn biệt kích chạy toán loạn. Tại đây, dân quân thu được 3 kiện hàng còn dính dù, 2 máy vô tuyến điện, một số mìn, chất nổ, lương thực và các loại dụng cụ khác.

Bọn địch đang tìm đường chạy trốn thì hai tên Nguyễn Hữu Rá toán phó và Nguyễn Hiệt nhân viên truyền tin bị sa lưới của dân quân Hoàng Quế. Mỗi tên chỉ có một khẩu súng ngắn Brô-ninh, riêng tên Hiệt còn mang thêm một khẩu súng giảm thanh. Cũng trong đêm, những tên còn lại bị dân quân các xã quanh vùng tiếp tục truy bắt. Đó là Đinh Văn Ngưỡng – toán trưởng, Phạm Văn Nghiễm – đài trưởng, Bùi Văn Cứu toán viên phá hoại. Tiếp tục tìm heo lối chúng chạy trốn, dân quân còn thu được 3 túi đựng dù, 2 súng ngắn Brô-ninh, một tiểu liên Sten, 3 áo, 12 túi. Qua khai báo, chúng có 6 tên nhưng ta mới bắt được 5 tên, truy lùng trong đêm thì thấy một tên bị dù cuốn chặt trên cây và đã chết. Đó là Cao Văn Thông – toán viên phá hoại.

Chưa đầy 5 giờ sau khi nhảy dù, toán gián điệp biệt kích Mỹ - Diệm chưa kịp gây tội ác đã bị nhân dân và dân quân tự vệ xã Hoàng Quế huyện Đông Triều (Hồng Quảng) cảnh giác bắt gọn. Bọn chúng và kẻ chủ mưu đã bị truy tố trước toàn án quân sự Quân khu Tả Ngạn.

Rút kinh nghiệm vụ vây bắt toán gián điệp biệt kích này, các huyện, thị xã bổ sung phương án tác chiến, giáo dục, nâng cao cảnh giác cho dân quân tự vệ và nhân dân, tập luyện báo động, triển khai lực lượng vây bắt, kịp thời lấy cung, truy lùng những tên chạy trốn, thu giữ vũ khí, trang bị chất nổ mà chúng đã giấu khi bị phát hiện.

Ngày 17 tháng 6 năm 1963, một toán biệt kích Mỹ - Diệm đổ bộ vào vùng biển xã Đầm Hà. Chỉ 4 giờ sau, được nhân dân giúp đỡ, dân quân hai xã Đầm Hà và Tấn Tới (huyện Đầm Hà) đã bắt gọn 6 tên với đầy đủ trang bị. Trong chiến thắng này có công của trung đội trưởng Pẩu bình tĩnh và cương quyết, của cụ Tiến 64 tuổi chèo thuyền cho dân quân vây bắt địch. Khi các thuyền của dân quân vây ráp, sáu tên biệt kích lợi dụng bãi sú vẹt rậm um tùm để tìm lối tẩu thoát, ông Tô Văn Thọ 47 tuổi leo lên cột buồm quan sát và chỉ mục tiêu cho dân quân vây bắt. Đôi vợ chồng trẻ Huy và Tâm vợ chèo, chồng sẵn sàng chiến đấu. Bọn biệt kích len lỏi trong bãi sú vẹt định lên bờ rồi lợi dụng lúc trời nhập nhoạng tối hòng tẩu thoát. Khi sáu tên co cụm lại thì vừa lúc ấy trên bờ, dưới thuyền ba bề, bốn bên dân quân, xã viên hợp tác xã đã quay chặt và bắt gọn chúng.

Ngày 2 tháng 7 năm 1963, một toán gián điệp biệt kích Mỹ - Diệm đột nhập bằng đường biển vào khu vực xã Minh Châu huyện Cẩm Phả. Đêm ấy biển lặng, sương mù, gió nhẹ, sóng thấp. Hai thuyền của dân quân xã Minh Châu gồm một tổ của tiểu đội 2, một tổ của tiểu đội 3 được xã đội cử đi tuần mặt biển. Khoảng 12 giờ đêm, họ nghe vọng trong sương mù có tiếng máy nổ lúc dồn dập, lúc xa dần, lúc mất hẳn và sau đó lại rộ lên âm vang cả mặt biển. chỉ huy hai thuyền đi tuần đêm đó là Thanh. Nghe tiếng lạ trên xuồng vừa nổ máy chạy vừa tắt máy để chèo, phán đoán không phải xuồng của ra (chỉ có biệt kích mới hoảng hốt lúc chạy, lúc dừng), Thanh dặn anh em: “Trường hợp gặp địch phải độc lập chiến đấu. Mặc dù quân số và vũ khí của ta ít hơn địch, nhưng ta có ưu thế là chủ động và quyết tâm chiến đấu bảo vệ vùng biển quê hương”.

Hội ý vừa xong thì xuồng địch đã chèo đến gần mũi thuyền của Thanh. Sương mù dày, hai bên không thấy rõ nhau. Khi thuyền ta hỏi ám, tín hiệu, xuồng máy tháo chạy. Biết là xuồng biệt kích, Thanh bắn súng cảnh cáo, cũng là để báo động cho trên bờ biết. Hai thuyền hình thành hai mũi chạy theo hướng xuồng máy nổ. Lúc này một số thuyền của dân quân các xã sát ven biển đang làm nhiệm vụ và tuần phòng lập tức dong thuyền ra phối hợp đuổi đánh địch.

Đến 4 giờ sáng, tức sau 4 tiếng bám và vây địch trên biển của hai tổ tuần tra do tiểu đội phó Thanh chỉ huy, đã có thêm một số thuyền bạn ra phối hợp chiến đấu. Toán biệt kích hoảng sợ. Sương mù dày, biển lạ, năm tên vội nhảy xuống nước nhưng không dám rời mạn thuyền. Bốn tên thấy thuyền ta vây ráp chặt đã đầu hàng, năm tên bám mạn thuyền lần lượt bị anh em kéo lên. Trận phối hợp diễn ra rất chặt chẽ. Toán biệt kích bị bắt gọn khi trời hửng sáng, sương mù đang tàn dần.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:47:34 PM
Đêm 28 tháng 7 năm 1963, đế quốc Mỹ cấu kết với bọn phản động nước ngoài thả biệt kích đột nhập vùng biển Hải Ninh. Đêm đó, dân quân và xã viên hợp tác xã Phú Hải phát hiện xuồng lạ từ phía Cửa Đài lao về hướng đất liền. Anh em chèo thuyền đuổi theo và phát tín hiệu báo dộng. Xuồng máy chạy tốc độ cao, bỏ xa dần thuyền ta đuổi phía sau. Anh em vẫn không nản. cố chèo để bám mục tiêu. Cùng lúc đó, thuyền dân, thuyền đánh cá quanh vùng nhận được tín hiệu báo động liền quay mũi theo hướng có tiếng động cơ. Ba thuyền lại bị bao vây tại bãi biển Mã Tề Nùng. Biết chắc là xuồng biệt kích, dân quân trên thuyền bắn súng cảnh cáo và gọi hàng. Một xuồng máy tác ra định tháo chạy nhưng lại đâm vào bãi cát, hai xuồng còn lại chạy tỏa sang hai phía, xuồng thứ nhất bị dân quân nổ súng tiến công, 2 tên bị bắn chết, 7 tên chạy dạt lên bờ lủi trốn, xuồng thứ hai quay lại định đánh ra khởi liền bị tự vệ tàu đánh cá truy kích bắn hỏng cả hai máy. Chúng buộc khăn trắng xin hàng, cả 8 tên trên xuồng bị bắt gọn. Vũ khí trang bị được thu ngay, xuồng máy được kéo vào bờ. Xuống thứ ba chạy lên lạch trên rồi cập bờ, 9 tên nhảy xuống định tháo chạy và xã Mã Tế Nùng rồi theo đường số 4 tìm lối vào Thập Vạn Đại Sơn. Khi chạy đến thôn Cúm Dềnh, gặp dân quân quân, chúng bắn trả, một tên bị diệt ngay. 8 tên còn lại chạy đến ki-lô-mét số 8, gặp dân quân, bộ đội, công an vũ trang đón đánh. Anh em bao vây, gọi hàng, 2 tên chống cự buộc ta phải diệt, 1 tên bị bắt sống, 5 tên chạy lên rừng. 7 ngày sau chúng đã bị bắt hết, trong đó có tên Trịnh Kỳ Thiệu – thượng tá toán trưởng và là tư lệnh(1), Dường Chăn Thênh và Lê Diệu Hồ (toán phó và là phó tư lệnh) bị bộ đội vây bắt. 7 tên của xuống thứ nhất chạy đến cống Lục Phù Lẻng thì 5 tên chui vào trốn ở lạch kín dày vẹt sú, 2 tên chui xuống một cống ngầm dưới đường số 4 cách Hà Cối 2km. Cuộc vây bắt bọn này diễn ra khi trời đã tờ mờ sáng. Chúng chống trả quyết liệt, chỉ có 1 tên ra hàng, 4 tên bị tiêu diệt tại chỗ. Sáng ra kiểm tra lại bọn chúng, thì được biết có 2 tên còn lẩn trốn quanh vùng từ đêm qua. Bộ đội, dân quân, công an vũ trang liền bủa vây liên tục.

16 giờ chiều ngày 19 tháng 7 năm 1963, Đại tá Nguyễn Quyết, Chính ủy Quân khu Tả Ngạn ra gặp đồng chí Hoàng Chính, Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh tại Hà Cối để nghe chủ trương của tỉnh về điều động lực lượng truy bắt bọn đặc vụ này, theo dõi bọn phản động địa phương hai bên biên giới cấu kết với chúng thực hiện âm mưu của Mỹ - Tưởng. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Chính ủy Quân khu có một số ý kiến bổ sung hoàn chỉnh phương án sử dụng lực lượng đánh địch.

Sau một tuần truy lùng, cả ba lực lượng dân quân, bộ đội, công an vũ trang và nhân dân địa phương dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy và các huyện ủy Hà Cối, Đầm Hà, sự chỉ đạo của tỉnh đội, cả ba toán đặc vụ Mỹ - Tưởng gồm 26 tên thì 17 tên đã bị bắt, 9 tên ngoan cố chống cự đã bị diệt. Vũ khí, trang bị, phương tiện của chúng, mang nhãn hiệu USA đã được thu giữ đầy đủ làm vật chứng lên án âm mưu đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phá hoại công cuộc xây dựng hòa bình và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà của nhân dân ta.

Một sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, ngày 19 tháng 5 năm 1961, Hồng Quảng khởi công xây dựng nhà máy nhiệt điện Uông Bí. Viễn cảnh sản xuất than khi nhà máy điện Uông Bí ra đời với tổng công suất gấp 10 lần nhà máy điện cọc 5 thì năng suất và sản lương cũng sẽ tăng gấp nhiều lần so với thời kỳ khôi phục kinh tế.

(https://lh3.googleusercontent.com/EhXDwtLhe9blwSNjjYBEe-W3ZABVBCLn5esoieHNd1rt1EAZyaNZ3-6nKT-9OYpGOqhnssdGs7wRqBRY3cpoLeG7JWgdwdcDsB7TTeokqmMddccw_P9ntpsdy9iVkSuXPPEi3HzYqHHdOiXZyi3ZFUItieL4uQvNNyWbVBgXDw8wKrWowS73UicB4cNw65NM5AbjSMLN_blxsAV3dq1iQVVyQcr7a5bUtOPNXz9-JDokSVijTvMNvN7CIT7t2OEIMqlLPVOgiUthy3tfRAMvbDp7yT8-CjwNHB5Unh55c5D29OOpZ3u3cICfsb3bl9pqlEroVHENYn1-fHw1jSehDAVCBgQMFpKxiz0GrrzX6gf7yjvKqzjYd7YyDvFrtU--yoBFxJ6pNApJnlOJc2xu9sRpv9DdIZ8MN03Dt8Xf00ikZRfAp6GqL3XlHzPUvrm8ddpXFYrFTw_41V3fzH3aMYd-d-dKtUjtS30vQpjg8oN_I_kum6nlGh9SHh74i1SYiBBscbgIQ1nf638RDjZYrftqHd62L0lhsrfc0BCHk-ldhKapd_Cwy7Nnt_qHyyGybpVbW2l86tnE_TA7xA3HIG4hTa7KcGNt9jNRYmcxwA=w1024-h477-no)

Nhà máy điện Uông Bí được xây dựng trong thời kì thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

Về nông nghiệp, trong 3 năm 1961-1963 ở Hải Ninh, hợp tác xã Hồng Kỳ (Móng Cái) và hợp tác xã Đồng Tiến (Bình Liêu) được bình chọn là lá cờ đầu của tỉnh.

Ở Hồng Quảng, hợp tác xã Minh Hà (Yên Hưng) được chọn là lá cờ đầu của khu Hồng Quảng, các hợp tác xã Hội Hoàng (Đông Triều), Cẩm Bình (thị xã Cẩm Phả) và Việt Tiến (Hoành Bồ) là những hợp tác xã lá cầu đầu cấp huyện.

Trong nghề đánh cá biển, từ năm 1963 tỉnh có đoàn tàu ra khơi đánh cá.

Các hợp tác xã Phổ Văn Chày (sau có tên là Chiến Thắng) và Phú Hải là những đơn vị đưa cơ giới vào nghề cá đầu tiên của tỉnh và dẫn đầu về năng suất đánh bắt.

Tỉnh có 10 đoàn tàu cá từ 23 đến 180 sức ngựa (thuộc xí nghiệp quốc doanh đánh cá). Cuối năm 1963, năng suất lao động trong nghề cá bình quân một năm đạt 1,3 tấn/người. Năm 1962, Châu Võ Mùa – người có nhiều thành tích đánh cá, xây dựng hợp tác xã ngư nghiệp đảo Cô Tô được Quốc hội tuyên dương danh hiệu Anh hùng lao động.


(1) Theo lời khai của Trịnh Kỳ Thiệu, ba toán của chúng là hai khung sư đoàn, nếu đến căn cứ đã định và liên lạc được với bọn phản động địa phương, chúng sẽ thành lập hai sư đoàn và Trịnh Kỳ Thiệu sẽ được phong thiếu tướng, sư đoàn trưởng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:47:56 PM
Đầu năm 1964, theo quyết định của Quốc hội và Chính phủ, tỉnh Hồng Quảng và Hải Ninh sáp nhập thành tỉnh Quảng Ninh. Đồng chí Nguyễn Thọ Chân, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng được bầu làm bí thư tỉnh ủy, đồng chí Hoàng Chính, phó bí thư tỉnh ủy, chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh. Tỉnh Quảng Ninh ra đời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, văn hóa, đoàn kết dân tộc, củng cố an ninh và quốc phòng góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Cùng thời gian ra đời của tỉnh Quảng Ninh, Trung ương Đảng, Chính Phủ, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Quân khu Đông Bắc, địa bàn chỉ bao gồm một tỉnh Quảng Ninh. Đại tá Nguyễn Như Thiết – tư lệnh, Đại tá Đoàn Phụng – chính ủy, trung tá Vương Thế Hiệp – phó chính ủy, thượng tá Nguyễn Sáng – tham mưu trưởng, trung tá Vũ Đình Mai – tỉnh đội trưởng về làm tham mưu phó Quân khu, trung tá Lê Chính về làm phó chủ nhiệm chính trị Quân khu. Các đồng chí tư lệnh Nguyễn Như Thiết và chính ủy Đoàn Phụng được ban bí thư chỉ định tham gia ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh.

Ngày 3 tháng 1 năm 1964 Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập bộ tư lệnh Hải Quân.

Việc thành lập Quân khu Đông Bắc và Bộ tư lệnh Hải quân là những sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc điều chỉnh và bố trí chiến lược phía đông bắc Tổ quốc trong công cuộc phòng thủ quốc gia.

Phát huy thắng lợi công tác quốc phòng và an ninh, tháng 2 năm 1964 Tỉnh ủy Quảng Ninh chỉ đạo tiến hành hội nghị trao đổi kinh nghiệm xây dựng đơn vị tự vệ tiến tiến. Tại hội nghị, đồng chí Hoàng Chính, Phó bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh đã truyền đạt nhận định, đánh giá của tỉnh ủy: “Phong trào tự vệ đã thực sự là nòng cốt, xung kích trong sản xuất và bảo vệ sản xuất, nơi nào sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng tự vệ được toàn diện, trực tiếp và tuyệt đối thì ở đó lực lượng tự vệ mạnh và lực lượng tự vệ mạnh thì sản xuất và các mặt công tác khác đều phát triển tốt, có nơi tốt nhất”.

Cuộc “chiến tranh đực biệt” theo kế hoạch Xta-lây – Tay-lo của đế quốc Mỹ ở miền Nam ngày càng tỏ ra kém hiệu lực. Đầu năm 1964 chính phủ Mỹ quyết định tăng cường mở rộng hơn nữa cuộc chiến tranh xâm lược đối với cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam.

Tháng 2 năm 1964 tổng thống Mỹ Giôn-xơn thông qua một kế hoạch bí mật gồm ba phần:

- Một: kế hoạch hành quân 34A – Mũi tên xuyên (Pierxe Arrow) do Bộ Quốc phòng Mỹ điều khiển bao gồm việc sử dụng máy bay do thám U2 trên vùng trời miền Bắc Việt Nam để khai thác tin tức tình báo, tung các đội nhảy dù phá hoại gây chiến tranh tâm lý.

- Hai: Tăng cường các hoạt động của không quân ở Lào lan dần đến biên giới Bắc Việt Nam, coi đó là một sự “khởi xướng” cho cuộc chiến tranh bằng không quân ồ ạt chống Bắc Việt Nam.

- Ba: Tiến hành các cuộc tuần tra bằng tàu khu trục của hải quân Mỹ ở vịnh Bắc Bộ nhằm phô trương lực lượng, uy hiếp miền Bắc Việt Nam. “Mỹ tin rằng Bắc Việt Nam không dám đánh tàu chiến Mỹ. Nếu Hà Nội coi các cuộc tuần tra đó là sự khiêu khích, Oa-sinh-tơn phản ứng nhanh chóng” (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ).

Để chủ động bảo vệ miền Bắc, sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt, theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, Bộ Tổng tham mưu đã triệu tập hội nghị phòng không nhân dân bàn biện pháp đánh bại các cuộc tập kích bằng đường không, đường biển của địch.

Sau hội nghị, tổ chức phòng không nhân dân được thành lập ở tỉnh, huyện, thị xã do chủ tịch hoặc phó chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh, thành phố phụ trách. Một số thị xã trọng điểm như Hồng Gai, Uông Bí, Cẩm Phả có nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật và đông dân được triển khai đài quan sát máy bay, tổ chức xây đắp nhiều hầm hào trú ẩn nơi công cộng, thực tập báo động phòng không.

Tiểu đoàn phòng không 217 có 3 đại đội 141, 142, 143 pháo cao xạ 88mm, bố trí trên đồi Bãi Cháy và một trung đội súng máy cao xạ 14,5mm, bố trí trên đồi phía sau nhà máy điện cọc 5.

Tại căn cứ hải quân Bãi Cháy, sở chỉ huy khu tuần phòng 1 thường xuyên có nhiều tàu tuần tiễu, săn ngầm đi về và trú đậu trong vịnh Cửa Lục.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:49:09 PM
Lực lượng dân quân tự vệ, du kích được trang bị thâm vũ khí và huấn luyện cách bắn máy bay bằng súng bộ binh có trong biên chế, và bố trí thành nhiều cụm trực chiến bắn tầm thấp. Từ Hồng Gai đến Cửa Ông, Mông Dương, từ đất liền đến hải đảo, miền núi đến miền xuôi được huấn luyện, diễn tập trong đội hình tác chiến chung với cao xạ và hải quân. Công tác phòng tránh, sơ tán phân tán triển khai từng bước có kế hoạch vừa bảo đảm sản xuất, công tác, vừa bảo đảm an toàn cho nhân dân, cơ quan và kho tàng các tuyến.

Ngày 15 tháng 3 năm 1964, Tỉnh ủy Quảng Ninh chỉ đạo hội nghị bảo vệ trị an mặt biển. Báo cáo của tỉnh ủy nhận định “thời gian qua, đế quốc Mỹ và tay sai đã dùng vùng biển, hải đảo Quảng Ninh làm bàn đạp tung gián điệp, biệt kích vào phá hoại miền Bắc. Quân và dân Quảng Ninh đã bắt gọn và tiêu diệt nhiều toán đặc vụ, biệt kích Mỹ - Diệm và Mỹ - Tưởng làm thất bại nhiều âm mưu của địch”.

Để sẵn sàng đối phó tình hình mới, Tỉnh ủy xác định: “Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, không ngừng phát huy khí thế cách mạng của nhân dân, ra sức nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu của dân quân tự vệ, công an vũ trang, kiên quyết đập tan mọi âm mưu phá hoại, tập kích của bọn gián điệp, biệt kích, đặc vụ tay sai, bảo vệ vững chắc bờ biển, hải đảo giàu đẹp của Tổ quốc”.

Ngày 17 tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Hơn 300 đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyết tâm của cả nước về Hội trường Ba Đình dự hội nghị lịch sử này. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo chính trị quan trọng, lên án âm mưu và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ, khẳng định sự thất bại không thể tránh khỏi của cuộc “chiến tranh đặc biệt” mà chúng gây ra ở miền Nam nước ta. Người tuyên bố: “Nếu chúng liều lĩnh động đến miền Bắc thì nhất định chúng sẽ thất bại thảm hại. Vì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đánh bại chúng, vì các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ toàn thế giới sẽ hết sức ủng hộ ta, vì nhân dân Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ cũng sẽ phản đối chúng”. Người kêu gọi quân và dân miền Bắc “làm việc bằng hai” để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt.

Phong trào thi đua “làm việc bằng hai vì đồng bào miền Nam ruột thịt” dấy lên sôi nổi mạnh mẽ ở tất cả các huyện, thị và cơ sở, trong nhà máy cũng như ở ngoài đồng ruộng, trên công trường cũng như trong các cơ quan, trường học, đường phố, thôn xóm, bản làng. Nhiều kỷ lục về năng suất xuất hiện, nhiều chỉ tiêu cũ bị phá, tổng sản lượng các mặt sản xuất trong công nghiệp, nông nghiệp tăng nhanh.

Nhà máy điện Uông Bí được khởi công xây dựng từ ngày 19 tháng 5 năm 1961 hoàn thành xây dựng đợt 1 vào ngày 18 tháng 1 năm 1964 đã tỏa điện lên mạng lưới khai thác than của vùng mỏ. Thủ tưởng Phạm Văn Đồng về dự lễ khánh thành công trình đợt 1.

Thực hiện cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc của Trung ương, Tỉnh ủy chủ trương đưa một số đoàn cán bộ và về các huyện Đông Triều, Đầm Hà, Móng Cái, Hà Cối để cùng với địa phương tiến hành cuộc vận động ở 124 hợp tác xã. Những nhân tố tích cực của thời kỳ này là hợp tác xã Hồng Tiến (Hồng Gai), Cẩm Bình (thị xã Cẩm Phả), Hòa Bình (Yên Hưng), Đầm Hà (huyện Đầm Hà), Nội Hoàng (Đông Triều), Tiến Vọt (đảo Cô Tô), Ngọc Vừng (huyện Cẩm Phả).

Cùng với sự nghiệp sản xuất than, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, một số ngành trong công nghiệp địa phương phát triển nhanh, có đóng góp lớn vào ngân sách của tỉnh và có tác dụng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân.

Hai nhà máy cũ cơ khí 2-9 (Hồng Quảng) và Hữu Nghị (Hải Ninh) sáp nhập thành nhà máy cơ khí Hữu Nghị (nhà máy cơ khí địa phương loại lớn ở miền Bắc). Nhà máy có khả năng sản xuất các máy công tác hoàn chỉnh, máy tuốt lúa, máy xay sát gạo, máy nghiền bột khô, máy băm thái rau cho các trại chăn nuôi loại tập thể, xe cải tiển.

Phân xưởng nước ngọt (Hồng Quảng cũ) được xây dựng thành nhà máy liên hiệp thực phẩm, sản xuất hàng trăm tấn bánh kẹo trong một năm. Những tổ may mặc của thương nghiệp, có phân xưởng đã điện khí hóa toàn bộ dây chuyển sản xuất. Đội thi công các tuyến điện phục vụ sinh hoạt được nâng lên thành công ty điện có đủ khả năng thiết kế, thi công các công trình cao thế, hạ thế, chuẩn bị bước đầu điện khí hóa nông nghiệp. Trạm điện Móng Cái phục vụ cho trạm bơm cũ, bảo đảm tưới tiêu hàng chục héc-ta nay nâng lên thành nhà máy điện, công suất hàng nghìn ki-lô-oát.

Ngành giáo dục có bước phát triển mới. Riêng giáo dục phổ thông đã mở được trường cấp III ở Hồng Gai và Đông Triều. Chiến dịch thanh toán nạn mù chũ được mở rộng ở tất cả các huyện. Năm 1964 huyện Hoành Bồ và đảo Cô Tô được thương huân chương Lao động hạng ba về hoàn thành kế hoạch thanh toán nạn mù chữ. Các xã Yên Đức, Hoàng Quế (Đông Triều), Tân Dân, Dân Chủ (Hoành Bồ) dẫn đầu về hoàn thành kế hoạch bổ túc văn hóa.

(https://lh3.googleusercontent.com/sX60VEYMqb1PyZmwB-u6BddYSx3S-CtWjSmuIcUeiqWF2QCp6Qcd8i-7bg0X0GaHjxFYo5HZRZxgRJXCEKvZJcIcvHeRWSeqyzkC2Q14f6cS_Z683VEv-Qk_eg9zmofzXPjivipVnCOWBBxiCwTbs3O1OYlt2yTWPmGe6vUSqrsSFf_2L6djt-c4norh53FFDo11kfDalT0cWMQOrNw-voQ7cDtb6UWU0YxCo-9ZHyrfQZpQywUPrAtIiCYRlRlQ1eIOA8TM24emJjk0i1kerLgO6P29JkbF0g7VAO42wMgxsfOqXLp6TbWRd97y_zrNEuRD-KXlcnbs0JlRwMTzQNmOR7gk-EIYl-W-PEh0mg7kFGvLPxTijsdZqDk0s8ExCp05DoK2MAo2G9b3teZSjfL5TAsTWHDuPUYjva15Oc39VYfCHdLo1v1AXCRzub0F2geExOtciJf-H3x7pCboNgbYh9WR5huYeZ31hQrp-G7Orr7yL1gs0OlcgL7ZL5euZYhn9bCnswLh6c89upMPDOWtm-pWQ-vFkWblxaN6MkcBuNCUhyKTvVQ6PKwKdxAEZIbABaSJ06jQxts6zxCwQOxQ49XBDisr_SYui_u-7A=w488-h832-no)

Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm công trường khai thác than thanh niên (tỉnh Quảng Ninh)


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:50:23 PM
*
*   *

Mùa hè năm 1964, các hoạt động khiêu kích chuẩn bị chiến tranh bằng không quân chống miền Bắc Việt Nam của Mỹ ngày càng rõ dần. Đến tháng 6 năm 1964 các cố vấn chủ chốt của tổng thống Mỹ gặp nhau trong một cuộc họp ở Hô-nô-lu-lu để thảo luận kế hoạch mới của Giôn-xơn: “Việc ném bom có chọn lục các mục tiêu quân sự ở Bắc Việt Nam sẽ làm tăng tinh thần người Nam Việt Nam và giúp củng cố lập trường của Mỹ ở Việt Nam…”(1).

Sau cuộc họp, Mỹ điều động một số tàu sân bay đến Biển Đông, đưa số phi đội máy bay phản lực đến các căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á.

Ngày 18 tháng 6 năm 1964, ông Bơ-le Sla-bo (Blair – Seabor), đại diện mới của Ca-na-đa trong Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông ta chuyển ý kiến của Mỹ “về việc đánh phá miền Bắc” của không quân Mỹ sẽ dẫn đến “cảnh tàn phá hết sức ghê gớm”. Đây là một chủ trương thử nghiệm “cái gậy và củ cà rốt” của đại sứ Ca-bốt Lốt.

Trước những âm mưu của Mỹ thực sự chuẩn bị chiến tranh chống miền Bắc nước ta, ngày 19 tháng 6 năm 1964, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu phá tân âm mưu khiêu khích, đánh phá miền Bắc của không quân Mỹ”. Chỉ thị nêu rõ “Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cần nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu kịp thời đập tan âm mưu địch, giáng trả cho chúng những đòn đích đáng nếu chúng dám liều lĩnh ra phá hoại miền Bắc”. Bộ Chính trị chỉ thị cho các cấp ủy đảng và chính quyền tăng cường chỉ đạo công tác phòng không nhân dân, coi đó là một nhiệm vụ cấp bách trước mắt, “việc chuẩn bị phải chu đáo, toàn diện và tích cực, chấn chỉnh và tăng cường hệ thống phòng không nhân dân làm nòng cốt, kết hợp với việc phát động phong trào rộng rãi bắn máy bay địch bằng mọi loại súng của bộ binh và của lực lượng dân quân tự vệ”.

Ngày 30 tháng 6 năm 1964 Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí Văn Tiến Dũng ra lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu trong toàn thể các lực lượng vũ trang miền Bắc.

Tại trụ sở Đảng bộ tỉnh, Tỉnh ủy triệu tập cuộc họp tỉnh ủy mở rộng đến chủ trương cơ quan, ban ngành, đơn vị để phổ biến, quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị, quyết tâm của tỉnh ủy về tổ chức và lãnh đạo quân và dân trong tỉnh, sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Nghị quyết của tỉnh ủy khẳng định; Quảng Ninh là một tỉnh ven biển có nhiều đảo và có biên giới giáp Trung Quốc, bởi vậy địch sẽ đánh mạng bằng không quân vào nhiều vùng với quy mô liên tục và ác liệt, đặc biệt là vùng biển, đảo và công nghiệp, trọng điểm là ba thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả, Uông Bí; chú trọng nhất là hai nhà máy điện cọc 5 và Uông Bí, hai bến cảng Hồng Gai và Cửa Ông. Trong tình hình hiện nay, cần chú ý mối quan hệ giữa sản xuất và chiến đấu, đẩy mạnh cả hai mặt cùng tiến bộ đều, cả hai mặt này có liên quan với nhau và hỗ trợ nhau rất chặt chẽ.

Tại hội nghị, đại tá Nguyễn Như Thiết, Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, ủy viên thường vụ tỉnh ủy thông báo một số tình hình địch, kế hoạch chuẩn bị chiến đấu các mặt của quân khu; đồng chí Vũ Đình Mai, Phó tham mưu trưởng quân khu báo cáo tình hình triển khai công tác phòng không nhân dân.

Sau hội nghị tỉnh ủy, nhiều đoàn cán bộ liên ngành kiểm tra một số trọng điểm. Công tác phòng không nhân dân đã triển khai kế hoạch và thực tập thống nhất chỉ huy về báo dộng chung, báo động khu vực và đơn vị, báo hướng bay của địch để chuẩn bị đón đánh máy bay, lệnh nổ súng, báo yên… thực tập giải quyết hậu quả cấp cứu người bị thương, chôn cất người chết, tập vá đường sửa cầu, ngụy trang nhà máy tàu thuyền.

Đến thượng tuần tháng 7 năm 1964, toàn tỉnh Quảng Ninh bước đầu chuẩn bị cả về tinh thần, lực lượng và thế trận sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 9 tháng 7 năm 1964 Tòa án quân sự Quân khu Đông Bắc quyết định đưa toán đặc vụ Mỹ - Tưởng ra xét xử công khai tại phiên tòa được tổ chức ở thị xã Móng Cái. Hàng nghìn đại biểu và nhân dân, trong đó có trên 200 đại biểu nhân dân Đông hưng (Trung Quốc) sang dự và theo dõi. 17 bị cáo đã ra trước vành móng ngựa. Thượng tá Bế Chu Lang – chánh án đã nhân danh Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản tuyên án của hội đồng xét xử: “Đây không phải là vụ án hình sự thông thường mà là mọt vụ án chính trị đặc biệt nguy hiểm do bàn tay của đế quốc Mỹ tổ chức. Tính chất nghiêm trọng của vụ án là âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ đối với việc xâm phạm nền an ninh của Nhà nước ta, với công cuộc xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc của nhân dân ta, với sự nghiệp hòa bình, thống nhất của Tổ quốc ta”. Căn cứ vào luật pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tòa tuyên bố nghiêm trị những tên ngoan cố có nợ máu, khoan hồng với những tên chưa gây tội ác và thật thà khai báo.

Phiên tòa được sự chú ý theo dõi và nhiệt liệt hoan nghênh của dự luận. Các mức án không chỉ dành cho những tên đặc vụ có mặt tại phiên tòa mà còn cảnh cáo những kẻ chủ mưu của chúng.


(1) Lời phán quyết về Việt Nam của Gio-dép Am-tơ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:51:20 PM
Cuối hạ tuần tháng 7 năm 1964, tình hình vịnh Bắc Bộ trở nên căng thẳng. Ngày 31 tháng 7 năm 1964, tàu Ma-đốc mang số hiệu 73 hoạt động tuần tiễu ở vịnh Bắc Bộ. Ngày 2 tháng 8 năm 1964 tàu Ma-đốc tiến sâu vào vùng biển giữa Hòn Mê và Lạch Trường (Thanh Hóa). Kiên quyết bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc, đoàn 135 Hải quân được lệnh đánh đuổi tàu Ma-đốc: “Trận chiến đấu thể hiện ý chí dám đánh và quyết thắng rất cao của toàn quân và toàn dân ta”(1).

Ngày 3 tháng 8 năm 1964 Mỹ điều động thêm biên đội tàu sân bay Côn-xten-lây-sơn (Constellation) đi kèm, có 3 tàu khu trục và biên đội tàu sân bay Ti-côn-đê-rô-ga (Ticonderoga). Ngoài ra còn có 4 tàu khu trục cùng ba khu trục hoạt động độc lập là Ma-đốc, Tuốc-nơ-gioi và En-la, một tàu tuần dương An-la-hâu-na Xi-ty đến biển Đông tiếp tục hoạt động tuần tiễu và khiêu khích.

Ngày 4 tháng 8 năm 1964 Mỹ dựng sự kiện hai tàu Ma-đốc và Tuốc-nơ-gioi bị hải quân Bắc Việt Nam tiến công lần thứ hai tại hải phận quốc tế.

11 giờ đêm ngày 4 tháng 8 năm 1964 giờ Oa-sinh-tơn (tức 11 giờ 30 trưa ngày 5 tháng 8 năm 1964 giờ Hà Nội), Giôn-xơn lệnh cho đô đốc G. Shap, tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương cho máy bay cất cánh từ các tàu sân bay đánh trả đũa vào một số mục tiêu, chủ yếu là căn cứ hải quân của miền Bắc từ cảng Gianh (Quảng Bình), Vinh, Bến Thủy (Nghệ An), Lạch Trường (Thanh Hóa) và Bãi Cháy – Hồng Gai (Quảng Ninh). 6 phút sau, tức 11 giờ 36 phút đêm 4 tháng 8 năm 1964 (giờ Oa-sinh-tơn) Giôn-xơn tuyên bố trên đài vô tuyến truyền hình Mỹ: Những hành động bạo lực liên tiếp chống các lực lượng vũ trang của Mỹ phải được đối phó không chỉ với sự phòng bị cảnh giác mà với sự trả lời tích cực. Sự trả lời đó đang được đưa ra khi tôi nói với đồng bào đêm nay. Hành động không quân đang được tiến hành chống các tàu chiến và một số phương tiện yểm trợ cho Bắc Việt Nam đã được sử dụng chống lại các hoạt động thù địch đó”.

Lời tuyên bố ngạo mạn của tổng thống Mỹ được đưa ra sau những hành động khiêu khích đối với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và sự lừa dối quốc hội và nhân dân Mỹ. Với lời tuyên bố này, Giôn-xơn chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược bằng không quân và hải quân đối với Việt Nam – một nước dộc lập có chủ quyền.

Bắt đầu từ 12 giờ 25 phút trưa ngày 5 tháng 8 năm 1964, đánh khu vực Vinh – Bến Thủy thì cũng thời điểm đó máy bay Mỹ đánh cảng Gianh (Quảng Bình). Lúc này Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân nhận định khả năng địch sẽ đánh phá khu vực Hồng Gai, mục tiêu cụ thể là quân cảng Bãi Cháy. Tiểu đoàn phòng không 217 bảo vệ khu vực công nghiệp Hồng Gai được lệnh sẵn sàng đánh trả máy bay địch. Bộ tư lệnh Hải quân nắm được tình hình về các thủ đoạn đánh phá của địch ở hai nơi trên để kịp thời thông báo cho sở chi huy khu tuần phòng 1. Đại tá Nguyễn Như Thiết – Tư lệnh Quân khu Đông Bắc điện báo tình hình địch đã đánh phá hai điểm ở Vinh và cảng Gianh với đồng chí Nguyễn Thọ Chân, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy để báo cáo với Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang làm việc ở khu Bãi Cháy biết, đồng thời điện sang sở chỉ huy tiểu đoàn 217 và sở chỉ huy khu tuần phòng 1 động viên bộ đội sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt địch.

Từ 14 giờ 30 phút, cùng thời gian địch đánh Lạch Trường (Thanh hóa), máy bay Mỹ bắt đầu đánh phá Bãi Cháy, Hồng Gai.

Ở khu vực Bãi Cháy – Hồng Gai, loa báo động phòng không nhắc đi nhắc lại: “Máy bay Mỹ đang đánh phá Vinh – Bến Thủy và cảng Gianh. Các lực lượng phòng không sẵn sàng chiến đấu. Đồng bào không có nhiệm vụ khi có báo động phải tìm nơi trú ẩn”.

14 giờ 40 phút, 8 máy bay phản lực Mỹ gồm hai A4D, F.4H, AD.6 chia thành nhiều tốp bay là là mặt biển. Đến gần đảo Long Châu (Hải Phòng) chúng nâng độ cao và khi đến gần mục tiêu, chúng lao xuống đánh các tàu hải quân còn neo đậu trong Cửa Lục. Một số tàu và pháo cao xạ ở Bãi Cháy không kịp nổ súng bắn chiếc thứ nhất, phải chuyển sang bắn chiếc thứ hai. Đến đợt địch bổ nhào đánh phá lần thứ hai, cả tàu hải quân và pháo cao xạ chủ động đánh phá. Pháo trên hai tàu 227 và 134 nổ súng trước. Sau đó toàn bộ tàu chiến trú đậu trong Cửa Lục, rồi các trận địa pháo trên đồi cao, súng các loại của dân quân tự vệ, công an vũ trang cũng nhằm hướng máy bay địch lao tới đồng loạt đánh trả địch mãnh liệt. Bầu trời khu vực Bãi Cháu, Hồng Gai, Hạ Long, Hà Lầm, Hà Tu xuất hiện những điểm khói trắng của đạn cao xạ.


(1) Lời khen của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:54:18 PM
Tốp máy bay thứ ba lao xuống đánh quân cảng lại vòng qua Ba Đèo liền bị trung đội súng máy cao xạ 14,5mm do trung đội phó Trương Thanh Luyến chỉ huy cùng lưới lửa tầm thấp của tự vệ Hà Tu bắn trúng. Lúc đó là 14 giờ 35 phút. Chiếc máy bay bốc cháy rồi đâm đầu xuống vùng biển Hà Tu, cách bờ 1km. Đó là chiếc A4D, biệt hiệu “chim ưng nhà trời”. Một chiếc bị rơi, máy bay địch liền đổi hướng công kích, mở rộng vòng lượn, từ hướng đông bắc lần lượt bổ nhào đánh phá mục tiêu. Sở chỉ huy tuần phòng 1 quyết định cho các tàu cơ động ra vịnh Hạ Long. Tàu 144 ra trước, sau đó là các tàu vừa cơ động vừa chiến đấu và sử dụng biện pháp phun khói để ngụy trang mục tiêu. Trên mặt biển, sóng dềnh lên từng cuộn lớn. Chiếc máy bay rơi xuống biển Hà Tu, một chiếc dù đỏ - trắng xuất hiện. Lập tức một thuyền đánh cá của dân quân ngư nghiệp xã Thắng Lợi do bác Nguyễn Văn Trần, Tống Văn Tạo, Dương Văn Tân, lúc đó đang ở vùng biển Hà Tu lao tới. Cùng lúc, một thuyền tiếp tế của bộ đội đảo Cô Tô trên đường công tác cũng kéo buồm, ngoặt lại. Mấy phút sau tàu 144 cũng ập đến và vớt tên giặc lái lên boong. Đó là trung úy E. An-va-rê (Everette Alvarez), giặc lái đầu tiên của Mỹ bị bắt ở miền Bắc(1). Các đại đội 141 và 143 pháo cao xạ 898 (tiểu đoàn 217) bằng phần tử phối hợp pháo trên các tàu hải quân và dân quân tự vệ Hồng Gai tiếp tục bắn rơi chiếc máy bay thứ hai rồi chiếc thứ ba.

Anh tự vệ trẻ Nguyễn Văn Bút, xạ thủ trung liên của tự vệ phố Bạch Đằng vừa đi ca sáng về, đang tắm thì máy bay Mỹ ầm ầm lao đến. Bút vào nhà lấy súng, vai vác súng, vai đeo hòm đạn chạy thốc lên đỉnh đèo. Lúc qua cầu cao, một chiếc máy bay lao đến, Bút nằm xuống giương súng bắn, nhưng không kịp. Khi vừa lên đến đỉnh đèo thì trên cao, một chiếc máy bay Mỹ chao cánh lao xuống. Nguyễn Văn Bút nâng súng bắn dồn dập, một loạt đạn nổ ran. Bút sung sướng và tự hào lần đầu tiên được hòa tiếng súng cùng với quân dân vùng mỏ hạ máy bay Mỹ.

Tổ tự vệ nhà máy in vùng mỏ không kịp lên trận địa núi Bài Thơ đã xách súng lên nóc nhà máy đặt súng vào lan can tham gia chiến đấu.

Tại nhà máy điện cọc 5, kíp trưởng Trần Xuân Tuấn đang bước lên cầu thang thì một tốp máy bay đang quần đảo khu vực nhà máy. Một số công nhân tự vệ xách súng chạy lên đồi. Trần Văn Tuấn ra lệnh “ai đang vận hành máy, hãy đứng nguyên vị trí điều khiển máy”. Phía ngoài nhà máy bom nổ dữ dội. Nhìn những nút báo điện, tai nghe vòng quay của tuốc bin cứ chồm lên, Tuấn thấy tình thế rất nguy hiểm, anh vẫn bình tĩnh động viên anh em trong kíp vận hành máy an toàn. Trận chiến đấu kết thúc, bảng điện báo dòng công suất trở lại bình thường.

(https://lh3.googleusercontent.com/PivchqxNR45fccS_fWs-laFfJA7rMn3LFz73QIA_Ix9g6GfBKrc7PHMGwD3OpC8YOpoqcJQfRsro2WoPFe_9G-IoRQvJ-hIB85x7C8IA7l25MVbuwACFOaHQiyfAmdy-0l6z_kymGGqMrM7v7SqGJneqTLxCNxfq4_v5TmqTSnSwfhpRcYKfQSiCkno-nUp-2O_fXXPpoxOt1lcoLU3KD9XQeWTFHKJp5Cry0TdQbbDkhS9sihULxWFuFOghlhyPnPqkTATwXrC87aGqNIQ3OeOAXYHmbQ7NwH8XDLphgdppnAHvlbGQaY_PAe7i13_-RR9al62XyiEuOtnZTpAR0xnCW-kjJ73G_xbUXW2_q8H8Kw_w59t3FpMiE7QOm5jt1s17lTdG2Ag2a9r1CUqURDxXd09vDRt4U8bsnS9UiCs2xVU8aaGojiR0vy_zxiVVHrxhY2QwaTwnm58F8aQVVyFO_VUeaLQZj32Erep67U4txf5uUOB26L8Wz3fqJlc0VenDehkHhxJSjCQyqelYPktrYCrDnL-Zqzhn2A1ct4ieSePOaEDTXxwe-u4EKVk80pRACxr0zdJpNFVpoxLDOsesr0JJOIWj35orU8XeMw=w546-h402-no)

Trận địa pháo 37 chiến đấu bảo vệ nhà máy điện Cọc 5, ngày 5 tháng 8 năm 1964

Tại phòng bưu điện Bãi Cháy, có lúc hơn 30 số đều xin liên lạc, nhưng Nguyễn Thị Thanh Thủy và Vi Thị Mến vẫn bình tĩnh trả lời: “Ưu tiên quân sự trước”. nghỉ tiếng súng, chỉ huy tiểu đoàn 217 điện hoan nghênh phòng bưu điện Bãi Cháy giữ vững liên lạc suốt 45 phút. Trưởng ty bưu điện biểu dương hai cô gái trực chiều ngày 5 tháng 8.

(https://lh3.googleusercontent.com/_A8iKQ4Y6Yr25V9WP9umOybkcZnYFcYahjB1NXUlUuLKC_7LFCXdIFouh1n7FYnq8w36sK0I0h4CchIrqzjq5lbyMLO6npt11xXyhS4RsIgTXGAHLrZvKw0k9-UkLc6z6ySeBgmC3BnKTvbtM9Es0qoRlWtY7BoKl202PZieO9zSkOajFVV-lzJ3hkqg_JQD98B-dCm8yillIkxTf-WEo-oHw4lnIIxrE53dCuV5XfJBiaePCplc3b2VWQQWMGbonpsFHikR_AxLM1IohKh4z0tKEgHMhhJ0sGJrB0bJwYvOY4EuI2AqcXM1WZ9sfy0lz4s1J9Kk9M0nGEJzD-LRtJnMDN8O6XFb92ebjm2XBtonxh4l0784KY1yoBsuobqAa7GZHFF_0zmohYZwOnLsTKuIfKK4a5zKzFzNDOQela9RD8-8J8SzeVDyYdrTOOXoP1nLLYoqQUXlasXRgVhpq4moz1zG6bsDiWvVVdEkEmDibCtyIiYNeqMEQOEQQ3LP3lAZ2JgotTBpA932JSABq4OOYGaO9V6SMFf6vszZ-iDsiGoInToEpaZ8CSEHSxg0Byvy4fiXnSgXagpQ34YJYpjowx7NVt4pfQTLve4rIg=w800-h584-no)

Hai nữ điện báo viên ở Bưu điện Bãi Cháy: Vi Thị Miến, Nguyễn Thị Thủy dũng cảm bảo vệ mạch máu thông tin liên lạc trong trận máy bay Mỹ bắn phá Hồng Gai ngày 5/8/1964


(1) E. An-va-rê là phi công Mỹ đầu tiên bị bắt và là người tù binh ở lâu năm nhất trong Hỏa Lò – Hà Nội.
Năm 1993, gần 30 năm sau khi về nước, An-va-rê trở lại thăm Việt Nam. Khi được hỏi sau những năm tháng sống trong trại giam, có oán thù gì Việt Nam không? An-va-rê trả lời: “Tôi và các bạn tôi đều không có thù oán gì với nhân dân và Chính phủ Việt Nam”.
Hiện nay An-va-rê là cố vấn cho một công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế. Bản thân An-va-rê kinh doanh riêng chế tạo máy vi tính và là tổng giám đốc của nhiều bệnh viện rải rác ở Mỹ chuyên chữa cho các cựu chiến binh Mỹ. An-va-rê sang Việt Nam với mong muốn hợp tác kinh doanh. Ông hẹn “lần sau sang, nhà tôi và cháu sẽ cùng đi”.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:56:49 PM
Trên bến Hồng Gai, Trần Minh Thành, một thợ lái cần trục vừa cho cần trục ngoặc toa than đang quay lưng chừng để rót xuống xà lan, thì máy bay Mỹ ập đến bắn phá. Tình huống bất ngờ, nhưng không thể hãm máy khi cần trục đang ngoắc hàng. Anh bình tĩnh tời dây hạ toa than xuống xà lan, rồi lấy xẻng xúc than cám hất vào lò ủ để giảm nhiệt độ. Sau đó Thành vác súng ra vị trí cùng đồng đội chiến đấu. Trận đánh kết thúc, Trần Văn Thành về buồng lái cần trục tiếp tục cời lò, mở tay hơi, kiểm tra, các bộ phận đều tốt. Công việc sản xuất lại tiếp tục, những toa than đầy ắp lần lượt được “cánh tay sắt” của Thành bốc rót nhịp nhàng xuống xà lan.

Ở khu vực nhà mẫu giáo số 10 lúc nghe tiếng súng nổ, cô giáo Ngư chạy đi, chạy lại đưa các cháu xuống hầm trú ẩn. Ngô Quốc Chung 13 tuổi, học sinh trường Hạ Long đang cùng bạn chơi ở phía sau trường thấy vậy đã lao xuống giúp cô Ngư. Chung vừa bế một em nhỏ vừa dắt một em khác xuống hầm. mặc cho đạn rốc-két nổ phía sau trường, ngói và mạnh đạn văng tung tóe, Chung cùng cô Ngư như con thoi đưa hết các em xuống hầm trú ẩn rồi mới chịu xuống hầm.

Ở khu vực phố Bạch Đằng, nhiều quả rốc-két của địch bắn xuống cày nát mặt đường. Nhiều nhà cửa bị bật tung, vỏ thùng rốc-két rơi xuống một sân chơi lớp mẫu giáo, cô tự vệ Hoàng Thị Cát đã có mặt ở ngoài đường phố khi có báo động máy bay. Cô vừa hướng dẫn ông già, bà lão đến nơi ẩn tránh, vừa bồng bế hai em nhỏ lúc bố mẹ các cháu vắng nhà xuống hầm tránh đạn. Có đợt máy bay lao dọc trục đường thị xã, Cát đứng giữa phố nâng súng bắn đón máy bay Mỹ.

Sau trận đánh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang làm việc tại Bãi Cháy đã đến thăm bộ đội và khen ngợi chiến công đầu của tiểu đoàn 217. Chính trị viên tiểu đoàn Vương Đình Nạp báo cáo với Thủ tướng diễn biến cuộc chiến đấu và quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ. Trò chuyện thân tình và vui vẻ với cán bộ, chiến sĩ, Thủ tướng ân cần nói: “Tôi rất vui sướng được thấy trận đầu đánh thắng máy bay Mỹ của các đồng chí. Tôi chuyển lời khen ngợi của Trung ương Đảng, của Bác Hồ đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ phòng không, hải quân, công an vũ trang, dân quân tự vệ và nhân dân Hồng Gai – Bãi Cháy anh hùng. Thắng lợi của ta là rất lớn nhưng mới là trận đầu. Chúng còn có thể đến với lực lượng lớn hơn nữa. Một điều quan trọng là phải rút kinh nghiệm để tìm ra những bài học chiến đấu làm cho thắng lợi sẽ to lớn hơn nữa. Rút kinh nghiệm để chiến đấu giỏi hơn và để có thể chiến thắng lớn hơn”(1).

Ngày 5 tháng 8 năm 1964 đánh dấu sự kết thúc chuỗi ngày hoạt động khiêu khích miền Bắc của đế quốc Mỹ với việc huy động 64 lần chiếc máy bay của hải quân đánh phá ba đợt vào bốn khu vực: Vinh – Bến thủy, cảng Gianh, Lạch Trường, Bãi Cháy – Hồng Gai. Với ý đồ dùng sức mạnh, đánh đòn bất ngờ, gây cho ta những thiệt hại lớn để uy hiếp và làm lung lay ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam của quân và dân ta, chính Mỹ mới là kẻ bất ngờ và đã nếm đòn thất bại, choáng váng: 8 trong 64 lần chiếc xuất kích đã bị bắn rơi. Đây là một tỷ lệ cao với số máy bay bị bắn rơi với số máy bay tham chiến. Điều đặc biệt là nhiều máy bay phản lực hiện đại của Mỹ bị quân ta bắn rơi. Riêng Bãi Cháy – Hồng Gai vừa bắn rơi 3 chiếc trong một trận chiến đấu, vừa bắt sống được giặc lái (An-va-rê).

Đây là chiến thắng có ý nghĩa rất quan trọng cả về quân sự, chính trị của quân và dân cả nước nói chung và Quảng Ninh nói riêng. Trận thắng oanh liệt đã cổ vũ mạnh mẽ khí thế và quyết tâm thắng Mỹ của quân dân ta, khẳng định những thành tựu xây dựng tiềm lực về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng trong 10 năm kể từ ngày Quảng Ninh được hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng ngày 5 tháng 8 năm 1964 là bản anh hùng ca bất diệt của chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện bao gồm các lực lượng tác chiến: hải quân, cao xạ, công an vũ trang, dân quân tự vệ trên một địa bàn nơi có quân cảng, hải cảng, có khu công nghiệp khai thác than, có vùng vịnh nối hai bờ Bãi Cháy – Hồng Gai bằng những chuyền phà ngang; tất cả các loại vũ khí từ pháo cao xạ 88mm và súng trường xuất hiện từ đầu những năm hai mươi của thế kỷ đến các loại pháo cao xạ 40 (trên tàu), 37 (phòng không), 14,5mm, 12,7mm (súng máy cao xạ), súng bộ binh… đều đã phát huy tối đa sức mạnh hỏa lực.

(https://lh3.googleusercontent.com/8tEinwmZdnXxT284uE-bquLKeiHQOY_iui_0Q8LaslifKDDHjiO4x4bnfOsvS8ROcUTVLAITxxvAJacPxw3W3KHl-OSZfaHpHXTLBbyc2bROYuBENRaTfIXXFu_U5jUOi8aeyKzXW9jlyGvwOepmUqJcQ92773h73N4xJps-dxyjerAZyPrJ9sK03OUYyf1-nQgc625fCtqoC5NFm9k3Y35x7NoMMfWp5jUF85lSPE6np4ebBnKroQS--_A7CEwXolWLFIWLfatbb8NLDrEGTTVbaW2fwqQjoOq7mYUvTD5P6FAnvdMmSNznSrX7o0KdSjcqYaXwKKRpSZRRaqtoNvgyk2fe7NtxWCKGWXp_bGSt-ZT7xHcyypookildLldz8UET64f0KwAAuwg0fIA6UvJ30PXwmx-3jFmxdyeoxn0E6a7xOZcF1QalHAFsvv2rQXlA-_XwcuK2G59lNSr15JD_txkVqcria0jIH2XFlp-IHC9Tz9kSF9oP1sv3WThCq2hazC6BguI1SWt70wlIcT7TsHA7D6vzIKlSjQDwRcglFzxq20XNgAb_r9OC3vEt5u4yM0chmfIWXd_RRkbZ9atWNaxeHyoj56t_ARFyvg=w631-h832-no)

Chiếc máy bay giặc Mĩ bị bắn rơi trong trận 5-8-1964 tại thị xã Hồng Gai

(https://lh3.googleusercontent.com/cgYvUjCjeGddoDP6xERHgSc4y9rfK1HmSmTRxXaVRwhCqlprshK9n2r1L-M0p28oYaRzkxEc24xMVTmcRh0Z1bQ8JNtLpFAzPcPRFUNQYiPnGRuuHK-Ja1GfTc-oViJeGiAmneMu52cj6L9My3Cz5q6NbHEDzBeKKVhS1l39Z54twT19bNLk9xxHHDnqvNCbHPp60KymAT60Pq1xRUnsU4WMl0d-cGl1VG23r7a66kDO5c6oEV6izczH7NlgSaVB7XMlCmKyht2akIrVLEAFQE4QNyNl3ljz0MGcaLIWV6-8RiKrLP0OtcjttM5FoHXgfcFYBCG9_C_ni92aR5r0Skv255Iu9TrGK8Ex4EiV9M9uOLwRdWvB7EhCx-1_RZGCxE_Pov-_g-Egdp9-_Su6YnADD6TU4XIusBvHPjGs9R-_vv8JQBlSSQ1vOFkT4sfoyp6RR8UWdppddpIm914GSRTZaVfViEMLa1txeivj_x-9YW-7ji6giLPVrDOpOdsg2Zj1Kdl1efrRnwlL0q-9h2VLOB0uAcNqUux_W8h2ZG9D3wiPORQL1o_ozL_7VHoXPt1PVh0f-JwbuD2VlansyrezjVVk8jP_PfjxNcRODA=w1024-h709-no)

Xác chiếc máy bay AD4 bị quân và dân Quảng Ninh bắn rơi ngày 5 tháng 8 năm 1964

Ngày 7 tháng 8 năm 1964 tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng tổ chức trọng thể lế mừng chiến thắng ngày 5 tháng 8 của quân dân ta. Đại diện Tỉnh ủy Quảng Ninh và đại biểu các đơn vị chiến thắng đã về dự.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất vui khi gặp đại biểu các địa phương các đơn vị chiến thắng về dự lễ. Trong bài phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Bác rất vui mừng thay mặt Đảng và Chính phủ khen ngợi các chú đã lập được thành tích lớn trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ vừa qua.

Các chú đã chiến đấu rất dũng cảm, bắn rơi 8 máy bay Mỹ và bắn hỏng 3 chiếc…

Nhân dịp này, Bác gửi lời thân ái thăm hỏi các đơn vị phòng không, hải quân, các đơn vị bộ đội, công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ và đồng bào ta  các vùng bị giặc khiêu khích đã nêu cao truyền thống quyết chiến quyết thắng và đã trừng trị đích đáng kẻ địch.

Các chú đã thu được thắng lợi vẻ vang nhưng chớ vì thắng lợi này mà tự mãn chủ quan khinh địch. Chúng ta phải biết rằng đế quốc Mỹ và tay sai chết thì chết nết không chừa, chúng còn nhiều âm mưu hung ác.

Trong trận này, chúng ta đã cho đế quốc Mỹ một bài học đích đáng, đồng thời chúng ta thấy rõ hơn những ưu điểm và nhược điểm của ta. Các đơn vị bộ đội, công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ và các đơn vị địa phương cần rút kinh nghiệm để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Các chú phải tiếp tục đẩy mạnh mọi mặt công tác và luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc”.

Quân và dân Quảng Ninh ghi nhớ sâu sắc lời Bác dặn “chớ vì thắng lợi mà tự mãn, chủ quan khinh địch”, càng ra sức phấn đấu để tiếp tục xây dựng và phát triển tiềm lực mọi mặt nâng cao sức mạnh toàn diện, cùng quân và dân cả nước bước vào thời kỳ mới, thời kỳ chiến đấu quyết liệt chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hết lòng hết sức chi viện sức người, sức của cho miền Nam.


(1) Báo Nhân dân số 0.9923, ngày 6-8-1964.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Chín, 2017, 10:58:36 PM
(https://lh3.googleusercontent.com/JeacQp7GPwJY52YwJPmVDHi1DBlubH3g0epbwYKTn94je21xlXM4Sv95Jdn-KxSyq5wBfRyRgoPhuObNi9v08BWdc2zUf1Gg9Kd7y63hcMzKhKdgMBZmB8VnH7uBqHz1U-eqLKZ2c7QFS48uy1JDCgbfiMHzaTeVomnR6t2Lej6WgEBHey5mZyg6HbKHBdlK8xR02lo-mrprkMnutzVmQoDJumhU0l9kZJiJNLNr_u16R9kf__hFcBs1YHlfKfeuFnkusQIstHjoXIyGS6PzchoAvNbVeI2lHdKJwkOeG9nLqlAgRJJsBBACaTONW0EeRB_0FI0SluDtxPfYGpGvHl6IBClT1JDkeTpkvfPAHvFC3ZlgoM_4fGVl4n_hwaGLqQokOyDA2j1fRKxyaqjcGIFmXZElyVs2kx9sVUTvaSCyovbNz1Uf7zjw2wGfzc2G0uH49bmHU_90dHZ0XmtH_R8yOKjVfyNeELbjrCBBCuIyUbNXAr80b2OeSOU1kWHiardnYZfQtqFAKQaCwh1bTvD7xApEEnmz267LCFsz4Ky4j9-YkcA48oqv1SxnPwoElLYnW12e50cTWsPqNWVPh41TBdpW8AHY-YyxV0Wo5Q=w1361-h832-no)

Sơ đồ trận chiến đấu ngày 5-8-1964 tại thị xã Hồng Gai tỉnh Quảng Ninh


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 09:54:34 PM
Chương hai

CÙNG QUÂN VÀ DÂN MIỀN BẮC GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG
CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1965-1968)

Chiến thắng ngày 5 tháng 8 năm 1964 như một động lực thúc đẩy quân dân Quảng Ninh tiến bước trên chặng đường mới – cả nước là một chiến trường, cả nước trực tiếp đánh Mỹ. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng Ninh nhanh chống chuyển hướng hoạt động từ thời bình sang thời chiến. Phát huy trận đầu đánh thắng giặc Mỹ, toàn tỉnh nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu, kế hoạch năm năm (1965-1970) giành thắng lợi toàn diện.

Sau gần mười năm sống trong hòa bình, xây dựng chế độ mới, đảng bộ, quân và dân Quảng Ninh tỏ rõ ý chí, quyết tâm góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng những thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội mà tiêu biểu là chiến thắng ngày 5 tháng 8 năm 1964, trận đầu thử lửa, trận đầu chống Mỹ. Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã chuyển sang thời kỳ mới, đòi hỏi sự năng động hơn, sáng tạo hơn. Trước hết, Đảng bộ tỉnh coi trọng việc nâng cao sức mạnh để đảm bảo yêu cầu lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ với ý thức trách nhiệm cao hơn.

Cuộc vận động xây dựng đảng bộ, chỉ bộ “4 tốt” được đẩy mạnh và thực sự trở thành một trường học để giáo dục, rèn luyện cán bộ đảng viên về tư tưởng, lập trường giai cấp, nhằm nâng cao nhanh chóng năng lực, trình độ lãnh đạo của mình.

Tổ chức Đảng ở nông thôn, hầm mỏ, xí nghiệp, nhà máy, cơ quan, công nông trường, đơn vị… được nâng lên về số lượng và chất lượng. Số chi bộ, đảng viên kém ngày càng giản dần. Số đảng bộ, chi bộ và đảng viên đạt yêu cầu “4 tốt” ngày càng tăng. Năm 1964 có 61% số đảng viên và 40% số chi bộ đạt tiêu chuẩn “4 tốt”. Công tác phát triển đảng viên mới lấy nâng cao chất lượng làm chính, số đảng viên mới được kết nạp hầu hết là lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua qua rèn luyện thử thách trong lao động sản xuất, công tác, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Việc phấn đấu thực hiện xây dựng chi bộ, đảng bộ theo yêu cầu “4 tốt” được kết hợp chặt chẽ với phong trào “ba xây, ba chống” cải tiến quản lý hợp tác xã, làm thay đổi tác phong lãnh đạo của cán bộ, đảng viên. Với việc xây dựng chi bộ, đảng viên “4 tốt” kết hợp với phong trào “ba xây, ba chống”, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có nhiều chuyển biến, có tác phong đi sâu, đi sát các phong trào sản xuất và chiến đấu.

Được sự cổ vũ của chiến thắng ngày 5 tháng 8, chiến dịch khai thác than mang tên “Điện Biên Phủ” được phát động từ đầu năm 1964 liên tiếp giành thắng lợi. Tổng sản lượng đạt gần 3 triệu tấn/năm.

Ngày 2 tháng 9 năm 1964, tin công trường xây dựng nhà máy nhiệt điện Uông Bí đã hoàn thành xây dựng đợt II vào dúng ngày Quốc khánh làm nức lòng nhân dân vùng mỏ.

Từ sau ngày 5 tháng 8, theo nhận định của Quân khu ủy Đông Bắc thì các kế hoạch phòng chống tập kích, biệt kích, giữ gìn an ninh trật tự đã được bổ sung từ cơ sở đến tỉnh và được thực hiện nhiều lần. Một số cơ quan đơn vị và các phân đội dân quân tự vệ đã sẵn sàng chiến đấu cao và thường trực chỉ huy nghiêm túc.

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 – 22-12-1964) Quân ủy Trung ương quyết định tổ chức ngày hội đoàn kết quân dân, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đoàn kết, cảnh giác, sản xuất, giặc đến là đánh, đánh là phải thắng”.

Phong trào thi đua sôi nổi trong các nhà máy, hầm mỏ, trên đồng ruộng… và ngay cả trong trường học để tới đích cuối cùng của năm 1964 đạt nhiều thành tích xuất sắc, góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ.

Trong phong trào thi đua, ngành y tế có bước phát triển vượt bậc. Từ ba bệnh viện Hồng Gai, Tiên Yên, Móng Cái với mấy chục giường bệnh, vài chục nhân viên y tế phục vụ chủ yếu cho bọn thực dân nhà binh và chủ mỏ, sau 10 năm giải phóng (đến hết năm 9164), Quảng Ninh có 5 bệnh viên, với 150 – 300 giường bệnh, 24 bệnh xá với 1.425 giường, 41 bác sĩ, 7 dược sĩ cao cấp, 522 y dược sĩ trung cấp, 1.056 y tá hộ sinh; toàn tỉnh có 171 trạm y tế, với hàng nghìn y sĩ, y tá. Nhiều xã có y sĩ, dược sĩ trung cấp, bình quân một vạn dân có một bác sĩ, một nghìn dân có một y tá, 220 dân có một giường. Nhiều bệnh nguy hiểm như đậu mùa, dịch tả và một số bệnh xã hội bị đẩy lùi và tiêu diệt(1).

Cùng với ngành y tế, sự nghiệp giáo dục cũng có nhiều tiến bộ rất quan trọng. Trong vòng 10 năm, số học sinh đã tăng 10 lần chưa kể số học sinh mẫu giáo và vỡ lòng. Toàn tỉnh có 5 trường cấp III, nạn mù chữ đã được xóa bỏ ở miền xuôi(2).


(1) 55 năm chiến đấu và xây dựng…, sđd, tr. 67, 68.
(2) 55 năm chiến đấu và xây dựng…, sđd, tr. 67, 68.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 09:56:26 PM
Sáng ngày 2 tháng 2 năm 1965 (mùng một tết Nguyên đán Ất Tỵ), Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Quảng Ninh.

Tại cuộc mít tinh của tỉnh tổ chức tại sân trường cấp III Hồng Gai, Bác đã tặng ngành than “Cờ thưởng luân lưu thi đua khá nhất”. Đây là lần đầu tiên Bác tặng cờ thi đua cho công nhân mỏ. Đồng chí Bí thư tỉnh ủy thay mặt công nhân mỏ biếu Bác hòn than đầu tiên của Kế hoạch khai thác than năm 1965 mang tên “Vì miền Nam ruột thịt”. Bác vui vẻ nhận hòn than và tươi cười nói:

“Bác mong sớm được các chú tặng hòn than cuối cùng của kế hoạch năm 1965 trước thời hạn nhiều ngày”.

Cả sân trường sôi động trong tiếng vỗ tay hưởng ứng lời Bác.

(https://lh3.googleusercontent.com/A3ts1lIqepSpuy8zIaGVldvKgw4ZliwhObh4VYcg8wf0k0S5sLPBTAg4jInruKDrfymqTLRpvaY2Hdlb42a-nKCbgo4bhL50py1t1NjaEtQAI-6qVXdlXj-G59IJK-wQQRC21GOgNvf1iWV8UMFiVgXoVlE-vxlBcL6icsVlL5vihXFr6W0MiqE4IpNzccu8QV_WiBMwRMolLQXq5qq36mOGoq1k4RbPwhfTHIXgr5O-Wnd-hjGL33r75t13mN7lm35S5YDZPb2E0QK9ZTCNffvDpVPJ-_sbt4gtY8SI_BoVna3bzVv7Z7k7Nh7I7HBGLAgl4K_I1VzHrKYUf8PrCugBRcmZZNnocEPGgXYPnX7cbzG2MR4-2QpSw3lTPTtnVI-wxzKp-VyCuazJawGtGvQBLV9JEhgyQ2L16ROld16Npthgf0Q9c4aYsht00D6uqb-m2xSpYM3I7iSu0yXxRuWIaJf73L7GfRx0BeZZeNRJFsyMsdAZnDO5X6EHu4rT-SSUkiGsOjDu_YltaDsTbFfpG9VKssjNeHlgfV8_FI0-Tbslw7LR_7DK2Gikd2y4Zk5Wy7Ai4kUBw7P7BspShWZ7HKwokc8_YmX8FBjKNg=w1024-h751-no)

Bác Hồ về thăm nhân dân thị xã Hồng Gai tháng 2-1965

(https://lh3.googleusercontent.com/i4ZII4UUC1r8WTYAhycoO4t2Eq-lRIBgOBR-yrA4MI4eUwYZUdjfpq1gkEw3kKSO_myrhe1IaHUshzQIM6VHHdACwV4KdFXOZ3Gf2Ikjuld1qrLTV_oSePgYz0HYTmTWGzhwIh27sRuBCjdFzMOhI0FmBS6CwTjSbyECF_LB3YoXqebJJU8ePlClImw1qsNpHVvA6vOKZd4jV6-SZHd9intIuca1qYWyqiTDxGQrP5rYx2u_SWSMyFdmNjSY9i4tyeCbbJMUwKra8HUaIDch5LbmThvAs8_3-QmDjP4DBq_p5X3kBLSNFcLqQFHzTKt--ocyIXu5GARZ_5ZcXJVxjnN_fwp2Gdnfeb1jY6VR40xpGcglsyErXBg8xwO5u55ZAymqLxQuBodaty9ZqVxhI8bd737uWbM8_d1wF_3iBqxLOgB-sqrJA0o-ieHf5hln6J81uhCQ_NoEJUNixskWRYVeCJuSzAMdr-CNDxkT1FKlJSYj8xCf3ioXhf0PnWLVgXIMR9eFtPxV7vR9K3pIOFyVApCluc6Ex5vmi6JyfnL9xPG5WWISxGudiAyiMq0aFmvL3OLHBR8j76xu6qvIyVXI3aZbVZyHZR2p5bUs7A=w538-h832-no)

Cờ thưởng luân lưu "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng quân và dân Đông Bắc, cuối năm 1965

Trưa mồng một tết, trên đường trở về Hà Nội, đến đoạn đường uốn quanh đồi Yên Lập (Yên Hưng) bát ngát đồi thông, cây cao, bóng mát, tiếng chim, tiếng thông reo bình yên, Bác Hồ và đoàn đã dừng lại nghỉ trưa.

Ghi nhớ nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng chân, đảng bộ và nhân dân Yên Hưng đã xây một nhà nhỏ sáu mái với hai hàng ghế để đồng bào qua lại, vào đây vãn cảnh có ghế ngồi nghỉ chân, có mái che mưa, nắng. Phia sau ngôi nhà có tấm bia ghi mấy dòng lưu niệm: “Ngày mồng 2 tháng 2 năm 1965, trong dịp về thăm và vui tết Ất Tỵ với quân dân tỉnh Quảng Ninh, Bác Hồ đã thăm đồi thông Yên Lập”. Phía dưới bia có hai câu thơ của Người:

“Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 09:57:47 PM
*
*   *

Trước nguy cơ sụp đổ của ngụy quyền miền Nam, đến năm 1965 ngay sau khi thắng cử tổng thống Mỹ, Giôn-xơn càng lao sâu vào bước đường trực tiếp xâm lược nước ta. Một mặt tăng cường quân Mỹ ở miền Nam, mặt khác Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, coi đó là một bộ phận không thể thiếu được, một “biện pháp bổ sung chứ không phải biện pháp thay thế cho cuộc chiến tranh trên bộ của Mỹ ở miền Nam”(1). Mục tiêu cụ thể của Mỹ là:

- Ngăn chặn mọi sự chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam.

- Phá hủy tiềm lực kinh tế, quốc phòng, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc.

- Uy hiếp tinh thần, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

Từ ngày 7 tháng 2 năm 1965 đến ngày 13 tháng 2 năm 1965, lấy cớ đánh trả đũa các vụ quân dân miền Nam tiến công doanh trại quân Mỹ ở Plây Cu và Quy Nhơn… Giôn-xơn quyết định mở rộng các hoạt động đánh phá miền Bắc thành cuộc chiến tranh phá hoại vì “những hành động trả đũa từng thời kỳ dựa trên cơ sở một trả một sẽ thiếu sức thuyết phục của một sức ép liên tục”. Tướng không quân Mỹ Lơ Mai còn nói: “Không quân là quyết định, không quân sẽ là công cụ chiến thắng. Bằng không quân chúng ta có thể đạt được bất cứ mục tiêu nào trên ghế giới này. Bắc Việt Nam hãy sờ lên gáy, nếu không chúng ta sẽ tàn phá tan hoang đẩy lùi Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá. Dưới bom đạn Mỹ, Bắc Việt Nam không chịu nổi vài tuần”.

Cũng thời gian này Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 11 và ra nghị quyết về tình hình nhiệm vụ cấp bách trước mắt. Hội nghị nhận định: “Do những âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ, tình hình một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hòa bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh… Miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn”.

Quán triệt Nghị quyết 11 của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã khẳng định nhiệm vụ của đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh là: “Vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Ra sức nâng cao mọi cố gắng đánh bại chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân của địch. Tích cực chống chiến tranh mở rộng, từng bước vững chắc có trọng điểm, giữ vững an ninh trật tự địa phương, kiện toàn tổ chức, nâng cao trình độ quân sự, chính trị, phát triển mạnh mẽ dân quân tự vệ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới”.

Dựa vào sức mạnh toàn diện của tỉnh và được Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc, Bộ tư lệnh Hải quân và Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân trực tiếp chi viện lực lượng chiến đấu bảo vệ khu công nghiệp than, nhiều đơn vị phòng không được xây dựng gấp, nhiều tổ đội bắn máy bay tầm thấp của dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, công an vũ trang đã ra đời và triển khai rộng khắp.

Tiểu đoàn 217 phát triển thành trung đoàn pháo cao xạ 217. Trung đoàn pháo cao xạ 243 chốt giữ Uông Bí. Ngày 16 tháng 9 năm 1965 thành lập tiểu đoàn pháo cao xạ 237 bảo vệ Cửa Ông(2). Lực lượng phòng không cơ động của Quân chủng Phòng không – Không quân có 2 trung đoàn tên lửa và 2 trung đoàn pháo cao xạ bảo vệ tên lửa. Theo quyết định của Bộ tư lệnh Hải quân, từ giữa tháng 7 năm 1965, các đơn vị tàu thuyền thuộc căn cứ Bãi Cháy triệt để phân tán ra các đảo thuộc vịnh Hạ Long và Bái Tử Long sẵn sàng đánh địch. Trên một dải ven biển từ Hồng Gai đến Cẩm Phả, 20 tàu của các phân đội 2, 3, 6,7 và 100 đã thả neo, treo cờ cách mục tiêu trong bờ từ 2.000 đến 3.000m. Ngoài những tàu bảo vệ mục tiêu trực tiếp, còn có các biên đội đón lõng ở các luồng để đánh địch bay vào hoặc bay ra. Năm khu vực phòng thủ của Quân khu Đông Bắc có 6 đại đội phòng không bố trí trên các đảo.

Lực lượng dân quân tự vệ có 3 đại đội pháo 37mm và 200 khẩu súng máy cao xạ 12,7mm..

Đến giữa tháng 6 năm 1965, kế hoạch tác chiến phòng không do Bộ tư lệnh Quân khu chủ trì được Thường vụ tỉnh ủy cho ý kiến, và các đơn vị phối hợp nhất trí, xác định trọng điểm địch sẽ đánh phá và ta phải tập trung bảo vệ là Hồng Gai, Uông Bí và thị xã Cẩm Phá trong đó Hồng Gai là trọng điểm của trọng điểm. Những trọng điểm của Hồng Gai là nhà máy điện cọc 5 và cảng Hồng Gai.


(1) Lời Mác Na-ma-ra, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, theo tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 8 năm 1964.
(2) Tiểu đoàn trưởng Nông Ích Sơn, chính trị viên Lê Xuân Hoài, chính trị viên phó Phan Văn Đạt, hai tiểu đoàn phó Nguyễn Liên và Trần Hương.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 09:59:09 PM
Sau ngày Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, ba vạn thanh niên, bộ đội phục viên, xuất ngũ ở tất cả các huyện, thị làm đơn đăng ký nhập ngũ hoặc tái ngũ. Thanh niên khu mỏ phát động phong trào “3 rèn luyện, 3 sẵn sàng” chống Mỹ cứu nước, mở đầu phong trào thanh niên 3 sẵn sàng của miền Bắc.

(https://lh3.googleusercontent.com/NNPhe98i1LbWLDAoEcH6AFMQ0C1NOfSN2_J7Sy5vFX4xYoGKgBg-W3k9-p5ohg_h2aNCAa-jY-DO0SZi5BRcXD1k6fYsvCHGGnJq3UyJUWjsv3TFTZfXLSs3yY3bedJRk8OxUEyzki3t4ZOH1HdJPGngXPM_vXINz8vlh23GQiqcns0oYVPh7Kk_pV-Pe_THvATr5T08GTdQlYtHF1g_68JzlhKUfchkrfwr6V1PgJL-S8EwQUDqGZvOlwQiHycxp1xzMHhD-Tce8TLXYjJ84QdIhyGG1NQ3kNFHY_lK2bTMzDGAURMo5qhymOh_dUddijOqwPNFNfDMoU3DvgOO01yBWPfhuYfs6rvIsQQpt7pe3En2Qkl9-SaAxMvgMR7s7wBc4F5LAu4UXW2_gYP1j21WFQ88zxzEv3zmE80YF-3TW_ChdvFDOHaX2s3UTvI2OHQK7dZkSu_zmolSHn0Ro8oLpAvn8cZc49net32jyl3AwmeOeWpUcQLB7ceQU2wh2PW9VYEkvxTohJjablTL-lqjLTFoRohVVH2QLj5I_kWlbXAaMLIEPMI6B6bD6oda8jvAdnqCYIZlFXpjPKQUzYNoO3JXBzxD4cGazomHRQ=w1024-h645-no)

Thanh niên Đông Triều hăng hái kí tên lên đường chống Mĩ, cứu nước (năm 1965)

46 bà mẹ và vợ bộ đội ở thị xã Cẩm Phả gửi thư về tỉnh đội: “Chúng tôi xin hứa đảm nhiệm sản xuất than để chồng con đi chiến đấu, đảm nhiệm gia đình để chồng con yên tâm tại ngũ. Trước tình thế cách mạng khẩn trương, chúng tôi đề nghị các cấp lãnh đạo quyết định cho chồng con được tái đăng để làm nhiệm vụ cách mạng chiến đấu”.

Đại đội tự vệ nhà sàng Cửa Ông có bước củng cố tổ chức. Hai cấp ủy viên được bổ sung vào ban chỉ huy đại đội. Toàn đơn vị học xong chương trình bắn máy bay bằng súng bộ binh. Trong thi đua săn xuất, tự vện làm nòng cốt thực hiện: “3 quản” (năng suất cao, phẩm chất tốt, giá thành hạ), có tuần vượt 187 tới 197 tấn than sàng, ngày đạt năng suất cao nhất được 288 – 339 xe, rồi 351 xe một ca.

Ở Hà Cối, 1.256 dân quân tự vệ thuộc 16 đơn vị của cá dân tộc từ vùng ven biển Sơn Khu tập hành quân chiến đấu, mang theo trang bị trên chặng đường rừng dài 19km. Tất cả đều đến nơi quy định tại lâm trường Chúc Bài Sơn.

Huyện Bình Liêu sơ kết 6 tháng, học chính trị đạt 94,3%, học quân sự 89,9%, các cơ sở tập báo động trị an. Dân quân tự vệ Bình Liêu đi đầu làm thủy lợi đạt 19.551 công, góp phần xứng đáng giành cờ luân lưu của ngành thủy lợi tỉnh. Trong 6 tháng, dân quân tự vệ các xã cấy lúa thu hoạch được 10.620kg đủ cung cấp cho các ngày dân quân tập trung học tập, huấn luyện.

Xã biên giới Ninh Dương (Móng Cái) trải dài trên sông Ca Long, 90% dân số làm nông nghiệp. Mùa huấn luyện, dân quân kết hợp sản xuất theo lịch. Sáng sớm, chiều tà làm việc đồng áng. Lưng trưa, lưng chiều huấn luyện hoặc học chính trị. Thời gian xen kẽ như vậy trâu đỡ đứng nắng. Toàn xã có một tuyến ven biển dài 10km, nhưng khi có báo động, chỉ hai giờ sau anh chị em đủ mặt. Năng suất lao động của dân quân thường đạt gấp đôi xã viên. Toàn xã có 130 công sự chiến đấu, phòng không. Ninh Dương là xã lá cờ đầu về dân quân của huyện Móng Cái.

Tiếng súng chống chiến tranh phá hoại đã làm thức tỉnh Bình Ngọc (Móng Cái), một xã nằm giữa hai xã Trà Cổ và Vạn Ninh, từng “vác đèn đỏ” trong phong trào dân quân của huyện từ năm 1963 trở về trước. Tình trạng “người ngủ, súng ngủ” đã đi đến độ súng hoen gỉ. Số dân quân đi thuyền trên biển 4-5 tháng không về, xã đội vẫn báo cáo quân số có mặt. Được học tập tình hình nhiệm vụ, cấp ủy tự phê bình về việc coi nhẹ lãnh đạo tổ chức và hoạt động của dân quân tự vệ. Từng bước phong trào được vực dậy. Hoàn thành chương trình huấn luyện bắn máy bay tầm thấp bằng súng bộ binh. Hầm hố phòng không dọc các tuyến đường chính cùng 2km hào giao thông được đào đắp vừa để tránh bom đạn vừa cơ động chiến đấu. Chiến dịch thủy lợi của huyện phát động, dân quân đóng góp 2.000 công bảo đảm nhanh gọn, có chất lượng tốt.

Ngày 19 tháng 8 năm 1965, nhân sự kiện miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ, Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc kêu gọi các lực lượng vũ trang quân khu học tập các đơn vị, các tỉnh bạn, đẩy mạnh công tác chuẩn bị mọi mặt, ra sức thi đua bắn rơi máy bay Mỹ bay thấp với phương châm:

- Bắn gần, bắn tập trung, bắn chắc trúng.

- Bắn rơi từ loạt đạn đầu.

- Bắn rơi máy bay tại chỗ.

- Bắt sống giặc lái nhanh gọn.

- Bắn tiết kiệm đạn.

- Bảo đảm an toàn cho người và vũ khí, trang bị.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 09:59:49 PM
Nhân kỷ niệm lần thứ 20 quốc khánh 2 tháng 9 (1945-1965), Tỉnh ủy ra chỉ thị về công tác phòng không, sẵn sàng chiến đấu và quyết tâm bắn rơi máy bay Mỹ. Chỉ thị nhấn mạnh: “Các cấp ủy đảng phải tăng cường lãnh đạo quân sự hơn nữa. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc cơ quan quân sự địa phương chấp hành nghị quyết quân sự của tỉnh ủy. Đồng thời lãnh đạo các ngành tích cực giúp đỡ các cơ quan quân sự địa phương trong việc xây dựng dân quân tự vệ, xây dựng phương án tác chiến và hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ. Kiên quyết đánh bại mọi âm mưu, hành động chiến đấu bằng đường không, đường biển hoặc âm mưu tăng gián điệp, biệt kích của đế quốc Mỹ xuống địa bàn tỉnh”.

Ngày 20 tháng 8 năm 1965, Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc tổ chức trao cờ “Đơn vị quyết thắng” được Hội đồng Chính phủ tuyên dương, trong đó Quảng Ninh có 4 đơn vị: Đại đội tự vệ nhà máy sàng Cửa Ông, dân quân xã Đầm Hà (huyện Cẩm Phả), dân quân xã Minh Châu (huyện Cẩm Phả), phân đội 4 công an nhân dân vũ trang.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Phó bí thư, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh truyền đạt ý kiến của tỉnh ủy, yêu cầu cấp ủy các cấp “nắm vững nhiệm vụ trung tâm là sản xuất và chiến đấu, bảo đảm sẵn sàng khi địch đến là đánh được, đánh là phải thắng. Khi địch đi lại sản xuất giỏi, đảm bảo thực hiện đầy đủ các chỉ tiêu về than, điện, gỗ, lương thực, thực phẩm mà Đảng và Chính phủ giao cho tỉnh. Thực hiện kỳ được lời dạy của Bác Hồ hồi đầu xuân Người về thăm khu mỏ”.

Thực hiện âm mưu, thủ đoạn đánh phá Quảng Ninh từ tuyến đảo vòng ngoài, ngày 20 tháng 9 năm 1965, một tốp máy bay Mỹ trong đội hình 24 chiếc A.4 và F.4 vào đánh cầu Sông Hóa trên tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn. Lúc quay ra hai chiếc sà xuống đánh phá xã Ngọc Vừng (huyện Cẩm Phả). Theo dõi sát đường bay lúc địch vào, đơn vị trực chiến của trung đoàn 242 phối hợp với các trận địa 12,7mm, các tổ săn máy bay bay thấp của dân quân tự vệ bám địch từ xa. Khi mục tiêu xuất hiện, các đơn vị nổ súng. Một loạt đạn chính xác của lưới lửa tầm thấp bắn rơi một máy bay Mỹ. Lúc đó là 11 giờ 45 phút. Đây là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi ở vòng ngoài Quảng Ninh.

Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc quyết định trao cờ thưởng luân lưu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” cho quân dân đảo Ngọc Vừng.

Đảng ủy Tổng công ty than Quảng Ninh gửi điện mừng chiến công của đảo Ngọc Vừng. Bức thư có đoạn viết: “Chiến công của các đồng chí nhắc chúng tôi sẵn sàng tay búa, tay súng hơn nữa. Thay mặt ba vạn cán bộ, công nhân ngành than, chúng tôi hứa với các đồng chí sẽ xứng đáng là những người đứng ở tuyến đầu sản xuất của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với truyền thống công nhân mỏ trong chiến đấu”.

Ngày 5 tháng 10 năm 1965, lần đầu tiên đế quốc Mỹ sử dụng kết hợp lực lượng các liên đội 15 từ sân bay U-đôn và lực lượng liên đội 8 ở sân bay Đà Nẵng đột nhập từ hướng Quảng Ninh vào đánh đường 1A. Địch cho rằng trên hướng này, lực lượng phòng không của ta mỏng, ở đây lại có nhiều địa hình che khuất để tận dụng tầm cao có thể bay thấp an toàn. Mặc dù vậy, trận đánh của các lực lượng phòng không ba thứ quân lần đầu phối hợp trên một địa bàn rộng lớn nhưng diễn ra chủ động, quyết liệt. Ngay từ phút đầu, ở khu vực Yên Hưng, tiểu đoàn tên lửa 81 do tiểu đoàn trưởng Phạm Sơn và chính trị viên tiểu đoàn Trần Đình Khánh chỉ huy bắn rơi một máy bay F105 (thần sấm). Đội hình máy bay địch bị rối loạn. Nhiều tốp hạ độ cao liền bị lưới lửa tầm thấp đón đúng tầm bay, nổ súng chính xác, bắn rơi 2 chiếc nữa. Trong trận này bí thư và chủ tịch huyện Yên Hưng cùng tham gia chiến đấu với các chiến sĩ cao xạ. Đêm hôm trước vào chiếm lĩnh trận địa, các đơn vị tên lửa, pháo khòng không được nhân dân các xã quanh vùng giúp đỡ hàng nghìn cây chuối để ngụy trang trận địa trước lúc trời sáng.

Cùng thời gian đánh Yên Hưng, nhiều tốp máy bay địch bay qua, bay lại đánh Hoành Bồ. Ở một trận địa dân quân phối hợp với bộ đội cao xạ, đồng chí Châu Màn Dưỡng, dân tộc Sán Dìu, lúc địch đến đánh phá, máy bay bổ nhào xuống mục tiêu, anh đã quỳ xuống cầm càng trung liên lên vai để Voòng Mán Kim nổ súng. May bay giặc Mỹ bị bắn rơi, tiếng reo hò của bà con trong làng bản dội vào vách núi.

Hai tốp từ hướng Hoành Bồ vòng qua Hà Tu tháo chạy ra biển bị lực lượng mỏ và đơn vị súng máy phòng không cảnh giác, đánh trúng, bắn rơi một chiếc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:00:20 PM
Ở phía Cửa Ông, ngay từ 8 giờ sáng ngày 5 tháng 10 máy bay địch bắt đầu xuất hiện rồi lại lởn vởn bay ra. 10 giờ 47 một tốp đánh lén rồi bay ra biển. 11 giờ 4 phút, hai máy bay Mỹ lợi dụng các triền núi phía bắc bay thấp đánh một số điểm, các đơn vị pháo của tiểu đoàn 237 và súng tầm thấp của tự vệ nhà sàng nã đạn quyết liệt, bắn rơi một chiếc, bắn bị thương một chiếc khác. Trên đường tháo chạy ra biển, chiếc máy bay bị thương từ Cửa Ông khi lao qua Ngọc Vừng bị quân và dân trên đảo bắn rơi.

Chỉ trong một ngày 5 tháng 10 năm 1965, quân và dân Quảng Ninh anh dũng bắn rơi 7 máy bay Mỹ.

Điện khen của Bộ Tổng tư lệnh có đoạn viết: “Chiến thắng ngày 5 tháng 10 của các đồng chí là đòn trừng phạt nghiêm khắc đối với giặc Mỹ xâm lược, làm nức lòng đồng bào ta trong cả nước. Chiến thắng đó biểu hiện tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, tinh thần tích cực tiêu diệt địch, sự tiến bộ nhanh chóng và vững chắc về kỹ thuật của các lực lượng vũ trang nhân dân ta.

Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhiệt liệt khen ngợi và tuyên dương công trạng toàn thể cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chiến thắng, nhiệt liệt khen ngợi đồng bào các dân tộc Quảng Ninh… đã hết lòng giúp đỡ và đoàn kết chiến đấu cùng các lực lượng vũ trang đánh thắng giặc Mỹ xâm lược…

Các đồng chí hãy phát huy mạnh mẽ khí thế chiến thắng, luôn luôn cảnh giác, đoàn kết quân dân, tiến lên lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa”.

Ngày 6 tháng 10 năm 1965, Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc gửi thư khen ngợi đồng bào, chiến sĩ Yên Hưng, Hoành Bồ, Hà Tu, Cửa Ông, Ngọc Vừng đoàn kết chiến đấu, tích cực giúp đỡ các lực lượng vũ trang nhân dân lập chiến công oanh liệt ngày 5 tháng 10 năm 1965.

Phát huy khí thế chiến thắng, ngày 7 tháng 10 năm 1965, quân và dân Hà Tu bắn rơi một chiếc và Cửa Ông bắn rơi một chiếc.

Bà mẹ Hoàng Thị Nhâm (Cửa Ông) được tận mắt trông thấy chiếc máy bay bị bộ đội ta bắn rơi. Không quản tuổi già, mẹ chạy lên trận địa tặng chiến sĩ 2 quả bưởi, 10 quả cam.

Tự vệ cơ quan xí nghiệp bến Cửa Ông và cơ khí kịp thời có mặt ở vị trí được phân công để phối hợp chiến đấu. Nhân viên các cửa hàng công nghiệp phẩm, thực phẩm, gánh nước ngọt, đem thuốc lá, sữa lên tặng bộ đội.

Sau trận 5 tháng 10, đoàn văn công Quân khu Đông Bắc xuống tận trận địa Cửa Ông, đem lời ca, tiếng hát phục vụ chiến sĩ. Ngày 7 tháng 10, các diễn viên văn công lại trở thành đồng đội cùng chung chiến hào chiến đấu với các chiến sĩ đánh trả máy bay Mỹ.

Ngày 5 và 7 tháng 10 năm 1965, Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc quyết định ghi tên các đơn vị đã lập công bắn rơi máy bay Mỹ vào cờ luân lưu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” do Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng.

Ngày 9 tháng 10 năm 1965, Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh tổ chức lễ mừng chiến thắng. Trong diễn văn tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Thọ Chân, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy nhấn mạnh: “Trận chiến thắng ngày 5 tháng 10 là một trận phối hợp tuyệt đẹp của các quân binh chủng và lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn tỉnh, và là chiến thắng lớn kể từ trận thắng ngày 2 tháng 8 năm 1964…”.

Vào các ngày 16 và 17 tháng 10 năm 1965, máy bay Mỹ lại đến đánh phá Quảng Ninh, bị quân và dân các địa phương bắn rơi 2 chiếc.

Rút kinh nghiệm những trận chiến đấu ngày 5 và 7 tháng 10 năm 1965, các địa phương khẩn trương làm thêm hầm hố phòng tránh dọc các trục đường chính, quanh các khu vực có trận địa cao xạ, tên lửa, trong các nhà máy, cơ quan, công trường. Ở Hồng Gai, Uông Bí, Cẩm Phả đã có kế hoạch sơ tán người già, trẻ nhỏ vào các nơi an toàn. Các cơ quan lãnh đạo của tỉnh ủy chuẩn bị điểm sơ tán ở Trại Me. Cơ quan Ủy ban hành chính tỉnh chuẩn bị khu vực làng Bang. Một số hang được cải tạo, làm nơi hội họp. Các cơ quan quân sự tỉnh, quân khu chuyển dần vào hướng từ Việt Yên đến Đồng Ho (Hoành Bồ). Kho tàng quý hiếm phân tán sâu vào phía những dãy núi đá, gần các trục đường chính. Nhà máy xí nghiệp chuyển từng bộ phận, từng bước. Riêng nhà máy điện cọc 5 chia làm hai bộ phận cho phù hợp thời chiến, gồm bộ phận tải điện và bộ phận phân phối điện. Trường học, cửa hàng dịch vụ, bệnh viện sơ tán theo từng khu dân cư, bảo đảm ổn định đời sống nhân dân.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:00:49 PM
Sau khi nhận danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”, từ 30 tháng 9 đến 10 tháng 10 năm 1965, đảng ủy và giám đốc xí nghiệp bến Cửa Ông giao cho tự vệ quản lý sản xuất. Để đáp ứng tình hình nhiệm vụ mới, đại đội tự vệ nhà sàng được phát triển thành tiểu đoàn, do giám đốc làm tiểu đoàn trưởng, bí thư đảng ủy kiêm chính trị viên. Tự vệ trực tiếp sản xuất vượt 98%.

Ngày 8 tháng 11 năm 1965, nhiều tốp máy bay luồn thấp từ dãy núi Yên Tử lao tới đánh lén cầm Dầm (Đông Triều) trên trục đường 18. Ở khu vực cầu chỉ có hai tổ trực chiến của hai xã bên cầu (Hưng Đạo và Xuân Sơn). Phía trong có các tổ trực chiến đấu của tự vệ và một số xí nghiệp quanh vùng. Đây là một khu vực trống trải. Cầu ngắn, đường nhỏ, sông hẹp. Máy bay bay thấp ném bom không chính xác, phóng rốc-két vọt xuống sông. Hai tổ chiến đấu do trung đội trưởng Nguyễn Văn Vẹn chỉ huy, bình tĩnh và kiên quyết đánh trả địch. Trong công sự của tổ một có hai anh em ruột Nguyễn Văn Chiến và Nguyễn Văn Hội phụ trách khẩu súng máy cao xạ 12,7mm và cô gái Nguyễn Thị Thúy Phương, 17 tuổi tiếp dạn. Nhiều đợt địch giội bom quanh cầu, quanh công sự, anh chị em vẫn chờ địch xuống thấp mới nổ súng. Một quả bom nổ cạnh công sự, Hội hy sinh. Chiến bị đất vùi. Cầu vẫn chưa bị sập. Một số máy bay Mỹ bị bốc cháy. Sau trận chiến đấu, xã đội trưởng Anh, chính trị viên Miết cùng một số tự dự bị bổ sung cho tổ của Vẹn, đưa Hội và Chiến về phía sau.

Rút kinh nghiệm các trận chiến đấu tháng 10 năm 1965, chỉ huy trung đoàn 217 quyết định đưa một tiểu đội trinh sát lên đỉnh núi Bài Thơ làm nhiệm vụ quan sát báo mục tiêu cho các đơn vị chiến đấu. Giám đốc tổng công ty than cũng đưa lên lưng chừng núi Bài Thơ còi điện công suất lớn để thông báo, báo động cho toàn thị xã Hồng Gai.

Tiểu đội trinh sát do Ngô Huy Trinh làm tiểu đội trưởng. Được trên giao nhiệm vụ, anh dẫn sáu chiến sĩ tìm đường lên núi. Trong khi tiểu đội họp xác định nhiệm vụ, có chiến sĩ phát biểu: “Ngày 1 tháng 5 năm 130, các đảng viên cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân mỏ đã mưu trí, luồn qua các vành đai kiểm soát của địch trèo lên núi cắm cờ Đảng, soi đường chỉ lối cho phong trào công nhân mỏ. Đỉnh núi Bài Thơ trở thành ngọn núi lịch sử. Tiểu đội cần làm gì để xứng đáng với truyền thống bất khuất của Đảng”. Ba ngày sau, anh em tìm được lối đi. Việc lên xuống phải có thời gian tập luyện, lúc lên thì mỏi, lúc xuống thì chồn chân, có đoạn dốc đứng phải leo bằng tay.

Lập được vị trí quan sát trên đỉnh núi, anh em bắt đầu rèn luyện “đôi mắt thần”, đôi tai có trình độ “bắt mục tiêu, ước lượng cự ly, tầm hướng” chuẩn xác. Từ trên đài quan sát, nhìn phía trước là biển, là núi đá, còn ba phía nữa, xa xa là rừng thẳm, gần hơn là núi trùng điệp. Lúc thường tập quan sát máy bay xuất hiện trong muôn hình vạn trạng địa hình trước mắt, kết hợp dùng máy kiểm tra về tầm xa, độ cao. Lúc thời tiết xấu, hoặc ban đêm rèn luyện tai nghe âm lượng động cơ. Máy bay của lực lượng hải quân, động cơ nghe rít, âm rền đằng sau rất nặng và lâu tan. Máy bay của không quân Mỹ tiếng rít nghe như xé rất dữ nhưng âm vang lại nhẹ hơn và chóng tan. Máy bay có một dải khói ở phía sau đuôi là F.4, hai dải khói là A.6, loại có thùng dầu phụ đầu cánh là F.105, loại để thùng dầu phụ sát thân là A.6…

Ngày ngày các chiến sĩ trinh sát đeo súng, đeo bi đông nước, ngực lủng lẳng ống nhòm, lưng cõng tăng võng, một tay xách nồi cơm, một tay chống gậy leo núi. Do khổ luyện và thường xuyên ở vị trí quan sát, anh em đã kịp thời báo cáo chỉ huy khi máy bay địch xuất hiện.

Ngày 25 tháng 11 năm 1965, máy bay Mỹ vào đánh phá đảo Cô Tô., Cảnh giác cao, sẵn sàng chiến đấu tốt, quân dân địa phương bắn rơi một chiếc ngay khi chúng chưa kịp gây tội ác.

Tiếp tục củng cố, nâng cao sức chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu giành thắng lợi to lớn hơn. Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc điện nhắc các đơn vị cao xạ, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ các địa phương:

- Đoàn kết, tin tưởng sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, các tỉnh ủy, nêu cao quyết tâm đánh thắng địch trong tình huống khó khăn nhất, phức tạp nhất.

- Hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, tránh bản vị địa phương, đề phòng hiện tượng suy bì, tranh công đổ lỗi cho nhau.

- Kịp thời rút kinh nghiệm, bổ sung phương án tác chiến, thường xuyên rèn luyện, sẵn sàng đánh thắng địch ngay từ loạt đạn đầu, bắn rơi tại chỗ, tiết kiệm đạn, bắt sống giặc lái.

- Đẩy sản xuất đặt năng suất cao “một người làm việc bằng hai”, vừa chiến đấu vừa sản xuất thắng lợi.

- Không chủ quan tự mãn… tránh hiện tượng bỏ lỡ thời cơ do thiếu sẵn sàng chiến đấu, bắn máy bay địch ở độ quá cao, quá tầm hiệu lực của vũ khí hiện có hoặc bắn vuốt đuôi

Đảng ủy và giám đốc mỏ Hà Lầm tổ chức thêm 5 tổ bắn máy bay tầm thấp, làm thêm 17 trận địa, đào 450m giao thông hào. Trong “chiến dịch than Bầu Bàng”, ba ngày đầu, tiểu đoàn tự vệ mỏ đạt từ 2.352 tấn – 2.405 tấn. Ngày chủ nhật và làm thêm trong giờ nghỉ được 1.037 tấn. Đây là kỷ lục cao của mỏ.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:01:07 PM
Huyện Hoành Bồ tổ chức 13 tổ trực chiến, 23 tổ kết hợp chiến đấu với sản xuất.

Huyện Đông Triều tổ chức 21 tổ trực chiến.

Cuối tháng 11 năm 1965, Thường vụ tỉnh ủy họp. Đồng chí Vũ Đình Mai, trung tá – phó tham mưu trưởng Quân khu Đông Bắc báo cáo một số nét về địch trong những ngày đánh phá tháng 10 năm 1965. Từ nhận xét tổng quát về đường bay, thủ đoạn đánh phá của máy bay địch ở những điểm vòng ngoài vừa là thăm dò, vừa là để kéo lực lượng bố trí ở các trọng điểm Hồng Gai, Uông Bí lùi ra, Thường vụ tỉnh ủy nhận định: “Có khả năng địch sẽ đánh lớn vào Uông Bí nhằm phá nhà máy điện mới hoàn thành giai đoạn hai. Cần lãnh đạo và chỉ đạo các đơn vị ở bất kỳ tình huống nào, bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, bảo vệ vùng trời, bảo vệ mục tiêu… và ra nghị quyết lãnh đạo quân và dân trong tỉnh đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ trong chiến đấu và sản xuất, thực hiện “giặc đến là đánh, giặc đi lại tiếp tục sản xuất với năng suất cao, chất lượng tốt, bảo đảm hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước năm 1965”.

Ngày 15 tháng 12 năm 1965, địch đánh một số cơ sở xung quanh Uông Bí. Quân và dân địa phương cảnh giác đánh tốt, bắn rơi 2 chiếc, có một chiếc F.105 rơi tại chỗ.

Ngày 20 tháng 12 năm 1965, địch lại gây gội ác ở Uông Bí. Quân và dân địa phương hiệp đồng chặt chẽ bắn rơi 4 chiếc. Cùng ngày, quân dân ven biển Quảng Ninh đón đúng hướng bay của địch, bắn rơi 2 chiếc.

Mờ sáng ngày 22 tháng 12 năm 1966, đúng ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 2 máy bay A6-A vào đánh lén nhà máy điện Uông Bí. Tiểu đoàn 81, trung đoàn tên lửa 238 (trong cụm tiền phương III cơ động hướng đông bắc) tiêu diệt một chiếc bằng 2 quả đạn. Ngay sau đó, tiểu đoàn pháo phòng không bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 81 do tiểu đoàn phó Mẹo chỉ huy bắn rơi tại chỗ một chiếc. Đến 13 giờ 50 phút, 16 chiếc A.4-E chia thành 4 tốp, lợi dụng dãy Yên Tử làm vật che khuất, theo lòng núi Vàng Danh vào đánh nhà máy điện Uông Bí. Các lực lượng bảo vệ nhà máy bắn rơi 1 chiếc A.4-E. 20 phút sau, 3 tốp A.4-E vào đánh đợt 2 bị bắn rơi thêm một chiếc. 15 giờ 30 phút, máy bay của hải quân Mỹ tiếp tục vào đánh phá nhày máy điện, bị ta đánh trả quyết liệt. Các trận đánh diễn ra hầu như suốt ngày và kết thúc lúc 16 giờ. Đánh phá nhà máy điện Uông Bí, đế quốc Mỹ đã sử dụng hơn một trăm lần chiếc xuất kích từ ba tàu sân bay In-téc-pơ-rai-giơ, Kít-ti-hốc và Ti-côn-đê-rô-ga đánh đi đánh lại tới bốn lượt. Lực lượng phòng không cụm tiền phương 3 cùng các lực lượng bảo vệ nhà máy của Quân khu Đông Bắc (trung đoàn cao xạ 243) và dân quân tự vệ Uông Bí chiến đấu lên tục, khéo kết hợp giữa đánh địch vòng trong với đánh địch vòng ngoài, giữa chốt và cơ động nên đạt hiệu suất cao: 5 máy bay địch bị bắn rơi, trong đó 3 chiếc rơi tại chỗ. Nhà máy diện vẫn được bảo vệ an toàn.

Hôm sau, ngày 23 tháng 12 năm 1965, giặc Mỹ lại đến gây tội ác, bị quân dân Uông Bí bắn rơi 1 chiếc.

Qua 4 ngày (15, 20, 22 và 23 tháng 12 năm 1965) toàn tỉnh bắn rơi 14 máy bay phản lực của không quân và hải quân Mỹ. Riêng Uông Bí bắn rơi 12 chiếc.

Ngày 24 tháng 12 năm 1965, Bộ Tổng tư lệnh điện khen quân dân Quảng Ninh: “Chiến công của Quảng Ninh 4 ngày bắn rơi 14 máy bay là một đòn trừng phạt đánh vào hành động leo thang mới của giặc Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, làm đồng bào cả nước nức lòng phấn khởi nhân kỷ niệm ba ngày lễ lớn, 19, 20, 22 tháng 12 năm 1965”.

Uông Bí chiến thắng vì đảng bộ Uông Bí chuẩn bị tốt, theo tinh thần nghị quyết của thị ủy: “Tích cực tiêu diệt địch, bảo vệ mình, hạn chế sự thiệt hại về người và của đến mức thấp nhất”. Từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 12 năm 1965, những người thuộc diện sơ tán đã rời khỏi thị xã 100%. Nội thị chưa đầy 2km2, nhưng những người ở lại chiến đấu, phục vụ chiến đấu đã có hàng nghìn hầm và 7km hào giao thông.

Trận 22 tháng 12, dân quân tự vệ nhà máy điện, máy nước, các phố Lê Lợi, Đông Tiến, Vũ Phong… chiến đấu rất dũng cảm. Có tổ bị bom nổ gần trận địa, súng và người bị đất vùi, có người bị ngất, sau khi được cứu chữa vẫn không rời trận địa.

Trong không khí dào dạt niềm vui chiến thắng của quân dân hai miền Nam – Bắc, các lực lượng vũ trang Quân khu Đông Bắc tiến hành Đại hội mừng công năm 1965. Đại hội phấn khởi được đón Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam về thăm và động viên.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:02:19 PM
Tại đại hội này, thay mặt tỉnh ủy, ủy ban hành chính tỉnh và đồng bào các dân tộc Quảng Ninh, đồng chí Phó bí thư, Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh đã khẳng định: “Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Ninh luôn đặt rõ trách nhiệm của mình là đoàn kết, giúp đỡ các lực lượng vũ trang của Đảng, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước”.

Trước khi bế mạc, đại hội đã long trọng làm lễ trao cờ thưởng luân lưu của Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam cho dân quân tự vệ Quảng Ninh.

An ninh và quốc phòng được giữ vững, phong trào quần chúng đã góp phần vây bắt 7 toán gián điệp biện kích gồm 71 tên. Tập trung cải tạo 533 tên phản cách mạng và phạm tội khác(1).

Làm trong sạch các địa bàn trọng điểm nhất là vùng biên giới, rẻo cao và hải đảo. Đặc biệt từ ngày 5 tháng 8 năm 1964 đến ngày 23 tháng 12 năm 1965 bắn rơi 45 máy bay phản lực Mỹ.

Trong khói lửa chiến tranh, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Quảng Ninh vẫn được tăng cường và củng cố.

Trong công nghiệp, sản xuất than từ năm 1965 có bước phát triển mới, bắt đầu khôi phục các mỏ Vàng Danh, công suất thiết kế 50 vạn tấn/năm. Tuy vừa xây dựng vừa sản xuất và mới khai thác 29.000 tấn/năm nhưng đã góp phần vào tổng sản lượng khai thác than năm 1965 – năm kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất – đạt trên 3 triệu tấn, gấp 2 lần sản lượng năm cao nhất thời thuộc Pháp.

Năm 1965 sản lượng diện gấp 7 lần hồi mới giải phóng.

Ngày nông nghiệp năm 1964 đã hoàn thành với mức kế hoạch lương thực Nhà nước giao, sản lượng lương thực năm 1964 tăng gấp 2,15 lần năm 1955. Nông dân cơ bản tự túc được lương thực mà trước kia Nhà nước vẫn phải bao cấp.

Năm 1965 số học sinh phổ thông lên tới 59.871 em, chiếm 12,4% dân số.

Lực lượng cán bộ kỹ thuật tốt nghiệp đại học và trung học tăng lên nhanh. Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã có 873 cán bộ kỹ thuật cao cấp, trung cấp các ngành kinh tế, trong đó có 64 nữ, tăng 66 lần so với năm 1962, tăng 2 lần so với năm 1964.

Cuộc vận động xây dựng đảng bộ, chi bộ “4 tốt” đạt kết quả cao. Năm 1965, số đảng viên đạt tiêu chuẩn khá và tốt, tăng lên 70% số chi bộ khá tốt tăng lên 50%. Số chi bộ trong công nghiệp trung ương và cơ quan, tỷ lệ đảng viên khá và tốt từ 80% trở lên.

Việc xây dựng đảng bộ, chi bộ “4 tốt” có hiệu quả là nền tảng cho công tác phát triển đảng viên đi đúng hướng, lấy năng cao chất lượng làm chính.Trong 3 năm phát triển 4.122 đảng viên. Tỷ lệ đảng viên được kết nạp năm 1965 so với 1964, thành phần cơ bản tăng từ 42% lên 46%, phụ nữ tăng từ 9% lên tới 11,2%, thanh niên từ 6% lên 61%, cán bộ công nhân kỹ thuật từ 10,7% tăng lên 30,6%, người dân tộc từ 3% tăng lên 10,7%. Hai năm 1964-1965 đảng bộ đã xóa được 75% cơ sở trắng ở tổ, đội sản xuất, hợp tác xã, bản làng trước kia chưa có đảng viên, nay có đảng viên và đã thành lập 14chi bộ và đảng bộ cơ sở.

Những thắng lợi trên đây đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng của Quảng Ninh, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cuộc đấu tranh giải phóng của đồng bào miền Nam ruột thịt.

Cùng với thắng lợi của miền Bắc, quân dân miền Nam đã đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất của Mỹ - ngụy, giáng một đòn nặng nề vào chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm cho niềm hy vọng lật ngược thế cở ở miền Nam bằng lực lượng Mỹ của chúng đã lung lay.


(1) 55 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Đảng bộ và quân dân Quảng Ninh, tr.69.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:04:18 PM
Từ ngày 24 tháng 12 năm 1965 đến ngày 31 tháng 1 năm 1966, sau 37 ngày ngừng ném bom, giặc Mỹ lại tiếp tục mở cuộc tiến công đánh phá miền Bắc.

Giữa tháng 4 năm 1966, Thường trực Quân ủy Trung ương giao cho Quân chủng Hải quân “triển khai lực lượng tàu tuần tiễu, hiệp đồng các lực lượng vũ trang trên bờ, sẵn sàng đánh máy bay địch để bảo vệ mục tiêu quan trọng ở khu vực Đông Bắc”.

Ngày 18 tháng 4 năm 1966, giặc Mỹ cho nhiều tốp máy bay vào đánh nhà máy diện Uông Bí.

Ngày 19 tháng 4 năm 1966, 24 máy bay Mỹ vào đánh Cửa Ông, cọc 6, trạm biến thế điện Mông Dương, thị xã Cẩm Phả.

Tại Cửa Ông, địch sử dụng 37 lần chiếc đánh 5 giờ liền vào nhà máy sàng và các cầu số 10, số 20. Trong một trận đánh, địch ném bom làm hỏng cầu 20. Kiên quyết trừng trị giặc Mỹ gây tội ác, quân dân địa phương đã bắn rơi 2 chiếc. Ngày 29 tháng 4 năm 1966 bắn rơi 4 chiếc. Ngày 1 tháng 5, mừng kỷ niệm ngày Quốc tế lao động, Quảng Ninh bắn rơi 1 chiếc, ngày 5 tháng 5 bắn rơi 3 chiếc và 11 tháng 5 bắn rơi 2 chiếc. Trong vòng 22 ngày, Quảng Ninh bắn rơi 12 chiếc. Trận ngày 5 tháng 5 năm 1966, tổ săn máy bay của đại đội 3, đoàn bộ binh 2 do trung đội phó Nguyễn Trọng Hùng cùng 4 chiến sĩ Phạm Thắng, Nguyễn Văn Côn, Nguyễn Văn Quyền, Mai Quý Hải là tổ săn máy bay đầu tiên của Quân khu Đông Bắc dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay Mỹ.

Đến cuối tháng 5 năm 1966, giặc Mỹ đã đánh phá hầu hết các cơ sở sản xuất chủ yếu của vùng than. Các đơn vị chiến đấu của phòng không, hải quân, dân quân tự vệ, công an vũ trang trình độ sẵn sàng chiến đấu cao, sức chiến đấu được nâng lên, thế bố trí hỏa lực tập trung, địa hình thuận lợi, trên bộ có đồi núi là trận địa của lực lượng phòng không mạnh, trong vịnh, giáp bờ có núi, đảo, vịnh sâu, luồng rộng, tàu hải quân cơ động dễ dàng, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, ngày đêm kiên cường đánh trả các hành động gây tội ác của địch, bảo vệ an toàn nhà máy điện cọc 5, nơi sản xuất chủ yếu trong các các hoạt động của vùng mỏ.

Những ngày cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1966, Mỹ sử dụng một lực lượng lớn không quân triển khai chiến dịch “Sấm rền” 50 An-pha tập trung đánh phá 4P(1), trọng tâm là đánh kho xăng dầu.

Ngày 30 tháng 6 năm 1966, ban thường vụ công đoàn Tổng công ty than Quảng Ninh thay mặt ba vạn công nhân mỏ gửi thư tới Ban thư ký công đoàn mỏ quốc tế (U. L.B.M) tố cáo trước dư luận thế giới tội ác đế quốc Mỹ đã gây ra cho công nhân mỏ. Thư có đoạn viết: “Từ 5 tháng 8 năm 1964 đến nay, Mỹ đã cho máy bay bắn phá 12 lần xuống các khu vực sản xuất, nơi sinh hoạt ăn ở của khu gia đình công nhân mỏ. Chúng còn bắn cả vào câu lạc bộ, công viên, nhà trẻ, nhà trường, bệnh viện… làm nhiều nhà đổ, nhiều người chết và bị thương, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em”.

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, giặc Mỹ sử dụng 24 máy bay F.105 đánh kho dầu Đức Giang (Hà Nội) và 24 máy bay hai quân đánh kho dầu Thượng Lý (Hải PHòng).

Trước tình hình đế quốc Mỹ đã leo thang đánh vào Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và nhiều địa phương khác, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết chuyên đề chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, đặc biệt bảo vệ thủ đô Hà Nội, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Ngày 7 tháng 7 năm 1966, dân quân xã Nam Hòa (Yên Hưng) theo dõi, “quản lý chặt” đường bay của Mỹ, cảnh giác cao, sẵn sàng chiến đấu tốt, và chỉ với súng bộ binh, anh chị em bắn rơi một chiếc máy bay phản lực Mỹ. Đây là đơn vị dân quân đầu tiên trong tỉnh dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay Mỹ.

Cùng ngày, đơn vị trực chiến săn máy bay của đoàn 3 chủ động đánh địch, bắn rơi một máy bay Mỹ.

Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc gửi thư khen hai đơn vị nói trên.


(1) 4P là Pétrôn: dầu, Port: cảng, Pont: cầu, People: người.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:05:18 PM
Đầu tháng 7 năm 1966 Hội đồng quốc phòng tối cao nước ta họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Căn cứ quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố lệnh động viên cục bộ, “động viên một bộ phận sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị và một bộ phận công dân thuộc ngạch dự bị nhưng chưa phục vụ tại ngũ” để tăng cường lực lượng quốc phòng, đẩy mạnh công cuộc đấu tranh chính nghĩa cứu nước vĩ đại của nhân dân.

Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ cứu nước, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Người chỉ rõ: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Vì độc lập của Tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mỹ, toàn quân và toàn dân ta đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.

Tháng 8 năm 1966, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định mở một chiến dịch tiếp nhận xăng dầu của các nước bạn vừa đưa đến vịnh Hạ Long. Thời kỳ này, đêm đêm tại khu chuyển tài dầu ở vịnh Hạ Long đã diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt giữa các tàu hải quân và các lực lượng khác đánh trả máy bay Mỹ. Đây thật sự là một cuộc chiến tranh trí tuệ, được thể hiện trong từng đường đạn chính xác, từng giọt mồ hồi và công sức của mỗi con người, mỗi tập thể, trên từng chiếc xà lan, máy kéo. Trước khi trời tối, tàu thuyền, ca nô, xà lan ra bơm dầu còn phân tán rải rác quanh những hòn núi muôn vẻ, mà nghệ thuật ngụy trang đã làm cho các loại máy bay trinh sát Mỹ không thể phát hiện được. Tối đến trên vùng vịnh không một ánh đèn và nhiều đêm không có cả trăng sao, nhưng ca nô, xà lan vẫn tìm đến áp mạn tàu dầu, bơm hút đủ khối lượng rồi rẽ sóng tỏa đi trong các luồng lạch vùng vịnh an toàn.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, trên công trường khai thác than Hà Tu, máy xúc E6 vượt 15%, EKQ2 vượt 40m3, máy khoan BU 5.7.16.22 vượt từ 100% - 150%.

Năm 1966, tỉnh Quảng Ninh dẫn đầu các tỉnh miền Bắc về phong trào trồng rừng, phủ xanh đồi trọc.

Từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 7 năm 1966, máy bay địch đột nhập bắn phá một số vùng Quảng Ninh. Quân dân địa phương cảnh giác, đã bắn rơi 8 máy bay Mỹ.

Ngày 22 tháng 7 năm 1966, 3.000 dân quân tự vệ Yên Hưng phần lớn là tuổi trẻ nam nữ đã mít tinh vũ trang với khẩu hiệu ”Quyết thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ”; sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần đến.

Trong các ngày 5, 6, 7 và 8 tháng 8 năm 1966 các đơn vị, địa phương trong tỉnh bắn rơi 9 máy bay nhân kỷ niệm hai năm chiến thắng trận đầu (5-8-1964 – 5-8-1966), trong đó tiểu đoàn 237 bảo vệ yếu địa Cửa Ông bắn rơi 2 chiếc. Đặc biệt, ngày 15 tháng 8 năm 1966, tổ trực chiến dân quân xã Xuân Sơn (Đông Triều) bảo vệ cầu Cấm do xã đội phó Nguyễn Văn Vẹn chỉ huy và các chiến sĩ cũ của tổ trong đó có Nguyễn Thị Thúy Phượng mới được kết nạp Đảng, anh dũng bắn rơi một chiếc. đó là chiếc máy bay thứ 100 bị bắn rơi trên bầu trời Quảng Ninh.

(https://lh3.googleusercontent.com/6sQol58CnQxHEBlCKgmRP-69DBcU2n3Za2_c-RZCEMbR3isJTCGC9l2QaaDu1Sn1U3XpxfRMkGNw6DV6HMLa9FDCeoKoGoqUdi8MILqPOGwrnpbClnrLtJ6h-ipPXsw8KbjxKu_hcBGN40nfGHJPLMjpqB30uSKvxuGQWHkUFS4ullQEWQP7W6g07cp1qcOO1ANioDl7Ump9y6bO8Wt2sK5MraNMSpm1E9wOumxX5nuHAeajrQLuRYv5XpUOVZtsA2oJV7_MYhQJ_kyPWmwxkwmr0-E1T9E1_d4fTSXtQUPqFLCMH_ZdmhgVXmEtz84LARsZ3JQqNqjwQ1c-ZbD6sJ07LOyBcxPqxxrPUnsL8hCn0PHntQ2l1eT7QqnEgCo53S3Kni_gois5MtKQGa1a4WV3tPqs9JuC7FI4M2FTYfp6f0-fqprgSPXsH85Ypb0gykBBZUuhcj_JUSlTLHtbit6RMahLEo5ilQAIs_JC83L_eec6ULJhWE_PHrAv3jxdDFHyoihzXiZZcuiOUaKZQ-1222YWQ2KxPsSAm4-PRm6GUi_ajSWdUya1vMimETTCOlaqtUIns1mKPOJ-MnwbmVOHmbs5KEguLpJRj_vHCw=w1024-h589-no)

Dân quân xã Xuân Sơn dũng cảm chiến đấu bắn rơi chiếc máy bay thứ 100 trên vùng trời Quảng Ninh (1965)

Vào các ngày 13, 22, 23, 28, 29 và 30 tháng 8, Quảng Ninh bắn rơi 10 chiếc, trong đó có một chiếc do dân quân Minh Thành (Yên Hưng) bắn rơi bằng súng bộ binh (28 tháng 8 năm 1966).

Thi đua thực hiện lời Bác gọi, chỉ trong tháng 8 năm 1966, Quảng Ninh bắn rơi 28 máy bay Mỹ, là một trong những địa phương bắn rơi nhiều máy bay nhất của miền Bắc.

Nhân một tháng lập công xuất sắc, Quảng Ninh vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen: “Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi đồng bào các dân tộc, bộ đội và cán bộ tỉnh ta. Quân và dân Quảng Ninh hãy phát huy truyền thống anh hùng của đất mỏ, luôn luôn đoàn kết chặt chẽ, nâng cao cảnh giác, đánh tan mọi âm mưu tội ác của giặc Mỹ, lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa trong chiến đấu và sản xuất”.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:06:53 PM
Sau hai năm xây dựng và chiến đấu, lực lượng tự vệ bến Hồng Gai đã tăng gấp 3 lần, có trang bị tốt, được huấn luyện giỏi và năm nào cũng dẫn đầu thị xã về thành tích toàn diện. Chiến sĩ Lê Viết Lung có sáng kiến làm bộ phận thay thế người lắp đạn, người nâng báng của súng máy. Trịnh Ngọc Tú nghiên cứu làm được chiếc kìm gỡ bom tổng hợp, tiện lợi, đỡ cồng kềnh, giảm chi tiêu và hiệu quả cao. Đoàn Thị Quy, cô thợ điện và là chiến sĩ tự vệ dũng cảm, có lần trèo lên chòi cao tắt van gió, bảo đảm an toàn cho máy trong khi địch đánh phá ác liệt. Đầu máy xe lửa số 13, lá cờ đầu ngành đường sắt, 3 năm liền là tổ lao động xã hội chủ nghĩa, 100% cán bộ, chiến sĩ tự vệ, công nhân bến vừa dũng cảm ngoan cường đưa tàu vượt qua bom đạn, vừa đưa than về bến an toàn.

Trong sản xuất, tự vệ bến Hồng Gai thực sự là lực lượng nòng cốt cả về năng suất và cải tiến kỹ thuật. Chiến sĩ tự vệ Trần Đình Tiến có sáng kiến làm bộ phận lá gấp cuốn gầu múc than luyện, tăng năng suất từ 1.000 đến 1.200 tấn. Hoàng Trung An, một tự vệ dũng cảm, khi địch đánh kho bị cháy, đã dũng cảm trèo lên mái, vạch tôn nhảy xuống cứu hàng giữa lúc lửa đang cháy lan sang gian hàng. Anh vinh dự được Bác Hồ thưởng huy hiệu của Người.

Trên khu vực phà Bãi Cháy – Hồng Gai, dưới sự chỉ huy kiên quyết và mưu trí của thuyền trưởng Hiệp, các thủy thủy Quang, Nho, Nhân, Tục, Tít trong nhiều chuyến phà gặp máy bay địch đánh phá, vừa bắn trả máy bay Mỹ, vừa hướng dẫn không để đồng bào nhảy xuống nước. Với các xử trí linh hoạt và quyết tâm của mình, thuyền trưởng Hiệp từng lái phà chạy tắt vào các bến phụ, tránh hướng bổ nhào của máy bay Mỹ bảo đảm an toàn cho người và phương tiện.

(https://lh3.googleusercontent.com/wNmMNn72rXIarzfx5oxq94-IQNvMzEDvjsssQ5Z1Ptm_NKMIQZad0oi7PzYksz-ZMFXkEpCCUM7GRPjeMsSYE4Jh9uhEQgS7NW9nG_Qrt0L7iAwYWH-8ohRUisa-q24h6Vh6cZkvZl97fOE_f_7FFFP7HX8g5RJ_p_JKtNl3oT6OQmpf7GYd9A4s7LJd5q6iHT4Bo2bLRbL-PA7Lj0S0NBtUTQ7ZJX8ZK7s060rBtrwoXaB11m_qk3YWXSYQTdXojn8nIP6JqRWbhqaxvh4tf5kcTHd1ItE-CPTO9Y8qXtb7OhQ0_uCWDO9ePxCWPcor1AP85TNF6slrSEbqWUaTJ7ItH_AhP3vKLdNqFJLzS-eQ0k2-6MeVT0YmfKVirp4zgCYrkpbvDszkCb9RPyzIQtfSO_MWb8NCdhM1-s4M5yTom_IQESsTkAdxR54xc0x8G40vXghbGNJYvkYfsO2LZMcD_1tA5RQhKPrX1-HXJr6VUo4tdkH92WAn9HNwzrcEfAcwxV6fcII5D7ucixUAsO5SAom9-Ca4Bt_rhykp9OFo2vjYqRekQfU0pnx2BkFIzjGnnCqZvdfnqqteZpcFfkOgU-EOA4yt9VQqORpnIA=w800-h514-no)

Mặc cho địch đánh phá ác liệt, công nhân bến phà Bãi Cháy vẫn đảm bảo giao thông

Trong hai ngày 6 tháng 9 và 9 tháng 9 năm 1966, Quảng Ninh bắn rơi 4 chiếc, trong đó có một chiếc bị bắn rơi ban đêm.

Các ngày 14, 27, 29 tháng 9 năm 1966, Quảng Ninh bắn rơi 3 chiếc, trong đó có một chiếc do dân quân xã Liên Vị (Yên Hưng) bắn rơi từ một trận địa nổi. Vì địa thế xã hẹp, phía nam giáp sông, phía đông là biển, không nơi nào có thể làm trận địa bắn máy bay, dân quân phải lợi dụng các bãi sú vẹt, vượt đất, làm công sự. Khu vực sú vẹt này là hướng máy bay địch bay xuất hiện. Nhân dân trong các làng chở từng thuyền đất góp vào ụ súng, từng thuyền có thể ngụy trang. Khi di chuyển trận địa từ làng ra trận địa nổi 5-6km, phải chuyển súng đạn trên vai, lội bùn, rẽ sút vẹt mà đi. Cơ động ra đây rất gian khổ và khó khăn. Dưới bùn thì hà bám vào vách các tảng đám ngầm gây rách xước bàn chân, muỗi, dĩn vo ve từng đàn, từng đám. 12 giờ đêm anh chị em cơ động từ trận địa 1 sang trận địa 2 vì hướng này, địch xuất hiện nhiều. Sáng sớm, địch lợi dụng mặt biển bay là là mặt nước. Hai chiếc F.8U bay vào hướng trận địa. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Liên chỉ huy, phất cờ bắn chiếc đi đầu. 4 khẩu đội súng máy cao xạ 12,7mm đồng loạt nổ súng. Đường đạn chính xác, một đám lửa từ thân máy bay bùng lên, rồi từng đốm, từng đốm lửa là tả rơi xuống biển. Cách trận địa 5km, máy bay địch lao xuống biển.

Từ trong nhà thường trực ủy ban, bí thư đảng ủy cùng xã đội trưởng Đỗ Văn Hòa chạy ra trận địa chúc mừng dân quân xã nhà chiến thắng. Tổ trực chiến đã thực hiện được lời hứa bắn rơi máy bay Mỹ ngay từ loạt đạn đầu và rơi ngay trong vùng biển quê hương.

Chiến thắng của Liên Vị, Minh Thành, Nam Hòa (Yên Hưng) có được trước hết là do cấp ủy, xã đội có quyết tâm cao, nắm vững thủ đoạn hoạt động đánh phá của địch, đã xây dựng trận địa cơ động (chính, phụ) đúng hướng, đúng ý định tác chiến, các mặt đời sống tinh thần, vật chất của dân quân được chuẩn bị chu đáo, từng tổ tích cực rèn luyện chiến thuật, kỹ thuật, bảo đảm không ngừng nâng cao sức chiến đấu, từng tổ đoàn kết giúp đỡ nhau tận tình. Trong quá trình huấn luyện và chiến đấu, anh chị em dân quân được cấp ủy, chính quyền biểu dương kịp thời.

10 giờ sáng ngày 7 tháng 11 năm 1966, tự vệ mỏ cọc 6 do tiểu đoàn phó Phan Văn Cư chỉ huy, cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao bắn rơi một máy bay Mỹ. Đây là chiếc máy bay Mỹ thứ sáu do dân quân tự vệ bắn rơi trên địa bàn tỉnh.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:07:53 PM
Đầu tháng 12 năm 1966 Tỉnh ủy Quảng Ninh mở hội nghị mừng chiến thắng năm 1966. Đồng chí Nguyễn Tuân, Bí thư tỉnh ủy (thay đồng chí Nguyễn Thọ Chân) và đồng chí Đoàn Phụng, đại tá Chính ủy Quân khu Đông Bắc đến dự.

Trong báo cáo mừng chiến thắng, tính từ ngày 5 tháng 8 năm 1964 đến hết ngày 10 tháng 12 năm 1966, Quảng Ninh đã bắn rơi 124 máy bay Mỹ,. Riêng tháng 8 năm 1966, thực hiện lời Bác dạy, Quảng Ninh bắn rơi 28 máy bay Mỹ. Thị xã Uông Bí chưa đầy 2km2, nhưng do công tác phòng tránh tốt, địch đánh 24 trận thả 122 bom loại 250kg nhưng chưa có trường hợp thương vong nào khi đang ẩn náu trong hầm. Góp vào chiến công chung, công sức nhân dân phục vụ chiến đấu rất lớn: Yên Hưng 30.000 công, huyện Cẩm Phả 10.000 công. Trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tỉnh đã làm được ba việc lớn.

- Tháo gỡ bom, tránh thiệt hại cho dân, ổn định tư tưởng, đẩy mạnh công tác sản xuất và sinh hoạt.

- Cấp cứu người bị thương, chôn cất người bị nạn.

- Bảo đảm giao thông thông suốt.

Nói chuyện với hội nghị, đồng chí Nguyễn Tuân, Bí thư tỉnh ủy đề cập ba nguyên nhân dẫn đến chiến thắng:

- Các lực lượng vũ trang nhân dân hiệp đồng chặt chẽ nên tạo được sức mạnh tổng hợp để chiến thắng.

- Ở tất cả các cấp, các điểm, chiến đấu quyết liệt, các đơn vị địa phương tự khắc phục nhiều khó khăn về trang thiết bị, về điều kiện sinh hoạt, khắc phục hậu quả địch đánh phá nhanh chóng kịp thời.

- Trong chiến đấu ác liệt vẫn bảo đảm sản xuất.

Hội nghị mừng chiến thắng còn nêu lên hai vấn đề nổi bật:

- Con người và vũ khí, vũ là quan trọng, nhưng con người là quyết định.

- Trong chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại, lực lượng vũ trang làm nòng cốt và nhân dân là lực lượng quyết định, vì nhân dân là nguồn cung cấp nhân tài vật lực cho cuộc chiến đấu, giải quyết hậu quả trong tất cả các tình huống với mọi thứ phương tiện có trong tay…

Bước vào năm 1967, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc, Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh long trọng tổ chức lễ đón nhận danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đơn vị tự vệ nhà máy sàng Cửa Ông. Cũng trong dịp này, đồng chí Lý A Coỏng được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Bản tuyên dương đại đội tự vệ nhà sàng Cửa Ông ghi rõ: “Là đơn vị tự vệ không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, nêu cao khẩu hiệu: sản xuất giỏi, chiến đấu dũng cảm. Trong các năm huấn luyện quân sự, tự vệ nhà máy sàng Cửa Ông đều là đơn vị dẫn đầu toàn thị xã, thường xuyên làm tốt công tác trị an, bảo vệ an toàn nhà máy”.

Vào cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, qua nhiều trận thử lửa, tự vệ nhà sàng Cửa Ông đã dũng cảm làm tròn nhiệm vụ của mình, chiến đấu giỏi, phòng tránh tốt, phục vụ chiến đấu tận tụy, giải quyết nhanh hậu quả sau chiến đấu, bảo vệ tính mạng của công nhân, tài sản cho nhà nước, góp phần cùng dân quân thị xã bắn rơi 17 máy bay Mỹ. Ngay từ năm 1960, đơn vị tự vệ nhà sàng Cửa Ông được tặng danh hiệu đơn vị “3 nhất” toàn miền Bắc, năm 1963 là đơn vị “3 nhất” đầu tiên của khối dân quân tự vệ, được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng ba, được 80 đơn vị dân quân tự vệ kết nghĩa giao ước thi đua; năm 1965 được tặng danh hiệu “đơn vị quyết thắng” đầu tiên của khu mỏ.

Bản tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lý A Coỏng có ghi:

“Là người dân tộc Dao, 41 tuổi, bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội xã Thanh Y huyện Đầm Hà. Là cán bộ vùng rẻo cao, đồng chí Lý A Coỏng đã đem hết tài năng và trí tuệ của mình phục vụ bản làng.

Trên cả hai cương vị bí thư chi bộ và chính trị viên xã đội, đồng chí Lý A Coỏng đều làm tròn nhiệm vụ với bản làng, xây dựng tốt đời sống và làm tốt công tác trị an, bảo vệ bản làng yên vui.

Đồng chí Lý A Coỏng luôn tin tưởng, trung thành với Đảng, nắm vững và vận dụng tốt đường lối chính sách của Đảng ở địa phương mình và được Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước tuyên dương là người chỉ huy gương mẫu, người cán bộ dân quân trọn vẹn với bản làng”.

(https://lh3.googleusercontent.com/MY9CuxtuSln_1fFrFuHelJ1mHzoisy-6Ajpm0gxbzqy2EbcGxMUXNkt9irzLlpx_XDeWM1aIzxmUydopvMFjAJs3og_rb5qRHFs88iQFI55d0XqW38piyRIGCHj63jziK-wgJBvXAHoYNUPJZoVomlLZ5VhTUJ7OeMEtjrJyDvNtafsU7Z4soallUtp-mAaghTJdMK5OjG27d0hd3br6Y4V4oeaPQd3aqJqUhtbqGAlbORvAzNA5a_dqjSEESWvWLGEJb4Uj_4DU4E4k4rAc5s8j9h-6j2bE3Dx1X0jbPMqtizjdMLsSYjuqI4-S_UMZeNbgNHmIQ5M-KF4Q_D7sinRz-H5eqtZHJsjX4PA3qK6gwLd2jSXux7-KHo_y86GbYMUc5rC7G3gZKmG40XeNzHlEePGFKocexuUzGwjwuyrsmVxgj4o_TEtA0awtybka821fuZAh85w5jMIBYHPKpRoZ7CPm4c-n2lt2LitcSc4oCoFZamKQ86VDE695lUFTs4hLjqI3dUtPK1c8Q6RqoaG7yy5UcUH5v1R2GUIzPHEn5g5wu_1cjdQkHofe_XWFgimnRZ8vG17lTCumfQGSY75of97AUB2CoTtx2u6pMw=w800-h555-no)

Ông Lý A Coỏng, huyện Quảng Hà, có thành tích bắt biệt kích Mỹ - Tưởng năm 1963


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:09:03 PM
Do yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, tháng 2 năm 1967 Quân ủy Trung ương ra nghị quyết về xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Bắc. Ngày 27 tháng 3 năm 1967 Bộ Quốc phòng ra quyết định hợp nhất Bộ tư lệnh Hải quân và Quân khu Đông Bắc. Bộ tư lệnh Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc. Đại tá Nguyễn Bá Phát được chỉ định làm tư lệnh, đại tá Đoàn Phụng làm chính ủy.

Nhân dịp đầu năm 1967, trung đoàn pháo cao xạ 217 tổ chức mừng công. Ngay từ năm 1966, trung đoàn được cấp trên công nhận đã bắn rơi 12 máy bay Mỹ. Trong năm, tất cả các đơn vị của đoàn đều bắn rơi máy bay Mỹ, bảo vệ an toàn mục tiêu. Đại đội 3 hầu hết là chiến sĩ mới nhập ngũ, sau hai ngày nhận súng đã liên tục cơ động rèn luyện và đã bắn rơi một máy bay Mỹ, được nhận cờ luân lưu khá nhất trung đoàn năm 1966. 50% số chi bộ của đảng bộ, đoàn và liên chi đoàn đạt danh hiệu “đơn vị quyết thắng”. 83,45% số đoàn viên thanh niên lao động đạt danh hiệu “đoàn viên quyết thắng”. 54 đoàn viên xuất sắc được kết nạp vào Đảng, 96 thanh niên được kết nạp vào đoàn, 82,41% số đảng viên đạt tiêu chuẩn “4 tốt”, 48 chiến sĩ thi đua, 8 chiến sĩ quyết thắng.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Trung ương Đảng, một chiến sĩ cách mạng lão thành từng hoạt động trong phong trào công nhân mỏ nhiều năm đã đến thăm và chia vui với cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 217. Cùng đến thăm các đơn vị trung đoàn 217 có đồng chí Bí thư tỉnh ủy.

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 217, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã phân tích tình hình cuộc chiến đấu của quân dân hai miền Nam – Bắc, thắng lợi to lớn của ta, thất bại nặng nề của địch. Đồng chí cũng nhắc lại nhận định của Bộ Chính trị: “Năm 1967 có tầm quan trọng rất lớn đối với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Ở miền Nam, địch sẽ tăng cường lực lượng để đánh nhanh, thắng nhanh, chúng ta phải cố gắng hơn nữa về mọi mặt tạo thời cơ để giành thắng lợi quyết định”.

Sau những đợt đánh phá miền Bắc không đạt mục đích, đế quốc Mỹ chuyển sang hoạt động nhỏ lẻ, đánh phân tán trên các tuyến giao thông. Đầu năm 1967, Bộ tư lệnh Thái Bình Dương đề đạt lên Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ kế hoạch đánh phá miền Bắc với âm mưu leo những nấc thang cao hơn.

Ngày 8 tháng 2 năm 1967 Giôn-xơn gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm dò quan điểm, đồng thời rêu rao trò “tìm kiếm hòa bình” nhằm xoa dịu dư luận trong nước và trên thế giới.

Ngày 15 tháng 12 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của Mỹ. Người đòi Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam và ngừng đánh phá miền Bắc. Cuộc thăm dò ngoại giao bịp bợm của Mỹ thất bại.

Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ quyết định mở các chiến dịch “Sấm rền” và giao cho tập đoàn không quân số 7 và lực lượng đặc nhiệm 77(1) được phép đánh vào toàn bộ sáu hệ thống mục tiêu cơ bản. Đó là điện lực, công nghiệp, giao thông, cơ sở quân sự, kho nhiên liệu và hệ thống phòng không của miền Bắc.

Tháng 2 năm 1967, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị cho các lực lượng vũ trang kiên quyết đánh bại các bước leo thang trong đánh phá bằng không quân và hải quân của địch” và nhấn mạnh: “Việc bảo vệ các tuyến giao thông phải được coi là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang trong việc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ”.

Việc xử lý hậu quả chiến tranh do địch gây ra để duy trì sản xuất là một cuộc chiến đấu giằng co, ác liệt giữa ta và địch trong chiến tranh và ngay cả sau từng trận đánh, không những chỉ sửa chữa trước mắt mà còn phải chuẩn bị cho việc sửa chữa sau chiến tranh. Có làm tốt việc này mới tạo điều kiện cho việc phục hồi sản xuất sau khi chiến tranh kết thúc.

Suốt trong nhiều năm, nhà máy điện Uông Bí, nhà máy diện cọc 5 đã vật lộn quyết liệt với sự đánh phá của địch để sửa chữa, phục hồi nhà máy. Trong trận đánh phá ngày 2 tháng 2 năm 1967, ở nhà máy điện cọc 5, dưới làn đạn bảo vệ tích cực của bộ đội cao xạ, các chiến sĩ tự vệ là công nhân kỹ thuật đã dũng cảm sửa xong đường dây tải điện cho mỏ Hà Tu. Suốt một ngày địch đánh phá Hà Tu nhiều lần và rải xuống đây 42 quả bom các loạn, nhưng khi máy bay địch vừa rời khỏi vùng trời Hà Tu thì nguồn điện từ nhà máy điện cọc 5 đã tỏa sáng, các phương tiện trang bị vận hành bằng điện tiếp tục hoạt động bình thường.


(1) Tập đoàn không quân số 7 chỉ huy các liên đội không quân Mỹ ở Thái Lan, lực lượng đặc nhiệm 77 chỉ huy các liên đội không quân của Hải quân Mỹ trên các tàu sân bay.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:10:34 PM
Ở Cửa Ông, cầu 20 bị đánh đi đánh lại nhiều lần. Chiếc cầu này là gạch nối của tuyến đường 18 qua Cửa Ông đến Mông Dương đi Tiên Yên nối với đường số 4. Lực lượng tự vệ công nhân và nhân dân thị trấn Cửa Ông dũng cảm hoàn tất việc sửa chữa cầu trong tiếng bom nổ chậm.

Giữa lúc Mỹ đang chuẩn bị triển khai chiến dịch “Sấm rền”, tàu Gia-lét-xki (Ba Lan) chở 4.000 tấn thuốc nổ cho Việt Nam, theo lệnh cấp trên sẽ neo đâu trong vùng vịnh Hạ Long. Từ đây, các lực lượng bốc xếp, chuyển tải phân tán đi khắp nơi với thời gian rất khẩn trương và phải bảo đảm tuyệt đối an toàn. Tàu rời cảng Giơ-đi-ne và phải trải qua chặng đường biển 20.000km. Tàu treo biển “chở hàng nguy hiểm” nên dọc đường hầu như ai cũng biết. Riêng tình báo Mỹ đã sử dụng vệ tinh theo dõi tàu Gia-lét-xki cho đến phao số 0. Từ đây, Mỹ lại dùng trực thăng bám tàu đến nơi neo đâu. Để bảo đảm an toàn cho chuyến tàu chở hàng đặc biệt, thuyền trưởng tàu Gia-lét-xki yêu cầu ta bốn điểm:

- Đỗ tàu nơi trời quang.

- Không đỗ gần mục tiêu quân sự.

- Không bắn máy bay từ trên tàu.

- Trừ thuyền trưởng và thủy thủ cứu hỏa ở lại tàu, tất cả thuyền viên phải lên bờ.

Một kế hoạch bốc xếp, chuyển tải 4.000 tấn thuốc nổ được thống nhất giữa bộ chủ quản và lực lượng bốc xếp, chuyển tải của công nhân cảng Hải Phòng, có sự tham gia đóng góp của Quảng Ninh và các lực lượng bảo vệ trên biển, trên bờ.

Với tinh thần quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, toàn bộ số hàng trên tàu đã được bốc xếp và chuyển tải về đêm theo phương thức sang mạn. Khoảng 3.000 tấn xếp xuống xà lan tự hành chuyển đi quay vòng đến các hang núi đã chuẩn bị như: Bồ Nâu, Cửa Giữa, Sửng Sốt, Trinh Nữ… và một số hang khác. Còn 1.000 tấn xếp vào B3, B4 đưa xuống xà lan tự hành 100 tấn rồi đi thẳng đến vị trí tập kết khác.

Con tàu hoàn thành nhiêm vụ và lên đường về nước(1). Nhưng rồi địch cũng phát hiện được khu chuyển tải trên biển này. Chúng liền thả bom chờ nổ, thủy lôi phong tỏa chặn mọi nhánh đường. Hàng chục tàu của ta, của bạn và hàng trăm con người bị dồn vào trong khu đảo nhỏ… Nhưng Mỹ phong tỏa, tại lại phá hết thủy lôi và vùng vịnh của ta nước vẫn trong xanh, luồng lạch vẫn thông suốt.

Để chủ động đối phó tình hình mới, Tỉnh ủy chủ trương mở đợt giáo dục cho quân và dân trong tỉnh nâng cao cảnh giác và vạch trần âm mưu thủ đoạn của địch. Đồng thời về tổ chức, phát triển hình thức tổ quan sát, tổ săn máy bay, trận địa trực chiến, “tay búa tay súng, tay cày tay súng”. Xây dựng làng xã chiến đấu kết hợp hoàn chỉnh các đội bảo đảm chiến đấu. Trong xây dựng “lấy chất lượng làm chính”. Phát triển lực lượng dân quân tự vệ mạnh mẽ, vững chắc, chú trọng phát triển nữ dân quân tự vệ các vùng dân tộc, vùng đảo, các nơi xung yếu.

Trong hai ngày 1 và 10 tháng 3 năm 1967, giặc Mỹ đến gây tội ác, quân dân Quảng Ninh bắn rơi 3 chiếc. Ngày 13 tháng 3 năm 1967, Quảng Ninh bắn rơi 2 chiếc, trong đó tự vệ bến Hồng Gai bắn rơi 1 chiếc. Trước đó đêm 9 tháng 3 năm 1967, giặc Mỹ đánh phá vào một số khu dân cư ở Hồng Gai, quân dân Quảng Ninh chiến đấu dũng cảm, bắn rơi 4 chiếc, trong đó đại đội 5 trung đoàn 217 góp phần bắn rơi 2 chiếc. Vào thời điểm diễn ra chiến đấu, cán bộ chiến sĩ cả đại đội đang bị cúm, nhưng không một chiến sĩ nào chịu nằm trong lán. Chỉ huy chiến đấu là đại đội trưởng Lê Xuân Kiên cùng đại đội phó Dương Đức Thiềm. Trung đội phó Hà Văn Bành vừa thăm gia chiến đấu xong liền được đại đội cử xuống nắm tình hình nhà máy cơ khí, anh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Binh nhất Nguyễn Xuân Đạm thay khẩu đội trưởng chỉ huy gan dạ, bắn mãnh liệt vào đội hình máy bay địch.

Ngày 26 tháng 5 năm 1967, Quảng Ninh bắn rơi 1 máy bay Mỹ.

Ngày 11 tháng 6 năm 1967, Quảng Ninh bắn rơi 4 máy bay Mỹ.


(1) Trong nghề hàng hải thế giới có một vụ nổ tàu phân đạm ở bang Tếch-dát (Mỹ) đã tàn phá hai phần ba thành phố, làm chết 1.500 người, bị thương 3.000 người, mất tích 800 người, tổng thiệt hại lên tới 10 tỷ đô la. Vụ nổ khủng khiếp trên do một nguyên nhân đơn giản, một mẩu thuốc lá vứt bừa làm cháy bao phân bón. Tàu Gia-lét-xki được bảo đảm an toàn là một chiến công tuyệt vời của ta và của ban.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:11:35 PM
Trong một trận chiến đấu phối hợp với tàu hải quân, đồng chí Phạm Văn Hùng, tự vệ nhà máy sàng Cửa Ông đã vào thay thế pháo thủ số 1 của tàu vừa bị thương. Liền sau đó, Hùng cũng bị ba vết thương, nhưng anh vẫn vững vàng trên mâm pháo. Pháo bị hỏng, kho đang bốc cháy, Hùng lại cùng đồng đội vào cứu kho đạn. Ở giờ phút cuối cùng của cuộc đời chiến đấu, anh động viên đồng đội: “Các đồng chí hãy chiến đấu bảo vệ nhà máy thân yêu của chúng ta. Tiền đảng phí của tổ, tôi để ở túi ngực dây, các đồng chí chuyển giúp”.

(https://lh3.googleusercontent.com/AFGrJxZDjEbPFIVQLdhftv_67CI1QN6FUinktPiscaeTZ7BtdBK-AwrzFsU0akUjta43msLxVZl8BY5kftqEfAAGJXDOx_Z2KV4tGT54RP3yW1MIBvIHGiG0m5TJT0B2gxnJpN_LefgsF2bel3AbTrNPixplvP_-hsONf77lktX-GM-NLSuBLxPmrs7pJQj3UFxYg2yBLNh5t0CA7s_ZKKybpIVdVUIovuOGi0s9ZhSP9SMMTB-urvnMN9cfY7UZsOATAF2MNcb-4Xc-pBoH-PBGwVLzkJwdcUvGfFxDWHfbNNiuEuWXq_C49yOylf5ks8ppRbsiQPmel8QS-ArId5elfEoztR31lAsQhCF8WXIA-oKs7R-wlilb45-3wslIktXMPOVsXjJrEGYxifdz7RGHlOeHfSu5SOLfLqzs6Pf1b_CkFSi_BAEEZfaZ65tOghEk-yEjBYaz4fM4hYSaOMg9KCd3gdsiUgK1rPnMN8e2eibI7tXNjWuZJ2CzHTS0FyolGNYV4erc645i1u6Qq1358U3207aYpIxC4dv4IJ6a3r9CWmvNDGWOY_P5oI0VRajmZEOc6F4wcIlv9fZzZHd73pgGCtnTZT_7cEBdPQ=w800-h576-no)

Khẩu đội pháo bảo vệ cảng Cửa Ông, chiến đấu bắn máy bay Mỹ ngày 15/4/1967

Ở nhà sàng, ngoài phân đội trực chiến và cơ động còn có một phân đội sẵn sàng thay thế pháo thủ, phục vụ bộ đội. Có thời gian đơn vị đã huy động 250 lượt người lên tiểu đoàn 237, phục vụ di chuyển trận địa trong 3-4 đêm liền. Có đêm giữa trận đánh quyết liệt, 30 tự vệ xung phong tiếp đạn cho bộ đội.

Chiều 12 tháng 6 năm 1967, hàng chục máy bay Mỹ từ biển lao qua phía bắc Cửa Ông vào đánh tuyến trong. Một chiếc tách khỏi đội hình, vòng ngoặt lại, nâng độ cao rồi lao xuống giội hai quả bom bị mẹ vào trận địa và đồi an dưỡng Cửa Ông. Pháo 88mm không bắn liên động được, đạn nổ rời rạc, không chính xác. Trong trận này, 20 chiến sĩ bị thương vong. Nhân dân Cửa Ông, tiêu biểu là các bà mẹ chiến sĩ đã lên thẳng trận địa đưa anh em xuống hầm sâu trong lòng núi để chăm sóc. 16 chiến sĩ hy sinh được các bà mẹ khâm liệm chu đáo. Đảng ủy và chính quyền Cửa Ông cùng tiểu đoàn 237 ngay đêm đó đã huy động người tổ chức mai táng và làm lễ truy điệu tưởng nhớ các chiến sĩ đã hy sinh anh dũng.

Trả thù cho đồng bào, đồng chí bị giặc Mỹ giết hại, ngày 30 tháng 6 năm 1967, Quảng Ninh bắn rơi một phản lực Mỹ. Đây là chiếc máy bay thứ 142 của địch bị hạn trên bầu trời Quảng Ninh.

Qua ba năm chiến đấu dũng cảm, gắn bó với vùng mỏ, trung đoàn 217 đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu anh dũng.

Trung đội phó Trương Thanh Luyện, người chỉ huy bắn rơi chiếc A.4D đầu tiên trong trận 5 tháng 8 năm 1964, vẫn hiên ngang cầm cờ chỉ huy ở trận địa pháo và liên tiếp cùng đơn vị lập công mới.

Nguyễn Văn Nga, quân khí viên, bị thương còn một tay vẫn chữa pháo cho đơn vị chiến đấu.

Chiến sĩ Nguyễn Văn Thái, ngày ngày tập bắt mục tiêu trong nắng chói lòa. Có đợt địch đánh 4-5 giờ liền, Thái vẫn không lầm lẫn mục tiêu và thông báo kịp thời cho toàn đơn vị.

Khâu đội trưởng Hoàng Quốc Xuôi, bị thương nặng vẫn dựa mình vào thành công sự, tiếp tục chỉ thị mục tiêu chính xác cho khẩu đội nổ súng.

Trần Xuân Luyện, bị mảnh đạn cắm sâu bên hông vẫn điềm nhiên đạp cò, nhả đạn.

Ngô Tiến An cùng một lúc nhận tin gia đình có 5 người thân bị bom Mỹ sát hại, vẫn bình tĩnh chiến đấu.

Ngày 31 tháng 7 năm 1967, dân quân Quan Lạn (huyện Cẩm Phả) bắn rơi một máy bay Mỹ.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:12:49 PM
Cùng thời điểm này, huyện Yên Hưng thành lập trung đội phá gỡ bom mìn, gồm 30 người. Chỉ trong bốn ngày, trung đội đã tìm và phá gỡ được 600 quả bom bi, đẩy lùi một tai họa mà giặc Mỹ cố tình gieo rắc cho nhân dân.

Cuối tháng 8 năm 1967, máy bay Mỹ uy hiếp mạnh mẽ phà Ba Chẽ. Các đơn vị thuộc Bình Liêu, Móng Cái, Hà Cối và tự vệ phà Ba Chẽ phối hợp chiến đấu giỏi, bắn rơi 2 chiếc.

(https://lh3.googleusercontent.com/j9lE-dc_IvjGzvENpcT4aogGrIz6MVNojwBYi-pzYcCklNLxAM_EEfsr-3bwmj9n6KXBHvmS8ncRM5gUwJ6smIfByEnMJ93Oem3uILTMfKzbXtxoNY2apJjDeNReDDuJkd-kIDcjVN9ffp7l2ckDpLBIRjY_8aWdy2fTNtW4YEYBdch-R3illdXYtno9T5OVe9DbmYqRJ-V47N8b-iWrD0HiJTNab6oD9O3iXKM3KragoB0kS8k7fd_SQieEHVXpoAMTrQU8SW54EtzAIOAJeOSUdWd9A_CAlKKFjcPSj6zZzEwETonjy0x5u7hK6ZF0CDisMohjlSqCIepRSlLt2TnEjnkmW7d9th8_u46DrBg1Bwn6EjtkDs8YABaeA06yeKFavg22gOzxqRSFuiec7uaKFm-AUhCw7SMjvq1eQI0AvBOV4EksQHFV-BeQBfZxk-RNd3QFyfH_ep2hMKBW3K9Zz5wE0WSKzWsH60k_dVhUzE__XzFKodjvoLsx4t73E5uM4fo0_atoZDNkBnWg9fQ7eQ6-HhFpAfjdGJ2NaR_QLhZowHfZCK9wZPda6aVkxoRzalWLbKhv4pbusol4hLif7TZdIB3N2Y-tJsns6Q=w1010-h613-no)

Đồng bào Ba Chẽ dùng trâu kéo pháo lên đồi giúp bộ đội bố trí trận địa bắn máy bay Mỹ (ảnh chụp năm 1967)

Ngày 4 tháng 10 năm 1967, nhiều tốp máy bay Mỹ vào đánh phá khu vực Đá Chồng (Hoành Bồ). Bộ đội cao xạ, dân quân tự vệ và công an vũ trang đã phối hợp chặt chẽ, 2 máy bay Mỹ bị đền tội.

Cũng trong năm 1967, việc xử lý bom mìn, thủy lôi địch đã được tiến hành khẩn trương và có nhiều cố gắng. Chỉ với phương tiện thô sơ, công binh Quân khu Đông Bắc và dân quân tự vệ địa phương giải tỏa được cảng Điền Công (Uông Bí) và Bến Triều bị bom từ trường phong tỏa.

Cuối tháng 11 năm 1967, Quảng Ninh tổng kết phong trào trị an tuyến đảo. Ba năm qua, mỗi người dân hải đảo là một chiến sĩ hải quân bám biển, giữ đảo, từng bắt gọn nhiều toán gián điệp, biệt kích, xây dựng mạng lưới an ninh khá rộng khắp, bảo đảm an toàn miền ven biển, bảo vệ hải đảo.

Các đoản Quan Lạn, Minh Châu, Cái Bầu, Ngọc Vừng là những đảo trị an tốt, tổ chức tuần tra ven biển, phục vụ chiến đấu, chiến đấu dũng cảm, sản xuất giỏi.

13 giờ 10 phút ngày 13 tháng 12 năm 1967, hai máy bay F.4H vào bắn phá một số nơi trong tỉnh, ta bắn rơi một chiếc.

Thi đua với các xã vùng ven biển, dân quân xã Thạch Hà, huyện Cẩm Phả coi trọng huấn luyện chiến đấu mặt nước. Trong xã có một thuyền “ba đảm đang” gồm 6 nữ dân quân, 8 thuyền “ba sẵn sàng” thường tập bắn, tập bơi xa, rèn luyện và sản xuất. Trong sóng gió khắc nghiệt, dân quân toàn xã góp 676 công làm 15 trận địa bắn máy bay, có thời gian liền trong 25 ngày đi phục vụ bộ đội chiến đấu, có đêm thức trắng, có lúc phát hiện thủy lôi đã kịp thời rà phá giải phóng luồng lạch. Máy bay địch đánh vào khu ngư trường, anh chị em cứu được 12 người.

Năm 1967, mặc dù địch đánh phá ác liệt, phong trào thi đua bắn rơi máy bay Mỹ trong dân quân tự vệ sôi nổi khắp nơi. Nhiều địa phương khắc phục khó khăn, tích cực xây dựng lực lượng cơ động tìm địch mà đánh, dũng cảm mưu trí. Năm 1967, năm đầu bắn rơi nhiều máy bay Mỹ vào ban đêm, lực lượng nào cũng bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng bộ binh, gấp hai lần năm 1966 (10 chiếc), góp phần cùng quân dân cả tỉnh bắn rơi 168 chiếc (tính từ 6 tháng 8 năm 1964). Xã Năm Hòa (Yên Hưng) bắn rơi chiếc thứ hai trong xã bằng 74 viên đạn súng bộ binh.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:15:02 PM
*
*   *

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở hai miền Nam – Bắc ngày càng giành được nhiều thắng lợi to lớn. Mỹ - ngụy lâm vào thế bị động và liên tiếp bị thất bại.

Bước vào mùa khô năm 1967-1968, quân Mỹ tăng vọt lên tới 48 vạn. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt tết Mậu Thân 1968 giáng một đòn chiến lược bất ngờ, làm cho quân Mỹ - ngụy choáng váng, cả nước Mỹ rung chuyển. Dư luận thế giới hướng vào Việt Nam, ủng hộ và động viên, cổ vũ Việt Nam. Chiến công tết Mậu Thân của quân và dân miền Nam báo hiệu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ.

Ở miền Bắc, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã leo tới nấc thang cao nhất: đánh Hà Nội, thủ đô một nước độc lập có chủ quyền. Đế quốc Mỹ không lường trước được những thất bại cay đắng: 1.067 phản lực các loại bị bắn rơi trên miền Bắc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đứng trước thời cơ thuận lợi mới.

Trong các ngày 29 tháng 12 năm 1967 và 10 tháng 1 năm 1967, quân dân Quảng Ninh bắn rơi 3 máy bay Mỹ.

Mừng chiến thắng đầu xuân, Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu Đông Bắc nhắc các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ ghi nhớ lời Bác dạy “càng gần đến thắng lợi, càng nhiều gian nan”. Các đơn vị hãy chuẩn bị chu đáo tìm mọi cách đánh địch tốt nhất, phòng tránh tốt nhất, nâng cao chất lượng mọi mặt công tác, đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ.

Trong thắng lợi chung, phong trào “3 đảm đang” của phụ nữ Quảng Ninh có bước phát triển mới. Hàng nghìn phụ nữ viết đơn tình nguyện động viên chồng con nhập ngũ. Toàn tỉnh có 92 trung đội nữ dân quân tự vệ. Tất cả các tổ, các đơn vị trực chiến đấu có nữ tham gia. Trong lực lượng dân quân tự vệ, phụ nữ có 7 chiến sĩ quyết thắng, 150 chiến sĩ thi đua, 23.505 phụ nữ đạt danh hiệu 3 đảm đang, 891 phụ nữ tham gia chi ủy đảng cơ sở. Cán bộ nữ cấp huyện chiếm 43,47%, các xã 40,6%. 305 cán bộ nữ có trình độ trung cao cấp công tác trong các ngành kinh tế, nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật. 2.615 chị em là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm hợp tác xã. Tỉnh có 125 trường văn hóa 3 đảm đang cho cán bộ nữ công tác trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. 1.340 nhóm trẻ do phụ nữ trông coi, nuôi dưỡng 7.277 cháu.

(https://lh3.googleusercontent.com/KmDWS245NxemKnwKcwUHx_8MqX79bALbr-IuP6FVbxjx0-oKR3uinT0ZbWcxKwSpMoscLv5DC-rdwezjLesQXp0vS712KmoNilndfBhplYYPQZUxMtGEqcYOZP1_1HWOkbuk6W4zqKkek3TWU1aU_EU_XoxhnPHACTZqQPQhEOtJDGAMmZdiv1z4BxWW1bGF0dP4DtCBnx6wbHqrMW0jLkIalAzvb5we-yfQ-R9IMW1vtEDlYrHYgwB70CDaKjgwv59plvjQ9uRFJekXM92PYiKbeewU0zXjT5DSxm6HUCeEK2umq7_RLWTYZFKF5TcP7S8OhGY36Dqf31tCukHXz4F1COd0L_cNatR7ROOKa7fhge9SAkdGSez_ZEofYQcqp16tB2upv6qMRzFw5jZ2kpHYbZqUemw_CeLWAFUmICbiTXhN6ixMOh684SmTzhCvCa2EIpisyvLpR_RszMyODRZekjWNolqW2kOviuMOxILUpZjJoOCtR9vnWWBsXsCvBIyFyxvy7a3u4MjnD6TDgAbgGdfbYBw-iCQvSyLzGCQF4dzHBxldYvEoHdAXH7KbinRAH6AgEiRWnA8DfeXdh9XO7R2zkq-hZ1HnIwysFA=w1024-h618-no)

Phụ nữ Đông Triều hưởng ứng phong trào chống Mĩ, cứu nước (1964-1965)

Trung đội nữ Minh Vương, trung đội Đông Hải, tiểu đội Võ Thị Sáu đều được tặng danh hiệu đơn vị quyết thắng. Trung đội thuyền 3 đảm đang xã Thạch Hà (huyện Cẩm Phả) đạt danh hiệu đơn vị tiên tiến: hai tháng đầu năm 1967 sản xuất vượt chỉ tiêu 3,7 tấn cá.

Đảm đang ở hậu phương, chị em còn luôn là nguồn cổ vũ, động viên những người thân trong chiến đấu ở tiền tuyến. Hội nghị đại biểu nữ có chồng con, người yêu đang chiến đấu ngoài mặt trận đã gửi thư cho chiến sĩ Quảng Ninh có mặt ở các chiến trường. Thư có đoạn viết:

“Từ ngày các anh lên đường đánh giặc, chị em ở nhà khắc phục mọi khó khăn, gương mẫu làm tròn công việc mà Đảng, đoàn thể giao phó. Chị em không những thay thế được công việc của các anh trên đồng ruộng, nhà máy mà nhiều người còn được Đảng, chính quyền, đoàn thể tín nhiệm giao cho nhiều trọng trách như: chủ tịch xã, chủ nhiệm hợp tác xã, bí thư đoàn thanh niên, xã đội trưởng… Nhiều chị em được bầu là chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng.

Mỗi lần được tin chiến thắng từ tiền tuyến báo về, chúng em như được tiếp thêm sức mạnh, càng nỗ lực thi đua để xứng đáng với các anh,.

Chúc các anh em khỏe, vui vẻ, hăng hái chiến đấu và chiến thắng, xứng đáng là trai anh hùng của đất mỏ Quảng Ninh bất khuất”.

Thực hiện “ném bom hạn chế”, đế quốc Mỹ âm mưu xoa dịu phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ và lừa bịp nhân dân thế giới. Trên thực tế chúng bắt đầu chuyển sang thực hiện chủ trương mới: tập trung lực lượng không quân đánh phá ác liệt và các tuyến giao thông ở phía nam vĩ tuyến 20 mà trọng điểm là từ Nghệ An (vĩ tuyến 18) trở vào, hòng ngăn chặn triệt để sự vận chuyển của ta vào miền Nam. Khối lượng bom đạn trước đây rải ra toàn miền Bắc, nay dồn cả vào Quân khu 4 (300-350 ngày, chiến 91% số phi vụ đánh phá miền Bắc trước đây).

Cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn mới của địch, Tỉnh ủy chủ trương: Chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, đẩy mạnh sản xuất, rút kinh nghiệm chiến đấu sẵn sàng đánh bại địch nếu chúng gây chiến tranh trở lại ngoài vĩ tuyến 20, đồng thời đáp ứng yêu cầu chi viện chiến trường.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:16:21 PM
*
*   *

Tranh thủ thời gian địch ngừng đánh phá, các huyện, thị xã mở hội nghị tổng kết công tác chính sách hậu phương quân đội, biểu dương các gia đình quân nhân gương mẫu.

Xã Nguyễn Huệ (Đông Triều) là một trong những xã đầu tiên của tỉnh ngay từ năm 1966 đã trích một số ruộng lấy hoa lợi làm quỹ trợ cấp các gia đình liệt sĩ, thương binh có khó khăn. Cụ Nao, cụ Đàn, cụ Cần, cụ Tỷ có từ một đến hai con là liệt sĩ nhưng neo đơn, được xã trích 20-23kg thóc/tháng (bằng lao động chính ở xã) để nuôi dưỡng các cụ. Bà Xắn, mẹ liệt sĩ bị liệt, còn hai con chưa đến tuổi thành niên được xã nuôi cả ba mẹ con, được cấp thuốc chữa bệnh, được cử người đến chăm sóc tại gia đình. Vụ đông năm 1967, xã chi tiền mua 30 chăn bông tặng các gia đình chính sách. Bốn năm chấp hành chính sách hậu phương quân đội, xã tạo được khí thế tiễn người di yên tâm, đón người về phấn khởi. 100% số cán bộ, chiến sĩ ra đi từ xã Nguyễn Huệ đều trở thành quân nhân tốt.

Nhiệm vụ tuyển quân chi viện chiến trường kể từ khi hợp nhất Hải Ninh – Hồng Quảng thành Quảng Ninh 1964, đến năm 1968 toàn tỉnh đạt 104,7%. 58/61 cơ sở yếu đã tuyển quân làm nghĩa vụ quân sự, trong đó xã Hiệp Hòa (Yên Hưng) đạt 100%, xã Đông xá (huyện Cẩm Phả) đạt 111% chỉ tiêu. Bốn huyện Đông Triều, Yên Hưng, Hoành Bồ, Móng Cái liên tục vượt chỉ tiêu. Riêng năm 1968, số thanh niên nhập ngũ gấp 3 lần năm 1967.

Toàn tỉnh có 3 vạn đoàn viên tập luyện 5 môn: chạy, nhảy, bơi, bắn và võ. Phong trào thi đua quyết thắng trong lực lượng dân quân tự vệ có bước phát triển mới. Năm 1964 mới có 3 đơn vị, sau 4 năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, số đơn vị quyết thắng năm 1966 tăng 11 lần, năm 1967 tăng 19 lần và năm 1968 tăng 113 lần. Từ một vài huyện, thị có đơn vị quyết thắng, đến năm 1968 tất cả các huyện, thị đều có đơn vị quyết thắng.

Tự vệ nhà sàng Cửa Ông từ đơn vị quyết thắng trở thành Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ trương thành, đã có hàng trăm chiến sĩ quyết thắng, 2.000 chiến sĩ thi đua, 28 đơn vị được tặng huân chương chiến công các loại.

(https://lh3.googleusercontent.com/-dbAsyRYNKtO87hWC5nWJ3lInnDV2rrP8Wk2z709wcirYsDvH636mLvWeKU2UIiJ2hffabFRdLSgp2gYTSbNKXW_Q830WxaQKl3puaJ0qAeojc_wO7ZrX31I3PXpBk0VsJfvCz4h5UQAvcH6-2_HxRJuOgtUvlZb2qAgzm2opUpSLIM7aciOeAQHNPJsJRrLHVrdjFuoBXP4L9WcPqvDPnaJiWpowjl4PSAQd77CKR0OLF7SyKr2mXLrN4o0v1ZpSjgaVK4Y48TzwAgYjiL70G_w6nhfxB_PQk2iD1L_ZR16Nsmc6reOWmjywY-p4VavAmGippH4yHn6edEF7QT7S3GS0XxAda4qYujv5UQmf8vFdhaRMBFCM4KOucz-UTQqYETJ9X2VbIopyK4xHZcDxhvV3raK7TOVc8KZUYDh2HLR7d6_7Yfn8Oyzj6PGzoNWZkfcquw-SAex1uFbR5xeyw7txFjdTNryIiNlwtFJS4_BB58tLrDxNLi-BbVNa-PpC6ZhGxMOR02JfR_T1ov-oGbwD67EFIeiXdM8gOr_L-cSt63S5RgpoCcIGsvvee5qsxQnYJKffrp80S_bJUsVQtrqfzzBWXvnW89xISHaWQ=w1024-h730-no)

Một phân đội tự vệ thuộc đại đội tự vệ nhà sàng Cửa Ông (đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) tham gia chiến đấu đánh máy bay Mĩ

Trong nông nghiệp, đến năm 1968, phong trào hợp tác hóa phát triển và ổn định, đã có 90% số hộ nông dân vào hợp tác xã (có 90% là hợp tác xã bậc cao trong tổng số 428, không kể vùng cao).

Tỉnh đã áp dụng cơ khí vào sản xuất nông nghiệp. Đến tháng 8 năm 1966 đã có 100/428 hợp tác xã được trang bị cơ khí nhỏ. Trạm cơ khí Phạm Hồng Thái đã có 5 đội, 70 cán bộ xã viên. Ngoài hai máy cày mà Chính phủ tặng Hải Ninh, tỉnh giao cho trạm quản lý sử dụng, trạm còn được trang bị thêm nhiều máy, phương tiện, hàng năm phục vụ 2.000 ha diện tích canh tác.

13 trạm bơm lớn nhỏ và 48 máy tổng công suất 52.620m3/giờ, nâng tổng lượng nước hàng năm cho vụ đông xuân là 15 triệu mét khối.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Chín, 2017, 10:17:40 PM
Về giao thông vận tải, trước đây, nhiều địa phương cách sông nhưng không có bến để xe cơ giới vào như khu Hà Nam (Hưng Yên), huyện Cẩm Phả. Đường bộ ít và chật hẹp, nhiều vùng xe cơ giới và xe cải tiến không đến được. Phương tiện vận tải cũng thiếu, toàn tỉnh chỉ có 4 tàu cũ, 8 phà chủ yếu là kéo tay và một số ô tô chở khách. Tình hình trên đã hạn chế giao lưu kinh tế, văn hóa, kìm hãm sự phát triển nhiều mặt của nhân dân các vùng trong tỉnh.

Trong quá trình khôi phục, phát triển kinh tế, đến 1968 toàn tỉnh đã làm 117 km đường mới, nâng cấp, khôi phục, rải nhựa hàng trăm ki-lô-mét đường khác, làm mới và mở rộng 2.570 cống các loại, 64 đường ngầm và 11 bến phà. Riêng các huyện, thị tự làm được 24km đường mới, 25km đường ngầm, 3 bến phà, 24 cầu các loại. Cuối năm 1968, tỉnh hoàn thành tuyến đường chiến lược Hữu Nghị I và tu sửa lại đường 18B.

Phương tiện vận tải đã có thêm hàng chục ca nô và hàng chục phà các loại, phần lớn là ca nô vỏ sắt, có sức kéo lớn, phục vụ các bến phà. Toàn tỉnh có hàng chục tàu thủy, xà lan, gần một trăm xe ô tô vận tải hàng hóa, 10 tàu thủy với 1.500 ghế phục vụ bốn luồng trong tỉnh và một luồng liên tỉnh, 50 ô tô chở khác với trên 2.000 ghế phục vụ sự đi lại của nhân dân trền nhiều luồng dài trong tỉnh và liên tỉnh. Đã có xe khách phục vụ tất cả 13 huyện, thị trong tỉnh. Nhờ phát triển phương tiện thủy, bộ và mở mang, nâng cấp đường sá, Quảng Ninh đã vận chuyển 4.152.886 tấn hàng, trong đó có 23.300 tấn hàng phục vụ bộ đội hải đảo và 6.000 tấn hàng cho Quân khu 4.

Trên đà thắng lợi của quân và dân Quảng Ninh, để tạo điều kiện thúc đẩy ngành than có bước phát triển mới, ngày 10 tháng 10 năm 1968, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã về tận mỏ mở hội nghị dân chủ ngành than, cùng với đại diện công nhân mỏ tìm cách đẩy mạnh sản xuất, sửa chữa khuyết điểm, khắc phục những mặt yếu, điểm yếu.

(https://lh3.googleusercontent.com/w9hrkGsiaxaBj-x9JqUqWSDFOJWqMBAwK3562an3eNLhNNTJbg644n1IXaAGXzuPZ6RPbAojiU8-9cnsXe9VdIlRAmWQ_gpPkJICk2q9w28Y2kSPtV3fmK0-_wl5Yd2vZDNn4k_e_q3GHlQ6ZokeLlv76w38IDv7DWSeTVwFIcpTkTcxJDWRr74M_lvY56kCkjyJnjTiLCIwDKVGFLp5GhqXEcM7BhsySYiXOYeqCMJX-nliIuuur5cI3xPi4tQpENVGCcQm3mxZ1zh3eQezrs7LPZiYSg2yzhlLJ3wofilQgFAqhjVQvIMBuNlWnWDGMGItNORMDe2UU_OTdUO_XqJ8-FxBmHsmgBqmEfG3cllaGrUdwlsjxUmNy0Mok4g6QCIY6Bq4KsGdocZcm-u_cWjuZjZ0ktU9Gh9XUWPjYmBimnEPR_bRJ65Bti4bh3MZg9NAQ4DRs2gHXL9byQQzxfYLGFSu8nz5vbpZnCrZD-PWTix0fuGZHKLo8Gv6Gtjc_6NvZQTe2vgc-bO657TE_ZHBFAyP9MmGd_VNr33VG3oh7vmsAmuFFtRGKWVhA9Cs2PxuFbqHB8y6BhimzsARwWapPhrfJbIcEauy6ciDEg=w1024-h604-no)

Năm 1968, thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng các đồng chí lãnh đạo Chính phủ và tỉnh Quảng Ninh thăm và làm việc với cán bộ, công nhân mỏ than Vàng Danh

Đây là sự quan tâm lớn của Chính phủ và của Thủ tướng đối với ngành kinh tế quan trọng của Quảng Ninh và cả nước. Hội nghị đã diễn ra trong không khí thật sự dân chủ, cởi mở.

Ở miền Nam, năm 1968 sau 3 đợt tổng tiến công, ta đã tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều vũ khí, kho tàng, phương tiện chiến tranh, giải phóng và làm chủ nhiều vùng rộng lớn.

Trên miền Bắc, từ ngày 1 tháng 4 năm 1968 đến 31 tháng 10 năm 1968, địch tập trung đánh phá Quân khu 4, nhưng đã bị thiệt hại lớn, hàng trăm máy bay bị bắn rơi.

Bị thất bại liên tiếp trên cả hai miền Nam – Bắc nước ta, trước sức ép của dư luận tiến bộ Mỹ và nhân dân thế giới, đế quốc Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom đánh phá miền Bắc.

Đêm 31 tháng 10 năm 1968, phát biểu trên vô tuyến truyền hình, tổng thống Mỹ Giôn-xơn thông báo quyết định chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam trước nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Đúng 8 giờ ngày 1 tháng 11 năm 1968 (giờ Oa-sinh-tơn), tức 20 giờ (giờ Hà Nội) cùng ngày, quyết định này có hiệu lực.

Tuyên bố của Giôn-xơn đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, nhưng chúng vẫn còn ngoan cố và xảo quyệt tiếp tục mưu đồ xâm chiếm Việt Nam bằng chiến lược khác...

Ngày 2 tháng 11 năm 1968, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra tuyên bố: “Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá miền Bắc… đánh dấu một thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền”.

Ngày 3 tháng 11 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước. Người chỉ rõ: “Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song, đó chỉ là thắng lợi bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt. Chúng nói “hòa bình”, “thương lượng” nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng. Hơn một triệu quân Mỹ, quân ngụy và quân chư hầu còn đang hàng ngày gây ra bao tội ác dã man đối với đồng bào miền Nam ta.

Vì vậy, nhiệm vụ thiêng liêng của toàn quân, toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc”.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:04:13 PM
Chương ba

CỦNG CỐ HẬU PHƯƠNG, ĐẨY MẠNH SẢN XUẤT,
NÂNG CAO SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG
GIẶC MỸ TRÊN CẢ HAI MIỀN NAM – BẮC
(1969-1972)

Tháng 1 năm 1969, Ních-xơn trúng cử tổng thống nước Mỹ, đã đề ra chiến lược toàn cầu mới gọi là “học thuyết Ních-xơn”, thực chất là điều chỉnh chiến lược “Phi Mỹ hóa chiến tranh” của Giôn-xơn thành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trong thế thua, đế quốc Mỹ buộc phải “xuống thang chiến tranh” rút dần quân Mỹ, đồng thời tập trung lực lượng bằng các biện pháp tổng hợp quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, phản kích lại ta quyết liệt, xác lập dần thế mạnh, duy trì miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới của Mỹ.

Nhận rõ bản chất ngoan cố thâm độc của đế quốc Mỹ, ngày 3 tháng 11 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân dân cả nước, vạch rõ dã tâm tiếp tục duy trì cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Do đó “Nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tính chất quyết chiến, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà. Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.

Thực hiện lời dạy của bác, quân và dân miền Nam mở đợt tiến công mới, giáng cho Mỹ - ngụy những đòn đích đáng.

Ở miền Bắc, nhân dân và lực lượng vũ trang ta ta đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cả nước, thu được nhiều kết quả trong nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ hậu phương, tăng cường chi viện sức người, sức của cho miền Nam tiến tới giành thắng lợi to lớn hơn.

Sau khi cùng các địa phương miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968) của giặc Mỹ, quân dân Quảng Ninh khẩn trương bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. Một trong những ưu tiên hàng đầu là phát triển ngành than, do đó dù bề bộn bao công việc phải tập trung giải quyết, nhưng hội nghị ngành than đã khắc phục khó khăn để tổ chức họp tại Hồng Gai, do Thủ tướng Phạm Văn Đồng chủ trì. Sau hội nghị được ít lâu, ngày 15 tháng 11 năm 1968 tại Phủ Chủ tịch, đại biểu công nhân mỏ đến báo cáo với Bác và Trung ương Đảng về công việc sản xuất than. Khi đồng chí đại diện đoàn đại biểu công nhân mỏ kết thúc báo cáo, bác đã gợi ý nhiều điều quý báu, hướng cho ngành than nhanh chóng khắc phục khuyết điểm để đẩy mạnh sản xuất nhiều than hơn nữa cho Tổ quốc.

Cuối cùng, Bác căn dặn đại biểu ngành than: “Bác mong tất cả công nhân và cán bộ cố gắng hơn nữa, đẩy mạnh ngành than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác và tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp”.

Điều Bác mong cũng là nguyện vọng của đảng bộ, của quân và dân các dân tộc Quảng Ninh trong bước phát triển sắp tới.

Qua 4 năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ trên địa bàn tỉnh, từ ngày 5 tháng 8 năm 1964 đến khi tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, một thời kỳ không dài những thắng lợi rất vẻ vang. Đảng bộ, quân và dân Quảng Ninh vinh dự được Đảng, Nhà nước và Bác Hồ tặng thưởng huan chương Độc lập hạng nhất.

Có thắng lợi trên, trước hết là kết quả của 10 năm hòa bình (1954-1964) dưới sự lãnh đạo của Đảng, từng bước Quảng Ninh tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng tiềm lực chính trị, an ninh và quốc phòng, kinh tế, tạo thế và lực để tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân toàn diện chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của giặc Mỹ trên địa bàn tỉnh, góp phần xây dựng bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện sức người, sức của cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà.

Trong những năm tháng chiến đấu, Tỉnh ủy luôn chủ động tỉnh táo nắm vững và phán đoán đúng âm mưu thủ đoạn của địch, dự kiến các bước đánh phá của Mỹ tương đối sát, chủ động bố trí lực lượng đánh trả có hiệu quả. Trận đầu, đánh phá vào địa bàn Quảng Ninh, địch đánh thẳng vào căn cứ hải quân, trận địa pháo, khu trung tâm của tỉnh, sau đó địch vừa đánh vừa thăm dò và leo thang từ thấp đến cao, đánh một loạt mục tiêu đến cùng đánh các loại mục tiêu, đánh một khu vực hẹp rồi đánh loang rộng dần ra, có thời gian đánh cả đêm...

Từ năm 1964 đến năm 1968, lực lượng phòng không của Quân khu Đông Bắc trên địa bàn tỉnh có gần 3 trung đoàn, 1 đến 2 trung đoàn tên lửa và cao xạ của Bộ bảo vệ mục tiêu trọng yếu, 10 đại đội cao xạ (37mm – 57mm – 88mm), 208 khẩu 12,7mm và 217 đại liên của các khu phòng thủ bộ đội chủ lực, khoảng 1 trung đoàn cao xạ trên các tàu hải quân và bộ đội công trình.

Riêng dân quân tự vệ tỉnh có 4 đại đội cao xạ, 166 khẩu 12,7mm, hàng trăm khẩu trung liên, đại liên với 1.064 người trực chiến do xí nghiệp, nhà máy, hợp tác xã mới.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:06:11 PM
Các đơn vị bộ đội địa phương và các đơn vị cơ động của quân khu, của Bộ làm nhiệm vụ trên địa bàn tỉnh đã phát huy sức mạnh tổng hợp giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ cùng chiến đấu và phục vụ chiến đấu đạt hiệu quả cao.

Toàn tỉnh, nhất là vùng trọng điểm đã bảo đảm chuyển trạng thái từ thời bình sang thời chiến, kịp thời tổ chức phòng không nhân dân và sơ tán phù hợp, duy trì nếp sống sản xuất, chiến đấu từng bước ổn định dần, giao thông vận tải được được bảo đảm tốt, kể cả lúc có tình huống địch phong tỏa ác liệt.

(https://lh3.googleusercontent.com/NjXuuHRKmRPoNTjvTRbC85ehYe5Ti8yddFLDvfxd6R7YLYvOF8Mg0RtL-UR0oVcbpKOpTSbbdzPrJzFpPIW6zaN9MWCoySWhs8T9MSyHSFdExvVQ4mYq4ieLVDuzhtUWn3zBgUtr9ztqoT4Q79SsUyW3cmt5wPtficZl5df-Qic6QiY2CIM_HBqfbjdFzfDm69ciULaY3MU1Nb-lEABheencBqq_wUCXeddGjYtyhhigmk6fyZFNuRQA_ND8gz-xmsiUMSIGqYg-HjM-HiDD8dGTj_7S_62IGF8qNISkCT2QaBrx3bLtkDtqJzkHcIE0BZ0mOAtAfQaOy5bDbslvjR2BT09CeBNDmJoMtnmW8GpbKlSSrl814c_VF8HpRyVq-Pk2rWTOZ9rCOQelr0rs1R-_2MKY1yB-VR8lM6WAjaOUmSv9aOM7lEPX4NGWZtYOe1LdzWwK0cLW1qGiTdsqbhxGwBEF7O_cibyHl6-maP8_N8WN8723K4UyLsucPHah2DbsBxGlxJ-eNYOxk1FKX2y_vg-tP0WtP15WoxkEYY2XmgqpjVScyhy9yW24nObzp8adbn3Z8uVlQF5rVGAxXSXVye25ckdJxDi5xqER6g=w800-h519-no)

Lớp học sơ tán ở Cẩm Phả năm 1968

Tuy nhiên việc sơ tán cất giấu kho tàng lúc đầu chưa có kinh nghiệm và thiếu ngụy trang, địch đã đánh phá 38 kho lương thực, thực phẩm ở các thị xã, thị trấn và một số xà lan xăng dầu.

Năm 1969, vào ngày mùng một tết Nguyên đán Kỷ Dậu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng về vui xuân, vui hội mừng công của quân dân tỉnh Quảng Ninh. Đến dự cuộc mít tinh tại thị xã Hồng Gai, Thủ tướng chuyển lời chúc tết của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đến giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Nhân dịp này Thủ tướng vui mừng chuyển đến công nhân mỏ “cờ thưởng luân lưu đơn vị thi đua khá nhất ngành than năm 1968” của Bác Hồ. Đây là lá cờ thứ hai của Bác trao tặng công nhân mỏ.

Năm 1968, ngành than hoàn thành kế hoạch trước 32 ngày và vượt 78.000 tấn. Bến Hồng Gai đưa năng suất vận chuyển từ 35 tấn lên 600 tấn, có ngày cao nhất đạt 800 tấn. Đó là thành tích của các chiến sĩ tự vệ lái tàu Phúc, Thịnh, Hội, An. Tổ cần trục số 5 của Đặng Bá Hát đưa mức rút than từ 20 xe lên đến 40 xe trong một ca và đổ 11.000 tấn vượt chỉ tiêu xí nghiệp giao.

Ngày 1 tháng 5 năm 1969, đọc báo của nhà máy cơ khí Cẩm Phả (đơn vị được giữ cờ thi đua luân lưu khá nhất ngành than năm 1968), Bác Hồ ghi ngay lời nhận xét bên lề bản báo cáo:

“Bác đã nhận được báo cáo công tác quý 1 của nhà máy. Bác rất vui lòng về những thành tích mà nhà máy và ngành than đã đạt được và mong cán bộ, công nhân cố gắng hơn nữa, phát huy những ưu điểm và sửa chữa những khuyết điểm để giành nhiều thắng lợi hơn nữa”.

(https://lh3.googleusercontent.com/I-WMcuxn64sEGMouksfDSsqjF60fZ-Rmjw3ghvLtCabh46fhyiFqxNFGcKAw6micS6ABN5qOR50O_RM9Qbo5sXui1tHjtwIPzVG7RujNARo9sOxwnBTO6GLFmS5diiD3XWvkBvNQFfKN1rVuCVcCgbaF11-6ZZzbWcQ5DJvrrzUEFJu6P99vwgYUAvrA_iGGDPK2jJbAs8Ipg_lRIWtQeneRei6zp5wx3BmU7F4446Ciwl1etRaT2X7CYAGtsrXSDnuvW9Y8e6Kt3wGjZza2SlVdOZ828xJPUv7NSDqBzGg9tC-CRUm7K5x__qcs2rWpkNknWWUkC8M1Pz_56lzvKMha-AhuXe6oL2RJjdXPHy22LZg3V_mZ0m3tq3vs_DUeX4gUqNd4A_q-3AIufA8GtQMudXk4A_VpSLSZmSZ5HEo3-sX_yvvnbUMhKInB7iNiEuT-VN85qbBOwnJr12so2fVf9AYj4LBtpcUZpn-ymVw-iyEEzCjUOeXhJ6ubNNw4I28UFS4LKBTMKeGGXPnAq9rlLEJJP9FgK5l9KH3xClbGebM-lVe_FqwBSsxT3aGRBL7Dq1JuPUNO731ghAsjY2e9fI9oi9WDVGBLJ7rHiQ=w632-h832-no)

Nhà máy cơ khí Cẩm Phả (Quảng Ninh) chuyển vào hang núi đảm bảo sản xuất liên tục

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã về tận nhà máy để trao lại cho công nhân và cán bộ bản báo cáo có ghi lời nhận xét của Bác. Đây là bút tích cuối cùng của Bác Hồ kính yêu để lại cho nhân dân và đồng bào vùng mỏ.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:06:39 PM
Tháng 4 năm 1969, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và ra nghị quyết về “tình hình nhiệm vụ trước mắt”. Bộ Chính trị nhận định: “Chúng ta đang đứng trước thời cơ lớn để thừa thắng tiến lên, đẩy mạnh tiến công toàn diện và liên tục, tiến lên một bước rất cơ bản, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ”.

Tỉnh ủy đã họp bàn thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị và ra nghị quyết về nhiệm vụ trước mắt của đảng bộ, của quân và dân Quảng Ninh. Nghị quyết chỉ rõ:

“Giáo dục nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu thủ đoạn của đế quốc Mỹ để không bị bất ngờ.

Củng cố kiện toàn nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang, sẵn sàng đối phó thắng lợi nếu địch gây chiến tranh phá hoại trở lại với mức độ ác liệt hơn.

Khắc phục nhanh hậu quả chiến tranh, tranh thủ thời gian có hòa bình để đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, chi viện sức người sức của cho tiền tuyến.

Cùng với việc sản xuất than, Quảng Ninh phải thực hiện khẩu trương có hiệu quả hai nhiệm vụ đột xuất mà Trung ương giao cho:

Một là: Chuyên chở khối lượng vật chất súng đạn, xăng dầu, gạo, thuốc… rất lớn từ biên giới Việt – Trung về một số tỉnh phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hai là: Thi công đường ống dẫn dầu dài hàng trăm ki-lô-mét để góp phần bảo đảm nhiên liệu cho miền Nam chiến đấu.

Trong sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp phấn đấu tăng năng suất lúa, màu, đánh bắt cá biển”.

Tỉnh ủy nhấn mạnh vấn đề chăn nuôi ở ba khu vực: gia đình, hợp tác xã và quốc doanh với phương hướng, biện pháp, chỉ tiêu:

Chăn nuôi gia đình hiện còn giữ vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn. Từng vùng, tùy điều kiện phấn đấu mỗi hộ nuôi thường xuyên từ 1,5 đến 2,5 con lợn.

Chăn nuôi tập thể hợp tác xã tăng thêm quy mô đàn lợn ở các cơ sở sẵn có. Hướng chính là nuôi lợn nái giống tốt, tự túc được lợn giống cho chăn nuôi tập thể.

Chăn nuôi quốc doanh phải bảo đảm quản lý tốt, gương mẫu về tổ chức quản lý kinh tế, áp dụng khoa học kỹ thuật, hình thành mạng lưới kỹ thuật từ các trại chăn nuôi của Nhà nước đến các vùng giống của hợp tác xã.

Chỉ tiêu 2 con lợn, 5 tấn thóc, 10 tấn khoai, 20 tấn rau trên một héc-ta gieo trồng.

Chăn nuôi địa gia súc, gia cầm tăng số lượng hiện có lên mức cao hơn. Về đánh bắt cá biển, phấn đấu đạt năng suất lao động bình quân mỗi người 2 tấn/năm.

Thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy, các ban ngành, cơ quan, đơn vị… đã chú trọng bồi dưỡng, giáo dục cán bộ đảng viên về đường lối chính sách, về lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin để nâng cao lập trường giai cấp, đạo đức, phẩm chất cách mạng, nhận thức đúng đắn tình hình nhiệm vụ mới. Mặt khác, nâng cao hiểu biết về khoa học kỹ thuật, về quản lý nhà nước và quản lý kinh tế để cán bộ, đảng viên, có năng lực đảm đương nhiệm vụ trên trong các lĩnh vực, công tác, sản xuất và chiến đấu.

Quảng Ninh luôn chú trọng phát triển đội ngũ đảng viên. Riêng năm 1968, trải qua rèn luyện, thử thách trong chiến đấu, sản xuất, công tác, công nhân và nhân dân các dân tộc xuất hiện nhiều tấm gương ưu tú, 1.761 người đủ điều kiện để được kết nạp Đảng.

Cơ cấu tổ chức được cải tiến. Chỉ tính các huyện, thị ủy, thành phần công nhân tăng 6,6%, lực lượng trẻ 31,3%, người dân tộc chiếm 26,6%.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:07:43 PM
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở cả hai miền Nam – Bắc nước ta đang trên đà phát triển để giành thắng lợi quyết định thì Đảng ta, nhân dân ta và bè bạn năm châu bốn biển phải chịu nỗi đau thương lớn: Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần.

Những ngày cuối tháng 8 năm 1969, theo dõi thông báo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Bác không được khỏe”, cán bộ, chiến sĩ đảng viên, đồng bào các dân tộc Quảng Ninh hồi hộp lo âu. Hàng ngày cứ đến giờ phát thanh sáng, trưa, chiều của Đài tiếng nói Việt Nam, người ở trong nhà, cơ quan, đơn vị, trường học, trụ sở vây quanh chiếc đài thu thành, người đi ngoài đường dừng chân lại các loa công cộng, lặng lẽ chờ đợi thông báo mới với mong ước được đón nhận những tin tốt lành về sức khỏe của Bác. Nghe tin Bác đi xa, cả Quảng Ninh như lắng lại trong nỗi đau thắt đột ngột. Đau buồn và thương nhớ Bác kính yêu, ngày 3 tháng 9 năm 1969, tại các công sở, trường học, đơn vị, các gia đình đều lập bàn thờ Bác.

Ngày 6 tháng 9, Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính, Mặt trận Tổ quốc tỉnh tổ chức trọng thể lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đoàn đại biểu quân, dân, chính, đảng từ các ngả đường vùng mỏ, núi rừng hải đảo… tập trung ở Hồng Gai. Từng dòng người già trẻ, gái trai, cán bộ công nhân viên, bộ đội, đồng bào các dân tộc ngực đeo băng tang lặng lẽ đi trong thương nhớ dưới chân dung Người. Từ đỉnh núi Bài Thơ lịch sử, một hồi còi kéo dài, vang xa… để đồng bào, đồng chí biết hướng về nơi làm lễ tưởng nhớ Bác với tấm lòng biết ơn của người dân được Bác, được Đảng giải phóng, được đổi đời và đang đứng lên trong tư thế chiến thắng giặc Mỹ xâm lược.

Đồng chí Bí thư tỉnh ủy đọc lời diếu văn vĩnh biệt Bác trong tiếng nấc nghẹn ngào. Cả hội trường nức nở trong nước mắt đau thương. Thưa Bác kính yêu, chúng con, chúng cháu xin thề và xin thực hiện lời Bác dạy “Đẩy mạnh ngành than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác và tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp”.

Thực hiện lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Biến đau thương thành hành dộng cách mạng” và thực hiện lời kêu gọi của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh “Giương cao ngọn cờ quyết chiến – quyết thắng của Bác trao cho, với khí thế thừa thắng xông lên, các lực lượng vũ trang nhân dân hãy cùng toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”, quân và dân Quảng Ninh dấy lên phong trào hành động cách mạng lập thành tích đền ơn Bác và quyết tâm thực hiện Di chúc của Người.

Trong nông nghiệp, thực hiện Nghị quyết 197 của Trung ương Đảng về “Phát huy quyền làm chủ của quần chúng ở nông thôn”, tỉnh chỉ đạo các cấp tổ chức cho xã viên học Điều lệ tóm tắt về họp tác xã sản xuất nông nghiệp (bậc cao) do Bác Hồ viết lời tựa. Các hợp tác xã trong toàn tỉnh đi vào chấn chỉnh tổ chức, tính toán cách làm ăn cho có lãi và có hiệu quả kinh tế cao như: quản lý ruộng đất, vật tư, tiền vốn, sức lao động… tiến thêm một bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật.

Nghề rừng của tỉnh trải qua 10 năm dần dần phát triển mạnh và trở thành một ngành kinh tế quan trọng. Từ những cơ sở: hạt, trạm lâm nghiệp nhỏ làm nhiệm vụ hành chính, sự nghiệp, tỉnh đã xây dựng thành các lâm trường, xí nghiệp sản xuất, kinh doanh ngày càng toàn diện. Các cơ sở lâm nghiệp hoạt động rộng khắp từ biên giới đến các hải đảo với lực lượng lao động khoảng 10.000 người, trong đó quốc doanh 5.000 người Toàn ngành phục hồi được gần hai vạn héc-ta rừng non, quản lý hạn chế được một phần nạn đốt rừng phá rừng làm rẫy. Việc khai thác lâm sản góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế, phục vụ quốc phòng và đời sống nhân dân. Số lượng gỗ tròn khai thác từ 68.000m3 lên 86.000m3. Riêng gỗ phục vụ mỏ đạt từ 27.00m3 lên 51.00m3. Tre nứa từ 7 triệu cây lên 18 triệu cây/năm. Các loại gỗ xẻ phục vụ nhu cầu kiến thiết đạt từ 1.000 lên 8.00m3. Phong trào trồng cây gây rừng phát triển tốt. Đã trồng được 50.000 ha rừng mới (quốc doanh trồng được 35.000ha). Các xã Kim Sơn (Đông Triều), Bình Ngọc và Trà Cổ (Móng Cái) là những nơi trồng trọt và mang lại hiệu quả kinh tế cho nhân dân và cung cấp một phần gỗ cho Nhà nước(1).

Trong quá trình xây dựng và phát triển, ngành lâm nghiệp từ chỗ chỉ có 11 cán bộ trung cao cấp kỹ thuật (1959) đã đào tạo và bồi dưỡng được 444 cán bộ kỹ thuật (có 114 cán bộ bậc đại học). Năm 1965 ngành lâm nghiệp Quảng Ninh được chọn là đơn vị dẫn đầu miền Bắc về khai thác, trồng rừng.


(1) 50 năm đấu tranh và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân ở Quảng Ninh, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Quảng Ninh, 1975, tr.103-104.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:08:13 PM
*
*   *

Sang năm 1970, trước những biến chuyển mới của tình hình nhiệm vụ cách mạng và yêu cầu tổ chức lực lượng vũ trang cần có sự điều chỉnh bố trí chiến lược cho phù hợp. Thường trực Quân ủy Trung ương và Tổng tư lệnh quyết định Bộ tư lệnh Hải quân thôi kiêm nhiệm Quân khu Đông Bắc, tỉnh đội Quảng Ninh và các lực lượng thuộc Quân khu Đông Bắc được bàn giao sang Quân khu Tả Ngạn. Ngày 1 tháng 4 năm 1970 việc bàn giao giữa Bộ tư lệnh Hải quân và Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn được tiến hành khẩn trương.

Trở về đội hình Quân khu Tả Ngạn (tách ra từ cuối năm 1963), lực lượng vũ trang Quảng Ninh tiếp thu, thực hiện chủ trương của Quân khu ủy và nghị quyết tỉnh ủy, tập trung toàn lực đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở, quân sự địa phương, chú trọng xây dựng các cơ sở yếu kém, coi công tác cơ sở là trận địa chính của công tác quân sự địa phương. Đồng thời triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn quân khu hướng ra tiền tuyến, sẵn sàng chiến đấu cao, chiến đấu giỏi, xây dựng hậu phương vững mạnh”.

Qua điều tra cơ bản, các huyện miền đông lúc này dân số 207.903, bằng 39,2% dân số cả tỉnh, 9 xã biên giới Việt – Trung, 21 xã ven biển, 16/20 xã đảo, 7/9 xã mặt nước. Các huyện miền đông có 94 xã, bằng 59,8% số xã của cả tỉnh

Dân tộc Hán có 100.889 người, tập trung ở ngoài Quảng Hà, Móng Cái, Cẩm Phả (huyện) và Tiên Yên. Các dân tộc khác: Tày có 18.841 người, bằng 8,87%, Nùng 2.596 người, bằng 1,21%, Thanh Phán 5.714 người, Sán Dìu 3.586 người, Kinh 82.035 người.

Sau giải phóng, đây là vùng xung yếu, được Đảng giáo dục giác ngộ, nhân dân có nhiều đóng góp quan trọng trong việc truy quét thổ phỉ, phản động và biệt kích, tham gia bảo vệ chính quyền, xây dựng cuộc sống mới, thực hiện nghĩa vụ công dân chống Mỹ, cứu nước.

Tuy nhiên, do điều kiện cả tỉnh phải tập trung làm hai nhiệm vụ chiến lượng, nên việc đầu tư và chỉ đạo xây dựng cơ sở vùng xung yếu, vùng núi và hải đảo thực hiện “miền núi tiến kịp miền xuôi” có nhiều hạn chế. Xã Đường Hoa rộng tới 30km2, có 466 hộ, dân số 3.320 người dân tộc Hán, cho đến năm 1960 còn 99,9% số người trong xã chưa biết chữ quốc ngữ, chỉ có một hoặc hai người biết viết, biết đọc.

Được tỉnh, huyện tăng cường cán bộ xây dựng cơ sở nên từ năm 1970 trở đi, tình hình sản xuất và đời sống có nhiều chuyển biến. Hai con đê ngăn nước mặn, một đập nước lớn, 82 cừ, 3 con mương lấy nước ngọt về tưới lúa làm cánh đồng cấy được hai vụ giống lúa mới, lại biết dùng kỹ thuật canh tác, biết dùng phân lân, đạm kết hợp phân xanh nên hai năm 1971-1972 làm nghĩa vụ 196 tấn và bán thêm 20 tấn, 67 thanh niên trai tráng đã nhập ngũ, trong đó 28 ở chiến trường B, toàn xã có 567 học sinh đi học.

Trong số những cơ sở tiêu biểu của Quảng Ninh có Đồng Quặng, một xã vùng cao của huyện Hoành Bồ. Phần lớn số dân trong xã là người Thanh Phán sống rải rác 76 khe, suối nhỏ trên diện tích rộng, nằm giữa những dãy đồi núi trùng điệp… Xã có 7 thôn, nơi xa nhất phải đi bộ khoảng một ngày đường, chưa kể mùa mưa lũ có khi tắc đường, nghẽn lối hàng tuần. Thời Pháp thuộc, Đồng Quặng nằm giữa “vành đai Mán” do trùm phỉ Bàn Đức Thắng cầm đầu, nhưng ta vẫn có cơ sở bí mật để nắm dân.

Sau giải phóng, nghe tiếng gọi của Đảng, Đồng Quặng thực hiện cuộc vận động định cư, định canh. Từ năm, ba nhà rời từng khe, đến từng bản làng làm theo. Nhà nhà ở gần nhau. Con hổ vào bắt lợn, gọi một tiếng cả bản đổ ra, hộ bỏ chạy. Lúa có nước tưới, có phân bón, bông to mẩy hạt, một mẫu Bắc Bộ thu 5-6 tạ rồi một tấn. Ngày mùa lúa đầy nhà, có cơm ăn no, xã lo cho con cái nhân dân được cái chữ Cụ Hồ. 7 trường học, 24 lớp có mái che mưa che nắng, có bàn đọc sách, có ghế ngồi cho học sinh. Rồi trạm xá, sân kho… đường đi lối lại thẳng lưng mà bước. Năm 1973 Đồng Quặng không chỉ tự túc được gạo ăn mà còn có thóc dư bán ngoài nghĩa vụ cho nhà nước.

Có cuộc sống ấm no hạnh phúc, cấp ủy và chính quyền lại lo xây dựng dân quân bảo vệ quê hương. Toàn xã là một cụm chiến đấu liên hoàn, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, có người cầm súng, có người tải thương, cứu hỏa…

Những ngày giặc Mỹ đánh phá khu mỏ, dân quân xã Đồng Quặng được huyện phát súng, chốt trên các điểm cao để đánh máy bay. Hai năm liền (1969-1970), lực lượng dân quân được công nhận là đơn vị quyết thắng. Bằng lực lượng tại chỗ của xã, dân quân chiến đấu với tinh thần “một người cũng tiến công, bộ phận nào cũng đánh giỏi”.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:08:39 PM
Các huyện Quảng Hà, Đầm Hà, Hà Cối (cũ) và Tiên Yên), qua tập trung xây dựng cơ sở vùng đồng bào dân tộc đã tạo nhiều chuyển biến. 10 xã có cán bộ cấp trên tăng cường, 16 xã do huyện trực tiếp phụ trách. Sau một thời gian được học tập, được hướng dẫn, được sinh hoạt kiểm điểm rút kinh nghiệm thực tế, cấp ủy, đảng viên thấy rõ trách nhiệm tiếp tục phát huy và nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu của mình.

Chính quyền, ban quản lý hợp tác xã, đoàn thể quần chúng ở các xã yếu được kiện toàn. Sản xuất tăng, đời sống được cải tiện. Đến năm 1970, xã Mã Tề Nùng đưa mức ăn bình quân từ 8kg lên 12kg/người/ tháng. Xã Trúc Bài Sơn từ 9kg lên 12,5kg, 12 xã từ yếu kém lên trung bình, 6 xã lên khá (có 3 xã người dân tộc). Còn 8 xã tuy chuyển biến chậm nhưng vẫn tuyển quân được. Bảy xã của hai huyện Quảng Hà, Tiên Yên từ chỗ chỉ có hai thanh niên đi bộ đội, đến năm 1970, riêng bảy xã có 47 thanh niên nhập ngũ.

Năm 1970, thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị, Đảng bộ Quảng Ninh kết nạp 640 đảng viên “Lớp Hồ Chí Minh”.

Phong trào xây dựng đảng bộ, chi bộ, đảng viên theo yêu cầu “4 tốt” để củng cố đảng toàn diện được đẩy mạnh. Nhiều đảng bộ, chi bộ, đảng viên xác định rõ vị trí trách nhiệm của mình cao hơn.

Tháng 2 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị toàn thể lần thứ 19 và ra nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân là: “Rác sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà”.

Nắm vững các chỉ thị của Trung ương Đảng, của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Tỉnh ủy họp bàn về việc sẵn sàng chiến đấu và chuẩn bị một số việc cho công tác phòng không nhân dân, kinh tế kết hợp quốc phòng.

Năm 1971 Trung ương giao cho Quảng Ninh xây dựng đường ống dẫn dầu từ Hải Ninh về tuyến trong. Nhiệm vụ đã được hoàn thành với nỗ lực cao của cán bộ, công nhân và đồng bào các địa phương nơi có đường ống đi qua. Công trình đột xuất này đã hoàn thành trước thời hạn quy định 5 ngày,.

Cùng với việc hoàn thành công trình này, Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn điều động tiểu đoàn 29 thi công tuyến đường dây thông tin dọc theo tuyến đường ống dẫn đầu cũng hoàn thành vượt mức thời gian quy định, tiết kiệm cho Nhà nước 300 tấn sắt giàng và một triệu đồng. Đây là đường dây thông tin liên lạc vừa phục vụ sẵn sàng chiến đấu, vừa phục vụ đường ống dẫn dầu.

Thành công của tiểu đoàn 29 mở ra khả năng bộ đội tham gia làm kinh tế và triển vọng về sự phối hợp giữa Quân khu và tỉnh Quảng Ninh về kinh tế kết hợp quốc phòng vừa làm giàu cho Tổ quốc, vừa phát triển lực lượng bảo vệ an ninh – quốc phòng ở biên giới, hải đảo và ven biển.

Do yêu cầu tăng cường lực lượng cho chiến trường, từ năm 1971 các đơn vị phòng không, các đơn vị phối thuộc chiến đấu với Quảng Ninh trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất lần lượt được trên điều động chi viện cho phía Nam. Ở tỉnh chỉ còn lại tiểu đoàn 237. Từ năm 1968, đội hình tiểu đoàn bị phân tán thành hai nơi: hai đại đội và chỉ huy tiểu đoàn về bảo vệ nhà máy điện cọc 5, một đại đội bảo vệ nhà máy sàng Cửa Ông. Trong quá trình chiến đấu, tiểu đoàn xây dựng 5 đại đội bổ sung cho chiến trường. Tỉnh tổ chức một tiểu đoàn thứ hai gồm “quân chiến thắng trở về” đã hoàn thành chương trình huấn luyện. Bộ lại điều bổ sung cho chiến trường. Cuối năm 1971, tỉnh được phép tổ chức xây dựng tiểu đoàn pháo cao xạ mang phiên hiệu 239.

Các đơn vị (K) thuộc cụm phòng thủ Quân khu Đông Bắc thu gom lại theo kế hoạch biên chế lực lượng của Bộ Tổng tham mưu. Việc xây dựng huấn luyện quân B, riêng Quảng Ninh không có khung đơn vị làm nhiệm vụ này. Số quân tuyển được, Bộ tư lệnh Quân khu giao trung đoàn 5 – trung tâm huấn luyện quân B của Hải Phòng phụ trách vào những năm sau khi Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:09:10 PM
Một thực tế trong công tác tuyển quân thời gian này là có nơi kêu cạn nguồn, cạn chất; đi tuyển quân vất vả, thực hiện chỉ tiêu hàng năm trở nên khó khăn, có lúc phải lấy tăng số lượng ở nơi mạnh để bù nơi yếu. Nhiều cuộc họp đầu năm hoặc trước mùa tuyển quân, Tỉnh ủy tiếp tục khẳng định tầm quan trọng nhiệm vụ chi viện chiến trường, nhất là vào các thời điểm có ý nghĩa quyết định. Khẩu hiệu hành động là; “Toàn Đảng, toàn dân chăm lo xây dựng lực lượng chi viện cho chiến trương” và chỉ đạo phát động phong trào quần chúng làm tốt công tác này. Đồng thời, có biện pháp chống hữu khuynh tiêu cực từ trong Đảng tới quần chúng, thực hiện công bằng hợp lý trong nghĩa vụ cứu nước, tập trung nuôi dưỡng ngắn ngày để đưa số thấp bé nhẹ cân đủ sức khỏe, đủ điều kiện nhập ngũ. Tổ chức dạy chữ cho thanh niên vùng dân tộc, rẻo cao để ngày càng có nhiều người đi bộ đội đánh Mỹ, tạo nguồn cho sau này khi anh em trở về tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở địa phương. Tuy không có trung tâm huấn luyện riêng, nhưng phần lớn thanh niên ở cơ sở đều tham gia dân quân tự vệ, được rèn luyện, được học tập chính trị, quân sự, nhiều nơi anh em đã qua chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Lực lượng thanh niên Quảng Ninh tòng quân chống Mỹ cứu nước có tới 60% là dân quân tự vệ. Riêng năm 1971, huyện Móng Cái số quân tuyển được gấp 5 lần so với hai năm 1969-1970. Các huyện Tiên Yên, Quảng Hà dủ quân. Năm 1971 số quân trong các cơ sở yếu, vùng cao tuyển được 26,64% so với chỉ tiêu toàn tỉnh.

Cuối năm 1971 do số lượng bệnh binh từ các chiến trường đưa về hậu phương ngày càng nhiều, Quảng Ninh được phép tổ chức đoàn an dưỡng mang phiên hiệu 159 do đồng chí thiếu tá Nguyễn Quang Thúy làm đoàn trưởng, Nguyễn Chử đoàn phó. Đoàn được bố trí tại xã Yên Đức huyện Đông Triều. Đảng bộ và nhân dân trong huyện cùng công nhân mỏ Mạo Khê giúp sức, góp của tạo nơi ăn ở thuận lợi cho những trường hợp hiểm nghèo. Còn đại bộ phận thương bệnh binh nhẹ và vừa vẫn ở với dân. Từ khi thành lập đến khi kết thúc (1971-1976) đoàn 159 nuôi dưỡng và giải quyết chính sách cho trên 2.000 thương binh con em đồng bào Quảng Ninh từ các chiến trường gửi về.

Để nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, chuẩn bị mọi mặt đáp ứng yêu cầu thực hiện hai nhiệm vụ đẩy mạnh tiến công chiến lược ở miền Nam và chủ động đập tan các bước leo thang chiến tranh của địch ra miền Bắc, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo diễn tập tác chiến bảo vệ khu vực ở Hải Phòng. Các đồng chí bí thư thành ủy và tỉnh đội trưởng các địa phương trong Quân khu về dự rút kinh nghiệm. Thượng tướng Văn Tiến Dũng – Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp chỉ đạo cuộc diễn tập.

Tháng 3 năm 1972 Thường vụ tỉnh ủy họp với các cán bộ chủ chốt của các ngành để bàn việc kiểm tra vũ khí, củng cố dân quân tự vệ và quyết định tiến hành cuộc thực tập lớn về pháo binh, cao xạ đánh địch tập kích đường không và phòng tránh ở Hồng Gai.

Một kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh được tiến hành trong hang đá Đèo Bụt, nơi sơ tán của Ủy ban hành chính tỉnh. Tại kỳ họp này, đồng chí Vũ Đình Mai, tỉnh đội trưởng được chỉ định là chỉ huy trưởng phòng không của kỳ họp. Hàng buổi, hàng ngày, đồng chí Vũ Đình Mai giữ nếp thông báo tình hình địch cho hội nghị.

Thực hiện Nghị quyết số 220 của Bộ Chính trị về việc chuyển từ thời bình sang thời chiến, Tỉnh ủy ra nghị quyết 04 và quyết định mở rộng đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn đảng bộ, để quán triệt tình hình nhiệm vụ mới.

Tiểu đoàn 237 với 3 đại đội trải dài trên tuyến 40km (từ cọc 5 đến Cửa Ông). Các đơn vị trực chiến, các tổ săn máy bay được lệnh tập trung, sẵn sàng chiến đấu.

Đêm 15 tháng 4 năm 1972 (thứ bảy) và suốt ngày 16 tháng 4 năm 1972 địch dùng cả B52 đánh Hải Phòng, đồng thời chúng đã sử dụng nhiều tốp máy bay chiến thuật đánh một số điểm trên địa bàn Yên Hưng để kìm chế tên lửa của ta.

Địch gây lại chến tranh phá hoại đối với miền Bắc bằng cách đánh ồ ạt đến mức cao nhất ngay từ đầu vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác, chứ không đánh kiểu thăm dò từ vòng ngoài rồi nhảy dần vào phía trong như lần trước. Thường vụ Tỉnh ủy khẳng định: “Địch đã đánh Hải Phòng, sớm muộn rồi chúng cũng đánh Hồng Gai”. Thường vụ Tỉnh ủy quyết định phân tán một bộ phận dân cư ra khỏi trọng điểm.

Ních-xơn, tổng thống Mỹ coi cuộc đánh phá miền Bắc lần này như là “biện pháp chiến lược quyết định”, là “cách duy nhất để chấm dứt chiến tranh” có lợi cho Mỹ. Ních-xơn thông qua chương trình ném bom miền Bắc gọi là Lai-nơ Bếch-cơ I và quyết định thả thủy lôi phong tỏa Hải Phòng, Quảng Ninh và các cảng miền Bắc Việt Nam, gọi là POCKET MONEY (chiếc túi tiền). Đánh phá miền Bắc lần này, địch sử dụng nhiều máy bay kể cả B52 là phương tiện trang bị hiện đại tinh vi của nền kỹ thuật quốc phòng Mỹ mới nhất với nhiều thủ đoạn xảo quyệt, tàn bạo để đánh phá tất cả các mục tiêu quân sự, kinh tế, quân sự, cầu cống, kho tàng, đê điều…


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:09:30 PM
Ngày 9 tháng 5 năm 1972, theo dõi và nhận định tình hình chung về âm mưu địch đối với miền Bắc và Quảng Ninh, Thường vụ tỉnh ủy chủ trương cho sơ tán cấp tốc và triệt để các trọng điểm Hồng Gai, Uông Bí.

Ngày 10 tháng 5 năm 1972, đế quốc Mỹ đánh phá có tính chất hủy diệt vào hai điểm thị xã Hồng Gai và khu tuyển than nhà sàng Cửa Ông gây thương vong lớn cho ta, 176 người chết, 233 người bị thương, nhiều nhà dân bị sập đổ.

Sáng ngày 10 tháng 5 năm 1972, địch đánh phá ồ ạt một số địa phương Quảng Ninh, buổi chiều 32 lần chiếc vào đánh phá. Trong số đó có 2 F.4 lợi dụng núi Bài Thơ bổ nhào đánh cọc 5. Cả ngày 10 tháng 5 năm 1972 Hồng Gai không bắn rơi được chiếc máy bay nào do chỉ huy bắn không đúng thời cơ, trinh sát không kiểm soát được mục tiêu nên khi địch bất ngờ xuất hiện ở nhiều hướng thì xoay xỏa không kịp. Pháo thủ không bắn được mục tiêu, có trường hợp bắn luôn hai mục tiêu cùng lúc. Rút kinh nghiệm ngày chiến đấu không thành công, đơn vị tiến hành kiểm điểm, xây dựng quyết tâm và tập luyện theo phương án tác chiến cơ bản.

Ngày 11 tháng 5 năm 1972, đế quốc Mỹ cho nhiều lần tốp máy bay thả thủy lôi, bom mìn các loại phong tỏa các cảng lớn: Hồng Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông gây tình hình rất căng thẳng trong khu vực.

Thời điểm này khu vực Hồng Gai chỉ có pháo 37mm của tiểu đoàn 327 bố trí ở đồi 105, pháo 37mm của xí nghiệp bốn ở đồi 102 và một số đơn vị trực chiến bằng súng bộ binh của các tiểu đoàn, đại đội tự vệ.

10 giờ 30 phút ngày 18 tháng 5 năm 1972 địch đánh Trới (Hoành Bồ) bay ra. Do quyết định chậm nên các đơn vị đánh không trúng. Ba phút sau 14 lần chiếc từ Uông Bí bay ra lại đánh Trới, ta nổ súng chiến đấu, vẫn không trúng. Đơn vị lại rút kinh nghiệm tại chỗ. Đến 16 giờ 20 phút một máy bay F.4 và 1 A.3J vào trinh sát, bay qua. 16 giờ 35 phút, xuất hiện 8 máy bay bay vào. Đại đội trường Ngôn hạ quyết tâm chính xác, ra lệnh bắn kịp thời. Bằng một điểm xạ dài 41 viên, đơn vị bắn rơi một chiếc F.4. Trận này ta thắng do chuẩn bị chu đáo có kiểm điểm khắc phục thiếu sót trận trước, mục tiêu quản lý chắc, phán đoán đúng, hành động kịp thời. Tuy nhiên, ta vẫn còn lúng túng, bỏ lỡ thời cơ bắn tốp 1, phải đánh tốp 2.

Tại Cửa Ông, địch đánh hai mục tiêu nhà sàng và cảng. Khu vực này phía đông là biển, tây bắc là đồi núi, nhiều điểm cao, tiện cho địch lợi dụng địa hình để bổ nhào khi lao xuống đánh.

Đại đội 150 chốt giữ ở Cửa Ông. Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, cũng tại đây, trong đội hình cả tiểu đoàn đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Số cán bộ thời kỳ này bổ sung đi các chiến trường. Cán bộ đai đội lúc này là lớp mới được bổ nhiệm từ năm 1971. Cán bộ trung đội, tiểu đội phần lớn là lớp nhập ngũ năm 1972. Chiến sĩ còn 50% số nhập ngũ năm 1971, 50% số nhập ngũ năm 1972.

Trong trận này, đại đội phải chiến đấu độc lập, cách xa tiểu đoàn 40km.

Đại đội bố trí trên đồi 60. Toàn đại đội có 4 khẩu 37mm một nòng, không có dự phòng, không có xe cơ động. Phối hợp chiến đấu có đơn vị nhà sàng Cửa Ông với 6 khẩu 12,7mm.

Lúc địch bổ nhào đánh phá, quân số đơn vị có một nửa đang huấn luyện, một nửa đào công sự. Trước đó vào lúc 9 giờ, một chiếc A.3J bay trinh sát ở độ cao 4.000m, đơn vị nổ súng không hiệu quả. Hiện tượng A.3J vào trinh sát là sau đó địch sẽ vào đánh phá.

16 giờ 55 phút, toàn đơn vị vào cấp một. 17 giờ, 2 tốp 8 chiếc máy bay vào, trong đó có 4 chiếc A.7 bay ở độ cao 3.000m. Sau đó, 2 chiếc F.4 lao vào đánh một tàu “an than” của Liên Xô (cũ) đang neo đậu ở cảng.

Một chiếc lợi dụng sườn điểm cao 105 lao xuống đánh bom vào quanh kho đạn. Hai khẩu pháo của ta bị hỏng không bắn được. Các chiến sĩ vội rời trận địa, xông vào cứu 4.000 viên đạn trong kho khi lửa đã bén vào cỏ tranh ngụy trang phía ngoài. Đơn vị bắn rơi 1 chiếc A.7, 7 chiến sĩ hy sinh. Các chiến sĩ tự vệ nhà sàng lên bổ sung các vị trí pháo thủ bị thương vong. Đêm hôm đó đại đội 150 cơ động sang vị trí khác. Cũng ngay trong đêm, tự vệ công nhân cơ khí lên chữa súng cho đại đội.

Trận đầu địch gây lại chiến tranh, bắn phá Cửa Ông, đại đội 150 lập công bắn rơi 1 chiếc, nhưng lượng đạn tiêu thụ lãng phí, sự phối hợp chiến đấu giữa đại đội với tự vệ chưa khớp. Đại đội nổ súng rồi mà tự vệ chưa lên phối hợp. Kỹ thuật bắn của các pháo thủ lúc chuyển chiếc và chuyển tốp có khẩu bắn đạn tản mát không tập trung, thiếu chính xác. Sau trận này, nhà máy sàng mang băng chuyền hỏng đưa đến trận địa ủng hộ bộ đội để quây pháo, bảo đảm an toàn, kể cả lúc địch đánh gần trận địa.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:10:43 PM
Từ ngày 10 tháng 5 năm 1972 đến 13 tháng 5 năm 1972, địch đánh đồng loạt các mục tiêu kinh tế, giao thông, quân sự, dân cư ở ba thị xã Hồng Gai, Uông Bí, Cẩm Phả. Đồng thời chúng rải thủy lôi, mìn phong tỏa các cảng, luồng lạch ra vào vùng ven biển của tỉnh. Thủ đoạn đánh phá và khoảng cách giữa các trận đánh so với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất gần hơn, dày hơn, liên tục hơn. Ở cả thị xã hầu như rất ít ngày không có báo động.

Trong bối cảnh ấy, tư tưởng chỉ đạo tổ chức lực lượng, xây dựng đơn vị pháo cao xạ bộ đội địa phương tỉnh là “thấu suốt quyết tâm chiến lược của Trung ương, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh đủ sức đảm nhiệm việc tác chiến bảo vệ địa phương để thay thế bộ đội chủ lực”. Sau khi địch đánh phá một số nơi trong tỉnh, lúc này cần thiết phải xúc tiến xây dựng binh chủng cao xạ trong tự vệ. Về lực lượng tự vệ của tỉnh, Tỉnh ủy đánh giá lực lượng công nhân của tỉnh có truyền thống đấu tranh cách mạng, có giác ngộ chính trị cao, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, có trình độ khoa học kỹ thuật, biết sử dụng các trang thiết bị của nền công nghiệp hiện đại nên có thể tiếp thu nhanh chóng khoa học kỹ thuật quân sự. Cơ sở vật chất của nền công nghiệp nặng cũng tạo điều kiện thuận lợi trong việc bảo đảm chiến đấu đối với binh chủng kỹ thuật.

Vấn đề nhận pháo tiểu cao, trung cao, Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn đã gợi ý từ năm 1971. Nhưng để có được sự nhất trí như chủ trương của Tỉnh ủy, cũng phải qua một thời gian thảo luận xung quanh việc có nhận súng lớn hay không? Nếu nhận pháo 100mm, lấy gì để kéo? Thiếu khí tài có đánh được không?

Số lượng pháo được trên cấp gồm: 5 đại đội pháo cao xạ 100m, 4 đại đội pháo 85mm, 1 đại đội pháo 37mm.

Công ty than Hồng Gai đưa 72 lần chiếc xe Gấu loại 11 tấn đi kéo pháo và 108 lần xe 4 tấn chở đạn. Dọc đường về, có khẩu lốp bị xì hơi phải điện về đưa máy lên bơm. Đem pháo về lại có khẩu bị hỏng, tỉnh đội cử người lên sư đoàn cao xạ 363 nhờ thợ xửa chữa xuống huấn luyện. 400 thợ cơ khí bậc 4 được cử đến học. học xong, khi trở về địa phương anh em tự thao tác và sửa chữa pháo.

Pháo 100mm trang bị cho tự vệ công ty xây dựng Uông Bí một tiểu đoàn, Hà Tu một đại đội. Pháo 85mm trang bị cho tiểu đoàn tự vệ mỏ Hà Lầm. Pháo 37mm trang bị trước tháng 4 năm 1972 cho xí nghiệp bến Hồng Gai một đại đội.

(https://lh3.googleusercontent.com/NWC2JCBPtJGs8oaWmXaO3ANg3iFMY1mBCNA284LMFj5bSCtHaKOszLBMWQGGlR-bovS1TsshTwueGIkeTGCe_re3I-iHQFpe1LlNojNCSLcUsS58j-O6bMFqaiLq6I4sRbdrz3FS8-c4CfBg709_IBe2LUrpbkgmwWtwUPEIyALZ-TUVY2rTpvxCiVKAmvAzxA55OR7J2kLS6G5XJUhZj0nte3SqNHHhlXPdODDbcdA1gfebco9DAoY0L5XK1htCm-7OwNc2PCY1IfIXJBlbFbsio61fE5U9BKhYhOakI9m1dAkLx8Juh8K1GtahUqBDwxM6O84bC5i-vGGof3MjaXqBVoaXGcay9mXEnxxYPq2TJ6xbVh_npy0UBx-GluXHzBumk7T-Zi5oR4MnnnKzbv5KP_hNVHD4K7u1MrSfnloSzBhX5JzHZnM5-5FRcidLA-lB2FTmJtc-OusxF8Fh6hWSaDhFb5oN1DDD1Z7c-ZS0_G3DVgKNp9bW2mUb_LhLyCcnyZoh_imgG9-lo92s3SFNkr_CpJDsP-C0_EIORw-nVFrHo02myJH7FkwtVBPn8HqSScoFsGpqbMwr5vqGoUB9TjvTo73UJPLf1Cblfw=w555-h832-no)

Một khẩu đội của tự vệ bến Hồng Gai , đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nổ súng kịp thời đánh máy bay Mĩ, tháng 6 năm 1972

Đề phòng tình huống địch mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc, Tỉnh ủy chủ trương nhận cả pháo mặt đất 105mm.

Quảng Ninh vừa chuẩn bị chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ, lại vừa phải sẵn sàng đánh thắng địch tập kích đổ bộ đường không vào Hồng Gai và một số điểm cao khống chế có giá trị chiến thuật khác trong tỉnh. Việc chuẩn bị đánh địch tập kích được tiến hành tốt nhưng cũng bộc lộ hiện tượng đánh địch chưa đúng ở một vài nơi.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:11:10 PM
Đưa được pháo trung cao về an toàn là một thắng lợi, tạo niềm tin về khả năng chiến đấu đánh trả máy bay Mỹ của lực lượng cao xạ tự vệ. Đơn vị pháo 100mm của tự vệ Hà Tu, tất cả cán bộ chiến sĩ đều có trình độ văn hóa lớp 7 trở lên, có 4 kỹ sư cơ khí và nhiều thợ bậc cao. Nhận pháo về, cán bộ công nhân viên toàn mỏ rất phấn khởi. trong ngày lễ ra mắt tiểu đoàn pháo cao xạ trung cao 85mm tại mỏ Hà Lầm, đại tá Đặng Kinh – Tư lệnh Quân khu về dự đã chúc tiểu đoàn phát huy truyền thống trung đội vệ quốc đoàn của vùng mỏ bất khuất.

Sau một thời gian huân luyện, tháng 8 năm 1972 các đơn vị pháo của Uông Bí, Hà Tu, Hà Lầm đều đánh được. Do đánh được nên phòng tránh cũng tốt. Tuy còn chệch choạc, nhưng bầu trời địa phương xuất hiện khói trắng dạn pháo 100mm – 85mm khiến máy bay địch phản phân tán đội hình không dám khinh suất bay chụm từng đàn. Sau đó địch phải chuyển xuống bay thấp. Nhưng Bộ chỉ huy tỉnh có thiếu sót tổ chức các cụm hỏa lực tầm thấp còn chậm nên không diệt được địch.

Các đồng chí Lê Văn Lương, Bí thư Trung ương Đảng, Nguyễn Hữu Mai, Bộ trưởng Điện – Than lên thăm các trận địa pháo xa của tự vệ đều khen ngợi và động viên. Thường vụ tỉnh ủy họp quyết định củng cố và tạo điều kiện cho lực lượng pháo cao xạ của tự vệ chiến đấu bắn rơi được máy bay.

Phát triển chủ trương xây dựng lực lượng tự vệ bảo vệ địa phương thay thế bộ đội chủ lực, Quảng Ninh hình thành các cụm chiến đấu hỗn hợp từng khu vực: Cửa Ông, cọc 6, Cẩm Phả, Quang Hanh, Hà Tu, Hà Lầm, nỗi nơi thành một cụm chiến đấu. Trong mỗi cụm có đơn vị phòng không cao xạ bắn máy bay, có pháo mặt đất, có đơn vị cơ động của bộ đội và dân quân tự vệ, có địa phương, có xí nghiệp. Về chiến đấu và phục vụ chiến đấu của tự vệ thì lấy xí nghiệp làm nòng cốt vì quân đông, phương tiện nhiều, khả năng lớn. Trường hợp địch đánh giao thông thì xí nghiệp và nhân dân địa phương giải phóng đường tắc bằng máy gạt, máy húc, máy cẩu. Ngành giao thông củng cố đường. Riêng Cửa Ông có hệ thống đường hầm lớn nên lực lượng sản xuất và phục vụ chiến đấu vẫn ở lại trụ bám. Toàn bộ chi phí cho việc kéo pháo, chở đạn và bảo đảm các yêu cầu của mỗi trận địa, mỗi khu vực do công ty than Hồng Gai đài thọ lên tới 1.772.260 đồng.

Từ giữa tháng 5 năm 1972 đến đầu tháng 6 năm 1972, địch đánh hầu hết các mục tiêu quan trọng về kinh tế, giao thông, quân sự, dân sự trong tỉnh.

Do chuyển trạng thái từ thời bình sang thời chiến chậm, việc chuẩn bị tác chiến chưa sát, bố trí lực lượng không tập trung nên ngay  trong tháng 5 năm 1972 tại thị xã Cẩm Phả có 3 đại đội cao xạ (tự vệ) nằm rải rác 3 nơi, trong khi Cửa Ông chỉ có 1 đại đội của tiểu đoàn 237, do đó kết quả bảo vệ Cửa Ông chưa cao.

Để đảm bảo vận chuyển hàng trên biển, Bộ tư lệnh Hải quân đưa trung đoàn 172, trung đoàn 128 Hải quân phụ trách việc mở luồng vận chuyển huyết mạch từ Hải Phòng đến biên giới phía Bắc và mở các luồng chính trong khu vực Hồng Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông. Đêm 27 tháng 5 năm 1972 tại khu Quả Xoài – Bến Góp đại đội 150 và đại đội 53 phá nổ 5 thủy lôi MK42.

Cùng với việc rà quét các bãi thủy lôi địch trong tháng 5 năm 1972 các lực lượng vận chuyển phát hiện một đường vòng tránh trên biển từ Quảng Ninh đến Hải Phòng bảo đảm cho tàu thuyền quân sự, tàu thuyền nhà nước và nhân dân qua lại an toàn. Không khí làm việc trên tuyến này nhộn nhịp náo nức. Tàu từ ngoài vào, từ trong ra tấp nập, tàu chở gạo, tàu bột mì, thuốc chữa bệnh, tàu chở máy, vật liệu, xăng dầu, vũ khí đạn dược… nhịp nhàng đúng hẹn. năng suất lao động rát cao. Tàu bạn đến, hàng sang mạn chuyển đi ngay, tàu xăng dầu đến bơm thẳng xuống tàu dầu 50 tấn đi luôn vào chiến trường… Nhưng rồi địch cũng phát hiện điều bí mật này, chúng lại phong tỏa thủy lôi, mìn, bom chờ nổ đủ kiểu, đủ loại…

Những con tàu phóng từ đi phá thủy lôi, mở luồng lại nổ máy ra đi. Có lần tàu vừa xuất phát triển vịnh Bái Tử Long thì trời kéo mây đen ùn ùn, cả vùng đảo tối sầm lại. Trời mưa to gió lớn. Sóng biển cuộn lên. Tàu chỉ còn cách kéo kèo đi trong mưa gió mù mịt. Hải đổ mất tác dụng, nhưng thuyền trưởng vẫn vững tay lái, tự tin điều khiển con tàu.

 Tính riêng ba tháng 6, 7 và 9 năm 1972, địch đánh trung bình từ 26 đến 29 ngày trong một tháng. Chúng dùng thủy lổi hủy diệt các hải cảng, rải mìn phong tỏa biển kết hợp dùng không quân đánh ngăn chặn việc vận chuyển của ta trên biển. Riêng đảo Tuần Châu giáp lối ra vào Hồng Gai, địch đã thả xuống đây không biết bao nhiêu thủy lôi. Xác định không đi biển là chịu thua Mỹ, đội sản xuất của tiểu đội trưởng Ty và Cáp vẫn lách thủy lôi, mìn ra khơi đánh cá đạt năng suất cao nhất hợp tác xã, mỗi tháng 5 lần.

Sau những đợt địch phong tỏa thủy lôi từ ngày 10 tháng 5 năm 1972 trở đi, 6 đội sản xuất vẫn vượt thủy lôi bám biển đánh cá. Có thuyền ra đi không trở về.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:12:49 PM
Trên trận địa Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tự vệ nhà máy sàng Cửa Ông kiên trì thực hiện khẩu hiệu “Đâu khó có tự vệ”. Cỗ máy sàng thứ ba bị địch đánh hỏng. Do yêu cầu sàng rửa than và đề phòng tình huống ác liệt hơn, toàn đơn vị bỏ ra hàng trăm công ngoài giờ để sửa máy. Đây cũng là việc làm “vượt tuyến” vì nhiệm vụ sửa máy là của công nhân cơ khí. Máy được sửa và hoạt động trở lại.

Địch đánh phá nhà máy, xí nghiệp, công trường nên sản xuất bị thu hẹp, một số lớn công nhân không có việc làm. Để giữ vững tổ chức ngành than và đảm bảo mức lương cho công nhân trong thời chiến, công ty than Hồng Gai và công ty, xây dựng Uông Bí thành lập đoàn xe hàng trăm chiếc mang tên đoàn 12-11 (ngày truyền thống của công nhân mỏ) để vận chuyển hàng chiến lược cho Nhà nước, đồng thời đưa hàng nghìn tự vệ sang làm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo vệ cơ sở.

Ở huyện Cẩm Phả, từ tháng 5 năm 1972 địch phong tỏa thủy lôi quanh đảo làm cho nghề cá bị uy hiếp nghiêm trọng. Huyện ủy chủ trương thành lập ban chỉ đạo nghề cá, lấy cơ quan quân sự làm tham mưu, lấy dân quân du kích làm nòng cốt. Bằng các phương thức thô sơ kết hợp hiện đại, các lực lượng chống phong tỏa từng bước giải phóng luồng lạch, đưa thuyền ra khơi đánh cá. Nghị quyết 04/TU của tỉnh ủy năm 1972 ghi rõ: “Tỉnh ủy coi giao thông vận tải là nhiệm vụ đột xuất số một hiện nay và phải chuyển hướng theo thời chiến, dũng cảm, khẩn trương, bí mật, linh hoạt khéo che giấu địch, biết tranh thủ thời cơ, có tổ chức chỉ huy lãnh đạo và quản lý chặt chẽ”. Năm 1972, các huyện Bình Liêu, Đình Lập, Hoành Bồ, thị xã Hồng Gai, thị xã Cẩm Phả, xã Phong Dụ (Tiên Yên), mỏ Hà Tu, công ty xây dựng Uông Bí, bến cảng Cửa Ông góp 4.120 công, 67 ca xe gạt; công ty Hồng Gai góp 6.000 công, 300 xe làm đường và vận chuyển; xí nghiệp tàu thuyền Hạ Long đóng mới được nhiều tàu thuyền, cầu phà phục vụ yêu cầu của tỉnh và chi viện chiến trường.

Đầm Hà – xã nổi tiếng sau cuộc độc lập chiến đấu bắt gọn một toán biệt kích Mỹ - Diệm năm 1963, rồi 8 năm liên tục được tuyên dương đơn vị quyết thắng (1963-1971) là một xã luôn dẫn đầu, phấn đấu ngày càng vững mạnh. Tuyển quân chi viện chiến trường từ năm 1963 đến năm 1972 có 400 thanh niên lên đường chống Mỹ cứu nước (bằng 8% dân số xã). Anh em ra đi đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, chưa có trường hợp bỏ ngũ hoặc thoái thác nhiệm vụ. Nhiều anh em thực hiện quyết tâm “đã đi là đến, đã đánh là thắng”.

Tháng 9 năm 192 địch tạm ngừng đánh phá hai nhà máy diện cọc 5 và Uông Bí vì cả hai nơi này đều bị đánh hư hại nặng, mặt khác do ta khéo ngụy trang che mắt trinh sát địch. Nhà máy điện cọc 5 nhiệm vụ chủ yếu là quản lý, phân phối diện cho sản xuất và dân dụng trong tỉnh. Bề ngoài nhà máy cứ để cảnh bị tàn phá tan hoang, nhưng bên trong bịt kín tất cả các cửa khe rãnh để khi máy vận hành, ánh sáng không hắt ra ngoài. Ở nhà máy điện Uông Bí, công nhân có sáng kiến làm ống dẫn khói tỏa xuống hệ thống ngầm che mắt địch, bên trong nhà máy vẫn phát điện liên tục ngày đêm.

Trong lúc cả tỉnh chuyển vào thời chiến, các trung tâm thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp phải sơ tán, năm học 1971-1972 toàn tỉnh vẫn đạt tỷ lệ 18,5%, vượt chỉ tiêu đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ nhất đề ra 0,5%.

Mạng lưới trường lớp được mở rộng hơn trước, mỗi xã ở các huyện miền xuôi, vùng núi thấp, thị trấn đều có một trường mẫu giáo, vỡ lòng, một trường cấp I, một trường cấp II, có nơi hai trường cấp I. Ở các xã vùng cao hẻo lánh mỗi xã cũng có một trường cấp I, một trường mẫu giáo và một trường vỡ lòng. Đặc biệt cấp III phát triển thêm 8 trường. Đông Triều, Yên Hưng, Hồng Gai mỗi nơi có hai trường cấp III. Hàng năm, tỉnh có 1.000 học sinh vào các trường đại học.

Phong trào bổ túc văn hóa năm học 1971-1972 có tới 12.390 người theo học ngoài giờ. Hệ bổ túc văn hóa tập trung thường xuyên có 1.000 học sinh. Trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm, năm học 1971-1972 có tới 815 học sinh(1). Sự nghiệp giáo dục trong tỉnh không những được duy trì mà còn phát triển. “Đó là một việc làm hiếm có trong lịch sử chiến tranh, một sự cố gắng vượt bậc, một thành tựu kỳ diệu của nhân dân ta, Đảng ta”(2).


(1) 30 năm đấu tranh, xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân ở Quảng Ninh, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh ủy Quảng Ninh, 1976, tr.122-123.
(2) Lời đồng chí Lê Duẩn.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:13:56 PM
Ngành bảo vệ sức khỏe nhân dân đạt nhiều thành tựu mới. Trước ngày giải phóng, những người thợ mỏ và người các dân tộc thiểu số tuổi thọ thấp.

Giờ đây toàn tỉnh có 217 bác sĩ, 50 dược sĩ và 600 y sĩ. Chiến tranh ác liệt lại là thời kỳ sự nghiệp y tế phát triển nhanh nhiều mặt. Số bệnh viên tăng 3 lần, bệnh xá tăng 2 lần, số giường bệnh lên tới 4.178, đạt tỷ lệ 45 giường bệnh/một vạn dân. Năm 1972 nhiều tập thể và cá nhân ngành y tế được khen thưởng.

Bệnh viện Quảng Ninh, các bệnh viện Cẩm Phả, thị xã Hồng Gai, trạm vệ sinh phòng dịch, hội chữ thập đỏ được thưởng huân chương (1972).

(https://lh3.googleusercontent.com/SkumiFGNSjASmHxlSqGco2LOtJvyAbfFzrrhdIbZ-3iWQJAfNe9rDtCjTDiQOUtU1vf5hXLF82vFkO9SEkQi1kBor64eBUkIK4oJeRvnNPyBD-ZeOujlZFlhABhR-BRHAR7Fa4ghFYehdfCUQXx7uTDOZ4-muL7ChuLspXkKhq0csWCFzJaxIruaxoXW9IFhdRmk9FpP5Y-eeI6xze5byc0-I_NLIfWhnQAXTzy0bzZpp-eFKqqqlA8vnyb8KEaDto_2WyE6127psC4Nvpm5X10Z7mLYl-5lamiqYH0Nv6T_6T70TT7B1Uv90Jh2I2zUlp8XLUdmOST36LjAjmm60qo8rtuSlLPqM7ha05vfCd5mM73-mA1O4GScJWt8HaEkRVJcJcwHk4B47qJx9fc1ccj_QuavymIG6HcdXSrOZtK333t1H6DvCxdySEbsaV6BW9YRIxBeGxjVqFtj_v2h6_QU8aTov5hrGJOHCcx6mGBk3NrevDfhWN6YIKzjOaC7ET3xikveqjBuA6uqFqepjQZgz1stPfHUnjc8aFgtUeKEnRaJkeApWCIEHw9Yn-pi_YZaCUyEPLHe4RCw6epGwbp_sHZiFIVbsHXJcCBFeA=w1018-h768-no)

Bệnh viện Cẩm Phả (Quảng Ninh) được chuyển vào hang núi tiếp tục điều trị cho người bệnh

Từ 1970-1971, hoàn thành xây dựng sân vận động Hồng Gai với trên một vạn chỗ ngồi. Đến năm 1972, số loa truyền thanh tăng gấp 3 lần. Đài truyền hình Quảng Ninh đã phát sóng… Đó là phương tiện thông tin tuyên truyền đại chúng vừa động viên cổ vũ quân dân trong chiến đấu, vừa có tác dụng báo động phòng không rất tích cực.

Tháng 9 năm 1972 tỉnh đội điều đại đội 150 bảo vệ cọc 5, tập trung tiểu đoàn 237 và một số đơn vị khác về Cửa Ông bảo vệ khu nhà máy sàng và vận chuyển than của cảng. Đây là một cách mạnh dạn cơ động lực lượng tránh bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch, không dể bộ đội nằm chờ ở mục tiêu mà địch lại không đến đánh, đồng thời tập trung lực lượng trực chiến của dân quân tự vệ theo tuyến, vừa phối hợp với bộ đội đánh địch bảo vệ mục tiêu vừa giáng trả thủ đoạn đánh nhỏ lẻ, dai dẳng, liên tục ngày đêm nhằm gây thiệt hại về người, tài sản nhà nước ở các vùng sơ tán, vùng đảo, ven biển, trên đường giao thông.

Các đơn vị tàu hải quân, các lực lượng phối thuộc của tỉnh, của Quân khu Tả Ngạn, của nhân dân trên các đảo ven biển, tháo gỡ hàng chục quả thủy lôi và nhiều bom chờ nổ chậm.

Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam – Bắc nước ta, ngày 22 tháng 10 năm 1972, tổng thống Mỹ lại tuyên bố ngừng ném bom bắn phá từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra.

Bộ Chính trị chỉ thị cho các địa phương và các lực lượng vũ trang phải “đề phòng Mỹ tăng cường hành động quân sự trở lại, tuyệt đối không được lơ là mất cảnh giác”.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:15:16 PM
14 giờ ngày 24 tháng 10 năm 1972, chỉ sau 30 giờ địch tuyên bố ngừng ném bom, luồng Quảng Ninh – Hải Phòng được giải tỏa. Ban chỉ đạo bảo đảm giao thông liên tỉnh, thành phố Quảng Ninh – Hải Phòng chính thức đề nghị Chính phủ mở lại luồng vận chuyển này cho tàu thuyền loại nhỏ qua lại. Chính phủ phê duyệt đề nghị đó. Ngay chiều và đêm 24 tháng 10 năm 1972 đã có 182 tàu thuyền vận tải 400 tấn trở xuống đi từ Quảng Ninh về Hải Phòng và ngược lại an toàn.

Lực lượng rà quét thủy lôi vùng biển Đông Bắc phối hợp mở rộng phạm vi an toàn trên nhiều luồng lạch khác. Đầu tháng 11 năm 1972 tàu trọng tải 2.000 tấn đến 5.000 tấn vào Cửa Vạn an toàn.

Cuộc chiến đấu chống phong tỏa diễn ra những ngày tháng căng thẳng quyết liệt, hy sinh đầy sự tích anh hùng. Sau chuyến đi dài ngày vào tháng 9 năm 1972 vượt qua 1.200km qua một số tỉnh, thành phố lớn của miền Bắc trong đó có Quảng Ninh, ngày 3 tháng 10 năm 1972, nhà báo Mỹ Ri-sớt Dớt-man viết trên báo Diễn đàn thông tin quốc tế: “Bắc Việt Nam sẵn sàng có thể chiến đấu hầu như không có giới hạn. Chắc chắn là việc ném bom nặng nề và liên tiếp Bắc Việt Nam của chính phủ Ních-xơn bắt đầu giữa tháng 4 năm 1972 không ngăn cản được sức sản xuất, việc phân phối những hàng cần thiết và không làm suy yếu tinh thần họ”.

“Ném bom đã đủ để gây đau khổ cho nhiều dân thường nhưng còn xa mới đạt được mục đích quân sự và làm tan rã khả năng chiến đấu tàn phá nền kinh tế hoặc thủ tiêu ý chí tiếp tục chiến đấu của Bắc Việt Nam”(1).

Hai ngày trước khi diễn ra việc bầu cử tổng thống Mỹ, Ních-xơn lại ra lệnh đánh phá Hà Tĩnh. Nghệ An.

Ngày 27 tháng 11 năm 1972, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho các lực lượng vũ trang nhân dân tăng cường chuẩn bị chiến đấu. Bộ Tổng tư lệnh nhận định: “Có nhiều khả năng địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng B52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng”.

Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ tổng Tham mưu triệu tập cuộc họp với Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, quân binh chủng hướng dẫn “kế hoạch đối phó tình huống địch dùng máy bay B52 đánh phá các địa phương, các thành phố lớn, các khu công nghiệp, để giữ vững nền nếp sản xuất, chiến đấu, kiên quyết thực hiện sơ tán, phòng tránh trong các tình huống địch đánh phá ác liệt nhất”.

Chỉ thị của Quân ủy Trung ương, kế hoạch của bộ Tổng Tham mưu được Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn cụ thể hóa vào địa bàn từng địa phương, trước hết là các trọng điểm Hải Phòng – Quảng Ninh, đường 1 bắc.

Thường vụ tỉnh ủy họp khẩn cấp vào sáng 17 tháng 11 năm 1972. Cuộc họp mới bắt đầu thì được tin của trên thông báo: 13 lần chiếc máy bay Mỹ đến thả 150 thủy lôi xuống luồng tàu bên ngoài cửa Nam Triệu. Thường vụ Tỉnh ủy nhận định trong những ngày tới địch sẽ đánh phá Quảng Ninh. Theo quy luật, nếu địch đánh phá Hải Phòng trước thì những mũi kiềm chế và nghi binh của chúng sẽ đánh Quảng Ninh. Cần đề phòng khả năng địch đồng thời đánh cả Hải Phòng và Quảng Ninh. Thường vụ tỉnh ủy chỉ thị cho các đơn vị, các huyện, thị xã và cơ sở, nhất là ba trọng điểm Hồng Gai, Uông Bí, Cửa Ông phải thực hiện các biện pháp phòng chống B.52 mà cấp trên đã hướng dẫn.

Thực hiện chỉ thị của Thường vụ tỉnh ủy, ngay đêm 17 tháng 12 năm 1972 các thị xã Hồng Gai, Uông Bí, Cẩm Phả, Cửg Ông thực hiện kế hoạch sơ tán người, phân tán hàng hóa.

Các loại phương tiện vận tải ô tô, tàu thuyền, xe thồ… lần lượt rời khỏi nhà máy, xí nghiệp, cơ quan đường phố. Trên xe thuyền, ca nô, ô tô… đầy ắp người và hàng hóa. 53.000 dân thị xã Hồng Gai tạm rời thị xã. Rút kinh nghiệm lần trước, nhiều tài sản quý, xăng dầu… được bố trí rải rác dọc đường lớn, tiện phân tán, quản lý, cấp phát và địch khó phát hiện.

Đêm 18 tháng 12 năm 1972, 90 lần chiếc B.52 cùng 163 lần chiếc máy bay phản lực xuất hiện trên vùng biển miền Bắc. Cuộc tập kích chiến lược đường không lần thứ hai của chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ II của Mỹ mở đầu bằng các cuộc giội bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác. Cùng với việc đánh phá bằng B52 ở đất liền, đế quốc Mỹ đồng thời thực hiện chiến dịch phong tỏa cửa biển, cửa sông hòng phong tỏa miền Bắc bằng bom mìn, thủy lôi. Ngày 19 tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ thả hàng loạt thủy lôi xuống luồng Lạch Miêu vào Hồng Gai, luồng Hang Trống vào Cửa Ông và sau đó chúng lại thả tiếp thủy lôi xuống Hồng Gai.


(1) Chiến tranh Việt Nam và kinh tế Mỹ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, tr.33.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:16:28 PM
Ở tuyến ngoài đảo Ngọc Vừng, một ngày sau khi địch đánh tuyến trong, lực lượng chiến đấu ở đảo phát hiện địch bay ra sà thấp, phải bay gấp về căn cứ tàu sân bay. Trên đảo có 1 đại đội 37mm, 6 khẩu 14,5mm và 6 khẩu 12,7mm, nhưng bố trí còn phân tán. Chi ủy và chỉ huy đơn vị quyết định tập trung hỏa lực thành một cụm, đưa pháo 37mm lên cao. Đại đội 37mm ở giữa, phân đội 14,5mm và 12,7mm bố trí xung quanh theo kiểu bậc thang. Qua một ngày nghiên cứu địch, đơn vị đã nắm được đường bay chủ yếu và hạ quyết tâm chọn đúng thời cơ đánh máy bay địch cả lúc chúng bay vào cũng như bay ra.

12 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1972, hai chiếc máy bay vào đánh Hồng Gai, bay cao. Lúc ra, chúng bay thấp, nhưng tốc độ lớn. Pháo 37mm ở Ngọc Vừng bắn không chính xác. Nhưng cụm 14,5mm và 12,7mm bắn trúng, một chiếc rơi tại chỗ. Đại đội 37mm rút kinh nghiệm sẵn sàng chiến đấu chưa cao, chỉ huy hạ lệnh không kịp thời cơ, các khẩu đội bắn còn chậm.

Sáng 23 tháng 12 năm 1972, một chiếc A.3J bay vào. Lúc bay ra, máy bay ở độ cao 1.500m, đại đội pháo 37mm bắn một loạt ngắn. Máy bay trúng đạn rơi xuống biển. Cùng lúc, 12 máy bay đến bắn phá xung quanh đảo. Các khẩu đội 12,7mm và 14,5mm bắn với nên không trúng mục tiêu.

Sau trận đánh này, trận địa được ngụy trang lại ngay trong đêm. Ngày 24 tháng 12 năm 1972, hai chiếc F4 bay thấp ở độ cao 1.800m và vẫn theo đường bay của chiếc A.3J hôm trước. Toàn trận địa đồng loạt nổ súng. Một chiếc F4 bị bắn rơi. Đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 200 bị bắn rơi tại Quảng Ninh và là chiếc máy bay Mỹ cuối cùng sau 6 tháng địch gây chiến tranh phá hoại lần thứ hai trên địa bàn Quảng Ninh.

Ngọc Vừng, một đảo nhỏ nhưng rất kiên cường. Chỉ riêng trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, bình quân mỗi người dân trên đảo phải chịu 16 quả bom các loại. Trong gần 4 năm chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, địch đã đánh phá đảo 237 trận. Chiến tranh phá hoại lần thứ hai chỉ diễn ra trong 6 tháng, địch đánh phá đến 100 trận với trên 1.000 quả bom, phá hoại sản xuất, phá hủy trường học, cửa hàng mua bán, làm sập đổ nhiều nhà dân, đánh chìm nhiều thuyền đánh cá. Căm thù giặc Mỹ xâm lược, quân và dân trên đảo đoàn kết một lòng hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Dũng cảm đánh máy bay địch, quân và dân đảo Ngọc Vừng còn vượt thủy lôi mở đường liên lạc, tiếp tế các đảo xa, cứu trên 100 người bị nạn trên biển.

(https://lh3.googleusercontent.com/gd_YeEW_MQGgrRjdzc18C39ci87_xmKficgXefhsoWIVN2CxSQjRbRqgS9GgpBXG1sfjjl38iYR8souUZ5tXbHL87BA2x2Q76tseAkzFxp8hcqIDwr7-cauafYx3Dxy9lWj_eXaiYmeCPZC0AZ7gfag7tQciVMjcw6P_8fMJYzj5wowvM3PzSdFqvxaBUZWykJ5pyNKHJXGnBHLdCvizeaq_8k4hhEq19McW55N7WIcaI0Wnh0boxfQaSZJzyiA7MbrJDjZlqFaSn2yeS20siEtA8q2KHhxjKOVRwisTAyVApgSvBrOoumRUhw5lf8w9jrFO8h6fV9Bge4c2cFtehG2ahktMkkx_rp12qgsMKrkxOwotALiSh30iedVLYQAuVsc8r6NHTIgKj4qUB7791ElZ64MaBbWN3nVox6i5b7pFGRVrVHvjgWABsAZ_eXSfe7l3dp8KJnZALEEsG3ulnBebjaVO5J_r7KXxK-yOy8-bBCAwnZ3zTPMOKD9vzhSXnYQ_JOEbkahX18aPRMPmH78JNiPmbRLHrYSwcoNlqF_UbV0x6hQijkpEcHlz_5sC90p6FhaaqikLKJk8y17OI1dl_iYbbPWlYvvfZdevLw=w800-h556-no)

Dân quân đảo Ngọc Vừng, huyện Cẩm Phả đuổi bắt giặc lái Mỹ ngày 24/12/1972

7 giờ sáng ngày 30 tháng 12 năm 1972, tổng thống Mỹ Ních-xơn phải tuyên bố trở lại tình trạng trước ngày 18 tháng 12 năm 1972, nghĩa là ngừng ném bom bắn phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra để có thể tiếp tục trở lại đàm phán ở Hội nghị Pa-ri.

Cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52, nỗ lực quân sự cao nhất và cuối cùng của những người cầm quyền nước Mỹ bị thất bại thảm hại.

Trong 12 ngày đêm của chiến dịch, Mỹ huy động 792 lần chiếc B52, 1.900 lần chiếc máy bay cường kích, chiến thuật, ném gần 30.000 tấn bom đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và một số địa phương khác. Quân và dân ta đánh những trận tiêu diệt xuất sắc: bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B.52. Giới quân sự Mỹ coi chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ II của 12 ngày đêm cuối năm 1972 là “tấn thảm kịch”, “một trường hợp sử dụng tập trung hỏa lực không quân ở mức cao nhất trong lích sử chiến tranh chống lại một hệ thống phòng không mạnh nhất thế giới”.

Qua hai lần tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân, (không có B52 và cũng không có trường hợp địch dùng tàu chiến từ ngoài biển đánh phá Quảng Ninh), địch đánh vào Quảng Ninh 4 năm, 1 tháng, 7 ngày. Chúng đánh 2.340 trận, ném, thả, rải tới 28.531 bom mìn, thủy lôi các kiểu, các loại khoảng 9.680 tấn, bắn hàng nghìn rốc-két và đạn các loại xuống các mục tiêu. Từ năm 1964 đến 1968 địch đánh 1.737 trận với 19.348 quả bom, thời gian đánh là 1.035 ngày; trong đó có 17,3% số trận đánh mục tiêu dân cư, 27,4% số trận đánh giao thông vận tải. Địch đánh 14 nhà máy lớn và quan trọng nhất như: điện, cơ khí, sàng rửa, tuyển than… của khu mỏ.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Chín, 2017, 10:18:41 PM
.000 quả bom các loại. Nhà máy diện Uông Bí bị đánh 63 trận với hơn 1.500 quả bom. Tỷ lệ người bị chết do bom đạn địch gây ra là 1,30 người trong một trận, số người bị thương là 2,05 người trong một trận. Những nơi bám trụ sản xuất, địch đánh phá rất ác liệt thì thương vong lại ít hơn vì các lực lượng phòng không bắn trả mãnh liệt, và hầm hố ở những nơi đó vững chắc hơn. Nhà máy điện Uông Bí qua hai cuộc chiến tranh chết 10, bị thương 11. Xí nghiệp tàu thuyền Hạ Long năm 1972 bị đánh 12 trận, bị thương nhẹ 4 người.

Chiến tranh phá hoại lần thứ hai chỉ diễn ra 6 tháng nhưng mức độ đánh phá ác liệt hơn chiến tranh phá hoại lần thứ nhất về nhiều mặt. Số ngày địch đánh phá trong năm 1972 là 173 ngày, bằng 13,24% số ngày địch đánh phá trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1964-1968), nhưng số trận bằng 346% và số bom đạn bằng gần một nửa (45,99). Số trận đánh vào mục tiêu dân cư của chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng 43% tổng số trận. Số trận đánh giao thông vận tải gần bằng số trận đánh mục tiêu này trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất. Sáu tháng năm 1972 địch đánh 603 trận với 8.097 quả bom, 976 quả thủy lôi và đánh phá với 34 nhà máy (chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đánh 14 nhà máy).

Địch gây cho Quảng Ninh thiệt hại nhiều mặt. Các thị xã Hồng Gai, Uông Bí, các thị trấn Hà Tu, Cửa Ông, nhiều nơi như Mông Dương, cọc 6, Vàng Danh bị đánh hủy diệt. Qua hai cuộc chiến tranh phá hoại, địch giết hại 2.501 người, làm bị thương 3.076 người, gây thiệt hại về tài sản lên tới 60.886.906 đồng(1).

(https://lh3.googleusercontent.com/LPk9NCzEg2465_GpZSY7z2V3N7ChUMFJU5TWD9WfhXqC4ATqX1mc0nLH3dpNha2-Z6z-KlBxLdjSQiUH3_Rr94Zf32oi9kelqF4qJOCd-mxNkwL-y7UoX47eVng4r0Tckp9S_-OFGyDU18HEvGNEUOxN4lRSZ4auiFF16gQflYTcJRQCyiXDVCTmWqOJXysL-X6-o-50JaJvdWTzCaBeCiNttsxo63qorWJq2Bcis53KUkphwTUweh8tBDgh-HjscQIhmnVtrEXosJK5f9Rqb5Za6DM_rRI9XFLqn--lZgaOJgZ0ErsWGFVLR5fw6nHtdOaDP0SCoMgFnbVWHrSKuBbl3AVYvRmIJ-Fg1bHHE-uGEivBDpIdvNZfHUpYwyM52X5dBOHKfhQtLxyUmp5yX8DuicPjMcXksOL07jDfQp8SdUt2IGIyVgDv26RV0HwDbbvKmvz2g9gA0Ky9C_30P0cLBeqRQztELtxL8OiHGgiQ3pO4Sas5mAQDOL_yynlQvjZVxLSWkllxtPd4rBuT1Z0moG63IOGeI-dFEQQsGhmZ-fL3kh3_XNm_qO9uSkfv6mo4mvZymvlLXwFqunxWlWf2hqq04Xs7MDKpoapuUQ=w800-h485-no)

Công nhân mỏ than Vàng Danh cứu đồng đội sau trận máy bay Mỹ đánh phá ngày 23/7/1972

Qua hai cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt, tuy gian khổ, khó khăn nhiều mặt nhưng đã hình thành các cụm sơ tán của xí nghiệp, khu phố gần nhau, có tổ chức hành chính, chính trị khá chặt chẽ và những nơi đó cũng trở thành những đơn vị sản xuất, phòng tránh, chiến đấu, trị an và dịch vụ. Một số khu vực sơ tán có tổ chức tố như Bãi Soi, Hai Khe (Uông Bí), Bãi Cháy, Cao Thằng (Hồng Gai), ki-lô-mét số 4, ki-lô-mét số 8, Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả, nhiều nơi sơ tán đã thành khu dân cư mới sau chiến tranh.

Năm 1972, địch đánh phá ác liệt khiến ngành điện than của tỉnh phải thu hẹp sản xuất và gây nhiều hậu quả khác phải khắc phục trong thời gian khá dài. Tuy nhiên, so với mục đích cơ bản của chiến tranh phá hoại của địch, muốn đưa chúng ta trở lại “thời kỳ đồ đá” thì chúng đã thất bại nặng nề và toàn diện trên địa bàn Quảng Ninh.

Trong khói lửa chiến tranh, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể đã có sự nỗ lực phi thường. Tổng sản lượng công nghiệp, nông nông nghiệp năm 1965 mới đạt 110 triệu đồng, năm 1972 địch đánh phá ác liệt hơn vẫn đạt 150 triệu đồng, năm 1975 đạt 200 triệu đồng(2).

Quân dân Quảng Ninh dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã đoàn kết một lòng, quyết tâm chiến đấu, góp phần cùng miền Bắc đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bắn rơi 200 máy bay Mỹ (chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bắn rơi 173 chiếc, lần thứ hai bắn rơi 27 chiếc). Dân quân tự vệ Hồng Gai cùng với lực lượng hải quân, cao xạ bắn rơi 3 máy bay Mỹ trong trận đầu ngày 5 tháng 8 năm 1964, bắt sống tên giặc lái Mỹ đầu tiên trên miền Bắc. Dân quân du kích xã Xuân Sơn (Đông Triều) bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 100 trên bầu trời Quảng Ninh. Quân dân đảo Ngọc Vừng (huyện Cẩm Phả) bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 trên bầu trời tỉnh nhà và là chiến công cuối cùng kết thúc hai cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ trên địa bàn Quảng Ninh. Hồng Gai là địa phương bắn rơi nhiều máy bay nhất và Yên Hưng là nơi dân quân du kích hạ nhiều máy bay nhất so với các huyện trong tỉnh. Tiểu đoàn pháo cao xạ 237 của tỉnh bắn rơi 4 chiếc. Tự vệ mỏ Hà Tu, Hà Lầm và xã Nam Hòa (Yên Hưng) là những nơi bắn rơi được 2 máy bay Mỹ.

Hai tháng 5 và 6 năm 1972 đạt mức bình quân chiến đấu bắn rơi 5 máy bay Mỹ trong một tháng là hiệu suất cao nhất trong cả hai cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Quảng Ninh.

Thắng lợi trong hai cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ trên địa bàn Quảng Ninh là do Đảng bộ phát động được cuộc chiến tranh nhân dân địa phương toàn dân, toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của một địa bàn mà tiêu biểu là giai cấp công nhân vùng mỏ bất khuất, nhân dân các dân tộc yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Quân và dân Quảng Ninh đã tiêu diệt, tiêu hao một lực lượng đáng kể của không quân Mỹ, bảo vệ được mục tiêu với mức cố gắng cao nhất, hạn chế những thiệt hại về người và của, bảo vệ được tiềm lực của tỉnh trong chiến tranh, đồng thời tạo yếu tố phục hồi sản xuất công nghiệp sau chiến tranh được nhanh chóng.


(1) Báo cáo “Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mỹ trên địa bàn Quảng Ninh” của tỉnh ủy, 14-1-1976, tr.5.
(2) Báo cáo “Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mỹ trên địa bàn Quảng Ninh” của tỉnh ủy, 14-1-1976, tr.18.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:03:30 PM
Chương bốn

KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH
TĂNG CƯỜNG TIỀM LỰC, DỒN MỌI NỖ LỰC
CHO SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG MIỀN NAM
(1973-1975)

1. Rà phá thủy lôi địch phong tỏa, mở thông luồng lạch, phục hồi sản xuất, tăng cường lực lượng chi viện chiến trường.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại Pa-ri. 7 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri bắt đầu có hiệu lực.

Nhân sự kiện này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi quân và dân cả nước: “Tăng cường đoàn kết, đề cao cảnh giác, củng cố những thắng lợi đã giành được, hoàn thành độc lập, dân chủ ở miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà”.

Cũng trong tháng 1 năm 1973, Thường vụ Quân ủy Trung ương họp ra nghị quyết về nhiệm vụ mới của các lực lượng vũ trang nhân dân là củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng chiến đấu nhằm đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng… Sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu phá hoại hiệp định và gây lại chiến tranh của địch.

Ngày 29 tháng 3 năm 1973, đơn vị cuối cùng của đội quân viễn chinh Mỹ và quân các nước chư hầu của Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Bộ chỉ huy quân sự họp ở Sài Gòn làm lễ cuốn cờ về nước.

Sau 18 năm chiến đấu đầy hy sinh anh dũng, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Giờ đây quân và dân ta lại đang có điều kiện và thời cơ mới để “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà.

Thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ cấp bách cho toàn đảng bộ, quân và dân trong tỉnh lúc này là: “Khẩn trương khắc phục hâu quả chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, tăng cường tiềm lực mọi mặt, dốc lòng dốc sức chi viện cho tiền tuyến, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.

Chấp hành nghị quyết của tỉnh ủy và thực hiện sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, được sự phối hợp và giúp đỡ của trung đoàn 171 Bộ tư lệnh Hải quân, tiểu đoàn công binh 23 Quân khu Tả Ngạn và một số cơ quan khoa học, kỹ thuật nhà nước, Cục Vận tải biển và quân đội tiến hành triển khai đề án rà phá thủy lôi trong vùng vịnh mà Bộ Quốc phòng đã thông qua. Bộ tư lệnh Hải quân chủ trì hiệp đồng kế hoạch thực hiện đề án: Tiếp tục quét sạch và mở rộng các luồng chính, bảo đảm cho tàu thuyền trong nước và nước ngoài ra vào cảng Hồng Gai, Cẩm Phả… Nhanh chóng rà quét, mở các luồng cửa sông các khu vực đánh cá, tạo điều kiện cho nhân dân đi lại làm ăn an toàn. Với tinh thần quyết chiến quyết thắng âm mưu thâm độc của giặc Mỹ tàn phá ta sau chiến tranh, các đơn vị tàu thuyền, các lực lượng công binh địa phương tận dụng mọi phương tiện kỹ thuật hiện đại kết hợp thô sơ, rà phá thủy lôi, bom mìn địch thả xuống luồng lạch trên sông và ven biển. Trên các điểm đã xác định, tàu thuyền phá thủy lôi rà đi quét lại hàng trăm lần liên tục cả ngày lẫn đêm.

Ngày 2 tháng 1 năm 1973, chỉ ba ngày sau khi Mỹ buộc phải chấm dứt cuộc tập kích đường không bằng B52, tuyến Cẩm Phả - Hải Phòng được giải tỏa. Đây là tuyến chính vận tải than từ Quảng Ninh đi các địa phương miền Bắc.

Từ ngày 10 tháng 3 năm 1973, tại luồng Lạch Miều vào Hồng Gai, một số đơn vị thuộc trung đoàn 171 (hải quân), tiểu đoàn công binh 23 Quân khu Tả Ngạn, công binh của tỉnh, tự vệ công ty than Hồng Gai dùng phương tiện rà quét các ô đã khoanh vùng phá nổ 11 quả. Ngày 15 tháng 3 năm 1973 luồng lạch quan trọng này được khai thông.

Việc rà quét trên luồng Hang Trống – Đồng Trắng vào cảng Cửa Ông, các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ vào ngày 30 tháng 3. Ngày 31 tháng 3 năm 1973, một tàu Liên Xô mắc ket ở cảng Cửa Ông được một tàu dẫn của ta đưa ra hải phận quốc tế an toàn. Hai tàu của ta và của bạn cùng kéo còi tạm biệt nhau trong niềm vui chiến thắng phong tỏa của Mỹ.

Trên luồng Cửa Vạn vào Hồng Gai, các đơn vị phá lôi tiếp tục rà quét và kiểm tra hai bên hàng phao, đồng thời dẫn dắt, hộ tống các tàu nước ngoài ra vào cảng an toàn. Đến cuối tháng 3 năm 1973, luồng Cửa Vạn đã có 40 lần chiếc tàu lớn ra vào Hồng Gai an toàn.

Sang tháng 4 và 5, các bãi thủy lôi trong vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long, khu vực Cẩm Phả và một số địa điểm khác cũng được quét sạch.

Tại một số khu vực trọng điểm kinh tế như nhà máy điện Uông Bí, cảng Cửa Ông và một số nơi tàu rà quét không vào hoạt động được, các tổ công binh, thợ lặn, người nhái của hải quân đế rà mò, tháo gỡ, phá hủy thủy lôi các loại.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:04:02 PM
Theo Hiệp định Pa-ri, ngày 5 tháng 2 năm 1973 “biên đội đặc nhiệm 78” vớt mìn của hải quân Mỹ do chuẩn đô đốc Mắc Cao-lây (Mc. Caulay) dẫn đầu với 44 tàu chiến, tàu quét mìn các loại, 45 máy bay lên thẳng, 5.003 binh lính và sĩ quan vào rà quét thủy lôi vùng biển Hải Phòng, Quảng Ninh và các tỉnh phía trong.

Tuy Mỹ đưa lực lượng vào vớt mìn, nhưng do âm mưu phá hoại Hiệp định Pa-ri nên họ có nhiều hành động thiếu nghiêm chỉnh trong việc quét mìn. Mỹ chậm đưa các phương tiện, khí tài phát hiện và phá hủy bom mìn mà họ có trách nhiệm phải cung cấp cho ta. “biên đội đặc nhiệm 78” chỉ thực hiện vớt mìn ngoài biển, lẩn tránh việc phá gỡ bom mìn, thủy lôi ở các luồng sông. Ngày 28 tháng 2 năm 1973 Mỹ tự ý rút “biên đội đặc nhiệm 78” ra ngoài hải phận quốc tế. Họ rút đột ngột, một bộ phận sĩ quan, chuyên viên kỹ thuật Mỹ rời bỏ khách sạn không thông báo cho ai. Ngày 5 tháng 3 năm 1973, trước sự đấu tranh kiên quyết của đoàn ta, họ quay trở lại để tiếp cụ công việc.

Vào làm nhiệm vụ quét mìn, nhưng Mỹ còn lợi dụng việc đưa phương tiện kỹ thuật vào vớt mìn để hoạt động tình báo. Một số nhân viên lên bờ, tìm cách tiếp xúc, chụp ảnh, thu thập tin tức về kinh tế, quân sự, gieo rắc luận điệu chiến tranh tâm lý. Phía Mỹ còn lợi dụng việc ta cho phép sử dụng các tàu đo đạc, máy bay trực thăng, máy bay vận tải chở người vào thành phố, chở phương tiện cho ta để thu thập tin tức. Họ còn lợi dụng việc điều khiển các ống dẫn từ hệ thống ăng-ten… để quay phim, chụp ảnh, điều tra vùng biển, bờ biển… Lực lượng an ninh của ta kịp thời phát hiện và ngăn chặn.

Ngày 6 tháng 3 năm 1973, Mỹ trở lại công việc rà quét mìn.

Ngày 17 tháng 3 năm 1973, vin cớ quân dân miền Nam giáng trả quân ngụy lấn chiếm vùng giải phóng, Mỹ lại tự ý rút biên đội đặc nhiệm về cảng Su-bích (Phi-líp-pin).

Phái đoàn ta ở Pa-ri gặp đại diện chính phủ Mỹ kịch liệt lên án hành động thiếu thiện chí của “biên đội đặc nhiệm 78”, yêu cầu họ trở lại vùng biển của ta và phải hoàn thành việc quét mìn trong 30 ngày.

Ngày 18 tháng 6 năm 1973, “biên đội đặc nhiệm 78” trở lại rà quét mìn.

Một tháng sau, ngày 18 tháng 7 năm 1973 Mỹ tuyên bố hoàn thành việc rà quét mìn và rút “biên đội đặc nhiệm 78” ra khỏi vùng biển của ta. Mấy ngày sau, Mỹ trao cho ta 10 bản thông cáo về kết quả rà phá thủy lôi trên 10 luồng từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, trong đó có các luồng vào Hồng Gai, Cẩm Phả…

Sau 5 tháng “kéo cầy trả nợ” như báo chí phương Tây đã bình luận, cả đạo quân đông tới 5.000 người, với nhiều phương tiện rà quét mìn hiện đại như tàu quét lôi, máy bay rà phá thủy lôi bằng âm thanh, bằng từ tỉnh, chỉ phá được 3 quả ngoài luồng khơi xa. Phía Mỹ cũng bị những tổn thất: 1 tàu vớt mìn bị cháy, 3 máy bay lên thẳng bị rơi, nhiều khí tài, dụng cụ phá mìn của Mỹ bị hỏng… Mỹ không phá nổi được nhiều thủy lôi vì trước đó, quân dân ta, các nhà khoa học của ta đã dũng cảm tìm ra nhiều cách tốt nhất và sáng tạo ra nhiều phương tiện kỹ thuật rà phá có hiệu quả ngay sau khi chiến tranh phá hoại chấm dứt.

Thêm một lần nữa, quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng loại trừ được hiểm họa mà giặc Mỹ muốn hủy diệt ta sau chiến tranh.

Ở các trọng điểm địch đánh phá có tính hủy diệt, số bom chưa nổ vẫn còn rải rác quanh vùng. Lực lượng công binh Quân khu Tả Ngạn, của bộ chỉ huy quân sự tỉnh và của tự vệ nhà máy đã phối hợp rà phá, tháo gỡ nhiều quả trong tình huống dễ gây nguy hiểm cho sự an toàn của công trình.

Tại nhà máy điện Uông Bí, một quả bom loại 250 bảng Anh còn kẹt cạnh nồi hơi 1m, một quả bom xuyên khác loại 500 bảng Anh (Model 3) còn nằm gần khu trung tâm chỉ huy vận hành. Phát huy kinh nghiệm rà phá thủy lôi tuyến biển, hai mục tiêu bom chưa nổ đã được giải quyết an toàn.

Thắng lợi chống phong tỏa rà quét hết bom mìn, thủy lôi trên biển, trên bộ, trong nhà máy, dọc các trục giao thông đã tạo thuận lợi cho Quảng Ninh khôi phục sản xuất ổn định đời sống nhân dân.

Tháo gỡ bom mìn xong, Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn điều động trung đoàn 8 tham gia dọn dẹp san lấp mắt bằng khu vực nhà máy điện Uông Bí. Sau 30 ngày miệt mài lao động, trung đoàn góp phần tích cực vào việc chuẩn bị điều kiện để nhà máy tiếp tục xây dựng giai đoạn III.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:05:11 PM
Những tháng đầu năm 1973, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ cho ngụy quyền Sài Gòn, củng cố và phát triển quân ngụy mở hàng loạt cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Với miền Bắc, Mỹ lại tung máy bay, tàu chiến khiêu khích, trinh sát vũ trang.

Thực hiện chỉ thị của tỉnh ủy, các đơn vị pháo cao xạ của bộ đội tỉnh, tự vệ các xí nghiệp, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ ở vùng ven biển, hải đảo vẫn duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu, giữ nguyên các chế độ chỉ huy, trực chiến; các đài quan sát bộ đội pháo binh ở các khu vực phòng thủ thường xuyên theo dõi các hoạt động của địch trên biển.

Từ tháng 4 năm 1973, thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu về điều chỉnh củng cố một bước cơ cấu tổ chức và biên chế cơ quan, đơn vị trong tỉnh, lực lượng tự vệ ở các xí nghiệp thu gom số đơn vị cho phù hợp tình hình nhiệm vụ mới. Riêng công ty xây dựng Uông Bí và mỏ Hà Lầm, đảng ủy và giám đốc đề nghị bộ chỉ huy quân sự tỉnh và Bộ tư lệnh Quân khu cho thành lập trung đoàn tự vệ, mỗi trung đoàn có tiểu đội cao xạ 37mm và 100mm, tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị trực thuộc.

Đi đôi với việc sẵn sàng chiến đấu và phục hồi sản xuất, các hoạt động xã hội được đẩy mạnh. Năm học 1972-1973 toàn tỉnh có 106.800 học sinh. Do tổ chức sơ tán và phòng tránh tốt nên năm học này vẫn bảo đảm thời gian thi với tỷ lệ học sinh đỗ khá cao. Riêng học sinh lớp 10 đỗ với tỷ lệ cao nhất miền Bắc.

Công tác tuyển quân, chi viện tiền tuyến cũng được chú trọng. Hai cuộc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ đã qua là một thời gian đầy thử thách. Sự đóng góp sức người, sức của cho miền Nam đã thành khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Nhưng đến đỉnh cao của sự huy động sức người, sức của đã nảy tình huống cạn nguồn, cạn quân. Chính quyền và cấp ủy các cấp đã tạo ra sức huy động có tính pháp lý và tính tự nguyện đối với mỗi người, mỗi nhà. Những kinh nghiệm đó là:

Phải điều tra cơ bản, nắm vững thực lực, chủ động lập kế hoạch tuyển quân từ 1 đến 5 năm.

Trước đây cần thì gọi, ai dễ gọi trước, nơi mạnh bù cho nơi yếu, không gọi được tức là cạn, là hết. Về lâu dài, để công bằng hợp lý, phải điều tra cơ bản, các lứa tuổi được xác định từ gia đình, trường học, từ đội sản xuất đến hợp tác xã và toàn xã. Trong các lứa tuổi điều tra, có phân loại: lứa tuổi đủ điều kiện làm nghĩa vụ quân sự, lứa tuổi đến lượt tòng quân và lứa tuổi làm nguồn từ 1 đến 5 năm. Nắm được các đối tượng, các độ tuổi, cấp ủy, chính quyền chủ động lập và xác định kế hoạch từng đợt, từng năm cho từng người, từng thôn và toàn xã thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Phong trào xây dựng phân đội dự bị trở thành “đơn vị chủ lực tại xã” sôi nổi khắp các huyện thị.

Mỗi phân đội dự bị bao gồm những thành viên có đủ điều kiện để tuyển lựa bổ sung kế tiếp quân số đã trúng tuyển đi bộ đội. Khi vào quân dự bị, anh em được học tập những bài huấn luyện cơ bản về chính trị, về chiến thuật, kỹ thuật; về rèn luyện thể lực, được bồi dưỡng sức khỏe, được chữa bệnh thông thường. Phân đội dự bị là nguồn bổ sung chiến sĩ cho từng đợt tuyển quân, và khi cần thiết có thể bổ sung cả đơn vị, bảo đảm rút ngắn thời gian huấn luyện cơ bản xuống một nửa, thậm chí chỉ cần 1/3 thời gian huấn luyện so với trước, các chiến sĩ đã có thể ra mặt trận, đi gọn đánh thắng.

Tuyển quân chi viện tiền tuyến, một nhiệm vụ có thời gian nổi lên là nhiệm vụ hàng đầu của toàn đảng bộ. Nhiệm vụ đó có liên quan đến các nhiệm vụ chính trị khác ở địa phương nên đã đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ, đảng bộ. Trong phạm vi lãnh đạo của chi bộ, công tác tuyển quân huy động được sự tham gia tích cực của các ngành, các đoàn thể, nhất là phong trào “3 đảm đang” của phụ nữ, “3 sẵn sàng” của đoàn thanh niên.

Năm 1972, vừa phải đối phó với chiến tranh phá hoại và phong tỏa ác liệt của địch, Quảng Ninh vẫn hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân 107,9%, trong đó tuyển quân ở cơ sở chủ yếu là 19,10%, ở diện không công bằng tồn lại là 20,7% và diện phải nuôi dưỡng là 0,91%.

(https://lh3.googleusercontent.com/kdAZ3D6hHyiP60ZVwUi3CuGu79b90V103RDJvzCna1B9M-P7Ky1PzJm0ZB8HgAIGyVBWu-vlT42I-cM9zbvrkpnL16HJUgyai0Ny-WqLzliXmxMgfdDb3T9fCUZUO6vLpjz7kjoPwga8rHUGxvAemEvR59mkifCDtAw4JjKjyDrFHuOkKnqAGwO1pwQFmUDlw3Qpebg1Gzs4gHSpAhhHASwCY5pE8pv18r3l9nGoZodChrv1ECNdnLofPUYXY2FmRMyKQQ7Ur-xpxPP7_UT8j4_WLoN_HC1YgFSGj8j0l2ZyiinHZnguuowafXyVGZpNcPgQKaeMV6UEiaV76ypV0-F0kk0Sq-p1RvHaYhnxt_i_8KeBjkiLi9aT3DDCeG4WJ_N6eQNWxnjaahoB0dxI3aX9VK8U9psfFZ_kJFwGuMznbBmdALYsxnHaqLh6Oqm_7XaunaxpIv1Ahd3a5EB4FG9-vtR0S6WisEIJNPuzkbf-6B1ClUjH-eS5gfmpPtESrkPh9moXFd9bPIJESKy6FWU11jC2cuYKHNGP3A8G9e0kgRDE1etxqrQMOOvy67h93tV6AdiAgLVOYcLmQWXtQ17EenhR--n-D5Yp0JssDg=w800-h559-no)

Các bà mẹ chiến sĩ gắn hoa hồng cho các chiến sĩ mới nhập ngũ tại sân Cây Tháp, Hồng Gai năm 1972


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:06:38 PM
Sang năm 1973, quân tuyển dụng ở cơ sở yếu là 15,25%, ở diện không công bằng còn tồn đọng là 11,18%. Tính từ 1959-1973, Quảng Ninh đã tuyển và có số quân bổ sung cho các chiến trường là 15.000 người. Tỷ lệ huy động so với dân số ở một tỉnh có vùng công nghiệp khai thác than lớn nhất cả nước và nơi có nhiều đồng bào dân tộc ít người, năm nào cũng đạt và vượt chỉ tiêu là một nỗ lực lớn của đảng bộ và nhân dân trong tỉnh. Tỉnh được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương Kháng chiến (gồm 3 hạng nhất, 15 hạng nhì, 46 hạng ba), 9 trong tổng số 13 huyện, thị (đạt 69,23%) được thưởng huân chương Kháng chiến.

Ngày 3 tháng 9 năm 1973, tự vệ cảng Hồng Gai – Quảng Ninh được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tôn Đức Thắng ký lệnh tặng danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Bản tuyên dương ghi rõ thành tích của tự vệ cảng Hồng Gai: “Vì đã góp phần cùng quân và dân khu mỏ đánh thắng không quân của đế quốc Mỹ ngay từ trận đâu 5 tháng 8 năm 1964”.

Trong hoàn cảnh địch đánh phá rất ác liệt, nhất là năm 1972, toàn thể tự vệ xí nghiệp bến cảng Hồng Gai luôn luôn nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, kiên cường, bám trụ ở trận địa, cửa ngõ, khu mỏ, chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, đã bắn rơi 2 máy bay phản lực Mỹ và cùng các đơn vị bạn bắn rơi nhiều chiếc khác, dũng cảm phục vụ chiến đâu, phá bom, sửa đường, khôi phục giao thông, tổ chức tốt việc phòng tránh và cấp cứu, hạn chế được nhiều thiệt hại cho nhân dân và Nhà nước, tham gia giữ gìn tốt trật tự trị an.

Là nòng cốt trong phong trào tăng gia sản xuất và tiết kiệm, có nhiều sáng kiến, thường xuyên đạt năng suất lao động cao, hầu hết chiến sĩ tự vệ đều đạt danh hiệu tiên tiến.

Đã được thưởng 2 huân chương Chiến công.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng, tham gia làm đường biên giới, hải đảo (1973-1974).

(https://lh3.googleusercontent.com/rTblW50ZoGwMyx2NlUQoMX2meeVaeb0pb-Qrgf1E6Okjq-eSjFJjf4qrVjnKbX1-6wqW_TxsyxWzGAHabK3rt1fZu-H81RwsiU_DozpKozjZkP-mcpGpZ59muMUtBY-WmhmnRsuW_-7mGGKEmq8vIzPpu-14zd1AUer_5i6S5UIvBsWxndHSRhEJUhVgfDL-B8beRANniJe9y6vXVROerfG0HP0qEblcSd1bxT1qjnYkf6yXHRjSt6XJJlmE8RPgYhc4elMzp_BCo5da1Oms8NV1Y-aPH4CoW2Yp28_VLk1945oyrU7jZiHpqkVI9_8B-uj-Q0PVwqa_9LO9-TzfhaJJQHxkferkMD2512hFFHAcX_I1YP8lcBV4-Rm9uE67p2HI2jg3MoOklucRtzXczprBTJbwRnvq5RntMbiQooenOtJ_euBvHzYC2iijJ8AAVcOC71AF8YxpVwwjPHkv86W0rMZRgyGG2K_ow0s6cbDTyDPyXR1LDwWJ5zSE_XpKFK8gXpui1bG1DjVsf_OVc8HnlhSIY_6rPcDMfmsffs5Ee1-C8Op6kq8czxIDo_cgKsHBgJiqU60DXN0CR1gnaw21x9sxcR7ltQtCQdN3qg=w1024-h578-no)

Dân quân xã Hồng Phong phá bom nổ chậm của giặc Mỹ (năm 1973)

Tháng 4 năm 1973, Quân khu ủy Tả Ngạn ra nghị quyết về nhiệm vụ chuyển lực lượng vũ trang tham gia xây dựng kinh tế quốc phòng, hướng trọng điểm là vùng núi Đông Bắc, ven biển, hải đảo.

Tiếp nhận sự chỉ đạo và giúp đỡ của Quân khu ủy, đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm – Phó bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh trực tiếp làm việc với Bộ tư lệnh quân khu về kế hoạch kinh tế gắn với quốc phòng mà khả nặng và điều kiện của các đơn vị bộ đội có thể làm tốt nhất. Nhiệm vụ trước mắt là làm đường vùng biên giới, hải đảo, mở rộng giao lưu miền xuôi, miền ngược, khai thác gỗ và các mặt hàng lâm thổ sản phục vụ sản xuất đời sống của nhân dân trong tỉnh.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:07:08 PM
Bước đầu, Quân khu đưa hai trung đoàn làm đường biên giới, một tiểu đoàn làm đường Bản Sen, một trung đoàn đi quai đê lấn biển, tổ chức đơn vị khảo sát, quy hoạch vùng kinh tế hải đảo, miền núi… xây dựng tiểu đoàn cá phá kết hợp vận chuyển hàng hóa ra các đảo.

Đơn vị khoác ba lô lên huyện miền núi Ba Chẽ đầu tiên là trung đoàn 8, vốn là trung đoàn làm nhiệm vụ nuôi dưỡng “quân chiến thắng trở về” nay chuyển sang lao động xây dựng kinh tế. Từ nơi đóng quân Yên Lập (Yên Hưng) trung đoàn khẩn trương hành quân lên Ba Chẽ. Sau một thời gian lao động xây dựng doanh trại, củng cố tổ chức, quán triệt nhiệm vụ, toàn trung đoàn làm lễ ra quân thực hiện mục tiêu làm con đường dài 38km xong trong năm 1973. Đây là con đường lâm nghiệp cấp 2 nhưng trong toàn tuyến có tới 170 cầu, cống, kè, đập. Huyện ủy Ba Chẽ luôn động viên thăm hỏi và giúp đỡ bộ đội.

Bộ đội trung đoàn 8 về đến đâu đều khéo kết hợp lao động với tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Dân thương bộ đội, nhường nhà ở, giường nằm cho anh em. Nhiều xã còn cử thợ mộc đến giúp bộ đội làm nhà, vào rừng lấy tre ủng hộ bộ đội. Nhờ được nhân dân Ba Chẽ giúp đỡ, trung đoàn 8 đã làm được 100 nhà ở khá tươm tất.

Với 240.000 ngày công của năm đầu làm kinh tế, trung đoàn hoàn thành kế hoạch vượt 15 ngày, tạo được mặt bằng nâng cấp về năm sau. Kết hợp làm kinh tế, trung đoàn còn sản xuất tự túc thu hoạch 12 tấn chất bột, gần 4 tấn thịt, 1 tấn lạc, vừng, tự túc đủ rau ăn. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sĩ nuôi 2 con gà, trồng 300 gốc sẵn, từ 5 đến 10 người nuôi một con lợn. Nguồn lương thực thực phẩm của trung đoàn tạo ra trong khi làm nhiệm vụ vừa nâng cao được đời sống cho bộ đội, vừa đỡ khó khăn cho địa phương.

Trên địa bàn các huyện miền đông, trung đoàn 43 do đồng chí Hoàn làm trung đoàn trưởng, đồng chí Chất làm chính ủy ra quân sự trung đoàn 8. Trung đoàn có khó khăn là 2/3 cán bộ trung đội thuộc thế hệ mới, vẫn phải huấn luyện sẵn sàng chiến đấu bảo vệ trị an vùng biên giới vừa lao động xây dựng kinh tế kết hợp củng cố quốc phòng. Thời kỳ đầu ra quân làm đường, công cụ chủ yếu là loại cầm tay nên việc đào đắp chỉ được 1,2m3 công làm đất đá, vào giữa năm đạt 2m3 rồi cuối năm đã lên 3,5m3. Các tiểu đoàn 800, 254, 244 nhiều tuần ở nơi bằng phẳng ít đá nên bình quân đạt 7m3/người. Với tổ chức chặt chẽ, lao động có kỷ luật và dần dần có kỹ thuật, trung đoàn đã sửa được 9km đường cũ, làm 31,573km đường mới.

Cùng thời gian, trung đoàn đã hoàn thành đoạn đê Xuân Hòa – Xuân Hải dài 1.400m, vượt mức 125%, thu về cho công quỹ hàng triệu đồng. Trong một đợt tiến công vào nơi khó, điểm khó, tiểu đoàn 154 còn đốt đuốc làm đêm trên tuyến đường Nà Phái đi Bình Liêu dài 15km. Chỉ hai tuần đầu, tiểu đoàn đã làm được 2km, đồng thời hàn khẩu xong đoạn đê Lục Lầm dài 30m.

Ở đảo Ngọc Vừng, tiểu đoàn 2, Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, ngoài việc hoàn thành chương trình huấn luyện theo phương án hiệp đồng binh chủng trên đảo sẵn sàng giáng trả địch trong các tình huống chiến tranh phá hoại, pháo kích, đổ bộ đường không, trong vòng gần hai năm 1973-1974, tiểu đoàn đã tu bổ 550 ha rừng, vỡ hoang cấy lúa thu hoạch 7 tấn thóc, 10 tấn khoai, tự túc đủ rau ăn, chăn nuôi lợn gà đạt 20km thịt/đầu người. Trong đơn vị thường xuyên có 30 con trâu, bò, 54 lợn, 1.500 gà vịt, có gần 400 vịt đẻ hàng vạn quả trừng, tạo khả năng tiểu đoàn tự túc 2 tháng lương thực, thực phẩm.

Ở Bản Sen, tiểu đoàn 4 cũng đã hoàn thành 14km đường trên đảo, bảo đảm cơ động chiến đấu và mở đường cho nhân dân vào rừng khai thác lâm thổ sản.

Trên công trường xây dựng nhà máy gạch Tiêu Giao, Yên Mỹ, đoàn 11 mà nòng cốt là các đơn vị công binh công trình đã phát huy khả năng, kinh nghiệm bảo đảm tiến độ, chất lượng cao, kỹ thuật tốt được các chuyên gia của Bộ Xây dựng đánh giá cao. Để chủ động nguyên vật liệu xây dựng, đoàn đã chỉ đạo đại đội 3 tách khỏi đội hình xây dựng đi làm dá nung vôi có tháng khai thác 450m3 đá.

Phía trong, trên công trường bắc Cửa Lục đắp đê lấn biển, tiểu đoàn 1 trung đoàn 43 là một trong những đơn vị có hiệu suất cao. Ở đây ba phía là núi bao quanh một eo biển lấn sâu vào đất liền. Đắp được con đê lấn biển này, 100 ha sú vẹt thành ruộng lúa, nhiều vùng nước mặn được ngọt hóa, mở hướng nuôi cá, mở mang giao thông. Tham gia công trình này, cán bộ chiến sĩ ý thức được nhiệm vụ góp phần phát triển kinh tế địa phương sau chiến tranh, nên đã mang sức lực hoàn thành nhiệm vụ với năng suất cao dù thời gian thi công có những ngày rét xuống 3-4 độ, thủy triều lên xuống thất thường, nước ngọt hiếm, bụi than nhiều, nước mặn làm nẻ buốt chân tay. Cán bộ chiến sĩ hạ quyết tâm hoàn thành con đập dài 1.500m, rộng 1,7m đạt chất lượng tốt.

Trên các công trường khai thác than, tiểu đoàn công binh 25 tham gia xây dựng mỏ than Tràng Khê.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:10:00 PM
Đầu năm 1954, các chiến sĩ thuộc tiểu đội khảo sát làm đường tới đỉnh cao khoảng Năm Châu. Đây là một trong những đỉnh núi cao nhất vùng Đông Bắc, nằm giữa miệt rừng già nguyên thủy, ít có người đặt chân tới. Đỉnh núi quanh năm mây mù bao phủ, chỉ có tiếng thác đổ, tiếng suối rì rào, tiếng muông thú văng vẳng và tiếng rít của gió, của rừng khi mùa đông đến.

Tiểu đội khảo sát thuộc tiểu đoàn 244 được lệnh lên đây tìm đường phát tuyến, vẽ sơ đồ, cắm mốc cho đơn vị làm đường. Tiểu đội chỉ có chín người, do đồng chí Bùi Xuân Thành làm chỉ huy. Mỗi người một ba lô cùng tăng, võng, con dao, cái cuốc, lương khô, bao gạo, muối, hộp thịt, bao diêm, cái nồi… Vừa di vừa phát cây tìm lối, cắm tuyến. Khí hậu vùng cao rất khắc nghiệt, mưa nắng thất thường. Trời đang quang bỗng dưng mưa đổ xuống như trút nước, lũ réo ầm ầm. Không có củi đun nấu, phải dùng lương khô. Nước uống hứng lá rừng, vắt muỗi nhiều như trấu vãi. Đêm đến về mùa đông nhiệt độ xuống 0oC, nước đặc quánh như tuyết rơi. Một năm trời với khoảng Năm Châu heo hút, gian lao, tiểu đội đã khảo sát được 15km đường từ chân núi lên đỉnh cao 1.506m, vượt 30% định mức trên giao.

Phát tuyến tới đâu, đơn vị thi công tới đó. Con đường từ Ta Chỉ lên khoảng Năm Châu rộng mở. Ngành lâm nghiệp khai thác gỗ đưa về xuôi xây dựng.

Việc tham gia xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của các trung đoàn, tiểu đoàn thuộc Quân khu Tả Ngạn trên địa bàn tỉnh góp phần làm tăng thêm của cải vật chất xã hội và tạo điều kiện giúp địa phương khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống, từng bước có sự phát triển mới về nguồn lợi của từng nơi.

Tháng 10 năm 1954, Thượng tướng Hoàng Văn Thái, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó tổng tham mưu trưởng về thăm tỉnh Quảng Ninh, thăm trung đoàn 8, nơi xuất phát những con đường đầu tiên trên vùng núi Đông Bắc. Cùng đi với Thượng tướng có Thiếu tướng Nguyễn Quyết, Chính ủy Quân khu Tả Ngạn.

Nói chuyện với địa biểu cấp ủy, chính quyền địa phương cùng cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 8 tại Ba Chẽ, Thượng tướng rất vui về thành tích bước đầu của trung đoàn trong xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng. Thượng tướng mong trung đoàn làm kinh tế giỏi hơn nữa, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, sẵn sàng có lệnh là đi, có địch là đánh và đánh là phải thắng. Với đại biểu cấp ủy, chính quyền huyện Ba Chẽ, Thượng tướng kể lại những kỷ niệm hồi ở căn cứ trong chiến trường, rừng cây bị chất độc hóa học Mỹ tàn phá. Về Ba Chẽ, nhìn rừng cây xanh tốt, đất Ba Chẽ màu mỡ, lâm, thổ sản quý có nhiều, đồng bào các dân tộc đoàn kết,quân dân một ý chí… thật sự phấn khởi(1).

Cùng với sự phát triển kinh tế, kết hợp quốc phòng ở biên giới, hải đảo, công tác động viên tuyển quân năm 1974 có nỗ lực lớn. Tất cả cấp ủy các cấp tập trung chỉ đạo bằng mọi biện pháp động viên chính trị, kiên quyết chống tiêu cực và giải quyết tình hình thiếu công bằng trong thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi công dân. Với tinh thần tiến công không khoan nhượng, đợt tuyển quân năm 1974 đã tuyển ở cơ sở yếu được 12,91%, tuyển ở diện không công bằng hợp lý được 34,58%. Chỉ với hai đối tượng này, toàn tỉnh tuyến được 47,49%.

Nhiệm vụ khai thác của ngành than cũng có bước phát triển.

Ở mỏ than Mạo Khê, đến hết năm 1974 đội ngũ công nhân mỏ đã lên tới 2.000 người, trong đó có trên 10 kỹ sư, 205 cán bộ trung cấp kỹ thuật, sản lượng cả năm đạt trên 200.000 tấn.

Trên công trường, khôi phục và xây dựng mỏ Vàng Danh theo thiết kế và trang bị của Liên Xô, chủ yếu khai thác trong lò, áp dụng một phần cơ khí từ khâu khai thác đến khâu vận chuyển, vừa khôi phục vừa sản xuất, đến năm 1974, sản lượng than đã đạt tới hàng chục vạn tấn/năm.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, toàn tỉnh đã huy động trên 8 triệu ngày công làm đất, làm đá, bê tông xây mương máng, kè cống, hồ đập, trạm bơm, khai hoang phục hóa, mở rộng diện tích với tổng số vốn đầu tư gần 19 triệu đồng.

Nghề cá là một thế mạnh của Quảng Ninh. Đến 1974, năng suất lao động trong nghề cá (bình quân một lao động/năm) đạt 2,9 tấn (gấp hai lần năm 1964), là năm đạt sản lượng cao nhất được nhận cờ thi đua “Tỉnh có nghề cá khá nhất” của Tổng cục Thủy sản. Hợp tác xã Hải Tân (Quảng Hà) được bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, được Bác Tôn tặng lẵng hoa.

(https://lh3.googleusercontent.com/MlhVJHSMin5NpaQzIg780iCshH6-6g6mr_2a6nsqfTji4r_P7le1Xb0kK2FEni3Q8h7NjeoZUCaincP9LW2-WxDUsGBcN8Dml4HW5opfl5p-TcNuI5OB5AkqbrWq3K_1sdUmZ3PiU9YwZ-DUTyUWlCgrw4F08A_-S0rEolQtlS3zI-AwlgvDt50gAxFrIJyhI3UqrBLm25QbMHAK5VyW7qPkaDphCYXZCNt92E3-tQZJP9stSdtCqhqOhpO9venS2xMGMc_gcXh98mZjPl1mnZ50Y8hvvj7mryVe1oyBy7FHtuVvrrr2hmLj70ab_HH0dlXz6KGvLXmG8JbPjp1PcxfgzuY0_Jmg-jLKGoZ67NJldfa0j0-BE-RkJJ8KxD1Ue0dyJQe5UQiULSJIavPXu8E8cU-eop-L8OdWkQuuzQCrOFItLX0K_amQdlmUoXBzC49vPgio5KF_NoOSdyIuPBs0lt_Q9ZazWDxTJSbF9YHtxkbUASHrk6lEeZxx5JoohEoHGghZ7KWsOwpBL5feiXman1srBOodB56pMdXzFcZIOEny0cT8-_9BdFAbU1o08Thvi6oEoQaG2uk-x0erDvV6Sg5PPKAY8CckuX74bw=w800-h494-no)

Hợp tác xã ngư nghiệp Hồng Gai vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu


(1) Trích tài liệu lư trữ của Văn phòng Quân khu ủy, quyền 5, tr.79, 1974.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:10:59 PM
Về phát triển giao thông, đã làm ngầm, cầu, giải phóng được 7 phà tạo điều kiện giao thông nhanh chóng thuận lợi. Đến cuối năm 1974, từ tỉnh đã có đường, về tới trung tâm cá huyện lỵ, 136 xã trong số 154 xã của tỉnh (trừ số xã hải đảo) ô tô về đến xã. Toàn tỉnh làm được 1500km đường trục xã, liên thôn, ra cánh đồng phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp. Toàn ngành được thưởng 30 huân chương các loại, 5 đơn vị được công nhận là dũng sĩ giao thông vận tải, 2 tổ đạt danh hiệu tổ lao động xã hội chủ nghĩa.

Về vận tải, đã vận chuyển trên một chục triệu tấn hàng, ngót 10 triệu người đi lại trên tuyến đường bộ, sông, biển. Đi đôi phát triển đường sá, phương tiện vận chuyển, ngành giao thông vận tải còn tập trung xây dựng 2 xí nghiệp công nghiệp, 4 trạm bảo dưỡng. Từ chỗ chỉ đóng được thuyền gỗ thô sơ đã tiến lên đóng được tàu khách chạy ven biển loại 150 chỗ ngồi, đồng thời đóng được cả tàu vỏ sắt, tàu khách, xà lan các loại.

Đội ngũ cán bộ, công nhân toàn ngành đến 1974 tăng 20 tấn (so với 1956), đội ngũ công nhân kỹ thuật tăng 60 lần, có 47 kỹ sự, 160 cán bộ trung cấp.

Với thành tích đóng góp vào sự nghiệp chiến đấu và phục vụ chiến đấu, phát triển kinh tế, văn hóa, chi viện chiến trường… ngành giao thông vận tải dũng cảm vượt qua thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 30 huân chương các loại.

Một số ngành khác trong công nghiệp địa phương và tiểu thủ công nghiệp có nhiều phát triển về tổ chức và hoạt động thực tiễn…

Ngành cơ khí trong tỉnh với tiềm lực và trang thiết bị được xây lắp, cải tiến đã tự thiết kế, chế tạo các loại máy công tác phục vụ nông nghiệp, xây dựng và có năng lực đảm bảo trung tu, đại tu các máy động lực lớn. Riêng nhà máy cơ khí Hữu Nghị đã sản xuất hàng trăm máy tuốt lúa, hàng trăm máy xay xát gạo, chế tạo các máy nghiền bột khô, máy băm thái rau cho các trại lợn tập thể, sản xuất hàng nghìn xe cải tiến, các loại xe goòng.

Ngành sành sứ từ những xưởng làm bát thủ công, nay đã sử dụng điện vào cơ khí vào khâu nghiền đất, mài men. Nguyên liệu như hóa chất trước đây phải nhập ngoại, nay đã tìm được một số nguyên liệu thay thế. Khả năng sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phổ biến, đảm bảo được một số hàng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân.

Toàn ngành công nghiệp địa phương đã có 40 cán bộ tốt nghiệp đại học, 200 cán bộ trung cấp, 4.000 công nhân, trong đó có nhiều công nhân tay nghề bậc cao.

Giá trị tổng sản lượng từ 4.500.000 đồng (1960) lên 20.630.000 đồng; trong đó một số ngành có tỷ lệ tăng nhanh: chế biến thực phẩm tăng 1,8%, sản xuất đồ sứ tăng 296%, sản xuất đồ sành tăng 312%.

Về tiểu thủ công nghiệp và phong trào hợp tác hóa, đến hết năm 1974 có 123 hợp tác xã bậc cao, 91 hợp tác xã bậc thấp, có gần một vạn thợ thủ công, chiếm 87,3% tổng số thợ thủ công toàn tỉnh. 10 ngành có năng lực sản xuất phục vụ công nghiệp trung ương, công nghiệp địa phương, nông nghiệp kiến thiết cơ bản, giao thông vận tải, xuất khẩu và tiêu dùng của nhân dân ta. Một số ngành tăng nhanh (đến hết năm 1974): kim khí thông thường tăng 21,2 lần so với năm 1955, vật liệu xây dựng tăng 39,2 lần, chế biến gỗ, tre tăng 9,7 lần.

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được chăm lo trên cơ sở kinh tế xã hội của miền Bắc, của tỉnh được đẩy mạnh và phát triển. Sự nỗ lực phi thường trong sản xuất dưới bom đạn của kẻ thù của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và nhân dân các dân tộc không ngừng tạo ra nguồn của cải vật chất cho xã hội; giá cả thị trường ổn định, đời sống bình thường của nhân dân kể cả lúc phải khắc phục hậu quả chiến tranh vẫn từng bước được cải thiện, các tiêu chuẩn cơ bản về gạo, thịt, đậu phụ, đường, nước mắm, vải, muối… vẫn được cung cấp đầy đủ.

Đời sống tinh thần cũng không ngừng được nâng cao. Quá trình xây dựng và phát triển, ngành văn hóa đã có cơ sở vật chất khá lớn: 1 quốc doanh chiếu bóng với 25 đơn vị, 4 đoàn nghệ thuật, 15 thư viện (có 2 thư viện thiếu nhi), 4 nhà truyền thống, 1 quốc doanh phát hành sách, 1 công ty nhiếp ảnh, 1 xí nghiệp quốc doanh in…

Sự nghiệp giáo dục qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ vẫn ổn định và phát triển. Tỉnh vẫn duy trì được việc học tập cho con em đồng bào các dân tộc. Trường lớp ngày càng tăng, trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm phát triển mạnh. Năm học 1973-1974 có 1.142 học sinh.

Năm học 1974-1975 toàn tỉnh có:

- Số trường:         386

- Số lớp:            6.005

- Học sinh phổ thông các cấp:   164.685

- Học viên bổ túc văn hóa:   11.500

- Giáo viên các cấp:      6.757

Sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân trong những năm chiến tranh ác liệt là thời kỳ sự nghiệp y tế phát triển khá nhanh trên nhiều mặt. Tính đến hết năm 1974, có 23 bệnh viện, 50 bệnh xá, 15 trạm y tế, 828 y sĩ, bác sĩ, bình quân một vạn dân có 12,4 y sĩ, bác sĩ và 45 giường bệnh. Hầu hết các xí nghiệp trong công ty than Hồng Gai đều lập nhà điều dưỡng để chăm sóc sức khỏe công nhân, cán bộ, viên chức.

Sự phát triển của ngành y tế đã đẩy lùi hoặc làm giảm các bệnh dịch nguy hiểm: dịch tả, đậu mùa, thương hàn… và căn bản tiêu diệt sốt rét.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:12:01 PM
2. Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tất cả cho tiền tuyến (1975).

Trung tuần tháng 2 năm 1975, Tỉnh ủy Quảng Ninh triệu tập hội nghị cán bộ quán triệt chỉ thị Ban Bí thư Trung ương Đảng và nghị quyết Quân ủy Trung ương về công tác quân sự địa phương trong tình hình mới. Hội nghị hoàn toàn nhất trí với tinh thần chỉ thị, nghị quyết của trên về vai trò, vị trí chiến lược của công tác quân sự địa phương trong toàn bộ công tác quân sự của Đảng. Khi đất nước có chiến tranh cũng như khi đã chuyển sang hoàn bình, quân sự địa phương luôn luôn là một mặt công tác quan trọng của các cấp ủy đảng, gắn chặt việc thực hiện nhiệm vụ quân sự với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, phấn đấu xây dựng tỉnh giàu về kinh tế, vững về chính trị, mạnh về quốc phòng an ninh, làm tròn nghĩa vụ đối với chiến sĩ đồng bào miền Nam ruột thịt.

Kết luận hội nghị, đồng chí Bí thư tỉnh ủy phát động phong trào ra quân mùa xuân tập trung vào nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất và động viên tuyến quân, thực hiện kế hoạch ra quân cả năm 1975 trong một đợt, một lần.

Ngày 20 tháng 2 năm 1975, huyện Đông Triều mở đầu khí thế ra quân của toàn tỉnh, hoàn thành gọn một đợt trong một ngày, vượt chỉ tiêu cả năm 5%. Quân khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn tặng Đông Triều bức trướng mang dòng chữ “Hoàn thành giỏi nhiệm vụ tuyển quân năm 1975”. Sau Đông Triều, các huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, thị xã Uông Bí cũng hoàn thành vượt chỉ tiêu cả năm gọn một đợt trong một ngày. Đến giữa tháng 3 năm 1975, tất cả các huyện thị còn lại đều hoàn thành vượt chỉ tiêu tuyển quân.

Thực hiện chỉ lệnh tuyển quân năm 1975 của Bộ Tổng Tham mưu đến ngày 15 tháng 4 năm 1975 Quảng Ninh và Hải Hưng là hai tỉnh hoàn thành xuất sắc nhất trong các tỉnh miền Bắc về thực hiện tuyển quân chi viện chiến trường.

Tổng kết công tác động viên tuyển quân năm 1975 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh nêu rõ:

- Thắng lợi của nhiệm vụ động viên tuyển quân năm 1975 là toàn diện. Trong một thời gian ngắn, bảo đảm tuyển đủ số lượng gấp hơn hai lần năm 1974 với chất lượng cao, giao quân nhanh gọn trong một đợt, giao đủ một ngày, vượt chỉ tiêu cả năm, thực hiện đúng yêu cẩu của Trung ương, đáp ứng yêu cầu chiến trường đang thắng lớn và phát triển nhanh.

Số quân giao năm 1975 của tỉnh tuyển ở cơ sở yếu được 2,96% (tuyển ở diện không công bằng), còn lại là tự nguyện nhập ngũ (8,56%), diện phải nuôi dưỡng (1,11%), còn 87,37% và số vượt chỉ tiêu là do tuyển đều ở tất cả các cơ sở, huyện thị trong tỉnh.

Cùng với tin vui về hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân, ngày 30 tháng 5 năm 1975 nhà máy điện Uông Bí đã hoàn thành xây dựng đợt 3 theo đúng tiến độ, thể hiện tài năng và ý chí của giai cấp công nhân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự giúp đỡ tích cực của chuyên gia Liên Xô, tạo thêm nguồn điện phục vụ sản xuất, quốc phòng và đời sống nhân dân.

Những ngày tháng 3 năm 1975, cuộc tiến công của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam phát triển với tốc độ một ngày bằng hai mươi năm.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta tiến đánh Buôn Ma Thuột, mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, đồng thơi mở cửa đột phá của cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975.

Từ hậu phương Quảng Ninh, cơ quan bộ chỉ huy quân sự tỉnh tưng bừng trong khí thế vui mừng chiến thắng của chiến trường và rộn rã ngày đêm những kế hoạch, phương án giúp tỉnh ủy chỉ đạo các đơn vị sẵn sàng giáng trả âm mưu, thủ đoạn của địch trả đũa cuộc tiến công của quân dân miền Nam, đánh phá trở lại miền Bắc. Trên trận địa tiểu đoàn pháo cao xạ 237, các đơn vị pháo phòng không của tự vệ vùng mỏ, của tổ trực chiến, săn máy bay của dân quân du kích không ngừng luyện tập nâng cao trình độ sẵn sàng đánh trả các tình huống máy bay địch đến đánh phá địa phương. Các đơn vị phòng thủ khu vực ngoài tuyến đảo, các đơn vị pháo đối biển luyện tập không ngừng chống quân địch đổ bộ đường không và tập kích bằng đường biển.

Vừa huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị bộ đội tỉnh, các đơn vị tự vệ dân quân sẵn sàng lên đường đáp tiếng gọi của miền Nam ruột thịt. Cán bộ chiến sĩ nhiều đơn vị tự nguyện làm đơn xung phong ra tiền tuyến với tinh thần “đi ngay, đi nhanh để kịp có mặt ở chiến trường lập công góp phần giải phóng miền Nam”.

Trước chiến thắng và sự phát triển của ta trên chiến trường, ngày 18 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Sau 20 ngày đêm chiến đấu, đến 24 tháng 3 năm 1973, toàn bộ Tây Nguyên đã được giải phóng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:13:21 PM
Nắm chắc thời cơ, ngày 25 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị lại bổ sung quyết tâm chiến lược, giải phóng miền Nam trước mùa mưa. Ngày 25 tháng 3 ta giải phóng Huế, ngày 29 tháng 3 giải phóng Đà Nẵng, đến ngày 3 tháng 4 năm 1975 thì 5 tỉnh Bắc Trung Bộ và toàn bộ đồng bằng Trung Bộ được giải phóng.

Căn cứ phát triển như vũ báo của quân ta trên chiến trường, Bộ Chính trị tiếp tục bổ sung quyết tâm chiến lược, giải phóng miền Nam trong thời gian sớm, tốt nhất là trong tháng 4 năm 1975.

Vùng giải phóng miền Nam được mở rộng rất nhanh, yêu cầu có ngay đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành, các đoàn thể, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội để kịp thời tham gia quản lý vùng mới giải phóng. Thực hiện sự lãnh đạo của tỉnh ủy và chỉ đạo ngành dọc cấp trên, hàng trăm cán bộ, nhân viên quê ở miền Nam công tác tại Quảng Ninh đã được lệnh lên đường gấp về các tỉnh mới giải phóng. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh được giao nhiệm vụ chuẩn bị một tiểu đoàn gồm các phân đội dự bị của các huyện vào vùng Tây Nguyên bảo vệ vùng mới giải phóng và chuẩn bị lập vùng kinh tế mới sau này.

Từ ngày 9 tháng 4 năm 1975 quân ta bắt đầu mở cuộc tiến công tạo thế ở đông bắc và tây nam Sài Gòn. Đồng thời ta tổ chức triển khai lực lượng hải quân và Quân khu 5 tiến hành cuộc chiến đấu giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Với sức mạnh tổng hợp của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, của miền Nam được chuẩn bị từ trước, tập trung lực lượng lớn nhất trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cho một chiến dịch tiến công lớn nhất trong lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, tiếng súng mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bắt đầu.

Những bảng tin thông báo chiến thắng đã dựng lên khắp đường phố, bến xe, bến tàu, trường học, cơ quan… thông báo kịp thời những tin mới nhất. Có nơi ghi hàng ngày. Nơi có điều kiện mỗi ngày hai lần tin sáng, chiều. Những bản tin đọc chậm trên Đài tiếng nói Việt Nam được hệ thống cơ quan tuyên huấn ghi lại để thông báo lên bảng cho loa phát thanh hoặc đọc lại trên đài địa phương.

Cả tỉnh đâu đâu cũng rạo rực tin chiến thắng, đâu đâu cũng náo nức, làm việc với tinh thần chiến trường thắng lớn. Trên các công trường khai thác than, trong nhà máy xí nghiệp những năng suất mới, chỉ tiêu mới được thể hiện bằng những mũi tên đỏ trên các bảng tin.

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ đại thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã phấp phới bay trên nóc dinh tổng thống ngụy quyền miền Nam. Đây là thời điểm báo hiện sự cáo chung của chế độ tay sai đế quốc Mỹ xâm lược.

Chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng. Cuộc chiến tranh giải phóng 30 năm chống đế quốc xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng ta toàn thắng.

“Thắng lợi đó đã mở một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc… Thắng lợi ấy đã làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới quy mô nhất và dài ngày nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của tên đế quốc đầu sỏ, đẩy Mỹ vào tình thế khó khăn chưa từng thấy, thu hẹp và làm suy yếu hơn nữa hệ thống đế quốc chủ nghĩa, củng cố tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam châu Á, tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của các lực lượng cách mạng trên thế giới”(1).

Miền Nam giải phóng, Quảng Ninh đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới.

Thực hiện các nghị quyết 22, 208, 209 của Trung ương Đảng về tổ chức lại sản xuất theo hướng đi lên sản xuất lớn, từ đầu năm 1975, các huyện lần lượt mở hội nghị đại biểu nông dân. Chính nhờ có những đổi mới về tổ chức quản lý, về phương thức sản xuất, về áp dụng khoa học kỹ thuật nên năm 1975, năng suất lúa bình quân toàn tỉnh đạt 17,7 tạ/ha/vụ.

Nghề đánh cá biển với phong trào hợp tác xã hóa nghề cá, đến đầu năm 1975 toàn tỉnh có 57 tàu thuyền đánh cá có gắn máy, 1/3 số tàu là của hợp tác xã đánh cá, trong đó có 23 chiếc từ 23-25 sức ngựa, 10 chiếc 90 sức ngựa, 6 chiếc 200 sức ngựa, 2 chiếc 400 sức ngựa. Một số tàu cỡ lớn đã có máy dò cá, có vô tuyến điện để chỉ đạo sản xuất ở địa phương. 40 trong số gần 100 hợp tác xã đánh cá kiên quyết xóa bỏ các loại nghề ven bờ đã cũ kỹ, năng suất thấp.


(1) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:14:06 PM
Từ ngày cải tiến công cụ đánh bắt, năng suất tăng cao, bình quân đạt trên 80 tấn/vàng, cá biệt có vàng lưới đạt trên 188 tấn/năm. Tàu máy 135 sức ngựa của hợp tác xã Chiến Thắng, Cô Tô và hợp tác xã Hải Tân (Quảng Hà) đạt 160 tấn/năm bằng công cụ thủ công.

Năng suất lao động trong nghề cá năm 1975 bình quân 1 lao động đạt 3,1 tấn, tăng gấp 3 lần năm 1964. Sản lượng cá biển đánh được trong năm 1975 tăng gấp 2 lần năm 1956.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, hầu hết ngư dân sống lênh đênh với chiếc thuyền trên mặt biển, nay đây mai đó, thiếu thốn, cơ cực đủ bề. Ngay hầu hết bà con ngư dân đã lên bờ làm nhà ở, hình thành những thôn và ngư dân có trường học, trạm xá chữa bệnh thông thường cho xã viên. Có làng đã “ngói hóa” từ 50%-100% như hợp tác xã Hải Tân, Tiến Thành, Cô Tô, Hưng Đạo, Hùng Thắng.

Để củng cố và phát huy chính quyền dân chủ nhân dân, nhiệm kỳ thứ 3 (khóa 3) của hội đồng nhân dân tỉnh ngày càng tăng số đại biểu người dân tộc ít người, thể hiện rõ chính sách đoàn kết và bình đẳng giữa các dân tộc, các thành phần xã hội tham gia quản lý nhà nước, tạo nên sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân.

Năm 1975 là một năm có nhiều thành tựu đáng ghi nhớ. Các nhiệm vụ đều được hoàn thành xuất sắc. Toàn đảng bộ nỗ lực lớn. Quân và dân trong tỉnh vững vàng vượt qua nhiều thử thách, sản xuất phát triển. Đời sống nhân dân ổn định. Tình hình an ninh chính trị được giữ vững.

Quân dân Quảng Ninh dưới sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp đã phấn đấu hết mình vì Quảng Ninh ngày càng giàu mạnh, vì miền Bắc hậu phương lớn của cả nước, vì miền Nam, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Sáng mùng một tết Nguyên đán Bính Thìn, đồng chí Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ về vui tết với quân dân, đồng bào các dân tộc Quảng Ninh.

Hình ảnh của Thủ tướng vui tết với đảng bộ, quân và dân các dân tộc Quảng Ninh giữa ngày đầu xuân tràn ngập tin vui thắng lợi toàn diện của cả năm 1975 là một sự động viên cổ vũ lớn trong khi chuẩn bị bước vào nhiệm vụ mới của kỷ nguyên Độc lập – Hòa bình – Thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. thủ tướng có mặt và trực tiếp động viên quân và dân Quảng Ninh trong trận đầu 5 tháng 8 năm 1964 và suốt trong những năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Thủ tướng đã nhiều lần về thăm, mở hội nghị dân chủ với ngành than bàn đẩy mạnh sản xuất (1968) và tặng cờ thưởng luân lưu đơn vị thi đua khá nhất ngành than năm 1969, về chuyển lời Bác Hồ có ý kiến với đảng bộ và công nhân mỏ (5-1969). Và hôm nay, Quảng ninh giành nhiều thắng lợi trong năm 1975, Thủ tướng về chúc tết cán bộ, chiến sĩ đồng bào trong tỉnh.

Sự có mặt của Thủ tướng Phạm Văn Đồng giữa ngày vui, năm vui thắng lợi trọn vẹn của dân tộc càng làm cho cán bộ, chiến sĩ đồng bào các dân tộc Quảng ninh tưởng nhớ Bác Hồ kính yêu. Người đã dành nhiều ưu ái chăm lo, động viên và “Bác mong tất cả công nhân và cán bộ cố gắng hơn nữa, đẩy mạnh ngành than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác, và tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp”.

Tại trung đoàn 8, một trong những trung đoàn có thành tích về lao động sản xuất, kinh tế kết hợp quốc phòng, Thủ tướng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ biểu dương cán bộ, chiến sĩ trung đoàn có nỗ lực lớn khi nhận nhiệm vụ ở một huyện miền núi nhiều khó khăn, gian khổ nhưng đã tự khẳng định được mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thủ tướng tỏ ý vui mừng về tuyến đường mới làm, về những nếp nhà tranh tre, nứa lá nhưng khang trang, về đàn trâu, đàn bò béo mộng, và đàn gia cầm từ bốn phía rừng quanh nhà đổ về sân khi có tiếng kẻng gọi ăn.

Thủ tướng ân cần dặn và chúc cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 8 luôn luôn là “trung đoàn lao động tốt, xây dựng chính quy tốt, tăng gia tự túc tốt, quan hệ địa phương tốt”.

Tại tỉnh ủy, bên cây đào đón xuân mới, Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoan nghênh Quảng Ninh và Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn có sự phối hợp rất ăn ý và là nơi đi đầu trong việc chuyển lực lượng vũ trang tham gia xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng, đã làm được nhiều việc có tính chất điển hình, gương mẫu.

Trải qua 21 năm (tháng 8 năm 1954 – tháng 12 năm 1975) kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – một quá trình lịch sử oanh liệt, vừa xây dựng tiềm lực mọi mặt của một tỉnh “vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến”, vừa kiên cường chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, vừa hết lòng, hết sức chi viện chiến trường, đảng bộ, quân và dân các dân tộc Quảng Ninh đã góp phần cùng miền Bắc và cả nước hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng, tô thắm truyền thống “Đoàn kết toàn dân, chiến đấu anh dũng, mưu trí, sáng tạo, đấu tranh bất khuất, kiên cường vượt mọi gian khổ, khó khăn, quyết tâm đánh giặc cho đến thắng lợi cuối cùng”.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:14:51 PM
KẾT LUẬN

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên địa bàn Quảng Ninh là một thiên anh hùng ca, đỉnh cao của quá trình chiến đấu chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chi viện chiến trường và làm nghĩa vụ quốc tế.

Từ một địa bàn gồm ba tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên, Hồng Gai, mỗi nơi có một thế mạnh riêng, có bản sắc riêng, nhưng khi được sáp nhập lại, các địa phương vừa xây dựng, vừa củng cố và bổ sung lẫn nhau, thế mạnh được khai thác và phát huy triệt để, bản sắc riêng được giữ gìn và tôn trọng. Trong vòng 10 năm (1954-1964) trải qua hai bước sáp nhập, lúc đầu là Quảng Yên – Hồng Gai thành Hồng Quảng rồi thành Quảng Ninh (1964). Đây là một thời kỳ không lâu so với chiều dài lịch sử của mỗi tỉnh trước khi được giải phóng. Sự phát triển của mỗi địa phương, mỗi vùng khi người dân được đổi đời từ một người dân mất nước, người nô lệ đến người làm chủ vận mệnh đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình, sự trỗi dậy của ý thức và hành động cách mạng có một sức sống phi thường.

Kết quả 5 năm đầu (1955-1960) khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa rồi 5 năm thực hiện kế hoạch lần thứ nhất (1961-1965) trong điều kiện hòa bình và những kế hoạch tiếp theo trong trạng thái vừa có chiến tranh vừa có hòa bình, nhưng đảng bộ, quân và dân Quảng Ninh anh dũng vươn lên sẵn sàng chấp nhận những điều kiện hết sức khó khăn và ác liệt. Thành tựu của 21 năm (1954-1975) liên tục chiến đấu xây dựng, củng cố và phát triển đã làm thay đổi khá sâu sắc bộ mặt kinh tế, chính trị, xã hội của Quảng Ninh. Từ tiềm năng và bề dày lịch sử, quân và dân Quảng ninh tỏ rõ khí phách của một dân tộc trước họa xâm lăng của kẻ thù, đã anh dũng đánh bại mọi hành động ăn cướp của không quân Mỹ ngay từ ngày đầu 5 tháng 8 năm 1964. Trải qua 8 năm, Quảng Ninh góp phần cùng quân dân miền Bắc đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Mặc dù phải hứng chịu 24.808 quả bom các loại (bằng 9.690 tấn) mà địch đã đánh phá ác liệt vào 2.300 mục tiêu, làm chết 2.501 người, làm bị thương 3.976 người, gây thiệt hại về tiền của, tài sản của Nhà nước và nhân dân tới 69.886.908 triệu đồng, bằng 465% giá trị tổng sản lượng năm 1972 của cả tỉnh, nhưng quân dân Quảng Ninh đã anh dũng vượt lên mọi gian khổ, hy sinh. “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chân lý ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng đã hun đúc ý chí và quyết tâm của đảng bộ, của nhân dân các dân tộc trong tỉnh đứng lên bảo vệ thành quả cách mạng, thực hiện Di chúc của Bác Hồ: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam – Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Thắng lợi của quân và dân Quảng Ninh đã góp phần tô thắm thêm lịch sử anh hùng của dân tộc và truyền thống vẻ vang của đất nước ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Từ thắng lợi của những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên địa bàn Quảng Ninh, đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang trong tỉnh đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu:

1. Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang Quảng Ninh thường xuyên quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng.

Hai nhiệm vụ chiến lược đó xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam là đồng thời phải giải quyết hai mâu thuẫn, giữa một bên là đế quốc Mỹ xâm lược, một bên là dân tộc Việt Nam (cả miền Nam – miền Bắc) đứng lên chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và mâu thuẫn giữa một bên là con đường chủ nghĩa xã hội và một bên là con đường tư bản chủ nghĩa.

Hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng của Đảng ta tuy tính chất khác nhau, nhưng lại gắn bó chặt chẽ, thúc đẩy nhau phát triển, nhằm mục tiêu chung của cách mạng cả nước.

Một Đảng, một dân tộc, một đất nước tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng khác nhau là một đặc điểm chưa từng xảy ra trong lịch sử cách mạng nước ta.

Quán triệt và vận dụng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng của Đảng vào địa phương là một quá trình đòi hỏi phải xuất phát từ tình cảm và trách nhiệm chung về mục tiêu, lý tưởng của sự nghiệp cách mạng cả nước.

Từ một tỉnh có khu công nghiệp lớn của miền Bắc, với vai trò vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến, đảng bộ, quân và dân Quảng Ninh vừa kiên cường chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ góp phần bảo vệ hậu phương lớn cả nước, vừa dốc lòng, dốc sức chi viện sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng của Đảng, Quảng Ninh luôn luôn xác định việc xây dựng địa phương vững mạnh về mọi mặt là xây dựng tiềm lực về chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa xã hội, tạo khả năng mới, chất lượng mới đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ miền Bắc, chi viện chiến trường trong mọi tình huống ác liệt nhất.

Việc thực hiện các kế hoạch 5 năm trên địa bàn các tỉnh, từng bước tạo cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát huy được tinh thần tự lực tự cường, cả Quảng Ninh là một khối đoàn kết thống nhất, kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, quyết chiến, quyết thắng. Đồng thời không ngừng làm tăng của cải vật chất nhằm bồi dưỡng sức dân để “chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa”, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân vẫn trụ bám vững vàng trên quê hương mình vừa sản xuất vừa chiến đấu, quyết đi tới thắng lợi cuối cùng.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:15:47 PM
Cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại trên địa bàn tình là một cuộc chiến đấu không cân bằng về mức độ vũ khí, trang bị, phương tiện, kỹ thuật giữa ta và địch. Có những trận, những mục tiêu đế quốc Mỹ đã sử dụng tới hàng năm, sáu chục lượt máy bay các loại được cải tiến mới nhất của hải quân, không quân, với nhiều loại bom mới ra xưởng chưa đầy dăm tháng nhưng chỉ phá hủy của ta vài khu nhà, một vài góc phố. Ngược lại, xác suất chiến đấu của các lực lượng phòng không ba thứ quân của ta có trận bắn rơi 5 chiếc, có 3 chiếc rơi tại chỗ. Có trường hợp chỉ một tổ săn máy bay hoặc một tổ trực chiến của dân quân tự vệ bắn rơi được cả loại máy bay siêu hạng, và nhiều trường hợp máy bay bị diệt trên đường vào tiếp cận đánh phá mục tiêu nên đã làm thất bại hoàn toàn cả phi vụ của chúng.

Những thủ đoạn đánh ngày, đánh đêm, đánh lén, đánh dồn dập, đánh cao, đánh thấp, đánh nhỏ lẻ, đánh phân tán dài ngày… của địch, chúng ta cũng đều có cách đối phó và hạ được máy bay địch.

Cuộc đấu trí, đấu lực giữa ta và địch có lúc rất ác liệt, nhưng quân dân tỉnh Quảng Ninh dũng cảm vươn lên phát huy mọi sáng tạo và tiềm năng của chiến tranh nhân dân địa phương đánh bại chiến tranh phá hoại của địch. Quảng Ninh tự hào là một trong những địa phương tích cực góp phần chi lửa với miền Nam để đồng bào, đồng chí trong đó bớt tổn thất đau thương, giành nhiều thắng lợi lớn ngay tại chiến trường.

Trong khói lửa chiến tranh, quân dân Quảng Ninh không chỉ tập trung toàn lực chống chiến tranh phá hoại, mà với nhiệm vụ chi viện chiến trường đã phấn đấu theo tinh thần “thóc vượt cân, quân vượt yêu cầu”.

Những năm Mỹ ngừng ném bom miền Bắc (tháng 11 năm 1968 – tháng 4 năm 1972) cũng như từ năm 1973-1975, sau khi Hiệp định Pa-ri về lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Quảng Ninh vẫn chủ động cả hai tình huống thường xuyên và đột xuất chi viện chiến trường, cho dù một bộ phận ở nơi này, nơi khác do ảnh hưởng của tư tưởng hòa bình muốn nghỉ ngơi, có hiện tượng “cạn quân, cạn nguồn” xuất hiện.

Đảng bộ và nhân dân Quảng Ninh tập trung giải quyết số quân tồn đọng ở vùng cơ sở yếu, ở diện không công bằng hợp lý, ở dạng thấp bé nhẹ cân, hay có bệnh ngoài da thông thường. Năm 1972, giữa bom đạn của chiến tranh phá hoại lần thứ hai, quân bổ sung cho chiến trường của Quảng Ninh đã vượt chỉ tiêu 107% và mùa xuân tổng tiến công năm 1975, với yêu cầu giao quân cả năm gọn trong một đợt và một ngày, Quảng Ninh là một trong hai tỉnh xuất sắc nhất miền Bắc được Chính phủ biển dương.

Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bảo vệ địa phương góp phần bảo vệ miền Bắc, chia lửa với miền Nam và chi viện chiến trường, hai nhiệm vụ hàng đầu ở Quảng Ninh có sự gắn bó, thôi thúc tác động và hỗ trợ nhau cùng giành thắng lợi, cùng đạt tới đỉnh vinh quang trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

2. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ Quảng Ninh luôn coi trọng việc thừa kế và phát huy kinh nghiệm Cách mạng tháng Tám năm 1945, kinh nghiệm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trong điều kiện mới.

Xây dựng Đảng để Đảng luôn luôn là hạt nhân lãnh đạo là yếu tố quyết định thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Củng cố, giữ vững và tăng cường vai trò chính quyền các cấp trong quản lý nhà nước, địa phương trên phạm vị rộng, quy mô lớn, tập trung và toàn diện với trình độ không ngừng được nâng cao.

Giáo dục, động viên và tổ chức được mọi tầng lớp nhân dân, phát động được lực lượng to lớn của công nhân, nhất là công nhân mỏ, nông dân, thực hiện khối công nông liên minh, tiến hành xây dựng lực lượng cách mạng đều khắp ở các vùng rừng núi, nông thôn, đồng bằng, đô thị, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương làm nòng cốt trong phong trào toàn dân đánh giặc.

Phát động và tổ chức các phong trào thi đua yêu nước với tinh thần “người người thi đua, nhà nhà thi đua, ta nhất định thắng,địch nhất định thua”.

Phát huy cao độ tin thần tự lực tự cường của nhân dân trong hoàn cảnh nước ta bị kẻ thù bao vây bốn phía, thực hiện tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh “việc giải phóng của ta phải do ta làm lấy”.

Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa đánh giặc vừa bồi dưỡng sức dân, kiên quyết tiêu diệt địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương bằng máu của biết bao thế hệ, lớp trước ngã, lớp sau xông lên.

Sự phát triển kinh nghiệm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trong điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã được nâng lên trình độ cao, chất lượng mới.

Vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh và chiến thắng được kẻ thù hung ác, tàn bạo không chỉ là quyết tâm ở thời kỳ đầu mà trải qua 21 năm, nhất là trong hai cuộc chống chiến tranh phá hoại, nhiều lĩnh vực của tỉnh vẫn được giữ vững và phát triển, có mặt phát triển rất cao như chiến đấu và phục vụ chiến đấu, công nghiệp sản xuất than, đánh bắt cá biển, một số ngành công nghiệp địa phương, giao thông vận tải, giáo dục, văn hóa, y tế, bưu điện, lâm nghiệp, lưu thông phân phối. Giá trị tổng sản lượng năm 9175 đạt 200 triệu, gần gấp đôi năm 1965.

Sự nghiệp cách mạng của Quảng Ninh là một quá trình tiếp nối thắng lợi trong mây chục năm chiến đấu và xây dựng của đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Với những thành tích xuất sắc ấy, Quảng Ninh được Nhà nước tặng huân chương Hồ Chí Minh (1964), huân chương Độc lập hạng nhất (1968) và huân chương Độc lập hạng nhì (1973). 15 đơn vị được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 54 bà mẹ được phong tặng bà mẹ Việt Nam anh hùng, 7 anh hùng lao động trong công nghiệp, 2 anh hùng lao động trong nông nghiệp, ngư nghiệp. Các đồng chí Lý A Coỏng, đồng chí Vũ Thành (công an nhân dân), đồng chí Đoàn Sinh Hưởng, Đỗ Viết Cường, Trần Ngọc Giao và liệt sĩ Hà Quang Vóc, liệt sĩ Đặng Bá Hát được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Những phần thưởng cao quý đã làm rạng rỡ thêm truyền thống đấu tranh anh dũng của đảng bộ, của quân dân Quảng Ninh. Những thành tựu quan trọng của tỉnh đã góp phần tích cực vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân cả nước đi đến thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:16:18 PM
3. Phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên địa bàn tỉnh.

Đánh giá đúng tình hình, phán đoán đúng âm mưu địch, đề cao cảnh giác hạ quyết tâm chiến đấu cao, luôn luôn tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, chỉ đạo, chỉ huy để kịp thời bổ sung chủ trương quyết định về tổ chức và triển khai thực hiện kịp thời.

Thấu suốt quyết tâm chiến lược của Trung ương, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh đủ sức đảm nhiệm việc tác chiến bảo vệ địa phương để thay thế cho bộ đội chủ lực tập trung chi viện miền Nam.

Kết hợp chặt chẽ giữa chính trị, kinh tế và quốc phòng để xây dựng và củng cố hậu phương vững mạnh, làm cơ sở vững chắc cho thắng lợi của chiến tranh.

Chăm lo củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu lực hoạt động của bộ chỉ huy quân sự tỉnh, cơ quan quân sự huyện, thị xã… làm tham mưu đắc lực cho cấp ủy chỉ đạo phong trào, chỉ huy chiến đấu, thực hiện chính sách hậu phương quân đội; đồng thời cơ quan quân sự các cấp là cơ quan phối hợp và giúp đỡ các đơn vị binh chủng, quân chủng về làm nhiệm vụ ở địa phương, là cơ quan hiệp đồng với các ban, ngành, đoàn thể chấp hành chỉ thị, nghị quyết tỉnh ủy về công tác quân sự địa phương.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chiến tranh và củng cố quốc phòng.

4. Đoàn kết, bình đẳng, thủy chung gắn bó, vững vàng, chiến thắng và phát triển.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những thành tựu của Quảng Ninh được bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết, bình đẳng, thủy chung, gắn bó vững vàng chiến đấu và chiến thắng để phát triển.

Quảng Ninh từ bảo vệ mình, từ ba tỉnh sáp nhập lại, là một tỉnh tận cùng của Đông Bắc Tổ quốc, có chiều dài biên giới giáp với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, có hai cảng biển (Cửa Ông, Hồng Gai) giao lưu quốc tế… Tình hình an ninh chính trị còn nhiều diễn biến phức tạp. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương phải trải dài, vươn xa và sâu sát không chỉ trên địa bàn rộng mà gần như hầu hết các mặt ở mỗi cấp, mỗi nơi để bảo đảm phù hợp sự tiếp nhận thời mở cửa và phát triển ở vùng đó. Nhưng nhìn chung, địa bàn nào cũng phải khắc phục để vượt lên tàn dư của chiến tranh, của sự lạc hậu do chế độ cũ để lại.

Từ ba tỉnh thành một tỉnh Quảng Ninh dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã tụ hội lại những gì cao đẹp nhất về đạo lý, nhân phẩm và phong cách, tạo ra một Quảng Ninh bất khả xâm phạm, thủy chung, gắn bó, nghĩa tình vì lợi ích của cả nước, của địa phương và cùng bè bạn xa gần chống kẻ thù chung, cùng giữ gìn độc lập, hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển.

5. Cả nước vì Quảng Ninh và Quảng Ninh cùng cả nước chiến thắng.

Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân cả nước. Quảng Ninh cũng như các tỉnh trong cả nước, luôn luôn được sự hỗ trợ, chung lưng gánh vác theo nghĩa vụ và trách nhiệm mỗi địa phương. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mối quan hệ cả nước vì Quảng ninh và Quảng Ninh cùng cả nước chiến thắng được thể hiện đa dạng phong phú và đan xen vào nhau.

Trước hết đó là sự quan tâm sâu sắc của Trung ương Đảng, của Chính phủ, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và của Đảng, Nhà nước, của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Quảng Ninh có nền công nghiệp than lớn nhất, quy mô nhất cả nước, có rừng, có biển, đặc biệt có vịnh Hạ Long, một cảnh quan kỳ thú của nhân loại nên Đảng, Nhà nước, Bác Hồ có sự quan tâm chăm lo đặc biệt tạo điều kiện để Quảng Nịnh phát triển phong phú hơn.

Từ tuyến đầu Tổ quốc, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam gửi tặng quân dân Quảng Ninh lá cờ vinh quang “Thành đồng Tổ quốc” để làm giải thưởng luân lưu cho đơn vị lập thành tích xuất sắc nhất trong chống Mỹ cứu nước.

Suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, Quảng Ninh đã làm hết sức mình chiến đấu, sản xuất vì cả nước và cả nước cũng đã vì Quảng Ninh, động viên cổ vũ Quảng Ninh cùng đi lên.

Miền Nam được giải phóng, cả nước thống nhất, Quảng Ninh chuyển sang thời kỳ mới.

Với những thành tựu, kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu chống ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân Quảng Ninh vững bước tiến vào thời kỳ mới, đầy tự hào và tin tưởng, phấn đấu để “Quảng Ninh trở thành một tình giàu và đẹp” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:19:20 PM
PHỤ LỤC

THÀNH TÍCH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
CỦA QUÂN VÀ DÂN QUẢNG NINH

- Đánh 2.340 trận.

- Bắc rơi 200 máy bay các loại.

- Thời kỳ củng cố vùng Đông Bắc sau thắng lợi kháng chiến chống Pháp đã:

+ Khám phá, bắt gọn 11 vụ gián điệp biệt kích.

+ Từ 1956-1960 bắt sống 62 tên, diệt 25 tên, bức hàng 142 tên, thu 136 súng và nhiều loại phương tiện chiến tranh.

+ Dập tắt bạo loạn của bọn phản động người nước ngoài ở Hà Cối (1956).

- Những năm đầu thập kỷ sáu mươi, bắt gọn 5 tên biệt kích, gián điệp Mỹ - Diệm và 2 toán biệt kích Mỹ - Tưởng gồm 71 tên. Riêng 2 toán biệt kích Mỹ - Tưởng gồm 26 tên do 1 thượng tá cầm đầu, 2 trung tá, 25 cấp úy, phá tan 2 khung sư đoàn của chúng.

- Tập trung cải tạo 533 tên phản cách mạng và phạm tội khác.

Quốc hội, Chính phủ tặng thưởng:

- 1 huân chương Độc lập hạng nhất, 1 huân chương Độc lập hạng nhì, 1 huân chương Quân công hạng ba.

- Được tặng “Cờ thưởng luân lưu quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của Bác Hồ.

- Hai lần ngành than được tặng “Cờ thưởng luân lưu khá nhất” của Bác Hồ năm 1965 và 1966.

CÁC ĐƠN VỊ ĐƯỢC ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TUYÊN DƯƠNG
DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN


1. Đại đội tự vệ nhà máy sàng Cửa Ông (1965)

2. Tự vệ bến Hồng Gai (1974)

3. Nhà máy điện Uông Bí (1974).

4. Quân và dân thị xã Cẩm Phả (1974)

5. Đồn biên phòng Pò Hèn (1975)

6. Đồn biên phòng Cô Tô (1976)

7. Bộ đội biên phòng Cẩm Phả (1973)

8. Quân và dân đảo Ngọc Vừng (Cẩm Phả huyện) 1974.

9. Đội phòng cháy chữa cháy Hạ Long (1967)

10. Đội tuần tra kiểm soát vịnh Hạ Long (1973)

(https://lh3.googleusercontent.com/JHW86uEAelqKhtqYjcCEPmMZcn67eYuOAFm--M_SfdZ1rK9BFJqsApofhy5cJuC1RAArVT56-nKBflIIFuKAq8c0ndQjDOUiEc1qgii2x6XzZ8P372nDX0-sBemRqGjA-IpZplIjUlKRKgw-LjHJDeDP55MZmgeOo8LigUo6ZAibMWdILeX8XKxbFQrY_HYB1Bt6mkEw9cZMZh-gl3fnUWo6CFe603e6hHmbi2Wg6eCX613LXxK_OCWNH_RzW0pL67q9soSK6Fe002BC6GspYtjMz4nkyA8cLj6Bf9b8sSzDQU3IudytR4-2kbl_KXv577SzVG2Flli-N7k8vNQ2ST5kL0RMd9EzWfn16gJFJUUKBHAvqTee_tUZ2QWBvXwgd-FSb5dDXnfRjMeFMHJ0i7sYnmrTsUzuNpYfctj4jEUc6JAg-901UB9TV0tCwZ2OE1YQGQfcITbynZh4UDS3cKcSWI-O-Lxk-30AyTNFvROBxxzFoNbex_v1FaaHpqfqz6d0tPemno0DYS5cexjUy-UWlPjYiy_OOY6kly4A_g4UOt78_oYo4V6LR2uSgwStkg3Pmsw2xxs0IlxWh9T-O5AJsTDJs4QURuiNoVW6Bw=w800-h582-no)

Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy Hạ Long (Quảng Ninh) đang cứu cháy 4 chiếc xà lan chở dầu năm 1966

CÁC CÁ NHÂN ĐƯỢC TUYÊN DƯƠNG
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

1. Lý A Coỏng, chính trị viên xã đội Thanh Y, Đầm Hà.

2. Hà Quang Vóc (liệt sĩ), quê thị trấn Đầm Hà, thuộc đoàn 3 đặc công Bộ chỉ huy Miền (1976).

3. Đỗ Viết Cường (Mỹ Sơn, Hà Cối), đoàn 126 Hải quân (1973)

4. Đoàn Sinh Hưởng (Bình Ngọc, Móng Cái), đoàn 273, Quân đoàn 3.

Những cán bộ, công nhân vùng mỏ, xã viên hợp tác xã nông nghiệp, ngư nghiệp
được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lao động
trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Anh hùng lao động trong ngành công nghiệp khai thác than:

1. Lê Văn Hiểm, Cửa Ông.

2. Hồ Văn Dậu, Cọc 6.

3. Vũ Xuân Thủy, Cọc 6.

4. Voòng Nài Hoài, vận tải mỏ.

5. Hoàng Văn Tiến, mỏ Thống Nhất.

6. Vũ Hữu Sơn, mỏ Đèo Nai.

7. Trịnh Văn Nghinh.

Anh hùng lao động trong nông nghiệp, ngư nghiệp:

1. Tống Thị Vít, Liên Hòa, Yên Hưng.

2. Châu Vồ Mủn, huyện đảo Cô Tô.


Tiêu đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Chín, 2017, 10:20:24 PM
CÁC ĐỒNG CHÍ BÍ THƯ TỈNH ỦY, CHỦ TỊCH ỦY BAN HÀNH CHÍNH TỈNH,
CHỈ HUY TRƯỞNG BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH
(Từ năm 1954 đến năm 1975)

1. Hoàng Hữu Nhân, Bí thư khu Hồng Quảng từ tháng 2 năm 1955 đến cuối năm 1956.

2. Nguyễn Tuân, Bí thư khu Hồng Quảng từ đầu năm 1957 đến cuối năm 1960.

3. Nguyễn Thọ Chân, Bí thư khu Hồng Quảng từ đầu năm 1961 đến tháng 12 năm 1965.

4. Hoàng Chính, Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh từ năm 1955 đến tháng 12 năm 1963.

5. Nguyễn Tuân, Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh từ 1966 đến năm 1969.

6. Nguyễn Đức Tâm, Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh từ năm 1969 đến năm 1980.

7. Trịnh Nguyên, Chủ tịch khu Hồng Quảng từ năm 1962 đến năm 1963.

8. Lý Bạch Luân, Chủ tịch tỉnh Hải Ninh từ đầu năm 1955 đến năm 1963.

9. Hoàng Chính, Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh từ năm 1964 đến năm 1969.

10. Nguyễn Ngọc Đàm, Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh từ năm 1969 đến năm 1981.

11. Tăng Văn Hội, Tỉnh đội trưởng khu Hồng Quảng năm 1955.

12. Vũ Đình Mai, Tỉnh đội trưởng khu Hồng Quảng từ năm 1956 đến năm 1963 và từ năm 1970 đến năm 1975.

13. Đại tá Nguyễn Như Thiết, Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, ủy viên thường vụ tỉnh ủy từ năm 1964 đến năm 1967.

14. Đại tá Đoàn Phụng, Chính ủy Quân khu Đông Bắc, ủy viên thường vụ tỉnh ủy từ năm 1964 đến năm 1969.

15. Lê Chính, Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự Quảng Ninh từ năm 1970 đến năm 1977.

CÁC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

1. Nguyễn Thị Hạo, xã Nguyễn Huệ, Đông Triều, có 3 con là liệt sĩ.

2. Lê Thị Mùi, thị trấn Móng Cái, Hải Ninh, có chồng và 2 con là liệt sĩ.

3. Tô Thị Sạch, thị trấn Bình Liêu, có chồng và 2 con là liệt sĩ.

4. Trần Thị Lạo, xã Nguyễn Huệ, Đông Triều, có 3 con là liệt sĩ.

5. Nguyễn Thị Viên, thị trấn Móng Cái, Hải Ninh, có 4 con là liệt sĩ.

6. Lương Thị Chèo, xã Nguyễn Huệ, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

7. Nguyễn Thị Lý, xã Nguyễn Huệ, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

8. Nguyễn Thị Em, xã Hoàng Quế, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

9. Nguyễn Thị Thọ, xã Hồng Phong, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ..

10. Vũ Thị Cân, xã Yên Đức, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

11. Nguyễn Thị Điệu, xã Yên Đức, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

12. Nguyễn Thị Ngứu, xã Hưng Đạo, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

13. Nguyễn Thị Mát, xã Thủy An, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

14. Nguyễn Thị Lộc, xã Xuân Sơn, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

15. Bùi Thị Noi, xã Hồng Thái, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

16. Bùi Thị Tý, thị trấn Mạo Khê, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

17. Bùi Thị Lan, thị trấn Mạo Khê, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

18. Trần Thị Truật, thị trấn Mạo Khê, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

19. Ngô Thị Bàn, thị trấn Mạo Khê, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

20. Chu Thị Đan, thị trấn Mạo Khê, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

21. Đinh Thị Nhượng, phường Hà Trung, thành phố Hạ Long, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

22. Nguyễn Thị Đồn, phường Hà Phong, thành phố Hạ Long, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

23. Lê Thị Huyền, phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

24. Trần Thị Thoa, phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

25. Nguyễn Thị Bích, phường Cao Thắng, thành phố Hạ Long, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

26. Đặng Thị Vân, phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

27. Trần Thị Tẻo, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

28. Nguyễn Thị Lừng, phường Cẩm Thạch, thành phố Hạ Long, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

29. Nguyễn Thị Sen, phường Cẩm Thạch, thành phố Hạ Long, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

30. Nguyễn Thị Lưu, thị trấn Quảng Yên, Yên Hưng, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

31. Vũ Thị Hương, thị trấn Quảng Yên, Yên Hưng, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

32. Phạm Thị Phóp, thị trấn Trới, Hoành Bồ, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

33. Ngô Thị Dần, xã Cái Chiên, Quảng Hà, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

34. Lê Thị Quân, Tiên Lãng, Tiên Yên, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

35. Nguyễn Thị Điểm, thị trấn Tiên Yên, Tiên Yên, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

36. Dương Thị Cấp, thị trấn Cái Rồng, Vân Đồn, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

37. Nguyễn Thị Long, thị trấn Móng Cái, Hải Ninh, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

38. Nguyễn Thị Lô, xã Hải Xuân, Hải Ninh, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

39. Nguyễn Thị Tạ, xã Quảng Tán, Quảng Hà, có 3 con là liệt sĩ.

40. Trần Thị Đào, phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long, có chồng và 2 con là liệt sĩ.

41. Nguyễn Thị Thêm, xã Cộng Hòa, Yên Hưng, có 2 con là liệt sĩ.

42. Phạm Thị Lạc, xã Tràng An, Đông Triều, có 2 con là liệt sĩ.

43. Nguyễn Thị Nhỡ, xã Tràng An, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

44. Trịnh Thị Trai, xã Yên Đức, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

45. Bùi Thị Nhiếp, xã Yên Đức, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

46. Ngô Thị Nhớn, xã Hoàng Quế, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

47. Nguyễn Thị Nha, xã An Sinh, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

48. Phạm Thị Nhủ, thị trấn Mạo Khê, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

49. Nguyễn Thị Nuôi, thị trấn Mạo Khê, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

50. Trần Thị Xoan, xã Hồng Phong, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

51. Nguyễn Thị Thuật, xã Hồng Phòng, Đông Triều, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

52. Vũ Thị Nhúy, xã Minh Thành, Yên Hưng, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

53. Nguyễn Thị Ninh, xã Vạn Ninh, Hải Ninh, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.

54. Nguyễn Thị Lộc, thị trấn Móng Cái, Hải Ninh, có 1 con độc nhất là liệt sĩ.