Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 02:29:26 PM



Tiêu đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 02:29:26 PM
Tên sách: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2008
Số hoá: ptlinh, chuongxedap

Ban biên soạn:
      Thượng tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Chủ biên)
      Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
      Thượng tá ĐẬU XUÂN LUẬN
      Thượng úy PHAN NGỌC DOÃN
      Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

Hoàn chỉnh bản thảo:
      Trung úy NGUYỄN MINH THỦY

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một đất nước nằm ở ven biển Thái Bình Dương - cửa ngõ quan trọng của lục địa Đông Nam châu Á. Trải qua bao thế kỷ, bọn xâm lược phong kiến, thực dân và đế quốc nhòm ngó và xâm lăng nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Ngay từ ngày dựng nước đến nay, dân tộc ta đã phải bao phen đứng lên chiến đấu bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, lập nên những chiến công oanh liệt: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân 1975...

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, xây đắp nên truyền thống quật cường, bất khuất, lòng yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử dân tộc vừa là nhu cầu, vừa là trách nhiệm trước lịch sử để tỏ lòng biết ơn đối với công lao to lớn của tổ tiên, vừa là đòi hỏi của thời cuộc để mỗi người dân Việt Nam tự tin hội nhập cùng bạn bè quốc tế với một bản sắc dân tộc mạnh mẽ.

Với ý nghĩa đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức biên soạn và xuất bản "Tủ sách lịch sử Việt Nam". Tủ sách lịch sử Việt Nam gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn sách trình bày một cuộc khởi nghĩa cụ thể, dưới dạng hỏi đáp, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ và đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Hy vọng "Tủ sách lịch sử Việt Nam”nói chung và cuốn sách Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế nói riêng sẽ là người bạn đồng hành thân thiết của mỗi bạn đọc trong cuộc hành trình tìm về lịch sử dân tộc.

Mặc dù những người biên soạn đã có nhiều cố gắng, nhưng bộ sách khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được bạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến.


NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 02:30:46 PM

Câu hỏi 1: Tình hình Việt Nam sau khi Pháp nổ tiếng súng xâm lược nước ta năm 1858?
Trả lời:


Tiếng súng xâm lược nước ta của thực dân Pháp từ năm 1858 đã phát động cả một cao trào chống giặc giữ nước trong toàn quốc. Cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân tuy cuối cùng đã thất bại vì sự phản phúc của triều đình, nhưng cũng đã giáng vào đầu địch những đòn chí tử, và chỉ chờ thời cơ thuận lợi lại vùng dậy với một sức mạnh phi thường. Ngay ở Nam Kỳ là nơi bị thôn tính trước tiên và do đó thực dân Pháp có đủ thì giờ tổ chức bộ máy thống trị tàn bạo để khủng bố và đàn áp những người yêu nước, phong trào tuy bị dập tắt trong căn bản, song sự uất ức, nỗi căm thù vẫn ngấm ngầm lan rộng trong nhân dân làm cho bè lũ thực dân rất lo ngại.

Nhưng Hòa ước Hắc Măng (25-8-1883) rồi Hòa ước Pa-tơ-nốt (6-6-1884) đã ghi dần những bước tiến sỗ sàng của thực dân Pháp trong âm mưu thôn tính toàn bộ Việt Nam, đồng thời cũng là một bước lùi đớn hèn của bè lũ đại phong kiến trước áp lực quân cướp nước.

Mặt khác, hết Quy ước Thiên Tân lần thứ nhất (11-5-1884) rồi Hiệp định đình chiến (4-4-1885) và cuối cùng là Hiệp ước Thiên Tân lần thứ hai (9-6-1885) quy định việc quân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ trong một thời hạn ngắn và việc Trung Quốc công nhận những hiệp ước Pháp đã ký hay sẽ ký với triều đình Huế được thi hành đã đánh dấu sự nhượng bộ ngày càng sâu sắc của phong kiến nhà Thanh trước tư bản Pháp. Trong những điều kiện lịch sử đó, tình hình có nhiều thay đổi quan trọng bất lợi cho tiền đồ Việt Nam.

Thực dân Pháp từ nay có thể rảnh rang ngoài Bắc để tập trung lực lượng vào công cuộc "bình định”, nghĩa là tập trung lực lượng để tiêu diệt các trung tâm kháng chiến của nhân dân ta và xâm chiếm những vùng tự do rộng lớn còn lại.

Cho nên, mặc dù chính phủ Phe-ri (Jules Ferry) sụp đổ ngày 30 tháng 3 năm 1885 sau vụ quân Pháp bị quân Thanh đánh đại bại ở Lạng Sơn, chính phủ mới do Bờ-rít-xông (Brisson) lên (6-4-1885) cũng vẫn tiếp tục một chính sách thuộc địa của bè lũ tư bản tài chính. Chính phủ Pháp vẫn tiếp tục tăng viện cho đội quân viễn chinh do tướng Cuốc-xy (De Courcy) toàn quyền chỉ huy.

Lúc đó, thực dân Pháp chú trọng thực hiện ba công tác lớn: Một là, chiếm cứ các yếu điểm ở biên giới và thượng du sau khi quân Thanh đã rút về; sự rút lui của quân Thanh phải hết tháng 5 năm 1885 mới xong, nhưng lúc bấy giờ là mùa mưa, Pháp không thể hành quân đông đảo lên Việt Bắc ngay được; vả lại ở trung du, quân khởi nghĩa mạnh, chúng phải để nhiều lực lượng đánh chiếm vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng là vùng đất từ sông Hồng lên Tam Đảo. Việc thứ hai của địch là chia quân đi trấn áp các cuộc khởi nghĩa ở đồng bằng. Việc thứ ba là mưu toan đánh gãy cánh chống Pháp ở triều đình Huế mà Tôn Thất Thuyết là vị thủ lĩnh cương quyết. Chúng mong rằng nếu bắt được Thuyết, giải tán được quân của Thuyết, thì sẽ "bình định" được các cuộc khởi nghĩa địa phương. Chúng không biết rằng chính các cuộc khởi nghĩa nhân dân ở địa phương mới nuôi dưỡng ý chí đề kháng của cánh Tôn Thất Thuyết tại triều đình Huế.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 02:31:06 PM

Ngày 27 tháng 6 năm 1885, Cuốc-xy cùng 4 đại đội lính thủy đánh bộ đáp 2 tàu chiến ở Hải Phòng vào Huế, với ý định cụ thể là sẽ tiến hành một cuộc "đảo chính" để thanh toán cánh kháng chiến trong triều, giải tán quân đội Huế, tức là siết chặt nền đô hộ, làm cho triều đình hoàn toàn phụ thuộc vào bè lũ cướp nước.

Trong tình thế đó, Tôn Thất Thuyết và phe chủ chiến bắt buộc phải tranh thủ hành động để tự vệ. Đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5 tháng 7 năm 1885, quân ta nổ súng đánh úp doanh trại quân đội Pháp, nhưng cuối cùng đã thất bại. Vua Hàm Nghi xuất bôn, để lại sau lưng kinh đô Huế trong tay giặc và chìm đắm trong máu lửa. Trên đường quốc nạn, nhà vua đã hạ chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân toàn quốc nổi dậy chống bè lũ cướp nước hung bạo.

Kết quả cấp thời của chiếu Cần Vương là nhân dân toàn quốc đều sôi nổi hưởng ứng. Do các văn thân yêu nước lãnh đạo, cả một phong trào nhân dân kháng Pháp lan rộng khắp Trung và Bắc, trừ Nam Kỳ là nơi bị Pháp chiếm từ lâu, ở đó chính quyền thống trị của bè lũ cướp nước đã được củng cố tương đối. Tình hình đó làm cho thực dân Pháp vô cùng bối rối.

Cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam từ năm 1885 đến năm 1891, dù có Hàm Nghi đứng đầu hay là khi không có Hàm Nghi nữa, đã chứng tỏ cho bọn thực dân thấy rằng đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. La-nét-xăng đi đến kết luận là làm sao cho triều đình Huế mường tượng như có ít nhiều quyền hành ở ngoài Bắc, thực tế là dùng cả bộ máy của triều đình vào việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa một cách tích cực hơn. Liền sau khi đến Huế, La-nét-xăng đã nói với bọn thực dân ở Huế chấm dứt cái mưu toan phế Thành Thái và Viện Cơ mật. Hội đồng nhiếp chính của Huế liền "trả ơn" bằng cách phát hành một chỉ dụ cho tất cả quan lại các tỉnh Bắc Kỳ phải tuyệt đối tuân lệnh của La-nét-xăng. Triều đình Huế lại còn sai hoàng thân Hoài Đức và Nguyễn Trọng Hiệp (cả hai đều là phụ chính) ra Bắc để tra xét xem các tỉnh có chấp hành chỉ dụ ấy không. Cuối năm 1891, tại Nam Định có kỳ thi Hội, thì Nguyễn Trọng Hiệp tuyên bố "đem hết quãng đời cuối cùng" để giúp La-nét-xăng "trong sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của thực dân". Từ năm 1885 đến năm 1890, Pháp dùng chính sách vũ lực là chính, trong chính sách vũ lực đó thì dựa vào các đoàn quân lưu động trước hết. Đến năm 1891, thực dân Pháp, nhất là với tên toàn quyền La-nét-xăng, dùng một chính sách có mới hơn: cũng dùng vũ lực đàn áp, nhưng đàn áp đi đôi với chính trị, chủ yếu là làm sao cho triều đình, kinh lược, các quan Nam hàng tỉnh và huyện cho đến các tổng, lý cộng tác với Pháp một cách tích cực và chặt chẽ hơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 11:11:31 PM

Câu hỏi 2: Đặc điểm chung của cục diện chính trị ở đồng bằng và trung du từ năm 1889 đến năm 1897 như thế nào?
Trả lời:


Đặc điểm chung của cục diện chính trị thời kỳ này là một sự chuyển hướng của Pháp trong sự cộng tác với tầng lớp phong kiến đầu hàng. Trong óc bọn thực dân ở Pa-ri, sẵn có định ý rằng Bắc Kỳ là một nước riêng (như hồi Nguyễn - Trịnh phân tranh), rằng người dân Bắc Kỳ muốn được "giải thoát" khỏi "quyền thống trị của người Trung Kỳ". Để đi đến kết luận đó, chúng căn cứ vào một hiện tượng có thật, tức các cuộc khởi nghĩa liên miên của nhân dân miền Bắc chống triều đình Huế. Chúng không hiểu hay không muốn hiểu rằng các cuộc khởi nghĩa ấy, dầu ở Bắc, ở Trung hay ở Nam, chỉ có ý nghĩa là nhân dân của một nước đấu tranh chống chính quyền phong kiến của nước ấy; thực ra là chúng lấy ý định chủ quan của chúng là muốn tách Bắc Kỳ ra khỏi Việt Nam, cũng như chúng đã tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam để làm thuộc địa, lấy cái ý định chủ quan ấy để làm tiêu chuẩn mà nhận xét ý nghĩa của các cuộc khởi nghĩa. Lúc ấy, bọn chủ trương trực trị là đa số trong đám thực dân ở Sài Gòn, hay Pa-ri, hiềm vì, nếu muốn trực trị luôn ở Trung Kỳ thì phải bỏ vua, bỏ triều đình - điều ấy chưa tiện cho chúng nó - nên chúng nó hẳn tìm cách trực trị Bắc Kỳ đã. Đoạn trích sau đây trong quyển "La colonisation Française de l'Indochine" của La-nét-xăng đã cho biết sơ qua chính sách cai trị của Pháp ở Bắc Kỳ từ 1885 đến 1891.

"Mỗi khâm sứ hay là mỗi toàn quyền chỉ theo ý riêng mình mà lạm, hoặc chà đạp Hòa ước Pa-tơ-nốt 1884, hoặc đòi hỏi thực hiện hòa ước ấy, tùy thời cuộc hay là tùy chủ trương mỗi lúc khác nhau; ông này thì ra sức xâm chiếm phần đất này hay phần đất nọ của nước An Nam, ông khác thì thôi, không chịu theo những phương hướng cố gắng của người đã cai trị trước mình; ông này thì hứa hẹn đủ điều với triều đình Huế, ông khác lại bác bỏ tất cả yêu cầu của triều đình Huế; vả lại, tất cả các ông ấy đều khinh miệt bộ máy cai trị của triều đình Huế ở Trung Kỳ cũng như ở Bắc Kỳ, tất cả đều để cho các công sứ cai trị theo ý riêng của họ. Không có quy củ thể lệ phương pháp gì cả, một ông công sứ có một phương pháp riêng, hễ công sứ đổi thì đổi cách cai trị. Mà từ 1883 đến 1891, đã có tới 20 ông quan tổng khâm sứ Bắc Kỳ và 7 ông khâm sứ Trung Kỳ. Tôi không nói đến sự thay đổi chành chạnh những ông công sứ ở tỉnh này tùy hứng của các ông khâm sứ với những lý do nhỏ nhặt. Thường thường người ta thấy nhiều ông công sứ hễ bị đổi từ tỉnh này sang tỉnh khác thì mang theo ông một số quan An Nam. Nhưng sự thay đổi chành chạnh ấy chỉ tổ đem lại một tình trạng rất là vô chính phủ"1.

Bọn thực dân Pháp lúc bấy giờ có ý định phế vua Thành Thái, bắt bỏ tù hay giết đi một số quan to ở triều đình mà chúng nó tưởng đâu là kẻ ngầm xui các cuộc khởi nghĩa không ngớt; kỳ thật triều đình chẳng dính dấp gì đến các cuộc khởi nghĩa cả. Duy nhà vua bù nhìn ngồi, không tý quyền hạn dù rất phụ thuộc, thì nhà vua bù nhìn này cũng bất mãn. Thực dân Pháp thì nay xéo góc cực Nam của Trung Kỳ, mai xéo đầu cực Bắc của Trung Kỳ, luôn luôn theo chính sách của Puy-ghi-nhê là chính sách triệt hạ sĩ phu, không tin dùng ngay cả số đông bọn quan lại theo triều đình Đồng Khánh (và Thành Thái) cho nên triều đình mất cái phần còn sót lại uy tín của nó, nó bất mãn, huống hồ gì bổng lộc của quan lại chẳng còn là mấy, phần chính đã vào tay thực dân rồi. Triều đình bù nhìn Huế dù bù nhìn cũng không thể không thấy Pháp chà đạp Hòa ước 1884, toan cắt 3 tỉnh Nam Trung Kỳ cho Nam Kỳ và tách hẳn Bắc Kỳ ra khỏi Việt Nam.
________________________________
1. Lanessan, La colonisation Française de l’IC, tr.23.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Hai, 2017, 11:12:51 PM

Năm 1891, La-nét-xăng sang làm toàn quyền; tên này cai trị trên 3 năm. Hắn thấy rằng không thể trắng trợn cắt xéo như trước, không thể "bình định" mà không có sự công tác mật thiết hơn, sự tham gia tích cực hơn của cả bộ máy của triều đình Huế. Hắn nhận định rằng:

"Thực ra, Trung Kỳ, Bắc Kỳ mà cả Nam Kỳ nữa, là ba bộ phận của một vương quốc rất thống nhất (aussi unique possible), trên đất ấy có một dân tộc cùng nói một thứ tiếng với nhau, có những phong tục giống nhau, có tôn giáo giống nhau, có tổ chức xã hội và cai trị giống nhau, tất cả đều công nhận uy quyền của Hoàng đế và kính trọng quan lại do Hoàng đế cắt cử. Thật đã có ở Bắc Kỳ những cuộc nổi loạn chống ông vua này hay ông vua khác, cũng như việc ấy đã xảy ra ở nước Pháp trước đây, nhưng không bao giờ Bắc Kỳ tự xem là tách biệt vối nước An Nam. Hơn nữa, danh từ Tonkin không có trong tiếng nói của người An Nam, chỉ có danh từ Bắc Kỳ, tức là những tỉnh ở miền Bắc nước An Nam, cũng như Nam Kỳ là những tỉnh ở miền Nam của nước ấy… Bằng cách toan cắt đứt Bắc Kỳ ra khỏi nước An Nam, chúng ta đã gây ra nhiều thù địch trong cả hai bộ phận của nước An Nam, mà không gây được chút lòng tin nào ở Bắc Kỳ như người ta đã hứa"1.

Chữ "người ta" ở đây là chỉ một cánh thực dân và đám giáo sĩ Pháp.

Cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam từ năm 1885 đến năm 1891, dù có Hàm Nghi đứng đầu hay là khi không còn có Hàm Nghi nữa, đã mở mắt bọn thực dân rằng đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một.

Viên kinh lược Bắc Kỳ báo cáo tình hình năm 1891 với chính phủ Pháp rằng, sở dĩ nhân dân nổi lên mà không đàn áp nổi là vì:

“Xét đến cội rễ, tôi thấy quan Nam đã chẳng có binh lính trong tay mà cũng không có uy tín, quyền hành gì; cho nên kẻ cướp, kẻ phiến loạn không sợ và nổi lên làm chủ các nơi”.
_____________________________
1. Lanessan, La colonisation Française de l’IC, tr.25, 26.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2017, 08:20:31 AM

Từ 1885 đến 1891, Pháp có hàng vạn quân ở Bắc Kỳ, tổ chức không biết bao nhiêu cuộc hành quân, ấy thế mà, hầu hết miền ngược, Pháp chưa chiếm được; phần lớn đồng bằng trong tay nghĩa quân, chỉ có Nam Định, Ninh Bình là phong trào bị dập xuống. Nhân dân lại nổi lên, ảnh hưởng nhiều hay ít đến những phần tử phong kiến, quan lại, tổng lý đương chức: đám này phần chưa được Pháp tin dùng lắm, vừa sợ khởi nghĩa nên thường có thái độ "ấm ớ". Thực dân tàn sát nhân dân một cách dữ dội vô cùng, đốt phá vô số xóm làng.

"Những đạo quân cảnh binh mà tôi vừa nói trên làm những việc tàn bạo không tưởng tượng nổi. Tôi có thể kể lại chuyện ở một huyện gần Hà Nội: Riêng huyện đó, nội 15 ngày (trong khi đốt làng, giết dân hàng loạt, dùng lưỡi lê mà đâm nhau), những đạo cảnh binh ấy giết cả 75 người hội tề vì lẽ rằng những ông hội tề này không thể điểm chỉ hay không biết để chỉ dẫn coi quân khởi loạn đi ngõ nào"1.

Nói một cách khác hơn thì từ năm 1885 đến năm 1890, Pháp dùng chính sách vũ lực là chính, trong chính sách vũ lực đó thì dựa vào các đoàn quân lưu động trước hết. Đến năm 1891, thực dân Pháp, nhất là với tên toàn quyền La-nét-xăng, dùng một chính sách có mới hơn: cũng dùng vũ lực đàn áp, nhưng sự đàn áp đi đôi với chính trị, trong chính trị này thì chủ yếu là làm sao cho triều đình, kinh lược, các quan Nam hàng tỉnh và huyện cho đến tổng, lý, cộng tác với Pháp một cách tích cực và chặt chẽ hơn. Về hình thức thì La-nét-xăng "tử tế", "trọng vọng", "lễ phép" với các quan nam hơn trước. Hắn nói: "Hình thức là rất quan trọng đối với dân tộc An Nam. Đây là một dân tộc rất nho nhã, rất hay chữ”.

Bọn quan lại cộng tác với Pháp chẳng mong muốn gì hơn, không nội dung thì hình thức vậy. Hơn nữa, vào năm 1891, La-nét-xăng ra nghị định ngày 9 tháng 9 lập 4.000 lính cơ ở đồng bằng; theo nghị định này thì các đội lính cơ là trực tiếp dưới quyền sử dụng và chỉ huy của các quan lại Nam triều, mà các công sứ Pháp thì có quyền kiểm soát chặt chẽ cả lính cơ ấy và quan Nam triều; tổng đốc có lính cơ mà phủ huyện cũng có lính cơ do Pháp võ trang cho, tập luyện cho. Bọn quan Nam triều xem rằng, như thế là Pháp cho họ có quyền hành, quyền cầm quân đi đàn áp nhân dân khởi nghĩa theo lệnh của Pháp; chúng bằng lòng, và từ đó thì chúng càng tận tâm cộng tác với Pháp để nhấn chìm các cuộc khởi nghĩa trong bể máu. Pháp kiểm tra rất ngặt nghèo các đội lính cơ ấy. Ví như ở một phủ tỉnh Vĩnh Yên, dân thừa sơ hở lấy mất mấy cây súng của lính cơ. Tên quan phủ phụ trách lính cơ đó liền bị tên quan kinh lược Hà Nội đến lập tòa án xét xử, xử bắn quan phủ vì tội để lính cơ làm mất vài cây súng. Vài vụ như thế xảy ra ở Vĩnh Yên, thì ngay tổng đốc Vĩnh Yên cũng bị tước chức trong 6 tháng. Làm như thế tức là Pháp đòi hỏi bọn quan Nam triều phải rất mực trung thành và tích cực đối phó với các cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Tên kinh lược Bắc Kỳ đã chẳng thông tri đến các phủ huyện rằng: "Các quan phải thêu trên chéo áo chữ "cảnh giác" để dè chừng luôn"! Từ nay đám quan Nam triều này trở thành tay sai rất đắc lực của địch, cuộc kháng Pháp ở đồng bằng sẽ gay go hơn trước.

Chịu dưới quyền của Pháp, mà có quyền đàn áp và bóp nặn nhân dân, bọn quan Nam triều tích cực bắn giết, truy nã, bắt bớ, mà cũng tích cực thu thuế cho Pháp; năm 1891 địch thu 15 triệu, sang năm 1892, thu được tới 18 triệu rưỡi! Một vài người kháng chiến mệt mỏi lại thấy Pháp có phần giao một ít quyền hành cho quan Nam, nên ra đầu thú như Đốc Xuyết (vùng Đông Triều). Nhờ đám quan nam triều mà cuối năm 1891 đầu năm 1892, Pháp bắt mấy chục vạn dân, kể cả đàn bà trẻ con, đắp tới 350 cây số đường cái rộng 11 thước và 7 thước để tiện việc hành quân của chúng nó.
________________________________
1. Lanessan, La colonisation Française de l’IC, tr.30.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2017, 08:21:06 AM

Từ 1889 trở đi thì thời cuộc kháng chiến ở trung châu và trung du Bắc Kỳ biến chuyển đại để như sau:

- Cho đến năm 1891, khởi nghĩa nổ ra đều khắp các tỉnh. Trong số các tỉnh đồng bằng thì Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Đông phong trào lên cao nhất, mà thấp nhất là Nam Định, Ninh Bình.

"Cái gì thống trị vùng đồng bằng vào đầu năm 1891, đó là quân khởi nghĩa"1.

Đến cuối năm 1891 trở đi, ở đồng bằng lực lượng khởi nghĩa quy tụ về hai trung tâm chính là Hưng Yên và Bắc Ninh.

- Vùng trung du thì mãi cho đến năm 1893, ở các tỉnh Sơn Tây, Vĩnh Yên, Bắc Giang, Quảng Yên, nghĩa quân vẫn còn đánh địch mạnh mẽ, dựa vào rừng núi Đông Triều, Tam Đảo, Ba Vì.

- Trung châu và trung du liên lạc mật thiết với vùng biên giới, với Tôn Thất Thuyết để có khí giới đạn dược. Phần lớn các vụ mà sử cũ nói rằng "giặc cướp trâu bò, lúa thóc", đó là nhân dân đóng góp của cải để đem qua bên kia biên giới mà đổi lấy vũ khí. Tuy nhiên, ở vùng núi Đông Triều vẫn có nhiều thổ phỉ, phần lớn thuộc tàn dư của quân đội nhà Thanh, vừa đánh Pháp, vừa cướp phá nhân dân nữa.

Trong sự đàn áp các cuộc khởi nghĩa nhân dân ở đồng bằng trong thời kỳ này thì Pháp dùng nhiều lực lượng lính cơ của bọn tổng đốc và phủ huyện, còn trên vùng trung du thì chủ yếu là chúng dùng lực lượng quân Pháp với một số ngụy quân không nhỏ; với loại lính mã tà do Pháp làm nòng cốt và trực tiếp chỉ huy (cứ hai lính mã tà thì có một lính Pháp, hoặc có một lính Pháp để chỉ huy một đội mã tà). Địch đóng nhiều đồn bốt trên vùng giáp ranh của trung du và miền ngược để ngăn trở mọi cuộc vận tải khí giới và để ngăn trở các cuộc tấn công của nghĩa quân từ rừng núi về đồng bằng; từ năm 1895 trở đi chúng sẽ lập cái hàng rào ấy trên biên giới Hoa - Việt.

Từ năm 1894 về sau, trừ Bãi Sậy và Yên Thế ra thì cuộc kháng Pháp dời lên mạn ngược, ở đó người Kinh và người thiểu số cùng nhau chống giặc.
___________________________________
1. Lanessan, La colonisation Française de l’IC, tr.38.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2017, 09:23:19 PM

Câu hỏi 3: Nội dung chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi như thế nào?
Trả lời:


Hòa ước Giáp Thân năm 1884 mở đầu một giai đoạn rối loạn cho triều đình Huế. Sau khi vua Hiệp Hòa bị lật đổ rồi bị giết chết, Kiến Phúc lên thay nhưng chỉ hơn sáu tháng lại chết. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa Ưng Lịch, mới 13 tuổi lên làm vua, tức là vua Hàm Nghi.

Mâu thuẫn ngoại giao giữa triều đình Huế và phía Pháp nổ ra khi toàn quyền Cuốc-xy đòi làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi và đòi phải được cùng đoàn tùy tùng đi qua cổng chính là cổng chỉ dành riêng cho các vua Nguyễn (7-1885). Triều đình Huế không chấp nhận và cho quân tấn công vào tòa Khâm sứ, trại lính Pháp ở Huế. Cuộc tấn công thất bại. Vua Hàm Nghi phải xuất bôn. Tôn Thất Thuyết đưa vua ra Quảng Trị rồi đến Nghệ An và đóng bản doanh tại đấy. Từ bản doanh, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân khắp nơi nổi lên chống Pháp. Thực dân Pháp đưa quân đi càn quét núi rừng Quảng Bình, Nghệ An hòng bắt vua cho được. Đồng thời, tại Huế, thực dân Pháp đưa Đồng Khánh lên làm vua. Đồng Khánh phải thân hành sang Khâm sứ Pháp để làm lễ thụ phong.

Đến tháng 11 năm 1886 quân Pháp mua chuộc được Trương Quang Ngọc, chỉ đạo đội quân người Mường có nhiệm vụ bảo vệ vua Hàm Nghi. Trương Quang Ngọc bắt vua dâng cho Pháp. Vua bị thực dân Pháp bắt đi đày ở An-giê-ri.

Cuộc khởi nghĩa ở Yên Thế nổ ra cũng hưởng ứng theo chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi.

Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi được sự hưởng ứng mạnh mẽ khắp nơi, nhất là trong giới sĩ phu và ngay cả sau khi vua đã bị bắt đi đày rồi.

Dụ:

"Từ xưa, kế sách chống giặc không ngoài ba điều: đánh, giữ, hòa. Đánh thì chưa có cơ hội; giữ thì khó định hẹn được sức; hòa thì họ đòi hỏi không biết chán. Đang lúc sự thế thiên vạn nan như vậy, bất đắc dĩ phải dùng quyền. Thái Dương ra đời ở đất Kỳ, Huyền Tông sang chơi đất Thục, người xưa cũng đều đã có làm.

Nước ta gần đây ngẫu nhiên gặp nhiều việc. Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, không lúc nào không nghĩ đến tự cường tự trị. Kẻ phái của Tây ngang bức, hiện tình mỗi ngày một quá thêm. Hôm trước chúng tăng thêm binh thuyền đến, buộc theo những điều mình không thể nào làm được; ta chiếu lệ thường khoản tiếp, chúng không chịu nhận một thứ gì. Người kinh đô nào sợ nguy ngay trong chốc lát. Kẻ đại thần mưu quốc, chỉ lo nghĩ đến kế yên xã tắc; trong triều đình, đắn đo về hai điều: cúi đầu tuân mạng, ngồi để mất cơ hội, sao bằng nhìn thấy chỗ âm mưu biến động của địch mà đối phó trước? Vì bằng việc xảy ra không thể tránh, thì cũng còn có cái việc ngày nay để mưu tốt cái lợi sau này, ấy là do thời thế xui nên vậy. Phàm những người đã được cùng dự chia mối lo này, tưởng cũng đã dư biết. Biết thì phải tham gia công việc, nghiến răng dựng tóc, thề giết hết giặc, nào ai là không có cái lòng như thế? Cũng há không có người nào gối gươm đánh dầm, cướp giáo lăn chum ư? Vả lại nhân thần đứng ở triều, chỉ có theo nghĩa mà thôi; nghĩa đã ở đâu là sống chết ở đấy. Hồ Yển, Triệu Thôi nước Tấn; Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật nhà Đường là người thế nào đời xưa vậy?

Trẫm đức mỏng, gặp biến cố này không thể hết sức giữ được, để đô thành bị hãm, xe giá phải dời xa, tội ở mình trẫm cả, thật là xấu hổ vô cùng. Nhưng chỉ có luân thường quan hệ với nhau, bách quan khanh sĩ không kể lớn nhỏ, tất không bỏ trẫm: kẻ trí hiến mưu, người dũng hiến sức, giàu có bỏ của ra giúp quân nhu, đồng bào đồng trạch chẳng từ gian hiểm, như thế là phải. Cứu nguy chống đổ, mở chỗ truân chiên, giúp nơi khiển bách, đều không tiếc gì tâm lực, ngõ hầu lòng người giúp thuận, chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại bờ cõi. Ấy cái cơ hội này, phúc của tôn xã tức là phúc của thần dân, cùng lo với nhau thì cùng nghĩ với nhau, há chẳng tốt lắm ư? Bằng cái tâm sợ chết nặng hơn lòng thương vua, nghĩ lo cho nhà hơn là lo cho nước, làm quan thì mượn cớ tránh xa, đi lính thì đào ngũ trốn lẩn, người dân không biết trọng nghĩa cứu cấp việc công, kẻ sĩ cam bỏ chỗ sáng đi vào nơi tối, ví không phải sống thừa ở trên đời, thì áo mũ mà làm ngựa trâu, ai nỡ làm thế?

Thưởng cũng hậu mà phạt cũng nặng, triều đình sẽ có điển hình hẳn hoi, chớ để sau này phải hối! Phải nghiêm sợ mà tuân theo! Khâm thử!"


Hàm Nghi nguyên niên, tháng 6, ngày mồng 2.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2017, 09:24:20 PM

Câu hỏi 4: Các chính sách bóc lột của tổng sứ Pôn-be (Paul Bert) đối với miền Bắc và Trung Kỳ Việt Nam trong thời kỳ này?
Trả lời:


Tình hình nước Pháp cũng chưa thật ổn định. Dư luận nước Pháp nói chung chưa phải hoàn toàn tán thành việc đem quân sang chiếm Bắc Kỳ. Bầu cử nghị viện xong, chính phủ Pháp tranh thủ đề nghị thông qua ngân sách năm 1886 về vấn đề Bắc Kỳ. Sau bốn ngày tranh cãi quyết liệt, cuối cùng trong phiên họp ngày 24 tháng 12 năm 1885 ngân sách chi tiêu cho Bắc Kỳ là 75 triệu phờ-răng được chính phủ chấp nhận. Từ nay có thể nói là chính sách của tư bản Pháp đối với Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã vô cùng dứt khoát.

Sau đó nội các Phơ-rây-xi-nê (Freycinet) lên cầm quyền từ cuối tháng 12 năm 1885 cũng vẫn không đi chệch con đường do tư bản tài chính Pháp đã vạch ra là kiên quyết theo đuổi sự nghiệp thôn tính thuộc địa đến cùng. Nhưng rút kinh nghiệm thất bại của chính sách võ biền trắng trợn trước đó, chính phủ Pa-ri triệt hồi Cuốc-xy về, và ngày 31 tháng 1 năm 1886 cử Pôn-be sang làm tổng sứ với nhiệm vụ tổ chức nền bảo hộ của Pháp ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ trên một cơ sở mới vững chắc và lâu dài.

Pôn-be là một tín đồ trung thành của chính sách thuộc địa. Cùng với bè lũ Găm-bét-ta (Gambetta), Phô-rơ (Faure), E-chiên (Eugène Etienne), y là một trong những nhà chính trị tư sản có đóng góp phần quan yếu vào việc phát triển chính sách xâm lược thuộc địa của nước Pháp hồi đó.

"Người Pháp không hề có ý muốn cướp đoạt... Các chức vụ công sẽ giao lại cho những người xứng đáng nhất trong người bản xứ để tưởng lệ kiến thức và công lao. Sẽ không có gì thay đổi trong tập quán và lễ nghi. Phong tục sẽ được tôn trọng. Các người sẽ vẫn tiếp tục sống dưới các luật lệ cũ. Chế độ làng xã sẽ không thay đổi. Các người tự lựa chọn lấy các lý hương. Tôi tin tưởng vào sự giúp rập trung thành của các người để cho xứ Bắc Kỳ phồn vinh và lớn mạnh mãi mãi dưới sự bảo hộ vĩnh viễn của nước Pháp”.

Để cụ thể hóa những lời tuyên bố đường mật và xảo trá trên, trong suốt thời gian cầm quyền, y tổ chức ra một hội đồng tư vấn gồm 40 thân sĩ và một Viện Hàn lâm gồm 40 vị khoa bảng có nhiệm vụ nghiên cứu văn chương Việt Nam, bảo tồn di tích văn hóa và lịch sử, tổ chức thư viện, phiên dịch các sách, truyền bá kiến thức Tây phương; y lại còn đặt cơ sở cho việc thiết lập một nền giáo dục Pháp - Việt, kết hợp những yếu tố lạc hậu của giáo dục phong kiến lỗi thời với các trí thức sơ đẳng và vụ lợi của giáo dục đế quốc chủ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2017, 09:24:45 PM

Nhưng mặc các thủ đoạn đen tối đó, phong trào kháng Pháp của nhân dân Trung Kỳ, Bắc Kỳ không hề suy giảm, ngược lại ngày một lan rộng. Không nói tới các vùng dưới quyền kiểm soát của nghĩa quân, ngay trong những vùng đã bị thực dân thôn tính, tình hình cũng không lấy gì làm khả quan cho chúng.

Trong những điều kiện khó khăn đó, chính quyền thực dân cần chi tiêu rất nhiều. Nhưng sự đài thọ của chính phủ Pháp chỉ có hạn. Pôn-be buộc phải tìm mọi cách kiếm tiền. Trước tiên, rút kinh nghiệm của thực dân trong Nam Kỳ, y cho đấu thầu việc bán thuốc phiện. Nhưng vì tình hình ngày càng nghiêm trọng nên không ai dám đứng nhận. Y bèn trâng tráo ra nghị định thiết lập sòng bạc công khai ở Bắc Kỳ và cho một Hoa kiều lĩnh trưng nội thuế năm 1886 là 60 vạn, năm 1887 là 80 vạn phờ-răng.

Nếu kể cả số tiền lời rất lớn của bọn chủ thầu lớn nhỏ, người dân Bắc Kỳ từ nay phải nai lưng đóng một loại thuế gián tiếp mới, tức thuế cờ bạc. Cách làm tiền bỉ ổi này đã gây một luồng bất bình rộng lớn trong các tầng lớp nhân dân vì nó đã xúc phạm đến một truyền thống tốt đẹp xưa nay trong xã hội Việt Nam là nghiêm cấm nạn cờ bạc.

Ở Trung Kỳ trong giai đoạn này, thực dân Pháp cũng cố vận động với triều đình Huế để mở sòng bạc nhưng không được. Bên cạnh đó, cố nhiên các loại thuế má khác đều được đồng loạt tăng lên. Khuyến khích việc chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, Pôn-be củng cố quyền sở hữu ruộng đất bằng cách hợp pháp hóa các chứng khoán văn tự, về bất động sản thực dân đã chiếm đoạt, hay quy định cụ thể các điều kiện trưng thu.

Để đẩy mạnh công thương nghiệp trong xứ đặng có thể thu nhiều thuế, đồng thời cũng để giới thiệu tài nguyên của thuộc địa với giới tư bản Pháp, Pôn-be đã lập ra tổ chức ủy ban công thương nghiệp Bắc, Trung Kỳ có nhiệm vụ tiến hành điều tra nghiên cứu có kế hoạch các sản phẩm của thuộc địa và tổ chức triển lãm. Thêm vào đó là việc thành lâp các phòng thương mại, các ngân hàng chiết khấu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2017, 09:25:03 PM

Đặc biệt, Pôn-be và thực dân đã cố tình độc chiếm thị trường Trung Kỳ, Bắc Kỳ cho tư bản Pháp và tách Nam Kỳ ra khỏi toàn bộ thị trường dân tộc. Chúng quy định hàng nước ngoài nhập vào phải nộp 5% trị giá, còn hàng Pháp từ Sài Gòn chở ra chỉ nộp một nửa mức thuế trên. Hàng trong xứ xuất sang Pháp đóng 2,5%, mà xuất ra ngoài đồng loạt đóng 5%. Do chế độ thương chính khắc nghiệt này mà việc xuất cảng một số hàng quan trọng trong xứ, như muối chẳng hạn, bị suy sụp và đình đốn dần. Đến tháng 12 năm 1886, thực dân lại còn đánh thuế vào hàng hóa và ghe thuyền, thuế hàng từng chuyến, thậm chí quái gở như tàu bể hay ghe thuyền ghé bến nào, vô luận bến đó có hay không có đèn pha đều phải nộp thuế đèn, vô luận có cần hoa tiêu hay không đều phải đóng thuế hoa tiêu.

Dự án sau năm 1886 của Pôn-be càng khắc nghiệt hơn. Từ nay hàng Pháp nhập vào hoàn toàn không phải nộp thuế; hàng nước khác không cạnh tranh với hàng Pháp đóng 5%, các loại khác đóng 10%. Sau đó chúng lại quy định hàng các nước khác thì tùy món mà đánh thuế từ 25%, 50%, 70% có khi đến 100% giá bán.

Kết quả là tư bản Pháp đã hoàn toàn sát nhập Bắc Kỳ vào thị trường của Pháp, độc chiếm kỹ nghệ và thương mại, Pháp làm cho giá hàng tiêu dùng trong nước tăng quá mức, còn số hàng nước ngoài nhập cảng sụt xuống rõ rệt, các bến tàu vắng dần, ảnh hưởng tai hại đến đời sống các tầng lớp nhân dân trong nước. Thêm vào đó, chính trong giai đoạn này, để vơ vét nguyên liệu và bóc lột nhân dân thuộc địa, tư bản Pháp cũng bắt đầu thiết lập một số công nghệ nhẹ và nắm độc quyền sản xuất một số vật phẩm tối cần thiết cho đời sống nhân dân. Do đó, một số lớn nghề thủ công cổ truyền và nghề phụ trong nước như dệt tơ lụa, vải vóc, làm đường, nấu rượu, làm nước mắm, xay gạo... phải chết dần mòn vì không tài nào cạnh tranh với hàng Pháp.

Song song với các thủ đoạn vơ vét và bóc lột kinh tế trên, Pôn-be còn ráo riết hoạt động về chính trị để thâu tóm mọi quyền hành vào trong tay, và gạt triều đình phong kiến nhà Nguyễn xuống địa vị bù nhìn không hơn không kém.

Pôn-be sang ta làm tổng sứ với ý định duy trì bảo hộ ở Trung Kỳ và cắt đứt hẳn Bắc Kỳ ra khỏi Huế để nhập vào Pháp như Nam Kỳ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2017, 09:25:44 PM

Câu hỏi 5: Năm 1891, chính phủ Pháp cử La-nét-xăng sang làm Toàn quyền Đông Dương, chính sách mới của vị toàn quyền này khác gì so với chính sách của Pôn-be?
Trả lời:


Thời gian này, thực dân Pháp đã gặp rất nhiều khó khăn ngay trong hàng ngũ chúng. Nghị định năm 1887 bị công kích kịch liệt. Dư luận đông đảo nhân dân và gần phần nửa nghị viện Pháp đều cho đó là tấm màn thưa để che đậy sự thất bại trong việc xâm chiếm Bắc, Trung Kỳ. Còn bọn thực dân Nam Kỳ thì nhao nhao phản đối vì sợ từ nay mất độc quyền lũng đoạn ngân sách Nam Kỳ.

Theo Nghị định ngày 21 tháng 4 năm 1891 chính phủ Pháp cử La-nét-xăng sang làm Toàn quyền Đông Dương với những quyền hạn rất lớn. Từ nay La-nét-xăng toàn quyền kiểm soát mọi ngân sách tài chính, cắt cử và chỉ huy mọi cấp quan lại văn võ thuộc địa, điều động mọi lực lượng bộ, thủy quân, ký kết mọi hợp đồng, thực hiện mọi biện pháp trong phạm vi ngân sách thuộc địa. Tuy vậy, vẫn còn nhược điểm căn bản là chưa có riêng một ngân sách lớn, mà chỉ thị của chính phủ Pháp là xứ thuộc địa phải hoàn toàn tự túc, không được xin tiền "chính quốc" trong bất cứ trường hợp nào.

Đặt chân sang Việt Nam (6-1891), công việc đầu tiên của La-nét-xăng là tiếp tục mua chuộc văn thân và quan lại bản xứ. Vì kinh nghiệm những năm qua cho hay rằng, càng thiên về biện pháp đàn áp quân sự bao nhiêu thì chỉ càng thêm tự mình cô lập mình bấy nhiêu mà thôi. Chính sách mua chuộc trước kia Pôn-be đã áp dụng một thời và cũng đã sơ bộ thu được phần nào kết quả, nhưng sau khi y chết thì đã bị bỏ rơi và thay vào đó là chính sách quân sự của các tên toàn quyền kế tục.

Để tuyên truyền rầm rộ cho chính sách đó, La-nét- xăng thân hành dự lễ khánh thành long trọng các đền chùa, miếu mạo; tìm cách đề cao về hình thức, vai trò của triều đình và quan lại từ lâu đã bị nhân dân ruồng bỏ. Thâm tâm của y là làm sao lợi dụng triệt để triều đình Huế cùng các quan lại địa phương trong việc "bình định" cho đỡ tốn kém. Kết quả cụ thể là chỉ trong vòng ba tháng, các đoàn ngụy binh do quan lại bản xứ chỉ huy đã dẹp yên hầu hết các cuộc khởi nghĩa vùng đồng bằng. Nhờ vậy thực dân tương đối rảnh tay dưới xuôi để dồn lực lượng lên càn quét và tuần tiễu ráo riết các miền trung và thượng du.

Về mặt tài chính, trước hết La-nét-xăng xin phép tách ngân sách chiến tranh riêng ra do chính phủ Pháp đài thọ, còn bao nhiêu thuế vụ Bắc Kỳ đều chi phí vào các việc khác. Làm như vậy, y có mục đích dành ít vốn để xây dựng đôi chút như đồn binh, trại lính, bệnh viện hòng củng cố lòng tin trong một vài tầng lớp xã hội Việt Nam.

Để tăng cường bóc lột, La-nét-xăng lập thêm nhiều thứ thuế gián thu ở Bắc Kỳ: thuế dầu dừa, thuế diêm, thuế thuốc lá, thuế muối, thuế tem, thuế rượu... Ở Trung Kỳ, toàn quyền La-nét-xăng buộc Hội đồng phụ trách (lúc này Thành Thái đã lên ngôi vua) phải chấp nhận tất cả các thứ thuế mới đặt ở ngoài Bắc, các thuế này do Pháp đứng thu, rồi chia lại một phần nhỏ cho Nam triều.

Mặc dù dùng mọi thủ đoạn vơ vét bóc lột nói trên, La-nét-xăng vẫn không tài nào chấn chỉnh được nền tài chính ngày càng nguy khốn. Việc bình định quân sự cũng bất lực, lại bị bọn quan lại cao cấp và tư bản tập hợp trong Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, vì muốn nắm độc quyền lũng đoạn ngân sách nên phản đối kịch liệt và vận động lật đổ; ngày 10 tháng 3 năm 1894, La-nét-xăng bị cách chức về nước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:07:13 PM

Câu hỏi 6: Cho biết một vài nét cơ bản về vùng đất Yên Thế, nơi xuất phát của cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám?
Trả lời:


Yên Thế là một huyện miền núi phía tây bắc tỉnh Bắc Giang. Phía bắc địa hình rừng núi, ở giữa và phía nam là trung du và đồng bằng.

Vùng Yên Thế thượng nằm trong khu tam giác Nhã Nam, Mỏ Trạng, Bố Hạ ngang dọc trên mười cây số, là một vùng địa thế vô cùng hiểm trở. Một bề (Mỏ Trạng - Bố Hạ) tựa lưng vào chân dãy núi Cai Kinh, còn hai bề kia (Mỏ Trạng - Nhã Nam và Nhã Nam - Bố Hạ) tựa vào cánh đồng phì nhiêu của Yên Thế hạ. Trong khu Yên Thế thượng không có núi mà chỉ toàn là những ngọn đồi không cao quá năm chục thước, nhưng lại đặc biệt được bao phủ bằng những cánh rừng rất rộng, cây vừa to vừa cao, phần nhiều là lim và táu, dưới gốc dây leo chằng chịt, thú dữ cũng rất nhiều, lối đi là những đường mòn nhỏ chỉ người trong vùng mới thông thuộc.

Dân cư vùng Yên Thế rất thưa thớt, ở thành từng chòm cách xa nhau hàng cây số đường rừng, mỗi chòm đông nhất không tới hai chục nóc nhà. Vào khoảng năm 1890, dân trong vùng không quá vài nghìn người. Phần lớn họ là những người nông dân dưới xuôi vì không chịu nổi sự áp bức bóc lột tàn bạo của đế quốc và phong kiến nên đành lìa bỏ quê hương thân yêu đi tha phương cầu thực. Họ lên tới đây mang hết sức lao động ra phá rừng bạt bụi, kiên nhẫn chiến đấu với thiên nhiên để giành giật từng tấc đất. Sinh hoạt chính trông vào phá rẫy trồng lúa hoặc ngô, hay khơi những khoảng thung lũng lầy lội để trồng lúa. Một phần khác cũng trông vào chăn nuôi gia súc và kiếm lâm thổ sản (củi gỗ, măng, nấm hương, mộc nhĩ) đem ra bán ở các chợ vùng Yên Thế hạ.

Nhờ địa thế thuận lợi, mặt trước trông ra những đồng lúa phì nhiêu của Yên Thế hạ có thể giải quyết vấn đề tiếp tế lương thực, mặt sau tựa vào dãy núi Cai Kinh hiểm trở, vùng Yên Thế thượng từ giữa thế kỷ XIX đã là nơi tụ tập và hoạt động của nhiều nhóm nghĩa quân.

Yên Thế là một trong những vùng địa thế hiểm trở và thuận lợi nhất. Lấy núi Cai Kinh làm chỗ tựa vững chắc, nghĩa quân có thể xây dựng lực lượng lâu dài đánh tỏa về đồng bằng. Núi Cai Kinh ăn thẳng với những dãy núi ở miền vùng biên giới Trung Việt, là con đường giao thông thuận tiện để chuyên chở vũ khí đạn dược từ Trung Quốc về tiếp viện cho nghĩa quân. Hoạt động của nghĩa quân Yên Thế phối hợp với nghĩa quân Ba Kỳ ở vùng Chợ Mới, Bắc Cạn và Lưu Kỳ ở vùng Đông Triều tạo thành một thế bao vây uy hiếp đồng bằng của địch.

Đặc biệt là từ năm 1890 về sau, phong trào chống Pháp càng trở nên quyết liệt, vì bên cạnh mối thù mất nước từ nay dân ta còn chồng chất lên mối thù ruộng đất. Theo nghị định tháng 9 năm 1888 của bọn thống trị Pháp thì thực dân có quyền được cắm đất làm đồn điền những vùng nào bỏ hoang. Theo chân bọn tướng tá là những tên địa chủ thực dân, chúng nhằm chỗ nào đồng ruộng bỏ hoang, nông dân ly tán sau những trận càn quét tàn khốc của chúng, hay viện cớ dân làng không "trung thành" với chính phủ bảo hộ, để chiếm đoạt hàng trăm, hàng ngàn mẫu làm đồn điền. Vùng Yên Thế thuộc địa phận Bắc Giang trong hoàn cảnh chung cũng không tài nào thoát khỏi nanh vuốt bè lũ thực dân tham bạo. Hai tên thực dân đầu tiên lên chiếm đất của nông dân là Sét-nay (Chesnay) chủ tờ báo Pháp "Tương lai Bắc Kỳ" và tên Đờ-boa-sa-đam (De Boisadam). Đồn điền của chúng rộng bao gồm bảy mươi xã, từ Yên Thế hạ lan sang Yên Thế thượng. Sau đó tên Gi-la (Gilard), Tác-ta-ranh (Tartarin), Mông-pơ-da (Monpezat)... và còn rất nhiều đồn điền lớn nhỏ khác nữa ở đồn Vát, Sỏi, Tráng, Tri Cụ, Lữ, Thắng. Đó là chưa kể đến nhiều tên Việt gian có công trong việc giúp chúng đàn áp phong trào (như tên Bảy ở Lục Liễn) cũng được thả sức cướp đoạt ruộng đất trong vùng. Đất nước bị chiếm cứ, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm, từ nay người dân tự do trở thành thân phận nô lệ, đó là lý do đầu tiên thúc đẩy nông dân Yên Thế tham gia nghĩa quân. Nay lại thêm ruộng đất bị tước đoạt, đang tự do cày cấy trên mảnh ruộng của tổ tiên bỗng chốc trở thành tá điền. Nông dân Yên Thế cũng như nông dân khắp nước trước mối thù dân tộc mà tham gia chống Pháp thì nay càng kiên quyết đứng vào hàng ngũ nghĩa quân để giành giật lại thửa ruộng thân yêu của cha ông để lại. Lại thêm nạn phu phen tạp dịch trong các cuộc hành quân liên tiếp của giặc, rồi tô thuế nặng nề sau các vụ gặt, đó đều là những nguyên nhân trực tiếp của các cuộc đấu tranh võ trang ở Yên Thế.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:08:28 PM

Câu hỏi 7: Các căn cứ kháng Pháp của Đề Nắm và Đề Thám những năm 1889-1894 đã chống trả các đợt tấn công của quân Pháp như thế nào?
Trả lời:


Vào những năm 1889-1890 cũng như về trước bọn quan cai trị Pháp hay quan Nam ở đây đều công nhận rằng chúng không có một tý quyền hành gì. Vùng này là căn cứ của nghĩa quân do Đốc Tiếu, Đốc Nghị, Tổng Bưởi chỉ huy, có một số đông người Trung Quốc tham gia dưới quyền chỉ huy của Lưu Kỳ. Theo sự điều tra của Pháp lúc ấy thì nghĩa quân "có độ 1.000 người, có đầy đủ súng đạn và được dân địa phương ủng hộ". Thế lực của nghĩa quân Bảo Đài rải ra khắp đồng bằng Bắc Giang. Địch nghĩ rằng "cần phải có một cố gắng lớn để chấm dứt một tình trạng nguy cấp và chiếm lại đất rõ ràng đã bị mất trong những vùng này".

Tháng 8 và tháng 9 năm 1889, địch xua 3 đoàn quân đánh vào căn cứ Bảo Đài: Đoàn Pretet (350 súng) đi từ Lầm vòng lên Bắc Lệ cắt đường triệt thoái của quân ta về núi; đoàn Pegna (250 súng) đi từ Kép để đánh doanh trại nghĩa quân ở Bảo Lộc, cố đuổi quân ta về phía đoàn thứ nhất của chúng; đoàn thứ ba phục kích ta ở phía bắc đường quan để quân ta không thể triệt về hướng Thái Nguyên; dưới sông Lục Nam có pháo thuyền địch để quân ta không thể tràn xuống đồng bằng.

Địch bắt đầu hành quân vào ngày 25 tháng 8. Suốt mấy ngày đầu, địch sục sạo ở các làng trên núi như Bảo Lộc, tìm nghĩa quân, chỉ thấy doanh trại bỏ trống, không thấy quân, hỏi dân, nơi nào dân cũng nói rằng không thấy. Ngày 28, đoàn Pegna vào rừng để tìm, theo một đường mòn nhỏ dựa suối. Mới đi được có 500 mét thì địch bị quân ta chào bằng những loạt súng từ hai phía tả hữu bắn rất gần: mới loạt súng đầu thì địch đã chết và bị thương nhiều, trong đó có 2 tên quan hai Mông-tê-ra (Montéra) và Bông-na-phông (Bonnafons), tất cả dân công bị địch bắt khuân vác đều chạy vào rừng, lính địch phải tự khiêng 25 cái xác mà rút lui. Rút vừa ra khỏi rừng rậm, tưởng thoát chết, địch ra tới đồng cỏ trên đồi lại bị quân ta nằm trong cỏ nhảy ra đánh cho một trận nữa, địch bỏ các xác đồng đội của chúng, hai bên đánh giáp lá cà, cuối cùng địch chạy về làng Mạnh. Ngày 31 lại xảy ra một cuộc giao chiến nữa rất kịch liệt ở Đèo Quán. Ngày 3 tháng 9, địch tập trung lực đánh vào làng Thượng Lam, một làng kháng chiến phòng thủ chắc chắn, hai hàng rào tre bao phủ trong đó có 250 nghĩa quân. Địch vừa xáp vào làng thì súng ta nổ, nhiều tên địch bị giết trong đó có hai quan Cha-vy, rồi kế quan ba Nu-ri-xen (Nourichel) và 2 tên quan hai khác nữa. Cuối cùng địch vào làng được và đốt rụi cả làng Thượng Lam không chừa một nóc nào. Cuộc hành quân của địch kéo dài cho đến 20 tháng 9 năm 1889, đốt phá, bắn giết vô số.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:08:41 PM

* Một số trận đánh tiêu biểu:

Trận làng Lai:

Vùng Yên Thế lâu nay luôn luôn nằm trong tay của nghĩa quân. Đến lúc này địch chưa đưa quân vào đây. Đây là căn cứ của Đề Nắm, ở hữu ngạn sông Thương, về phía bắc Phủ Lạng Thương cũng như vùng Bảo Đài là ở đông bắc Phủ Lạng Thương.

Ngày 18 tháng 9, một đội quân do quan ba Goóc-xơ (Gorce) cầm đầu, từ Phủ Lạng Thương lên đánh làng Sặt. Làng Sặt lúc này có 250 quân ta đóng giữ. Trong trận này, một số đông lính tập, mấy trăm người Việt (theo Pháp) do đội Vân cầm đầu chạy qua hàng ngũ kháng chiến, đem theo tất cả súng ống đạn dược. Địch bị đánh lui về Phủ Lạng Thương. Liền sau khi Đội Vân qua phía kháng chiến thì Đội Voi, Lãnh Giới, Lãnh Giám, Suất Lý, Lãnh Thiết, Lãnh Bôi, v.v... đều mang số lính tập vùng Hải Dương của tên ngụy tổng đốc Hoàng Cao Khải, theo gương Đội Vân kéo qua sông Đuống, lên phía Yên Thế mà nhập vào hàng ngũ nghĩa quân. Nghĩa quân lập đồn đóng trại ở Nhã Nam, địch nhiều lần vào đốt phá nhưng không thể đóng ở Nhã Nam. Trong lúc đó thì nghĩa quân chiếm lại vùng núi Bảo Đài và phục kích mọi cuộc vận tải của địch từ Phủ Lạng Thương đi các nơi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:09:05 PM

Cuộc tấn công năm 1890 -1891:

Vào thu đông 1890-1891, trong vùng Bắc Giang, Bắc Ninh, nghĩa quân tụ hợp ở hai nơi chính: Yên Thế và núi Yên Tự. Ở Yên Thế, Đề Nắm có 400 tay súng, nghĩa quân đông đúc nhưng thực ra chỉ non 100 tay súng là thường xuyên làm lính, còn hàng nghìn người khác thì chỉ là nông dân khi có biến động thì ra chiến đấu; Yên Thế có lập nhiều đồn lũy kiên cố và hiểm yếu. Về phía đông Bắc Ninh, Bắc Giang nghĩa quân đóng ở núi Yên Thế chủ yếu là đoàn quân của Cai Biểu hoạt động dọc sông Thương cho đến Đáp Cầu.

Vào mùa thu năm 1890, địch tập trung nhiều quân đánh vào Yên Thế, quân Pháp do tướng Gô-đanh cầm đầu: một ông tướng ra cầm quân đánh Yên Thế, điều ấy đủ chứng tỏ sự quan trọng của cuộc chiến đấu. Ba đoàn quân địch xuất phát từ Thái Nguyên, Bắc Ninh và Bố Hạ, gồm 800 quân, 5 đại bác sơn pháo, 2 pháo thuyền. Địch tập trung mũi nhọn vào vị trí Cao Thượng (cũng gọi là Cao Thưởng) là nơi mà trong xuân hạ vừa qua, bao nhiêu lần địch đã cố vào nhưng đều bị đánh bại. Trận ngày 6 tháng 11, hai đạo quân địch (từ Thái Nguyên và Bắc Ninh đến) nhờ pháo binh mà tạm chiếm được Cao Thượng với một giá đắt. Bọn từ Bố Hạ đến tưởng đón đường triệt thoái của nghĩa quân, nhưng chúng bị du kích đánh thiệt hại mà không làm trò gì được. Lần này địch chiếm được Nhã Nam, đóng đồn ở đó, song không tiêu diệt được chủ lực của ta mà quan hai tùy viên của tướng Gô-đanh lại bị thiệt mạng. Vào tháng Chạp, địch theo sông Thương mà lên phía đông bắc, bị đánh một trận nên thân ở Hữu Thượng. Quan tư Tan-nơ mặc dầu có 250 súng trường và một đại bác, vẫn không vào làng Hữu Nhuế được, mà phái rút lui, để lại trước rào làng nhiều xác chết. Quan tư thua thì quan năm thay, May-ơ tụ họp 600 súng, 4 đại bác ở Nhã Nam, ngày 22 tháng 12 năm 1890, trở lại Hữu Nhuế. Địch tả trận ngày 22 tháng 12 năm 1890 như sau:

“Trong 3 giờ đồng hồ, cuộc chiến đấu tiếp diễn ở trong các bụi rậm rì gần như không tìm ra được ngõ: quân phiến loạn không sợ đại bác, cũng không sợ súng trường bắn vãi như mưa, họ phòng thủ vị trí của họ một cách vô cùng quyết liệt, vị trí của họ được xây dựng kiên cố đáng phục. Ba lượt liên tiếp, đạo quân cánh tả do quan tư Tan-nơ chỉ huy xung phong vào công sự phòng tuyến chính của làng Hữu Nhuế, nhưng ba lần đều thất bại cả ba mặc dầu võ quan và binh lính rất can đảm. Trước sức kháng cự quyết liệt và trước những tổn thất nặng, viên chỉ huy đạo quân thấy rằng khôn ngoan nhất là đừng tiếp tục xung phong nữa mà phải lui về Nhã Nam để chờ viện binh và chờ lệnh mới".

Địch tổn thất rất nặng: quan hai Bơ-le-dơ bị giết với khoảng 50 tên nữa. Chúng đã đem rất nhiều dầu hỏa để đốt rừng dọn đường và đuổi quân ta, nhưng vô hiệu, chúng chỉ kịp chạy đi bỏ lại nhiều dầu chưa rưới đốt kịp.

Địch toan gỡ đòn. Chúng tập trung 1.300 quân, moóc-chi-ê, nhiều thuốc nổ, nhiều đạn đại bác - lần này do quan năm Phơ-rây - đại đoàn trưởng - cầm đầu. Ngày 9 tháng Giêng năm 1891, nhờ nhiều trọng pháo, địch bắn ùa vào đồn của ta (đồn làng Nứa) suốt mấy tiếng đồng hồ; rồi, trong lúc bắn pháo, chúng phá đường rừng vào đồn. Khi chúng gần xáp vào đồn, quân ta đã ra khỏi đồn từ hồi nào và phục ở trong những công sự ngầm, một lượt rước địch bằng những loạt súng nguy hiểm. Địch vội ngược rút lui ra xa, để lại nhiều xác chết, trong đó có quan ba Ghi-nhê, những quan hai Béc-tan-nơ, Bơ-rét-di.

Tuy thắng trận thứ hai oanh liệt, Đề Nắm thấy rằng cần phải giữ chủ lực, một chiếc đồn nhỏ dù kiên cố đến đâu, một làng nhỏ dù toàn dân ủng hộ, cũng không thể giữ mãi. Đêm ngày 10, ông tự động rút quân về phía bắc phân tán ra từng tốp nhỏ; ngày 11, khi địch lại vào đồn làng Nứa thì chúng không còn thấy một ai, chỉ thấy chiếc đồn xây dựng rất công phu và khoa học trên một quả đồi. Suốt một tháng trôi qua, địch lan ra quanh làng Hữu Nhuế, đi bước nào bị du kích phục ở bước ấy, rốt cùng chúng phải về Nhã Nam, sau khi phá đồn làng Nứa mà không phá được đội quân anh dũng, thiện chiến của Đề Nắm.

Chính trong lúc ta và địch đánh nhau ở vùng Nhã Nam thì ở miền đông nam Bắc Ninh, 200 nghĩa quân (nguyên là quân của đội Vân, đội Vân lúc ấy đã trở lại hàng Pháp và bị Pháp xử tử ở Hà Nội) giao chiến với 1.300 địch ở phủ Thuận Thành, còn ở vùng Bảo Đài, quân ta giao chiến với đoàn quân của tên quan ba Si-mông.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:09:26 PM

Cuộc tấn công năm 1892:

Suốt mùa xuân, địch lo việc do thám tình hình nghĩa quân. Đến tháng 10 năm 1891 thì có nhiều đoàn quân đi càn quét vùng Yên Thế - Nhã Nam, do quan tư Bê-ra, quan ba Pê-lít-si-ê, quan hai Đơ-to-rê cầm đầu.

Bên ta cũng đã có thì giờ mộ thêm nghĩa quân, đổi trâu bò và lâm sản, lấy về thêm nhiều súng ống đạn dược, lập thêm rất nhiều công sự trong vùng đồi núi, phát triển thế lực xuống đồng bằng.

Vào tháng Giêng năm 1892, địch mở một chiến dịch lớn đánh vào khu Yên Thế. Khu Yên Thế được bảo vệ kiên cố ở phía nam là phía giáp với địch có một chiến hào dài 3 cây số trên sườn đồi; về phía tây có đồn Đề Dương; phía đông có đồn Đề Nắm, gồm 5 công sự lớn. Trước phòng tuyến ấy có những công sự quan sát sự xâm nhập của địch; đằng sau phòng tuyến có đồn trung ương nơi đóng hành dinh của Bá Phúc là thủ lĩnh, vị tướng tài cầm binh khiển tướng chính lại là Đề Nắm. Căn cứ Đề Nắm nằm trên hai bên sông Sỏi sát đường cái đi từ Bố Hạ qua Thái Nguyên. Trong căn cứ Yên Thế có tất cả 7 đồn, có khi gọi bằng số, có khi gọi bằng tên; số 1, đồn Đề Nắm; số 2, đồn Đề Lâm; số 3, đồn Đề Tuất; số 4, đồn Đề Chung; số 5, đồn Đề Dương tức Đề Thám; số 6, đồn Tổng Tài; số 7, đồn Bá Phúc. Mỗi đồn như thế có một tường thành bằng đất và đá, có lỗ châu mai bốn tầng khác nhau, nghĩa là tường cao từ trên xuống chân có 4 tầng lính núp bắn ra (đồn Đề Nắm là kiên cố nhất). Mỗi góc có "mặt trăng nửa vành" để dễ đánh địch xáp vào tường; ngoài đồn có nhiều hàng rào tre, giữa hàng rào tre và tường có hào, ụ, lỗ chông và hố tác chiến, với vô số bụi rậm, gai góc. Quan tư Sa-bờ-rôn nói về cách phòng ngự này đã phải công nhận rằng "những người không đi học trường cao đẳng quân sự mà biết lợi dụng địa hình địa vật như vậy thì thật là không chê được". So sánh chiến dịch Đông Triều với chiến dịch Yên Thế, Sa-bờ-rôn nhận định rằng Yên Thế hẹp hơn, núi non ít hơn, nhưng rừng rú lại dày đặc hơn; hơn nữa, quân khởi nghĩa của Đề Nắm đánh một cách gan dạ, cương quyết hơn là binh lính của Lưu Kỳ, người Hoa kiều.

Căn cứ hành quân chính của địch là Bố Hạ, địch được tiếp tế bằng sông Thương, bằng đường xe lửa Phủ Lạng Thương Kép, bằng đường xe mà chúng vừa đắp từ Kép đến Bố Hạ để kéo đại bác 95.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:09:42 PM

Binh đoàn Bê-ra đi từ Thái Nguyên qua hướng đồn Đề Dương bị quân ta đón đánh ở Cầu Rùa, dọc đường Quỳnh Lân; một cánh địch bọc lên phía bắc, về hướng trại An, hướng về đồn Bá Phúc. Trong lúc đó binh đoàn của Cu-rô đến Mỏ Xạt, binh đoàn của Bu-ghi-ê chiếm Làng Thượng, Am Đồng, Đình Tép. Binh đoàn của Gây tập trung ở Bố Hạ; tất cả sẵn sàng để đánh úp vào phòng tuyến Yên Thế; Bê-ra sẽ đánh Bá Phúc, Cu-rô sẽ đánh vào Đề Nắm, Van-đơ-buc đánh vào Đề Chung, Hen-ry và Bê-tin đánh vào Đề Dương. Cuộc chiến đấu bắt đầu ngày 25 tháng 3 năm 1892.

Đội quân Hen-ry đụng vào đồn Đề Dương, bị bại trận rất đau vì đồn được giấu kín đến nỗi địch tới gần mới biết nó ở đâu; mới trận đầu chúng đã mất 50 tên trong đó có 3 quan hai. Trọng pháo 95 địch đặt trên các đồn bắn vào các đồn của ta suốt ngày 26, rồi chúng tấn công bằng bộ binh. Tại mỗi đồn, địch trả giá rất đắt mới lấy được; 2 đồn mà địch thiệt hại nhất là đồn Đề Dương và đồn Đề Nắm. Ở đồn Đề Nắm, riêng ngày đầu địch vận dụng đến 6 sơn pháo, 2 moóc-chi-ê, bắn 200 quả vào đồn; địch bắn tiếp luôn hai ngày đêm 27 và 28 nữa.

Quân ta ở trong các đồn núng thế vì đại bác. Bộ binh địch chưa dám xung phong sau trận đồn Đề Dương. Lợi dụng ban đêm quân ta đã bỏ hết các đồn chỉ để lại những toán nhỏ làm hậu vệ để tỉa quân địch khi chúng tiến vào. Đến ngày 31 tháng 3 thì địch hoàn toàn chiếm lĩnh khu căn cứ Yên Thế. Đại quân của ta lui về hướng đông bắc, nhưng phần lớn nghĩa quân chính là nông dân ở các làng, ngày đêm đánh địch không ngớt. Tuy thế, cũng có một số người thất chí ra đầu thú như Đề Sặt, Đề Tuấn. Còn Đề Tiêu trá hàng, chỉ đem một ít súng ra nạp cho Pháp, bị địch ngờ, địch xét nhà thấy còn nhiều súng bắn mau và nhiều đạn nên đem ông ra xử tử ngày 28 tháng 7.

Địch phóng vào cuộc tấn công này tới 5 đoàn quân do tướng Voa-rông cầm đầu, dưới quyền hắn có 8 quan tư và 2.217 binh lính, điều ấy chứng tỏ sự quan trọng của các cuộc hành quân.

Từ nay thì cuộc vận động kháng Pháp ở Yên Thế bước qua một giai đoạn mới. Nếu giai đoạn trước gọi là giai đoạn Đề Nắm, thì giai đoạn sau là giai đoạn Đề Thám; giai đoạn trước thuần là giai đoạn kháng Pháp để giữ độc lập; giai đoạn sau ngoài ý nghĩa trên còn có ý nghĩa chống sự cướp đất của bọn thực dân mà ta đã nói đến.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:10:12 PM

Cuộc tấn công từ 1892 đến 1895:

Cuối tháng 8 năm 1892, nghĩa quân đã rút khỏi miền rừng núi phía bắc con đường Bố Hạ, Nhã Nam. Bọn Pháp lợi dụng dịp này đắp 40 cây số đường nối những khu trọng yếu trong rừng để tiện việc chuyển vận quân lính và đại bác.

Những cuộc giao chiến nhỏ vẫn diễn ra luôn. Theo báo cáo của Pháp thì đầu tháng 4 đến tháng 8 năm 1892, chúng cướp được 287 súng trường và 43 súng tay. Một số lãnh tụ nghĩa quân phải ra hàng.

Nhưng người mà giặc Pháp chú ý theo dõi nhất và mong đàn áp gấp rút nhất là Đề Thám. Nghĩa quân Đề Thám còn thì chúng không thể yên ổn được. Ngày 3 tháng 11 năm 1892, Pháp được tin Đề Thám hứa ra hàng cùng với Đề Phúc, Thống Luận, Tổng Trụ và 49 thủ hạ có vũ khí. Tuy vậy, quân Pháp vẫn ngờ vực cho là cụ trá hàng để hoãn binh nên chúng tổ chức một cuộc đánh úp. Lúc đầu cuộc hẹn ra hàng vào ngày 19 rồi lại hoãn đến ngày 29. Tức thì đêm 29 rạng ngày 30, một đoàn quân Pháp gồm 370 tên do thiếu tá Ba-ri (Barri) chỉ huy đến bao vây nghĩa quân ở làng Bằng Cục. Sau khi làm cho quân Pháp thiệt hại nặng, nghĩa quân rút lui.

Quân Pháp càn quét vào Yên Thế, nhưng không kết quả gì, nghĩa quân vào các làng mạc ẩn hiện bất thường. Ngày 20 tháng 12 năm 1892, quân Pháp nghe tin quân Thám ở làng Binh Động, chúng tập trung lực lượng kéo đến thì nghĩa quân đã rút lui. Đêm ngày 7, rạng ngày 8 tháng 2 năm 1893, quân Thám đến bắt Đề Sặt, người ra hàng từ một năm trước và làm tay sai cho Pháp. Nghĩa quân liên tiếp hoạt động trong 10 làng vùng Nhã Nam và rút đi trước khi quân của đại úy Ve-rô (Verreaux) từ Nhã Nam đến. Đầu tháng 6 năm 1893, Thám lại đem 30 tay súng đến đánh ngay gần đồn Nhã Nam. Ngày 19 tháng 6, một toán quân Thám đã xuất hiện ở gần phủ Từ Sơn (Bắc Ninh). Ngày 27 tháng 6, nghĩa quân đến đánh lính khố xanh gần Đáp Cầu, tiêu diệt 2 tên địch và làm bị thương 1 tên. Viên công sứ Bắc Ninh là Bu-lô-sơ (Boulloche) vội phái 36 lính Pháp, 15 lính bộ binh, đem một đại bác đến thì nghĩa quân đi xa rồi. Ngày 17 tháng 7, một cuộc giao chiến diễn ra trên đường Phủ Lạng Thương giữa quân Đề Thám và quân của Bu-lô-sơ. Đêm 31 tháng 12 năm 1893, quân Đề Thám lọt vào một làng gần Nhã Nam hoạt động, khi rút đi bắn vào đồn Pháp.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:10:29 PM

Trước sự lớn mạnh của nghĩa quân Đề Thám, ngày 8 tháng 1 năm 1894, quân Pháp tại các đồn Nhã Nam, Mỏ Trạng và Bố Hạ cùng hiệp lực làm một cuộc càn quét. Toán quân Nhã Nam có 60 súng, trong 6 giờ chạm trán nghĩa quân hai lần. Lần đầu thấy quân Đề Thám đông, quân Pháp không dám đánh. Lần sau chúng bị tấn công bất ngờ.

Tháng 1 năm ấy, viên tổng đốc tỉnh Bắc Ninh đem 200 lính khố xanh và 600 lính cơ phối hợp với quân Pháp tại các đồn mỏ Na Lương, Mỏ Trạng, Bố Hạ và Thái Nguyên. Tất cả dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Va-lăng-sơ (Valance), người cai quản đạo binh Phủ Lạng Thương, để mở cuộc tấn công.

Lần này viên tổng đốc Bắc Ninh định dùng thủ đoạn chính trị nên hắn tìm cách thương lượng với một số lãnh tụ nghĩa quân. Đề Phức từ lâu đã có thái độ lừng chừng, nay được giặc Pháp hứa cho làm thượng tá, y liền đem mấy thủ hạ ra hàng, về phía cụ Đề Thám cùng các ông Thống Luận, Tổng Lương, Tổng Trụ cũng hứa đến Tết Nguyên đán năm ấy, tức là ngày 7 tháng 2 năm 1894 sẽ ra hàng. Nhưng cụ nhất định không chịu nộp khí giới và ra điều kiện là quân Pháp phải rút hết các đồn ở khu vực Yên Thế. Mặt khác cụ vẫn tích cực tập hợp nghĩa quân lẻ tẻ các nơi về và chiêu dụ đám thổ phỉ Trung Quốc lại dãy núi Cai Kinh.

Đêm 12 tháng 2 năm 1894, gần 50 nghĩa quân vào bắt hai anh em tên thổ hào làm tay sai cho Pháp trong một làng bên bờ sông Thương mà bấy nay chúng ngăn cản không cho nghĩa quân qua sông. Cuối tháng 4, nghĩa quân đóng khắp các làng Leo, làng Mạc, làng Nứa, làng Văn và xây lại pháo đài Hữu Nhuế mà tháng Giêng năm 1891 đã bị đại tá Phơ-rây phá hủy.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:11:36 PM

Câu hỏi 8: Trước cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, phong trào cách mạng tại Yên Thế đã lên rất cao, hãy cho biết đôi điều về các phong trào này?
Trả lời:


Nhân dân Yên Thế đã có một truyền thống đấu tranh anh dũng. Từ năm 1862, nông dân Yên Thế đã tập hợp dưới lá cờ của Cai Vàng nổi lên chống lại chính quyền phong kiến đổ nát. Năm 1864, những toán quân Thái Bình thiên quốc dưới sự thống lĩnh của Ngô Côn, vượt qua đèo Ỉnh, đèo Cả, Mỏ Xạt, tràn về Yên Thế, triều đình phái Ninh Thái tiễu phủ sứ là Ông Ích Khiêm lên đánh dẹp. Năm sau, năm 1865, thừa dịp triều đình đang phải lo đối phó với tàn quân Ngô Côn, nông dân Yên Thế do Quản Tượng lãnh đạo lại nổi dậy. Quản Tượng chết, cuộc khởi nghĩa vẫn tiếp tục dưới lá cờ của một nông dân khác tên là Trận. Nhưng lúc này triều đình phản động mải lo đối phó với nông dân ngoài Bắc nên đã vui lòng nhượng bộ giặc để dồn lực lượng đàn áp. Vì vậy chẳng bao lâu phong trào nông dân Yên Thế cũng như các cuộc khởi nghĩa của những địa phương khác đều bị dìm trong bể máu.

Năm 1873, tên quan ba háo thắng Gác-ni-ê (Franiçis Garnier) gây hấn ở Hà Nội nhưng triều đình còn lo ngại phong trào khởi nghĩa Yên Thế có thể lại bùng phát, nên ra lệnh xây thành Tỉnh Đạo (ở gần Nhã Nam bây giờ) theo kiểu Vô-băng (Vauban) để trấn áp phong trào và uy hiếp tinh thần nhân dân.

Năm 1884, để thực hiện dã tâm xâm chiếm toàn bộ nước Việt Nam, thực dân Pháp hùng hổ kéo quân lên trung du mong tiêu diệt những căn cứ kháng chiến của ta. Nông dân Yên Thế tạm gác mối thù xưa, sát cánh cùng quân triều đình dưới quyền đốc thần Trương Quang Đản anh dũng chiến đấu giữ thành Tỉnh Đạo, khiến binh đoàn của tướng Bơ-ri-e-đờ-lin (Brière de l'Isle) dù chiếm được thành mà không dám đóng giữ phải rút quân về Bắc Ninh. Yên Thế tiếp tục là nơi hùng cứ của nhiều nhóm nghĩa quân chống Pháp.

Từ tháng 7 năm 1885, sau khi Hàm Nghi xuất bôn phát hịch Cần Vương thì phong trào kháng Pháp ở Yên Thế cũng như khắp nơi trong toàn quốc đã bùng bùng nổi dậy. Nông dân nhiệt liệt giúp nghĩa quân xây dựng doanh trại, làm công sự phòng thủ kiên cố ở sâu trong rừng. Cuối năm 1885, địch phái ba trăm quân lê dương có pháo binh và kỵ binh yểm hộ do thiếu tá Đi-guy-ê (Diguet) chỉ huy kéo lên đàn áp, nhưng nghĩa quân đã giáng cho chúng những đòn quyết liệt ở Hữu Thượng (ngày 13-12), ở Tiên La gần Mỏ Na Lương (ngày 18-12). Cuối tháng 12 địch xây lại đồn Tỉnh Đạo gần chỗ thành cũ, vừa làm bàn đạp tấn công nghĩa quân, vừa để cắt đường liên lạc của nghĩa quân giữa vùng Yên Thế hạ phì nhiêu. Từ đó địch ra sức càn quét khống chế con đường Yên Thế đi Bình Gia để chặn nguồn tiếp tế vũ khí của nghĩa quân từ Trung Quốc về, một mặt ráo riết thám sát các đường hẻm đi vào dãy núi Cai Kinh là căn cứ địa của nghĩa quân Hoàng Đình Kinh. Chính trong cuộc càn quét phía bắc Tỉnh Đạo này, đại tá Đuy-gien (Dugenne) là kẻ cách đây hơn một năm đã chết hụt trong trận chạm trán với liên quân Thanh - Việt ở cầu Quan Âm (Bắc Lệ)  phải bỏ xác.

Qua năm 1888, phong trào Cần Vương đã chuyển sang giai đoạn thứ hai, giai đoạn nghĩa quân rút khỏi đồng bằng lên lập căn cứ ớ miền núi.

Đầu năm 1889, địch rút khỏi Tỉnh Đạo về đóng ở Bố Hạ, đồng thời lập thêm đồn khố xanh ở Bỉ Nội để uy hiếp nghĩa quân. Chúng thường lui tới lập căn cứ ở làng Sặt, nhưng cũng chỉ được ít lâu thì bị nghĩa quân tấn công san phẳng đồn Bỉ Nội, chúng phải rút không dám bén mảng đến nữa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:12:25 PM

Chiến sự ở vùng Yên Thế sau đó thường tiếp diễn gay go, không mấy lúc ngớt tiếng súng. Ngày 17 tháng 9 năm 1889, nghĩa quân do Đề Nắm chỉ huy đánh đội quân của quan ba Goóc-xơ thua liểng xiểng ở làng Sặt và ở xóm Tế Lộc. Địch phải dùng trọng pháo yểm hộ, phản kích nhưng suốt một ngày chỉ chiếm được mấy cái nhà cháy dở còn nghĩa quân đã rút toàn bộ vào rừng. Sau trận này, địch tăng cường viện binh quyết đối phó với phong trào kháng chiến mỗi ngày một lan rộng, về phía nghĩa quân cũng lo củng cố lực lượng chuẩn bị đối phó. Giữa lúc đó, Đội Vân - một lãnh tụ nghĩa quân xuất sắc tại vùng Đông Triều, Hải Dương trước đây trá hàng địch, giờ quay về hàng ngũ kháng chiến gia nhập nghĩa quân Yên Thế với 500 quân đầy đủ vũ khí cùng một số lãnh tụ nghĩa quân như: Lãnh Giới, Lãnh Giám, Suất Lý, Lãnh Thiết, Lãnh Bôi... Việc Đội Vân trở về hàng ngũ kháng chiến không những là một thất bại lớn trong chính sách dùng người Việt đánh người Việt của địch, mà còn là một đe dọa lớn cho địch, vì năm trăm quân với đầy đủ súng ống đạn dược và cấp chỉ huy lại ít nhiều thông thạo kỹ thuật quân sự kiểu mới, gia nhập hàng ngũ nghĩa quân làm cho lực lượng nghĩa quân thêm mạnh mẽ bội phần.

Ngày 8 tháng 9, trên đường về Yên Thế, Đội Vân đánh lui một đội tuần tiễu địch do trung úy May-ơ chỉ huy tại làng Lai, cách Phủ Lạng Thương vài cây số. Đêm mùng 3 tháng 10, nghĩa quân Yên Thế tràn về đồng bằng tấn công đồn Phủ Lạng Thương giải nguy cho nghĩa quân Cai Kinh đang bị uy hiếp ở vùng núi Bảo Đài. Sáng hôm sau, một toán lính địch chở súng đạn bị phục kích trên đường Phủ Lạng Thương - Bảo Lộc ở gần Thượng Văn.

Từ khi Đội Vân gia nhập nghĩa quân Yên Thế, phong trào kháng Pháp lên rất mạnh. Nghĩa quân củng cố thành Tỉnh Đạo, xây dựng thêm căn cứ ở Hữu Thượng, Dĩnh Thép và đèo Mạt. Địch cuống cuồng lo đối phó, Ngày 6 tháng 12 năm 1889, một đạo quân được thành lập do thiếu tá Đuy-mông (Dumont) chỉ huy với số lượng bốn trăm tên gồm đủ các binh chủng (bộ binh, pháo binh và kỵ binh) có nhiệm vụ chiếm lại Tỉnh Đạo, phá hủy các căn cứ nghĩa quân ở phía Bắc, rồi trở xuống càn quét vùng Yên Thế hạ để uy hiếp tinh thần nhân dân, đồng thời lùng bắt những toán nghĩa quân lẻ.

Cuộc hành quân của địch bắt đầu ngày 11 tháng 10. Trong suốt 15 ngày, địch càn quét rất dữ. Địch chiếm lại được Tỉnh Đạo, đốt phá Hữu Thượng, Dĩnh Thép, nhưng bóng dáng nghĩa quân vẫn mất hút. Địch nhát gan không dám thọc sâu vào rừng nên chúng không hề biết rằng đại bộ phận nghĩa quân (trong đó có cả quân của Đội Vân) đã rút vào rừng sâu xây dựng một pháo đài kiên cố gần Hữu Nhuế. Trong trận càn này, một tổn thất lớn đã đến với nghĩa quân, Đội Vân bị mất liên lạc nên bị giặc lùa xuống vùng Yên Thế hạ cùng với mấy nghĩa quân khác. Tại đây, một đội quân 250 người của thiếu tá Pich-kê (Piquet) cũng đang càn quét dữ nên Đội Vân thế cô phải ra hàng. Ít ngày sau (ngày 7-11), ông bị địch xử chém tại Hà Nội, nơi vườn hoa Chí Linh bây giờ.

Bắt được Đội Vân, địch thu về Bắc Ninh nhưng phong trào kháng Pháp ở Yên Thế không vì thế mà bị dập tắt. Lực lượng nghĩa quân không những không bị tiêu diệt mà còn được bổ sung thêm, được rèn luyện thêm qua mấy trận chống càn cuối năm 1889. Nhất là những trí thức quân sự cùng với số lượng nghĩa quân và vũ khí do Đội Vân đem qua hàng ngũ kháng chiến đã khiến cho phong trào kháng Pháp ở Yên Thế có những bước tiến mới. Trong phong trào đã nảy ra nhiều lãnh tụ kiệt xuất, mà ngôi sao sáng nhất là Hoàng Hoa Thám tức Đề Thám.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2017, 01:13:11 PM

Câu hỏi 9: Trong các phong trào cách mạng ở Yên Thế, nổi bật là cuộc khởi nghĩa do Đề Nắm làm lãnh tụ, hãy cho biết đôi nét về ông và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo?
Trả lời:


Đề Nắm tên thực là Lương Văn Nắm chính quê ở làng Hả, thôn Khủa, nay thuộc xã Tân Trung, huyện Yên Thế. Do đó, đồng bào địa phương thường quen gọi là Đề Hả hay Thống Hả. Dưới quyền của Đề Nắm tức Đề Hả có nhiều tùy tướng như:

- Thống Sắt làm phó thống soái về sau bội phản, là anh vợ Đề Hả (có người nói là chú Đề Hả).

- Đề Cúc người làng Phúc Đình.
- Đề Truật có tên nữa là Đề Hậu vì giữ trọng trách coi hậu dinh.
- Thống Ngô (người làng Vân Cầu).
- Thống Trứ (người làng Vân Cầu).
- Thống Luận (người làng Sậy Hạ).
- Thương Biện (người làng Sậy Hạ)
- Đề Trung (người làng Hạ).
- Cai Hạn (người làng Dương Lâm).
- Đề Gạo (người làng Trùng Mỗ).
- Đề Sử (người làng Dinh).
- Đề Thám và Bá Phức.

Đề Nắm tức Đề Hả phất cờ khởi nghĩa từ năm 1884 khi Pháp mới đặt chân lên Tỉnh Đạo. Sau khi chiến đấu chống Pháp suốt một thời gian dài, ông rút quân lên đóng ở Khám Nghè (thuộc cầu Gồ bây giờ). Doanh trại của ông ở đây gồm có:

- Tả dinh: do ông và Thống Sắt đóng.
- Tiền dinh: do Đề Thám và Thống Phức đóng.
- Hậu dinh: do Đề Truật đóng.
- Trung dinh: do Đề Trung đóng.

Nghĩa quân Đề Hả cầm cự với giặc ròng rã chín năm trời, các vùng Nhã Nam và Luộc Hạ đã từng chứng kiến bao cuộc kịch chiến giữa nghĩa quân với giặc Pháp. Trong số các tùy tướng của Đề Nắm lúc bấy giờ, đáng chú ý nhất là Đề Thám. Dưới sự lãnh đạo của Đề Nắm phong trào chống Pháp ở Yên Thế trong giai đoạn này vô cùng sôi nổi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2017, 04:03:45 PM

Câu hỏi 10: Dưới sự lãnh đạo của Đề Thám, cuộc khởi nghĩa ở Yên Thế đã bước sang giai đoạn phát triển mạnh mẽ, hãy cho biết về hoàn cảnh gia đình và nguồn gốc xuất thân của ông?
Trả lời:


Sách Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa của Cục Bảo vệ an ninh nội bộ và văn hóa tư tưởng viết: Hoàng Hoa Thám sinh năm 1858, mất năm 1913. Ông gốc làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, sau di cư lên Sơn Tây (Hà Tây), rồi lại lên Yên Thế (Bắc Giang). Cha là Trương Văn Thân, một nông dân nghèo. Năm 1885, ông đã có mặt trong đội quân khởi nghĩa chống Pháp cùng với Bá Phức, Thống Luận, dưới quyền chỉ huy của Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh), lấy tên là Đề Dương được Cai Kinh đổi tên thành Hoàng Hoa Thám (tức Đề Thám). Sau khi Cai Kinh chết, Đề Thám tách ra hoạt động riêng và trở thành thủ lĩnh của phong trào nông dân Yên Thế chống thực dân Pháp xâm lược.

Cho tới nay chúng ta vẫn chưa có đủ tài liệu để xác minh gốc tích của Đề Thám. Vì ngay những người thân cận cũng không bao giờ được Đề Thám kể lại hoàn cảnh xuất thân của mình.

Có sách nói ông vốn quê ở Sơn Tây. Cha làm nghề thợ thêu lên làm ăn ở làng Trũng (thuộc xã Quảng Minh huyện Yên Thế ngày nay), không rõ họ tên là gì, dân làng thường gọi là ông phó Quát. Đề Thám sinh ở làng Trũng vào khoảng 1856-1858, lớn lên phải đi ở chăn trâu cắt cỏ cho các nhà phú hộ trong rừng. Trong số này có Bá Phức là chánh tổng ở Ngọc Cụ là nơi Đề Thám ở lâu hơn cả và đã nhận Đề Thám làm con nuôi, về sau khi Bá Phức phất cờ khởi nghĩa thì Đề Thám cũng là một tướng đắc lực của Bá Phức.

Cũng có thuyết lại nói Đề Thám vốn họ Trương. Năm hai mươi tuổi, ông sung vào nghĩa quân của Trần Quang Loan - nguyên là một lãnh binh ở tỉnh Bắc Ninh đi đánh Pháp. Sau khi cuộc khởi nghĩa Trần Quang Loan thất bại, ông theo Bá Phức tổ chức những đội nghĩa quân tự động đi tìm giặc mà đánh ở các vùng Vân Nam, Tức Sơn, Hòa Lạc. Ít lâu sau, quân của Bá Phức sát nhập vào đội quân của Cai Kinh. Nhờ tài chỉ huy gan dạ, ông được Cai Kinh phong chức đốc binh và cải họ Trương thành họ Hoàng. Do đó mà có tên là Hoàng Hoa Thám tức Đề Thám, ông còn có tên nữa là Đề Dương. Năm 1888, Cai Kinh bị ám hại, Đề Thám cùng với Bá Phức lại tham gia nghĩa quân Đề Nắm và được chủ tướng tín nhiệm, giao trọng trách đóng giữ tiền dinh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2017, 04:04:03 PM

Cũng có sách nói Hoàng Hoa Thám hồi còn bé tên là Trương Văn Nghĩa, quê ở làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, sau di cư lên Sơn Tây (Hà Tây), rồi đến Yên Thế (Bắc Giang). Bố là Trương Văn Thân và mẹ là Lương Thị Minh. Sinh thời, bố mẹ Hoàng Hoa Thám đều là những người rất trọng nghĩa khí; cả hai ông bà đều gia nhập cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Nhàn, Nùng Văn Vân ở Sơn Tây.

Năm 16 tuổi, ông tham gia khởi nghĩa của Đại Trận (1870-1875). Khi Pháp chiếm Bắc Ninh (tháng 3-1884) thì Hoàng Hoa Thám gia nhập nghĩa binh của Trần Quang Loan, lãnh binh Bắc Ninh. Năm 1885, ông tham gia khởi nghĩa của Cai Kinh (Hoàng Đình Kinh) ở Lạng Giang (1882-1888). Sau khi Cai Kinh chết, ông đứng dưới cờ nghĩa Lương Văn Nắm (tức Đề Nắm) và trở thành một tướng lĩnh có tài. Tháng 4 năm 1892, Đề Nắm bị thủ hạ Đề Sặt sát hại và Hoàng Hoa Thám trở thành thủ lĩnh tối cao của phong trào Yên Thế. Đề Thám tiếp tục hoạt động, lập căn cứ ở Yên Thế và trở thành thủ lĩnh danh tiếng nhất của phong trào nông dân chống Pháp với biệt danh "Hùm xám Yên Thế". Trong gần 30 năm lãnh đạo khởi nghĩa, ông đã tổ chức đánh nhiều trận, tiêu biểu là các trận ở thung lũng Hố Chuối (tháng 12-1890) và Đồng Hom (tháng 2-1892).

Trong ba năm (1893-1895) quân Pháp đã tập trung lực lượng để đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Pháp không từ một thủ đoạn nào, từ phủ dụ đến bao vây tàn sát. Tay sai của Pháp là Lê Hoan cầm đầu đoàn quân, một mặt dụ hàng, mặt khác ra sức triệt hạ các xóm làng nơi nghĩa quân Yên Thế hoạt động.

Hoàng Hoa Thám bằng chiến thuật du kích tài tình đã tránh được mũi nhọn tấn công của quân Pháp và đã gây cho chúng những tổn thất nặng nề. Nghĩa quân Yên Thế đã trừng trị những kẻ phản bội như Đề Sặt... Thấy chưa thể dập tắt được phong trào Yên Thế, nên vào năm 1894, Pháp đã yêu cầu giảng hòa, cắt nhượng cho nghĩa quân bốn tổng thuộc Yên Thế. Hoàng Hoa Thám cũng muốn tranh thủ thời gian này để chuẩn bị thêm lực lượng, ông đồng ý hòa hoãn. Nhưng chỉ vài tháng sau (đến tháng 10- 1895), Pháp đã bội ước, huy động lực lượng mở những cuộc tấn công trên quy mô lớn vào Yên Thế. Pháp treo giải thưởng 30.000 phờ-răng cho kẻ nào bắt được Hoàng Hoa Thám. Lần ra quân này của quân Pháp cũng không đàn áp được phong trào nông dân Yên Thế, nên Pháp phải yêu cầu giảng hòa lần thứ hai vào năm 1897.

Tuy chưa có kết luận dứt khoát về gốc tích của người anh hùng Yên Thế nhưng có thể chắc chắn rằng ông vốn xuất thân nghèo khổ, lớn lên trong phong trào đấu tranh kháng Pháp của nhân dân Yên Thế, và trước khi trở thành thủ lĩnh duy nhất của phong trào, từ sau năm 1893 ông đã là một trong những chỉ huy nghĩa quân có tài ở vùng Yên Thế.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2017, 04:04:35 PM

Câu hỏi 11: Các cuộc khởi nghĩa ở Yên Thế đã gây cho kẻ thù nhiều tổn thất nặng nề và làm thay đổi thái độ của thực dân đối với con người Việt Nam, hãy cho biết thêm về điều đó?
Trả lời:


"Không một nơi nào ở Bắc Kỳ lại luôn có chiến sự oanh liệt diễn ra như ở đây". Đó là nhận định của quan tư Pê-ô (Péroz) về phong trào chống Pháp ở Yên Thế. Thực tế, chỉ trong một năm từ tháng 6 năm 1890 đến tháng 6 năm 1891, địch đã mất riêng ở mặt trận Yên Thế 3 quan ba, 7 quan hai và hàng trăm lính Pháp. Có thể nói không một vùng đất nào địch chiếm được mà phải trả giá đắt đến thế. Địch tuy chiếm được đồn lũy và các đường giao thông chính nhưng lòng căm thù, nỗi oán hận của nhân dân địa phương vẫn bừng bừng như lửa cháy; bè lũ cướp nước và tay sai dù tàn bạo dã man đến đâu vẫn không thể nào đàn áp nổi.

Bốn mươi năm sau, bọn tướng tá trong Bộ Tổng tham mưu quân đội Pháp khi nói về cuộc xâm lược của chúng ở Việt Nam đã viết: "Những vùng Bắc Ninh, Phủ Lạng vào thời kỳ 1887-1890 rất là sôi nổi loạn lạc”.

Địch phải thú nhận:

Người Kinh, người Thổ lúc đầu đón tiếp chúng ta như những người đến giải phóng cho họ. Nhưng sau đó với thuế má, phu dịch... thì họ hiểu rằng sự có mặt của chúng ta chỉ làm tình cảnh họ thêm trầm trọng và rắc rối".


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2017, 04:05:10 PM

Câu hỏi 12: Trận mở màn tại Cao Thượng (6-11-1890) đã tạo được tiếng vang lớn, cổ vũ tinh thần của nghĩa quân Đề Thám, hãy cho biết về trận đánh này?
Trả lời:


Từ tháng 10 năm 1889, sau khi bắt được Đội Vân, địch rút chủ lực về Đáp Cầu, giao lại khu Yên Thế cho các đơn vị lính khố xanh và các tiểu đội lính Pháp. Chúng có nhiệm vụ đi tuần tiễu và lùng bắt các nghĩa quân còn lẩn lút trong rừng.

Tháng 3 năm 1890, chúng chạm trán với một toán nghĩa quân do Đề Thám chỉ huy ở Luộc Hạ, địch chết 2 lính khố đỏ. Tháng 6, trong trận làng Phan, địch chết 1 quan hai. Sau hai trận này địch phong thanh biết được nghĩa quân lại xuất hiện ở Yên Thế với một lực lượng đáng sợ.

Tháng 10 năm 1890, chúng tổ chức một đạo quân lớn gần 700 súng trường và 5 cỗ trọng pháo do tướng Gô-đanh chỉ huy. Mục tiêu cuộc tấn công là chiếm Cao Thượng - một vị trí tiền tiêu của nghĩa quân - trước đây một đơn vị lính khố xanh đã tấn công nhưng thất bại.

Ngày 6 tháng 11, địch tập trung hai cánh quân đánh vào Cao Thượng, còn một cánh khác do đại úy Tê-ta (Tétart) chỉ huy càn quét dọc con đường Luộc Hạ đi Bố Hạ. Nghĩa quân đã kịp thời biết được kế hoạch của địch nên để một bộ phận nhỏ kiềm chế hai phần ba lực lượng địch ở Cao Thượng, còn đại bộ phận phục kích dọc đường cái lớn để bao vây tiêu diệt cánh quân Tê-ta.

Tai Cao Thượng, tuy lực lượng ít, nhưng nghĩa quân biết dựa vào địa hình địa vật thuận lợi. Chiến sự diễn ra rất ác liệt từ 7 giờ 30 sáng đến 3 giờ 30 chiều. Địch phải bắn tới 197 phát đại bác, mất hai chục tên vừa chết vừa bị thương mới chiếm được Cao Thượng, lúc này chỉ còn cột nhà cháy dở. Thiếu tá Bê-li-ê (Beylié) đã tham dự trận đánh kể lại như sau: "Thật khó mà ước lượng quân số của địch (nghĩa quân) trong trận này. Chắc chắn là không đông lắm và không quá 100 người. Nhưng cuộc kháng cự đã diễn ra rất kịch liệt và người ta không thể hiểu nổi tại sao một nhóm người trong một địa bàn nhỏ hẹp lại có thể đương đầu với đại bác đặt cách không đầy 300 thước trong một thời gian khá lâu như vậy".

Trong khi địch bị giam chân ở Cao Thượng như vậy, thì trên đường Luộc Hạ đi Bố Hạ, nghĩa quân đã bao vây chặt cánh quân của đại úy Tê-ta trên các ngọn đồi gần làng Luộc Hạ. Suốt ba ngày địch loanh quanh trên các ngọn đồi lo chống trả các đợt xung phong gan dạ của nghĩa quân. Mãi đến sáng ngày 9 tháng 11, sau khi địch làm chủ được Cao Thượng và kéo lên giải vây, nghĩa quân mới chịu rút. Hôm sau trong trận chống càn ở làng Sặt một toán nghĩa quân lại phục kích giết được quan hai Pơ-la (Plat).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2017, 04:05:57 PM

Câu hỏi 13: Địch mệnh danh đồn Hữu Nhuế là "Đồn của Thần Chết", hãy cho biết cách bố trí phòng ngự của nghĩa quân Đề Thám ở nơi đây?
Trả lời:


Sau trận thử thách ở Cao Thượng, địch phần nào đã ước đoán được lực lượng nghĩa quân ở Yên Thế, mà ta cũng hiểu rằng địch sẽ tập trung thêm quân để đối phó.

Căn cứ Hữu Nhuế, đồng bào địa phương còn gọi là Hố Chuối (vì tại đây có một thung lũng mọc rất nhiều chuối rừng), ở tít sâu trong rừng thẳm phía đông bắc làng Hữu Thượng cách làng Lèo gần một cây số, là một căn cứ rất vững chắc, công sự phòng thủ rất kiên cố. Có thể coi đây như một tập đoàn cứ điểm gồm một đồn chính có pháo đài phía nam và pháo đài phía bắc cách đồn chính hai trăm thước, ngoài ra còn rất nhiều pháo đài, ụ súng, đồn canh rải rác xung quanh trong một khu vực không đầy một cây số vuông.

Đồn chính gọi là đồn Hữu Nhuế (hay Hố Chuối) xây khá kiên cố đã được bí mật chuẩn bị từ mấy năm trước, địch ước lượng hết trên hai vạn ngày công. Đồn xây dưới lùm cây rậm, thấp hơn mặt đất, chung quanh lại đắp tường lũy. Đất đắp lũy một phần lấy ở ngoài, một phần lấy ngay tại chỗ khi đào đất xây nền nhà, kho tàng trong đồn. Tường lũy không cao lắm so với mặt đất (cao từ 2,5 mét - 3 mét) nhưng cành lá chung quanh đủ để che kín nhà cửa, kho tàng trong đồn. Do đó đứng ngoài không thể quan sát được cảnh vật trong đồn mà pháo binh cũng khó tìm được mục tiêu. Nghĩa quân nấp sau các tường lũy thì đạn súng trường, súng máy hay sơn pháo tầm gần khó có thể trúng người. Chỉ có đạn moóc-chi-ê bắn cầu vồng từ trên cao rơi thẳng xuống mới hy vọng trúng mục tiêu, nhưng chung quanh đồn có vô số cây to, cành lá rất rậm nên cũng hạn chế rất nhiều tác dụng của moóc-chi-ê. Tường lũy dài một bề 45 thước, một bề 65 thước, có đục lỗ châu mai, mặt ngoài hơi dốc thẳng mặt sau thoai thoải hơn và có nhiều bậc làm chỗ cho nghĩa quân quỳ hay đứng nấp bắn. Ở mỗi góc đồn đều xây ụ súng tựa như pháo đài nhỏ. Mỗi mặt đồn lại xây một đài quan sát cao hơn ụ ở góc một chút, tường dày kiên cố hơn, dành cho chỉ huy quan sát trận địa và điều khiển cuộc chiến đấu.

Vào đồn chỉ có một lối ở ụ phía bắc, qua ba lần cổng. Lối vào được che chở bằng một công sự hình bán nguyệt ôm lấy ụ phía bắc, công sự này có tường lũy bao bọc và đục nhiều hàng lỗ châu mai.

Tiếp đó là một dãy chướng ngại vật dày tới ngót bốn chục thước gồm cọc nhọn, hố chông rất sâu được ngụy trang bằng cành lá hay phủ cỏ rất kín đáo khiến người ngoài dù tinh mắt đến đâu cũng không thể nhận ra được.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2017, 04:06:15 PM

Riêng mặt bắc và đông của đồn thì còn đào một hào rộng 10 thước, sâu 1,6 mét có rất nhiều cành gai, cọc nhọn, hố chông ngầm dưới nước. Ngoài cùng đồn Hữu Nhuế lại được thiên nhiên bảo vệ bằng những hàng cây cao tới 30 thước, dây leo chi chít ở gốc, hố chông rải rác khắp nơi.

Nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc chiến đấu ác liệt, địch phải huy động hàng trăm lính Âu Phi và lính khố đỏ có đủ pháo binh, công binh, kỵ binh. Địch phải hai lần thay tướng chỉ huy mới san phẳng được đồn, nhưng cũng không tiêu diệt được chủ lực của nghĩa quân. Khi vào được đồn, địch chỉ còn thu được một ít quân trang, quân phục của nghĩa quân, và một số vỏ đạn có ghi niên đại mới sản xuất từ năm 1886 trong khi đạn của địch dùng đều sản xuất từ năm 1883 hoặc năm 1884. Điều đó chứng tỏ rằng ngoài số súng đạn cướp được của địch để trang bị cho mình, nghĩa quân còn có một nguồn tiếp tế khác, nguồn ấy chỉ có thể là từ Trung Quốc.

Người chỉ huy đồn này chính là Đề Thám. Xem quy mô của đồn Hữu Nhuế, chúng ta không khỏi khâm phục kỹ thuật xây đồn của nghĩa quân đã biết lợi dụng triệt để địa hình địa vật. Nhờ đó, nghĩa quân đã có thể tiêu hao sinh lực địch rất nặng khi chúng tiến sâu vào trận địa, nhưng đến khi thấy chúng chiếm ưu thế về quân số và vũ khí, thì cũng biết chủ động rút khỏi đồn để bảo toàn lực lượng.

Trong tháng 11, nghĩa quân một mặt lo củng cố thêm các công sự phòng thủ, một mặt phái các toán quân lẻ đi quấy rối các vùng Nhã Nam, Luộc Hạ, đánh lui các đội tuần tiễu và trinh sát của địch chung quanh Hữu Nhuế. Phía địch thì tuy chiếm được Cao Thượng nhưng vì sợ bị diệt nên ít ngày sau lại rút lui về cố thủ ở Nhã Nam, vừa phái quân đi tuần tiễu do thám, vừa lo tổ chức binh đoàn lớn.

Ngày 8 tháng 12, quan ba Pê-lít-si-ê (Plessier) chỉ huy dồn Nhã Nam vét hết lính trong đồn được 77 lính lê dương, 66 khố đỏ, có đại bác 80 ly yểm hộ, liều lĩnh lấn vào Hữu Nhuế. Nghĩa quân dử địch vào cách 100 mét mới nhả đạn. Đại bác 80 ly bắn yểm hộ cho các đợt xung phong của địch một hồi lâu, nhưng rốt cuộc phải im tiếng vì những đợt phản kích của ta. Cuối cùng địch phải kéo đại bác thu quân chạy dài về Nhã Nam, để lại ngót chục xác chết và một số bị thương.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2017, 04:06:52 PM

Câu hỏi 14: Trận Hữu Nhuế lần thứ hai ngày 11 tháng 12 diễn biến như thế nào?
Trả lời:


Ngày 11 tháng 12, viện binh của địch ở Đáp Cầu và Hà Nội đã tập trung cả ở Nhã Nam. Lần này địch tổ chức một binh đoàn lớn gồm 300 tên do thiếu tá Tan (Tane) chỉ huy. Kế hoạch tấn công vẫn không khác trận ngày 8 tháng 12, nghĩa là vẫn đi theo con đường Pê-lít-si-ê đã đi. Nghĩa quân để địch vào làng Lèo (Hữu Thượng) mới nổ súng. Địch chia một cánh quân đánh tạt ngang lội qua ngòi Sặt chiếm pháo đài phía bắc định tạo thành thế gọng kìm quặp lấy đồn chính. Nhưng cả hai cánh quân đều bị chặn đứng. Hố chông, cây cối cùng bao nhiêu chướng ngại vật thiên nhiên khác cộng với hàng loạt đạn tuy thưa thớt nhưng rất trúng làm cho địch chẳng những không chiếm được pháo đài phía bắc, mà ngay cánh quân chính diện cũng phải dừng lại cách hàng rào đầu tiên của nghĩa quân đến 40 thước.

Trong trận này, nghĩa quân tác chiến vô cùng bình tĩnh và gan dạ. Đặc biệt còn biết tranh thủ địch vận ngay trong cuộc chiến đấu để chia rẽ hàng ngũ địch, vừa dùng ân huệ thưởng những lính ngụy nào giết bọn Pháp về hàng, vừa lấy oai biểu dương lực lượng nghĩa quân để quân địch khiếp đảm.

Trong trận đánh, nghĩa quân bao giờ cũng phái người trèo lên cây cao quan sát địch tình để kịp thời báo cáo về chỉ huy. Đề Thám trực tiếp cầm lao chỉ huy nghĩa quân bắn từng loạt rất chính xác gây những thiệt hại nặng nề cho giặc. Giữa hai làn đạn, nghĩa quân lớn tiếng kêu gọi lính ngụy ra hàng:

"Hỡi anh em! Hãy mang súng chạy sang đây! Chúng tôi không muốn giết các bạn, mà muốn giết bọn Pháp là chủ các anh, bọn chúng đã gây ra bao đau khổ tang tóc cho toàn nước ta. Hãy bỏ bọn chỉ huy mà sang đây! Chúng tôi bên này rất mạnh. Chủ tướng chúng tôi là cụ Thám sẽ đối đãi rất tử tế với các bạn!".

Chiến sự kéo dài suốt ngày 11 tháng 12. Khi mặt trời đã bắt đầu khuất sau các ngọn đồi rậm rạp thì tiếng súng cũng tạm ngừng, địch kiểm điểm lực lượng thấy mất 7 tên nên vội rút chạy về Nhã Nam.

Ba hôm sau vào ngày 14 tháng 12, trên cánh đồng Nhã Nam cách đồn địch vài chục thước, phất phơ trước gió một lá cờ trắng trên gài một lá thư của nghĩa quân, trong đó có những lời kết án và cảnh cáo quân giặc đanh thép như sau:

"Các ông dựa vào sức mạnh quân đội để đến thôn tính đất nước Việt Nam.

Kẻ nào mong chiếm đất nước người khác là tham bạo.

Kẻ nào đã bị thua mà còn tiếp tục xâm lược là điên rồ.

Âm mưu thôn tính đất đai của các ông với các tai họa nó gây nên chỉ có kết quả tăng thêm mối bất bình trong dân chúng và binh lính của các ông; hậu quả cuối cùng chỉ là bạo động và tổng khởi nghĩa.

Nếu mọi việc xảy ra ở đây được các người danh vọng các nước khác biết thì các ông chỉ làm trò cười cho họ...".


Mặc dù trước đường lối quang minh chính đại của nghĩa quân, bọn tướng tá thực dân ngoan cố trước sau vẫn bỏ ngoài tai những lời cảnh cáo đó và lo chuẩn bị một lực lượng đông hơn lần trước để quyết quét sạch kỳ được đồn Hữu Nhuế, vị trí tiền tiêu của nghĩa quân, đồng thời cũng là chiếc gai nhọn, xọc thẳng vào cặp mắt cú vọ của thực dân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Hai, 2017, 05:04:14 PM

Câu hỏi 15: Nghĩa quân Yên Thế đã được quân địch mệnh danh là "tiểu đoàn bất khả xâm phạm”, trận Hữu Nhuế lần thứ ba ngày 22 tháng 12 đã diễn ra như thế nào? Kết quả của trận đánh đó?
Trả lời:


Sau 10 ngày chuẩn bị, địch điều thêm quân ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, Thái Nguyên, Bố Hạ, Kép, tổng số là 739 tên mà quá nửa là lính Âu Phi về tập trung ở Nhã Nam. Lần này quan tư May-ơ trực tiếp chỉ huy và quan hai Bơ-rét-di làm tham mưu trưởng.

Suốt ngày 21 tháng 12, địch quan sát trận địa nghĩa quân và định đánh vào Hữu Nhuế. Chúng đưa quân làm hai ngả: phía nam qua Luộc Hạ, phía bắc qua chợ Gồ. Nhưng sau khi dò xét, chúng phải bỏ kế hoạch này vì đường đi quá hẹp và rậm rạp, lại có nhiều ổ phục kích của nghĩa quân. Cuối cùng, địch phải trở lại kế hoạch cũ trong hai trận trước, nghĩa là tiến theo con đường phía tây qua Hữu Thượng.

8 giờ sáng ngày 22 tháng 12, địch xuất quân. Đến 10 giờ sáng thì chiếm lĩnh xong trận địa. Bản doanh địch đóng ở Hữu Thượng bắc. Tại đây chúng để lại một phần lực lượng làm quân dự trữ, còn lại thì chia làm hai cánh, cánh thứ nhất do quan hai Bơ-le-dơ chỉ huy có nhiệm vụ tiến qua Ngòi Sặt chiếm pháo đài bắc, cánh thứ hai do quan ba Tê-ta chỉ huy có nhiệm vụ đánh tạt sang phía hữu rồi tiến thẳng vào đồn Hữu Nhuế.

Cánh quân thứ nhất vượt qua được Ngòi Sặt, nhưng sau ba đợt xung phong khá liều lĩnh của địch nghĩa quân kiên gan bám chặt vị trí. Số thương vong của địch khá đông, trong đó có quan hai Bơ-le-dơ. Địch buộc phải thay đổi mục tiêu tấn công. Đến 3 giờ chiều chúng không hy vọng gì chiếm pháo đài bắc nữa, mà chỉ còn bắn yểm hộ cho phu cáng đem xác và lính bị thương về hậu tuyến. Bên nghĩa quân lúc này chẳng những cũng ngừng súng mà còn nói loa ra lệnh cho quân địch được phép mang xác chết và lính bị thương về.

Trong khi trước pháo đài phía bắc, cánh quân của Bơ-le-dơ đang bị khốn đốn như vậy, thì tại mặt trận chính, cánh quân của đại úy Tê-ta - tên tướng đã thoát chết trong trận Luộc năm trước - cũng đang nằm chết gí ở mặt ruộng trước đồn Hữu Nhuế không sao nhích lên được. Trong trận này cũng như trận trước, nghĩa quân vừa bắn vừa nói loa kêu gọi lính khố xanh và khố đỏ quay súng chạy sang hàng ngũ nghĩa quân. Khoảng 3 giờ chiều, sau khi đã làm tê liệt sức tấn công của địch, nghĩa quân bất thần xuất kích tấn công vào trận địa pháo binh của địch ở sườn hữu, đồng thời phái một cánh quân khác vòng ra đằng sau đánh vào bản doanh và quân dự bị của địch đóng ở Hữu Thượng bắc.

Các mũi dùi tấn công đã bị bẻ gãy, lại bị đánh tập hậu rất nguy cấp, May-ơ đành vội vã thu quân chạy một mạch về Nhã Nam. Trận này quan hai Bơ-le-dơ tử trận, trên chục lính vừa tây vừa khố đỏ thiệt mạng và trên hai chục bị thương.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Hai, 2017, 05:04:41 PM

May-ơ đã kể lại trận ngày 22 tháng 12 như sau:

"Từ 1 giờ trưa đến 4 giờ chiều, chúng tôi phải chiến đấu rất dai dẳng trên khắp các mặt. Đối phương không hề bị lung lay vì đạn trọng pháo cũng như những làn đạn của bộ binh. Họ bảo vệ căn cứ rất kịch liệt và tiến đánh chúng tôi, vừa mặt trước vừa bên sườn phía hữu, vừa mặt sau.

Ba lần cánh quân bên tả xung phong vào đồn đối phương, cả ba lần đều thất bại mặc dù sĩ quan và binh lính của ta rất gan dạ và hăng hái. Xung quanh chúng tôi đạn nổ giòn. Tới 4 giờ chiều, tôi nghĩ khôn hơn hết là quay về Nhã Nam nếu không muốn thất bại thảm hại!... Bọn phiến loạn không những chỉ đóng trong đồn trại mà có cả một loạt công sự khác tạo nên một tập đoàn cứ điểm trong rừng sâu. Đối phương đã có những chỉ huy quân sự thực thụ".


Đoạn hồi ký trên đây của tên tướng thực dân phần nào đã phản ánh thực chất của phong trào kháng Pháp ở Yên Thế năm 1890. Chính địch cũng đã phải mệnh danh những đội nghĩa quân giữ đồn Hữu Nhuế là "tiểu đoàn bất khả xâm phạm", "tiểu đoàn anh dũng".

Ba hôm sau (ngày 25-12), Đề Thám lại cho quân đem đến trước đồn Nhã Nam cắm một lá cờ, trên gài lá thư như sau:

"... Trên đời không có gì chân chính hơn là lẽ phải; không có gì mang lại sức mạnh và lòng tin bằng sự trung thành và lòng biết ơn. Người ta nếu không nhớ đến công ơn người khác đối với mình, quên hết lý do, thì sẽ yếu hèn dù rằng quân số đông. Trái lại, nếu biết giữ lời hứa, nếu biết ơn người khác thì quân số dù ít nhưng sẽ đầy lòng tin và quyết tâm do đó sẽ trở nên mạnh mẽ phi thường.

… Chúng tôi đây, những thần dân trung thành và biết ơn của nước Việt, chúng tôi vô cùng thiết tha với phong tục trong nước, không bao giờ chịu rời bỏ các phong tục đó dù cho đứng trước cái chết, vì chúng tôi hoàn toàn tin vào trời đất, quỷ thần phù hộ chúng tôi làm tròn sứ mệnh.

Vừa rồi chúng tôi đóng quân tại các làng thuộc vùng Yên Thế. Các ông đã đem quân đến đốt phá. Để bảo vệ tính mệnh và tài sản nhân dân, chúng tôi bắt buộc phải đưa họ vào con đường chống lại nước Pháp...".



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Hai, 2017, 05:06:25 PM

Câu hỏi 16: Sau ba lần liên tiếp tấn công vào Hữu Nhuế không thành công, địch quyết định tấn công vào Hữu Nhuế lần thứ tư (ngày 3-1-1891). Trận đánh này diễn ra như thế nào và cho biết thêm về sự lãnh đạo tài tình của thủ lĩnh Đề Thám?
Trả lời:


Sau ba trận trước, địch bị hao binh tổn tướng nhiều vẫn không tiêu diệt nổi căn cứ của nghĩa quân. Lần này chúng quyết huy động một lực lượng lớn hơn các lần trước, xin thêm    trọng pháo và nhất là công binh, quyết phá kỳ được căn cứ Hữu Nhuế để lấy lại uy tín với quân lính và tín nhiệm trước dân chúng. Quan năm Phơ-rây được đặc cử trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công vào Hữu Nhuế lần này. Các đơn vị chủ lực thuộc Đáp Cầu, Bắc Ninh và Thái Nguyên đều được điều lên tiếp viện cho mặt trận Yên Thế. Cả Hà Nội cũng gửi lên một đại đội tinh nhuệ.

Từ ngày 23 đến ngày 31 tháng 12 năm 1890, địch chuẩn bị lực lượng, dò xét tình hình. Bên ta cũng ráo riết chuẩn bị nghênh chiến, củng cố các công sự đã bị trọng pháo địch phá hư hại trong trận trước, tăng thêm lực lượng cho các pháo đài phía bắc và phía nam, tạo thành một phòng tuyến khá vững chắc theo hướng đông tây từ chợ Gồ đến làng Nứa qua Hữu Nhuế, bảo vệ cho các con đường đi vào dãy núi Cai Kinh.

Ngày 1 tháng 1 năm 1891, đúng vào ngày Tết dương lịch, Phơ-rây chính thức nhận nhiệm vụ. Sau khi thân hành quan sát trận địa, kiểm điểm lực lượng, hắn chủ trương rằng mục tiêu cuộc tấn công lần này chưa phải là tiêu diệt hoàn toàn nghĩa quân, mà cốt san phẳng đồn Hữu Nhuế để ngăn không cho nghĩa quân Yên Thế thành một cái cầu bắc giữa phong trào kháng Pháp ở Bắc Cạn, chợ Chu, Thái Nguyên và phong trào ở Đông Triều, Móng Cái lúc này cũng rất sôi nổi. Kế hoạch của Phơ-rây là lập một phòng tuyến vững chắc bao vây Hữu Nhuế, chia làm nhiều mũi đồng thời tiến công, chứ không chỉ đi bằng con đường phía tây như ba lần trước, phát huy hỏa lực của pháo binh để trấn áp tinh thần nghĩa quân phá hủy công sự phòng thủ, sử dụng khả năng của công binh để chặt cây phá bụi mở đường tiến công. Ngoài ra địch còn huy động hai tàu chiến Mu-lon và Giắc-quyn kiểm soát con đường thủy Phủ Lạng Thương - Bố Hạ để vừa đảm bảo tiếp tế, vừa ngăn không cho nghĩa quân rút về miền Yên Thế hạ, mà cũng để cắt đường tiếp tế của nhân dân miền đồng bằng thường tải gạo muối qua sông ủng hộ nghĩa quân.

Ngày 3 tháng 1 năm 1891, chiến sự bắt đầu diễn ra ở các đồn ngoại vi làng Mạc, làng Lèo. Địch chiếm được hai nơi này rồi huy động lực lượng ra sức xây dựng các công sự phòng thủ làm một bàn đạp tiến công đồn chính. Nghĩa quân tạm thời rút khỏi làng Mạc và làng Lèo nhưng vẫn nấp kín trong các bụi cây bắn tỉa vào bọn lính địch đang xây công sự. Đêm mùng 4 tháng 1, ta tấn công vào hai vị trí của địch mới lập nhưng không có kết quả.

Ngày 5 tháng 1, từ hai ngọn đồi cách làng Lèo 150 thước về phía đông và cách làng Mạc 100 thước về phía bắc, địch huy động công binh làm con đường tiến vào Hữu Nhuế. Đêm hôm đó, một toán địch có 140 cây súng lại định lẻn đến tập kích một nơi chứa rất nhiều lương thực ở phía đông bắc đồn Hữu Nhuế, nhưng nửa đường hai người dân địa phương chúng bắt đi dẫn đường bỏ trốn nên chúng đành quay về.

Suốt ba ngày 6, 7 và 8, địch tiếp tục làm đường tiến về Hữu Nhuế, bên ta nhiều lần bắn tỉa chặn các đội tuần tiễu và quấy rối bọn lính địch làm đường.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Hai, 2017, 05:16:38 PM

Sáng ngày 9 tháng 1, địch tập trung pháo binh nã vào các vị trí nghĩa quân. Đến 9 giờ chúng lại bắn vãi ra phía ngoại vi ở mặt sau để chặn đường rút của nghĩa quân, trong lúc đó địch đưa bộ binh theo hai ngả, một ngả theo con đường phía tây của các đợt tiến công trước, một ngả theo con đường mới làm từ năm hôm nay. Suốt buổi sáng nghĩa quân vẫn gan dạ nấp kín trong các công sự sau tường lũy. Đến 10 giờ, khi pháo binh địch ngừng bắn thì bộ binh địch các ngả cũng đều tiến sát hàng rào đầu của nghĩa quân. Từ trong chiến hào, tiếng loa địch vận của nghĩa quân vang dội: "Anh em khố đỏ và phu hãy nằm cả xuống! Anh em hãy quay súng bắn vào đầu bọn Pháp và chạy qua bên này! Mỗi đầu lính Pháp sẽ được thưởng 50 đồng, đầu chỉ huy được 100 đồng. Chúng tôi chỉ bắn bọn Tây thôi! Các anh cứ sang không sợ gì cả!".

Địch dùng moóc-chi-ê bắn cầu vồng để uy hiếp tinh thần nghĩa quân. Rồi đúng 10 giờ 30 phút, sau tiếng kèn xung phong, từng toán lính địch dao cầm tay, lưỡi lê đầu súng liều lĩnh băng qua ruộng xông vào. Nhưng bên ta không để cho chúng tới gần, nghĩa quân bình tĩnh và gan dạ nấp sau tường lũy và chiến hào đón địch bằng những loạt đạn rất trúng. Trong đợt xung phong này, quan ba Ghi-nhê bỏ mạng giữa các đợt phản kích, bên nghĩa quân không ngớt lời động viên nhau, dũng cảm cầm cự đến cùng.

Giữa lúc địch tập trung hỏa lực đánh vào đồn chính như vậy, thì một cánh quân địch tiến đánh chợ Gồ nhằm làm lạc hướng của nghĩa quân, nhưng chúng vừa vượt khỏi Ngòi Sặt thì bị 200 nghĩa quân chặn đánh, buộc chúng phải quay trở lại. Đến trưa mặt trận tạm yên.

Quá trưa trọng pháo địch lại nổ. Địch tổ chức nhiều đợt xung phong nhưng bên ta vẫn giữ vững vị trí. Suốt một ngày chiến đấu, địch chết một quan ba, bị thương 7 trong đó có 2 quan hai, mà chỉ chiếm được mấy quả đồi quanh Hữu Nhuế. Trong khi đó ở ven sông Thương cũng xảy ra vài cuộc giao tranh nhỏ ở Lục Liễn và Phú Đình giữa thủy binh giặc và nghĩa quân. Đến chiều thì địch chiếm được làng Soi và Phú Đình ven sông Thương.

Sáng sớm ngày 10 tháng 1, đại bác trên hai tàu chiến Mu-lon và Giắc-quyn bắn phối hợp với pháo binh đặt trên đồi gần làng Mạc và làng Lèo yểm hộ cho công binh đào công sự và phát thêm đường tiến sâu vào Hữu Nhuế.

Chiều hôm đó, trong đồn Hữu Nhuế một cuộc hội nghị quân sự cấp tốc được triệu tập có mặt Đề Thám và các tùy tướng quan yếu là Đề Sặt, Lãnh Chi, Lãnh Giám. Sau khi nhận định tình hình chiến sự hai hôm nay, hội nghị chủ trương rút khỏi Hữu Nhuế để bảo toàn lực lượng. Và ngay đêm hôm đó, nghĩa quân rút khỏi Hữu Nhuế tiến về phía đông bắc.

Đến sáng hôm sau (ngày 11-1), địch hùng hổ tiến vào thì chỉ còn xác đồn không. Nghĩa quân đã rút hết, mang theo cả thương binh nên địch không ước đoán được con số thiệt hại của nghĩa quân là bao nhiêu. Chỉ thấy trên sân đồn còn rải rác vài chiếc mũ vàng, mấy bộ quân phục mà địch nhận ra là của quân Đội Vân vì có số hiệu quân đội Pháp và quân Hoàng Cao Khải ở Hải Dương. Địch còn tìm thêm dấu vết chứng tỏ trong đồn Hữu Nhuế có cả nghĩa quân Hoa kiều ở phố Bình Gia tới, quân của Lương Tam Kỳ ở chợ Chu và quân Ba Kỳ ở chợ Mới (Bắc Cạn) sang nữa.

Địch phá hết các công sự, đến ngày 13 tháng 1 thu quân về xuôi và giải tán binh đoàn. Trong trận tiến công thứ tư này, địch có 2 sĩ quan chết, 2 bị thương, 6 lính Pháp chết và 25 bị thương, 6 lính khố đỏ chết và bị thương.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2017, 11:18:55 AM

Câu hỏi 17: Chiến dịch tháng 3 năm 1892 là một thử thách lớn của nghĩa quân Yên Thế, nhiều tướng lĩnh và nghĩa quân đã đầu hàng giặc. Hãy cho biết diễn biến của chiến dịch này?
Trả lời:


Đồn Hữu Nhuế tuy bị san phẳng nhưng lực lượng nghĩa quân không bị tiêu diệt. Phong trào kháng Pháp ở Yên Thế căn bản vẫn được duy trì và vẫn thuộc quyền thống lĩnh của Đề Nắm. Sau trận chống càn ở Hữu Nhuế, uy tín của Đề Thám càng lớn trong số chỉ huy nghĩa quân. Tuy rằng, suốt năm 1891, ở Yên Thế không có trận nào lớn ngoài những cuộc càn nhỏ do quan tư Bê-ra, quan ba Pê-lít-si-ê, quan hai Đờ-to-rê cầm đầu. Trái lại, trong các tỉnh lân cận, phong trào lại rất sôi nổi. Tại chiến khu Đông Triều, quan năm Tê-ri-ông (Térillon) đang thất điên bát đảo với nghĩa quân Lưu Kỳ.

Lợi dụng chiến sự đang ác liệt ở vùng Đông Triều, nghĩa quân Yên Thế tranh thủ mộ thêm quân, tích trữ thêm nhiều vũ khí đạn dược từ bên kia biên giới, xây thêm công sự mới. Lần này Đề Nắm tập trung lực lượng đóng thành một hệ thống cứ điểm từ đông sang tây phía bắc đường Nhã Nam - Bố Hạ, tựa vào chân dãy núi Cai Kinh, dọc theo đường Bố Hạ đi Mỏ Trạng, cách Hữu Nhuế trên 5 cây số.

Hệ thống đồn trại của nghĩa quân có 7 đồn chính:

- Đồn số 1: là đồn chính do Đề Nắm trực tiếp chỉ huy gọi là đồn Đề Nắm.
- Đồn số 2: do Đề Lâm cai quản gọi là đồn Đề Lâm.
- Đồn số 3: là đồn Đề Truật.
- Đồn số 4: là đồn Đề Trung.
- Đồn số 5: là đồn Đề Dương (tức Đề Thám).
- Đồn số 6: là đồn Tổng Tài.
- Đồn số 7: là đồn Bá Phức.

Mỗi đồn đều được bao bọc bằng tường lũy kiên cố xây bằng đất nện theo hình răng cưa, đục nhiều hàng lỗ châu mai. Khi lâm trận nghĩa quân kẻ đứng người ngồi hay quỳ sau các hàng lỗ châu mai tạo thành lưới đạn khá dày. Bên ngoài lũy là hố chông, ụ tác chiến, cọc vót nhọn bắt chéo đứng thẳng chằng dây thép gai hay chão lớn, rồi đến một giậu tre kín đặc. Ngoài hệ thống phòng thủ nhân tạo, nghĩa quân còn được thiên nhiên che chở bằng những cánh rừng dày rậm bên dưới có dây leo chằng chịt. Đại khái công sự phòng thủ ở đây cũng như ở đồn Hữu Nhuế năm trước, nghĩa quân có thể nấp kín nhìn địch rất rõ mà địch thì không sao xác định được vị trí hỏa lực của nghĩa quân, do đó pháo binh cũng khó bề phát huy tác dụng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2017, 11:19:11 AM

Quan tư Sa-bờ-rôn nói về cách phòng ngự này đã phải công nhận rằng:

"Những người không đi học trường cao đẳng quân sự mà biết lợi dụng địa hình địa vật như vậy thật là không chê vào đâu được”.

So sánh với chiến trường Đông Triều, y đã phải công nhận rằng địa thế Yên Thế tuy hẹp và ít núi non hơn nhưng rừng rú lại rậm rạp hơn, hơn nữa nghĩa quân Đề Nắm lại biết lợi dụng địa hình địa vật hơn và chiến đấu gan dạ cương quyết hơn nghĩa quân Lưu Kỳ.

Trong chiến dịch này, địch đã rút được một phần kinh nghiệm qua các trận trước. Địch bố trí hai đạo quân cơ động: một đạo đánh ngoại vi để thăm dò lực lượng quan sát trận địa và làm nghi binh, một đạo đánh thẳng vào giữa nhằm đồn số 1 làm mục tiêu chính.

Lực lượng địch do tướng Voa-rông chỉ huy gồm tất cả 2.217 tên, bao gồm các binh chủng công binh, pháo binh, kỵ binh. Ngoài số quân ở Hà Nội lên, địch còn huy động cả quân ở Thái Nguyên và Lạng Sơn đến giúp, về pháo binh địch huy động tới 12 khẩu 80 ly, 2 khẩu 95 ly, 4 khẩu moóc-chi-ê 15 ly. Về cấp chỉ huy không kể từ cấp úy trở xuống thì có 1 thiếu tướng, 2 trung tá, 2 thiếu tá. Nói tóm lại địch đã phải huy động đến một lực lượng gấp mười, mười lăm lần số quân địch dùng để đánh Hà Nội năm 1873 và năm 1882 để đối phó với nghĩa quân trong một trận địa ngang dọc không quá ba cây số.

Ngày 15 tháng 3, địch ra lệnh xuất quân từ Bố Hạ nơi đặt bản doanh của cuộc hành binh. Cánh quân khởi hành từ Thái Nguyên do thiếu tá Bê-ra chỉ huy tới Mỏ Na Lương thì tách làm đôi, một bộ phận tiếp tục tới Mỏ Trạng trong Trại An nhằm đồn Bá Phức, một bộ phận rẽ sang ngả Quỳnh Lâu nhằm đồn Đề Dương (tức Đề Thám) tiến phát, nhưng bị nghĩa quân Đề Dương chặn lại ở Cầu Rùa gần Quỳnh Lâu. Trong khi đó cánh quân của thiếu tá Cu-rô khởi hành từ Lạng Sơn đã vượt qua dãy Cai Kinh tới Mỏ Xạt. Cánh quân của trung tá Bu-ghi-ê lần lượt chiếm các làng Thượng, Am Động, Dĩnh Thép và sáng ngày 23 tháng 3 thì cánh quân của trung tá Gây có nhiệm vụ đánh tung thâm cũng đã tập trung đầy đủ ở Bố Hạ.

Vòng vây địch đã khép chặt. Ngày 25 tháng 3, địch ra lệnh tấn công. Cánh quân Bê-ra từ Mỏ Trạng tấn công đồn số 7 của Bá Phức. Cuộc chiến đấu ở đây không kịch liệt lắm, địch chiếm được đồn, Bá Phức cùng số quân còn lại rút vào rừng. Cánh quân Bu-ghi-ê từ các làng Thượng, Am Động, Dĩnh Thép tấn công đồn số 4 của Đề Trung và đồn số 5 của Đề Dương. Còn quân chủ lực của địch do Gây chỉ huy thì tấn công đồn số 1 (Đề Nắm), đồn số 2 (Đề Lâm), đồn số 3 (Đề Truật), đồn số 6 (Tổng Tài). Trong bấy nhiêu đồn, chỉ có đồn chính do Đề Nắm chỉ huy và đồn Đề Dương (tức Đề Thám) là kháng cự oanh liệt hơn cả.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2017, 11:20:47 AM

* Mội số trận đánh chính của chiến dịch :

Trận đánh đốn Đề Dương tức Đề Thám (ngày 25-3-1892):

Đúng 12 giờ 30, địch tập trung hai khẩu đại bác nã vào đồn, đồng thời phái 180 lính vừa Pháp vừa khố đỏ chiếm làng Hom. Tại đây nghĩa quân đã nấp sẵn trong các nhà dân đánh vào sườn bên phải của địch. Sau khi bắn một loạt đạn, thừa cơ địch đang lúng túng chấn chỉnh đội ngũ, nghĩa quân rút vào khu rừng trước mặt, địch xông vào rừng thì lại bị bắn vào sườn bên trái. Cuộc giao tranh kéo dài đến 3 giờ chiều, xác địch chết và bị thương ngổn ngang trên trận địa, địch không sao cướp được về. Trọng pháo địch bắn vu vơ vào rừng như để uy hiếp tinh thần nghĩa quân hơn là để phá hủy công sự phòng thủ trong đồn. Nhiều khi trọng pháo lại cản trở bước tiến của bộ binh địch khiến chỉ huy địch phải yêu cầu trọng pháo ngừng bắn. Gần tối tiếng súng ngừng hẳn. Địch tuy chiếm được đồn số 5 bỏ trống nhưng bị tan rã hai trung đội, 40 tên chết và bị thương, trong đó có 1 quan ba, 1 quan hai, 9 tên bị mất tích.

Trận đánh đồn Đề Nắm (ngày 26 và ngày 27-3):

Từ ngày 24 tháng 3, địch đã phái 100 tên vừa lính lê dương vừa khố đỏ do thiếu tá Cu-rô chỉ huy đi thám thính tình hình. Ngày 27 tháng 3, sau khi đã làm chủ các đồn khác, địch dồn thêm lực lượng đánh đồn chính. Trong trận này chúng bắn đến 200 quả sơn pháo để uy hiếp nghĩa quân. Mặc dù thế, sau một ngày chiến đấu quyết liệt địch vẫn không tới được chân đồi. Đêm đó chúng ngủ ngay trên trận tuyến. Sáng sớm hôm sau, súng lại nổ, cuộc chiến đấu lại tiếp tục ác liệt hơn hôm trước. Quá trưa thì địch hoàn toàn chiếm được đồn, thu được tấn rưỡi gạo, nhưng nghĩa quân đã rút đi từ lúc nào. Riêng trận này địch chết và bị thương 15 tên, đa số là lính người Pháp.

Tới ngày 31 tháng 3, địch khống chế được toàn bộ trận địa của nghĩa quân Yên Thế, nhưng quân ta núng thế vì đại bác địch nên phải rút khỏi đồn chứ chưa bị hao tổn nhiều. Nghĩa quân chia thành nhiều toán nhỏ phục kích các toán quân tuần tiễu của địch. Ngày 4 tháng 4, tại đèo Ỉnh, một toán khoảng 70 nghĩa quân phục kích toán quân của quan ba Bét-boi. Ngày 7 tháng 4, tại Sơn Quả gần Cao Thượng, và ngày 12 tháng 4 tại Hòa Mộc vẫn có những cuộc giao tranh nhỏ. Ngày 20 tháng 4, tại làng Tiên, ta đóng trong một ngôi chùa, địch đem cả pháo binh trợ lực vẫn không chiếm được, đành bỏ lại 4 xác chết rồi rút về Bố Hạ.

Qua các trận trên, tuy địch không đạt được mục đích tiêu diệt nghĩa quân, nhưng về phía nghĩa quân cũng có nhiều triệu chứng tan rã. Dần dà có một số người thất chí ra đầu thú như Đề Sặt, Đề Toán, Đề Kiều... Đề Tiêu trá hàng bị địch ngờ khám nhà thấy còn nhiều súng đạn nên đem ông ra bắn ngày 28 tháng 7.

Trong vòng 5 tháng lại thêm 70 nghĩa quân ra hàng nữa. Từ tháng 6 trở đi, phong trào kháng Pháp ở Yên Thế đi xuống nhiều. Các tướng lĩnh lần lượt ra hàng hay phiêu bạt nơi khác, duy chỉ còn lại một người mặc dù gặp muôn vàn khó khăn gian khổ, quyết tâm vẫn không sờn, chí khí vẫn không nhụt, cố gắng thu nhặt tàn quân, lập lại đội ngũ để duy trì phong trào. Người ấy chúng ta thấy đã nổi danh trong trận Hữu Nhuế, trong chiến dịch tháng 3, người đó chính là Hoàng Hoa Thám - từ nay đóng vai trò chính trong lịch sử chống Pháp ở Yên Thế.

Từ sau cuộc tiến công của tướng Voa-rông, nghĩa quân bị đánh bật ra khỏi Yên Thế. Pháp giao vùng này cho bọn quan văn cai trị dưới quyền tổng đốc và công sứ Bắc Ninh rồi kéo quân chính quy về xuôi tiếp viện cho mặt trận khác đồng thời tăng cường hệ thống đồn canh dọc biên giới để ngăn nghĩa quân khỏi tràn qua biên giới. Lực lượng quân sự ở Yên Thế chỉ còn các đơn vị khố xanh dưới quyền sĩ quan Pháp và một vài tiểu đội lính Pháp giúp sức, thay nhau càn quét khắp nơi hòng tiêu diệt lực lượng nghĩa quân.

Trong tình hình đó, nghĩa quân phải phân tán ra từng toán nhỏ, độc lập tác chiến, trà trộn với dân chúng tự giải quyết vấn đề lương thực, vũ khí, đạn dược. Vì vậy các cuộc giao chiến nhỏ thường diễn ra luôn. Theo báo cáo của Pháp thì từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1892, nghĩa quân cướp được 287 súng trường và 43 súng tay. Vì chiến đấu đơn độc như vậy nên một số lãnh tụ nghĩa quân thất thế buộc phải ra hàng. Chính trong thời gian này (tháng 4- 1892), nghĩa quân Yên Thế mất một người thủ lĩnh xuất sắc là Đề Nắm tức Đề Hả, ông hy sinh vì sự phản trắc của một thủ hạ là Đề Sặt1.

Đề Nắm chết, nghĩa quân như rắn không đầu, ra đầu thú ngày càng nhiều. Phong trào cơ sở tan rã thì Đề Thám, một tướng lĩnh xuất sắc của Đề Nắm trước đây đã từng nổi tiếng trong các trận Hữu Nhuế năm 1891, trận giữ đồn Đề Dương (tên chiến đấu của Đề Thám) trong chiến dịch tháng 3 năm 1892, đã dũng cảm đứng ra tập hợp nghĩa quân củng cố hàng ngũ, gây dựng lại lực lượng, mở ra một thời kỳ mới của phong trào kháng Pháp ở Yên Thế. Từ nay phong trào lại bùng bùng nổi dậy dưới ngọn cờ chiến đấu của Đề Thám.
_________________________________
1. Theo nhân dân địa phương kể lại thì Đề Sặt là anh vợ (có người lại nói là chú Đề Nắm) vì thấy Đề Nắm thắng lợi nhiều nên ganh tỵ muốn cướp quyền thống soái. Trong ngày hội xem chèo ở Khám Nghè, y cùng mẹ vợ và Cai Ba làng Bùi dọn cỗ lớn có hai bát chè đường bỏ thuốc độc mời Đề Nắm ăn, đến đêm thì cấm khẩu chết. Hôm sau Đề Sặt chặt đầu Đề Nắm ra hàng Pháp ở Cao Thượng, đem theo 50 quân với 48 súng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2017, 11:21:39 AM

Câu hỏi 18: Trong gần hai năm từ tháng 8 năm 1892 đến tháng 4 năm 1894, phong trào kháng Pháp ở Yên Thế đã dần dần hồi phục, lực lượng nghĩa quân mỗi ngày một đông, việc một vài thủ lĩnh ra hàng đã không làm cho nghĩa quân suy yếu, trái lại càng làm cho hàng ngũ thêm thuần khiết vững mạnh với những chỉ huy gan dạ còn lại. Nghĩa quân đã vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng như thế nào?
Trả lời:


Tháng 8 năm 1892, lợi dụng tình thế tạm yên, bọn Pháp đắp 40 cây số đường nối những khu trọng yếu trong vùng phía bắc con đường Bố Hạ - Nhã Nam để tiện việc chuyển vận quân lính và vũ khí. Đầu tháng 11 năm 1892, chúng mở cuộc càn quét lớn. Ngày 3 tháng 11 năm 1892, bị địch bao vây bốn mặt, Đề Thám viết thư cho địch hứa vào ngày 19 tháng 11 sẽ ra hàng với Đề Phức, Thống Luận, Tổng Trụ và 49 thuộc hạ có vũ khí. Nhưng rồi cụ lại hẹn khất đến ngày 29. Địch ngờ vực cho là nghĩa quân trá hàng để hoãn binh nên đêm 29 rạng ngày 30 tháng 11, địch phái một đội quân gồm 370 tên vừa lính Pháp vừa lính khố đỏ, khố xanh do thiếu tá Ba-ri (Barri) chỉ huy kéo đến đánh úp một toán nghĩa quân ở làng Bằng Cục, nhưng bị nghĩa quân chống trả kịch liệt rồi bất ngờ rút lui. Quân Pháp càn quét vào Yên Thế nhưng không kết quả gì, nghĩa quân tản vào các làng mạc ẩn hiện bất thường. Từ đó thế giằng co lại diễn ra giữa ta và địch ở Yên Thế. Ngày 20 tháng 12 năm 1892, lại một trận giao chiến ở làng Đông (Bích Động, Việt Yên), địch kéo đại quân đến thì nghĩa quân đã kịp thời rút. Đêm mùng 7 rạng mùng 8 tháng 2 năm 1893, Đề Thám sai quân về làng Sặt bắt giết Đề Sặt báo thù cho chủ tướng cũ là Đề Nắm. Hôm đó ở Cao Thượng mở hội, làng có hát chèo, thủ hạ của Đề Sặt đi xem hết. Đề Thám nhân dịp đó thân dẫn một số nghĩa quân lẻn vào nhà tên Sặt, hắn đang nằm hút thuốc phiện. Đề Thám nhảy lên hô lính trói lại, sai làm cơm cúng Đề Nắm ngay sân nhà Đề Sặt, sau đó hạ lệnh lấy dây thép xỏ vào gan bàn tay tên phản bội dẫn về căn cứ nghĩa quân, một năm sau mới giết.

Hành động trừ gian này cảnh cáo những tên tấp tểnh ra hàng, làm tay sai cho giặc để tâng công chuộc tội với giặc. Việc báo thù cho chủ tướng của Đề Thám cũng được nhân dân, quân sĩ đồng tình và càng ca tụng nghĩa khí của Đề Thám đối với chủ cũ.

Sang đầu năm 1893 thanh thế nghĩa quân Đề Thám đã lan rộng khắp 10 tổng ở vùng Nhã Nam. Các toán quân lẻ, các chỉ huy nghĩa quân bấy lâu thất lạc, có người đã bỏ về nhà làm ăn nay đều trở lại chiến đấu dưới ngọn cờ Hoàng Hoa Thám. Trong hàng ngũ các tùy tướng của Đề Thám có người vợ ba là Đặng Thị Nho (thường gọi là bà Ba Cẩn), Cả Trọng (con vợ cả), Cả Dinh, Cả Huỳnh (con nuôi); ngoài ra còn có một số tướng lĩnh khác như Đề Phức (tức là Thống Phức hay Bá Phức, tướng cũ của Đề Nắm và là cha nuôi Đề Thám), Giáp Văn Phức (rất gan dạ thường cầm cờ đi trước nên có tên là Cai Cờ), Cai Tề, Lĩnh Trân, Cai Sơn, Quản Cân, Cai Sang, Lập, Lãnh Niêm, Lãnh Chiếm, Phó Thái, Đốc Trụ, Cai Thuống, Cai Mễ, Phó Du, Phó Oanh, Đảo Tảo, Thống Luận, Lý Bắc, Lý Thu, Cai Ba, Lãnh Túc, Ba Biểu, Tổng Trụ, Đốc Hy, Đốc Túc, Đốc Khế, Đốc Hân, Điều An... Sau này Đề Thám còn thu nạp các điền chủ có tinh thần kháng Pháp như Bang Kinh ở Hữu Lũng, Cai Thanh ở Thanh Hóa, Đốc Văn và Đề Vàng là hai tùy tướng của Tán Thuật cũ; Cả Tuyển con Tán Thuật, Đề Công và Thống Lẫm lãnh tụ nghĩa quân ở Tam Đảo; Hai Roan, Hai Giữa, Hai Nôm lãnh tụ nghĩa quân ở Phúc Yên...

Quân sĩ cũng như tướng lĩnh của Đề Thám đều xuất thân nghèo khổ, phần lớn là tàn quân của các nhóm nghĩa quân các nơi thất tán lên Yên Thế ẩn náu đã tiếp tục chiến đấu. Cũng có người là dân lưu tán bị mất ruộng đất ở dưới xuôi lên gia nhập nghĩa quân trước là lấy chỗ sinh sống, sau là để trả mối thù xưa. Cũng có người phải chịu qua thử thách như chăn trâu cắt cỏ, cày bừa, canh gác, phục dịch trong quân ngũ một thời gian mới được chính thức gia nhập hàng ngũ nghĩa quân và được phát súng. Đặc điểm của nghĩa quân Đề Thám phần lớn đều không biết chữ. Điều đó cũng dễ hiểu vì nghĩa quân Đề Thám cũng như nghĩa quân các nơi khác đều xuất thân từ nông dân nghèo bị áp bức lâu nay. Nhưng điều cần nhận rõ ở đây là ngay trong số tướng lĩnh không có một sĩ phu, ông cử, ông tú nào cả. Nhân dân địa phương cho biết Đề Thám rất thành kiến với dân áo dài (ám chỉ sĩ phu học trò). Điều An - người giúp Đề Thám trong việc sổ sách giấy tờ giao dịch với ngoài cũng chỉ biết ít chữ Nho và chữ Nôm mà thôi, Ngoài ra còn hai người trông nom việc thu phát binh lương, vũ khí và quân số là biết ít nhiều chữ nghĩa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2017, 11:22:01 AM

Tuy nghĩa quân chủ yếu là quân ô hợp nhưng kỷ luật rất nghiêm, ai đi nhũng nhiễu của dân mà Đề Thám biết được đều bị trừng trị đích đáng như đã xử tử Cai Thu và Hai Giữa về tội ăn cướp của dân. Nghĩa quân Đề Thám có tài đánh du kích, bắn rất trúng, chứng tỏ được luyện tập công phu. Vũ khí phần lớn cướp được của địch, phần quan trọng khác là mua ở bên kia biên giới như các loạị Mauser, Lebel, Gras kiểu năm 1874, kiểu năm 1886. Binh lương nghĩa quân trông vào sự ủng hộ của dân. Trong thời gian này nghĩa quân chưa lập được căn cứ nên dựa vào dân sống từng ngày. Bước sang đầu năm 1894, phong trào đã có cơ sở vững. Nghĩa quân đã lập đồn ở Hữu Nhuế (Hố Chuối), tổ chức việc quyên góp đem về tích trữ ở đồn. Chiến thuật của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám là vừa lưu động tác chiến đánh phục kích vừa xây dựng căn cứ lâu dài, dựa vào địa hình địa vật thuận lợi mà đắp các ổ kháng chiến, pháo đài, ụ súng ngầm dưới đất và các lùm cây rậm rồi nhử địch vào sâu để tỉa từng tên một. Nhưng nếu địch tập trung lực lượng quá đông thì nghĩa quân cũng biết bỏ đồn, phân tán từng lớp nhỏ, đánh du kích quấy rối để tránh khỏi bị tiêu diệt.

Chiến thuật của Đề Thám đã làm địch tổn thất nặng trong những năm 1891-1892, lúc ông còn là tùy tướng của Đề Nắm. Đến nay, toàn bộ phong trào kháng Pháp do Đề Thám thống lĩnh nên chiến thuật ấy lại càng phát huy đầy đủ tác dụng của nó. Đầu tháng 6 năm 1893, Đề Thám chỉ huy 30 nghĩa quân về hoạt động ở ngay sát Nhã Nam. Đến ngày 19, nghĩa quân lại bất ngờ xuất hiện gần phủ Từ Sơn (Bắc Ninh), rồi ngày 27 tháng 6, nghĩa quân lại tập kích đồn Đáp Cầu, tiêu diệt hai tên và làm bị thương một công sứ Bắc Ninh là Bu-lô-sơ. Địch vội phái 36 lính Pháp và 15 lính bộ binh đem một đại bác đến thì nghĩa quân đã đi xa rồi.

Sang tháng 9, nghĩa quân hoạt động mạnh chung quanh Nhã Nam. Ngày 13 tháng 9, khoảng 10 nghĩa quân đóng cách Nhã Nam chỉ 10 cây số. Rồi ngày 17 tháng 9, một cuộc giao chiến diễn ra trên đường Phủ Lạng Thương giữa nghĩa quân và đội quân của Bu-lô-sơ, quân Pháp bị tiêu diệt 1 tên và bị thương 1 tên.

Đêm 31 tháng 12, quân Đề Thám lọt vào một làng gần Nhã Nam hoạt động, trước khi rút lui còn táo bạo bắn vào đồn Pháp. Vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng, đến cuối năm 1893 thì phong trào kháng Pháp ở Yên Thế chẳng những đã được hồi phục mà còn có cơ sở phát triển sâu rộng hơn giai đoạn trước.

Thế lực nghĩa quân ngày càng bành trướng, địch hoảng hốt đối phó. Ngày 8 tháng 1 năm 1894, chúng huy động các đơn vị lính khố xanh và lính Pháp đóng ở các đồn Nhã Nam, Mỏ Trạng, Bố Hạ, ba mặt cùng vào Yên Thế thượng.

Nhưng nghĩa quân đã giữ bí mật được căn cứ và thực lực, nên chỉ để một bộ phận đánh tạt sườn địch bẻ gãy gọng kìm Nhã Nam buộc địch phải rút lui, sau đó tổng đốc Bắc Ninh là Lê Hoan đem 200 lính khố xanh và 600 lính cơ phối hợp với lính Pháp các đồn Mỏ Na Lương, Mỏ Trạng, Bố Hạ và Thái Nguyên. Tất cả do thiếu tá Va-lăng-sơ chỉ huy để mở cuộc tấn công đại quy mô vào Yên Thế thượng. Lần này rút kinh nghiệm các lần trước, song song với biện pháp quân sự, chúng còn dùng cả thủ đoạn chính trị vừa phô trương lực lượng quân sự, vừa tìm cách thương lượng với một số lãnh tụ nghĩa quân. Chúng lôi kéo được Tổng Chế, Ba Chi và cuối cùng là Đề Phức ra hàng đem theo 76 khẩu súng, những người ra hàng được chúng phong làm thương tá. Địch mua chuộc được Đề Phức rồi, liền hạ tối hậu thư cho Đề Thám bắt phải nộp hết khí giới và rút quân khỏi Yên Thế. Chỉ huy nghĩa quân lúc bấy giờ như Thống Luận, Tổng Lượng, Tổng Trụ đều bàn với Đề Thám kéo dài cuộc thương thuyết rồi trá hàng để tạo không khí hòa hoãn nhằm bổ sung thêm lực lượng chờ thời cơ mới. Vì vậy cuối tháng giêng năm 1894, Đề Thám đưa thư hứa đến ngày 7 tháng 2 năm 1894 (vào đúng ngày Tết Nguyên đán) sẽ ra đầu thú và nộp vũ khí, còn Pháp thì phải rút quân khỏi Yên Thế.

Nhưng sau nhiều lần gặp gỡ, cuộc thương thuyết thất bại. Địch liệu không đủ sức tấn công tiêu diệt nghĩa quân nên cũng phải rút về. Về phía nghĩa quân thì vẫn ráo riết tập hợp các toán quân lẻ ở các nơi và chiêu dụ đám thổ phỉ Trung Quốc tại các dãy núi Cai Kinh, tiêu diệt các tên thổ hào tay sai cho địch. Đến cuối tháng 4, nghĩa quân đã thực sự làm chủ Yên Thế thượng, đóng quân khắp các làng Lèo, làng Mạc, làng Nứa, làng Văn và xây lại pháo đài Hữu Nhuế (pháo đài đã bị đại tá Phơ-rây phá hủy từ tháng 1 năm 1891).

Trong giai đoạn này, địch mải lo đối phó với phong trào nơi khác nên không có cuộc hành binh nào lớn. Song song với các cuộc hành quân tuần tiễu, địch cũng đã ra sức dùng thủ đoạn chính trị mua chuộc và chia rẽ hàng ngũ nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2017, 11:23:24 AM

Câu hỏi 19: Có chuyện địch dùng cha nuôi của thủ lĩnh Đề Thám tên là Thương Phức để ám hại Đề Thám hòng xóa bỏ nghĩa quân. Câu chuyện này như thế nào?
Trả lời:


Địch dùng mọi cách để dụ hàng Đề Thám nhưng không được, chúng định dùng mưu sát hại. Đột nhập căn cứ nghĩa quân không xong, chúng bèn dùng mưu bắt cóc người cầm đầu phong trào. Một lần Lê Hoan - tay sai đắc lực của địch - đóng bản doanh ở Luộc Hạ cùng đồn trưởng Pháp tại đồn Cốc Tịch ở Cao Thượng, viết giấy mời Đề Thám ra chơi. Người ta tưởng không bao giờ Đề Thám dám rời căn cứ dấn thân vào hang cọp. Nhưng trái lại, với thái độ rất ung dung, Đề Thám đi cùng cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh và một số nghĩa quân ra Cao Thượng, Quân giặc bố trí thủ hạ định bắt sống cụ trong buổi tiệc nhưng trước thái độ hiên ngang của người anh hùng và nhất là chúng thấy bộ ba Dinh, Huỳnh, Trọng luôn luôn bám sát bảo vệ cụ, bọn Lê Hoan đề phòng xảy chuyện bất trắc nên đành để Đề Thám ra về.

Một lần khác, chúng bày mưu cho Thương Phức vốn xưa kia là cha nuôi Đề Thám, nay đã là một tay sai đắc lực cho giặc, đến tìm cách bỏ thuốc độc vào nước uống để sát hại cụ. Nhưng gậy ông lại đập lưng ông, trong khi nói chuyện cụ Đề Thám đã kín đáo xoay chiếc khay đựng chén nước có thuốc độc về phía Thương Phức, khiến sau khi uống xong, y ngộ độc suýt chết phải đem đi nhà thương Bùi chữa.

Sau nhiều lần thất bại, Lê Hoan vẫn không từ bỏ âm mưu dùng Thương Phức sát hại cụ Thám vì y đoán rằng đối với Thương Phức, cụ Thám dù sao vẫn có ý vì nể, vì Phức xưa kia chẳng những là cha nuôi từ thuở còn hàn vi, lại đã làm mối cho cụ lấy thị Tảo làm vợ cả và đồng thời cũng là một tùy tướng giúp việc đắc lực cho Đề Thám, về phía cụ Thám, từ khi Phức ra hàng, cụ vẫn lưu ý đề phòng, nhưng vì tình xưa nghĩa cũ nên vẫn không nỡ dứt. Hôm ấy Thương Phức tìm đến đồn Hữu Nhuế, mượn tiếng về thăm Đề Thám. Y đem theo bốn thủ hạ và một quả mìn đặt trong tráp. Hai người nằm bên bàn đèn thuốc phiện nói chuyện có vẻ thân mật. Một lát sau thấy cụ Thám lim dim ngủ, Thương Phức rón rén châm mìn trong tráp rồi cùng thủ hạ lẻn ra ngoài1. Tới ven rừng nghe mìn nổ, hắn yên trí đạt được mưu gian, chạy vội về đồn báo ngay cho Lê Hoan và bọn Pháp thừa cơ xuất quân vào Hữu Nhuế tiêu diệt nghĩa quân.

Sáng hôm sau (19-5-1894), trong đồn Hữu Nhuế người ta thấy nghĩa quân chít khăn tang, mặc đồ trắng đi sau một chiếc quan tài. Tin đó bay về doanh trại địch, càng xác nhận thêm lời báo cáo của tên Phức, làm chúng thêm mừng rỡ vì chắc phen này sẽ trừ được cái họa Đề Thám. Đội lính cơ và khố đỏ của Lê Hoan đã chiếm đóng làng Lèo từ lúc trời chưa sáng, sau đó là các đơn vị lính khố xanh có lính Pháp và khố đỏ giúp sức do công sứ Bắc Ninh tên là Muy-sơ-li-ê (Muselier) và đại úy Tô-ken (Toquenne) chỉ huy hùng hổ kéo vào Hữu Nhuế.

Trên đường hành quân, địch bắt được một nghĩa quân đem thư của các thủ lĩnh trong đồn Hữu Nhuế xin hạn đến 3 giờ chiều sẽ nộp súng đầu hàng. Ba giờ qua rồi bốn giờ, ánh nắng đã chếch sau đồi, địch sốt ruột hạ lệnh xung phong. Nhưng từ trong các bụi rậm gai góc, đạn ở đâu bắn ra như mưa, địch ngã như sung rụng. Tương kế tựu kế, địch đã lọt vào bẫy phục kích của Đề Thám, thì ra mưu sâu của cáo già Lê Hoan đã không thắng nổi tinh thần cảnh giác cao độ của vị thủ lĩnh nghĩa quân. Ngay từ lúc đêm, sau khi Thương Phức lẻn ra ngoài thì Đề Thám cũng lui vào nhà trong, vì vậy mìn nổ không ai việc gì. Và đám tang sáng hôm sau chỉ là một kế nghi binh của nghĩa quân. Trong lúc bất ngờ, hàng ngũ địch hốt hoảng, tán loạn nhưng rồi chúng cũng dàn binh nghênh chiến. Hai bên bắn nhau đến sẩm tối. Trong trận này, công sứ Muy-sơ-li-ê, giám binh Lam-be (Lambert), 3 lính bộ binh và 12 lính khố xanh bị thương, 1 đội Pháp và 1 lính khố xanh bỏ mạng.
___________________________________
1. Có tài liệu nói cụ Thám ngồi đánh trống chầu xem chèo cùng Thương Phức. Giữa buổi hát, Thương Phức vờ đau bụng xin về trước.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2017, 11:24:15 AM

Câu hỏi 20: Từ việc bắt cóc hai người Pháp đến cuộc giảng hòa lần thứ nhất, nghĩa quân Yên Thế đã biết lợi dụng thời gian hòa hoãn để bổ sung lực lượng, hãy cho biết tình hình của nghĩa quân và của địch trong thời gian này?
Trả lời:


Sau cuộc mưu sát thất bại ngày 18 tháng 5, Đề Thám tuy thoát chết và sau đó đánh bại được mục tiêu tấn công của địch trong trận ngày 19 tháng 5, nhưng lực lượng nghĩa quân cũng không tránh khỏi bị tiêu hao. Vì thế sau khi phá hủy các kho tàng và công sự phòng thủ trong đồn Hữu Nhuế, đại bộ phận nghĩa quân rút sang mạn Thái Nguyên; số còn lại phân tán ra từng toán nhỏ đánh du kích quấy rối để tiêu hao sinh lực địch và bảo vệ cơ sở. Ngày 22 tháng 5, vẫn có cuộc giao tranh kịch liệt giữa một toán nghĩa quân và quân của tổng đốc Lê Hoan ở làng An Gốc. Địch ở Nhã Nam kéo đại bác đến tiếp viện cũng bị một toán nghĩa quân chặn đánh làm bị thương 7 lính Pháp. Rồi chiều ngày 31 tháng 5, trong trận giao chiến ở phía Bắc làng Nứa, đội quân của thiếu tá Va-lăng-sơ lại bị kết thêm 1 lính Pháp, 1 lính khố đỏ và bị thương 5 lính Pháp trong đó có cả đại úy Tô-ken.

Sau đó tình hình Yên Thế tạm yên trong mấy tháng. Qua đầu tháng 9 năm 1894, nghĩa quân lại xuất hiện ở Yên Thế. Một điền chủ trong vùng là Bang Kinh đem 50 thủ hạ và vũ khí gia nhập nghĩa quân. Lực lượng nghĩa quân lúc này ước chừng 200 người vũ trang đầy đủ dưới quyền chỉ huy của Đề Thám, Thống Luận, Bang Kinh và Tổng Trụ đóng ở hai pháo đài. Nghĩa quân liên tiếp chặn đánh các đội quân tuần tiễu của địch. Ngày 9 tháng 9, quân của đại úy Gơ-ri-mô (Grimaud) trưởng đồn Bố Hạ bị quân Bang Kinh chặn đánh gần Phủ Lạng Thương, 1 hạ sĩ quan Pháp bị tiêu diệt.

Chủ trương của nghĩa quân lúc này là muốn có một thời gian tạm thời hòa hoãn với địch để có thì giờ xây dựng thêm lực lượng. Nhưng qua mấy lần thương thuyết, dã tâm của địch vẫn là buộc nghĩa quân đầu hàng vô điều kiện và nộp toàn bộ vũ khí. Vì vậy, muốn có một áp lực để điều đình, tháng 9 năm 1894, các tướng lĩnh Yên Thế bàn mưu phục kích bắt một, hai người Âu để làm con tin; đồng thời cũng có thể thêm một số tiền chuộc để mua thêm vũ khí ở ngoài.

Cần nhắc lại rằng ngay từ năm 1890, thực dân Pháp đã khởi công làm con đường xe lửa tuyến Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn nhằm mục đích chiến lược là vận tải cho căn cứ Lạng Sơn, đồng thời vừa ngăn chặn quân Thanh tràn qua, vừa cắt đứt được liên lạc giữa nghĩa quân với Lưỡng Quảng. Do sự phản kháng của nhân dân Việt Nam nên nhân công làm đường lúc đầu toàn người Trung Quốc mãi sau chật vật lắm mới mộ được 6.000 người Việt. Công việc tiến hành khá trầy trật, nhân công chết vô số, nghĩa quân lại luôn luôn đánh úp các toán quân đồn trú bảo vệ công trường, nên 5 năm sau (1894) mới hoàn thành con đường chỉ dài mấy chục cây số và chỉ rộng có 60 phân. Số tiền tốn đến 16 triệu phờ-răng. Trong thời gian làm đường, địch bố trí lực lượng quân sự bảo vệ các công trường rất nghiêm mật, nhưng nghĩa quân vẫn thỉnh thoảng phục kích đón bắt sống các tên thầu khoán người Pháp, vừa lấy tiền chuộc, vừa để gây áp lực buộc bọn cầm quyền thương thuyết. Như tháng 7 năm 1892, nghĩa quân Lưu Kỳ đã đón bắt sống tên thầu khoán Vê-danh (Vezin) đòi chuộc 25.000 đồng bạc trắng. Sau đó (năm 1893), đến lượt các tên Bu-ê (Bouyer), Rô-ty (Roty), Pi-ga-ni-ôn (Piganiol), Đơ-rô (Droz) mất tích, rồi tên Phơ-rít (Fritz) sa vào tay nghĩa quân Cai Kinh.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2017, 11:24:40 AM

Rút kinh nghiệm từ những lần trước, lần này nghĩa quân Yên Thế cũng đem binh phục kích bên đường xe lửa. Lúc này tuy đường xe lửa Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn đã hoàn thành về căn bản, nhưng mới chỉ dùng tạm được thôi. Mỗi chuyến xe thế nào cũng phải có thầu khoán hay nhân viên kỹ thuật đi kèm để kiểm tra, hoặc cùng đi trên tàu, hoặc đi bằng goòng máy trước đoàn tàu độ nửa tiếng đồng hồ.

Chiều ngày 17 tháng 9 năm 1894, Đề Thám sai một toán quân do Đốc Khế chỉ huy phục kích ở bụi rậm bên đường xe lửa và một toán khác do Bang Kinh cầm đầu phục kích ở cây số giữa suối Ghềnh và Bắc Lệ. Đúng như dự đoán của nghĩa quân, hồi 3 giờ rưỡi chiều hôm đó tên Sét-nay, vừa là đại địa chủ ở Yên Thế, vừa là thầu khoán đường xe lửa Phủ Lạng Thương - Hà Nội, đồng thời là chủ nhiệm tờ báo Pháp "Avenir du Tonkin" cùng đi goòng máy với tên Lô-gi-u (Logiou) và hai người thợ máy nữa. Chúng lọt vào ổ phục kích của Đốc Khế. Đạn từ trong bụi rậm bắn ra tới tấp. Người cầm lái chết ngay, người phụ lái bị thương, hai tên Sét-nay và Lô-gi-u tháo chạy vào rừng nhưng bị nghĩa quân đuổi theo bắt sống giải về trại. Trong khi đó tại cây số 53, nghĩa quân Bang Kinh đã chặt cây, lấy đá bỏ vào rọ rồi chất đống trên đường sắt. Đúng giờ, chuyến xe lửa thường lệ từ Lạng Sơn xuống, thấy chướng ngại vật chặn ngang đường, đoàn tàu dừng bánh, một công nhân Hoa kiều làm thợ máy cùng 3 người phụ lái nhảy xuống định khuân gỗ và khiêng các rọ đá ra ngoài thì súng nổ tới tấp, 4 người chết ngay tại chỗ, người lái tàu hốt hoảng cho tàu chạy về Bắc Lệ.

Bắt được hai tên lính Pháp, nghĩa quân liền đưa thư xin giảng hòa. Việc bắt hai tên lính Pháp làm con tin, nhất là tên Sét-nay lại là một đại địa chủ kiêm thầu khoán làm dư luận xôn xao trên báo chí. Bọn tư bản và thực dân kêu la om sòm đòi nhà cầm quyền phải cứu thoát Sét-nay bằng bất cứ cách nào.

Hàng tập thư của Sét-nay từ pháo đài Đề Thám gửi ra càng thúc giục bọn cầm quyền phải xúc tiến việc thương thuyết. Hơn nữa, sau việc này lực lượng nghĩa quân lại ngày một phát triển, khó bề đàn áp nổi mà lại còn có thể nguy hiểm đến tính mạng tên Sét-nay. Biện pháp duy nhất lúc đó đối với bè lũ thực dân chỉ có thể là giảng hòa.

Cuộc thương thuyết kéo dài 5 tuần lễ do giám mục địa phận Bắc Ninh là cha Vê-lát-cô (Velasco) làm trung gian.

Kết quả ngày 25 tháng 10 năm 1894, hai tên Sét-nay và Lô-gi-u được tha. Địch phải chuộc món tiền 15.000 đồng bạc trắng và rút quân khỏi bốn tổng Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng, giao quyền cai trị cho nghĩa quân. Dân bốn tổng không phải nộp thuế cho giặc trong ba năm mà đem nộp số thuế ấy cho nghĩa quân, số tiền vào khoảng 3.000 đồng mỗi năm. Thế là từ nay nghĩa quân đã chính thức có một căn cứ rộng rãi, có tiền và cả thời gian để dưỡng uy sức nhuệ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Hai, 2017, 11:25:01 AM

Trong thời gian giảng hòa, mặt ngoài cụ Thám vẫn giữ quan hệ tốt với bọn cầm quyền thực dân để che mắt chúng. Bản doanh nghĩa quân đặt ở Phồn Xương, gia đình cụ Thám, Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh và các tùy tướng đều ở cả đó. Thỉnh thoảng cụ ra chơi Nhã Nam thăm tên đại lý Pháp Láp-bê (Labbez), hoặc gửi biếu các tên công sứ, thống sứ, toàn quyền những lâm sản quý như nhung, cao, mật ong... có khi còn tổ chức đi săn bắn chung với chúng, hay ăn và nghe hát trong đồn. Có lần toàn quyền Rút-sô (Rousseau) viết thư mời cụ ra chơi Hà Nội, nhưng cụ viện cớ thoái thác đề phòng địch trở mặt. Nhưng bên trong cụ vẫn ngấm ngầm liên kết với giang hồ hảo hán các nơi, ra sức chiêu mộ nghĩa sĩ, luyện tập quân sĩ, chế tạo vũ khí và cho người sang Trung Quốc mua thêm khí giới; lại còn phái thủ hạ xuống miền đồng bằng gây cơ sở, quyên lương thực, chặn đánh tước vũ khí của các toán lính ngụy đi tuần. Cũng có khi nghĩa quân chủ động tấn công vị trí giặc như tháng 4 năm 1895, Đốc Thu cầm đầu một toán nghĩa quân đột nhập thị xã Bắc Ninh giết chết hai viên sen đầm cùng một lính đoan và ít lâu sau, Lãnh Túc kéo quân về đánh Phủ Liễn gần Phủ Lạng Thương lấy lương thực.

Chiến thuật "đàm rồi lại đánh" này của nghĩa quân Yên Thế kéo dài được hơn chục năm (26-11-1897 - 29-1-1909). Trong thời gian hòa hoãn, nghĩa quân vừa bồi dưỡng lực lượng quân sự, vừa mở rộng giao tiếp về chính trị, đã đem lại kết quả cụ thể. Hoàng Hoa Thám tham gia Hội Duy Tân, dung nạp nghĩa sĩ Trung Kỳ và ứng viện khi Trung Kỳ bạo động vũ trang... Bước đầu, đồn Tú Nghệ được xây dựng ở Yên Thế và đón Tùng Nham, Hoành Hành - những nghĩa sĩ Trung Kỳ đầu tiên đến để hợp tác với nghĩa quân Yên Thế.

Thời gian này, nhiều nhóm nghĩa quân kháng Pháp ở các nơi bị địch đánh bật khỏi căn cứ, đều tìm cách tiến về Yên Thế nhập với quân Đề Thám. Như nhóm nghĩa quân vùng Bắc Ninh và Thái Nguyên bị Lương Tam Kỳ bỏ rơi sau khi về hàng Pháp, hay toàn bộ nghĩa quân của Đề Nguyên tại Tam Đảo. Cũng tại Tam Đảo, Đề Công và Thượng Lẫm cũng tìm cách liên lạc chặt chẽ với nghĩa quân Đề Thám.

Tóm lại, nghĩa quân Yên Thế đã biết lợi dụng thời gian hòa hoãn để bổ sung lực lượng, nên gần một năm sau thanh thế đã lan rộng, lực lượng đã lớn mạnh hơn trước gấp bội.

Tình hình đó khiến thực dân Pháp rất lo ngại. Trước đây, dưới áp lực của giới tư bản, cực chẳng đã bọn quan văn phải điều đình với âm mưu mua chuộc cụ Thám, như chúng đã mua chuộc thành công Lương Tam Kỳ và một số thổ hào khác. Đồng thời chúng cũng muốn tranh thủ thời cơ hoàn thành gấp con đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn. Chủ trương giảng hòa đã bị giới võ quan phản đối kịch liệt. Trong thư gửi bộ thuộc địa Pháp tháng 11 năm 1894 chúng đã trách cứ nhà cầm quyền quá nhượng bộ và cho rằng việc nhượng bộ cụ Thám một địa bàn rộng lớn cạnh đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn là một thất sách lớn. Vì vậy khi rút quân khỏi bốn tổng thuộc Yên Thế thượng, bọn thống trị Pháp lo củng cố các đồn Bố Hạ, Mỏ Trạng, Mỏ Na Lương, Kép, chợ Phổng, chợ Tràng, tạo thành một hàng rào chặt chẽ dọc đường xe lửa. Chúng còn dùng bọn tay sai như Đốc Xúy án ngữ vùng núi Bảo Đài để ngăn nghĩa quân tràn về và đặt sẵn một đạo quân luôn luôn đề phòng mọi việc bất trắc xảy ra.

Mặc dù thế, tháng 9 năm 1895, công sứ Bắc Ninh còn báo cáo rằng:

"Các toán giặc đều lấy sào huyệt Đề Thám làm nơi trú ẩn và noi gương Đề Thám để bắt cóc người Âu".

Rồi y đề nghị cần tái lập gấp chính quyền quân sự trong vùng Yên Thế và tích cực chuẩn bị tiêu diệt Đề Thám.

Tình trạng đối kháng ngấm ngầm này không thể kéo dài mãi được. Cuối cùng thấy không mua chuộc được Đề Thám mà càng để lâu càng nguy hiểm, nên cuối cùng năm 1895 thực dân Pháp đã phản bội các điều ký kết, huy động một lực lượng rất lớn, hùng hổ kéo lên Yên Thế quyết tâm đàn áp kỳ được nghĩa quân Đề Thám.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 04:37:43 PM

Câu hỏi 21: Cuộc hành binh của đại tá Ga-li-ê-ni (Galliéni) khiến nghĩa quân bị đánh bật khỏi Yên Thế. Hãy cho biết về cuộc hành binh này?
Trả lời:


Tháng 1 năm 1895, tên đại tá Ga-li-ê-ni được cử làm tổng chỉ huy cuộc đại tấn công vào căn cứ Yên Thế. Ga-li-ê-ni trước kia đã thành công trong việc đàn áp phong trào kháng Pháp ở vùng núi Cai Kinh và thượng lưu sông Cầu. Nhưng lần này y đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt và bền bỉ của nghĩa quân Yên Thế, và cuối cùng tuy nghĩa quân bị đánh bật ra khỏi căn cứ nhưng lực lượng vẫn được bảo toàn, vẫn tiếp tục gây cho địch nhiều thiệt hại đáng kể làm bè lũ chúng mất ăn mất ngủ suốt bao năm trường.

Trước tiên, Ga-li-ê-ni đem binh thuyền tuần phòng trên sông Thương giữa Lục Liễn và Bố Hạ để thắt chặt vòng quanh căn cứ nghĩa quân. Rồi ngày 4 tháng 10 năm 1895, toàn quyền Rút-sô ra nghị định sáp nhập sáu tổng của Yên Thế thượng, Vân Nam, Hương Ký, Tôn Liệt, Đạo Quan, Hữu Thượng và Nhã Nam vào Quân khu II, và giao việc bảo vệ đường xe lửa cho nhà binh. Ngày 7 tháng 10, Rút-sô lại gửi tối hậu thư cho Đề Thám, lời lẽ vô cùng xấc xược buộc cụ: "Phải đến trình Thống sứ và Khâm sai ở Bắc Ninh để nhận chỉ thị cần thiết”...1.

Không đợi nghĩa quân trả lời, ngay từ chiều hôm đó Ga-li-ê-ni đã thay thế các đơn vị khố xanh ở Bố Hạ và Nhã Nam bằng các đơn vị lính Pháp và khố đỏ đặt dưới quyền quan ba Gơ-ri-mô chỉ huy tiểu khu chợ Phổng.

Hôm sau (ngày 8-10), Ga-li-ê-ni gửi thư cho nghĩa quân báo việc thay thế trên và tuyên bố sẵn sàng ngăn cản nghĩa quân tràn về các vùng lân cận.

Về phía nghĩa quân, ta đã biết âm mưu địch từ lâu nên một mặt Đề Thám gửi thư ôn hòa phản kháng, một mặt tích cực phòng bị chuẩn bị kháng chiến. Chiến lược của nghĩa quân lúc này là tránh các cuộc chiến đấu trực diện với quân đội chính quy Pháp, đồng thời phái các toán quân lẻn về đồng bằng hoạt động quấy rối hậu phương địch. Ngày 10 tháng 10, nghĩa quân Đốc Thu phục kích đánh toán lính khố xanh và dõng của tòa sứ Bắc Giang ở Yên Tiên gần Bảo Lộc; ngày 13 tháng 10, một toán nghĩa quân khác do Thống Luận và Tổng Trụ chỉ huy xuất phát từ căn cứ Tam Đảo tấn công vào nhiều làng ở phủ Đa Phúc; ngày 17 tháng 10, nghĩa quân Đốc Thu lại tiến về phía đường xe lửa định phục kích chuyến tàu và tìm đường về Yên Thế, nhưng bị một toán lính khố xanh chặn đánh, hai bên giao chiến kịch liệt, địch phải phái lính tây có pháo binh trợ lực đến tiếp viện, nghĩa quân mới chịu rút. Trong lúc đó nhiều đồn canh bảo vệ đường xe lửa đoạn Phủ Lạng Thương - Bắc Lệ cũng bị nghĩa quân dồn dập tấn công.

Những hoạt động ráo riết của nghĩa quân như vậy đã gây cho địch nhiều thiệt hại đáng kể, và nhất là nghĩa quân luôn được nhân dân địa phương nhiệt liệt ủng hộ.
_______________________________
1. Trois colonnes au Tonkin - Galliéni - Chapelot Paris - 1899, tr. 99.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 04:38:18 PM

Để đối phó lại, địch tăng viện đội quân bảo vệ đường xe lửa và phái quân truy nã nghĩa quân Đốc Thu không cho đến gần đường; đồng thời kiểm soát chặt chẽ con đường Nhã Nam - Bố Hạ, chiếm đóng chùa Lục Giới, đốt trụi các làng xóm ven đường, tập trung dân cư trong đồn Bố Hạ - Nhã Nam, và vì lúc đó đang giữa mùa gặt nên chúng bắt dân tập trung cả thóc lúa mới gặt về đồn để khỏi tiếp tế nghĩa quân. Mặt phía tây, địch rút 150 lính lê dương và 300 lính khố đỏ của các đồn Lạng Sơn và Thất Khê để đóng giữ đồn Bố Hạ - Mỏ Trạng.

Mặt phía đông, địch điều từ Hà Nội lên một tiểu đội lính khố đỏ, một tiểu đội lính lê dương cùng với 50 lính khố đỏ ở Chợ Mới (Bắc Cạn) về chiếm giữ con đường Mỏ Trạng - Nhã Nam.

Thế là với trên một nghìn quân cả mới lẫn cũ từ Hà Nội, Đáp Cầu lên, từ Lạng Sơn, Thất Khê về, từ Bắc Cạn sang bao gồm đủ cả pháo binh, bộ binh, lê dương, khố đỏ, dõng... quân giặc đã khép chặt vòng vây quanh khu tam giác Nhã Nam - Bố Hạ - Mỏ Trạng.

Vòng vây đã thắt chặt, làng xóm hai bên đường đã đốt trụi, dân cư đã tập trung quanh đồn, Ga-li-ê-ni lại một lần nữa viết thư dụ hàng Đề Thám bắt rút khỏi Yên Thế và nộp vũ khí. Nhưng Đề Thám vẫn lần lữa tìm cách trì hoãn, trong khi đó thì các toán quân của Đốc Thu, Lãnh Túc, Thống Luận, Tổng Trụ vẫn hoạt động mạnh sau lưng địch. Địch càng lo củng cố phòng tuyến hơn nữa, làm thêm con đường Mỏ Trạng - Bố Hạ rộng 3 thước để kéo pháo, lại điều động 2 pháo thuyền Mu-loong (Moulun) Ac-cơ-buy-dơ (Arquebuse) và nhiều ca nô tuần tiễu thường xuyên trên sông Thương để ngăn cản nghĩa quân rút về xuôi.

Ngày 25 tháng 11, sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng, Ga-li-ê-ni lại hạ tối hậu thư buộc cụ Thám hàng không điều kiện, cụ thể là bắt nghĩa quân phải rút khỏi Yên Thế nộp toàn bộ vũ khí và bắt Đốc Thu, Lãnh Túc giao cho Pháp. Cũng như mọi lần trước, Đề Thám lại xin hoãn đến ngày khác sẽ trả lời. Kế hoãn binh của nghĩa quân lần này không còn hiệu lực nữa. Ga-li-ê-ni được lệnh trên cho phép đến ngày 29 tháng 11 là hạn cuối cùng, nếu Đề Thám không ra hàng sẽ tổng công kích. Đến 10 giờ sáng ngày 29 tháng 11 năm 1895, cuộc tổng công kích bắt đầu. Toán quân của đại úy Rơ-mông (Remond) thuộc đạo quân thứ ba trên đường Nhã Nam - Mỏ Trạng, tấn công pháo đài Lâm Du làm bị thương 3 lính khố đỏ. Đến trưa, toán quân của đại úy A-đơ-lin (Adeline) thuộc đạo quân thứ hai trên đường Bố Hạ - Nhã Nam, tấn công pháo đài Bãi Mẹt. Kết quả chết 1 lính Pháp, bị thương 3 lính khố đỏ. Nhưng cả hai đạo quân đều không chiếm được pháo đài nghĩa quân. Còn toán quân của đại úy Gơ-răng-mây-sơn (Grand Maison) thuộc đạo quân thứ nhất trên đường Mỏ Trạng - Bố Hạ tiến vào Bãi Mẹt và Hố Chuối (nơi đã xảy ra cuộc lưu huyết ở Hữu Nhuế năm 1891) cách căn cứ chính của nghĩa quân 50 thước. Đêm đến, cả ba đạo quân đều tập trung nghỉ luôn trên trận tuyến chờ sáng hôm sau tiếp tục tấn công.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 04:38:44 PM

Sáng hôm sau (ngày 30-11), súng lại nổ. Địch tiến công rất thận trọng sau các đợt đại bác yểm hộ. Nhưng đến trưa khi địch tiến vào pháo đài Lâm Du và Bãi Mẹt thì nghĩa quân đã rút hết từ sáng sớm, chỉ để lại vài mả mới đắp vội vàng và vỏ đạn rơi vãi khắp nơi. Địch ước lượng nghĩa quân chỉ chết độ 15 người và đoán rằng nghĩa quân đã rút lên phía tây chỗ tiếp giáp hai đạo quân thứ nhất và thứ hai gần Bố Hạ. Sau đó địch chia quân lùng quét khắp nơi nhưng không bắt được người nào. Suốt tháng 12 năm đó, địch ra sức khủng bố càn quét. Ga-li-ê-ni ra lệnh đặt thêm đồn bốt khắp vùng Yên Thế, và tới ngày 24 tháng 12 năm 1895, toàn quyền Rút-sô đặt Yên Thế vào khu nhà binh, do tên thiếu tá Rông-đô-ni (Rondony) cai quản.

Sau trận càn quét gay go này, một số tướng lĩnh nghĩa quân như Đốc Túc, Đốc Văn, Đốc Hy, Điều An phải ra hàng, bên cụ Thám chỉ còn Đốc Khế, Đốc Hậu và một số nghĩa quân. Phần lớn nghĩa quân một lần nữa phải phân tán, một bộ phận rút về triền núi Cai Kinh, một bộ phận chia nhiều tốp nhỏ di động linh hoạt trên địa hạt ba tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Thái Nguyên. Tuy vậy, nghĩa quân vẫn trà trộn trong dân chúng, và với sự ủng hộ của nhân dân, họ vẫn hoạt động ngay tại Yên Thế và các vùng lân cận, gây cho địch nhiều thiệt hại lớn: như trận đánh úp cánh quân của Rông-đô-ni ngày 6 tháng 1 năm 1896; trận Thụy Cầu ngày 20 tháng 2 năm 1896 khiến giám binh Buyếc-cơ-lê (Burklé) thiệt mạng; trận kịch chiến ngày 21 tháng 2 năm 1896 tại Trại Tre và Giốc Nghè (thuộc Yên Thế). Trận ngày 21 tháng 2, nghĩa quân do Đề Thám, Thống Luận, Đề Công, Tổng Trụ và Cả Dinh trực tiếp chỉ huy.

Từ đó nghĩa quân thường lưu động trong vùng Giốc Nghè và Tam Đảo. Để đối phó lại, quân giặc ra sức khủng bố dân chúng địa phương hòng phá vỡ cơ sở nghĩa quân. Một số đông chức dịch các làng bị đàn áp. Tuy vậy nghĩa quân vẫn tản mác trong các bản làng làm cho giặc Pháp khó lòng theo dõi. Trong thời gian này, hàng ngũ nghĩa quân cũng bị tổn thất nặng nề, một số chỉ huy vì hoàn cảnh bó buộc phải lần lượt ra hàng giặc như Đốc Khế, Đốc Hậu, Thống Luận. Nhưng sau đó, một số nghĩa quân của Đề Công ngày trước đang hoạt động biệt lập tại Quảng Nạp, đồn Đu và Yên Trạch đã gia nhập nghĩa quân. Lực lượng kháng chiến vì vậy lại mạnh hẳn lên và nghĩa quân đã thắng nhiều trận lớn, như các trận Hùng Sơn, Phổ Yên (Thái Nguyên), và hoạt động mạnh mẽ trên một khu vực rộng lớn bao gồm ba tỉnh Bắc Giang. Bắc Ninh, Phúc Yên.

Thấy lực lượng nghĩa quân ngày càng phát triển và quân Pháp thua luôn mấy trận, thống sứ Bắc Kỳ lại ra lệnh dùng đại quân càn quét. Cuộc càn quét tiến hành trong ba tháng 9, 10 và 11 năm 1897 nhưng địch vẫn luôn luôn bị động đối phó với những trận phục kích bất ngờ của nghĩa quân. Đến tháng 11 năm 1897, giặc Pháp lại nghĩ đến cách thương lượng với cụ Thám.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 04:39:16 PM

Từ khi bị đánh bật ra khỏi Yên Thế thượng, nghĩa quân thường hoạt động lẻ tẻ rải rác khắp địa hạt mấy tỉnh Thái Nguyên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang. Tuy địch bị tiêu hao, quấy rối, nhưng nghĩa quân tổn thất cũng không ít. Mất căn cứ địa, nghĩa quân phải trà trộn trong dân chúng và lưu động nay chỗ này mai chỗ khác, do đó vũ khí, quân số, lương thực bị hao hụt nhiều mà không bổ sung được. Đề Thám cũng bị thương trong trận Bến Trăm ngày 22 tháng 9 năm 1897, một số tướng lĩnh thiếu kiên trì cũng lần lượt đầu hàng giặc. Bản thân Đề Thám sau hai năm chiến đấu lưu động cũng thấy cần được nghỉ ngơi một thời gian dài đặng bồi dưỡng lực lượng.

Về phía thực dân Pháp, đến giai đoạn này tình hình cũng đã có chiều thay đổi lớn, buộc chúng phải cố gắng điều đình sớm ngày nào hay ngàv ấy.

Công cuộc bình định quân sự của chúng tính đến cuối năm 1897 về căn bản đã hoàn thành. Phong trào vũ trang khởi nghĩa của văn thân từ Nam chí Bắc sau khi Hàm Nghi xuất bôn và phát hịch Cần Vương đến nàm 1896 đã tàn lụi với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Sơn. Một số thổ quan địa phương nổi dậy ngay từ khi thực dân mới đặt chân lên đất nước ta tuy vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng chỉ còn đóng khung trong phạm vi nhỏ hẹp từng vùng và leo lét sắp tàn. Riêng còn lại cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Đế Thám lãnh đạo, liên miên kéo hết năm này sang năm khác, làm cho bè lũ thống trị bao phen thất điên bát đảo. Biện pháp đàn áp trắng trợn bằng quân sự đã tỏ ra bất lực trước tinh thần chiến đấu mãnh liệt của nghĩa quân Yên Thế, biết dựa vào hình thế hiểm yếu của núi rừng để áp dụng cơ động và linh hoạt chiến tranh du kích. Mọi mưu mô, dụ dỗ, mua chuộc của chúng trước sau đều vấp phải tinh thần cảnh giác và chí khí bất khuất của người chỉ huy có tài của nghĩa quân là Hoàng Hoa Thám.

Tình hình chính trị nước Pháp đến giai đoạn này cũng có những biến chuyển mới, buộc bè lũ thực dân tranh thủ đẩy mạnh khai thác thuộc địa. Trong những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển qua giai đoạn tột cùng của nó, giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Song song với sự phát triển thịnh vượng của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân Pháp ngày càng tập trung và trưởng thành, tập hợp được các phần tử tiên tiến gây thành một mối nguy cơ lớn cho nền thống trị của bọn độc quyền tư bản Pháp. Trước tình hình đó, một mặt các lực lượng bảo thủ phản động trong nước ngày càng liên minh chặt chẽ với nhau để đối phó với phe tả có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, giai cấp tư sản muốn khuếch trương thế lực bên ngoài làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh bên trong. Cho nên, đường lối chung của chúng trong thời gian này là củng cố hệ thống thuộc địa, tổ chức nền cai trị, bắt đầu chương trình khai thác đại quy mô, nhằm phát huy tác dụng của thuộc địa đối với kinh tế chính quốc. Nhất là qua cơn khủng hoảng 1892-1899, nhiều công ty độc quyền đã lớn mạnh hơn nhờ những công ty nhỏ bị phá sản, đang cần nguyên liệu để tăng thêm thiết bị và đẩy mạnh phát triển sản xuất.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 04:39:34 PM

Hơn thế nữa, đứng trước sự bành trướng thế lực của hai đế quốc Anh và Đức, đế quốc Pháp cũng lo củng cố hệ thống thuộc địa của mình để làm lực lượng dự trữ cho cuộc chiến tranh sinh tử giành giật thuộc địa sau này.

Trong hoàn cảnh đó, chính phủ Pháp cử Đu-me sang làm Toàn quyền Đông Dương (12-1896). Đu-me rất am hiểu tình hình Đông Dương vì đã từng giữ chức Thượng thư tài chính và là báo cáo viên những dự án luật thanh toán tài chính Bắc và Trung Kỳ trước nghị viện Pháp. Cho nên cử y sang, chính phủ và bọn đại tư bản Pháp đặt rất nhiều tin tưởng vào sự tháo vát và tài cần mẫn của y để giải quyết vấn đề kinh tế tài chính Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, và để mở ra một thời kỳ bóc lột mới, hòng biến Đông Dương thành một thuộc địa khai khẩn bậc nhất của đế quốc chủ nghĩa Pháp. Muốn thực hiện được các mục tiêu trên, công việc đầu tiên Đu-me thấy cần làm ngay là dàn xếp sao cho tình hình Việt Nam trở nên ổn định, tạo một không khí thuận lợi cho mọi công việc xây dựng, đầu tư khai thác.

Vì các lý do trên, nên sau cuộc kinh lý Bắc Giang, tháng 11 năm 1897, Đu-me nhờ giáo sư Tây Ban Nha là Vê-lát-cô làm môi giới thương thuyết với Đề Thám.

Sau nhiều lần trao đổi thư từ, gặp gỡ giữa đại biểu hai bên, đến đầu tháng 12 năm 1897 hai bên đình chiến nhưng mãi đến ngày 17 tháng 4 năm 1901, nghĩa quân mới chính thức làm lễ quy thuận tại Nhã Nam. Đến đây có thể xem như kết thúc giai đoạn thứ nhất của cuộc khởi nghĩa Yên Thế.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 04:40:30 PM

Câu hỏi 22: Chính sách kinh tế và cai trị của Pháp sau đình chiến thứ hai (12-1897)?
Trả lời:


Sau nhiều cuộc tấn công vô hiệu vào căn cứ nghĩa quân, đến tháng 12 năm 1897, thực dân Pháp lại mở cuộc thương lượng với Đề Thám. Toàn quyền Đu-me chủ trương giảng hòa sớm ngày nào hay ngày ấy để tạo không khí thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề kinh tế tài chính ở Việt Nam hiện đang rất trầm trọng vì chiến tranh liên miên và cho thực hiện chương trình đại công tác của y, hòng biến Việt Nam thành một thuộc địa khai khẩn bậc nhất của đế quốc Pháp.

Cho nên, ký kết đình chiến xong (12-1897) là bè lũ thực dân bắt tay ngay vào công việc. Căn cứ trên tình hình cụ thể của thuộc địa, Đu-me đề ra nhiều biện pháp giải quyết về mọi mặt. Về kinh tế tài chính có thể tóm tắt như sau:

1. Thiết lập một chế độ thuế khóa thích hợp với nhu cầu ngày càng lớn.

2. Chính sách kinh tế với một quy mô lớn để đẩy mạnh việc khai thác.

3. Phát triển công nghiệp, thương mại, nông nghiệp trong khuôn khổ một xứ thuộc địa khai khẩn.

Để bảo đảm sự thực hiện chính sách khai thác bóc lột nói trên, cần phải có ngân sách chung, nghĩa là cần thống nhất tài chính. Muốn vậy, trước tiên cần thống nhất lãnh đạo tập trung quyền hành vào một cơ quan tối cao có đủ quyền hạn giải quyết mọi việc và Đu-me lo cải tổ bộ máy cai trị mà chủ yếu phủ toàn quyền lâu nay chỉ có danh mà không có thực.

Công việc đầu tiên của Đu-me là tăng cường sự bóc lột nhân dân ta bằng cách đánh thuế nặng hơn và đặt thêm rất nhiều loại thuế mới, bắt đầu áp dụng từ ngày 1 tháng 7 năm 1897.

Trước tiên là các thuế trực thu. Để tăng thuế đinh, bọn thống trị Pháp, trước dư luận phản đối của nhân dân, đã tìm cách lừa bịp bằng cách bớt hạn đi phu từ 48 ngày trong một năm xuống còn 20 ngày, nhưng lại bắt trả 2 đồng nộp vào thuế thân. Tính trung bình mỗi người dân hàng năm phải nộp 10 quan tiền thuế, tương đương với 100 cân gạo. Dã man nhất là người chết vẫn không được miễn thuế, người sống phải đóng thay, vì thực dân Pháp bổ khoản cho từng làng phải thu đủ mức thuế ấn định. Còn lệ đi phu thì sau đó chúng có tuyên bố bãi bỏ nhưng lại ra một đạo luật "trưng dụng nhân công", đã là người dân Việt Nam phải đi lao dịch vô kỳ hạn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 04:41:12 PM

Một điểm đáng chú ý là: Trong khi nhân dân ta đóng thuế nặng nề và mỗi ngày một tăng như vậy, thì một người Pháp nếu lương đồng niên dưới 1.200 đồng thì lại được miễn thuế; thu hoạch quá con số kể trên cũng chỉ phải đóng có 10 đồng; nếu là bọn tư bản mỗi năm kiếm lời hàng triệu đồng cũng chỉ phải đóng nhiều nhất là 60 đồng ở Nam Kỳ hay 150 đồng ở các xứ khác thôi. Mục đích của chúng là khuyến khích tư bản Pháp đầu tư nhiều vào Việt Nam và khuyến khích cho nhiều người Pháp qua Đông Dương. Kết quả cụ thể của việc tăng thuế trực thu này là ngân sách hàng xứ thu được những món lời ngày một lớn.

Ngoài hai thứ thuế trực thu là đinh và điền, thực dân Pháp còn đặt hay sửa đổi nhiều thuế gián thu đem lại những số tiền rất lớn cho ngân sách. Chưa nói đến những loại thuế gián thu thứ yếu được gửi đổi lại như thuế tem, thuế trước bạ và cầm cố, thuế diêm, thuế quế..., lần lượt các ty rượu được thiết lập và bắt đầu hoạt động vào khoảng đầu tháng 7 năm 1897, ty muối vào khoảng tháng 9 năm 1897 và thuốc phiện khoảng năm 1898, mang lại cho ngân sách những món lợi lớn. Sự thịnh vượng của ngân sách Đông Dương, trong đó phần lớn là của Việt Nam, chủ yếu dựa trên ba món thuế đó. Chính nhờ những món lợi kếch sù này mà về sau, không những chính phủ Pháp đã không phải bù vào lỗ hổng trong ngân sách thuộc địa như mấy năm về trước nữa, trái lại mỗi khi cần tiền lại có thể nhờ vả.

Nói tóm lại, tính chung cả thuế gián thu và trực thu số tiền nhân dân Việt Nam phải nai lưng đóng sau khi Du-me sang lên đến hơn 90 triệu phật-lăng vàng. Nếu đem con số đó so sánh với con số thuế thu trước khi mất nước là 35 triệu, thì thấy rõ ràng mức độ tăng cường bóc lột vơ vét của thực dân Pháp.

Biện pháp đặt thêm nhiều thứ thuế mới nặng nề, Đu-me đã bóc lột tàn tệ các tầng lớp nhân dân trong nước. Sự phong phú của các loại thuế nói trên đã nói lên sự tàn bạo tham lam vô độ của thực dân Pháp, nhưng mặt khác cũng nói lên sự đói khổ cùng cực của nhân dân ta hồi đó.

Thực dân Pháp ngay từ lúc bắt đầu đánh chiếm Việt Nam đã tiến hành ráo riết việc chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Nhưng với Đu-me, việc chiếm đoạt đó càng được đẩy mạnh với tốc độ khủng khiếp hơn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 04:41:36 PM

Điều ước tháng 10 năm 1897 nêu rõ triều đình Huế nhường cho thực dân Pháp quyền khai khẩn đất hoang, là một "chứng thư" của bọn phong kiến cấp cho thực dân Pháp được tự do chiếm đoạt ruộng đất. Sau đó ở Trung Kỳ, việc chiếm đoạt ruộng đất nông dân được đẩy mạnh; những tên đại địa chủ như Lông-ba (Lombard), Đờ-mông-pho (De Montford), Pê-ri-nhông (Pérignon), mỗi tên đều chiếm một khu vực rộng. Trong liền hai năm 1897-1898, Pháp chiếm 60 ngàn mẫu tây; từ nay, Trung Kỳ trong thực tế là thuộc địa của Pháp như Nam Kỳ và Bắc Kỳ, và sau này khi vùng đất đỏ Tây Nguyên được tìm thấy thì sự chấp chiếm lại còn kịch liệt hơn. Tại Nam Kỳ, tiếp tục đà cũ, những tên đại địa chủ như Pôn E-mơ-ri (Paul Eméry), La-ba (Labat), Pô-rông-đô (Porong Do) và Li-ca (Lika), mỗi tên chiếm đoạt từ 2.000 đến 20.000 mẫu đất. Riêng ở Bắc Kỳ, thực dân ngày một thêm trắng trợn trong việc cướp đoạt ruộng đất của nông dân.

Đồng thời, cũng như trong giai đoạn trước, để tranh thủ sự giúp rập của giai cấp thống trị cũ trong nước, tức giai cấp địa chủ phong kiến, chúng thả sức cho bọn này chiếm đoạt ruộng đất của nông dân xiêu tán vì chiến tranh và của những phần tử tham gia kháng chiến; mặt khác thực dân còn khuyến khích địa chủ ra sức bóc lột thêm nhiều tô để có lúa xuất cảng kiếm lời. Đó là cách hay nhất của địch để dần dần buộc chặt quyền lợi địa chủ phong kiến với quyền lợi thực dân: cộng tác với địch, làm tề làm tổng cho chúng, bắt bớ người ái quốc trong làng...

Thêm vào đó còn có những bọn côn đồ lưu manh, du thủ du thực lợi dụng tình thế nhảy vào bợ đỡ quân cướp nước để vinh thân phì gia và tàn hại đồng bào, cũng được giặc cấp cho nhiều ruộng đất, càng làm tay sai đắc lực bao nhiêu càng được cấp nhiều ruộng bấy nhiêu.

Sau khi đã hoàn thành xong căn bản cuộc xâm lược, để tiến hành khai thác dễ dàng, trước hết thực dân Pháp phải làm một hệ thống đường giao thông cần thiết nối liền khu vực khai thác với các đô thị, phục vụ cho việc chuyên chở hàng hóa và nguyên liệu. Đến lúc Đu-me sang thì việc mở mang giao thông thủy, bộ đều được đẩy mạnh, về mặt giao thông đường thủy, các sông Hậu Giang, Đồng Nai (Nam Kỳ), Hồng Hà, Thái Bình (Bắc Kỳ) đã có tàu thủy chạy. Lại đào thêm nhiều kênh nối liền các hệ thống sông ngòi, tu bổ và thiết bị các hải cảng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 04:42:05 PM

Về đường bộ, nhiều đường rải đá nối liền các trung tâm kinh tế chính trị của thực dân. Đặc biệt ở Bắc Kỳ, các đường quân sự trên thượng du được làm rất nhiều, tổng số chi tiêu gần 5 triệu phờ-răng. Những đường này tuy làm ra với mục đích quân sự trong giai đoạn bình định, nhưng từ năm 1897 trở đi, với chính sách kinh tế mới của thực dân, chúng sẽ có một vai trò quan trọng trong việc khai thác miền thượng du Bắc Kỳ vô cùng giàu có. Ngoài ra còn nhiều tuyến đường khác quan trọng như Hà Nội - Cao Bằng; Việt Trì - Tuyên Quang.

Trong việc thiết lập đường sắt cũng như đường bộ, trở ngại và tốn kém nhất là việc đặt cầu sắt lớn qua sông. Đu-me đã lưu tâm bắc cầu qua sông Hồng, cầu sông Hương ở Huế, cầu Bình Lợi trên sông Bé ở Sài Gòn.

Song song với việc thiết lập hệ thống đường giao thông, từ năm 1897 trở đi việc cướp nguyên liệu ở Việt Nam càng đẩy mạnh. Ngân hàng Đông Dương, đại biểu quyền lợi cho bọn tư bản tài chính Pháp, thành lập từ năm 1873, lúc này đã bỏ vốn nắm quyền kinh doanh trong hầu hết các công ty khoáng chất và kim khí.

Tư bản Pháp rất hạn chế việc mở mang công nghệ. Sau nhà máy dệt Hà Nội lập từ năm 1894, mãi đến năm 1899 các nhà máy dệt Hải Phòng rồi Nam Định mới được thành lập. Sau đó một số xí nghiệp nhỏ khác cũng lần lượt được xây dựng.

Thực dân Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường độc chiếm của chúng. Tổng số hàng nhập khẩu tăng dần, đại bộ phận là của Pháp và thuộc địa Pháp. Từ năm 1902 đến năm 1906 nhập khẩu tăng hơn 420% so với thời kỳ từ 1897 đến 1901.

Tư bản chính quốc nhờ đó lời to mà tư bản Pháp ở Đông Dương cũng không kém lời vì chúng thu mua hàng I của Việt Nam để xuất cảng với giá rẻ mạt.

Hầu hết những mối lời về thương nghiệp ở Việt Nam đều do một số nhỏ tư bản thương mại Pháp nắm giữ, đó là những tập đoàn xuất khẩu cảng như các hãng Đơ-ni Phe-re, Bôi Lăng-đơ-ri, Poăng-sa Vây-rê, Đề-cua Ca-bô, công ty Mác-xây hải ngoại... Phần lớn bọn này đến kinh doanh tại Việt Nam từ hồi mới bị chiếm đóng. Chúng có mặt trên khắp các đô thị lớn và là bá chủ thị trường Việt Nam. Chúng đem hàng Pháp hay hàng ngoại quốc tung ra khắp hang cùng ngõ hẻm, đồng thời thu mua sản phẩm Việt Nam từ gạo, ngô, quế đến tre, gỗ...


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 10:36:53 PM

Câu hỏi 23: Tình hình bộ máy cai trị của thực dân ở Đông Dương từ khi Toàn quyền Đu-me sang?
Trả lời:


Thực tế có viên toàn quyền mà không có phủ Toàn quyền. Nói một cách khác, phủ Toàn quyền thiếu phần lớn các cơ quan cần thiết để thành một chính quyền theo đúng nghĩa của chữ đó, nghĩa là để giám sát chung mọi công việc của thuộc địa. Đối với sự thống nhất chính trị và kinh tế của Đông Dương lại có một sự phân tán các cơ quan chính quyền hàng xứ, bản thân các chính quyền đó đã rất yếu mà lại còn yếu thêm do sự yếu hèn của chính quyền liên bang.

Trước tình hình hỗn độn đó, Đu-me kiên quyết không đặc trách riêng một xứ nào mà quán xuyến chung và có biện pháp giải quyết cụ thể. Trước hết y đề nghị chính phủ Pháp cho tái lập phủ Thống sứ Bắc Kỳ, cho mỗi xứ trong liên bang một bộ máy cai trị riêng, toàn thực quyền trong tay.

Muốn vậy trước tiên cần nắm chắc kinh tế tài chính, Đu-me đã phân biệt ngân sách liên bang thuộc quyền xử lý của toàn quyền với ngân sách hàng xứ.

Nghị định ngày 3 tháng 7 năm 1898 quy định sự thành lập ngân sách chung và thiết lập ở Đông Dương một tổ chức tài chính mới. Đồng thời chúng tiến hành việc thành lập ở Nam và Bắc Kỳ các phòng Thương mại và phòng Canh nông, ở Trung Kỳ và Cao Miên các phòng Thương mại - Canh nông hợp nhất, để cuối cùng thành lập Đại hội đồng Đông Dương dưới quyền chủ tọa của toàn quyền. Ngân sách chung cho liên bang và các ngân sách hàng xứ đều do toàn quyền thông qua, sau khi hỏi ý kiến Đại hội đồng. Ngoài ra, Đại hội đồng còn góp ý kiến về các điều khoản sửa đổi luật pháp và mọi vấn đề quan trọng khác do toàn quyền đưa ra thảo luận. Trong thời gian giữa hai kỳ họp có một ban thường trực bên cạnh toàn quyền để góp ý kiến về mọi việc chi tiêu ngân sách, chương trình công tác bất thường. Tổ chức mới đó đã tập hợp lại những thực dân đầu sỏ và tay sai trung thành bậc nhất của chúng để cùng nhau thảo luận kế hoạch cai trị, bóc lột nhân dân đắc lực hơn, có hệ thống hơn, có phối hợp hơn.

Tiếp theo đó là việc thành lập các Nha phụ trách các ngành công tác chung toàn liên bang (Thương chính, Canh nông và Thương mại, Tư pháp, Công chính, Bưu điện, Ngân khố, Giám đốc Dân chính).


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 10:37:21 PM

Đồng thời với việc thành lập các cơ quan trung ương, tổ chức cai trị các xứ cũng được quy định chặt chẽ; quyền hạn của các Hội đồng quản hạt, Hội đồng tư vấn ở Nam Kỳ, các Hội đồng bảo hộ ở Trung và Bắc Kỳ (đến ngày 9-3-1913 đổi tên là Hội đồng dân biểu) được xác định rõ ràng, mối liên hệ giữa cơ quan các xứ với các nha đều được quy định cụ thể.

Ở Bắc Kỳ, đến giữa năm 1897, thấy rằng phong trào Cần Vương đã bị dập tắt trong căn bản, việc duy trì chức vụ và quyền hạn của viên kinh lược, mặc dù chức vụ này rất phụ thuộc và quyền hạn này là tối thiểu, chỉ là một trở ngại cho chủ trương thống nhất lãnh đạo tập trung quyền hạn về phủ Toàn quyền, thực dân bắt Bửu Lân (Thành Thái) bãi chức đó giao cho thống sứ Bắc Kỳ kiêm lĩnh, nguyên kinh lược Hoàng Cao Khải - tay chân của Đu-me được đổi về Huế giữ chức Phụ chính đại thần để tiện bề giám sát nhà vua.

Ở Trung Kỳ, đến tháng 9 năm 1897, lấy cớ vua Thành Thái đã lớn tuổi, thực dân bãi bỏ Hội đồng phụ chính. Viện Cơ mật đổi thành Hội đồng thượng thư do chính tên khâm sứ chủ tọa; các quyết nghị của Hội đồng phải được sự đồng ý của khâm sứ rồi mới trình lên nhà vua để thi hành.

Mặt khác, Đu-me còn dùng áp lực bắt vua Thành Thái nhường cho thực dân quyền khai khẩn đất hoang ở Trung Kỳ, giao toàn quyền Đông Dương được quyền sử dụng đất hoang. Như vậy chúng đã đi sâu thêm bước nữa trong việc tước đoạt chủ quyền của triều đình và sau đó tha hồ chiếm hữu ruộng đất của nhân dân toàn quốc. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 1899, thực dân lại giành luôn quyền thu thuế từ trước đến nay còn nằm trong tay triều đình. Từ nay thực dân trực tiếp thu thuế và chỉ giao nộp số tiền đủ trả lương nhà vua, triều đình và quan lại mà thôi.

Đu-me đã chấm dứt tình trạng địa phương độc lập mà tập trung quyền cai trị về trung ương. Chính nhờ những sửa đổi của Đu-me mà quyền hành bọn thủ hiến ba kỳ càng được tăng cường, chính sách cai trị, bóc lột của thực dân từ nay càng được thi hành trọn vẹn và có đường lối chung, có phối hợp chặt chẽ từ trên xuống dưới, lợi cho thực dân bao nhiêu lại càng tai hại cho nhân dân ta bấy nhiêu.

Với chính sách chia để trị áp dụng triệt để như vậy Đu-me đã cắt nước ta thành ba bộ phận riêng biệt, mỗi bộ phận có một chế độ chính trị khác nhau, một thuộc địa do Pháp trực tiếp cai trị; Bắc Kỳ trở thành một bán thuộc địa còn Trung Kỳ danh nghĩa là một xứ bảo hộ nhưng trong thực tế cũng không khác gì một thuộc địa. Triều đình Huế tuy còn nhưng không có một chút thực quyền.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Hai, 2017, 10:37:41 PM

Trước đây, năm 1884, vì sợ sự phản ứng của nhân dân, nhất là của tầng lớp sĩ phu và cánh kháng chiến trong triều, mà thực dân phải thừa nhận trong một phạm vi nào quyền hạn của phong kiến đầu hàng. Nhưng nay phong trào Cần Vương đã bị dập tắt, thực dân không ngần ngại gì không thủ tiêu những quyền hạn ít ỏi còn sót lại của phong kiến đầu hàng để tập trung quyền hành vào chúng. Trong thực tế, Việt Nam đã hoàn toàn trở thành thuộc địa Pháp.

Cuối cùng, cần thấy rằng để phụ trách các chức vụ trong bộ máy cai trị cồng kềnh và nặng nề này, thực dân Pháp đã tuyển rất đông công chức từ chính quốc sang. Ngay những công tác rất tầm thường như đoan, cảnh sát, sen đầm cũng lấy người Pháp. Bọn cầm quyền chính quốc thông đồng với bọn cầm quyền thuộc địa để sắp đặt công ăn việc làm cho tay chân chúng. Một tên toàn quyền mới sang nhận chức là cả bè lũ của nó cũng lục tục kéo sang kiếm ăn. Bọn này lương cao nên chi phí về việc lương bổng công chức người Pháp đã chiếm một phần rất lớn trong ngân sách. Do đó, ta thấy rõ tính chất trọng lộc và trọng lợi trong chính sách thuộc địa của Pháp, nhất là từ Đu-me về sau, ngày càng trầm trọng.

Chúng cố gây mâu thuẫn giữa người vùng này với vùng khác, thiểu số với đa số, binh chủng này với binh chủng khác. Ngoài ra còn chia rẽ binh lính với nhân dân, dung túng binh lính làm càn, nhũng nhiễu dân; vì vậy một hố sâu đã ngăn cách đôi bên, có lợi cho giặc. Ngoài các thủ đoạn trên, thực dân Pháp còn tiến hành từng bước thận trọng và chắc chắn việc thắt chặt vòng vây và điều tra dò xét căn cứ địa nghĩa quân.

Tại Yên Thế, chúng xây thêm các đồn Mỏ Trạng, Na Lương, Bố Hạ, Kép, chợ Phổng, chợ Tràng, Luộc Hạ, Bằng Cục, Bỉ Nội... tạo thành một hệ thống lô cốt bao vây Phồn Xương, là đại bản doanh của nghĩa quân. Mặt khác, viện cớ cần phát triển thông thương buôn bán, chúng xin cụ Thám cho mở đường Bố Hạ, cầu Gồ đi Mỏ Trạng, rồi đường Nhã Nam đi cầu Gồ chạy trước cổng đồn Phồn Xương, tạo cơ hội phái tay sai len lỏi đi sâu vào các nơi nghĩa quân đóng để vẽ bản đồ quân sự. Chúng còn buộc mẹt quét vôi trắng lên ngọn sào dài cắm lên đỉnh đồi cao hay buộc lên ngọn cây chỉ điểm cho quân lính. Do đó sau này, khi chiến sự tái diễn, chúng đã khá thông thuộc đường lối và pháo binh chúng đã hoạt động khá hiệu quả.

Cuối cùng lợi dụng việc đi lại dễ dàng, chúng đẩy mạnh gặp gỡ nghĩa quân và vận động họ ra hàng giặc. Chúng đưa ra những tấm "các" in sẵn và dặn trước khi nào Tây tấn công vào, ai có "các" sẽ không bị giết mà còn được thưởng. Công cuộc "tác động tinh thần" đó của địch không phải không có kết quả và đã phần nào làm cho một số nghĩa quân hoang mang dao động, chưa chiến đấu mà tư tưởng đầu hàng đã chớm nở... Đu-me đã đặt nền móng lâu dài cho một cơ sở thống trị chặt chẽ. Những tên toàn quyền kế tục y đều tôn trọng hệ thống tổ chức đó, chỉ lo sao củng cố ngày thêm vững chắc và bổ sung về chi tiết để bộ máy cai trị chạy đều trên xương máu nhân dân thuộc địa.

Chính sách cai trị đặt cơ sở trên sự khủng bố tàn bạo, chia rẽ thâm độc, phỉnh phờ xảo trá, mua chuộc trắng trợn được tiếp tục mãi sau này.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 09:44:01 AM

Câu hỏi 24: Tình hình nghĩa quân Yên Thế trong thời gian đình chiến lần thứ hai (1897 - 1909)?
Trả lời:


Về quân sự, sau khi đình chiến, Đề Thám ra sức chiêu mộ nhân dân các nơi về làm ruộng tại đồn điền Phồn Xương. Bên ngoài, đó chỉ là những nông dân yên ổn làm ăn để che mắt cú vọ của giặc và tay sai. Nhưng bên trong đó đều là những nghĩa quân thường trực sẵn sàng cầm súng chiến đấu bất kỳ lúc nào. Đội quân thường trực thoát ly sản xuất ở địa phương lên ở ngay trên đồn. Họ có quân phục tuy không thống nhất vì toàn là quân phục cướp được của địch (quần áo lính khố xanh, khố vàng hay khố đỏ; mũ chào mào hay nón sơn; quần áo chàm, áo nâu gọn ghẽ và chít khăn nhiễu tím hay đỏ), và có quân phong, quân kỷ hẳn hoi. Số quân thường trực này lúc đầu cụ Thám nhận với Pháp chỉ có 25 người theo bản ký kết đình chiến tháng 12 năm 1897 nhưng trong thực tế mỗi ngày một tăng rất đông.

Bên cạnh đó là bộ phận quân dự bị không thoát ly, không có quân phục, thường ngày làm ăn ở các địa phương, khi nào có giặc mới tập trung đi chiến đấu. Bộ phận này rất đông, bao gồm hầu hết trai tráng khỏe mạnh các làng, được phát một số vũ khí để có thể kịp thời chiến đấu khi cần. Có khi tình hình căng thẳng, số quân dự bị này mỗi lúc ra ruộng cày đều giấu súng trên bờ đề phòng bất trắc.

Nghĩa quân bất kỳ ở bộ phận thường trực hay dự bị đều được tuyển lựa kỹ càng trong số thanh niên trai tráng địa phương hoặc trong số thanh niên hăng hái các làng vùng xuôi bí mật lên Yên Thế gia nhập nghĩa quân. Họ còn là nghĩa quân cũ của các nhóm Cần Vương các nơi tụ họp về, là binh lính địch đào ngũ sau mỗi kỳ thất trận. Ai muốn gia nhập nghĩa quân đều trải qua lao động thử thách (như năm đầu đi chăn trâu, cắt cỏ; năm thứ hai đi cày ruộng) cho tới khi có sức khỏe và tinh thần chịu đựng khó nhọc mới được tuyển lựa. Lúc đầu được phát súng xấu cho canh gác một thời gian, sau mới được phát súng tốt chính thức công nhận là quân cụ Đề. Có người không chịu nổi thử thách phải xin về. Cũng có một số có quá trình rèn luyện chiến đấu trong các đội quân kháng Pháp trước đây thì được nhập ngũ ngay.

Một điều đáng chú ý là mặc dù trong quân ngũ có những chỉ huy xuất sắc là phụ nữ như bà Ba Cẩn được Đề Thám rất tín nhiệm thường cho dự bàn việc quân cơ, nhưng không tổ chức nữ tướng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 09:44:24 AM

Đặc biệt nữa là trong số nghĩa quân hầu như không có mặt sĩ phu học trò mà Đề Thám thường gọi là "những người áo dài". Theo nhân dân địa phương kể lại, cụ thường cho rằng hạng người này thường không chịu được gian khổ thiếu thốn, không chiến đấu được dẻo dai bền bỉ, do đó dễ phản bội. Có nhiều người xuất thân học trò tìm đến xin gia nhập nghĩa quân đều bị từ chối, dù chỉ xin phép việc ghi chép ở văn phòng cũng không được nhận. Đây là một biểu hiện của chính sách dùng người hẹp hòi của Đề Thám khiến phong trào không thu hút được các phần tử sĩ phu đang có một vai trò rất quan trọng trong việc truyền bá tư tưởng ái quốc vào nhân dân hồi đầu thế kỷ XX.

Về kỹ thuật tác chiến, nghĩa quân được tập rất cẩn thận, nhất là tập bắn. Trong thời gian đình chiến, nghĩa quân không lập xưởng chế khí giới nào, chỉ có lò rèn sửa chữa súng ống và đúc đạn chì quy mô rất nhỏ. Nguồn cung cấp vũ khí phần lớn trông vào "cướp súng giặc giết giặc", một phần mua của Trung Quốc, nhưng hồi này nguồn cung cấp vũ khí này bị hạn chế rất nhiều vì thực dân Pháp cho đồn canh dọc biên giới, kiểm soát vô cùng nghiêm ngặt. Vì vậy, để tiết kiệm đạn, mỗi khi ra trận thực hiện khẩu hiệu "mỗi phát đạn một tên giặc", nghĩa quân rất chú trọng tập bắn. Thường xuyên có tổ chức bắn bia, có nhiều người nói nghĩa quân chỉ dùng nỏ để bắn bia cho đỡ tốn đạn; đôi khi có tổ chức bắn thi bằng súng. Hiện nay vẫn còn di tích những bãi bắn bia của nghĩa quân ở Mỏ Trạng, An Đông. Nhờ tập bắn chu đáo, nghĩa quân bắn rất giỏi, mỗi tay súng nghĩa quân là mối lo sợ cho địch. Tướng lĩnh nghĩa quân có nhiều người bắn giỏi như Cả Trọng, Cả Dinh...

Đề Thám nghiêm cấm quân lính không được chòng ghẹo phụ nữ. Ở các đồn trại đều có trại giam, có đủ gông cùm để trừng phạt những nghĩa quân làm bậy. Nhân dân vùng Yên Thế, Việt Yên hiện nay còn truyền tụng những đức tính tốt của quân cụ Đề. Tuy vậy, phương pháp giáo dục kỷ luật của Đề Thám phần nhiều dựa vào roi vọt, cùm kẹp, nhẹ về nâng cao trình độ giác ngộ, nên tại những đồn lẻ, nhất là những khi thất trận, vẫn không tránh khỏi có những hiện tượng hà hiếp cướp bóc nhân dân.

Vũ khí của nghĩa quân phần lớn là súng kiểu 1874 của Tây (Lebel, Gras, gióp năm, gióp ba, cò quip, cò tràng), một số súng Trung Quốc và nhiều nhất là súng kíp thô sơ do nhân dân tự chế. Ngoài ra còn mã tấu, giáo mác, nhưng không có tạc đạn, liên thanh. Pháo binh, kỵ binh hoàn toàn không có. Công sự phòng thủ là những đồn trại quy mô lớn, như đồn Phồn Xương là nơi Đề Thám đặt bản doanh, chung quanh có tường lũy bao bọc dày 2 thước, cao đến 4,5 thước. Ngoài tường có hào sâu và hố chông. Ngoài đồn chính còn rất nhiều các ụ tác chiến ngầm, thấp hơn mặt đất, ẩn kín sau các bụi rậm. Đại cương hệ thống phòng thủ ở Phồn Xương cũng không khác căn cứ Hữu Nhuế năm 1891. Trừ những khu vực tác chiến ở sâu trong rừng do các nghĩa quân tin cẩn xây dựng, còn đồn chính Phồn Xương do nhân dân các xã góp người lên hợp lực với nghĩa quân, mỗi làng phụ trách xây dựng một phần toàn hệ thống đồn lũy. Nếu làm xấu không những làm lại mà còn bị phạt. Hình thức phạt là phải giết lợn đem lên khao các làng làm giỏi, làm khá.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 09:44:42 AM

Về kinh tế, để có đủ lương thực cho nghĩa quân, trong thời kỳ đình chiến lần thứ hai, Đề Thám rất chú trọng khai khẩn đất ruộng. Như trên đã nói, cụ cho người về xuôi mộ thanh niên trai tráng nghèo khổ lên chia ruộng vừa làm kế sinh nhai, vừa để thử thách tinh thần chịu đựng gian khổ trước khi được gia nhập nghĩa quân. Ngay đối với đội quân chính thức, trừ một số ít thường trực giữ lại trên đồn, cụ cũng phái một số đơn vị chia nhau làm ruộng, vừa để sản xuất, tích trữ lương thực, vừa để che mắt giặc, ở trại Cọ, nghĩa quân cấy đến vài chục mẫu ruộng. Nghĩa quân đều được cấp trâu và nông cụ.

Trong những năm đầu đình chiến lần thứ hai, nhân dân bốn tổng thuộc phạm vi nghĩa quân cai quản không phải nộp thuế má gì cả. Mãi mấy năm sau mới nộp để nghĩa quân có tiền lương và lương thực củng cố đội ngũ chống lại âm mưu phản trắc của quân thù. Hiện nay không còn ai nhớ mức thuế ở Yên Thế hồi đó là bao nhiêu. Có một điều chắc chắn là trong 10 năm đình chiến nhờ được mùa luôn và nhất là vì có cảm tình sâu sắc với nghĩa quân nên nhân dân địa phương rất sốt sắng nộp thuế và thường xuyên tiếp tế lương thực cho nghĩa quân. Khi giáp hạt, nhân dân thiếu thóc ăn, đều được Đề Thám lấy thóc kho cho vay. Những khi nghĩa quân xây đồn đắp lũy, nhân dân phải cử người lên làm, nếu kêu ca điều gì, cụ đều giải thích cặn kẽ. Đến vụ gặt, vụ cấy, mỗi làng cử ba đến bốn người lên giúp việc trên đồn một ngày, tuy không trả công nhưng đều được tiếp đãi ăn uống đầy đủ.

Về chính trị, tổ chức thôn xã không có gì khác trước. Các chánh tổng, lý trưởng ở các xã đều do Đề Thám cử ra. Làng nào tín nhiệm được phát súng để bảo vệ (như làng Luộc Giới được phát 4 khẩu). Đối với bọn thổ phỉ giặc cướp Đề Thám thẳng tay trừng trị để trừ hại cho nhân dân. Như phái Đốc Khế, Đốc Dinh, Đốc Đang, Cai Cờ về Ngô Xá trừ bọn Đề Xếp đã cướp bóc hà hiếp nhân dân. Ngay trong hàng ngũ nghĩa quân có người phạm tội cướp của, chòng ghẹo phụ nữ, cụ cũng không tha.

Đặc biệt đối với tôn giáo, Đề Thám sai làm rất nhiều đình chùa và cả nhà thờ nữa. Như đình chùa các làng Trũng, Luộc Giới, Dĩnh Thép, Phồn Xương, Đa, Sậy, Lèo, Hả, Cao Thượng, Lan, Bằng Cục, Hoàng Mai; làm miếu thờ ông Đại Trận ở Ngọc Lý, nhà thờ Trũng, Bỉ Nội, Khánh Giàng. Đề Thám thường đi lại các đình chùa, nhà thờ lễ bái và thăm hỏi các tín đồ. Trong lúc đó giặc Pháp đến đâu thì bắt nhân dân phá đình chùa để lấy gạch gỗ xây đồn bốt. Như phá đình và chùa làng Hả để xây đồn Luộc Hạ, phá chùa Cao Thượng để xây đồn Nhã Nam. Nhân dân bên lương cũng như bên giáo càng gắn bó với lãnh tụ nghĩa quân, tin tưởng vào công việc của Đề Thám. Đương thời có nhiều điều mê tín dị đoan như dân bên lương nói cụ có thần hổ, tướng hổ đi theo phù hộ, được Đức ông chùa Lèo báo mộng biết trước việc xảy ra; dân bên giáo lại nói cụ được chúa ban phúc lành. Sau này, trong trận Ngàn Ván, Đề Thám bị vây chặt nhưng nhờ trời mưa to nên thoát được, đồng bào lương cũng như giáo càng thêm tin rằng cụ có thần hay chúa phù hộ. Dù đó là những nhược điểm của một phong trào nông dân nhiễm màu sắc tôn giáo mê tín dị đoan, mặt khác cũng nói lên được lòng yêu nước, tin yêu lãnh tụ của nhân dân, đồng thời cũng chứng minh chính sách tôn giáo khôn khéo của Đề Thám hồi đó.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:32:57 PM

Câu hỏi 25: Đề Thám đã mỏ rộng thế lực nghĩa quân bằng cách nào? Vụ đầu độc ở Hà Thành đã khiến cho hàng nghìn binh lính Tây bị ngô độc diễn ra như thế nào?
Trả lời:


Trước sự biến chuyển của thời thế do những điều kiện lịch sử, Đề Thám phần nào cũng thấy rằng không thể cứ thủ hiểm hùng cứ một nơi mà làm nên việc lớn được. Cho nên bọn thực dân nhiều lần đưa thư phản kháng, Đề Thám vẫn ngầm sai người đi các nơi phát triển thế lực của nghĩa quân, Cả Dinh và một số tướng lĩnh khác đều được phái sang các tỉnh Tuyên Quang, Phúc Yên, Thái Nguyên gây cơ sở mới. Hai Nôm - một thủ lĩnh nghĩa quân vùng Phúc Yên, tuy về danh nghĩa đã sát nhập nghĩa quân Yên Thế, nhưng vẫn được Đề Thám cho ở lại Phúc Yên tiếp tục hoạt động. Các nhóm nghĩa quân của Đề Nguyên, Đề Công vẫn có bộ phận ở lại bí mật hoạt động ở vùng núi Tam Đảo. Năm 1909, khi bị Pháp đánh bật khỏi Yên Thế, nghĩa quân có thể kéo dài cuộc cầm cự suốt mấy tỉnh Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên, chính là nhờ những cơ sở đã được tổ chức từ thời kỳ đình chiến.

Mặt khác, sau khi các căn cứ kháng Pháp ở các nơi đều bị đánh tan và giữa cao trào cách mạng đầu thế kỷ XX, Yên Thế cũng được coi như một pháo đài vững chắc nhất, là một vị trí tiền tiêu chống đế quốc Pháp. Giang sơn Đề Thám là nơi lui tới của các bậc chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiêm, Nguyễn Văn Cẩn (tức Kỳ Đồng)... Nhưng đối với cánh sĩ phu có khuynh hướng cải lương, tiêu biểu là Phan Chu Trinh thì cuộc kết giao không được mật thiết lắm. Một phần cũng do thành kiến hẹp hòi đối với "người áo dài" của Đề Thám, nhưng phần chủ yếu là do chủ trương "chớ bạo động, bạo động thì chết” của Phan Chu Trinh không thể hòa hợp với đường lối đấu tranh vũ trang của Đề Thám được. Dưới mắt Phan Chu Trinh, Đề Thám không phải là người cùng một chí hướng, chỉ là con hùm quanh quẩn trong rừng xanh mà thôi, không nhìn được xa, không trông được rộng. Nên tuy Phan Chu Trinh đã từng lên Yên Thế, ở lại một thời gian và đã nhiều phen luận bàn thời cuộc với Đề Thám, cuối cùng cũng không đem lại kết quả gì.

Riêng đối với cánh sĩ phu có khuynh hướng bạo động như Phan Bội Châu, cuộc kết giao có phần tâm đầu ý hợp hơn.

Từ mùa thu năm 1902, Phan Bội Châu đã cử Tán Quỳnh và một người học trò đến Phồn Xương xin yết kiến Đế Thám nhưng không gặp. Tháng 11 năm ấy nhân mượn cớ xem hội khánh thành cầu Long Biên, cụ Phan thân đến Phồn Xương xin yết kiến. Lần này cụ ở lại trong đồn 10 ngày, nhưng Đề Thám mệt nên cử Cả Trọng tiếp thay. Cuộc hội kiến đem lại kết quả là Đề Thám hứa sẵn sàng hưởng ứng nếu Trung Kỳ nổi dậy và khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:34:44 PM

Quy mô đồn trại nghĩa quân và danh tiếng Đề Thám khiến Phan Bội Châu rất thán phục:

"... Trước kia cũng có người ở Nghệ Tĩnh ra Bắc khi trở về cũng có nói đến công việc Hoàng tướng quân, nhưng thực ra chưa người nào đi sâu vào nội dung cả; đến khi tôi vào đồn xem khắp đồn trại mới biết mệnh lệnh của Hoàng tướng quân thi hành ở mấy huyện trên thượng du không khác gì một tiểu khu độc lập sau khi nước ta đã mất. Ông Hoàng xuất thân nghèo hèn, trước phải đi ở chăn trâu, sau vào Đảng Cần Vương sung vào hàng ngũ chiến đấu, vì lập được nhiều chiến công nên thăng dần lên Đề đốc, đã mấy lần ông Hoàng đánh bại được quân Pháp, người Pháp dùng trăm kế dụ dỗ nhưng ông nhất định không chịu khuất phục... Chiến dịch năm Dậu, năm Tuất (1897-1898), thanh danh của ông vang dội các nước Âu - Á, nếu ức vạn nhân dân ta lúc bấy giờ cũng muôn người một lòng thì có khó gì mà ông chả làm được như Hoa Thịnh Đốn1, Gia Lý Ba Đích2.

Tháng 12 năm 1906, cụ Phan ở Nhật về được Đề Công giới thiệu vào yết kiến Hoàng Hoa Thám. Lần này cụ phan được tiếp đón long trọng, Đề Thám mở tiệc chiêu đãi giữ ở lại Phồn Xương hơn 10 ngày. Hai bên hội đàm đi đến kết quả sau:

- Đề Thám gia nhập Duy Tân hội.
- Những nghĩa sĩ Trung Kỳ bị truy nã trốn ra Bắc được ẩn náu ở Phồn Xương.
- Yên Thế khởi quân ứng viện nếu Trung Kỳ khởi nghĩa.
- Trung Kỳ nổi lên viện trợ nếu Phồn Xương bị tấn công.
- Duy Tân hội giúp về mặt ngoại viện cho Yên Thế.
- Duy Tân hội phải hết sức giúp đỡ nếu Phồn Xương thiếu quân.

Và cũng từ đó Đề Thám dành một quả núi sau đồn làm căn cứ địa cho nghĩa sĩ Trung Kỳ trốn ra Bắc, đặt tên là đồn Tú Nghệ.

Sau khi phong trào chống thuế năm 1908 bị khủng bố dữ dội, nhiều chiến sĩ cách mạng Trung Kỳ đã ra ẩn náu ở đồn Tú Nghệ như Tùng Nham, Hoàng Hành.

Tháng 8 năm 1908, lính khố xanh xung đột với một toán nghĩa quân trong địa hạt Phúc Yên, hai nghĩa quân bị hy sinh, địch khám phá ra là thủ hạ của Đề Thám.

Tại Thanh Hóa, tên giám binh khố xanh suýt bị ám sát cũng với một thủ hạ của Đề Thám. Một vụ ám sát tương tự cũng xảy ra ở Nhã Nam, đội khố xanh A-la-van (Alavall) suýt bỏ mạng.
_________________________________
1. Washington 1732-1799 người Mỹ.
2. Garibaldi 1807-1882 người Ý.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:35:44 PM

Trong những năm 1907-1908, nghĩa quân không bó hẹp hoạt động trong vùng Yên Thế, mà chủ động mở rộng địa bàn về vùng đồng bằng và đô thị, vũ trang tiêu diệt địch ở nhiều nơi, trong đó nổi bật là tham gia vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội.

Đầu năm 1907, Đề Thám có dính líu đến vụ âm mưu nổi loạn của lính khố đỏ ở Bắc Ninh và Nam Định. Nhất là trong vụ đầu độc Hà Thành tháng 6 năm 1908, Đề Thám và bà Ba Cẩn đã có một vai trò quan trọng.

Nghĩa quân Yên Thế tham gia vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (1908). Cuộc đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội tháng 6 năm 1908 là một sự kiện có ý nghĩa chính trị, quân sự. Đây là cuộc bạo động nổ ra ở Hà Nội - đầu não của cả thuộc địa Đông Dương, đánh ngay vào lực lượng vũ trang chủ chốt của thực dân Pháp là sĩ quan, binh lính trung đoàn pháo binh 4 và trung đoàn bộ binh 9 quân thuộc địa Pháp. Tham gia cuộc bạo động gồm đại diện của nhiều tổ chức chính trị, quân sự: một số yếu nhân của phong trào Đông Du, Duy Tân như Nguyễn Quyền, Phan Tuấn Phong...; một số nhà quân sự thuộc nghĩa quân Đề Thám; những binh lính người Việt trong quân đội Pháp được giác ngộ; một số trí thức, tiểu tư sản, tiểu thương, kể cả phụ nữ ở Thủ đô Hà Nội.

Theo nhiều người kể lại thì do sáng kiến của bà Ba Cẩn, một tổ chức bí mật nhằm liên kết những ngươi hoạt động chống Pháp ở Hà Nội được thành lập, đặt tên là đảng Nghĩa Hưng. Chính bà đã bắt liên lạc và tổ chức được Nguyễn Văn Phúc tức lang Seo là một thầy bói ở phố Hàng Buồm (Hà Nội) vào hội bí mật này. Lang Seo lại tuyên truyền được nhiều thầy bói ở Cửa Nam tham gia công cuộc chuẩn bị đầu độc bằng cách dùng bói toán, đoán vận mệnh để tập hợp anh em lính khố đỏ. Những yếu nhân của đảng Nghĩa Hưng lúc bấy giờ là Chánh Tĩnh tức Chánh Song, Nguyễn Viết Hanh tức Đội Hổ trước làm đội khố đỏ, về sau làm cai đồn điền của tên Gi-la ở Yên Thế1, Lý Nho là cựu lý trưởng một làng ngoại thành Hà Nội. Đảng Nghĩa Hưng không phải là một chính đảng cách mạng có chính cương điều lệ, chỉ là một tổ chức bí mật nhằm liên kết những người yêu nước hoạt động chống Pháp mà thôi.
__________________________________
1. Khi vụ đầu độc bị khám phá, Đội Hổ bỏ trốn lên Phồn Xương tham gia nghĩa quân, về sau hy sinh trong một trận chống càn ở Phúc Yên tháng 7 năm 1909.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:36:51 PM

Tháng 7 năm 1907, đảng Nghĩa Hưng liên lạc được với một số anh em lính khố đỏ ở Hà Nội như Nguyễn Trí Bình tức Đội Bình, Dương Bê tức Nguyễn Văn Cốc (Đội Cốc), Đặng Đình Nhân tức Đội Nhân và Nguyễn Đức A tức Cai Nga.

Họ đã họp nhiều lần ở nhà lang Seo bàn kế hoạch bạo động đánh chiếm Hà Nội, mà lực lượng chính là dựa vào anh em binh lính người Việt trong quân đội Pháp - Nhật. Kế hoạch bạo động định vào trung tuần tháng 11 năm 1907, nhưng sau lại phải hoãn vì manh mối sơ hở, địch đã chú ý đề phòng. Tháng 5 năm 1908, họ lại dự định (một kế hoạch bạo động khác, nhưng kết cục cũng lại phải hoãn vì chưa chuẩn bị kịp. Hoãn đi hoãn lại hai ba lần làm cho địch càng thêm chú ý đề phòng nên cần hoạt động gấp. Mà từ Yên Thế, Đề Thám cũng ra lệnh cần hoạt động gấp, nếu hoãn mãi địch có thể dò ra manh mối, khủng bố cơ sở, hoặc đổi nhân mối đi nơi khác thì càng thêm khó. Vì vậy kế hoạch lần này ấn định nhật kỳ bạo động là ngày 27 tháng 6 năm 1908 và sẽ bắt đầu bằng một vụ đầu độc lính Pháp trong trại để địch mất chủ động đối phó. Lấy ba phát đại bác làm hiệu, nghĩa quân sẽ từ ngoài tiến vào đánh thành Hà Nội chiếm lĩnh các công sở (máy đèn, máy nước, nhà băng, kho bạc...). Điều đáng chú ý là ngoài một số anh em binh lính khố đỏ tham gia vào vụ đầu độc (bao gồm cả cai, đội), còn một số đông là anh em bồi bếp, lính thợ, công nhân ngoài phố như: Ba Đen tức Nguyễn Đình Chính cai gác đèn ở vườn Bách Thảo, Nguyễn Văn Ba làm bồi cho một Pháp kiều ở Sinh Từ, Trương Phổ chạy giấy ở phố Hàng Than, Nguyễn Văn Vinh cai thợ nề phố Hàng Lọng, ông Phó tức Nguyễn Đăng Duyên làm vườn ở dinh Toàn quyền, Nguyễn Trương Cầu công nhân máy đèn... Lại có các phần tử trí thức tham gia như cụ Lê Đại phố Hàng Mắm, Trịnh Văn Học dạy học ở Hoàn Long ngoại thành Hà Nội, Trần Đức Quang học trò ở phố Hàng Đậu, Đồ Đảm một nhà nho, và một số yếu nhân Đông Kinh nghĩa thục như Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Vũ Hoành, v.v...

Bồi bếp, thợ thuyền trong quân đội, anh em lính tập đã gặp nhau cùng với thủ hạ Đề Thám tại quán cơm của Nguyễn Thị Ba số nhà 20 phố Cửa Nam1. Tại hàng cơm lại có thầy bói, thầy tướng thường là nhà nho trá hình như Nguyễn Văn Phúc (tức lang Seo), Nguyễn Ngọc Công... thường lợi dụng óc mê tín của anh em binh lính để có dịp gần gụi tuyên truyền giác ngộ, đem sự ức đoán về tương lai để gây tin tưởng trong anh em.
___________________________________
1. Theo tài liệu của Văn Sử Địa, đó là quán cơm của ông Nhiêu Sáu tức Nguyễn Tỉnh người làng Tương Mai.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:38:31 PM

Việc hoãn đi hoãn lại việc bạo động, sự gặp gỡ hẹn hò ở hàng cơm Cửa Nam cũng như các cuộc họp tại nhà lang Seo ở số nhà 51 phố Hàng Buồm, nhất là việc tổ chức thiếu chặt chẽ, đã khiến địch chú ý đề phòng. Tổng chỉ huy quân đội Đông Dương Pi-en (Piel) ngay từ mấy hôm trước đã nhận được thư nặc danh báo rõ Đội Nhân, Đội Cốc, Đội Bình thuộc đại đội công binh pháo thủ số 6 sẽ cầm đầu vụ nổi loạn. Ngay buổi sáng 27 tháng 6, trung úy Đen-mông Bơ-bê (Delmont Bebet) chỉ huy đại đội công binh pháo thủ số 6 lại được Cai Trương (đã từng được họp bàn kế hoạch bạo động) tố cáo mọi chi tiết và những người cầm đầu. Tuy vậy Trương cũng vẫn bị tống giam trong khi chờ xác minh tài liệu. Ba người bạn của Trương sợ liên lụy liền đi báo với cố đạo Ân ở Hà Nội. Thế là kế hoạch bạo động địch đã nắm hết. Cùng với tin tức do sở mật thám lượm được, chúng đã đoán ra kế hoạch đánh úp Hà Nội đêm 27 tháng 6 nên bố trí canh phòng cẩn mật.

Mặc dù thế, chủ trương đầu độc vẫn được anh em binh lính giữ bí mật và đến phút cuối cùng vẫn được thực hiện ngoài sức đoán của địch.

Trưa ngày 27 tháng 6, trong khi địch bố trí tăng cường canh gác các nơi xung yếu, thì bên ta các chiến sĩ cũng ráo riết chuẩn bị. Bên ngoài, Chánh Song, Đội Hổ và đồng đội đã tập hợp lực lượng vũ trang, chờ đến tối khi nghe tiếng súng đại bác nổ báo hiệu sẽ tiến vào Hà Nội bằng ba ngả: một từ Lò Lợn qua phố Lò Đúc đánh vào Đồn Thủy; một từ phía bờ sông tiến qua Sở Thuốc lá đánh vào Cửa Bắc; một từ phía Sơn Tây qua Ô Cầu Giấy tiến qua phố Sinh Từ đánh vào Cửa Nam; ngoài ra còn một toán nữa do Đội Hổ và Đồ Đảm chỉ huy bố trí quanh dinh Toàn quyền (chỗ đường Ngọc Hà bây giờ) đánh vào trại lính khố đỏ bằng cửa phía tây (đường Hoàng Diệu bây giờ) chiếm lấy đại bác đưa đến cầu Sông Cái và Cầu Giấy để chặn viện binh của địch từ Sơn Tây, Bắc Ninh hay Hải Phòng kéo về.

Cùng lúc đó, một toán vũ trang của Đề Thám sẽ đánh úp Gia Lâm, phá nhà ga, đường xe lửa và cắt dây điện thoại. Dân chúng các làng quanh Hồ Tây cũng ráo riết chuẩn bị hưởng ứng.

Việc đầu độc đã được giao cho người làm bếp trong cơ pháo thủ tên là Ngọc thực hiện kín đáo1.
_________________________________
1. Sau khi vụ đầu độc bị phát giác, Ngọc trốn lên Phồn Xương với hai người bếp nữa là Thiện và Bảy.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:38:57 PM

Một số thủ lĩnh dưới quyền Đề Thám là Đội Hổ, Chánh Tĩnh (tức Chánh Song) đã tham gia vào việc tổ chức, cùng với các binh sĩ yêu nước trong quân đội Pháp. Hội kín được thành lập.

Kế hoạch nổi dậy với chiến thuật "nội công, ngoại kích" được vạch ra cụ thể, gồm cả sự viện binh của nghĩa quân Đề Thám, nhưng mới là trên giao ước. Mấu chốt của cuộc bao động là phải đầu độc cho được các bộ phận quân đội Pháp kể trên, nhân có tiệc chiêu đãi các sĩ quan và binh lính Pháp vào hồi 8 giờ tối ngày 27 tháng 6 năm 1908.

Việc bỏ thuốc độc vào thức ăn làm một số lính Pháp bị hôn mê đã thực hiện được, nhưng tác dụng lại quá ít ỏi. Vì thuốc độc làm bằng cà độc dược nên chỉ đủ gây mê rất nhẹ. Thế cho nên, mặc dù đã có lính Pháp thuộc hai cơ lính kể trên bị trúng độc nhưng thực dân Pháp đã cấp tốc cứu chữa một cách dễ dàng.

Kết quả của việc đầu độc: 150 tên thuộc trung đoàn pháo binh kể cả hạ sĩ quan và 82 tên thuộc đại đội 1 và đại đội 2 trung đoàn 9 địch trúng độc.

Tin đầu độc tung ra, bộ chỉ huy Pháp đã kịp đề phòng từ trước nên tập hợp binh lính canh gác khắp nơi. Kết quả cuối cùng là súng hiệu không nổ, kho súng không phá được nên nghĩa quân không đủ vũ khí, chờ mãi ở các địa điểm ven Hà Nội rồi giải tán.

Liền lúc đó, địch tước khí giới binh lính người Việt, khám xét, tra hỏi và ra lệnh giới nghiêm, vây bắt những người bị tình nghi.

Vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội (còn gọi là vụ Hà Thành đầu độc) hoàn toàn thất bại. Hàng trăm người tham gia bạo động bị Pháp bắt. Ngày 30 tháng 6 năm 1908, thực dân Pháp thành lập hội đồng để hình xử tử 13 người và 4 người khổ sai chung thân.

Về hành động quân sự, việc tổ chức bạo động mới trong kế hoạch và chỉ thực hiện được việc đầu độc nhưng chưa giết được kẻ địch nào, cuộc bạo động đã bị dập tắt. Vì vậy trong lịch sử quân sự, đây là cuộc chuẩn bị cho đấu tranh vũ trang đánh chiếm các công sở, đồn binh, đầu mối giao thông, bưu điện, tạo thành một cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội trong đó nghĩa quân Yên Thế đóng một vai trò quan trọng. Tinh thần yêu nước của một số sĩ quan và binh lính người Việt trong quân đội Pháp đã được sự tham gia về quân sự và hưởng ứng viện binh của nghĩa quân Đề Thám khi bạo động nổ ra.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:39:52 PM

Lịch sử dân tộc ta ghi nhận tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của các nhà yêu nước tham gia bạo động. Đồng thời cũng rút ra những bài học lịch sử bổ ích, trong đó binh vận, liên kết các lực lượng yêu nước, chính trị kết hợp chặt chẽ với quân sự, chống phiêu lưu bạo động, nhất là vấn đề binh vận, tập hợp lực lượng và vấn đề thời cơ, điều kiện cho một cuộc bạo động vũ trang thắng lợi.

Vụ đánh úp Hà Nội đêm 27 tháng 6 không thành, nhưng việc đầu độc đã làm sôi nổi dư luận, nhất là bọn binh lính sĩ quan Pháp và các giới cai trị ở Đông Dương. Sau đó mấy hôm liền, sĩ quan và lính Pháp không dám ăn cơm ở trại. Chúng bắt bọn cai, đội phải thường xuyên kiểm soát nghiêm ngặt các chỗ nấu ăn; trước khi đem thức ăn lên, chúng bắt bọn này cùng với nhà bếp phải nếm trước. Có một số lại đòi đuổi hết bồi bếp Việt Nam ra khỏi quân ngũ.

Bọn chúng dao động đến nỗi ngày 30 tháng 6, một cuộc họp do nhà cầm quyền triệu tập ở khách sạn Hà Nội để giải thích tình hình cho Pháp kiều yên lòng; một bọn 250 tên đã xông tới dinh Toàn quyền chất vấn và đòi có biện pháp trừng trị thích đáng bọn phiến loạn. Bọn chúng đòi được phát vũ khí để tự vệ. Báo chí thi nhau công kích bộ chỉ huy và sở mật thám, mặc dầu đã dò ra âm mưu bạo động từ trước mà vẫn để xảy ra đầu độc. Chiều 30 tháng 6, một đơn vị lính khố đỏ qua phố, một bọn Pháp kiều đã tỏ thái độ hằn học chửi bới và hành hung một người lính. Nhiều tin đồn dồn dập đưa tới như tin nhân ngày hội Tây (14-7-1908) binh lính người Việt sẽ nổi dậy cướp thành Hà Nội đã làm cho bè lũ thực dân cuống quýt lo sợ.

Tin đưa vào đến Sài Gòn, nhân dân càng xao xuyến. Địch chuẩn bị tăng viện cho Hà Nội. Nhiều đơn vị trọng pháo 75 ly được lệnh sẵn sàng xuống tàu.

Để trấn tĩnh nhân tâm, ngày 28 tháng 6 năm 1908, Hội đồng đề hình được thành lập cấp tốc với quyền hạn rộng rãi, thủ tục xét xử nhanh chóng để xử vụ đầu độc. Mặc dầu cuộc tra xét còn đang tiếp tục, ngày 8 tháng 7 năm 1908, chúng đã xử chém Đội Bình, Đội Cốc và Đội Nhân, bêu đầu ở Ô Cầu Dền, Ô Cầu Giấy và chợ Mơ - Bạch Mai.

Sau đó, chúng bắt tới 80 người, xử chém 10 người nữa (trong số này có Hai Hiên, lang Seo, Cai Tốn, Đồ Đảm...), kết án tử hình vắng mặt 6 người (trong số này có Ngọc, Thiện và Bảy làm bếp ở đơn vị pháo binh đã trốn lên Phồn Xương), 4 người chung thân. Vợ Hai Hiên mặc dầu không tham gia vụ đầu độc, chỉ có cùng đi trốn với chồng sang Bắc Ninh cũng bị kết án 5 năm tù.

Trong quá trình điều tra, sau này địch tìm được rất nhiều chứng cớ tỏ ra Đề Thám có tham gia tích cực vụ Hà Thành đầu độc. Và đó là một trong những nguyên nhân khiến chúng có thái độ cương quyết đối với Đề Thám, mở cuộc tấn công quy mô hòng tiêu diệt căn cứ Yên Thế vào đầu tháng 1 năm 1909.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:40:13 PM

Ngoài ra, trong năm 1908 tại Yên Thế xảy ra nhiều vụ ám sát người Âu do thủ hạ Đề Thám thủ mưu như vụ ám sát tên Phơ-lơ-ry (Fleury) giám thị công chính, tên giám binh Véc-đơ-rô (Verdereau).

Một sự kiện khác khá quan trọng cũng xảy ra trong năm 1908 là giữa năm đó có những toán quân người Trung Hoa tràn vào Bắc Kỳ gây cho Pháp nhiều tổn thất tại các vùng Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang. Những toán quân này phân tán thành từng nhóm nhỏ, có nhóm vượt biên giới về Trung Hoa, có nhóm tràn về hoạt động ở chợ Chu, chân dãy núi Tam Đảo, có nhóm về tận Yên Thế liên lạc với Đề Thám như nhóm Lương Tú Xuân.

Công sứ Lạng Sơn trong một bản báo cáo đã khẳng định:

"Tôi tin chắc rằng có một sự liên minh chặt chẽ giữa những toán quân Trung Hoa và bọn phiến loạn Việt Nam. Tất cả đều đứng dưới cờ của Hoàng Hoa Thám".

Trong nhiều bản báo cáo, bọn cầm quyền ở địa phương đều thống nhất cần có thái độ quyết liệt với Đế Thám.

Bọn thống trị ở Đông Dương thấy cần phải gây lại uy tín với bọn quan lại và các tầng lớp trên; hơn nữa giới tư bản có nhiều quyền lợi trên tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và ở các mỏ vùng Bắc Giang đã nhiều lần đòi hỏi nhà cầm quyền phải bảo vệ quyền lợi cho chúng.

Tình thế hòa hoãn đã đến lúc không thể kéo dài nữa.

Một cuộc hội nghị đặc biệt do toàn quyền Cơ-lô-bu-kôp-sơ-ky (Klobukovvsky) chủ tọa, có thống sứ ở Bắc Kỳ, trung tướng Pi-en tổng chỉ huy quân đội Đông Dương và bọn quan lại cao cấp tham gia đã quyết định mở cuộc hành binh lớn nhằm tiêu diệt nghĩa quân Yên Thế. Lúc này có điểm lợi lớn cho địch là các toán quân Trung Hoa căn bản đã rút khỏi Bắc Kỳ, khiến có thể rảnh tay huy động lực lượng đối phó với nghĩa quân. Quyền chỉ huy cuộc hành binh giao cho đại tá Ba-tay (Bataille). Phương châm hành động là hết sức nhanh chóng và bí mật. Từ đây phong trào kháng Pháp ở Yên Thế bước sang giai đoạn quyết liệt nhất, kết thúc bằng những trận anh dũng chống càn của nghĩa quân suốt 15 tháng ròng rã trên một chiến trường rộng lớn.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:41:18 PM

Câu hỏi 26: Kế hoạch hành binh của đại tá Ba-tay tấn công vào Yên Thế diễn ra như thế nào?
Trả lời:


Ba-tay được cử là chỉ huy cuộc hành binh chuẩn bị tấn công vào Yên Thế. Giúp việc có bộ tham mưu gồm đại úy pháo binh Tết-si-ê (Teissier), hai trung úy Ra-bi-ê (Rabier) và Vi-ta-li (Vitali).

Sau khi trao đổi kinh nghiệm với trung tướng tổng chỉ huy quân đội Đông Dương đã từng chỉ huy cuộc đánh Đề Thám năm 1892, Ba-tay quyết định muốn tấn công có kết quả vào Yên Thế phải hết sức bí mật và hành động nhanh chóng để chặn đường rút lui của nghĩa quân cũng như không cho nghĩa quân kịp trở tay.

Hai đội cơ động do thiếu tá May-ơ và Lơ Ca-nuy (Le Canu) chỉ huy sẽ tập trung ở Bố Hạ và Nhã Nam, trong khi một cánh quân sẽ tiến hành chiếm đóng lập bốt xây đồn để giữ an ninh, chặn đường tiếp tế và rút lui của nghĩa quân.

Địch dò được kế hoạch của nghĩa quân là khoảng trung tuần tháng 2 năm 1909, Đề Thám sẽ phái nhiều đơn vị về hoạt động quấy rối ở các tỉnh trung châu Bắc Kỳ để mưu đồ cuộc nổi dậy có tính toàn cục. Lập tức ngày xuất quân được ấn định vào ngày 29 tháng 1 năm 1909.

Trước ngày đó không một đơn vị nào được hành động gì. Quân lính cũng không được biết mục tiêu cuộc hành binh trừ các sĩ quan cao cấp.

Ngày 28 tháng 1, thống sứ Bắc Kỳ Mo-ren (Morel) đưa thư dụ hàng lần cuối cùng cho Đề Thám, buộc nghĩa quân phải hạ khí giới nộp hết cho chúng, giao những người bị chúng truy nã hiện đang được Đề Thám dung nạp, đồng thời Đề Thám phải ra đầu thú tại Hà Nội... Mặt khác hắn cấp tốc điều động:

4 đại đội lính Âu.
3 đại đội rưỡi khố đỏ.
1 đội lê dương.
1 khẩu súng cối.
1 khẩu đội sơn pháo 75 ly và 80 ly.
1 đại đội công binh.
1 đội kỵ binh.

Ngoài ra có tất cả lực lượng lính khố xanh thuộc ba tỉnh Bắc Giang, Phúc Yên và Thái Nguyên trợ lực, tổng cộng trên 15.000 người. Ngay trưa ngày 28 tháng 1 địch ra bản thông cáo kết tội Đề Thám và giải thích chủ trương tấn công vào Yên Thế đem dán khắp các thôn xã ở Bắc Giang.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2017, 10:41:38 PM

Lực lượng địch bố trí như sau: Hai đội cơ động sẽ đánh vào khu trung tâm chợ Gồ (bản doanh của Đề Thám) và Am Đồng (bản doanh của Cả Dinh và Cả Huỳnh).

Đội thứ nhất của thiếu tá May-ơ chia làm hai toán, một toán do May-ơ trực tiếp chỉ huy gồm 3 trung đội súng nhẹ và 1 trung đội liên thanh sẽ khởi hành từ Đáp Cầu hồi 10 giờ đêm 28 để sáng ngày 29 sẽ tới Nhã Nam mở cuộc tấn công ngay; một toán do đại úy Côn-lô (Collot) chỉ huy gồm 4 trung đội lính Âu, 3 trung đội lính khố đỏ, 1 trung đội súng cối 80 ly và bán đội công binh sẽ phải tập trung ở Nhã Nam trưa ngày 29.

Đội thứ hai của thiếu tá Lơ Ca-nuy sẽ tập trung ở Bố Hạ vào sáng ngày 29 theo kế hoạch sau: Cánh quân do đại úy Bốt chỉ huy khởi hành từ Phủ Lạng Thương đêm 28 để sáng sớm ngày 29 tới Bố Hạ mở cuộc tấn công vào nghĩa quân.

Ngoài hai đội lưu động trên, Ba-tay tổ chức một cánh quân có nhiệm vụ cảnh giới khu vực xung quanh, chặn đường tiếp tế và đường rút lui của nghĩa quân. Cánh quân này chia thành nhiều khu:

a) Khu đường sắt do đại úy Vanh-xanh (Vincent) chỉ huy đóng ở Bắc Lệ gồm có 6 đồn (Than Muội, Ba Dan, Sông Hóa, Bắc Lệ, Suối Ngang, Kép) có nhiệm vụ bảo đảm an toàn con đường từ Kép đến Than Muội.

b) Khu Mỏ Trạng do đại úy Bác-ba-xát (Barbassat) chỉ huy gồm 2 đồn Mỏ Trạng và Mỏ Na Lương.

c) Khu chợ Phổng do trung úy La-mi (Lamy) chỉ huy gồm 2 đồn chợ Phổng và làng Mẹt.

d) Khu Hà Châu do đại úy Pa-giơ (Pages) chỉ huy đóng tại Đáp Cầu.

Ba khu chợ Phổng, Mỏ Trạng, Hà Châu có nhiệm vụ cảnh giới và chặn đường rút lui của nghĩa quân khỏi khu vực Yên Thế.

Cuộc hành binh lấy Phủ Lạng Thương làm địa bàn tiếp tế vũ khí, đạn dược, lương thực, v.v... Ngoài ra có một trạm quân y đặt ở Nhã Nam có 2 bác sĩ và 9 y tá.

Giao thông liên lạc sẽ sử dụng các đường dây và các phòng bưu điện ở Kép, Nhã Nam, Bố Hạ, Cao Thượng, Đức Thắng, trưng dụng các đầu máy và toa tàu trên đường Hà Nội - Lạng Sơn, trưng dụng tất cả những xe kéo, xe bò, xe cút-kít trong vùng Nhã Nam phục vụ cho cuộc hành binh đại quy mô.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 09:33:52 AM

Câu hỏi 27: Hãy cho biết tình hình chiến sự trên mặt trận Bắc Giang sau cuộc hành binh của Ba-tay?
Trả lời:


Tất cả mọi sự chuẩn bị cho cuộc hành binh của đại tá Ba-tay đều hết sức giữ bí mật. Trước ngày 29, chính Đề Thám cũng không nghi ngờ gì. Lúc này vào dịp Tết Nguyên đán, Đề Thám vẫn cho quân nghỉ về quê ăn Tết. Nhưng mặc dù đại tá chỉ huy cuộc hành quân đã nhiều lần yêu cầu công sứ Bắc Giang đừng động tĩnh gì trước khi tập trung xong lực lượng, nhưng sáng sớm ngày 29 tháng 1, tên đại úy Nhã Nam nóng ăn, định tranh công cho mình đã dùng ba đơn vị lính khố xanh do giám binh Bê-nê-xi (Benecchi) tấn công vào đồn Cả Dinh ở chợ Gồ và Am Động. Do trận này Đề Thám đã dò ra kế hoạch tấn công của giặc. Cuộc hội nghị các tướng lĩnh được triệu tập cấp tốc ở Phồn Xương, bàn kế hoạch đối phó. Cuối cùng, để bảo toàn lực lượng, hội nghị quyết định ngay đêm đó nghĩa quân bỏ lại các đồn trại, kho lương, rút lên phía bắc phân thành từng nhóm nhỏ chặn địch.

Sáng ngày 30 tháng 1, Ba-tay hạ lệnh đánh vào chợ Gồ theo hai ngả: cánh quân May-ơ đánh vào Dĩnh Thép, Am Động và tiến vào chợ Gồ; cánh quân Lơ Ca-nuy từ làng Chiềng đánh vào làng Nứa rồi tiến vào chợ Gồ.

Hồi 11 giờ 30 phút, hai cánh quân gặp nhau ở chợ Gồ nhưng nghĩa quân đã rút về phía bắc từ lâu. Am Động và chợ Gồ, bản doanh chính của nghĩa quân được phòng thủ bằng những bức tường cao có nhiều ụ súng, bị địch chiếm đóng từ trưa ngày 30. Nhưng mục đích tiêu diệt lực lượng nghĩa quân của chúng không đạt được, nên cuộc hành binh vẫn phải tiếp tục.

Nghĩa quân lúc này phân tán thành 5 nhóm nhỏ:

- Nhóm Đề Thám, Cả Trọng và bà Ba Cẩn.
- Nhóm Cả Dinh, Ba Biểu.
- Nhóm Cả Huỳnh.
- Nhóm Lý Thu tức Đề Bảo.
- Nhóm Lương Tú Xuân và Hoàng Minh Dương.

Ngày 30, bản doanh của Ba-tay đặt ở chợ Gồ cùng cánh quân Lơ Ca-nuy, còn cánh May-ơ thì đóng ở Mỏ Trạng.

Sáng ngày 31, được tin nghĩa quân xuất hiện phía tây con đường Dĩnh Thép - Mỏ Trạng và phía đông sông Soi, May-ơ và Lơ Ca-nuy dẫn quân đi lùng nhưng không kết quả.

Để chặn đường tiếp tế của nghĩa quân, giặc hạ lệnh tập trung lương thực của nhân dân vào một nơi và bắt nhân dân khu vực chung quanh chợ Gồ phải tản cư đi nơi khác, đồng thời ra sức khủng bố nhân dân để dò xét tung tích của nghĩa quân nhưng vô hiệu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 09:34:15 AM

* Một số trận đánh tiêu biểu:

Trận đồn Hom (Rừng Tre) ngày 1 tháng 2:

Nhóm Đề Thám, Cả Trọng và bà Ba Cẩn rút lên phía bắc, cách Dĩnh Thép 3 cây số, đóng trên ngọn đồi gọi là Rừng Tre, đào hầm hố, xây công sự, sẵn sàng chờ địch.

Sáng ngày 1 tháng 2, một đơn vị tuần tiễu do thiếu tá Lơ Ca-nuy chỉ huy gồm 34 dõng, 1 đại đội khố đỏ, 1 đại đội lính Âu đi từ Dĩnh Thép lúc 10 giờ sáng. Tới trận địa lúc 1 giờ 20 phút trưa, bọn dõng dại dột xông lên đồn, bị nghĩa quân đón bằng một loạt đạn, chúng rút lui hỗn loạn. Đại úy Pơ-lay-i (Plailly) chấn chỉnh hàng ngũ rồi lại hạ lệnh xung phong. Lần này nghĩa quân để chúng lên cách 15 mét mới nổ súng. Bọn dõng trúng đạn, đổ xô chạy xuống. Chính tên đội Ghê-ri-ni (Guerini) cũng bị trọng thương ngã gục trước mũi súng của nghĩa quân. Địch phải vất vả tổ chức hai đợt xung phong mới kéo được xác Ghê-ri-ni ra khỏi bụi rậm, rồi trung úy Đê-vô (Dévaux) phải một phen mạo hiểm nữa mới đưa được xác Ghê-ri-ni về đằng sau.

Cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục. Lơ Ca-nuy báo cáo về chợ Gồ xin tăng viện. 3 giờ chiều, 1 trung đội lính Âu và trung đội lính khố đỏ do trung úy Rô-manh-đề-phốt (Romain des Fosses) chỉ huy tới tiếp ứng. Lơ Ca-nuy vội dàn rộng quân ra cả hai cánh tả hữu tạo một thế bao vây nghĩa quân. Đến 5 giờ 30 phút chiều, đại tá Ba-tay đến quan sát mặt trận cũng đem 2 trung đội lính Âu, 1/2 đại đội công binh và 1 trung đội lính khố đỏ. Quân hai bên vừa dàn ra xong thì trời vừa tối.

7 giờ tối, hai đội tình nguyện của địch bò lên đỉnh đồi thám thính chỉ thấy hầm hố công sự bỏ không, nghĩa quân đã rút sạch.

Sau đó trong khoảng từ mùng 2 đến mùng 9 tháng 2, chỉ có những trận giao chiến nhỏ. Nghĩa quân di chuyển rất nhanh, rất gọn, khiến nhiều khi được tin báo, địch hối hả đem quân đến thì chỉ còn dấu vết của một cuộc trú quân tạm thời. Địch khá mệt mỏi vì những cuộc hành quân vô hiệu quả như thế. Ngày 3 tháng 2, thống sứ Bắc Kỳ thân hành lên tận chợ Gồ hội ý với Ba-tay để củng cố tinh thần quân lính. Trước tình hình đó, một số chỉ huy đã có ý thức giải tán các binh đoàn lớn, lập nhiều đồn canh chi chít khắp nơi, tăng cường kiểm soát và khủng bố dân chúng, triệt để sử dụng lính dõng, treo giải lấy đầu Đề Thám... Nhưng vì ý kiến bất đồng, cuối cùng chúng vẫn phải tiếp tục chiến lược cũ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 09:34:41 AM

Trận Đồng Đăng ngày 11 tháng 2:

Nhóm Cả Dinh, Cả Huỳnh, Ba Biểu, Lý Thu đóng quân trong một thung lũng gần Nà Sạt trên con đường từ Đồng Vương đi Yên Thế. Hồi 7 giờ sáng ngày 11 tháng 2, May-ơ dẫn quân tiến về Đồng Vương, 10 giờ 20 phút sáng, quân tuần tiễu hai bên gặp nhau ở Đồng Đăng. Sau mấy phát súng, nghĩa quân rút lui. Quá trưa địch tiến vào thung lũng, nghĩa quân nấp trong một nhà của người Mán bắn ra, hai tên đội Ca-sa-nô-va (Casanova) và Bu-lốt (Boulault) bị trọng thương, về đến căn cứ thì chết.

Địch dàn quân sang phía tây do đại úy Cô-le chỉ huy về phía đông do trung úy Vi-rô (Viraud) phụ trách để bao vây nghĩa quân, nhưng vẫn không tiến thêm được bước nào.

Tới 4 giờ 45 phút chiều, cánh quân của Vi-rô mới tiến lên một ngọn đồi chiếm được của nghĩa quân, sẩm tối thì súng ngừng bắn. Địch bố trí thêm lực lượng ở phía bắc Đồng Vương chặn đường rút của nghĩa quân, nhưng lợi dụng đêm tối nghĩa quân vẫn rút được an toàn.


Trận Sơn Quả ngày 11 tháng 2:

Trong lúc nghĩa quân đang giao chiến với địch ở Đồng Đăng thì từ sáng sớm ngày 11 tháng 2, Cai Sơn chỉ huy một toán nghĩa quân tiêu diệt đồn Đức Thắng, rồi đóng trong làng Sơn Quả. Lập tức 1 đội 60 lính Âu và 1 trung đội sơn pháo từ Hà Châu kéo đến Sơn Quả phối hợp với một đơn vị khố xanh, tất cả là 150 cây súng. Đại úy Pa-giơ bố trí quân vây chặt Sơn Quả, hạ lệnh pháo binh bắn quét chung quanh làng, sau đó cho bộ binh xung phong tiến vào. Nghĩa quân bình tĩnh đón chúng bằng một loạt đạn bắn phát một rất trúng. Đêm tối Pa-giơ hô quân xung phong tiến vào phía nam, nghĩa quân anh dũng cầm cự buộc địch phải rút ra ngoài. Sáng hôm sau, sau khi đốt làng, chúng lại tiến vào nhưng nghĩa quân đã rút từ đêm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 09:35:53 AM

Trận Đồn Đện ngày 20 đến ngày 21 tháng 2:

Từ ngày 12 đến ngày 20 tháng 2, địch càn đi quét lại vùng Rừng Tre từ Nhã Nam đến Mỏ Na Lương, tiến hành xây dựng chợ Gồ thật kiên cố.

Trong khi đó, nghĩa quân vẫn quấy rối, đánh các đội tuần tiễu, cắt đường dây điện thoại của địch.

Cả Dinh, Ba Biểu và Lý Thu tức Đề Bảo sau trận Đồng Đăng đã rút lên phía Đồn Đện. Ngày 20, toán quân của Cả Dinh, Cả Huỳnh xuất hiện giữa làng Chiềng và trại Sông Soi. Lơ Ca-nuy được lệnh dẫn quân đến làng Chiềng; đơn vị lính khố xanh ở khu Nhã Nam do giám binh Poa-lơ-vay (Poilevey) chỉ huy sẽ đóng ở Sông Soi chặn hết các ngả đường từ làng Chiềng lại; cánh quân May-ơ chặn hết các ngả đường từ phía Đồng Vương - Ngao Thượng, trung úy La-mi chỉ huy khu chợ Phổng huy động binh lực trong khu đến đóng ở Mỏ Xạt chặn hết ngả đường từ mỏm núi 208 và chợ Khe đi tới.

12 giờ, May-ơ chạm trán một toán nghĩa quân của Cả Dinh, Ba Biểu, Lý Thu ở phía bắc mỏm 208 (cao 800 thước). Chỉ có 40 lính nên May-ơ không dám đánh, hạ lệnh nấp sau các mô đất và chiến hào sâu chờ viện binh đến. Đến 3 giờ 45 phút, đại úy Pơ-lay-i dẫn quân tới, hai đội quân hợp lại. Đại tá Ba-tay trực tiếp chỉ huy trận đánh, hạ lệnh tấn công gấp, cố chiếm mỏm 208 trước tối. Nhưng đứng trên cao, lại núp sau khe lá, nghĩa quân nhìn rõ địch nên bắn rất trúng, nhiều sĩ quan Pháp trong đó có đại úy Tết-si-ê bị thương. Ban đêm, mặc dù có thêm đại đội Côn-lô tới tăng viện, địch vẫn không dám mạo hiểm và giữ nguyên vị trí chờ sáng.

Sáng sớm hôm sau, chúng lại xông lên thì nghĩa quân đã rút từ lâu. Lý Thu đi về phía Hữu Lũng, còn Cả Dinh rút về phía Trung Châu, May-ơ tức tốc dẫn quân lục soát quanh vùng nhưng vô hiệu.

Sau hai tháng ròng hành quân liên miên trong rừng rậm, địch tuy chiếm đóng được chợ Gồ, đại bản doanh của nghĩa quân, nhưng vẫn chưa bắt được Đề Thám lại còn bị phục kích luôn là tổn thất nặng, Ba-tay phải thay đổi chiến lược: không dùng lực lượng lớn để càn quét nữa mà mở rộng phạm vi chiếm đóng Yên Thế, thiết lập một hệ thống đồn bốt chi chít trong vùng, ra sức đe dọa, phỉnh phờ dân chúng, hòng cắt đứt quan hệ tốt giữa nghĩa quân và dân chúng.

Từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 28 tháng 3 năm 1909, chỉ có những vụ xung đột nhỏ giữa các toán nghĩa quân lẻ với các đội quân tuần tiễu của giặc. Như trận Mỏ Na Lương (ngày 1-3) giữa toán quân Đề Thám, Cai Sơn, Cả Dinh, Ba Biểu với đội quân của trung úy Cu-ri-ê (Courrier). Trong trận này, hai bên chỉ cách nhau khoảng 20-40 mét, cây cối rậm rạp giúp nghĩa quân ẩn nấp kín đáo lại thấy rõ địch, nên sau hai giờ chiến đấu, địch phải bỏ chạy về phía Nhã Nam. Cũng ngày đó, hai lính dõng xung đột với nghĩa quân tại đèo ỉnh; ngày 9 tháng 3 ở Thế Lộc cũng có xung đột nhỏ giữa nghĩa quân và lính dõng; tối 25 rạng 26, Đề Thám bị phục kích ở gần Giản Ngoại, Cả Trọng bị thương nặng nhưng Đề Thám và thủ hạ dìu thoát. Sau đó, Đề Thám lại về ẩn náu ở Rừng Tre với gần 20 thủ hạ thân tín trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, quân địch bao vây tứ phía bằng một hệ thống đồn bốt dày đặc. Cả Trọng chết càng làm cho tình hình thêm khốn quẫn, số nghĩa quân ra hàng ngày một đông, còn nhóm Cả Dinh, Cả Huỳnh, Ba Biểu, Cai Sơn và Lý Thu dời sang vùng Phúc Yên, nhưng đến đầu tháng 4 vì bị địch lùng đuổi riết nên lại quay về địa bàn cũ thuộc Bắc Giang. Do đó nhiều cuộc xung đột quan trọng lại diễn ra trong tỉnh Bắc Giang, lớn nhất là trận Mỏ Thổ (ngày 16-4) giữa nghĩa quân của Cả Huỳnh, do Cai Tề chỉ huy1 và đội lính khố xanh của giám binh Đô-phơ (Dauffes).

Dưới sức mạnh trợ lực của pháo binh địch, nghĩa quân phải rút lui, phần lớn tan rã, bị bắt và đầu hàng. Toán quân của Cả Dinh gặp địch ở Lương Phong (gần Đức Thắng) hai bên bắn nhau từ trưa đến tối thì nghĩa quân bắt buộc trở về Phúc Yên. Còn Cai Sơn, Ba Biểu, Lý Thu thì cũng phiêu bạt mỗi người một nơi.

Tới đây, chiến sự trên địa bàn Bắc Giang coi như chấm dứt.
_______________________________
1. Cả Huỳnh bị thương trong trận Hàm Lợn (Phúc Yên) ngày 15 tháng 3 nên giao quyền chỉ huy cho Cai Tề.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 09:36:49 AM

Câu hỏi 28: Chiến sự trên mặt trận Phúc Yên giữa nghĩa quân của Đề Thám và quân địch diễn ra gay gắt không khoan nhượng, hãy cho biết thêm về điều đó?
Trả lời:


Từ đầu năm 1909, suốt hai tỉnh Vĩnh Yên - Phúc Yên và một phần tỉnh Bắc Ninh (phía bắc đường sắt Lạng Sơn), có nhiều toán nghĩa quân xuất hiện. Nhờ sức ủng hộ nhiệt liệt của dân chúng trong vùng, và do tính chất cơ động của nghĩa quân, địch không sao tiêu diệt nổi.

Trong tháng 1 năm 1909, một toán nghĩa quân do Hai Nôm chỉ huy xuất hiện ở Thanh Lâm huyện Kim Anh (gần Thạch Lỗi). Cuối tháng 2, quân Hai Nôm xung đột với một đơn vị khố xanh ở Nam Lý (sườn đông nam Tam Đảo); nghĩa quân vượt đèo Bác tiến về phía sông Cà Lồ rồi xung đột với một đơn vị khố xanh ở Thanh Trì. Vì lẽ đó, thượng tuần tháng 3, thống sứ Bắc Kỳ phải yêu cầu tăng viện cho Phúc Yên một đơn vị sơn pháo và một tiểu đội lính Âu. Ngày 3 tháng 3, giám binh Đuy-véc-noa (Duyvernoy) bao vây nghĩa quân ở Thanh Nhàn; mặc dù có pháo binh trợ lực, địch vẫn không chiếm được vị trí nghĩa quân.

Trong khi chưa tiêu diệt được toán nghĩa quân Hai Nôm, thì từ trung tuần tháng 3, địch lại còn phải lo đối phó với các toán quân của Cả Huỳnh, Cai Tề, Ba Biểu, Cai Sơn, Lãnh Thuận, Cả Dinh từ Yên Thế mới tràn sang. Nhiều cuộc chiến đấu lớn đã diễn ra, lớn nhất là trận Hàm Lợn (15-3-1909).

Hàm Lợn là một ngọn núi cao 462 mét sườn đông nam núi Tam Đảo (huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên). Ngày 14 tháng 3, được tin nghĩa quân xuất hiện ở vùng này, giám binh Poa-lơ-vay dẫn một đơn vị lính khố xanh có pháo binh trợ lực đến vây đánh. Đánh táo bạo, xung phong lên quyết chiếm đỉnh núi. Cuối cùng, nhờ có trọng pháo trợ chiến, địch đã buộc nghĩa quân phải rút lui để lại trên chiến trường nhiều xác chết, trong đó có Lãnh Thuận, còn Cả Huỳnh bị thương nặng, Ba Biểu và Hai Nôm chạy thoát.

Sau trận Hàm Lợn, nghĩa quân thực hiện chiến thuật di động vô cùng linh hoạt trên một địa bàn lớn, xuất hiện khi ở Thanh Thủy, khi ở Xuân Lai, Xuân Phát, Vệ Linh, có khi về tận Thư Lâm, chỉ cách Hà Nội có 15 cây số.



Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 09:38:41 AM

Địch cố bám sát nghĩa quân để hòng tiêu diệt nên luôn luôn phái quân truy kích ráo riết. Do đó, suốt thời gian từ hạ tuần tháng 3 đến hết tháng 6, nhiều trận tao ngộ chiến đã xảy ra giữa đôi bên, gây cho địch nhiều tổn hại về người và súng ống, nhưng cũng làm cho lực lượng nghĩa quân suy mòn dần. Đầu tháng 4, Cai Tề, Ba Biểu, Cả Dinh dẫn quân định trở về căn cứ Yên Thế nhưng bị chặn ở Mỏ Thổ (ngày 16-4) lại phải trở lại Phúc Yên. Đồng thời cuối tháng 4, đại bộ phận nghĩa quân ở Yên Thế do Đề Thám chỉ huy đã rút khỏi địa bàn Bắc Giang tràn về Phúc Yên làm cho tình hình chiến sự ở Phúc Yên trở nên gay go quyết liệt.

Ngày 7 tháng 5, Voa-danh (Voisin) là giám thị công trường cho tên thầu khoán Lơ-roa (Leroy) ở Hà Nội bị nghĩa quân bắt cóc trên đường Phủ Lỗ - Thái Nguyên. Sau đó nghĩa quân rút về Vệ Linh, địch ở Đa Phúc kéo tới bao vây, ngoài lính khố xanh có thêm một trung đội pháo binh, một trung đội lính Âu lấy ở Hà Nội. Nhưng tối hôm đó, lợi dụng mưa bão, nghĩa quân đã rút khỏi.

Việc Voa-danh bị bắt, nhất là việc nghĩa quân Đề Thám xuất hiện cách Hà Nội không xa lắm làm cho địch rất lo ngại. Một cuộc hội nghị giữa toàn quyền Đông Dương và Tổng chỉ huy quân đội Đông Dương và thống sứ Bắc Kỳ quyết định chấm dứt cuộc hành binh của đại tá Ba-tay ở Bắc Giang và tổ chức một đạo quân mới phụ trách mặt trận Phúc Yên đặt dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Sốp-lê (Chofflet).

Sốp-lê còn được toàn quyền Đông Dương giao cho cả quyền hành chính và quân sự thuộc ba huyện Đa Phúc, Kim Anh, Đông Anh (Phúc Yên) là nơi phong trào nghĩa quân đang sôi nổi. Đến ngày 11 tháng 7 cuộc tấn công bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 09:39:01 AM

Trận làng Lầy ngày 13 đến ngày 14 tháng 7:

Từ khi bắt được Voa-danh, Đề Thám đóng đại bản doanh ở làng Lầy, sườn đông nam Tam Đảo. Công sự phòng thủ dựa vào sườn núi có lùm cây rậm rạp che kín. Chủ trương bắt cóc Voa-danh cũng như việc bắt Sét-nay và Lô-di-u trước kia đối với Đề Thám chỉ là một thủ đoạn giúp nghĩa quân có "thế mạnh" mỗi khi phải thương thuyết với địch, đồng thời đánh một đòn tinh thần vào hàng ngũ thực dân. Cho nên từ ngày 8, thống sứ Bắc Kỳ đã đưa thư dụ hàng.

Trong khi đó, Voa-danh trong tay nghĩa quân cũng nhắn tin ra cho biết y có thể bị xử ngay khi tiếng súng nổ. Đề Thám chủ trương kéo dài thương thuyết để chuẩn bị phòng thủ thêm, đồng thời đợi tuần trăng để có thể rút lui nếu cần. Thống sứ Bắc Kỳ ra lệnh cho công sứ Thái Nguyên và Sốp-lê một mặt bắt Đề Thám phải trả lời dứt khoát, một mặt tiếp tục điều động lực lượng sẵn sàng tiến công. Sốp-lê điều động 4 cánh quân do các đại úy Ca-rét-mơ (Caresme), Say-len (Saillens), Sát-tơ-li-ê (Chastelier), Gơ-rơ-mi-ê (Gremillet) và Péc-tuy (Pertuis) chỉ huy từ Phúc Yên đến bao vây làng Lầy. Công sứ Thái Nguyên và Phúc Yên cũng phái lính khố xanh đến trợ lực.

Sáng ngày 13, Sốp-lê thân tới trận địa, xem xét và chuẩn bị tấn công. Nhưng đúng 8 giờ tối ngày 13 tháng 7, công sứ Thái Nguyên và Sốp-lê nhận được điện của thống sứ Bắc Kỳ yêu cầu hoãn mọi cuộc tấn công trừ trường hợp bị nghĩa quân tấn công trước. Trưa ngày 14, một bức điện của toàn quyền yêu cầu tiếp tục thương thuyết với Đề Thám với những điều kiện rộng rãi hơn. Một lần nữa bọn thực dân đầu sỏ ở Đông Dương muốn tiêu diệt "cái ung nhọt trong lòng xứ Bắc Kỳ" một cách đỡ tốn kém cho chúng.

Trong khi đó, nghĩa quân do Đề Thám chỉ huy đóng ở làng Lầy đã dò được kế hoạch bao vây của địch. Để tránh một cuộc xung đột có thể bất lợi cho mình, trong đêm 13 rạng ngày 14, lợi dụng mưa bão nghĩa quân rút khỏi làng Lầy. Hôm sau địch chiếm căn cứ làng Lầy không tốn một viên đạn nhưng cũng không bắt được ai. Sốp-lê lập tức phái quân lục soát các làng xung quanh nhưng nhân dân hết sức giữ bí mật nên địch không tìm ra manh mối. Kế hoạch bao vây của Sốp-lê đã hoàn toàn thất bại.

Ngày 16, trời nổi cơn dông lớn, cuộc hành quân phải tạm ngừng. Sốp-lê được tin Đề Thám còn ở Phúc Yên và đang tìm đường trở về Yên Thế, nên điều quân về đóng dọc đường Phủ Lỗ - Thái Nguyên. Trong ngày 17, các cánh quân của Sát-tơ-li-ê, Say-len, Gơ-rơ-mi-ê và Péc-tuy được lệnh rời khỏi làng Lầy về đóng ở Ninh Liệt, Hạ Giá, Phú Điền, Trung Giã, Đào Thượng; bản doanh Sốp-lê chuyển về Đa Phúc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 09:39:24 AM

Trận Lập Chi ngày 20 tháng 7:

Trong khi Sốp-lê còn đang vây làng Lầy thì Đề Thám đã phái một toán nghĩa quân do Hai Nôm chỉ huy về quấy rối ở Thanh Trì cách Phúc Yên 5 cây số về phía đông bắc để chia sẻ lực lượng địch, đỡ cho một trận chính. Quả nhiên, công sứ Phúc Yên hốt hoảng, sợ cho tỉnh lỵ Phúc Yên có thể bị tấn công. Cho nên ngày 13 hắn đề nghị Sốp-lê rút các đơn vị lính khố xanh thuộc tỉnh Phúc Yên về bảo vệ tỉnh lỵ.

Đêm 19, Hai Nôm kéo nghĩa quân về đóng tại làng Lâp Chi cách Thanh Trì 2 cây số về phía tây bắc. Ngay sáng hôm sau, trung úy Búp-phê cùng đội Lơ-roa ở đồn Thanh Trì dẫn lính đến bao vây Lập Chi.

4 giờ 30 phút sáng, Búp-phê hô quân xung phong vào làng theo hai ngả nam và tây. Cánh phía tây lọt được vào làng. Nhưng nghĩa quân nấp sau các bụi cây và hầm hố, xông ra cướp súng bắn lại, chúng hốt hoảng rút lui. Ở phía nam, Búp-phê cũng đã xông được vào làng nhưng bị nghĩa quân chặn đánh. Trong làng, hai bên bắn nhau. Một lúc sau nghĩa quân hết đạn, Búp-phê sợ mắc mưu không dám xông lên, hạ lệnh đem củi khô và rơm đốt cháy rồi ném về phía chiến hào nghĩa quân. Đợi lửa tắt địch xông lên: 6 nghĩa quân trong đó có một phụ nữ đã anh dũng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng quyết không chịu hàng giặc.

Trong trận này địch chết và bị thương nhiều, toàn là lính lê dương. Bên nghĩa quân, trong số bị hy sinh có Hai Nôm là người làm địch mất ăn, mất ngủ ở Phúc Yên từ đầu năm tới nay.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 09:39:59 AM

Trận Xuân Lai ngày 22 tháng 7:

Từ khi rút khỏi làng Lầy, Đề Thám và thủ hạ chủ trương tìm đường trở lại Yên Thế, Nhưng dọc đường quốc lộ số 3, địch đóng đồn canh chi chít bao vây khắp ngả khó bề đi lọt. Tin Hai Nôm, một chỉ huy xuất sắc, bị hy sinh trong trận Lập Chi, càng làm cho Đề Thám nóng lòng sốt ruột. Sáng ngày 22, Đề Thám và Ba Biểu chỉ huy dẫn quân chiếm đóng làng Xuân Lai trên bờ sông Cà Lồ cách Phủ Lỗ 4 cây số về phía đông. Đội khố xanh đóng ở đồn Yên Phụ được tin kéo đến bao vây. Hai bên nổ súng, địch bị thương 4 tên phải rút ra vệ đê sông Cà Lồ.

Sốp-lê cũng phái gấp cánh quân Say-len đến Xuân Lai công hãm mặt bắc, đồng thời điều động một trung đội khố đỏ đến trợ lực cho Say-len, các đơn vị Péc-tuy và Sát-tơ-li-ê về đóng ở Phủ Lỗ để yểm hộ cho cuộc vây hãm.

Khoảng hơn 2 giờ chiều, Say-len nhận được một bức thư của nghĩa quân đem ra do Voa-danh viết, dưới ký tên Đề Thám. Chắc rằng Đề Thám hiện đang ở Xuân Lai, địch đưa thư dụ hàng hẹn 20 phút phải trả lời. Đúng 3 giờ 30 phút nghĩa quân trả lời bằng súng.

Đúng 4 giờ, Sốp-lê thân đến chỉ huy cuộc tấn công. Vòng vây đã thắt chặt ba ngả bắc, tây, đông mà một lát sau còn có lính đóng ở Bắc Ninh đến trợ chiến. Không chắc hạ nổi Xuân Lai trước buổi tối, đến phút cuối cùng Sốp-lê lại điều thêm đội quân Sát-tơ-li-ê đóng ở Phủ Lỗ tiến về Xuân Lai.

4 giờ 30 phút, Say-len hô xung phong vào mặt bắc nhưng vô hiệu vì phải vượt qua một cánh đồng lầy rộng tới 500 thước, rất dễ làm mồi cho nghĩa quân nấp kín sau lũy tre. 5 giờ 15 phút, Sốp-lê lại gọi thêm quân ở Đa Phúc về tăng viện. Thế là đại bộ phận binh đoàn Sốp-lê được huy động để vây hãm Xuân Lai. Hai bên bắn nhau dữ dội, địch nhiều lần mạo hiểm xông vào nhưng đều bị đánh bật ra.

5 giờ 30 phút, nghĩa quân đưa thư xin điều đình; Sốp-lê ra điều kiện phải nộp vũ khí và trao trả Voa-danh, hạn 10 phút phải trả lời. Cuộc thương thuyết thất bại, tiếng súng tiếp tục nổ.

6 giờ 30 phút tối, Sốp-lê kiểm điểm quân số thấy hao hụt nhiều quá, hạ lệnh ngừng cuộc chiến đấu, nhưng vẫn giữ nguyên vị trí để sáng hôm sau tiếp tục tấn công.

Khoảng 10 giờ đêm, phía nghĩa quân bắn ra dữ dội, có lẽ để chuẩn bị rút. Địch không bắn trả lại, chỉ tăng cường canh phòng.

Sáng sớm hôm sau, địch cho trinh sát sang trận địa nghĩa quân không thấy động tĩnh gì, địch liền xông vào nhưng Xuân Lai hoàn toàn bỏ ngỏ vì nghĩa quân đã rút hết từ đêm.

Mấy hôm sau, địch rút quân về đóng dọc con đường Đa Phúc - Phủ Lỗ, ra sức lục soát càn quét từ Thanh Lai đến Lương Châu, song không tìm đâu thấy dấu vết nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 10:01:35 PM

Trận Hiền Lương ngày 25 tháng 7;

Sau khi rút khỏi Xuân Lai, nghĩa quân bí mật đi về phía tây để đánh lạc hướng địch. Trước thái độ quyết liệt của giặc, Đề Thám thấy không còn có thể dùng con bài Voa-danh trong cuộc thương thuyết nữa, vì vậy sáng ngày 25, Voa-danh bị nghĩa quân bỏ lại cạnh huyện sở Kim Anh. Nghe tin, trung úy Búp-phê kéo quân đến Thanh Nhàn (trên đường quốc lộ số 2 cách Phúc Yên 5 cây số) và được mật báo Đề Thám hiện ở Hiền Lương, Búp-phê liền dẫn quân đến tấn công. Công sứ Phúc Yên và Sốp-lê được tin cũng phái thêm quân đến tăng viện. Hồi 2 giờ 40 phút, Sốp-lê đích thân đến quan sát trận địa.

Phía tây làng Hiền Lương không có cổng vào, bao bọc bằng một tường cao 1 mét 80, trên trồng tre rất kiên cố; phía nam có hai đường nhỏ dẫn vào làng do hai cổng; phía đông là một bức tường đất cao 1 mét 20 đến 1 mét 40, cả hai đều có hai cổng và cách làng 200 mét, có một bụi tre làm bàn đạp tấn công; phía bắc có tường rất cao, đằng trước là một lùm cây rậm rạp.

3 giờ 30 phút, địch bắt đầu nổ súng. Sau khi cho trọng pháo bắn nát hai cổng làng phía nam, Cô-le hô lính khố xanh xung phong nhưng vô hiệu, binh lính vẫn nằm chết gí ở bờ ruộng mặc dầu có đại bác yểm hộ. Mặt đông, Péc-tuy mạo hiểm dẫn quân tiến sâu vào làng; nghĩa quân nấp kín sau bờ ao, bụi cây bắn ra dữ dội, chúng hốt hoảng rút ra ngoài. Đến 5 giờ 15 phút, được đội dự bị của Búp-phê đến trợ lực, chúng lại liều chết xông vào nhưng bị thiệt hại nặng. Đại úy Péc-tuy bị trọng thương.

Được tin quân lính bị tổn thất nặng, Sốp-lê hạ lệnh cho trọng pháo dời về phía đông, bắn vào làng mở đường tiến cho bộ binh về mạn bắc. Tuy vậy cánh quân của Péc-tuy vẫn không sao chiếm được mà cũng không lùi được vì nghĩa quân bắn ra rất dữ.

Đêm xuống, hai bên ngừng súng, địch tập hợp lực lượng, thu nhặt xác chết và bị thương; ngôi chùa phía nam trở thành trạm quân y. Nghĩa quân cũng thừa lúc bất ngờ rút khỏi Hiền Lương, sáng sớm hôm sau, địch xông vào chỉ còn làng không.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 10:02:43 PM

Trận này là trận địch thua thiệt nhất từ khi mở màn chiến dịch Phúc Yên. Bọn Pháp ở Đông Dương có chủ trương lập một đội quân người Việt đặt dưới quyền một viên quan lại cao cấp để thay thế một phần cho quân đội chính quy đỡ mệt nhọc, đồng thời có thể áp dụng những biện pháp đàn áp thích hợp với tình thế hơn.

Tổng đốc Hải Dương Lê Hoan được Nam triều thỏa hiệp với toàn quyền, chỉ huy tổ chức và thống lĩnh một đội quân gồm 400 thân binh1, có nhiệm vụ phối hợp hoạt động với quân đội thực dân và các đơn vị khố xanh. Lê Hoan được phong chức Khâm sai đại thần có đủ quyền hành cần thiết để tiễu trừ mau chóng phong trào Đề Thám ở Phúc Yên. Theo chỉ thị của tổng chỉ huy quân đội Đông Dương và thống sứ Bắc Kỳ thì Lê Hoan đảm nhiệm lục soát điều tra, bắt bớ, xét xử những người phạm tội. Nếu gặp nghĩa quân thì thân binh phải kiềm chế để chờ quân chính quy tới. Sau cuộc chiến đấu, thân binh truy kích tàn quân, khủng bố dân chúng khai thác tài liệu. Ngược lại, quân đội chính quy và lính khố xanh có nhiệm vụ chiến đấu và tấn công tiêu diệt các toán nghĩa quân do thân binh phát hiện, trợ lực thân binh trong các trận càn quét.

Như vậy là quyền hành của Sốp-lê trong một phần tỉnh Phúc Yên từ nay giao lại cho khâm sai Lê Hoan. Tiến đánh nghĩa quân là nhiệm vụ của Sốp-lê, nhưng đuổi bắt nghĩa quân, tổ chức lại sự trị an trong vùng lại là công của Lê Hoan, đó là một trong những nguyên nhân khiến nội bộ giữa Lê Hoan, Sốp-lê và công sứ Phúc Yên lục đục sau này.

Bọn chỉ huy thực dân và tay sai tuy mâu thuẫn nhau trong việc tranh giành quyền hạn, nhưng vẫn không ngừng mở những cuộc tiến công tuần tiễu bao vây nghĩa quân trong hạt Phúc Yên. Bên ta vì không nắm được tình hình địch nên đã để lỡ nhiều dịp đánh mạnh vào những đội quân tuần tiễu của chúng. Từ sau trận Hiền Lương (ngày 25-7), đại bộ phận nghĩa quân do Đề Thám cùng Cả Dinh, Cả Huỳnh chỉ huy đã bí mật rút sang phía bắc Vĩnh Yên. Còn lại ở Phúc Yên chỉ là những toán quân phụ dưới quyền thống lĩnh của Ba Biểu, luôn luôn di động làm kế nghi binh, nhưng nói chung vẫn là thế bị động phòng ngự, địch kéo đến thì chống cự chứ không biết tìm địch mà đánh.
______________________________
1. Gọi là quân khố vàng, rất nhũng nhiễu dân chúng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 10:03:21 PM

Trận Bạch Đa ngày 13 tháng 8:

Sáng sớm ngày 13 tháng 8, có tin nghĩa quân xuất hiện ở Bạch Đa (cách thị xã Phúc Yên 2 cây số rưỡi về phía đông nam), trung úy Búp-phê, Lê Hoan và đại úy Gơ-rơ-mi-ê vội kéo quân đến bao vây. Một lát sau Sốp-lê cũng dẫn quân đến tăng viện. 3 giờ 30 phút, địch bắt đầu tấn công. Cánh quân phía đông bắc của trung úy Bờ-rôn (Braun) tiến rất chật vật, Bờ-rôn cùng hai lính Âu bị thương.

Vượt qua lũy tre, địch xông vào làng đi sâu vào một con đường hẹp hai bên là ao, đi được 40 mét là cụt đường. Địch biết là rơi vào bẫy nghĩa quân vội rút khỏi làng và bao vây mặt ngoài, chặn đường rút của nghĩa quân. Hai bên cầm cự đến chiều tối. Mặc dầu có pháo binh trợ lực, địch vẫn không dám mạo hiểm xông vào làng lần nữa. Đêm đến, Sốp-lê hạ lệnh hoãn tiến công thắt chặt vòng vây tăng cường kiểm soát và dự định sáng hôm sau sẽ tiến công. Tối hôm đó trời mưa như trút. Lợi dụng lúc trời mưa, nghĩa quân rút khỏi Bạch Đa. Sáng sớm hôm sau, Gơ-rơ-mi-ê vào được trong làng thì chỉ còn trơ nhà cửa, công sự bỏ không.


Trận Thượng Yên ngày 16 tháng 8:

Rời khỏi Bạch Đa, nghĩa quân kéo về đóng ở Thượng Yên cách Phủ Lỗ 3 cây số về phía đông. Sáng sớm ngày 16 tháng 8, Sốp-lê được tin báo, phái bốn cánh quân có pháo binh trợ lực, từ Thạch Lỗ hùng hổ kéo về Thượng Yên. Trời rất nóng, địch hành quân rất chật vật, mãi 5 giờ chiều mới tới Thượng Yên. Trong lúc đó trung đội Búp-phê đi từ Phúc Yên tới bằng xe lửa cùng các đơn vị khố xanh ở các đồn Phủ Lỗ, Yên Phụ, Từ Sơn đã đến từ sáng và trưa.

Sốp-lê đến lúc 2 giờ 30 phút, quan sát trận địa, hắn nhận thấy mặt nam dễ tiến công và có chỗ thuận tiện đặt trọng pháo. Hai đại đội Sát-tơ-li-ê và Gơ-rơ-mi-ê được lệnh đánh mặt nam và hai phía đông nam, đông bắc. Trọng pháo đặt tại một ngôi chùa phía tây nam cách Thượng Yên 300 mét, có nhiệm vụ bắn góc đông nam và đầu làng phía nam để chặn đường rút quân của nghĩa quân.

5 giờ chúng bắt đầu tiến quân. 40 phút sau, địch xung phong và một số đã lọt vào trong làng từ phía đông bắc. Đêm xuống, địch ngừng tiến công. Sốp-lê hạ lệnh giữ nguyên vị trí chiếm được trong làng và bao vây chặt phía ngoài làng. Tuy vậy, nghĩa quân vẫn giữ chiến thuật quen thuộc là lợi dụng sơ hở của địch trong đêm tối để rút ra ngoài. Trong trận này địch chết và bị thương hơn 10 tên, trong đó có cả tên trung úy Tê-ta và Gô-ghi-y. Bên nghĩa quân có Ba Biểu bị thương nặng và hai hôm sau địch tìm thấy xác ông trên một thửa ruộng gần làng Nhân Tác (sinh quán của ông). Để uy hiếp tinh thần dân chúng và khoe khoang chiến công, chúng chặt đầu Ba Biểu đem treo ở Phủ Lỗ, sau đó lại đem về bêu ở thị xã Phúc Yên.

Sau trận Thượng Yên, địch rút kinh nghiệm, chúng nghiên cứu chế tạo các chất nổ để phá các tường lũy, các chất cháy để đốt sáng trong đêm tối, ngăn nghĩa quân rút lui.

Mâu thuẫn giữa Sốp-lê, công sứ Phúc Yên và Lê Hoan mỗi ngày thêm sâu sắc. Để giải quyết tình trạng đó, Tổng chỉ huy quân đội Đông Dương quyết định rút Sốp-lê về Sơn Tây và giao cho thiếu tá Bô-ni-pha-xi (Bonifacy) quyền thống lĩnh các lực lượng ở Phúc Yên, tiếp tục càn quét, đặng tiêu diệt kỳ được phong trào Đề Thám.

Bô-ni-pha-xi nhận nhiệm vụ ngày 30 tháng 8. Để cho sự cộng tác với Lê Hoan được mật thiết hơn, Bô-ni-pha-xi điều quân từ Phủ Lỗ về đóng tại Thạch Lỗ gần bản doanh của Lê Hoan để đôi bên cộng tác thêm chặt chẽ. Đồng thời Toàn quyền Đông Dương sau khi thỏa thuận với bộ tổng chỉ huy và thống sứ Bắc Kỳ còn cử tên quan cai trị Phác-dát (Fargeas) làm ủy viên chính phủ lãnh đạo cuộc hành binh và có quyền tối hậu quyết định.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2017, 10:03:38 PM

Trận Yên Lỗ ngày 6 tháng 9:

Sáng ngày 6 tháng 9, khoảng 15 nghĩa quân đột nhập làng Thái Lai (cách Phúc Yên 6 cây số, phía tây trên bờ sông Cà Lồ). Bô-ni-pha-xi được tin liền huy động lực lượng đến bao vây thì nghĩa quân đã rút về Yên Lỗ. Ngay chiều hôm đó, Bô-ni-pha-xi lợi dụng ưu thế về quân số dẫn quân tới bao vây Yên Lỗ.

Bộ binh địch đã tiến sát làng nên trọng pháo không sử dụng được. Phía đông bắc, đại úy La-xôn tiến quân rất chật vật vì nghĩa quân bắn trả lại rất dữ dội. Địch liều mạng xông đến cổng làng phía đông bắc. Dù đã có chất nổ phá cổng nhưng La-xôn vẫn dẫn quân vào làng. Cuộc chiến đấu trong làng diễn ra gay go quyết liệt: địch tiến sát các tường lũy vào chiến hào; nghĩa quân đốt cháy các nhà xung quanh để chặn địch; hai bên đánh giáp lá cà, địch dùng bộc phá để phá công sự của nghĩa quân. Trời tối mịt, nghĩa quân rút qua ao về phía tây bắc để lại 7 xác chết và 4 cây súng. Bên địch chết 8, bị thương 7, trong đó có đại úy Phông-ten (Fontaine).

Sau trận đó, một bộ phận lực lượng địch được nghỉ chiến đấu sau một thời gian hành quân liên miên và hao tổn. Còn nghĩa quân phần bị tiêu hao, phần còn lại cũng rút dần sang Vĩnh Yên sát nhập với bộ phận chính do Đề Thám chỉ huy, lúc này đã lập căn cứ trên núi Lang ở phía bắc Vĩnh Yên.

Ngày 28 tháng 9, được tin báo, Phác-dát cùng Lê Hoan và Bô-ni-pha-xi họp bàn quyết định chuyển quân về Vĩnh Yên tiếp tục truy kích nghĩa quân, còn sự trị an ở Phúc Yên giao cho các lực lượng khố xanh đảm nhiệm.

Như vậy là qua hai tháng trời hành binh mệt mỏi, địch vẫn không đạt mục đích đã định.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 11:32:16 AM

Câu hỏi 29: Hãy cho biết tình hình chiến sự phía bắc Vĩnh Yên và tương quan lực lượng giữa nghĩa quân và quân Pháp?
Trả lời:


Từ sau trận Hiền Lương (ngày 25-7) Đề Thám để một bộ phận nhỏ ở lại Phúc Yên để kiềm chế địch, còn đại bộ phận thì rút về đóng ở chân núi Lang thuộc huyện Lập Thạch, phía bắc Vĩnh Yên.

Cuộc hành quân của Đề Thám hết sức bí mật, suốt hai tháng 8 và 9 địch không dò ra vết tích. Thực ra từ đầu tháng 8, Sốp-lê đã phong thanh nghe tin nghĩa quân xuất hiện ở núi Lang, nhưng đội thân binh của Lê Hoan sau khi điều tra lại không xác nhận tin này. Trung tuần tháng 8, thiếu tá Bô-ni-pha-xi chỉ huy tiểu đoàn đóng ở Việt Trì đã phái trinh sát đến vùng Bình Sơn trên bờ sông Lô nhưng không tìm được manh mối gì. Ngày 12 tháng 9, công sứ Phú Thọ yêu cầu tiểu đoàn Việt Trì phái 20 lính lê dương và 30 lính khố đỏ do trung úy Ghê-ny (Guény) về đóng ở Từ Đà để kiểm soát vùng này, ngăn chặn nghĩa quân tràn sang Phú Thọ. Ngày 21 tháng 9, Ghê-ny được tin báo có khoảng 60 nghĩa quân xuất hiện ở núi Lang, nhưng cuộc hội nghị giữa bọn tuần phủ ở Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phú Thọ lại không xác nhận tin đó.

Những tin tức không ăn khớp nhau như thế chứng tỏ nghĩa quân hành động hết sức bí mật, đồng thời cũng chứng tỏ thêm nữa sự bất lực của tình báo địch. Điều đó càng giúp Đề Thám có cơ hội tổ chức lại lực lượng, đặng chuẩn bị ứng phó với âm mưu tiến công của quân thù. Cuối tháng 9 địch đã dò được bản doanh của Đề Thám ở núi Lang. Bô-ni-pha-xi cấp tốc điều quân rời khỏi Phúc Yên.

* Một số trận đánh tiêu biểu:

Trận núi Lang ngày 5 tháng 10:

Ngày 29 tháng 9, Bô-ni-pha-xi dẫn đại quân rời Phúc Yên tiến về phía bắc Vĩnh Yên. Bản doanh địch đặt ở Mãn Hóa, còn pháo binh đóng ở Quảng Cư.

Thân binh của Lê Hoan đóng ở Quảng Cư và Liễn Sơn.

Ý định của Bô-ni-pha-xi là dùng thân binh chiếm dần dần các làng Mán chung quanh núi Lang để càng thắt chặt vòng vây và triệt đường tiếp tế của nghĩa quân.

Đêm mùng 2 tháng 10 nghĩa quân đào công sự phòng thủ khá kiên cố trong thung lũng giữa hai mỏm 305 và mỏm 616. Từ ngoài đi vào về phía tây có một con đường nhỏ, chỗ quang chỗ rậm, cỏ lút đầu người, lại qua một cánh rừng có suối chắn ngang, có chỗ dốc ngược rất trơn, địch lần vào được cũng mất khá nhiều công sức.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 11:32:45 AM

Sáng mùng 3 tháng 10, địch chia nhiều ngả tiến vào. Khoảng quá trưa địch chỉ cách nghĩa quân vài trăm thước. Nghĩa quân cảnh giới thoáng thấy bóng địch, từ vị trí tiền tiêu nghĩa quân bắn ra. Cuộc chiến đấu bắt đầu.

Đại úy Sát-tơ-li-ê được lệnh tiến quân lên đồi để tiêu diệt vị trí tiền tiêu và để quan sát vị trí các chiến hào của nghĩa quân. Nhưng bất thình lình từ trong các chiến hào có bụi cây che kín, nghĩa quân bắn ra rất trúng, gây nhiều thiệt hại cho chúng; thêm vào đó, vì địa hình chằng chịt dây leo gai góc, địch tiến quân rất chật vật.

Đến 4 giờ chiều, Sát-tơ-li-ê ra lệnh xung phong chiếm chiến hào nghĩa quân, nhưng vô hiệu quả. Trong đợt chiến đấu này, Đỗ Huỳnh - thư ký của Đề Thám hy sinh.

Trong lúc đó thì đơn vị của đại úy Say-len đang tiến dọc theo suối cũng bị nghĩa quân đón bằng nhiều tràng đạn từ chiến hào bên bờ suối và từ sườn dốc bắn ra.

Đơn vị Say-len liền tản rộng ra hai bên bờ suối để tránh đạn. Dốc cao trơn, khó trèo, đạn bắn như mưa, địch tiến rất chậm, số thương vong khá nhiều. Trung úy Gờ-rét-sanh (Gressin) hạ lệnh ném thủ pháo vào chiến hào của nghĩa quân nhưng chiến hào trên cao, địch ở chân dốc, ném lên khó trúng. Trọng pháo địch không có chỗ đặt nên cũng vô dụng.

Trời về chiều, đại úy La-xôn gửi thêm quân tới tiếp viện. Địch liều mạng xung phong đợt khác, hy vọng chiếm lĩnh chiến hào nghĩa quân trước khi trời tối, nhưng cũng thất bại.

Còn đội tiên phong do trung úy Ghê-ny dẫn đầu thì cũng không tránh khỏi tổn thất nặng nề. Được một tên dẫn đường, đi theo một con đường nhỏ xuyên rừng, vượt suối nhưng đột nhiên một loạt đạn của nghĩa quân bắn ra, tên dẫn đường trúng đạn chết ngay. Đơn vị khố đỏ đi đầu, tiến lên vài bước nữa, lại bị một loạt đạn ở sườn dốc bắn xuống. Địch nháo nhác chạy dạt sang bờ suối bên trái, lùi vào rừng, một bộ phận không rút kịp, để lại bên dòng suối 3 xác chết. Bị thương vong nhiều, Ghê-ny dẫn quân trở ra định xuyên rừng tiến về phòng tuyến quân ta bằng ngả phía tây. Đến 4 giờ chiều, địch chỉ còn cách ta không xa nhưng chúng không sao tiến sát được nữa. Tiểu đội liên thanh chết quá nửa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 11:33:01 AM

Phía bên trái, mấy đợt xung phong của trung đội La-ca-ban (Lacabanne) định tiến về phía đông nhưng cũng thất bại nốt. Nghĩa quân nấp trong các chiến hào ở sườn núi trên cao nên lợi thế, hễ địch ló ra tên nào là ngã luôn tên ấy. Cuối cùng chúng phải lùi về phía tây, sát nhập với cánh quân của Ghê-ny.

Thiếu tá Bô-ni-pha-xi thấy cánh quân của đại úy Sát-tơ-li-ê loay hoay mãi không tiến được đến các chiến hào của nghĩa quân ở trên đồi và dưới suối, bèn ra lệnh cho đại úy A-bơ-la (Abolard) đem quân tiếp viện, hợp với cánh quân của đại úy Sát-tơ-li-ê. Khoảng 4 giờ, A-bơ-la đã nối được với trung đội Ghê-ny, tạo thành một thế bao vây vị trí nghĩa quân trên đồi.

Ba cánh quân A-bơ-la, Ghê-ny, Sát-tơ-li-ê phối hợp mở cuộc tấn công mạnh vào vị trí quân ta. Chúng liệng thủ pháo vào chiến hào của ta rồi xung phong. Bên ta 5 chiến sĩ hy sinh. Nghĩa quân rút khỏi phòng tuyến thứ nhất. Trời tối dần, hai bên ngừng súng, địch đóng quân ngay trên phòng tuyến mới chiếm.

Suốt một ngày chiến đấu, địch tổn thất nặng, ba cánh quân A-bơ-la, Ghê-ny, Sát-tơ-li-ê, phối hợp mới chiếm được phòng tuyến thứ nhất ở sườn bắc. Chiến hào cạnh suối cũng đã bị trung đội Boay có pháo binh trợ lực chiếm được; còn bên kia suối, cánh quân Say-len vẫn nằm bẹp gí cách chiến hào ta mấy thước. Địch có 17 tên chết và 39 tên bị thương.

Đêm hôm đó trời mưa to, nghĩa quân rút khỏi núi Lang tiến về Tam Đảo.

Sớm hôm sau, địch tiến vào chỉ còn công sự bỏ không. Bô-ni-pha-xi chỉ để lại thân binh và dõng để tiếp tục lùng soát trong rừng đề phòng nghĩa quân trở lại, còn chúng thì rút hết lực lượng lê dương và khố đỏ đem theo thương binh về Phương Ngạc, Quế Nhâm, Văn Thạch và Quế Chạo. Trận núi Lang là một thất bại lớn trên chiến trường Vĩnh Yên, mà cũng là trận phòng ngự lớn cuối cùng của nghĩa quân Đề Thám. Một lần nữa, chiến thuật phòng ngự dựa vào địa hình hiểm trở của Đề Thám đã gây cho địch nhiều tổn thất. Bô-ni-pha-xi thú nhận rằng chúng đã đụng phải một đối phương hoàn toàn có tổ chức và thiệt hại của chứng quá nặng nề so với thiệt hại của nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 10:31:29 PM

Câu hỏi 30: Trên chiến trường Tam Đảo và Thái Nguyên nghĩa quân của Đề Thám khi ẩn, khi hiện gây cho địch nhiều lúng túng, Đề Thám đã dùng cách nào để thực hiện điều đó?
Trả lời:


Sau trận núi Lang, địch vẫn đóng quân quanh quẩn vùng này và vẫn chưa tìm ra manh mối chỗ ở của nghĩa quân. Mãi tới ngày 17 tháng 10 năm 1909, địch mới dò được rằng ngay sau khi rút khỏi núi Lang, Đề Thám đã vượt sông Đáy1 qua lũng Vĩnh Ninh vào rặng Tam Đảo. Ngày 18 tháng 10, Bô-ni-pha-xi cho quân đóng dọc chân núi phía tây nam Tam Đảo từ Đạo Trù qua Vĩnh Ninh, Hoàng La đến Ninh La. Sau trận núi Lang, mặc dù nghĩa quân có gây cho địch thiệt hại nặng nhưng hàng ngũ nghĩa quân cũng bắt đầu lung lay.

Ngày 23 tháng 10, Cả Dinh và sáu nghĩa quân khác đến đồn Liễn Sơn nộp súng đầu hàng. Trong khi đó, Đề Thám dẫn quân vượt tắt rặng Tam Đảo sang địa hạt Thái Nguyên. Được tin nghĩa quân xuất hiện ở phía nam Cát Nê (sườn phía bắc Tam Đảo thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên), Bô-ni-pha-xi phái A-bơ-la dẫn quân vượt tắt qua núi Tam Đảo đóng dọc từ Mỹ Trạng đến Cát Nê chặn nghĩa quân rút lên chợ Chu. Đại bộ phận lực lượng quân của Bô-ni-pha-xi vẫn đóng tại Vĩnh Ninh chờ thêm tin tức, sẵn sàng men theo phía nam Tam Đảo qua Mỹ Khê, đèo Nhe, quặt lên phía bắc, tạo một thế bao vây gọng kìm đối với nghĩa quân.

Đơn vị của A-bơ-la xuất phát từ Vĩnh Ninh ngày 24 tháng 10. Qua hơn một ngày trèo dốc cao, hôm sau chúng tới Mỹ Trạng lúc 2 giờ chiều. Nghe tin Đề Thám xuất hiện ở Thác Vàng và có ý muốn qua Yên Thái lên Đại Từ rồi ngược lên chợ Chu, A-bơ-la phái một trung đội khố đỏ đóng ở Cù Vân, một trung đội khố đỏ khác đóng ở Phục Linh (trên đường Tuyên Quang - Thái Nguyên), còn tiểu đội lê dương đóng ở Hùng Sơn (huyện lỵ Đại Từ) chặn nghĩa quân. Bị chặn khắp các ngả nên sáng 27 tháng 10, Đề Thám phải dẫn quân trở lại Đồng Bỏng (trên bờ sông Kông cách Thác Vàng 4 cây số). Các trung đội khố đỏ ở Cù Vân và Phục Linh được lệnh về tập trung ở Hùng Sơn, rồi kéo cả về Lục Ba ngay chiều hôm đó. Địch bắt dân chúng tra hỏi dấu vết nghĩa quân nhưng dân chúng một lòng ủng hộ nghĩa quân, hết sức giữ bí mật khiến địch không khai thác được mảy may. A-bơ-la nơm nớp lo nghĩa quân rút được lên phía bắc về phía chợ Chu nên lại dẫn quân trở lại Hùng Sơn. Quân địch vừa lục tục kéo về Hùng Sơn chưa nóng chỗ lại được tin báo nghĩa quân đang hạ trại ở đông bắc Đồng Bỏng. A-bơ-la hấp tấp kéo quân về Bờ Rạ (cách Hùng Sơn 13 cây số). Đồng Bỏng đối diện với Bờ Rạ cách nhau bằng con sông Kông khoảng một cây số. Nghĩa quân ngay đêm hôm đó nhổ trại rút lên phía bắc qua núi Pháo. Sáng ngày 29 tháng 10, địch vượt sông Kông sang Đồng Bỏng lục lọi đến 3 giờ chiều mới tìm ra chỗ đóng quân của Đề Thám, nhưng cũng từ đó chúng mất hẳn dấu vết đường rút lui của nghĩa quân. Địch lại đem quân trở lại Bờ Rạ.

Cuộc hành quân bí mật, nhanh chóng khi ẩn khi hiện của nghĩa quân làm cho địch loay hoay lúng túng trong suốt 13 tiếng đồng hồ. Chúng lặn lội trong rừng, dưới suối mà không đem lại kết quả gì.
_________________________________
1. Sông Đáy: Con sông này còn có tên là Phó Đáy, bắt nguồn từ phía bắc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang qua Vĩnh Yên chảy ra sông Hồng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 10:31:50 PM

Trong khi đó đại bộ phận lực lượng của Bô-ni-pha-xi đang đóng ở Vĩnh Ninh thì được tin công sứ Thái Nguyên cho biết Đề Thám đang trên con đường từ Đồng Bỏng đến Bến Đông. Bô-ni-pha-xi dẫn quân rời khỏi Vĩnh Ninh (ngày 26-10) men theo sườn phía nam Tam Đảo qua Lưu Quang, Mỹ Khê vòng lên Thanh Lộc (gần trận địa làng Lầy khi trước). Tới đây Bô-ni-pha-xi đã bắt liên lạc được với A-bơ-la đang quanh quẩn ở Đồng Bỏng (từ Đồng Bỏng đi Bến Đông khoảng 13 cây số). Bô-ni-pha-xi đang tính chuyện bao vây tiêu diệt nghĩa quân bằng hai gọng kìm, phía bắc là quân của A-bơ-la và phía nam là quân của Bô-ni-pha-xi, nên ra lệnh cho A-bơ-la phải bám sát nghĩa quân, tìm cách dồn về phía nam, đợi đại quân ở Thanh Lộc sẽ vượt đèo Nhe kéo sang đón đầu. Đồng thời, hắn còn yêu cầu giám binh Thái Nguyên gửi lính khố xanh đến tăng viện. Mưu kế của Bô-ni-pha-xi chưa được thực hiện thì Đề Thám đã khôn khéo rút khỏi Đồng Bỏng vượt qua núi Pháo tràn qua làng Khóc Long sang đóng ở núi Sơn Cẩn (giáp đường quốc lộ 3 cách Thái Nguyên 10 cây số về phía bắc), nghĩa quân đã thoát được gọng kìm ác liệt của địch.

Bô-ni-pha-xi bèn hạ lệnh cho A-bơ-la tiến quân đóng tại Cù Vân và càn quét mạnh vùng rừng núi giữa sông Cầu và Hùng Sơn, bao vây nghĩa quân vùng Sơn Cẩn. Chiều ngày mùng 3 tháng 11, được tin báo nghĩa quân đang dự định vượt sông Cầu ở mạn Hóa Thượng muốn tiến về Yên Thế, Bô-ni-pha-xi hạ lệnh cho đại bộ phận lực lượng tiến xuống Thái Nguyên, còn đại đội La-xôn đóng ở Lý Nhân và đại đội Say-len đóng ở làng Cường chuẩn bị hoạt động ở hữu ngạn sông Cầu đón đánh quân ta.

Trong 14 ngày (từ mùng 4 đến ngày 17-11-1909), nghĩa quân dùng kế nghi binh khiến Bô-ni-pha-xi trong hai tuần lễ càn quét hầu hết các làng hai bên tả hữu ngạn sông Cầu mạn bắc Thái Nguyên không đem lại kết quả gì. Có lúc quân địch vừa định điều đại đội Say-len hấp tấp đi từ Thái Nguyên về cách Mỏ Na Lương (ngày 6-11) hai cây số, lại vừa hấp tấp kéo quân trở lại Thái Nguyên.

Ngày 7 tháng 11, Đề Thám xuất hiện ở Na Nua cách Xa Lung ba cây số về phía nam, đại đội La-xôn vội vã kéo quân đến thì nghĩa quân đã rút tự lúc nào. Từ ngày 10 tháng 11, địch bố trí đóng suốt mấy làng Na Nua, Khe Mo, Phủ Lý, Trại Cả để chặn đường sang Yên Thế. Suốt ngày địch càn đi quét lại lùng bắt nhân dân tra hỏi lấy tin, kiểm soát rất ngặt nghèo, nhưng nghĩa quân vẫn rút được về Mỏ Na Lương trở về Phồn Xương hoạt động trong địa bàn cũ vùng Yên Thế.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 10:32:45 PM

Câu hỏi 31: Những ngày cuối cùng của Đề Thám và phong trào Yên Thế diễn ra như thế nào?
Trả lời:


Sau hơn 10 tháng trời quần nhau với địch trên một địa bàn rộng lớn từ bắc Vĩnh Yên qua Phúc Yên đến Thái Nguyên, tuy làm địch tổn hại nhiều nhưng phía nghĩa quân lực lượng cũng hao mòn. Tướng lĩnh giỏi, người thì ra hàng, người thì hy sinh, quân số bị hao hụt mà không bổ sung được. Trung tuần tháng 11, Đề Thám dẫn mấy chục nghĩa quân sống sót trở về Yên Thế.

Ngày 17 tháng 11, địch được tin về nghĩa quân của Đề Thám, chúng liền phái hai đội quận của Arbơ-la và Sát-tơ-li-ê về đóng ở Mỏ Na Lương, hai đại đội Say-len và La-xôn về đóng ở Canh Nậu, còn Bô-ni-pha-xi đóng bản doanh ở Nhã Nam. Các đơn vị địch đóng ở Yên Thế từ sau cuộc hành binh tháng 5 đều được huy động để lùng bắt nghĩa quân.

Ngày 30 tháng 11, được tin báo nghĩa quân hoạt động trong vùng tam giác Mỏ Trạng, chợ Gồ, Dĩnh Thép, Bô-ni-pha-xi phái đại đội Sát-tơ-li-ê và La-xôn đóng ở Mỏ Trạng, Say-len đóng ở chợ Gồ, A-bơ-la đóng ở Nhã Nam để phục kích. Thân binh của khâm sai Lê Hoan đóng thành từng đồn nhỏ, bố trí các ổ phục kích, tạo thành một vòng vây khá chặt. Các đơn vị khố xanh có nhiệm vụ lục soát thật kỹ các cánh rừng và các lối đi.

Cuộc vây lùng làm địch khá mệt mỏi nhưng cũng gây nhiều khó khăn cho bên ta, như việc tiếp tục chiến đấu đã trở nên khó khăn, sự ủng hộ của nhân dân đối với nghĩa quân sút kém vì địch ra tay khủng bố ác liệt.

Kết quả là sau khi trở về Yên Thế, lực lượng nghĩa quân càng ngày càng suy mòn rất chóng. Sáng ngày 1 tháng 12, bà Ba Cẩn bị bắt sống trong lúc gặp địch đi tuần. Hôm sau, hồi 1 giờ 30 sáng ngày 2 tháng 12, Đề Thám và năm nghĩa quân bị rơi vào một ổ phục kích của giặc, Đề Thám nhờ lúc trời chưa sáng rõ nên chạy thoát. Chiều ngày 3 tháng 12, có ba nghĩa quân chạy sang hàng ngũ thân binh của Lê Hoan. Ngày 4 tháng 12, một người anh con ông bác vừa là tâm phúc của Đề Thám tên là Cõn ra hàng; ngày 5 tháng 12, ba nghĩa quân nữa ra hàng. Từ đây Đề Thám chỉ còn mấy thủ hạ thân tín. Địch ra công lùng để bắt bằng được Đề Thám trong rừng cũng như ngoài xóm.

Lực lượng nghĩa quân như vậy có thể xem như đã tan rã. Mười tháng qua, sau mỗi trận đánh, mặc dầu nghĩa quân đã gây ra cho địch tổn thất nặng nề nhưng nghĩa quân cũng bị tiêu hao nhiều sức lực cũng như quân số. Cuối tháng Giêng năm 1909, khi cuộc hành binh của đại tá Ba-tay bắt đầu, lực lượng nghĩa quân có chừng 130 người đến 200 người; tới tháng 5 nghĩa quân bắt đầu phân tán, có bộ phận tản sang Phúc Yên, có bộ phận rút về hoạt động ở phía tây rặng Cai Kinh. Sang tháng 7, khi đại bộ phận nghĩa quân hoạt động ở Phúc Yên thì lực lượng không còn được 100 người. Đến trận núi Lang, mặc dầu quân ta chống cự oanh liệt nhất và địch cũng thiệt hại nhiều nhất từ đầu năm đến nay, nghĩa quân chỉ còn có năm chục người. Các tướng giỏi, người thì ra hàng như Cả Dinh, Cai Sơn, người thì bị bắt hoặc tử trận như Cả Trọng, Lý Thu, Cả Huỳnh, Ba Biểu, Hai Nôm, Huân. Những ngày cuối cùng, Đề Thám chỉ còn vài thủ hạ thân tín.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 10:36:28 PM

Đầu tháng 12 năm 1909, cuộc hội nghị giữa tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương và thống sứ Bắc Kỳ nhận định rằng cuộc hành binh đàn áp phong trào Yên Thế căn bản đã đạt mục đích. Khi Yên Thế đã bị chiếm đóng, bộ máy hành chính đã được thiết lập trong vùng, lực lượng nghĩa quân đã tan rã, việc lùng bắt lãnh tụ nghĩa quân Đề Thám không cần thiết phải có một lực lượng lớn. Do đó việc giải tán đạo quân tuần tiễu được đặt ra. Ngày 9 tháng 12, đại bộ phận quân chính quy trở về Hà Nội, đơn vị thân binh của khâm sai Lê Hoan cũng rút về xuôi. Lực lượng tuần tiễu để lại Yên Thế chỉ còn một đơn vị do thiếu tá Bô-ni-pha-xi chỉ huy, giúp sức có một số các đơn vị khố xanh. Kế hoạch của chúng lúc này là chiêu hàng các nghĩa quân còn ẩn nấp ở các làng. Chúng tuyên bố khoan hồng những người ra hàng cho về nhà làm ăn, nhưng một tháng sau chúng bắt 60 nghĩa quân đã ra hàng đem xử án đày đi Côn Đảo và đảo Guy-am1.

Ngày 26 tháng 1 năm 1910, trong một trận giao chiến nhỏ với bọn tuần tiễu gần chợ Gồ, nghĩa quân hy sinh thêm một người. Hai hôm sau, Đề Thám và một nghĩa quân khác gặp bọn dõng đi tuần, Đề Thám bắn chết một dõng rồi chạy thoát.

Từ đó Đề Thám chỉ còn vài thủ hạ thân tín bên mình nay xuất hiện ở Lục Giới, mai có mặt ở Bằng Cục hay Thụy Cầu, địch ngày đêm ra công lùng bắt vẫn vô hiệu.

Địch bèn áp dụng mưu kế hiểm độc hơn. Chúng âm mưu với tay sai đắc lực là Lương Tam Kỳ, phái ba tên thủ hạ thân tín người Hoa kiều đến Yên Thế tìm cách sát hại Đề Thám. Lúc đó là trung tuần tháng 1 năm 1913. Ba tên này đã gây được tín nhiệm với Đề Thám bằng cách phao tin có một toán quân Trung Hoa đầy đủ khí giới sẽ đột nhập Bắc Kỳ viện trợ nghĩa quân2. Tuy dùng chúng, Đề Thám vẫn cảnh giác đề phòng, không phát súng mà chỉ cho mang xẻng cuốc và thường cho canh gác ở ngoài mà thôi.
_________________________________
1. Theo nhân dân kể lại thì bà Ba Cẩn cũng bị đem đi đày ở Guy-am với con gái là Hoàng Thị Thế, nhưng dọc đường bà Ba Cẩn nhảy xuống biển tự tử.
2. Có tài liệu cho biết vì có sự giới thiệu của Lương Tam Kỳ nên ba tên này mới gây được tín nhiệm.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 10:42:08 PM

Tết năm đó, tại một địa điểm trong rừng sâu, lãnh tụ nghĩa quân cùng với thủ hạ và một số cụ già bạn chiến đấu cũ ở các làng Lục Giới, làng Trũng, làng Lèo, Bằng Cục, Ngọc Cục tổ chức đón xuân. Đề Thám sau bữa rượu ngà ngà say chỉ vào cây to trước mặt nói với thủ hạ: "Ta trông cái cây trước mắt có ba cành vướng mắt quá. Phải chặt nó đi"1 . Lời nói vô tình hay hữu ý làm ba tên tay sai chột dạ, bàn nhau phải hạ thủ ngay.

Đêm đến, chúng xô lại chỗ Đề Thám nằm để cướp súng và trong lúc bất ngờ một tên trong bọn là tên Bảy đã dùng cuốc bổ vào đầu Đề Thám. Người anh hùng sau hơn hai chục năm vật lộn với giặc đã ra đi. Đó là đêm mồng 9 tháng 2 năm 1913 tức ngày mồng 4 tháng Giêng năm Duy Tân thứ hai.

Giết xong Đề Thám, chúng vùi xác xuống Hố Lẫy trong rừng Tổ Cú cách chợ Gồ 2 cây số.

Sáng hôm sau chúng chặt đầu Đề Thám đem nộp đồn Nhã Nam cùng khẩu súng Lebel và hai khẩu mút-cơ-tông và 183 viên đạn. Tên đại lý Nhã Nam triệu tập bô lão trong làng và Thị Tảo vợ cả Đề Thám đến nhận diện cho đích xác.

Sau đó, chúng bêu đầu Đề Thám ở cổng đồn Nhã Nam để uy hiếp tinh thần nhân dân, đồng thời đề cao chiến công "dẹp loạn" của chúng2.
____________________________________
1. Ba tên thủ hạ Lương Tam Kỳ đã bỏ cà độc dược (hay thuốc mê) vào rượu định sau đó bắt sống Đề Thám.
2. Về cái chết của vị thủ lĩnh nghĩa quân Yên Thế có nhiều giả thuyết khác nhau. Có tài liệu cho biết số thủ hạ Lương Tam Kỳ phái đến chỉ có hai chứ không phải là ba tên, có tài liệu lại cho biết Lương Tam Kỳ theo lệnh Pháp tìm cách mua chuộc hai thủ hạ thân tín của Đề Thám chứ không phải sai người ngoài tới. Cũng có tài liệu nói rằng không phải Đề Thám bị sát hại vì tính cụ Đề rất cảnh giác, địch khó hạ thủ được. Địch đã giết sư ông chùa Lèo vốn rất giống khuôn mặt Đề Thám, rồi tung tin đã giết được Đề Thám để yên lòng bọn tay sai, khoe khoang chiến công của chúng, đồng thời làm tan rã tinh thần ái mộ người anh hùng của nông dân Yên Thế. Tuy nhiên giả thiết này cũng chưa có gì làm căn cứ chắc chắn. Ở đây chúng tôi dựa vào nhiều tài liệu khác nhau để sơ bộ kết luận rằng địch đã bắt giết được Đề Thám ngày 9 tháng 2 năm 1913.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 10:43:19 PM

Câu hỏi 32: Nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?
Trả lời:


Mặc dù đã nỗ lực và kiên cường đấu tranh với kẻ địch trong suốt 20 năm, cuối cùng cuộc khởi nghĩa oanh liệt ở Yên Thế đã thất bại.

Trước hết, vì là một bộ phận của phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa Yên Thế không thể thoát khỏi khuôn khổ phong kiến chật hẹp. Cũng như các phong trào kháng Pháp khác trong giai đoạn Cần Vương, cuộc khởi nghĩa Yên Thế đã thiếu hẳn tính chất triệt để của một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như đã mang nặng tính chất địa phương, cô độc và bảo thủ hẹp hòi. Chính vì thế mà nông dân Yên Thế là động lực chủ yếu của phong trào đã không phát huy triệt để được khả năng cách mạng sẵn có trong suốt quá trình khởi nghĩa để cùng các lực lượng khác của dân tộc đẩy mạnh phong trào tiến tới. Mặc dù họ căm thù thực dân xâm lược, nhưng nguyện vọng có ruộng cấy trâu cày đã không thể thành sự thật, ngay cả trong những năm dài vùng Yên Thế được giải phóng thoát khỏi sự xâm chiếm của giặc Pháp và đặt dưới quyền cai trị của nghĩa quân. Đương nhiên chúng ta không thể đòi hỏi ở phong trào Yên Thế một chính sách ruộng đất toàn diện và quy mô chỉ có thể thực hiện dưới một chính quyền do giai cấp công nhân lãnh đạo. Nhưng so ngay với phong trào nông dân thế kỷ thứ XVIII do anh em Tây Sơn lãnh đạo thì cũng thấy phong trào Yên Thế trong căn bản đã thiếu khí thế mãnh liệt của một đội quân nông dân một khi đã bước đầu thỏa mãn một phần nào nguyện vọng ấp ủ từ bao đời.

Từ năm 1897 về sau, trong những điều kiện lịch sử mới, tuy phong trào có biến chuyển, nhưng sự biến chuyển đó cũng rất hời hợt, nặng về phần tác động khách quan bên ngoài hơn là do chính điều kiện nội thân. Vì vậy mà trước sức khủng bố ác liệt của giặc Pháp, nghĩa quân Đề Thám ngày càng suy yếu và dần dần mất chỗ dựa vững chắc trong dân chúng để củng cố lực lượng và tiếp tục chiến đấu với quân thù.

Hơn thế nữa, nghĩa quân tuy có chiến thuật chiến lược đúng đắn, nhưng ngay trong việc áp dụng chiến thuật và chiến lược đó cũng đã phạm một số sai lầm.

Thực tế, sau các cuộc hội kiến với các nhà yêu nước, Hoàng Hoa Thám không tuyên bố theo con đường tư sản dân chủ, cũng như chẳng bao giờ chính thức tuyên bố tôn phò một quan vương nào. Đó là nét đặc biệt của phong trào nông dân Yên Thế: Vũ trang yêu nước không có một xu hướng chính trị rõ rệt dẫn đường trong khi việc chiến thắng một kẻ thù dân tộc là chủ nghĩa đế quốc lại rất cần có một xu hướng chính trị mới chỉ đạo cho phong trào - một phong trào "tự mình không lãnh đạo được giai cấp mình đi tới thắng lợi" là phong trào nông dân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 10:43:58 PM

Xuất thân là một nông dân nghèo khổ, Đề Thám tuy giàu chí căm thù giặc và bền gan chiến đấu, nhưng không sao tránh khỏi nhãn quan hẹp hòi cô độc, bắt nguồn từ phương thức sản xuất lạc hậu. Việc từ chối không thu nạp vào hàng ngũ nghĩa quân những sĩ phu yêu nước và những người có bầu nhiệt huyết giết giặc cứu nước thuộc các tầng lớp khác, mà Đề Thám thường gọi là "những người áo dài", là một biểu hiện rõ rệt nhất của khuynh hướng hẹp hòi cô độc đó. Lực lượng vũ trang của nghĩa quân vì thế mà phát triển rất chậm, ngay cả trong những năm dài đình chiến là thời cơ thuận lợi nhất. Cũng do khuynh hướng hẹp hòi cô độc mà Đề Thám đã coi nhẹ việc phối hợp với phong trào yêu nước chống Pháp khác đang ngày một sôi nổi trong toàn quốc, việc phát triển lực lượng và cơ sở yêu nước sang các tỉnh khác.

Trong giai đoạn đầu, Đề Thám chẳng những đã không liên lạc phối hợp được với hoạt động của Phan Đình Phùng trong miền Trung, mà ngay ngoài Bắc thì cuộc khởi nghĩa Yên Thế cũng chỉ bó hẹp trong phạm vi địa phương nhỏ hẹp, hầu như không có liên hệ gì với các phong trào khác. Song trong giai đoạn sau thì tuy có tiếp xúc với Phan Bội Châu, dung nạp nghĩa sĩ Trung Kỳ, nhưng Đề Thám vẫn không nhận thức được bước biến chuyển của tình thế để gắn liền hoạt động vũ trang của mình với các phong trào mới như Đông Kinh nghĩa thục, Đông Du. Còn những nhóm nghĩa quân nhỏ được phái sang Đông Triều, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Thái Nguyên... cũng không đạt được thành tích đáng kể trong việc gây cơ sở trong nhân dân, phát triển lực lượng và hoạt động vũ trang. Kết quả là đến khi Yên Thế bị giặc Pháp đại tấn công, nghĩa quân buộc phải phân tán lực lượng sang các vùng lân cận, nhưng vì không có cơ sở vững vàng, lại thêm giặc Pháp ráo riết truy kích bao vây, cuối cùng các nhóm nghĩa quân đành phải lục tục kéo về địa bàn hoạt động cũ là Yên Thế. Tình huống ấy đã ảnh hưởng lớn đến tinh thần chiến đấu của tướng tá và binh sĩ nghĩa quân, gây một tâm trạng hoang mang dao động trong đội ngũ. Mà ngay sức ủng hộ của nhân dân Yên Thế đến giai đoạn này, do sự khủng bố ác liệt, chính sách chia rẽ thâm độc cùng thủ đoạn tuyên truyền xảo trá của quân thù cũng đã bị suy giảm rất nhiều. Chính vì vậy, các nhóm nghĩa quân lần lượt bị tiêu diệt ngay trên đường về, hoặc mới về tới Yên Thế đã bị bao vây và tan rã. Nếu nghĩa quân Đề Thám coi trọng việc xây dựng và phát triển cơ sở rộng rãi sang các địa bàn hoạt động lân cận thì còn có thể kéo dài cuộc chiến đấu, gây cho giặc Pháp nhiều thiệt hại hơn nữa.

Ngoài ra còn một nguyên nhân khách quan khác không kém quan trọng làm cho phong trào Đề Thám, sau non ba mươi năm bền bỉ đương đầu với giặc, cuối cùng phải tan rã. Trong giai đoạn này, tình hình thế giới đã có nhiều điểm bất lợi cho một cuộc khởi nghĩa có tính chất địa phương như cuộc vũ trang đấu tranh của nông dân Yên Thế. Trên thế giới, tư bản chủ nghĩa đã bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và đang bành trướng với một tốc độ khủng khiếp. Đây là thời gian ổn định để chúng thi nhau giành giật thị trường, củng cố những nơi đã chiếm cứ.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 24 Tháng Hai, 2017, 10:44:15 PM

Đối với đế quốc Pháp ở Việt Nam nói riêng thì tới đầu thế kỷ XX, căn bản chúng đã hoàn thành cuộc bình định quân sự và là thời kỳ đẩy mạnh khai thác thuộc địa, củng cố chính quyền thực dân. Cho nên không nói gì đến phong trào Văn Thân lúc trước đã tàn từ lâu, ngay các phong trào có tính chất tư sản của thời kỳ này như Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, trước sức khủng bố gắt gao của quân thù, cũng đã trải qua những giờ phút khó khăn nhất.

Cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế cuối cùng đã thất bại. Bọn thực dân cướp nước đã tàn bạo dập tắt phong trào trong máu lửa. Nhưng chúng làm sao dập tắt được chí căm thù giặc, lòng yêu nước thiết tha của những người Yên Thế. Tấm gương hy sinh, tinh thần bất khuất, ý chí chiến đấu đến cùng của nghĩa quân Đề Thám còn đời đời sáng chói trong lòng mỗi người dân Việt. Phong trào Yên Thế đã đánh dấu sức quật khởi vĩ đại, khả năng hùng hậu của giai cấp nông dân trong lịch sử đấu tranh của dân tộc.

Nhìn tổng quát toàn bộ quá trình diễn biến của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Yên Thế đã thực hiện đánh lâu dài, vừa đánh vừa đàm, đàm rồi lại đánh. Mặt hạn chế của nghĩa quân là nặng về phòng ngự, nhẹ về tiến công. Trong khởi nghĩa vũ trang, nguyên tắc hàng đầu là phải liên tục tiến công, bởi vì, chỉ có liên tục tiến công cuộc khởi nghĩa mới mong mở rộng địa bàn, mở rộng lực lượng, duy trì và tăng cường được sức mạnh để vươn lên giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn, vững chắc hơn... Tuy vậy, cũng phải thấy đây chỉ là một cuộc khởi nghĩa cục bộ, gần như lẻ loi trong một tương quan lực lượng khá chênh lệch, cho nên cái chính vẫn là phải thủ hiểm, chống càn. Nếu có tiến công mở rộng được địa bàn thì cũng không giữ được đất ngoài vùng thủ hiểm.

Với những nét chủ yếu như trên, có thể thấy rằng, cuộc khởi nghĩa Yên Thế cho dù cuối cùng đã bị thất bại, nhưng tinh thần chiến đấu của nghĩa quân đã tô thêm truyền thống vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc, để lại những bài học quý cho đời sau.

Nghĩa quân Đề Thám đã rạng rỡ tiếp nối truyền thống anh hùng của dân tộc. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và chính đảng của nó là Đảng Cộng sản Đông Dương trước kia và Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay, đã và đang tiếp tục truyền thống ấy một cách thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:06:07 AM

Câu hỏi 33: Hãy cho biết đôi nét về các chỉ huy xuất sắc của nghĩa quân Đề Thám?
Trả lời:


Vì căm thù giặc Pháp, lại cảm phục đức tài của Đề Thám, nhiều người đã gia nhập nghĩa quân và trở thành những chỉ huy xuất sắc của phong trào. Trong hàng chỉ huy nghĩa quân có những người trước đây đã tham gia nghĩa quân Đề Hả của cụ Thám; có những người là con cháu các chỉ huy các phong trào trước; cũng có nhiều người khi mới tham gia chỉ là một binh sĩ thường sau nhờ có tài đức và có tinh thần chiến đấu chống Pháp mà được phong làm tướng lĩnh.

Họ phần đông chôn rau cắt rốn ở Yên Thế và các huyện khắp tỉnh Bắc Giang.

Tuyệt đại đa số đều xuất thân từ những lớp người nghèo khổ, một vài người là lý dịch trong làng đi theo nghĩa quân dần dần được cảm hóa và trở thành những chỉ huy tốt.

Những người chỉ huy nghĩa quân đều chiến đấu rất gan dạ, quả cảm, lại là những tay súng cừ khôi làm giặc rất khiếp đảm.

Một số thủ lĩnh tiêu biểu:

Cả Trọng, là con cả của cụ Thám và là một người chỉ huy xuất sắc của nghĩa quân. Ông có tài bắn trăm phát trăm trúng. Giặc Pháp cũng thường buộc lòng phải khen ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng, chí khí quật cường của ông. Khi ra trận thường cưỡi con ngựa cướp được của giặc Pháp trong trận Việt Yên. Ông được nhân dân yêu mến và binh sĩ nghĩa quân tín phục. Sau này khi một lần mang quân đi đánh trận, ông bị Cả Can là em vợ ba của cụ Thám và cũng là một chỉ huy nghĩa quân vì kèn cựa địa vị mà dụng tâm bắn ông bị thương nặng. Ông phải nằm điều trị một thời gian dài không khỏi. Trong lúc bệnh nặng ông vẫn khẩn khoản khuyên cha nên sáng suốt trong hành xử để khỏi hỏng đại sự. Được ít lâu, phần bị thương nặng, phần quá lo nghĩ, ông đã tự tử chết. Cụ Thám rất buồn rầu khi ông mất. Nghĩa quân và nhân dân địa phương rất thương tiếc người chỉ huy nghĩa quân trẻ tuổi xuất sắc.

Cả Dinh, là con Đề Sử (một chỉ huy nghĩa quân thời Đề Hả) người làng Dinh. Lớn lên đã có chí khí, ông rất ghét bọn Pháp và vua quan, khi nghĩa quân Đề Hả tan, bố ông là Đề Sử ra hàng, nhưng ông bỏ đi theo cụ Thám. Ông là một chỉ huy giỏi và được cụ Thám rất tin cẩn phong cho làm Thống lĩnh đóng quân ở Bắc Dinh cách đồn Phồn Xương một cây số. Ông bắn rất giỏi. Nhân dân địa phương kể lại, trong một buổi đi săn, Cả Huỳnh chỉ một ngọn cây cao trong rừng cách xa độ một trăm thước và đố ai bắn gẫy thì được một túi đạn. Cả Dinh cược lại nếu không bắn trúng ông sẽ mất thêm hai bao đạn. Rồi ông nổ súng bắn ba phát, hai phát đầu trúng vào hai cành cây, phát thứ ba trúng giữa thân cây và ngọn cây gẫy gục xuống. Mọi người đều khâm phục tài của ông. Sau đình chiến lần thứ hai, ông nhận lệnh đem theo một đơn vị nghĩa quân đánh rộng về Phúc Yên để phát triển thân thế nghĩa quân. Trong trận đánh ngày 20 tháng 10 ở núi Lang, địch tấn công liên tiếp mà nghĩa quân thì hết đạn, quân tiếp viện đã rút hết, ông lại bị thương nên cuối cùng phải ra hàng. Giặc Pháp đưa ông về Nhã Nam phong cho làm Phó đô đốc và tìm cách mua chuộc. Chúng cho ông một xe độc mã đi đâu cũng có quân hầu, thầy tớ phục vụ nhưng thực sự những tên hầu cận ấy toàn là tay chân của Lê Hoan, có nhiệm vụ canh phòng ông nghiêm mật. Về sau thấy mua chuộc không kết quả, địch đưa ông đi đày cùng nhiều người khác.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:06:28 AM

Cả Huỳnh, là con Chánh Tả (một chỉ huy nghĩa quân trước cụ Thám), người làng My Điền, huyện Yên Dũng. Tên thực là Lê Văn Huỳnh. Vì nhà nghèo nên từ nhỏ ông đã phải đi ở cho tên Chánh Hán ở Hoàng Mai. Lớn lên ông giúp cha trong sự nghiệp chống Pháp. Đến khi Chánh Tả ra hàng giặc, ông bỏ đi theo nghĩa quân Đề Thám. Cụ Thám tin cậy phong cho chức Lãnh binh, rồi Phó thống. Khi còn ở Phồn Xương, ông đóng quân ngay cạnh đồn Cả Dinh. Sau đình chiến lần thứ hai, vào khoảng tháng 3 năm 1909, Cả Huỳnh hoạt động ở Phúc Yên. Ở đây ông đã chỉ huy liên tiếp các cuộc phục kích tiêu diệt được rất nhiều giặc. Sau mấy trận kịch chiến với quân Pháp ở Hàm Lợn, ông bị trúng đạn chết.

Cai Cờ, tên là Giáp Văn Phức quê ở làng Trũng. Ông sinh năm 1857, kém cụ Thám một tuổi. Khi còn ở làng làm ăn, vì nghèo khổ nên ông bị áp bức nhiều. Năm 27 tuổi, ông bỏ nhà theo nghĩa quân Yên Thế. Ông đánh giặc rất gan dạ. Ra trận thường cầm cờ xông lên trước, cờ phất đến đâu là nghĩa quân ào ào xông lên đến đó làm giặc khiếp sợ. Vì vậy ông được cụ Thám phong cho làm Cai Cờ. Trong trận chiến đấu ở Hom, địch bắn trái phá lên chỗ nghĩa quân bố trí. Đạn không nổ, ông vác ném xuống chỗ quân giặc đang hành quân. Cụ Thám bảo làm như thế thì dễ chết lắm đấy. Ông trả lời: "Bẩm quan lớn, chết một mình tôi còn hơn chết cả đồn ạ”. Khi đình chiến, ông đóng quân ở Yên Thế. Sau khi thất trận ở Phồn Xương, ông bị lạc đường một mình nên phải ra hàng giặc. Giặc xử án ông 13 năm, sau giảm xuống 6 năm. Hết hạn tù, ông trở về quê làm ruộng. Năm 1941 ông chết, thọ 84 tuổi.

Ông Tề, là con Đề Tước (một chỉ huy nghĩa quân trước Đề Thám), em con chú con bác với Cả Huỳnh, quê ở My Điền, huyện Yên Dũng, ông là một trong những tướng giỏi của nghĩa quân Đề Thám. Sau khi vỡ đồn Phồn Xương ông đem quân về Việt Yên, định qua Yên Dũng rồi sang Đông Triều tạm trú một thời gian, ông hẹn với Lý Bắc (một chỉ huy khác của nghĩa quân Trung Dũng) đem đò ra đón ở phía Trung Dũng, nhưng Lý Bắc lại đi báo tri huyện Yên Dũng đến vây bắt. Ra đến bờ sông không thấy đò giang gì cả, ông biết Lý Bắc đã bội phản, định quay lại tìm để xử tội thì tên tri huyện đã ập tới. Ông bắn chết tên tri huyện khiến bọn lý bỏ chạy tán loạn, rồi lội qua sông về nhà bảo mẹ: "Con đã giết chết tên tri huyện, chắc chúng không để yên đâu, mẹ trốn đi". Sau đó ông đưa quân lên Mỏ Thổ. Giặc Pháp đem rất nhiều quân lên Mỏ Thổ định tâm tiêu diệt toán nghĩa quân của ông. Về phía nghĩa quân chỉ còn mười hai người nhưng vẫn kiên quyết đánh, địch chết rất nhiều vẫn không làm gì nổi nghĩa quân. Lính địch bảo nhau: Không hiểu sao thằng áo đỏ (chỉ ông Tề vì ông mặc áo đỏ) nó giỏi thế, chỉ có một hòn đá nó ẩn hiện chớp nhoáng không sao bắn được nó, lại bị nó bắn chết bao nhiêu người.... Sau trận này, ông chỉ còn lại tám nghĩa quân. Mặc dù thế ông vẫn tiếp tục đánh vào Sàn Cầu, Khánh Giá, Cầu Trang. Sau vì hết quân, hết đạn ông phải ra hàng giặc ở Nghi Thiết.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:07:08 AM

Câu hỏi 34: Hãy cho biết một số di tích còn lại của phong trào nông dân Đề Thám?
Trả lời:


Ở các vùng thuộc tỉnh Bắc Giang, nhất là vùng Yên Thế là địa bàn hoạt động cũ của nghĩa quân, hiện nay còn lại nhiều di tích lịch sử của phong trào nông dân Yên Thế. Những di tích ấy phần lớn đã bị thời gian xóa nhòa gần hết dấu vết, nhưng vẫn còn vài vùng đến nay vẫn còn rõ nét. Đó là những ngôi đền chùa, miếu mạo do nghĩa quân xây dựng giúp nhân dân, những đồn trại nghĩa quân cùng những dấu vết còn lại của cuộc trường kỳ kháng chiến, nhất là những nơi xảy ra các trận đánh lớn, những đồ dùng và vũ khí của nghĩa quân.

Đình Hả, xây dựng trên một quả đồi nằm giữa ba thôn Khủa, Khuyên, Lẽ. Cạnh đình là chùa Hả. Đình và chùa này đều có từ trước. Khi giặc Pháp mang quân lên đánh nghĩa quân Đề Hả, chúng đã đốt phá và dỡ gạch ngói, tre gỗ đi xây dựng đồn Luộc Hạ ở gần đấy để đàn áp nghĩa quân. Mãi cho đến thời kỳ đình chiến lần thứ hai, cụ Thám mới cho làm lại đình Hả. Cụ xuất tiền công quỹ của nghĩa quân, trả công thợ mộc, thợ nề, thợ nung gạch ngói, thợ lấy gỗ... còn tiền nuôi ăn cho thợ thì do nhân dân địa phương đài thọ. Cụ Thám lại vạch kiểu mẫu kích thước cho thợ làm. Đình Hả mới làm lại gồm năm gian tiền dinh và hai gian hậu dinh, mỗi gian rộng 3 mét. Trước cửa đình có hai gian tiền tế và ba gian nhà gỗ. Hiện nay đình Hả đã hỏng nát, tiều tụy. Hậu cung tường đổ mái xiêu, hai gian tiền tế nay chỉ còn một mà cũng bị dột nát nhiều.

Nhà thờ và đình chùa Quang Châu, do cụ Thám làm đều được xây dựng ở Chủng Ngoài thuộc xã Quang Minh, Yên Thế cách Cao Thượng 6 cây số. Chùa gồm ba gian và một gian tam bảo, trong đó có sáu tượng phật. Đình cũng gồm ba gian và một gian tam bảo. Đó là những ngôi đình chùa nhỏ. Nhà thờ Quang Châu gồm bảy gian dài, mỗi gian rộng hai thước, có bảy hàng cột cao hơn hai thước. Trong nhà thờ trước kia có đủ cờ quạt, trống... nay không còn lại thứ gì, trừ một cỗ đòn đám ma sơn son thếp vàng. Xung quanh nhà thờ có sân gạch. Phía mặt nhà thờ, trên tường có hai vế câu đối từ đời cụ Thám, hiện nay không còn đọc được đó là những chữ gì. Đình chùa và nhà thờ Quang Châu đến nay đều đã bị đổ nát nhiều.

Chùa Cao Thượng, ở cạnh làng Cao Thượng, dưới chân núi Yên Ngựa. Trước kia là một ngôi chùa lớn gồm một trăm gian. Chùa bị giặc Pháp đốt phá trụi khi chúng tiến đánh nghĩa quân. Sau đó cụ Thám đã cho làm lại chùa độ bảy mươi gian, nhỏ hơn trước. Trong thời kỳ kháng chiến toàn quốc, máy bay địch thường lên bắn phá. Hiện nay chỉ còn lại một ngôi chùa bị hư hỏng.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:07:46 AM

Chùa Lèo, thuộc xã Hữu Xương cạnh đường cái Nhã Nam đi Mỏ Trạng (cách Nhã Nam 3 cây số). Chùa làm trên ngọn đồi, tên chữ là chùa Phổ Cao. Đường lên chùa khá rộng. Qua tam quan vào tới đình, qua đình tới chùa. Chùa Lèo là một ngôi chùa lớn trên bốn mươi gian do cụ Thám làm hồi đình chiến lần thứ hai. Theo các cụ già ở gần đó kể lại, cụ Thám trước kia thường năng đi lại lễ bái ở chùa này, xin quẻ nên đánh hay không, vì vậy nhân dân địa phương hồi đó tin rằng Đức Ông chùa Lèo thường hiện về báo mộng cho cụ biết trước về những trận đánh sắp tới. Về sau, có tên Quảng Ngọ tưởng cụ Thám giấu vàng ở chùa nên lợi dụng danh nghĩa tu bổ chùa để tìm vàng. Nó đã phá bớt đi và chỉ để lại bảy gian chùa ngoài và hai gian hậu cung. Chùa đã được sửa sang lại. Chùa này từ lâu lắm không có sư trụ trì, theo nhân dân kể lại thì sư ông chùa Lèo rất giống cụ Thám. Khi giặc Pháp lùng bắt mãi không được cụ, chúng đã giết ông sư chùa Lèo, bêu đầu ở Nhã Nam để đánh lừa mọi người. Cũng từ đó chùa Lèo không có sư trụ trì vì nhân dân cho rằng chùa này sát sư. Nhân dân đã có câu ca về đình và chùa Lèo: "Đình không có mõ, chùa không có sư".

Chùa Phồn Xương, có từ trước thời cụ Thám. Hồi giặc Pháp đánh nghĩa quân, chúng đã dùng chùa này làm nhà thương cho binh lính. Sau chúng định dỡ chùa về xây đồn Nhã Nam, nhưng nhân dân đấu tranh xin lại được. Trong chùa còn mười sáu pho tượng và bốn bát hương.

Đình làng Lan, trước kia ở gần làng Lan và đã bị giặc Pháp đốt cháy. Sau cụ Thám làm lại trên một khoảng đất khác sau làng. Trong đình Lan còn có ba bộ ngai và một hương án do cụ Thám làm; ba bộ ngai thì đã hỏng hai, một hương án làm bằng gỗ lim, bốn chân chạm trổ tứ quy rất công phu. Sau khi cụ Thám chết, nhân dân làng Lan đã tôn làm hậu thân của đình làng và hàng năm đến ngày mồng 5 tháng Giêng làm lễ cúng cụ tại đình.

Đồn Phồn Xương, là vị trí đóng quân của cụ Thám trong thời kỳ đình chiến lần thứ hai. Nhân dân địa phương thường gọi là đồn Cụ. Đồn Phồn Xương rộng chừng một mẫu. Nhân dân vùng Cao Thượng, Yên Thế đã cùng nghĩa quân xây dựng. Đồn có hai lớp tường dày, tường ngoài bao bọc kín toàn bộ khu vực của đồn, dày tám mươi phân và cao bốn thước, tường trong quy vuông bao bọc lấy những ngôi nhà trong đồn, đắp bằng đất dày 2 mét và cao 3 mét. Trong đồn có nhà quân lính ở, nhà cụ Thám, nhà thờ, những dãy nhà dài để không phòng lúc hội hè giỗ chạp. Trong đồn còn có một sân tập một sào rưỡi và một ngôi nhà vuông có trần, quét vôi dùng để tiếp bọn Tây trong thời kỳ đình chiến. Đồn có cổng chính (ít khi mở), cổng tiền (vào cổng tiền là nhà tiếp bọn Tây) và cổng hậu trông ra rừng. Đồn Phồn Xương chỉ còn lại một vài dấu vết như chân móng tường trong và tường ngoài mà thôi, ngoài ra không còn di tích nào khác.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:08:16 AM

Trại Cọ, trước kia chỉ là một khu rừng rậm. Sau cụ Thám cho bà vợ cả cùng các ông Tâm, Hòe, Các và một số người nữa lên đây khai phá làm ruộng. Tất cả được tới vài chục mẫu. Nghĩa quân có xây dựng ở đây một đồn trại, chắc là để đề phòng giặc đến cướp phá. Hiện nay ở đây chỉ còn lại nền nhà và hai vọng gác ở hai đầu.

Dĩnh Thép, là nơi nhân dân rất hăng hái trong việc tiếp tế lương thực cho nghĩa quân. Ngay cả trong lúc giặc Pháp bao vây càn quét, nhân dân ở đây vẫn tìm mọi cách tiếp tế cho nghĩa quân. Cụ Thám có làm ở đây một ngôi đình ba gian. Ngôi đình này đã hoang tàn, mái thủng tường xiêu.

Hố Chuối, là nơi cụ Thám rút quân vào xây dựng công sự ẩn náu tạm thời và cũng là nơi nghĩa quân tiêu diệt hàng trăm quân giặc. Ở Hố Chuối còn có một số hầm hố nghĩa quân đào để chiến đấu với quân Pháp, nhưng cây cỏ mọc rậm rạp không trông thấy gì.

Ao Bò, thuộc thôn Trũng, nơi cụ Thám thường tổ chức khao quân mỗi khi thắng trận. Nghĩa quân thường làm thịt trâu, thịt bò ở ao này nên có tên gọi là ao Bò. Ao này rộng độ hai sào và rất sâu. Hiện còn hai tảng đá rất to bên bờ gọi là tảng đá mài dao.

Thác Thần, là nơi cụ Thám chỉ ở một thời gian chứ không có trận đánh nhau nào tại đây. Gần đây có ngôi nghè nhỏ gọi là nghè Thác Thần. Hiện còn nền của ba bốn cái nhà và xung quanh đó còn một số hầm hố tác chiến. Đây là nơi cụ Thám dùng làm nơi trú quân một, hai đêm rồi lại hành quân đi nơi khác.

Rừng Dài, thuộc thôn Thượng, xã Hữu Xương. Nghĩa quân đã chặn đánh toán giặc đang hành quân lên Mỏ Trạng tại chỗ này. Hiện còn lại dấu vết một số hầm hố chiến đấu của nghĩa quân.

Rừng Cả Dinh, là một khu rừng thôn Trũng (trong khu vực Am Động). Đầu rừng là chùa Am Động, cuối rừng là nơi Cả Dinh, Cả Huỳnh đóng quân, nhân dân thường gọi là rừng Cả Dinh.

Rừng Xã Ớt, là chỗ trú quân tạm thời của nghĩa quân trong thời gian lưu động tác chiến với giặc Pháp, ở đây chỉ còn lại dấu vết một số hầm hố chiến đấu, phần lớn đã bị nhân dân lấp để trồng sắn.

Đồng Vương, thuộc xã Tam Hiệp, chung quanh có lũy tre dày, lại có hào sâu bao bọc. Nghĩa quân có đóng ở đây một thời gian. Hiện vẫn còn nền nhà và hầm hố chiến đấu bị cỏ lau mọc kín.

Hố Lẫy, là nơi cụ Thám bị mưu sát. Vẫn còn ba hố chiến đấu do cụ Thám và những thủ hạ cuối cùng của cụ đào dưới gốc ba cây trám lớn. Nhân dân đã lấp hố để trồng sắn.

Đền Đề Thám, ở thôn Tri Cụ, trước gọi là Trảm Lớn. Cụ Thám đã làm ngôi đền này nên nhân dân thường gọi là đền Đề Thám. Hiện còn một gian nhỏ.

Ngoài những di tích trên đây của cụ Thám và nghĩa quân Yên Thế còn tìm thấy dấu vết một số đồn binh của giặc Pháp đóng trong thời đó như đồn Bằng Cục, đồn Cao Thượng nay chỉ còn là những ngôi tường đổ nát, hoặc những móng tường và lô cốt giặc.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:11:17 AM

Câu hỏi 35: Nhân dân đã làm một bài vè về cụ Thám, hãy cho biết nội dung về bài vè này?
Trả lời:


Ai làm ra bài vè này hiện nay không rõ. Có người nói do một cụ đồ Nghệ trước ở trong trại nghĩa quân làm ra. Có người nói là của cô Thể, con gái vợ ba Đề Thám. Nhân dân địa phương cũng có người tin chính là bà Ba Cẩn làm ra bài này để tự đề cao tài đức, tự so sánh với vợ ba Cai Vàng trước kia mà bà Ba Cẩn vừa là học trò vừa là bạn. Do đó, bài vè này, về nội dung lẫn hình thức có nhiều điểm giống bài vè "Truyện Cai Vàng” được phổ biến trong vùng. Lại có người căn cứ vào bài vè này rất được phổ biến trong binh lính Pháp và nhân dân địa phương hồi đó, mà giặc Pháp không hề ngăn cấm, để ước đoán rằng có lẽ bài này chính do tay sai của Pháp làm ra với dụng ý thâm độc đề cao quá mức vai trò bà Ba Cẩn, cốt gây mâu thuẫn trong hàng ngũ nghĩa quân.

Bài này do nhân dân truyền miệng lại, nhưng không ai nhớ hết nên mặc dù đã bỏ công sưu tầm, bài vẫn còn thiếu mấy chục câu.

Đây là một tài liệu lịch sử quý nên chúng tôi ghi lại để giúp cho việc tham khảo tìm hiểu thêm phong trào nghĩa quân, đồng thời cũng mong bạn đọc bổ sung thêm cho bài vè được đầy đủ.

VÈ CỤ THÁM

Kể từ Tự Đức một khi,
Người lên trị vì tam thập lục niên1
Tỉnh thành thất thủ mấy phen
Khen ai xây dựng mới nên cơ đồ.
Từ ông Thành Thái2 đến giờ,
Hao binh tổn tướng biết cơ nhường nào.
Lòng trời vận chuyển làm sao,
Để cho thiên hạ lao đao mấy lần.
Đoạn rồi đến hiệu Duy Tân3
Cũng mong sao được muôn dân thái hòa.
______________________________________
1. Tự Đức làm vua từ năm 1847 đến năm 1883.
2. Thành Thái làm vua từ năm 1889 đến năm 1907.
3. Duy Tân làm vua từ năm 1907 đến năm 1916.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:13:29 AM

Bấy giờ đến năm thứ ba,
Có ông Đề Thám ra hòa đã lâu.
Quan Tây nghị định mưu sâu,
An Nam diệt hết đâu đâu yên rồi.
Chỉ còn có đấy mà thôi,
Cho nên Nhà nước1 ngậm ngùi chưa yên.
Đã nhiều tổn hại binh quyền,
Mong sao dẹp được cho yên mới đành.
Nào là khố đỏ khố xanh
Giấy quan chạy khắp tỉnh thành thiếu đâu.
Nói rằng: "Đi đánh giặc Tàu"
Ai ngờ Nhà nước mưu sâu đánh lừa.
Vô tình nào có ai ngờ
Tây quan đến đánh bao giờ không hay.
Lính ta cho chí lính Tây
Ông hai, ông một cho rầy ông ba.
Cùng nhau vâng lệnh quốc gia
Tháng Giêng mồng tám nó ra đánh đồn2.
Quan năm thì xếp câu lôn
Giấy cho trước đến ba đồn khố xanh
Đem quân trước đánh tiền binh
Thử xem trong đó binh tình làm sao.
May mà thua được thế nào
Thời sau sẽ tiếp quân vào tới nơi.
Lệnh quan ai dám cưỡng lời
Dẫu rằng sinh tử việc chơi đó mà.
Sớm ngày mùng tám tinh mơ
Cao Thượng, Bố Hạ tới vô đồn điền3
Nhã Nam sắp sửa binh quyền
Vào qua Luộc Giới đánh đồn Cả Dinh
Cùng nhau súng bắn rình rình
__________________________________
1. Chỉ chính phủ thực dân.
2. Tức ngày 29 tháng 1 năm 1909 dương lịch.
3. Là đồn điền Phồn Xương - đại bản doanh nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:15:42 AM

… (mất một câu) …
Bà Ba1 khi ấy thưa vào:
"Tôi xin lĩnh lấy binh đao phen này.
May mà thắng được thì hay,
Nhược bằng sinh tử, tôi nay cũng đành”.
Ngoài thời súng bắn đoành đoành,
Ông Hoàng2 không biết tình hình làm sao
Ta hòa nhà nước đã lâu
Đánh không chạy giấy cho nhau thế này!
Sai người thủ hạ đi ngay
Cưỡi ngựa cầm giấy ra giày Nhã Nam
Xem rằng có thực hay man,
Ông Đại3 thu giấy bắt giam tức thì
Cả Dinh, Cả Trọng, Cả Huỳnh
Quan Hoàng Thám bảo binh tình làm sao?
Rằng Tây đã đánh đồn ta
Thì ba bác Cả luận bàn làm sao?
Cả Dinh, Cả Trọng, Cả Huỳnh
Ba người kêu hết sự tình với quan.
Cùng nhau thi sức thi gan
Ra tay địch với tây quan một kỳ
……………………
Rồi ra ra đến sự gì thì ra.
Ắt là lại lụy đến ta
Xin quan, ta đánh cho mà biết tay.
Bà Ba khi ấy mới hay
Quần trăn, áo chít mặc ngay vào mình
Chạy lên đứng đỉnh mặt thành.
Gọi là khố đỏ, khố xanh đâu là:
"Các anh thời phải nghe ta,
Đây ta chính thức vợ Ba quan Hoàng
Cũng mong khôi phục Nam bang,
Các anh cũng ở Nam bang đó mà!
Việc gì mà đến ghẹo ta?
Biết điều thời kéo quân ra chớ chày!
Để ta đối địch với Tây
Cho chúng nó biết rằng tay đại tài".
__________________________________
1. Bà Ba Cẩn, vợ ba Đề Thám.
2. Chỉ Hoàng Hoa Thám.
3. Ông Đại là tên đại lý người Pháp ở Nhã Nam.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:16:25 AM

Lính thời phục ở bên ngoài
Bỗng nghe tiếng nói trái tai lạ lùng
……………………………..
Ở ngoài lính mới gọi vào:
"Đem đầu ra thú quan, chào ngài đây.
Nhược bằng không thú quan Tây
Đem quân vào lấy đồn này không lâu".
Hãy còn đương nói với nhau
Bỗng đâu quân Cụ từ sau đánh vào
Cùng nhau súng bắn đì đùng,
Bà Ba lúc ấy thị hùng ra tay
Bắn ra chết bốn thằng Tây
Mấy thằng đội bốn lính này ngã ra.
Cho nên lính phải kéo ra
Bà Ba đắc thế đuổi qua chùa Lèo
Tây thời chẳng biết làm sao
Vội vàng kinh sợ ào ào chạy ra
Lính thi bắn phải quyền già,
Chết ở trong hội không ra được ngoài
Hãy còn đối địch chẳng thời,
Nhã Nam đại lý bồi hồi lo toan.
Lính về khắp hết chan chan
Sao không thấy lính Nhã Nam thế này?
Vội vàng đi sục lính Tây
Đem quân vào cứu giải vây tức thì
Lính Tây rằng: "Chẳng vội gì
Bao giờ có giấy vậy thì sẽ hay
… (thiếu một đoạn) …
Đạn ra như thể cát bay
Lòng nào chẳng sợ, gan nào chẳng kinh.
Ấy là mặt trận Cả Dinh
Về sau chửa biết tình hình làm sao?
… (thiếu một đoạn) …
Quan Hoàng, ghi chuyện về sau còn dài.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:17:26 AM

Câu hỏi 36: Những nhân tố nào, những điều kiện gì đã giúp cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế có thể duy trì và đứng vững trong khoảng thời gian gần ba mươi năm, trong khi các phong trào cùng thời, trước sau đều tan rã nhanh chóng trước sự khủng bố ác liệt của quân thù?
Trả lời:


Giặc Pháp kéo sang xâm lược, bọn vua chúa nhà Nguyễn chỉ sau một thời gian ngắn chống cự yếu ớt đã nhục nhã đầu hàng, cam tâm để ngoại bang giày xéo Tổ quốc.

Nhưng nhân dân ta, với truyền thống bất khuất cố hữu của giống nòi, quyết không chịu sống đời nô lệ, nên ngay từ đầu đã anh dũng vùng lên. Phong trào kháng Pháp lan rộng khắp cả nước, nhất là từ sau khi kinh thành Huế thất thủ, Hàm Nghi xuất bôn và phát hịch Cần Vương (7-1885).

Trong cao trào chống Pháp đó, cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do đề đốc Hoàng Hoa Thám lãnh đạo kéo dài và kiên quyết nhất, mà cũng làm cho địch lo ngại và tổn thất nhiều nhất. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế tồn tại gần 30 năm (1884-1913) chuyển tiếp qua hai thế kỷ là một biểu hiện của sức tranh đấu mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Nét đặc thù của khởi nghĩa Yên Thế so với các cuộc khởi nghĩa chống Pháp đương thời là: Bên cạnh hoạt động quân sự, nghĩa quân đã coi trọng việc tiếp xúc với kẻ thù, và xem đó là một sách lược ngoại giao, một trận tuyến tạo thêm điều kiện thuận lợi cho phong trào.

Kể từ năm Đề Nắm bị đầu độc chết và Đề Thám một mình thống lãnh nghĩa quân (từ năm 1893 đến năm Đề Thám hy sinh (1913), cuộc khởi nghĩa kéo dài hơn 20 năm. Không kể những cuộc hành binh lẻ tẻ và trong phạm vi nhỏ hẹp của bọn chức trách địa phương, ngay Bộ tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đã phải tổ chức ba cuộc hành binh đại quy mô vào những năm 1895, năm 1909 và năm 1910. Chúng đã phải bốn lần thay đổi tướng tá cao cấp, đã chết hàng trăm sĩ quan, binh lính, cuối cùng mới đàn áp xong hẳn phong trào nghĩa quân Yên Thế, mà bè lũ thực dân cướp nước gọi là "cái ung nhọt của xứ Bắc Kỳ".

Hoạt động của nghĩa quân Yên Thế đã từng bao phen rung động cả bọn tư bản cầm quyền ở chính quốc và bọn đầu sỏ thực dân ở Đông Dương, khiến chúng phải hai lần dùng kế giảng hòa để hòng mua chuộc nghĩa quân mà vẫn thất bại.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:18:49 AM

Toàn bộ tiến trình cuộc khởi nghĩa Yên Thế cho thấy: Về thời gian khởi nghĩa, đó là lúc phong trào Cần Vương đang vùng lên đợt cuối cùng rồi lắng xuống, thất bại; cuộc khai thác thuộc địa thứ nhất của thực dân Pháp bắt đầu, việc cướp đất diễn ra tàn bạo, khiến mâu thuẫn giữa đế quốc Pháp và nông dân Việt Nam càng sâu sắc. Trong tình hình ấy ngọn lửa đấu tranh vũ trang của dân tộc không bao giờ bị gián đoạn. Về điều kiện khởi nghĩa, đã kế thừa trực tiếp được địa bàn cũng như lực lượng và kinh nghiệm chiến đấu của các đội nghĩa quân như Cai Kinh, Đề Nắm..., có được căn cứ địa, vừa thủ hiểm, vừa khai thông; tiến có thể công, thoái có thể thủ, lại vừa có thể tiếp xúc được rộng rãi với nông dân miền Bắc, nghĩa sĩ ba kỳ. Về tinh thần chiến đấu, gan dạ, anh hùng, mưu trí, thao lược kể từ buổi đầu "quyết chiến" cho đến khi bị thất thế quyên sinh. "Ý chí bất khuất của cụ (tức Hoàng Hoa Thám) đã làm cho cụ có thể chiến đấu dẻo dai được với quân thù... Vừa chỉ huy, vừa xung phong đi đầu trong những trận đánh... Cái can đảm ấy đã được chứng thực trong nhiều trận chiến đấu khốc liệt, cùng những ngày gian khổ ghê gớm"1.

Nhân tố chủ yếu nhất, quyết định nhất của cuộc khởi nghĩa ở Yên Thế là tinh thần yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc của nhân dân Yên Thế. Yên Thế trong quá trình lịch sử đã từng là địa bàn của nhiều cuộc đấu tranh oanh liệt chống phong kiến và đế quốc. Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, Yên Thế lại là một trong những nơi thực dân Pháp chiếm đoạt nhiều ruộng đất nhất. Bọn đại điền chủ Pháp dựa vào binh lính và súng ống của quân đội thực dân, lũ lượt kéo nhau lên cướp đoạt trắng trợn ruộng vườn của nhân dân Yên Thế. Bầm gan tím ruột trước mối thù mất nước, nhân dân địa phương còn sôi sục căm hờn trước mối thù mất ruộng. Chính vì vậy, mà họ đã vùng dậy cầm vũ khí giết giặc theo tiếng gọi cứu nước thống thiết của Hoàng Hoa Thám, vị thủ lĩnh kiệt xuất của phong trào. Họ đã không chút ngần ngại cho con em mình sung vào nghĩa quân, trực tiếp đánh giặc, đã đóng góp nhân, vật, tài, lực cho phong trào, đã giúp đỡ và bảo vệ nghĩa quân trong những ngày khó khăn, đã làm tai mắt đưa đường chỉ lối, cung cấp địch tình cho nghĩa quân. Giặc Pháp khủng bố tàn bạo bao nhiêu cũng không lay chuyển được lòng yêu nước nồng nàn và chí căm thù giặc sâu sắc của nhân dân Yên Thế, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, để tạo điều kiện cho nghĩa quân giết giặc.

Nhân tố trọng yếu thứ hai là lực lượng vũ trang chống Pháp. Nghĩa quân Đề Thám bao gồm hầu hết là những nông dân lao khổ sôi sục căm thù lũ giặc cướp nước cướp ruộng và hăng hái tự nguyện sung vào đội ngũ nghĩa quân giết giặc. Họ được thử thách, rèn luyện kỹ càng trước khi nhập ngũ chính thức và ngày càng trưởng thành trong cuộc chiến đấu sống mái với quân thù. Đội quân ấy lại do các nhóm nghĩa quân kháng Pháp ở nhiều nơi khác tập hợp lại nên càng dày dạn trong chiến đấu, càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm tác chiến. Dưới sự chỉ huy tài tình của Đề Thám, nghĩa quân đã áp dụng chiến thuật du kích một cách vô cùng linh hoạt, khi ẩn khi hiện, lúc tiến lúc lui, lợi dụng triệt để địa hình địa vật hiểm yếu của núi rừng Yên Thế trùng trùng, điệp điệp, làm cho giặc Pháp không sao giành được thế chủ động và nhiều phen thất đảm kinh hồn.

Nhân tố thứ ba, đó là vai trò và tác dụng của Đề Thám, người chỉ huy lỗi lạc của phong trào. Xuất thân là một nông dân lao khổ, mang nặng mối thù mất nước, Đề Thám đã dành trọn đời mình cho sự nghiệp đánh giặc cứu nước. Sau lúc thủ lĩnh Đề Nắm chết, trong khi phần đông tướng tá binh sĩ nghĩa quân đã bỏ hàng ngũ trở về gia đình làm ăn sinh sống, hoặc đầu hàng giặc để kiếm chút lợi danh, Đề Thám đã một mình khẳng khái đứng ra tập hợp một số người kiên trì và quật cường nhất trong đám tàn quân, thành lập đội võ trang tiếp tục kháng chiến. Giặc Pháp dùng hết cách mua chuộc, dụ dỗ, đến tập trung lực lượng tấn công tiêu diệt vẫn không lay chuyển gan vàng dạ sắt của người anh hùng quyết tâm đề kháng đến cùng. Gương sáng đó đã có tác dụng tốt đẹp đến tinh thần và tư tưởng toàn bộ tướng sĩ và binh lính nghĩa quân.
_______________________________
1. Trần Huy Liệu, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo: Tài liệu tham khảo cách mạng cận đại Việt Nam, tập 2, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958, tr. 60.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:19:11 AM

Anh dũng tuyệt vời trong chiến đấu, Đề Thám còn luôn luôn quan tâm đến đời sống nhân dân trong vùng, vừa chống giặc vừa bảo vệ dân chúng, giúp đỡ dân chúng trong việc canh tác, như cho mượn thóc giống, trâu bò, nông cụ, trong việc xây dựng đền chùa hay nhà thờ bị giặc phá hủy. Do đó làm cho nông dân Yên Thế ngày càng gắn bó với sự nghiệp cứu nước, ngày càng nhận thức thêm cụ thể rằng, quyền lợi thiết thân của họ luôn luôn thống nhất với nhiệm vụ giết giặc cứu nước. Sự gắn bó mật thiết với quần chúng trên một mức độ nhất định là nét đặc sắc phân biệt khá rõ rệt người anh hùng Yên Thế với các thủ lĩnh nghĩa quân đương thời.

Lại phải nói đến một nhân tố khác, tuy khách quan, nhưng thực tế đã giúp nghĩa quân Yên Thế có thêm điều kiện chống giặc lâu dài và bền bỉ. Đó là ảnh hưởng của các phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống Pháp khác thời bấy giờ. Ngoài việc đối phó với nghĩa quân Yên Thế, giặc Pháp còn phải quan tâm rất nhiều đến các phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa nổ ra cùng thời ở khắp các địa phương. Các phong trào kháng Pháp ở Đông Triều, Cao Bằng, Bắc Cạn, cũng như ở Tây Bắc lúc đó, nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Sơn của Phan Đình Phùng ở miền Trung, trong thực tế hầu như không có liên hệ gì với phong trào ở Yên Thế, nhưng ít nhiều đã cổ vũ thêm tinh thần kháng Pháp của nghĩa quân Đề Thám và buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó. Sau này khi địch đã dẹp tắt các phong trào đó thì cũng là khi chúng rảnh tay và có thể tập trung lực lượng lớn với những cuộc hành quân đại quy mô tấn công tiêu diệt nghĩa quân Đề Thám.

Cuối cùng, cuộc khởi nghĩa Yên Thế cuối thế kỷ XIX cũng như bất cứ một phong trào nào của nhân dân ta hồi đó bùng nổ trước tiên là do hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp. Nó là một bằng chứng hùng hồn về tấm lòng yêu nước nồng nàn của dân chúng luôn luôn tha thiết với chủ quyền quốc gia, với độc lập dân tộc, và nhằm mục đích cuối cùng là giải phóng đất nước khỏi nanh vuốt quân thù. Cho nên, mặc dù trước sau không có mặt sĩ phu và văn nhân trong hàng ngũ nghĩa quân, phong trào Hoàng Hoa Thám cho tới trước đình chiến lần thứ hai (năm 1897), xét về ý nghĩa cùng tác dụng khách quan của nó, vẫn nằm trong toàn bộ giai đoạn Cần Vương.

Bước sang những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong hoàn cảnh phong trào Cần Vương tan rã và trong những điều kiện lịch sử mới, phong trào Yên Thế không thể không tiếp thu những nhân tố mới, và khách quan đã trở thành một bộ phận của phạm trù mới, phạm trù cách mạng dân tộc có tính chất tư sản.

Tất nhiên sự biến chuyển này rất bị hạn chế vì bản chất phong kiến của phong trào, vì điều kiện giai cấp của người chỉ huy; nhưng dù sao năm 1897 là năm bắt đầu cuộc đình chiến lần thứ hai cũng là cái mốc quan trọng chấm dứt giai đoạn Cần Vương trong căn bản đã cáo chung vào năm 1896 với thất bại của Hương Sơn khởi nghĩa và mở đầu cho giai đoạn phong trào bước vào phạm trù cách mạng dân tộc có tính chất tư sản.

Đặc điểm của giai đoạn mới là cục diện đấu tranh đã được mở rộng, chứ không thu hẹp trong những căn cứ địa thủ hiểm như trước. Đồng thời còn bắt liên lạc với các lực lượng kháng Pháp dưới xuôi như hội đàm với nhóm sĩ phu có khuynh hướng cải lương Phan Chu Trinh, nhóm sĩ phu có khuynh hướng bạo động như Phan Bội Châu, tổ chức binh lính tiến hành binh biến ở Bắc Ninh - Nam Định và nhất là vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội trong đó Đề Thám có một vai trò quan trọng với hình thức tập hợp quần chúng mới là đảng Nghĩa Hưng.

Chính nhờ có sự biến chuyển đó mà phong trào Yên Thế đã có đủ sức kéo dài cuộc chiến đấu, trong khi các cuộc vũ trang đấu tranh khác cùng thời kỳ đều bị quân thù dập tắt trong sắt lửa.


Tiêu đề: Re: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:20:30 AM


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Hoa Thám và phong trào nông dân Yên Thế, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1958.
2. Lịch sử Quân sự Việt Nam, tập 9, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
3. Lịch sử cận đại Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1960.
4. Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.

Hết