Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: (ak47) trong 29 Tháng Bảy, 2008, 08:50:42 PM



Tiêu đề: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 29 Tháng Bảy, 2008, 08:50:42 PM
http://www.vuontaodan.net/thuviensach/noidung.aspx?id=00318%20&matg=00118 (http://www.vuontaodan.net/thuviensach/noidung.aspx?id=00318%20&matg=00118)


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 29 Tháng Bảy, 2008, 09:22:58 PM
TẠI SAO VIỆT NAM?

(Why Vietnam?)

 

BẢN DẠO ĐẦU CON CHIM HẢI ÂU CỦA NƯỚC MỸ

(Prelude to America’s Albatross)

 

Archimedes L.A. Patti

Lê Trọng Nghĩa dịch

 

Đây chỉ là một sự cố gắng nhằm giải đáp cho nhiều người Mỹ hai câu hỏi khá phức tạp và tiếp liền nhau: “Tại sao Việt Nam?” và “Cái gì đã xảy ra ở Đông Dương vào năm 1945?”.

Lịch sử viết về thời kỳ đó hiển nhiên còn có một khoảng trống mà cuốn sách này hy vọng có khả năng góp phần bù đắp được. Các bản tường thuật thiên vị hoặc rời rạc của người Pháp và người Việt cũng đã không trình bày nổi một cách khách quan vai trò của nước Mỹ trong giai đoạn lịch sử bi thảm của Pháp, Việt và Mỹ này.

Trong nhiều năm qua, các nhà chức trách Washington cũng đã tốn rất nhiều lời giải thích cho những câu hỏi dai dẳng về việc dính líu của người Mỹ chúng ta vào Việt Nam. Một số những lời giải thích đó đã không làm thoả mãn được ai và đã bị rơi rụng dần vì không đáng tin cậy. Số còn lại, đã từng được dùng làm chứng cứ cho lập luận rằng chúng ta phải ở đấy để giành lấy “hoà bình trong danh dự” cũng đã bị vứt bỏ qua sự kiện 30/04/1975. Các bản tuyên bố chính thức của Nhà Trắng, các tập hồi ký muộn mằn của các Tổng thống và các cố vấn thân cận của họ, các bản thuyết trình dày cộp ở Quốc hội mà nổi bật là tập hồ sơ Lầu Năm Góc “phơi trần mọi việc”; tất cả chỉ cố gắng nhằm biện bạch cho việc sa lầy càng ngày càng lún sâu của chúng ta và cũng chỉ có tác dụng bôi mờ, che giấu những mục tiêu cơ bản thực sự của chúng ta bằng những lập luận mơ hồ, những lời biện hộ và xác nhận sự bất hạnh của người Mỹ chúng ta ở đó.

Là một bản tường thuật trực tiếp về sự có mặt đầu tiên của người Mỹ ở Đông Dương, “Tại sao Việt Nam?” ít ra cũng đáp lại được phần nào câu hỏi tại sao người Mỹ chúng ta đã ở đó, đồng thời lại cho thấy những chủ trương cao siêu cua những năm 1940 đã làm chúng ta xa rời những tình cảm đã được diễn đạt một cách cao thượng trong Hiến chương Bắc Đại Tây Dương - các dân tộc có quyền tự do lựa chọn Chính phủ mình muốn và phải được trả lại chủ quyền, quyền tự trị đã bị tước đoạt. Cuốn sách cũng không phải là một lời bào chữa hoặc một bản án kết tội ai mà chỉ là một sự trình bày thẳng thắn các sự kiện đúng như chúng đã diễn ra và được tác giả ghi lại theo dòng thời gian. Từ những sự việc được dẫn chứng, người đọc có thể tự rút ra những kết luận riêng của mình.

Từ đó đến nay, cả một thế hệ con người đã trôi qua nên trong phần I của bốn phần của cuốn sách này, tôi thấy cần phải nhắc đến bối cảnh tình hình từ đầu năm 1942 đến thời điểm 1945. Phần II dành nói về các kinh nghiệm của bản thân tôi trong việc giao dịch với người Pháp, Trung Hoa và Việt Nam ở Trung Quốc và cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với Hồ Chí Minh. Phần III thuật lại việc phái đoàn của tôi tới Hà Nội, vai trò của tôi trong công tác đối với người Nhật, Pháp và Việt. Phần này tả lại thời kỳ sôi động Tháng Tám, Tháng Mười 1945, việc nảy sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập đầu tiên, sự thất bại trong mưu toan của người Pháp định trở lại kiểm soát Đông Dương, cuộc chiếm đóng tàn phá của người Trung Hoa, cái chết của trung tá A. Peter Dewey, người Mỹ nạn nhân đầu tiên ở Việt Nam và việc đầu hàng chính thức của Nhật Bản. Phần IV “Hậu quả” nêu lên những điểm nổi bật trong chính sách sau Thế chiến thứ hai của Mỹ, chính sách đã đưa đến sự dính líu trực tiếp của chúng ta vào Việt Nam và sơ lược tóm tắt những vấn đề tồn tại mà chúng ta còn phải đương đầu.

Khi kể lại các cuộc nói chuyện riêng giữa tôi với Hồ Chí Minh, tôi chỉ muốn chuyển đến người đọc một vài suy nghĩ sâu sắc nhất của tôi về nhà cách mạng bí ẩn đó cùng với những khát vọng đối với nhân dân, đối với tiền đồ đất nước Việt Nam mới mẻ của ông. Đã có nhiều người Việt Nam coi cuộc rút lui vừa qua của can thiệp quân sự Mỹ ở Việt Nam như là trận thất bại cuối cùng của Chủ nghĩa thực dân trên đất nước họ. Nhưng từ 1945, Hồ Chí Minh đã thấy rất rõ rằng dân tộc của ông sẽ còn vấp phải vô vàn khó khăn trong sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi sự đô hộ của kẻ thù.

Điều mong muốn lúc đó của ông Hồ để Mỹ giữ một vai trò hoà bình và ổn định trong công cuộc phát triển đất nước ông, chưa bao giờ thể hiện xác đáng như hiện nay. Vì vậy trong khi chúng ta đang còn tiến từng bước ngập ngừng và chậm chạp trong việc lập quan hệ bình thường với nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, rõ ràng là đã đến lúc phải xem xét lại các nhận định cơ bản của chúng ta và xác định xem thực sự lợi ích tối cao của người Mỹ chúng ta là ở đâu.

Người đọc có thể hỏi ngay tại sao đến nay tôi mới thuật lại câu chuyện này. Từ năm 1946, tôi đã phác thảo ra một bản tường thuật ngắn gọn về thời kỳ này nhưng còn vướng nhiều điều ràng buộc khác nên đành phải bỏ dở. Sau sự sụp đổ của Pháp ở Điện Biên Phủ, bản thảo của tôi cũng đã sẵn sàng để được cho in nhưng lúc đó đã là quá muộn. Đất nước chúng ta bị lôi cuốn vào tình trạng rối ren của thời kỳ chủ nghĩa chống Cộng điên cuồng Mac Carthy hoành hành. Bộ Lục quân rất nhạy cảm với những lời phê phán thù địch của giới quân sự đối với chính sách đối ngoại của Mỹ, đã thông báo cho biết rằng việc tiết lộ công khai mọi tin tức hoặc ý kiến của tôi về vấn đề dính líu của Mỹ vào Việt Nam sẽ không làm cho chính quyền hài lòng và tôi có thể sẽ bị kỷ luật. Tôi phản đối nhưng vẫn phải chấp hành lệnh cấm của Bộ.

Chỉ sau khi quân đội ta đã rút hết khỏi Việt Nam vào tháng 3-1973, tôi mới tập hợp lại các bản ghi chép cũ trong thời kỳ chiến tranh và dựng lại các sự kiện và tình huống, các chính sách và các hoạt động ban đầu của Mỹ ở Đông Dương. Công việc thu thập tài liệu khá phức tạp vì nhiều bức điện và báo cáo của tôi đã bị phân tán ở các cơ quan lưu trữ Bộ Ngoại giao, Bộ Lục quân và Cục Tình báo Trung ương. Việc sưu tầm những tài liệu đó ở Bộ Lục quân đã không mang lại kết quả. Nhưng ở Bộ Ngoại giao và Cục Tình báo Trung ương CIA thì mọi thứ còn gần như nguyên vẹn và các tài liệu đã rất có ích cho tôi. Ở đây tôi xin tỏ lời cám ơn sự giúp đỡ tận tình của R.M. Blum, nhân viên Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội của nghị sĩ Fulbright, R. Spector thuộc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Quân sự của quân đội Mỹ và Gail F. Donnalley, nguyên cán bộ lưu trữ Cục Tình báo Trung ương. Sự giúp đỡ của họ đã giúp tôi tìm thấy được những tài liệu gốc, nguyên bản, các bản viết tay, các hồ sơ thông báo, gồm cả tập “Những quan hệ Mỹ - Việt Nam”, tập Romanus - Saunderland nói về các hoạt động của Mỹ ở Trung Quốc, Miến Điện, Ấn Độ, hồ sơ của OSS/SSU - những tài liệu vô cùng quí giá cho bản thảo 1946 của tôi.

Quyển sách cũng sẽ không thể có được nếu như không có sự ủng hộ và giúp đỡ hào hiệp, được đánh giá cao của các bạn đồng nghiệp của tôi trong Chính phủ Liên bang, Viện Hàn lâm, những chuyên gia kỳ cựu về Đông Dương mà ở đây tôi chỉ nêu lên được một số tên. Tôi đã được sử dụng rộng rãi các tập hồ sơ lưu trữ quốc gia Mỹ, Thư viện Quốc hội, các phương tiện của Trung tâm Thư tín Quốc gia Washington ở Suitland, thư viện Mill Memorial ở Rollins College... Tôi đặc biệt cảm ơn F.E Taylor, cán bộ lưu trữ ngành Quân sự hiện đại trong sở Lưu trữ Quốc gia, P. Dowling, cán bộ lưu trữ ngành Ngoại giao, Sở Lưu trữ Quốc gia. J.L. Mc Farland, phụ trách thư viện Mill Memorial... và nhiều người khác đã giúp tôi rất nhiều trong việc kiên trì xác định, sưu tầm và cung cấp cho tôi những văn kiện quân sự chủ yếu, hồ sơ của Bộ Ngoại giao, tài liệu tham khảo trong thư viện Quốc hội.

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn Mai van Elliot, Gareth Porter, Ngô Vinh Long và Trương Đình Hùng đã khéo léo giúp tôi làm sáng tỏ những điều rối ren trong nền chính trị và xã hội Việt Nam. Tôi đánh giá rất cao và đặc biệt cảm ơn ba nhân vật đã bảo trợ, khuyến khích giúp dỡ tôi: Elizabeth Mc D. Mc Jintosh, đồng sự và bạn chiến đấu của tôi ở Trung Quốc đã góp ý kiến cho bản thảo đầu tiên, Ch.E. Cuningham khi làm Tổng biên tập Nhà xuất bản trường Đại học Washington đã giúp tôi xử lý và sử dụng một cách có hiệu quả một số lớn tài liệu, A. Wang, Giám đốc nhà xuất bản Hill và Wang, đã soát lại bản thảo thứ ba và đã khích lệ tôi rất nhiều.

Tôi hân hạnh nhắc tới sự giúp đỡ to lớn của nhân viên Nhà xuất bản Đại học California, đặc biệt là trợ lý giám đốc Stanley Holwitz đã giúp tôi nhiều trong việc soát lại và và làm dễ dàng việc ấn hành cuốn sách này.

Sau hết, xin cảm ơn Margaret, vợ tôi, người đã chép lại các bản thảo từ bản đầu tiên đến bản thứ năm và bản cuối cùng luôn luôn với một phong cách riêng, trong sáng và sâu sắc, cảm ơn con gái Julie của chúng tôi đã bỏ thời gian nghỉ hè để sắp xếp các bản phụ lục. Đối với hai mẹ con phải chịu đựng nhiều bận rộn, phiền hà trong sinh hoạt gia đình với từng chồng sách vở, tài liệu, bản đồ đuợc bày ra, tôi thân ái mến tặng cuốn sách này.

Archimedes Patti



Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 10:27:40 AM
PHẦN I
WASHINGTON
Chương 1
Mở đầu một kỷ nguyên
Tôi ở Côn Minh, Trung Hoa ngày 7-8-1945, khi tin điện truyền đi khắp thế giới rằng nước Mỹ đã ném một “quả bom nguyên tử” xuống Hiroshima. Hai ngày sau, Liên Xô tuyên bố tham chiến chống Nhật vào ngày 9-8. Và cũng vào ngày đó, chúng ta ném quả bom nguyên tử thứ hai xuống Nagasaki. Đối với chúng tôi, những người đang chuẩn bị những cuộc hành quân rộng lớn chống Nhật, thật là sửng sốt khi nhận thức được rằng đó là sự báo hiệu kết thúc chiến tranh ở Viễn Đông. Ngày hôm sau, 10-8, thế giới được tin Bộ Ngoại giao Mỹ đã chấp nhận đề nghị đầu hàng của Nhật theo các điều khoản Potsdam không làm tổn hại đến ngôi Thiên hoàng.
Trong niềm vui to lớn đó, chúng tôi tin là chiến tranh đã chấm dứt đối với người Mỹ, với tất cả những người châu Á, và do đó với mọi người. Chúng tôi đã không hiểu được rằng những cuộc chiến tranh mới để giành quyền lực, giành sự thống trị hay giành độc lập đã có thể ập đến gần như ngay tức khắc và cuộc sống của hàng triệu người lại bị cuốn sâu và ngay lập tức vào các cuộc chiến tranh đó như ở Trung Hoa, Ấn Độ, Indonésia và Mãn Châu và chỉ vì một số ít người.
Trận cuối cùng trong Thế chiến thứ hai được trả giá khoảng một triệu rưỡi sinh mạng con người(1), và trận đánh đã trở thành cuộc đụng đầu dài nhất trong lịch sử hiện đại được bắt đầu ngay, không phải từ ở những thủ đô lớn của thế giới mà tại một ngôi làng nhỏ bé trong rừng không ai biết đến mang tên là Tân Trào, nơi đây đã tiến hành Đại hội bất thường của các đảng phái chính trị Việt Nam từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 8 năm 1945. Tại Đại hội này, họ tuyên bố quyết tâm giành độc lập và bầu Hồ Chí Minh làm lãnh tụ của mình. Do hoàn cảnh mà tôi đã được có mặt tại nơi trung tâm các sự kiện đang diễn ra.
Khi binh lính Mỹ ở Côn Minh và ở Trung Hoa ăn mừng chiến thắng Nhật thì Bộ chỉ huy quân đội Đồng minh ở Trung Hoa đã quyết định mở một số cuộc hành quân quan trọng sau cuộc đầu hàng. Cơ quan công tác chiến lược(2) đã nhận được chỉ thị của Chiến trường Trung Hoa yêu cầu phải thi hành một trong nhiều nhiệm vụ được giao là giải phóng các tù binh chiến tranh(3) của Đồng minh đang bị Nhật giam giữ tại một số trại ở Trung Hoa, Mãn Châu và Triều Tiên, còn ở Đông Dương thì không. Tới ngày 10-8, đại tá Riehard P. Heppner, chỉ huy tình báo chiến lược tại Chiến trường Trung Hoa đã cho xúc tiến các kế hoạch đánh bất ngờ do OSS chuẩn bị nhằm giải phóng và bảo vệ các tù binh chiến tranh của Đồng minh. Một số đội Mercy của OSS được nhảy dù xuống các trại tù binh của Nhật để bảo vệ tù binh của chúng ta và trả về cho Đồng minh kiểm soát. Vài ngày sau, các đội này đã được nhanh chóng đưa đến Mukden (nơi tướng Wainwright(4) bị giam giữ) rồi Bắc Kinh (nơi thủy quân đảo Wake và những phi công lái máy bay trận tập kích Doolittle bị giam giữ) và các trại khác.
Sau một cuộc thảo luận quan trọng, Heppner thuyết phục tướng A.C. Wedemeyer(5), Tổng chỉ huy các lực lượng của Mỹ ở Chiến trường Trung Hoa rằng một đội Mercy cần được đưa sang Hà Nội và Đông Dương, nơi có đến vài nghìn tù binh (Mỹ, Anh, Úc, Ấn Độ và Pháp) đang bị giam giữ. Tôi phụ trách đội đến Hà Nội. Ngoài ra tôi còn được giao những nhiệm vụ khác như: chuẩn bị sơ bộ cho việc giải giáp quân Nhật ở Đông Dương, chịu trách nhiệm điều tra tội ác chiến tranh và báo cáo tin tức tình hình chính trị, quân sự và kinh tế.
Ít tuần lễ sau, Hồ Chí Minh đã nói với tôi về một chính sách “tiêu thổ” đối với Việt Nam sau khi ông có linh cảm về điều đó. Nhưng lúc bấy giờ cả ông và tôi đều không lường hết tầm lớn lao của cuộc xung đột sắp xảy ra cũng như sự phân hoá mà nó có thể gây ra trong đời sống của người Mỹ và trong chính thể nước Mỹ.
Vào một buổi chiều nóng ẩm, chúng tôi đã gặp nhau để thảo luận việc bảo đảm an toàn cho những người Pháp sống ở Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác trên miền Bắc; nhưng, như ông đã thường làm trong những lần gặp trước, ông đã lái câu chuyện sang yêu cầu cấp bách của ông về sự ủng hộ của Mỹ cho nền độc lập của Việt Nam - và một lần nữa, tôi lại trả lời rằng vấn đề ấy không thể giải quyết vào thời điểm này và cần phải được xem xét và giải quyết sau chiến tranh qua hội đàm giữa Hà Nội và Paris hoặc có thể ở Liên Hợp Quốc. Ông Hồ im lặng một lát, đoạn hạ giọng nhưng với sự quả quyết sâu sắc, ông nói rằng nếu người Pháp cố tình trở lại Việt Nam “như là những tên đế quốc để bóc lột, tàn sát và giết hại đồng bào tôi”, ông dám khẳng định với họ và thế giới rằng - đất nước Việt Nam có thể biến thành tro bụi, điều đó thậm chí có nghĩa là đối với tất cả cuộc sống của mọi người đàn ông, đàn bà, trẻ con, chính sách đó của Chính phủ ông cũng sẽ là một trong những chính sách “triệt để tiêu thổ đến cùng”. Lời nói này đã được phát ra từ một con người biết tự chủ trong cách nói cân nhắc về ngoại giao nên tôi hiểu đó không phải là một lời đe doạ vẩn vơ, và đến nay tôi vẫn còn nhớ như in trong óc.
Buổi nói chuyện đó của chúng tôi ở Hà Nội, vào lúc các cuộc giao chiến đã chấm dứt nhưng trước khi người Nhật ở Đông Dương đầu hàng, và cũng trước khi các lực lượng quân sự Trung Hoa kéo đến để tiếp nhận sự giải giáp quân Nhật và điều khiển việc hồi hương của họ.
Trong 6 tháng trước đó, tôi là người chỉ huy công tác tình báo bí mật của cơ quan mật vụ(6) thuộc OSS ở Đông Dương và đóng ở Côn Minh. Tôi đã cảm nhận đôi điều tai họa về tính không khoan nhượng của Pháp về qui chế của Đông Dương, một thái độ làm cho tương lai không tránh khỏi rắc rối. Có những khoảnh khắc mà chỉ cần một bước nhỏ trong hướng đi cũng có thể làm thay đổi một tiến trình lịch sử.
________________________________________
(1) Khoảng 60.000 người Pháp, 56.000 người Mỹ và 1.500.000 người Việt Nam
(2) OSS: Office of Strategic Services
(3) POW: Prisoners of War
(4) tướng Jonathan Mayhew Wainwright (1883-1953), nguyên tư lệnh quân Mỹ tại Philippin, là tù binh Mỹ cao cấp trong tay quân Nhật (1942-1945), sau được toán Mercy (toán công tác Cardinal) do thiếu tá R.F. Lamar chỉ huy giải thoát. Tướng Wainwright cũng là người bên cạnh tướng Mac Arthur trong buổi lễ tiếp nhận quân Nhật đầu hàng ngày 2-9-1945 trên chiến hạm Missouri.
(5) tướng Albert Coady Wedemeyer (1897-1989), tư lệnh quân Mỹ, kiêm tham mưu trưởng lực lượng Đồng minh trên Chiến trường Trung Hoa (1944-1946)
(6) SI: Secret Intelligence

Nguồn: www.vuontaodan.net (http://www.vuontaodan.net)


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 10:32:42 AM
Chương 2
“…Nếu Trung Quốc thất bại...”
Hồi tưởng lại cũng thấy kỳ quặc, vì lần đầu nhận được sự gợi ý điều tôi sang Đông Dương khi bóng tối bao trùm trên chiếc ghế lạnh của chiếc tầu đổ bộ Mỹ lắc la lắc lư gần bãi biển Anxio nước Ý. Tất nhiên vào những lúc ấy hoàn toàn không phải là việc không bình thường cho những cuộc thảo luận quan trọng tại những nơi mà không có lấy một chỗ ngồi - nó hoang vắng, một lâu đài bị bom đạn phá huỷ, một bãi biển bùn lầy, hoặc bất cứ đâu. Đó là chiến tranh.
Vào tối ngày 21-1-1944, một nhóm chúng tôi ngồi xổm xung quanh tướng William J. (Wild Bill) Donovan, chỉ huy của OSS. Nhóm này có cả một vài chuyên viên hoạt động bí mật, đại tá John.T.Whitaker(1) và tôi. Donovan đã thảo luận các hoạt động ở Ý, Balkan và ở Pháp rồi tóm tắt lại cho chúng tôi về các kế hoạch của OSS cho cuộc hành quân Overlord, vượt eo biển vào chiếm Pháp. Ông khuyên Whitaker và tôi nên đi trước Overlord để thi hành một nhiệm vụ đặc biệt ở Viễn Đông. Ông không gặp khó khăn mấy trong việc hoàn chỉnh tổ chức các đội hoạt động ở châu Âu nhưng đối với chúng tôi thì ông nhắc thêm là cũng có nhiều rắc rối. Chúng tôi đồng ý nhưng muốn biết kỹ hơn. “Sau khi chúng ta chiếm Rome”, Donovan chỉ trả lời gọn lỏn như vậy. Một giờ sau nửa đêm, sáng ngày 22, chúng tôi đổ bộ vào bờ biển Anxio.
Cái gì đang chờ đợi được diễn ra trong cuộc dạo chơi ngắn ngủi 25 dặm đến Rome để thay cho một cuộc hành trình đẫm máu trong 5 tháng mới tới được thủ đô nước Ý. Quân đội chúng ta đã không tiến vào các phố xá của Rome trước ngày 4-6, đúng 2 ngày trước khi đổ bộ vào đất Pháp. Nhưng dù sao thì vào hạ tuần tháng 6, tôi cũng đã được rút khỏi Chiến trường Địa Trung Hải và trên đường về Washington.
Whitaker gặp tôi tại địa điểm liên lạc và chúng tôi lái xe đến thẳng hiệu ăn Harvey, nơi tướng Donovan đang đợi tại một chiếc bàn khuất lối. Ông cho sửa soạn một bữa ăn trưa để họp nhằm tránh sự ngắt quãng như ở nhiệm sở. Tại đó, lần đầu tiên tôi biết rằng Donovan đã chọn tôi để cầm đầu một nhiệm vụ của OSS ở Đông Dương.
Trong mùa hè 1944, chiến tranh ở châu Âu diễn ra ác liệt và ở đó còn nhiều trận phải giành được chiến thắng nhưng ở đó đã có một mục đích lớn chung cho tất cả và không khí tràn đầy lạc quan. Bức tranh ở Viễn Đông lại hoàn toàn khác. Cuộc xung đột nhiều mặt vì những lợi ích khác nhau chống lại sự thống nhất của Đồng minh. Tâm trạng ở Washington, London và Trùng Khánh là thất vọng. Ở Trung Quốc, Nhật kiểm soát hết các đường giao thông trên đất liền, ngoài biển và hầu hết các khu thành thị - công nghiệp nhưng không kiểm soát được các nông thôn rộng lớn chung quanh. Ở đó đang diễn ra cuộc chiến tranh phân liệt giữa các lực lượng gọi là Quốc gia của Tưởng Giới Thạch và những người Cộng sản của Mao Trạch Đông. Cuộc đấu tranh huynh đệ tương tàn này bị bọn quân phiệt có thế lực làm phức tạp thêm; bọn này lúc kết cấu với bên này lúc lại chuyển sang phía kia và là những kẻ mà bất luận trong tinh huống nào cũng không chịu phục tùng hoàn toàn đối với những nhà cầm quyền Chính phủ Trung ương của Tưởng. Vì những lý do trên nên các lực lượng vũ trang của Trung Quốc không thể sánh được với các lực lượng có kỷ luật và được tổ chức tốt của phương Tây.
Sự thiếu thống nhất giữa các nước Đồng minh ở Viễn Đông bộc lộ rất sớm. Sự sụp đổ của Singapore vào tháng 2-1942, tiếp theo là thảm hoạ ở Miến Điện đã làm tổn thương niềm kiêu hãnh dân tộc của nước Anh một cách nhanh chóng. Churchill, con người được thừa nhận là kẻ đứng đầu trong việc đề cao vị trí của nước Anh trong khu vực thuộc địa ở Đông Nam Á đang lo lắng đến sự an ninh của Ấn Độ. Ông ta coi Miến Điện là thành lũy cuối cùng cần phải giữ với bất cứ giá nào. Tất nhiên những ưu tiên tối thượng của ông ta luôn luôn vẫn là đảm bảo cho nước Anh tồn tại và là chiến lược “Châu Âu trước hết”.
Tưởng Giới Thạch càng lo lắng trực tiếp hơn đối với cuộc chiến đấu ở Miến Điện vì đó là vấn đề bảo vệ biên giới của ông ta và bảo đảm cho bản thân ông luồng tiếp tế theo chương trình “Vay-Mượn” từ nước Mỹ.
 
ROOSEVELT – CHURCHILL - TƯỞNG
Tổng thống Roosevelt đồng tình với chiến lược “Châu Âu trước hết” của Anh nhưng muốn Churchill có một lập trường hiệu quả hơn ở Viễn Đông. Mấy năm qua, chúng tôi đã cam kết ủng hộ Tưởng trong cuộc đấu tranh chống tham vọng Liên Á của Nhật và Trung Quốc đã bị ép rất mạnh. Roosevelt sợ rằng Nhật tăng cường nỗ lực ở Trung Quốc, nắm lấy sự kiểm soát quân sự ở đó, và Trung Quốc có thể sụp đổ với nhũng hậu quả về chiến lược không lường hết được.
Tổng thống đã bộc lộ sự lo lắng đó vào đầu năm 1942 với con trai của mình, Elliot khi ông hỏi: “... Nếu Trung Quốc thất bại, theo con thì có bao nhiêu sư đoàn lính Nhật sẽ rảnh tay - để làm gì? Chiếm nước Úc, chiếm Ấn Độ - và điều đó sẽ giống như một quả mận đã chín mùi chỉ còn chờ được hái. Tiến quân thẳng vào Trung Đông... một cuộc bao vây gọng kìm rộng lớn của người Nhật và Đức quốc xã, gặp nhau ở một nơi nào đó ở Cận Đông, cắt đứt hoàn toàn người Nga, chia cắt Ai Cập, cắt toàn bộ các đường giao thông liên lạc qua Địa Trung Hải? Chúng ta làm thế nào để tiếp tế cho Trung Quốc?... Con đường Miến Điện – và nếu nó bị sụp đổ?... Ấn Độ? Vậy đó!”.
Sau này, trong một cuộc thảo luận giữa ông với Elliot, Roosevelt nói thêm: “Điều mà chúng ta biết là thế này: Người Trung Quốc đang giết người Nhật và người Nga đang giết người Đức. Chúng ta cứ để cho họ tiếp tục, cho đến khi quân đội và hải quân của ta sẵn sàng giúp đỡ được”.
Churchill cho rằng cuộc tấn công của Nhật vào Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) có thể kéo ngược lại sự ủng hộ của Mỹ đối với các nước Đồng minh châu Âu và Churchill đã nhanh chóng đến gặp Roosevelt tại Nhà Trắng ngay trong ngày Noel 1941. Vấn đề cơ quan chỉ huy thống nhất của Đồng minh ở Viễn Đông đã được đưa ra thảo luận và Bộ Chỉ huy Mỹ, Anh, Hà Lan và Úc (ABDACOM) thuộc quyền chỉ huy của tướng Archibald P. Wavell đã nhanh chóng được thành lập. Cơ cấu chỉ huy mới đã loại Trung Quốc ra ngoài vì Roosevelt và Churchill đều nhất trí rằng Tưởng Giới Thạch có thể chống lại bất cứ sự kiểm soát nào của nước ngoài trên lãnh thổ của Trung Hoa.
Tuy vậy, Roosevelt vì những lí do chiến lược và chính trị vẫn lo lắng về việc giữ Trung Quốc trong chiến tranh và thuyết phục Churchill cũng nên để cho Tưởng có một địa vị chính thức trong các nước Đồng minh. Người Anh tán thành đề nghị đó của tổng thống, nhưng với điều kiện là không để Trung Quốc tham gia Hội đồng Tham mưu trưởng hỗn hợp (CSS). Kết quả cuối cùng là lập ra Chiến trường Trung Hoa riêng biệt, đặt dưới quyền chỉ huy của TưởngThống chế, bao gồm cả những phần đất như Thái Lan và Đông Dương lúc đó vẫn do Đồng minh chiếm đóng, nhưng không có Miến Điện. Tưởng được mời làm Tư lệnh tối cao Đồng minh, có một Bộ Tham mưu Đồng minh giúp việc.
Thấy có lợi về chính trị và chiến lược, Tưởng chấp nhận vai trò độc đáo của một tư lệnh Đồng minh “độc lập” chỉ chịu trách nhiệm với chính mình và yêu cầu Mỹ gửi sang một sĩ quan cao cấp người Mỹ để giữ chức Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Đồng minh ở Trùng Khánh. Nhưng chỉ trong ít tuần, Wavell và Tưởng đã xung đột với nhau về vấn đề kiểm soát và phân phối hàng chi viện Vay - Mượn ở Miến Điện và về phương hướng trung tâm của chiến lược Đồng minh ở Viễn Đông. Mối hằn thù của họ đã làm suy yếu sự thống nhất của Đồng minh và là thảm họa đe dọa các mục tiêu quân sự của Mỹ cả ở Viễn Đông lẫn Thái Bình Dương.
Gần như tiếp ngay sau đó, các cuộc tiến công nhanh chóng của quân đội Nhật chống người Anh và người Trung Hoa đã đặt ra cho tam cường vấn đề là phải cải tổ lại cơ cấu chỉ huy của họ. Trong vòng không đầy 2 tháng, ABDACOM của tướng Wavell bị tê liệt và đúng như nhận định của Churchill lúc trước cho rằng Tổng thống Mỹ phải có nhiệm vụ chủ yếu là làm việc với Trung Quốc trong tất cả mọi mặt và toàn bộ Thái Bình Dương (kể cả Trung Quốc) phải được đặt dưới quyền chỉ huy của Mỹ, mặc dù Tưởng vẫn còn nắm quyền điều hành tác chiến ở Trung Quốc. Wavell được cử giữ chức “Tư lệnh tối cao Ấn Độ”, có trách nhiệm về hành quân tác chiến ở Miến Điện. Phạm vi trách nhiệm của Anh được vạch ra từ Singapore đến bao gồm cả Trung Đông.

Nguồn: www.vuontaodan.net (http://www.vuontaodan.net)


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 10:39:51 AM
STILWELL NHẬP CUỘC
Theo yêu cầu của Tưởng muốn một người Mỹ làm tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Đồng minh, tướng Marshall đã chỉ định thiếu tướng Joseph W. Stilwell(2) vào chức vụ đó. Ngày 6-3-1942, Stilwell được phái đến chỗ Tưởng với hàm trung tướng vừa mới được phong. Ông đã được Tưởng Thống chế và phu nhân tiếp đón thân mật ở Trùng Khánh, nhưng cũng ở đây ông đã thấy rõ được sự quan tâm của Tưởng đối với vấn đề chỉ huy ở Miến Điện và những khó khăn trong quan hệ Trung - Anh. Điều ngạc nhiên đối với ông là Tưởng tuyên bố rằng Stilwell chỉ là tham mưu trưởng các lực lượng Đồng minh (tức là Mỹ - Anh) mà thôi chứ không phải của quân đội Trung Quốc.
Điều này đã đặt Stilwell vào một tình thế khó khăn từ những buổi ban đầu. Tưởng chọn và giữ lại một người bạn tin cậy cũ của mình, tướng Hà Ứng Khâm (Ho Yingchin) làm Tham mưu trưởng các lực lượng Trung Quốc. Stilwell đã được cử sang Trung Quốc để nhằm giúp Tưởng hoàn thành các nhiệm vụ của Tư lệnh Tối cao của một chiến trường Đồng minh, đã nhận thấy quyền lực của mình bị cắt xén đi quá nhiều. Ông cũng thấy ra được rằng mình làm cho một con người tự do và những quan niệm về lợi ích của Trung Quốc của người đó thì không phải lúc nào cũng phù hợp với lợi ích của người Anh và Mỹ. Khi có sự khác nhau xảy ra, Stilwell đã phải đóng vai trung gian dung hoà giữa những ý muốn của Tưởng với tư cách là chỉ huy một Chiến trường Đồng minh độc lập với những chỉ thị quân sự của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (Mỹ) và hỗn hợp (Anh - Mỹ).
Stilwell còn đảm nhận thêm ba chức vụ khác nữa: Tổng chỉ huy các lực lượng quân đội Mỹ ở Trung Quốc, Miến Điện và Ấn Độ (CBI); đại diện quân sự của Tổng thống Mỹ ở Trùng Khánh, và trách nhiệm phân phối toàn bộ đồ viện trợ chương trình “Vay - Mượn”. Việc phân phối hàng tiếp viện “Vay - Mượn” đã thường xuyên gây nên sự tranh chấp gay gắt.
Tình trạng lộn xộn và giẫm đạp lên nhau này kéo dài mãi cho đến tháng 8-1943 mới chấm dứt khi Tổng thống, Thủ tướng và các Tham mưu trưởng của họ gặp nhau ở Quebéc để họp hội nghị Quadrant. Lần đầu tiên những người tham dự hội nghị đã hoàn toàn nhất trí với nhau về kế hoạch đánh bại Nhật Bản. Họ đã đi đến kết luận dùng Trung Quốc làm một căn cứ cực tốt cho các cuộc tập kích đường không vào các cứ điểm phòng thủ của Nhật Bản, các đường giao thông dẫn đến các biển phía Nam và cho cuộc xâm chiếm chính quốc Nhật.
Kế hoạch của họ dự tính một cuộc tiến công bằng hai mũi từ phía đông và tây để chiếm lấy khu vực Quảng Đông – Hongkong. Mũi tiến công phía đông có lực lượng không lục hải quân phối hợp, lần lượt đánh chiếm các đảo để cuối cùng tập trung mở một cuộc tấn công thuỷ bộ vào bờ biển Trung Quốc. Từ phía tây, các lực lượng của Tưởng theo đường bộ tiến ra gặp các đạo quân Đồng minh đổ bộ vào đất liền. Sau đó hai cánh quân sẽ đánh lên phía Bắc Trung Quốc. Mốc thời gian cho các cuộc hành quân vào chính quốc Nhật Bản được ấn định vào năm 1947.
Cũng như các lần trước, sự bất đồng giữa người Anh và người Mỹ lại nổ ra về vấn đề các cuộc hành quân ở Miến Điện, điểm then chốt đảm bảo sự thực hiện thành công của chiến lược mới được đưa ra. Người Mỹ chủ trương ngay sau khi đánh được quân Nhật khỏi miền bắc Miến Điện thì cấp thiết phải tiến quân về phía nam, chủ yếu để mở thông cảng Rangoon, tăng thêm dòng tiếp vận cho Trung Quốc. Người Anh lại có ý định giành lại Sumatra để lấy làm bàn đạp đánh chiếm lại Singapore và bán đảo Mã Lai. Do dó họ thích đi vòng và bỏ qua Rangoon.
Các Tham mưu trưởng liên quân Mỹ mặc dầu đồng ý cho các phương hướng tiến công nói chung trong kế hoạch của Anh là đúng đắn nhưng trong thâm tâm họ lại sợ người Anh có thể tính toán đến một cuộc thương lượng hoà bình với Nhật Bản và như thế thì sẽ bỏ mặc cho người Mỹ chiến đấu đơn độc ở Thái Bình Dương. Họ đã chống lại bằng cách đưa ra đề nghị nhằm thực hiện một kế hoạch cấp tốc đánh đuổi quân Nhật ra khỏi Miến Điện, bảo vệ các đường tiếp vận ở bắc Miến Điện, củng cố cảng Rangoon và ấn định thời hạn đánh bại Nhật là 12 tháng sau khi Đức sụp đổ. Đề nghị của người Mỹ về một chiến dịch tấn công cấp tốc hướng trực tiếp thẳng ngay vào chính quốc Nhật đã bị người Anh bác bỏ một cách quyết liệt. Đối với họ, một thắng lợi sớm ở châu Âu và việc cứu vãn đế quốc thuộc địa của họ ở Viễn Đông còn quan trọng hơn nhiều so với việc trước mắt Nhật Bản bị đánh bại.
Nỗi bực tức gây ra vì những sự bất đồng đó đã được phản ảnh trong nhật ký của huân tước Alanbrooke, Tổng tham mưu trưởng quân đội Hoàng gia Anh viết ngày 1-10-1943, như sau:
“Một buổi sáng đấu nhau dồn dập với COS(2) tới mãi 12 giờ trưa; sau đó họp với P.M(3), các tham mưu trưởng, Dickie Mountbatten và Pownall. Cuộc họp đã dẫn đến một trận đấu căng thẳng kéo dài một tiếng đồng hồ giữ tôi và P.M về vấn đề rút quân từ Địa Trung Hải để bổ sung cho cuộc tấn công ở Ấn Độ Dương. Tôi từ chối việc làm suy ýêu tiềm năng các lực lượng đổ bộ tổng hợp ở Địa Trung Hải để nhằm tổ chức trận tập kích táo bạo cho Mountbatten đánh vào Sumatra. Ngược lại, P.M lại sẵn sáng phá bỏ chính sách cơ bản của chúng ta và đặt Nhật lên vị trí trước cả Đức. Nhưng, cuối cùng tôi đã đánh bại hầu hết những ý đồ của ông ta”
Mối đe doạ mới ở Viễn Đông, đặc biệt là các hoạt động tác chiến ở Ấn Độ Dương và bắc Sumatra đã thu hút sự quan tâm của Churchill nhưng ông ta vẫn không chịu chấp nhận ý kiến của Roosevelt cho rằng Trung Quốc là nhân tố cơ bản để đánh bại Nhật và các cuộc hành quân ở Miến Điện là có ý nghĩa quyết định cho vấn đề này.
Trong một cuộc thảo luận quan trọng khác ở Hội nghị Quadrant, Churchill, đã lái câu chuyện sang việc thành lập một Bộ Chỉ huy Đông Nam Á (SEAC) mới cho các cuộc hành quân của Đồng minh ở châu Á. Roosevelt được biết tham vọng của Churchill là chiếm lại Singapore và sắp đặt một vị trí chỉ huy then chốt cho huân tước Louis Mountbatten, cháu của vua và là con trai của một bạn đồng nghiệp cũ của Churchill, công tước Louis de Battenberg. Tổng thống đồng ý thành lập SEAC; và ông, Thủ tướng cũng như các Tham mưu trưởng của họ đều tán thành bổ nhiệm phó đô đốc Mountbatten, cựu trưởng ban tác chiến hỗn hợp, làm Tư lệnh tối cao chiến trường Đông Nam Á. Việc bổ nhiệm một đô đốc Hải quân hoàng gia chỉ xác nhận những sự nghi ngờ của Bộ Tham mưu Mỹ tại hội nghị là Churchill coi SEAC là một chiến trường thuỷ bộ hơn là một chiến trường mặt đất, một bộ chỉ huy mà ông ta muốn dùng để tiến hành chiến dịch Sumatra mà ông ta hằng ấp ủ để chiếm lại Singopore, biểu tượng của quyền lực đế quốc Anh ở châu Á.
Một lần nữa, vị trí chỉ huy của Stilwell, như đã từng xảy ra, lại phải được điều chỉnh cho thích hợp với sự sắp xếp đã thay đổi từ chóp bu. Trong một bức điện tỉ mỉ ngày 17-8-1943, tướng Marshall đã giải thích một cách kiên nhẫn và khéo léo vị trí của Stilwell dưới quyền Mountbatten. Ông nhấn mạnh rằng chiến lược Miến Điện vẫn không thay đổi, nhưng thời biểu tác chiến phải gấp hơn do những khả năng tiếp tế trên các đường Miến Điện, cả đường bộ lẫn đường không, đã tăng lên. Tuy nhiên, Marshall nói tiếp, các quan hệ chỉ huy bên trong SEAC quá ư phức tạp. Việc thành lập SEAC có nghĩa là tới 4 chiến trường, ba chiến trường địa lý và một chiến trường tác chiến, đại biểu một cách tương ứng cho những lợi ích của ba nước và ba cơ quan tình báo, tất cả đều đang hoạt động trong cùng một khu vực. SEAC phải là một bộ chỉ huy của Anh - Mỹ, bao gồm Miến Điện, Ceylon, Sumatra và Malaysia, nhưng không có Ấn Độ. Ấn Độ nằm dưới quyền chỉ huy của Bộ Chỉ huy Ấn Độ, có trách nhiệm đối với Trung Đông là nơi các sư đoàn Ấn Độ đang chiến đấu cũng như đối với Viễn Đông. Tất nhiên, ở Trung Quốc, có Chiến trường Trung Quốc của Tưởng. Chiến trường tác chiến của Mỹ, CBI, hoạt động tất cả ở ba khu vực địa lý. Nó không phụ thuộc vào SEAC.
Quân đội Trung Quốc ở Ấn Độ, do Stilwell chỉ huy, dựa vào Bộ Chỉ huy Ấn Độ về tiếp tế hậu cần, nhưng lại chiến đấu trong khu vực của SEAC dưới quyền chỉ huy của Mountbatten. Đội không quân thứ 14 của Mỹ dưới quyền chỉ huy của tướng Claire L. Chennault đóng ở Trung Quốc để hoạt động, được tiếp tế từ Ấn Độ, nhưng về hình thức lại nằm dưới quyền Tưởng Thống chế. Việc cai quản, phòng thủ và an ninh nội bộ của Bộ Chỉ huy Ấn Độ đặt dưới quyền của tướng Claude J.E. Auchinlek là người chịu trách nhiệm chính với chính phủ Ấn Độ. Là đại diện của nội các chiến tranh của Anh và phó vương Ấn Độ, Thống chế Wavell là trọng tài về những thứ tự ưu tiên giữa Bộ chỉ huy Ấn Độ và SEAC, nhưng mỗi bên có thể khiếu nại về những quyết định của Wavell lên tham mưu trưởng của Anh. Việc liên lạc giữa SEAC và Tưởng gặp trở ngại bởi việc chỉ định Stilwell làm phó Tư lệnh tối cao Đồng minh ở SEAC, và nhiệm vụ của ông là xem xét người Trung Quốc đóng vai trò của mình như thế nào. Marshall gọi đó là một sứ mệnh “không dễ dàng gì”.
Thật dễ dàng nhận thấy rằng trong tình trạng rối rắm về chỉ huy ấy, không thể có một sự thống nhất của Đồng minh, và những bất đồng có thể xảy ra ở mọi cấp và mọi khu vực. Tuy nhiên Stilwell và Mountbatten bắt đầu mối quan hệ của họ một cách thuận lợi. Marshall đoán trước rằng Stilwell sẽ nhìn thấy ở đô đốc “một luồng không khí mát mẻ” và Stilwell đồng ý với điều đó khi ghi vào nhật ký của mình “Louis là một người rất tốt... đầy nhiệt tình và không thích sự chây ỳ và bảo thủ”. Vì thế Stilwell cũng đã có thể nói tới công việc của mình với tư cách Phó tư lệnh tối cao của Đồng minh rằng đã có một sự hợp tác thật sự với người Anh, Đồng minh chỉ yếu của Mỹ. Bất cứ một điều gì đe doạ chia rẽ hai nước này đều sẽ có ảnh hưởng đến toàn cầu. Như tướng Thomas T.Handy(4) diễn đạt về điều đó, nếu người Anh hát bài “Cầu Chúa phù hộ Đức vua”(5) thì Stilwell không thể hát theo được, nhưng ít ra ông ta có thể đứng dậy.
Trước khi Mountbatten đến, qua thái độ công khai coi thường của Stilwell đối với thái độ “không làm gì cả” của người Anh và người Trung Quốc trong việc đuổi người Nhật ra khỏi Miến Điện, ông đã được gọi là “Joe có bộ mặt câng câng”. Ông tỏ ra kiên quyết khi phê phán nạn tham nhũng của Quốc dân đảng Trung Quốc và việc sử dụng không đúng những hàng tiếp tế “Vay - Mượn” của chúng ta cũng như chủ trương của Tưởng muốn tiến hành một chiến dịch riêng chống phe cộng sản của Mao. Stilwell dần dần trở thành một bête noire(6) ở Viễn Đông. Tưởng cũng biết quá rõ sự chống đối của Stilwell và đến khoảng tháng 9-1943, những bất đồng của họ đã đạt tới điểm gay go. Chennault thì quy sự bất lực của mình về xu thế trên không cho tình trạng thiếu máy bay chiến đấu và tiếp tế lúc đầu đã được hứa cho và đã quở trách Stilwell là người phân phối vũ khí “Vay - Mượn”. Các viên chỉ huy Trung Quốc cũng buộc tội Stilwell vì đã từ chối những yêu cầu cung cấp binh lính và tiếp tế hậu cần cho họ.
 
Nguồn: www.vuontaodan.net (http://www.vuontaodan.net)


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 10:41:43 AM
Khi Mountbatten tới Trùng Khánh ngày 16-10-1943, để gặp Tưởng Giới Thạch, ông đã được tướng Brehon B. Somervell cho biết rằng Tưởng đã công khai bày tỏ ý muốn của mình là Stilwell được rút đi. Đó là một sự bắt đầu khó khăn của Mountbatten trong việc giải quyết các vấn đề về bộ chỉ huy của ông. Sau một thời gian suy nghĩ, ông kết luận rằng không nên sử dụng bộ đội Trung Quốc nếu người đã chỉ huy họ hai năm rồi lại bị đuổi đi ngay trước khi tiến hành những cuộc hành quân chủ động và ông cho phép Somervell thông báo điều đó với Tưởng và cuộc khủng hoảng đã được giải quyết một thời gian với sự cam kết của Stilwell là sẽ hợp tác đầy đủ với Tưởng và sẽ nhũn nhặn hơn trong tương lai.
Một vấn đề hóc búa khác nữa đã nổi lên tại cuộc gặp gỡ ở Trùng Khánh. Về sau này không một ai nhớ được chính xác, vấn đề ranh giới giữa SEAC và Chiến trường Trung Quốc đã được nêu lên như thế nào. Những vấn đề đã được đặt ra tại Hội nghị Quadrant và những người tham gia hội nghị nhớ lại rằng người Trung Quốc đã được nói cho biết là Đông Dương và Thái Lan thuộc về Chiến trường Trung Quốc. Sự thật là Bộ tham mưu hỗn hợp thấy cần phải chuyển hai xứ đó sang cho SEAC và điều đó đã được truyền đạt một cách khôn khéo cho Tưởng. Tưởng đã kịch liệt phản đối. Cuối cùng vấn đề này được giải quyết theo một đề nghị thoả thuận lịch sử của Mountbatten, sự thoả thuận này đã có ảnh hưởng lâu dài sau này. Thái Lan và Đông Dương sẽ được giữ lại trong Chiến trường Trung Quốc với điều kiện cả Mountbatten và Tưởng đều có quyền hành động ở đó và khu vực nào do ai chiếm đóng thì tất nhiên sẽ nằm dưới quyền của Bộ chỉ huy chiếm đóng. Cả hai Tư lệnh đều đã đồng ý, những sự thoả thuận ấy đã không được chấp nhận hay bị bác bỏ bởi Tổng thống, Thủ tướng và CCS, tất cả đều muốn để lại vấn đề gai góc này.
Việc thành lập SEAC và việc buộc phải tạm ngưng xung đội giữa Stilwell và Tưởng đã không cải thiện được tình thế. Tướng Chennault, viên sĩ quan không quân cao cấp của Mỹ ở Trung Quốc đã kiên quyết phản đối quan điểm của Stilwell cho rằng những cuộc chiến đấu phải được tiến hành và giành thắng lợi trên mặt đất còn không lực chỉ là một cánh tay hỗ trợ. Ông ta cãi lại rằng Stilwell đã bỏ quá nhiều sức lực vào những cuộc cải tổ trong quân đội Trung Quốc và dành hết những phương tiện ít ỏi của mình vào công việc đó, do đó đã bỏ lỡ cơ hội để giành thắng lợi sớm hơn đối với Nhật. Chennault đã giành được sự ủng hộ của Tổng thống và của Tưởng, và đã được quyền ưu tiên nhận những hàng tiếp tế đó sang Trung Quốc, do Bộ chỉ huy Vận tải đường không của Mỹ thực hiện. Luồng tiếp tế cho cuộc chiến tranh bằng không quân của Chennault đã gây trở ngại rất lớn cho Stilwell trong việc trang bị và huấn luyện các lực lượng Trung Quốc để tiến hành chiến dịch của ông ở Miến Điện.
Chennault đã sử dụng trọng tải đang tăng lên một cách rất thành công và đã tăng cường những cuộc tấn công bằng không quân của ông vào các cứ điểm của Nhật ở phía đông Trung Quốc đến mức người Nhật lo sợ rằng người Mỹ sẽ lập được căn cứ cho những máy bay ném bom tầm xa mới chế tạo của mình ở phía đông Trung Quốc, và từ đó sẽ dễ dàng tấn công chính nước Nhật. Kết quả trực tiếp là những cuộc phản công quyết liệt của người Nhật chống lại những sân bay tiền tiêu của Mỹ mà Chennault đã sử dụng để hoạt động. Cuộc tấn công của người Nhật mở ra trong tháng 4-1944 và tiến sâu vào Trung Quốc trước một sự kháng cự không đáng kể trên bộ. Thống chế (Tưởng) từ chối việc gửi vũ khí bất cứ loại nào, vũ khí Trung Quốc hay vũ khí “Vay - Mượn”, cho những binh lính Trung Hoa phòng thủ ở các sân bay của Chennault. Các báo cáo tình báo của các quan sát viên Mỹ vạch ra rằng sự từ chối của Tưởng phản ánh một sự thoả thuận giữa một vài viên chỉ huy Trung Quốc địa phương với người Nhật với điều kiện người Nhật sẽ để cho người Trung Hoa yên ổn ở tây nam Trung Quốc nếu người Trung Hoa không can thiệp khi người Nhật tấn công các sân bay có thể đe doạ chính quốc họ.
Mỹ đã tỏ ra lo ngại một cách dễ hiểu đối với việc duy trì sự kiểm soát các sân bay dùng để làm căn cứ trên mặt đất cho không quân yểm trợ các chiến dịch của Mỹ ở tây Thái Bình Dương và đã có cố gắng cứu vãn tình hình. Các Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ kết luận rằng nếu Stilwell nắm lấy quyền chỉ huy tất cả các lực lượng ở Chiến trường Trung Quốc, cả Quốc dân đảng lẫn Cộng sản, thì ông ta có khả năng ngăn chặn được việc người Nhật chiếm các sân bay. Tổng thống đã đồng ý.
 
STIWELL RA ĐI, WEDEMEYER NHẬP CUỘC
Toàn bộ lịch sử Trung Quốc sau chiến tranh chỉ rõ rằng mọi cố gắng nào nhằm thuyết phục Quốc dân đảng và Cộng sản liên kết vào một hành động chung để chống người Nhật đều bị thất bại. Nhưng chưa bao giờ đề nghị kiểu đó đã đi tới chỗ gần được chấp nhận như bấy giờ. Từ tháng 7 đến tháng 9-1944, đại diện đặc biệt của Tổng thống, tướng Patrick J. Hurley(7), đã cố thuyết phục Tưởng để bổ nhiệm Stilwell làm Tư lệnh dã chiến ở Chiến trường Trung Quốc. Lúc đầu Tưởng đồng ý về nguyên tắc, sau đó lại thay đổi hoàn toàn, cho rằng Stilwell tỏ ra chưa đủ trình độ, và cuối cùng lại yêu cầu bãi bỏ Stilwell. Cuối cùng Tổng thống cũng phải thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc về vấn đề này và ra lệnh cho Stilwell trở về nước, nhưng đã từ chối yêu cầu của Tưởng về việc cử một người Mỹ khác nắm quyền chỉ huy các lực lượng Trung Hoa ở Trung Quốc.
Trong các giai đoạn cuối cùng của các cuộc thượng lượng không thành công này, tình thế của Đồng minh ở Thái Bình Dương đã được cải thiện đáng kể. Hải quân Mỹ đã đánh bại một cách quyết định Hải quân Thiên hoàng Nhật Bản trong trận đánh ở vịnh Leyte. Tướng Mac Arthur đã thiết lập vững chắc quyền lực của Mỹ ở Philippinnes. Và ngày 15-10, nguyên soái Xtalin tuyên bố với đại diện Mỹ ở Matxcơva và với Thủ tướng Anh rằng Liên Xô sẽ phái 60 sư đoàn sang chống Nhật Bản, trong vòng 3 tháng sau khi nước Đức thất bại.
Trong không khí ấy, việc cứu các sân bay Trung Quốc trở nên ít khẩn trương hơn so với cuộc chiến tranh chống Nhật, nhưng vẫn còn một nguy cơ rất thực tế là Chính phủ Tưởng có thể ký một hoà ước riêng rẽ với Nhật hay chính bản thân Tưởng có thể bị lật đổ bằng một cuộc đảo chính do những phần tử thân Nhật tiến hành. Sự kiện nào cũng có thể giúp cho Nhật giải thoát được những lực lượng quan trọng để tăng cường sự bố phòng trên chính quốc Nhật. Đứng trước những khả năng đó, Tổng thống đã thay đổi ý kiến của mình và chỉ định thiếu tướng Wedemeyer làm sĩ quan cao cấp của Mỹ ở Chiến trường Trung Quốc và làm tham mưu trưởng cho Thống chế. Ngày cuối cùng tháng 10-1944, sau khi được thăng cấp lên trung tướng, Wedemeyer đến Trùng Khánh. Bốn hôm trước đó tướng Stilwell đã rời Karachi về Mỹ. Chennault vẫn ở lại.
Những mệnh lệnh mà Wedemeyer nhận được từ Bộ chiến tranh và những phương tiện được đặt dưới quyền của ông rất khác với những thứ đã giao cho Stilwell hai năm rưỡi trước đây; dù rằng những vấn đề của ông, như chính ông đã biết rõ, vẫn như cũ: “Tạo ra những điều kiện để sử dụng có hiệu quả tối đa những phương tiện của Mỹ trong khu vực… Người Trung Quốc phải được yêu cầu đóng một vai trò tích cực trong chiến tranh”. Plus ça change, plus c’est la même chose(8).
Từ mùa hè 1944, Bộ chiến tranh đồng ý tách Chiến trường Trung Quốc - Miến Điện - Ấn Độ (CBI) ra làm đôi. Kế hoạch ấy vẫn còn có giá trị, và Wedemeyer giữ chức chỉ huy Chiến trường Trung Quốc riêng biệt, bao gồm Trung Hoa lục địa, Mãn Châu, và Đông Dương, cộng với những hòn đảo ngoài khơi, trừ Đài Loan. Những sự thoả thuận mơ hồ giữa các bộ chỉ huy tối cao với các bộ chỉ huy chiến trường về Đông Dương về sau này chứng tỏ có tầm quan trọng sống còn đối với các kế hoạch của Pháp nhằm chiếm lại thuộc địa cũ của họ.
 
MỘT BABYLON HIỆN ĐẠI
Việc bổ nhiệm Wedemeyer ở Trung Quốc đã thách thức những quan niệm giáo điều và những giải pháp học viện về chỉ huy và kiểm soát ở một sân khấu chính trị phi lý.
Ở phía bắc Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã thiết lập một nhà nước trong một nhà nước, ở đó có những người Cộng sản Trung Quốc hoàn toàn kiểm soát được một mảng lớn lục địa Trung Quốc với những bộ máy kinh tế và quân sự riêng của họ, độc lập với kiểm soát của Đồng minh hay với quyền uy không chắc chắn của Tưởng.
Ở Trùng Khánh, Quốc dân đảng được mọi người biết tới như một chính phủ, cũng bị chia thành nhiều mảng. Sự bất đồng giữa những chỉ huy của họ đang lan rộng. Tình hình kinh tế tệ hại của họ lại càng nặng nề thêm do sự bao vây của Nhật và nạn lạm phát tăng dần lên. Tình hình đó đe doạ Quốc dân đảng Trung Hoa phân hoá thành một nhóm những bè phái đấu đá nhau. Còn về Tưởng Giới Thạch, thì như Wedemeyer đã nhận định vắn tắt cho tướng Marshall biết: “bây giờ thì tôi phải kết luận rằng Thống chế và những người cùng cánh của ông ta đã hiểu rõ tính chất nghiêm trọng của tình hình, nhưng họ bất lực và bối rối”.
Bộ tham mưu liên quân Mỹ, suy nghĩ về kinh nghiệm đã qua với Tưởng, đã bổ nhiệm Wedemeyer làm Tổng chỉ huy các lực lượng Mỹ ở Chiến trường Trung Quốc và đã cho cho phép ông “chấp nhận” thêm vai trò Tham mưu trưởng của Thống chế. Như vậy, Mỹ tránh lặp lại một tình thế không thể để xảy ra như tình thế của Stilwell trước kia. Sự thu xếp mới này, khi đã được phát triển lên, đã tỏ ra rất tốt. Wedemeyer và Tưởng đã thu xếp được một mối quan hệ cá nhân trơn tru và thân mật với nhau.
Cơ cấu chỉ huy riêng của chúng ta, tuy vậy, cũng vẫn còn nhiều vấn đề. Ở Trung Quốc, Wedemeyer thấy các nhân viên người Mỹ ở các lực lượng Hải, Lục, Không quân đều thuộc vào các đơn vị khác nhau, các đơn vị đã tỏ ra độc lập hoàn toàn hay một phần với ông với tư cách chỉ huy chiến trường. Hạm đội Mỹ ở Trung Quốc thì báo cáo về Bộ Hải quân; OSS thì báo cáo về cho Ban tham mưu của mình ở Washington; cơ quan thu thập tình báo hỗn hợp (JICA) và Bộ chỉ huy máy bay ném bom XX thì đặt dưới quyền chỉ huy trục tiếp của Bộ tham mưu liên quân; còn Bộ chỉ huy vận tải đường không (ATC) thì độc lập với sự kiểm soát của các chiến trường Ấn Độ - Miến Điện cũng như Trung Quốc. Còn vô số phái đoàn Đồng minh và những tổ chức bí mật hoạt động bên cạnh người Anh và người Pháp ở Trùng Khánh.
Đại sứ nước ta tại Trung Quốc, Clarence E. Gauss, mô tả tình cảnh ấy rất hay:
“…Ở đây có quá nhiều sự hỗn độn… Những thư từ do Đại bản doanh gửi cho chúng tôi cho thấy OSS, cũng như Miles(9) và Tai Li (10) đang quan tâm đến những vấn đề Đông Dương; “Hoạt động của OSS thông qua AGFARTS (sic)… Căn cứ của “Đội không quân thứ 14” đang thiết lập đường liên lạc của người Pháp ở Đông Dương một cách độc lập với phái đoàn quân sự Pháp ở đây và “người Trung Quốc và OSS đang hoạt động thông qua nhóm Gordon, một tổ chức hoàn toàn không được phái đoàn Pháp ưa thích… Như vậy chúng tôi có Miles và Tai Li, OSS và Gordon, Quân đội Mỹ; chúng tôi thấy phái đoàn quân sự Pháp thường đến gặp Quân đội và phái đoàn Pháp thường đến gặp chúng tôi với nhiều vấn đề; và không ai biết được cái gì đã làm ở đây hay cái gì phải được làm ở đây cả”.
Theo quan điểm chỉ huy và kiểm soát, đó là một Babylon hiện đại, và vị tân Tư lệnh Chiến trường đã hỏi ngay Marshall về việc xác định mối quan hệ của ông với nhiều tổ chức và với tướng Hurley, đại diện riêng của Tổng thống. Tuy nhiên, sự trả lời lại vô thưởng vô phạt và chỉ nhắc cho Wedemeyer những chỉ thị lúc ban đầu. Trong thực tế, Wedemeyer không bị hạn chế vai trò chỉ huy của ông bởi những chỉ thị mới và chi tiết nào, nhưng các cơ quan độc lập cũng không bị giới hạn về hoạt động của họ vào những đường dây chỉ huy chính thức nào, miễn là họ “thông báo” cho Tư lệnh chiến trường. Sự thu xếp có vẻ tiện lợi cho mọi điều có liên quan. Wedemeyer được chính Donovan lựa chọn êkíp riêng của ông và đã bắt tay vào việc cải tổ cơ cấu chỉ huy và thay đổi nhân sự theo những nhu cầu hoạt động riêng của ông. Ông sử dụng thì giờ của mình một cách khôn khéo hơn và xử sự một cách thận trọng với các cơ quan tình báo khác nhau.
Trong số những vấn đề chính trị - quân sự mà ông gặp phải với tư cách Tư lệnh chiến trường, có vấn đề Cộng sản Trung Quốc ở Diên An và các Phái đoàn quân sự Pháp ở Côn Minh và Trùng Khánh. Vấn đề thứ nhất, về cơ bản là một vấn đề của Trung Quốc, phải được giải quyết với Tưởng. Vấn đề thứ hai lại có một lịch sử khác. Những hệ quả quốc tế của sự có mặt của Pháp ở Trung Quốc đã đụng đến những quyền lợi của Đồng minh và có liên quan với Mỹ một cách trực tiếp và nghiêm trọng.
________________________________________
(1) thủ trưởng ban SI của OSS
(2) Chief Of Staff: tham mưu trưởng liên quân
(3) Prime Minister: thủ tướng
(4) thủ trưởng Cục tác chiến và kế hoạch, WD
(5) Quốc ca Anh
(6) người đáng ghét nhất - tiếng Pháp
(7) phái viên của tổng thống Mỹ, thay mặt SEAC bên cạnh Tưởng
(8) càng thay đổi lại càng vẫn thế - tiếng Pháp
(9) chỉ huy hạm đội Mỹ tại Trung Quốc
(10) người đứng đầu cơ quan mật vụ của Tưởng
Nguồn: www.vuontaodan.net (http://www.vuontaodan.net)


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:10:51 PM
Chương 3
Đông Dương: Một điểm cấp bách
F.D. ROOSEVELT VÀ CHỦ NGHĨA THỰC DÂN
Tổng thống Roosevelt từ lâu đã nêu lên chính sách cơ bản của ông đối với vai trò của Pháp sau chiến tranh ở Viễn Đông.
Ông coi chủ nghĩa thực dân là nguyên nhân chính của Thế chiến thứ hai. Khi thảo luận về nước Pháp với con trai mình ở Casablanca, ông cho rằng Pháp phải chịu trách nhiệm một phần về cuộc tấn công của Nhật ở Pearl Harbor (Trân Châu Cảng): “Elliot ạ, đừng một lúc nào nghĩ rằng người Mỹ có thể chết trong cái đêm Thái Bình Dương ấy(1) nếu không phải vì cái tính tham lam thiển cận của người Pháp, người Anh và người Hà Lan. Liệu chúng ta có nên cứ để cho họ làm mọi cái một lần nữa không?... Liên Hiệp Quốc - một khi nó được tổ chức ra - phải nắm lấy các thuộc địa. Liệu nó có thể làm được điều đó không?… Dưới một chế độ ủy trị, hay một chế độ quản trị - trong một số năm nào đó chẳng hạn”. Roosevelt đã thúc ép đưa vấn đề quản trị ra ở Cairo, Teheran và Yalta và ông đã nhận được sự tán thành của Tưởng Giới Thạch và Xtalin. Nhưng Churchill đã lẩn tránh.
Hồi ức của Cordell Hull, công bố năm 1948, còn nhấn mạnh vấn đề này hơn nữa. Ông viết, Tổng thống ấp ủ những quan điểm mạnh mẽ về nền độc lập của Đông Dương thuộc Pháp. Ông lưu tâm đến sự lệ thuộc của Pháp vì đó là bàn đạp để cho người Nhật tấn công: Philippin, Malaysia và vùng Đông Ấn của Hà Lan. Ông không thể quên được cách cư xử của Chính phủ Vichy khi trao cho Nhật Bản quyền đóng quân ở đó; mà không hỏi ý kiến chúng ta nhưng lại cố làm cho thế giới tưởng rằng chúng ta đã đồng ý. 
Về chế độ quản trị, Hull nói: “Thỉnh thoảng Tổng thống nói thẳng với tôi và những người khác, ý kiến của ông rằng Đông Dương thuộc Pháp sẽ phải đặt dưới một chế độ qủan trị quốc tế ngay sau khi chiến tranh kết thúc, và để cho xứ này được độc lập càng sớm càng hay”.
Hull cũng dẫn ra bản bị vong lục tháng Giêng 1944 của Tổng thống, trong đó nói rằng “... Đông Dương sẽ không bị trao trở lại cho nước Pháp mà sẽ được cai quản bởi một chế độ quản trị quốc tế…”. Tuy tổng thống có những ý kiến mạnh mẽ như vậy, nhưng không có một tuyên bố chính thức nào về chính sách của Mỹ hay một sự thoả thuận nào của Đồng minh được chính phủ Mỹ hoặc Bộ Tổng tư lệnh Đồng minh công bố cả.
 
LẬP TRƯỜNG CỦA PHÁP
Về phần mình, nước Pháp chưa bao giờ tỏ ra một chút gì muốn “giải thoát” cho thuộc địa cũ của nó. Mục tiêu của Pháp có phần nào hợp pháp, vì nó đưôc Mỹ ba lần chính thức cam kết ủng hộ. Quyền Bộ trưởng Ngoại giao Welles đã viết ngày 13-4-1943, trong một lá thư gửi cho Henri Haye, đại sứ Pháp ở Washington: “Chính phủ Mỹ thừa nhận chủ quyền của người Pháp đối với lãnh thổ nước Pháp và đối với những thuộc địa của Pháp ở Hải ngoại... (và) nồng nhiệt hy vọng nước Pháp sẽ có thể khôi phục được nền độc lập của nước Pháp và sự toàn vẹn lãnh thổ của Pháp”; và đến tháng 11, một viên chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại giao ở Bắc Phi, Robert Murphy, đã viết cho Giraud rằng “Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ quyền nước Pháp sẽ được phục hồi càng sớm càng tốt trên toàn bộ lãnh thổ, chính quốc và thuộc địa, trên đó cờ nước Pháp đã tung bay vào năm 1939”. Hiệp định Clark - Darlan về cuộc tấn công của chúng ta vào Bắc Phi cũng đã ghi nhận sự đồng ý giữa hai bên rằng các lực lượng của Pháp sẽ “giúp đỡ và ủng hộ” Đồng minh trong việc phục hồi toàn bộ Đế quốc Pháp”.
Do đó, một năm sau, “nước Pháp tự do” dưới quyền của tướng Charles de Gaulle đã quyết định thời điểm để trưng cờ ba sắc ra và để bảo đảm cho nước Pháp sau chiến tranh một chỗ ngồi trong các nước Đồng minh ở chiếc bàn ký hoà ước. Với mục đích ấy, Pháp đệ trình Đại bản doanh Đồng minh (AFHQ), vào tháng 10-1943, những yêu cầu của mình về việc trang bị cho quân đội viễn chinh Đông Dương của Pháp (CEFEO) để sẵn sàng hành động vào mùa thu 1944. Đồng thời, đại diện Pháp ở Washington (2) nói cho tướng Marshall biết rằng các giới chức trách quân sự Pháp dự định yêu cầu được có đại diện trong Hội đồng chiến tranh Thái Bình Dương.
Đối với những người vạch kế hoạch của Mỹ ở Washington, những yêu cầu ấy của Pháp là không cần thiết vì chiến lược Viễn Đông của Anh - Mỹ vẫn tiến triển yên ổn mà không cần có nước Pháp gánh thêm. Hơn nữa, ý đồ được nhấn mạnh của Pháp về việc giành lại đế quốc thuộc địa trước chiến tranh của nó là quá rõ ràng và đi ngược lại chính sách của Roosevelt đối với các dân tộc lệ thuộc.
Cho đến cuối tháng 8-1944, chưa có một quyết định ở cấp cao nào được thông báo cho Pháp về sự tôn trọng ý định của nước này tham gia những cuộc hành quân ở Viễn Đông, đặc biệt ở Đông Dương. Sự thật là chưa đi tới được một quyết định nào vì những bất đồng giữa Anh - Mỹ về vấn đề thuộc địa. Trong tình hình ấy, không thể đồng ý với nhau về quyết định này và suốt cả cuộc chiến tranh cũng không đi tới một quyết định nào.
Khi Wedemeyer được cử làm chỉ huy, những vấn đề của nước Pháp về trang bị cho Quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông và trở thành thành viên của Hội đồng chiến tranh Thái Bình Dương vẫn chưa được rõ ràng. Sức ép tiếp tục của De Gaulle đã vấp phải sự chống đối của chính quyền Washington và của tướng Eisenhower ở châu Âu. Để phá vỡ sự chống đối của Mỹ, De Gaulle gửi một phái đoàn quân sự lớn, do tướng Roger C. Blaizot cầm đầu, đến Ceylon. Ở đây, Pháp yêu cầu Mỹ tán thành và chính thức thừa nhận và nói với Mỹ rằng Pháp muốn có một qui chế giống như các phái đoàn Đồng minh khác đóng tại SEAC. Những yêu cầu ấy tỏ ra không đúng chỗ.
Tuy nhiên cần phải ghi nhận rằng người Pháp đã nhận được một sự khuyến khích nhẹ dạ của một viên chức quân sự và ngoại giao Mỹ ở châu Âu. Rất dễ hiểu rằng những người Mỹ từng chia xẻ một số kinh nghiệm chiến tranh với những đồng nghiệp Pháp của họ không thấy khó khăn gì khi chấp nhận lập luận của “nước Pháp tự do” sẽ tham gia hành động của Đồng minh ở Viễn Đông và nước Pháp sẽ “giải thoát” Đông Dương khỏi kẻ thù chung. Điều đó cũng không phải là nhũng người Mỹ ở Paris ấy đã tiếp tay cho ý đồ của Pháp khôi phục lại chủ quyền thuộc địa của nó đối với Đông Dương, trái với những nguyện tắc của Hiến chương Đại Tây Dương và chính sách chống thực dân của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:11:53 PM
CUỘC CHIẾN TRANH GIẰNG CO
Chính vào thời điểm ấy của những mối quan hệ Pháp - Mỹ, lần đầu tiên tôi được biết những sự phức tạp của sự bổ nhiệm mới đối với tôi sang Viễn Đông. Tôi chuẩn bị nhiều tháng ở Washington cho sứ mệnh của tôi ở Đông Dương. Nhờ OSS mà tôi có thể có được những hồ sơ của Bộ Ngoại giao, Bộ Chiến tranh và của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân (JCS) để tiếp cận với những thông tin mật. Cuối tháng Chạp 1944, từ trong những hồ sơ ấy, tôi biết rằng Samuel Reber, một viên chức cấp cao của Bộ Ngoại giao bên cạnh Bộ Tổng tư lênh tối cao quân viễn chinh Đồng minh (SHAEF) đã may mắn phát hiện ra rằng người Pháp đang tổ chức ở miền nam nước Pháp một đội quân 2 sư đoàn để sử dụng ở Viễn Đông. Điều đó xảy ra với sự đồng ý ngầm của SHAEF, chứng tỏ rằng quân đội ấy không tham gia các cuộc hành quân của Đồng minh và rõ ràng là nước Pháp sử dụng trang bị riêng của họ. Tôi lưu ý tướng Donovan về những ảo tưởng rõ ràng đối với kế hoạch của Pháp, không phải vì không để cho Pháp tham gia các cuộc hành quân của Đồng minh vì sợ rằng việc chuyên chở 2 sư đoàn của Pháp sẽ làm phân tán khả năng các cuộc hành quân đã được hoạch định. Hơn nữa, Pháp không có khả năng hậu cần để duy trì một đội quân lớn mà không có sự giúp đỡ nào của Đồng minh. Việc chuẩn y một sự tăng thêm quân đội ở Viễn Đông ngoài kế hoạch như vậy sẽ gây ra nhiều căng thẳng đối với những dự trữ của SEAC và các tư lệnh chiến trường ở Trung Quốc, có hại cho những cuộc hành quân đã được chuẩn y của họ.
Reber cũng được báo cáo là thiếu tá Bouheret đang tuyển mộ người Pháp cho một công việc bí mật Viễn Đông. Với sự có mặt của trung tá Carlton Smith thuộc SOE(3), những đội đã được tuyển mộ ở Pháp sẽ được gửi sang huấn luyện đặc biệt ở London. Kẻ đỡ đầu cho hành động mạo hiểm này được gọi là “Ủy ban phối hợp về những công việc Viễn Đông” hoạt động trong “Phái đoàn SHAEF” của Pháp ở Paris. Ngoài những đại biểu của cơ quan tình báo Pháp, nó còn gồm có những thành viên SOE của Anh và OSS của Mỹ.
Vấn đề này đã được lưu ý cho Bộ trưởng Ngoại giao Stettinius bởi sự nhấn mạnh của Joseph W. Ballantine(4), rằng “thái độ của các nhà chức trách quân sự chúng ta ở Pháp tỏ ra không phù hợp với lập trường của Tổng thống... ngăn cấm hoạt động của Mỹ... đối với Đông Dương”.
Mấy ngày sau (22 tháng Chạp), Stettinius viết cho Donovan rằng cho đến ngày 16-10, “Tổng thống nói rõ là vào lúc này chúng ta không được làm gì đối với các nhóm kháng chiến hay không được làm một điều gì khác đối với Đông Dương. Gần đây hơn, Tổng thống báo cho Bộ Ngoại giao biết Mỹ không được tán thành đặt bất cứ bất cứ một phái đoàn quân sự của Pháp nào ở Bộ tư lệnh Đông Nam Á”. Stettinius chỉ rõ rằng việc gửi một lực lượng viễn chinh Pháp sang tham gia giải phóng Đông Dương và một lực lượng nhỏ can thiệp vào những cuộc hành quân bí mật ở Đông Dương đều có liên quan chặt chẽ với phái đoàn quân sự Pháp. Ông yêu cầu Donovan xét xem sự tham gia của Mỹ do Reber báo cáo có phù hợp với những chỉ thị của Tổng thống không.
Bức thư của Bộ trưởng Ngoại giao được chuyển cho tôi để trả lời. Trong khi đi tìm những tài liệu gốc trong đống hồ sơ Viễn Đông, tôi đọc qua nhiều tài liệu hồi đó làm cho tôi phải giật mình. Tài liệu thứ nhất là một bức điện dài của đại sứ Gauss đề ngày 26-7-1944 hỏi Bộ Ngoại giao xem “đã đến lúc Chính phủ Mỹ nêu rõ và xác định chính sách của mình đối với Đông Dương hay chưa”.
Cuộc điều tra của tôi chứng tỏ rằng vấn đề này đã được báo cáo cho Tổng thống ngày 26-8, khi có một aide - mémoire(5) của huân tước Halifax, đại sứ Anh ở Washington. Halifax cũng nhấn mạnh rằng vấn đề này hết sức cấp bách vì Anthony Eden, Bộ trưởng Ngoại giao Anh, bị người Pháp ở London thúc bách phải trả lời họ. Những điểm cốt yếu của vấn đề này là việc đặt phái đoàn Blaizot tại SEAC và việc thành lập ở Ấn Độ một đội quân can thiệp nhỏ dường như đã thành lập ở Alger.
Roosevelt không để cho mình bị rơi vào một quyết định của Pháp hay của Bộ Ngoại giao Anh. Ngày 28-8, ông gợi ý hoãn vấn đề này lại đến sau khi ông gặp Churchill ở Québec tháng 9 tới(6). Nhưng sau cuộc gặp gỡ Québec, vẫn không có một lời nào phát ra từ Nhà Trắng cả.
Phái viên liên lạc của tôi với Bộ Ngoại giao nói với tôi rằng đầu tháng 10, lãnh sự Mỹ ở Ceylon đã báo cáo về ý định của Anh ủng hộ phái đoàn Blaizot ở SEAC, ở đó Anh sẽ cộng tác và tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc hành quân của Pháp ở Đông Dương. Nhưng vì không giành được một sự đồng ý của Mỹ, phái đoàn vẫn sẽ có vẻ không chính thức và lúc đầu sẽ ở tại một khách sạn gần đó.
Người Anh nêu lên một vấn đề khác - những hoạt động chính trị của Pháp trong chiến tranh ở Đông Dương, mà không phải là những hoạt động quân sự. Lập trường của họ là: đây là một vấn đề nội bộ giữa đại bản doanh của Mountbatten và chi nhánh chính trị của phái đoàn quân sự Pháp. Ở Washington, người của chúng ta tại Bộ ngoại giao và JCS coi sự thu xếp đó là không phù hợp với những qui định về các khu vực chiến trường, vì Đông Dương nằm trong chiến trường Trung Quốc, mà không phải trong SEAC.
Có quá nhiều vấn đề xa lạ đã được xen cài vào chiến lược của Đồng minh ở Viễn Đông vì sự ương ngạnh của Pháp và sự khuyến khích của Anh đối với việc giành lại những đế quốc thuộc địa đã mất đi của họ. Hơn nữa, vì thiếu một chỉ thị chính trị rõ rệt đối với qui chế hiện nay và sau chiến tranh của Đông Dương, nên những viên chức Bộ Ngoại giao chúng ta không phải bao giờ cũng đồng ý với nhau. Wedemeyer và Mountbatten có những sự bất đồng về khu vực chiến trường đối với những cuộc hành quân ở Đông Dương và cả hai viên tư lệnh này đều bị người Pháp thúc ép ở Trùng Khánh và ở Ceylon. OSS thì nằm kẹt giữa âm mưu ấy của Pháp.
Ban tham mưu OSS, từ cuối năm 1942 và với sự tán thành của JCS, đã vạch kế hoạch sử dụng các nhóm kháng chiến (Cộng sản Trung Quốc, Triều Tiên, Đông Dương và các đội quân bù nhìn của Nhật) chống lại các lực lượng Nhật Bản. Dù những kế hoạch ấy có lợi thế về quân sự, nhưng lại vướng phải những dính líu chính trị. Ngày 10-10-1944, Donovan đã hỏi Abbot Mofat, vụ trưởng vụ Tây Nam Thái Bình Dương về những quan điểm của Bộ Ngoại giao, câu hỏi được gửi đến Nhà Trắng và ngày 16, Tổng thống trả lời rõ ràng: “Không được làm gì đối với các nhóm kháng chiến hay làm một điều gì khác về vấn đề Đông Dương...”. Donovan cũng được Hull căn dặn như vậy ngày 20-10.
Suốt trong hai tháng 11 và 12, Bộ Ngoại giao rối lên về việc bảo đảm phải đưa ra một chính sách có thể chấp nhận được. Cuối cùng, cuối tháng 12, do bản báo cáo của Reber nêu ra, Stettinius hỏi Bộ Chiến tranh và Bộ Hải quân cũng như tướng Donovan về sự tham gia thích hợp của Mỹ vào các cuộc hành quân ở Đông Dương, OSS giữ lập trường là không nên dấn mình vào nhũng hoạt động chiến tranh chính trị của Pháp, cũng như không để cho những hoạt động của mình phục vụ cho những tham vọng thuộc địa của Pháp. OSS không có gì xung đột với quan điểm của Tổng thống trong việc sử dụng những dự trữ của Pháp nếu chúng chỉ được dùng vào những nỗ lực của Đồng minh chống Nhật.
Tổng thống hiển nhiên là đã thảo luận một vài vấn đề này với Churchill ở Hội nghị Québec, vì ông đã gửi thư cho Stettinius vào ngày đầu năm 1945 (để trả lời thư nhắc nhở thứ hai của Halifax), trong đó đặc biệt có nói rằng: “Tôi thấy không cần phải dính dáng bất cứ một nỗ lực quân sự nào nhằm giải phóng Đông Dương khỏi người Nhật. Ngài có thể nói với Halifax rằng tôi đã nói rất rõ điều đó với Churchill. Xét cả hai mặt quân sự và dân sự, hành động vào lúc này là quá sớm”.
Nhưng dù ông đã nói điều gì ở Québec, thì điều đó cũng không giảm đi chút nào quyết tâm của Pháp về việc bố trí nhân sự của nước này nhằm nhanh chóng giành quyền kiểm soát Đông Dương khi tới lúc cần thiết.
________________________________________
(1) ngày 22-1-1943
(2) Trung tướng Bethouart, Trưởng phái đoàn quân sự Pháp tại Washington, do tướng Giraud phái đến để điều đình về vấn đề trang bị vũ khí Mỹ cho quân đội Pháp
(3) Ban hành động đặc biệt của Anh (tương tự OSS)
(4) Giám đốc Viễn Đông sự vụ, Bộ Ngoại giao
(5) công hàm nhắc lại - tiếng Pháp
(6) Hội nghị Québec lần 2 (mật danh Octagon) 10-9-1944


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:15:09 PM
Chương 4
Một cộng đồng tình báo khó hiểu
Khi tôi nhận lấy sứ mệnh Đông Dương vào cuối năm 1944, tôi hoàn toàn bối rối trước những lợi ích xen kẽ nhau và những hoạt động không có liên hệ với nhau ở SEAC và Chiến trường Trung Quốc. Những cơ cấu chỉ huy trùng nhau, những mục tiêu quốc gia xung đột nhau, những sự ghen ghét giữa các nước Đồng minh và giữa các cơ quan và những cuộc đấu tranh giành quyền hành bên trong các cơ quan đã có tác dụng chống lại những hoạt động có hiệu quả và dẫn tới tổn thất to lớn về nỗ lực của con người và về tài sản quốc gia.
Khi tôi định tìm hiểu hoạt động của OSS ở châu Á, tôi phải xuyên qua một mớ bòng bong: Đội 101 ở Nazir, Ấn Độ; Đội 202 ở Trùng Khánh; OSS/SACO làm việc với Quốc dân đảng Trung Quốc; OSS/AGFRST, một tổ liên kết OSS và đoàn không quân 14 ở Côn Minh; đội 303 ở New Delhi; đội 404 ở Kandy, Ceylon; các kế hoạch cho đội 505 ở Calcutta; phái đoàn DIXIE ở Diên An v.v...
Tôi phải tốn nhiều thì giờ để gỡ ra cái mớ hỗn độn những đơn vị rõ ràng là trùng lặp và chưa có liên hệ với nhau ấy. Những cuộc điều tra về Ban tham mưu OSS chỉ làm cho tôi bối rối thêm. Một số ít người hiểu đó là vai trò của một và có thể là của hai đơn vị; một số người khác thì chỉ nói đơn giản: “Rất tiếc, điều đó đã được sắp xếp cả rồi”; còn một số người khác nữa, thành thật hơn, thì khoát tay và thừa nhận rằng họ không biết gì và cũng không hiểu được. Cuối cùng, tôi đã lắp ráp tất cả vào với nhau được.
Sự tiến triển của OSS ở châu Á có thể vạch thành ba đoạn chính: OSS/Khu vực Thái Bình Dương, không bao giờ ra hỏi khu vực ấy và chỉ có liên lạc với Hawai; OSS/Trung Quốc; OSS/SEAC (về sau là OSS/Ấn Độ - Miến Điện). Ngay sau vụ Trân Châu Cảng, tướng Donovan được Tổng thống tán thành đã yêu cầu nhiều người cộng tác với mình xem xét khả năng tiến hành những hoạt động bí mật ở châu Á. Những sự tìm hiểu của họ cho thấy các hoạt động tình báo và du kích có thể tiến hành ở Đông Nam Á và Trung Quốc chống lại các đơn vị Nhật Bản trên lục địa và chống lại những mục tiêu ở Nhật Bản. Mùa hè 1942, tướng Stilwell chấp nhận nhóm hỗn hợp đầu tiên SI/SO(1) cho Trung Quốc. Nhưng vì “sự cần thiết quân sự”, Stilwell biến nhóm này từ phái đoàn bí mật đầu tiên của nó ở Trung Quốc thành một phái đoàn chiến thuật ở Miến Điện. Ông gọi nó là “trạm thí nghiệm của Mỹ, đội 101, SOS”. Nhóm này do thiếu tá (sau đó là trung tá) Carl Eifler chỉ huy.
Mục đích thực sự của Stilwell khi đổi lại các kế hoạch của Donovan là ông cảm thấy có thể sử dụng đội này vào chiến dịch Miến Điện sắp tới của ông. Ông nhìn thấy trước những khó khăn đối với các hoạt động của OSS/Trung Quốc với Chính phủ Tưởng và với hạm đội Mỹ đang bắt đầu có nhũng hoạt động bí mật, ngoài lĩnh vực quân sự của nó ở Trung Quốc và chỉ đặt dưới quyền của Stilwell về danh nghĩa. Những hoạt động Hải quân do Hải quân Mỹ ở Trung Quốc tiến hành, dưới sự chỉ huy của hạm trưởng (sau đó là chuẩn đô đốc) Milton E.Miles, được bảo trợ bởi đô đốc Ernest J. King, chỉ huy những hoạt động hải quân. Ngay từ đầu Miles đã có một mối quan hệ lạ lùng với Cục trưởng cục an ninh nội bộ và phản gián của Tưởng(2), tướng Tai Li, một mẫu người của tính bí hiểm phương Đông. Như tôi trực tiếp biết được, liên minh Miles - Tai là một sự phiêu lưu tai hại đối với Mỹ. Tài liệu tình báo của họ, có một giá trị đáng ngờ đối Đồng minh, và những hành động ngoài lĩnh vực quân sự chỉ được chấp nhận như những hứa hẹn. Sự thật chứng minh rằng Tai Li đã lấy được tất cả đồ tiếp tế của Mỹ mà ông ta có thể lấy được, không cần đếm xỉa gì tới những thủ tục đối với Tư lệnh chiến trường của Mỹ.
Những dự định của Donovan nhằm giành một chỗ đứng chân ở Trung Quốc bị hẫng mất do sự từ chối của Tai Li đối với việc đề nghị cho phép một cơ quan bí mật độc lập của nước ngoài hoạt động ở Trung Quốc. Nguồn tiếp tế của hạm đội Miles bị giới hạn, so với sự phong phú của OSS, và nếu không cung cấp được cho các cơ quan tình báo Trung Quốc, thì vị trí của Miles ở Trung Quốc lâm vào thế nguy hiểm. Để cứu vãn tình hình của mình, Miles đề nghị với OSS cho thống nhất những hoạt động bí mật ở Trung Quốc, với một qui chế chính thức cho bản thân ông. Với sự khẩn khoản của Bộ trưởng Hải quân Frank Knox, là người chịu sức ép của nhóm “lobby Trung Quốc” của Tưởng ở Washington, Donovan chấp nhận đề nghị ấy.
Thế là vào tháng Giêng 1943, Donovan đã nhập hội với Miles và Tai Li để triển khai sự thoả thuận của họ thành một tổ chức Trung Quốc - Hải quân - OSS; gọi là tổ chức hợp tác Trung - Mỹ (SACO), một trong những tên gọi sai nhất trong lịch sử. Tai Li được chỉ định là Giám đốc và Miles trở thành Phó giám đốc. Một lần nữa do sự thúc giục của Bộ Hải quân ở Washington, hạm trưởng Miles lại được bổ nhiệm làm người đứng đầu những hoạt động của OSS ở chiến trường châu Á. Nhưng vì Stilwell đã lập ra đội 101 ở Miến Điện, nên quyền của Miles đối với nhân viên OSS và đối với các hoạt động của nó ở Trung Quốc chỉ là danh nghĩa. Tuy vậy Miles và Bộ Hải quân cũng hài lòng với sự thoả thuận SACO. Chỉ với một nhúm nhỏ nhân viên OSS, Miles được bảo đảm về những cung cấp của Mỹ mỗi tháng 150 tấn và về việc kiểm soát sự phân phối các thứ đó.
Vấn đề tiếp theo đó trong việc thành lập OSS ở Viễn Đông đụng phải những quan hệ OSS - Anh. Vào giữa năm 1943, đội 101 tỏ ra đáng giá đối với Stilwell và ông ta đã tán thành những kế hoạch mở rộng tổ chức và những hoạt động của nó. SOE của Anh hốt hoảng về cái cơ quan bí mật của Mỹ, vừa mới phôi thai, hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của Anh, và tìm cách ngăn chặn các kế hoạch bành trướng của nó. Mùa hè 1943, những mối quan hệ giữa OSS và Anh xấu đi đến mức đối dịch nhau công khai, làm trở ngại nghiêm trọng cho chiến dịch Miến Điện của Stilwell và những hoạt động của đội 101. Tất nhiên tình hình còn nghiêm trọng thêm vì những mối nghi ngại mạnh mẽ của SOE với tình cảm chống thực dân của Mỹ cũng như về những hệ quả của một sự tổ chức ganh đua nhau đối với những hoạt động chiến tranh chính trị trong các “dân tộc lệ thuộc” ở Đông Nam Á.
Trong lúc đó, ở Trung Quốc, những mối quan hệ OSS - SACO đi tới chỗ bế tắc. Những hoạt động của OSS không được phép tiến hành. Những báo cáo của OSS gửi về Washington nói đầy rẫy lên rằng, trong khi SACO nhân danh mật vụ của Tai Li làm việc trôi chảy như một tổ chức Vay - Mượn(3) và tạo điều kiện rất thuận lợi cho những hoạt động của Hải quân ở Thái Bình Dương, thì nó lại đưa rất ít tin tức tình báo có ích cho Đồng minh ở Chiến trường Trung Quốc. Hơn nữa, nhân viên OSS được phái vào SACO không thể làm việc quá thời gian tiêu chuẩn và không thể kiên trì cố gắng phá vỡ sự chống đối không thấy rõ nhưng lại rất kiên quyết của người Trung Hoa.
Bị ngăn cản hoạt động tình báo ngay từ đầu bởi tổ chức SACO và bị cả Tai Li và Hạm đội Mỹ ở Trung Quốc làm trở ngại (hạm đội Mỹ đã kiên quyết đứng về phía Tai Li), Donovan đã thay đổi tình hình bằng cách rút bỏ tư cách sĩ quan tình báo chiến lược CBI của Miles ngày 5-12-1943. Ông đẩy mạnh hoạt động của Đội 202 ở Trùng Khánh và chuyển nhiều người từ Đội 101 tới một đơn vị mới. Hạm trưởng Miles vẫn ở lại SACO với tư cách phó của Tai Li, nhưng đã bị thay thế bằng trung tá John Coughlim trong OSS/Trung Quốc. Coughlim, một sĩ quan quân đội chính quy đã từng làm sĩ quan phụ tá cho Eifler trong Đội 101 từ khi đội này bắt đầu thành lập.
Trong khi tiến hành những thay đổi ở Trùng Khánh, Donovan quyết định giành cho được sự độc lập hoạt động cho OSS/Trung Quốc của mình, và ông đã tiếp xúc với tướng Chennault, viên chức cao cấp duy nhất của Mỹ ở Trung Quốc (khác với Stilwell) để bàn về việc cùng nhau tiến hành hoạt động bí mật. Vào lúc đó, Tư lệnh của Đội không quân (USAAF) thứ 14 đang thiếu tình báo chiến thuật có hiệu quả và đang cần có một hệ thống cứu nạn những phi công bị rơi xuống mặt đất. OSS của Donovan dược thành lập để giải quyết những hoạt động ấy. Ngược lại Donovan cũng cần có một người thân cận với Tưởng Thống chế để bù lại thái độ đối địch của Tai Li và hạm trưởng Miles, cũng như để che chở cho đơn vị OSS của ông hoàn toàn độc lập với SACO, tức là tất cả những gì mà Chennault có thể giúp được. Họ đạt tới một sự thỏa thuận, và ngày 26-4-1944, một sự thu xếp đã được chính thức tiến hành khi Stilwell cho thành lập một đơn vị mới với một cái tên khó hiểu có chủ tâm “Ban tham mưu kỹ thuật (lâm thời) không lực và mặt đất” (AGFRST), với bí số 5239, và sở chỉ huy ở Côn Minh.
Sau tất cả những sự đối phó của chủ trương phá rối của Tai Li và óc bè phái đầy tham vọng của Miles, hành động của Donovan - Chennault đã thành công và SACO bị thất bại. Sự phối hợp diễn ra hết sức tốt cho đến đầu 1945 (và sau đó nó tồn tại lâu hơn như một lực lượng quân sự) có ảnh hưởng tốt đến những nhận định chính trị của Trung Quốc, những thay đổi trong chiến lược của Đồng minh và những sự cải tổ trên chiến trường.
Vào những lúc Weydemeyer thay thế Stilwell, sự bành trướng và thành công của OSS trong những hoạt động bí mật ở chiến trường Trung Quốc đã đặt nó vào một vị trí có ưu thế trong cộng đồng tình báo Viễn Đông đối với hạm đội Mỹ ở Trung Quốc, BIS của Tai Li, SOE của Anh, các cơ quan tình báo của Pháp và Hà Lan, và phái đoàn đại diện không chính thức của Liên Xô. Donovan rất muốn đạt tới kết quả tối đa và tiếp tục kiểm soát được những quyền lợi của Mỹ ở một chiến trường của chiến tranh không chính qui đã gửi một giác thư cho Tổng thống vào mùa thu 1944 để nêu rõ rằng đã đến lúc để cho OSS/Trung Quốc trực tiếp chịu trách nhiệm với Tư lệnh chiến trường Mỹ và đề nghị, nếu cần, để cho OSS/Trung Quốc cũng phục vụ cho tướng Mc Arthur và đô đốc Nimitz ở Thái Bình Dương.
Đoán trước sự đồng ý của Washington, Donovan bay sang Trung Quốc tháng Giêng 1945 để gặp bạn cũ mình là Wedemeyer. Viên Tư lệnh chiến trường mới này năm 1942 đã từng thảo ra chỉ thị đầu tiên của JSC về thành lập OSS, đã từng theo dõi qua bản doanh SEAC về những chiến công thắng lợi của Đội 101 ở Miến Điện, và cũng hiểu rõ Donovan và tổ chức của ông ta. Kết quả của những cuộc gặp gỡ của họ là một cuộc cải tổ lớn cơ quan tình báo chiến trường, OSS chịu trách nhiệm về tất cả các chương trình bí mật (trừ các chương trình của Trung Quốc). Hạm trưởng Miles (lúc này đã là chuẩn đô đốc) bị mất quyền kiểm soát. Cả hai tổ chức Hạm đội Mỹ ở Trung Quốc và AGFRST được đặt dưới quyền của Wedemeyer. OSS được nâng lên quy chế một ban chỉ huy độc lập chịu trách nhiệm hoàn toàn về chính trị với Wedemeyer, nhưng về mặt hoạt động thì chịu trách nhiệm với OSS/Trung Quốc.
Sau đó Donovan bay sang bản doanh SEAC của Mountbatten ở Kandy. Ở đó, với sự tán thành của đô đốc, OSS/SEAC bị xoá bỏ và được thay thế bằng OSS/Ấn Độ - Miến Điện (OSS/IBT) đóng sở chỉ huy ở Kandy, tại đội 404. Trung tá Richard P. Hepper, người đã từng đương đầu OSS/SEAC, được chỉ định làm sĩ quan tình báo chiến lược ở Trung Quốc và đồng thời được đề bạt lên đại tá.
Lúc đó, tôi đã sẵn sàng để sang Trung Quốc vào tháng 3, hầu hết các vấn đề tổ chức dường như đã được giải quyết. Donovan đã hoàn tất việc hợp nhất và kiểm soát các hoạt động bí mật và đã đặt được quyền hành của mình đối với công tác tình báo độc lập Mỹ - mục tiêu chủ yếu của ông đối với OSS/Trung Quốc. Thoạt nhìn, dường như không có trở ngại gì đối với sứ mệnh của tôi ở Đông Dương. Tôi được bảo đảm sự ủng hộ hoàn toàn của tướng Donovan và nhận những chỉ thị rõ ràng và đặc biệt trực tiếp từ Nhà Trắng. Wedemeyer đã được báo cho biết một cách đầy đủ và tôi đoán trước mọi cái sẽ thông đồng bén giọt. Nhưng đó là Washington. Còn ở Trung Quốc, không có điều gì là đơn giản cả.
________________________________________
(1) Nhóm mật vụ và công tác đặc biệt
(2) Núp dưới danh nghĩa Cục điều tra và thống kê, BIS;
(3) Nguyên văn: Lend - Lease organisation


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:18:16 PM
Chương 5
OSS: Tổ phụ trách Đông Dương thuộc Pháp
CHÍNH SÁCH: PHẢI GIÀNH LẤY CÔNG VIỆC
Sau khi đã cải tổ OSS ở các khu vực của Tưởng và Mountbatten, Donovan trở về Washington. Whitaker và tôi đã gặp ông để thảo luận về sự phân công mới của chúng tôi ở Viễn Đông; và được biết rằng Wedemeyer đang chờ đợi chúng tôi; và Heppner đã được chỉ dẫn về chính sách của Mỹ, tức là: Tổng thống yêu cầu OSS không để cho Pháp chiếm lại thuộc địa cũ của họ; Tổng thống coi qui chế tương lai của Đông Dương là một vấn đề quyết định sau chiến tranh và không thuộc về giới quân sự Mỹ. Không một trường hợp nào được cung cấp vũ khí hay tiếp tế cho Pháp, ngoại trừ để đẩy tới những mục tiêu chống Nhật đã được Đồng minh tán thành.
Tôi được biết về những hoạt động bí mật của Pháp ở Đông Dương từ các căn cứ SEAC và Trung Quốc, và tôi đã nêu ra vấn đề công tác với các phái đoàn quân sự Pháp ở Kandy, Trùng Khánh và Côn Minh. Tôi được trả lời “không phản đối”, miễn là tôi không làm gì được hiểu là “giúp đỡ” cho những mục tiêu quân sự hay chính trị của Pháp nhằm chiếm lại Đông Dương.
Donovan đã thăm dò những ý kiến của tôi đối với người Pháp, đặc biệt với người Pháp ở Bắc Phi, những quan điểm của tôi về chính sách thuộc địa của họ đối vớii người Algerie, và về thái độ của De Gaulle đối với Mỹ, cũng như sự chống đối của ông ta đối với Tổng thống Roosevelt. Tôi lấy làm ngạc nhiên và sửng sốt trước phương hướng của cuộc nói chuyện đột ngột diễn ra của chúng tôi. Tôi bày tỏ mối cảm tình của tôi đối với cảnh ngộ nước Pháp, nhưng với vai trò của nó dưới chế độ Vichy, với tư cách một dân tộc, nước Pháp không hiện lên như một hình ảnh dũng cảm với tư thế “chiến đấu đến cùng” của người Anh. Tuy nhiên, tôi nhận xét, nhiều người Phap nam và nữ đã làm tròn bổn phận mình ở Bắc Phi và châu Âu. Tôi thừa nhận là đã có một vài sự dè dặt đối với các chính sách thuộc địa của Pháp và đối với người Ả Rập ở Bắc Phi và tin rằng người Pháp vẫn muốn thiên về chính sách thước dây(1) ở Đông Dương.
Donovan tỏ ra yên tâm với những nhận xét của tôi và tiếp tục bình luận rằng thái độ, nguyện vọng và cả những mục tiêu sau chiến tranh của Pháp không phải là công việc của chúng ta, nhưng lại yêu cầu tôi phải thấy trước sức ép to lớn buộc chúng ta phải rời bỏ lập trường trung lập của chúng ta từ những phía khác, ngoài phía Pháp ra. Ông nói hiện nay đang có nhiều người ủng hộ chế độ thực dân trong các giới kinh doanh dầu mỏ và cao su ở Mỹ, có những kẻ nhiệt liệt tán thành Pháp quay trở lại đế quốc thuộc địa của họ, và có sự ủng hộ của Anh và Hà Lan đối với các chính sách thực dân của Pháp ở Đông Nam Á. Nếu tôi gặp phải một sự phản đối nghiêm trọng, “Hãy báo cho John(2) biết”.
Trong 6 tháng liền tôi phụ trách “Tổ Đông Dương thuộc Pháp” ở OSS Washington, vạch ra các kế hoạch, nghiên cứu thư từ, tuyển chọn người cho tổ dã chiến và xem lại những hồ sơ có ích. Lúc đầu, những tài liệu ấy hết sức lộn xộn, trộn lẫn với những hồ sơ không có liên quan trong các bộ phận khác của OSS. Dần dần, với sự giúp đỡ của Austin Glass(3), Ducan Lee(4) và những người khác, tôi đã có thể tạo nên một tài liệu tập hợp những gì có liên quan đến bộ phận này của thế giới. Đống hồ sơ không có những tài liệu tình báo có ý nghĩa về bản thân xứ Đông Dương, nhưng lại có những thông tin rộng lớn về những ý đồ và khả năng của Nhật ở Trung Quốc và Đông Nam Á. Tôi tìnm thấy các báo cáo của hạm đội Mỹ ở Trung Quốc; của đội OSS ở vùng cộng sản Diên An với sự cộng tác của tổ quan sát Mỹ do trung tá David D. Barnett chỉ huy; của cơ quan tập hợp tình báo chung. Khi tôi nêu lên câu hỏi về sự đóng góp của Trung Quốc vào những nỗ lực tình báo, đặc biệt ở Đông Nam Á, thì những tay kỳ cựu về Trung Quốc “quen thuộc” của chúng ta bao giờ cũng cần phải được biệt rõ, “người Trung Quốc nào?” thì tôi không phải mất nhiều thì giờ để phân biệt Quốc dân đảng, Cộng sản, các nhóm bù nhìn Trung Quốc do người Nhật lập ra và những cái gọi là các “toán cướp Trung Quốc”. Các toán này là những lực lượng độc lập, thường cướp bóc các mục tiêu tuỳ theo thời cơ, và những nguyên nhân chính trị không có liên quan gì với trang bị của chúng.
Tôi cũng xem cả những báo cáo của người Pháp, vì những hồ sơ của chúng ta cho thấy rõ sự cộng tác của nước Pháp tự do với SOE của Anh, nhưng OSS không có tin tức gì thật chắc chắn từ nguồn này. Có một hồ sơ sơ sài về một tổ chức hoạt động của Đông Dương gọi là “GBT”. Nó không chứa đựng một tài liệu tình báo nào quan trọng nhưng đã để lộ rõ một hoạt động bí mật đang tiến hành ở Anh - Pháp - Trung Quốc có giá trị tiềm tàng đáng kể đối với sứ mệnh sắp tới của tôi.
Chỉ có một tin tức khác có liên quan với các nguồn công tác bí mật có thể có là bức thư của Đông Dương Độc lập Đồng minh hội. Nó tương đối mới, đề ngày 18-8-1944, từ Trùng Khánh, Trung Quốc gửi cho đại sứ Mỹ. Những tác giả của nó kêu gọi sự giúp đỡ của Mỹ cho cuộc đấu tranh giành độc lập của họ, cam kết ngược lại là sẽ cùng với người Mỹ chống “chủ nghĩa phát xít Nhật”. Cùng với ban tham mưu OSS, tôi theo đuổi khả năng sử dụng nhóm này. Ý kiến của họ không thống nhất, “những tay kỳ cựu về Trung Quốc quen thuộc” khuyên phải kiên quyết chống lại sự cộng tác với “những phần tử cách mạng”, trong khi những người mới đến này lại cho rằng chúng ta không mất gì mấy nếu sử dụng những nguồn dự trữ này để chống lại người Nhật ở bất cứ nơi nào trong Thái Bình Dương. Tôi bèn hỏi Donovan về lập trường của OSS.
Ngay từ đầu, tôi đề nghị với tướng Donovan nên sử dụng du kích địa phương. Ông nói rằng ông và viên phó của Wedemeyer là trung tướng Robert B. Mc Clure, đã đồng ý về ý định tiến hành những hoạt động ở chiến trường Trung Quốc, đặc biệt về việc sử dụng du kích của Mao Trạch Đông. Khi tôi nhấn mạnh điểm sử dụng những tay chân người Đông Dương, Donovan trả lòi: “Cứ sử dụng bất cứ ai làm việc với chúng ta để chống lại người Nhật, nhưng đừng dính vào những hoạt động chính trị của Đông Dương thuộc Pháp”. Ông đảm bảo với tôi rằng lúc tôi sang Trung Quốc, Hepper sẽ có chỉ thị rõ ràng của Wedemeyer về sử dụng các đơn vị du kích. Những lời của Donovan rõ ràng là một chỉ thị đại cương để thực hiện công việc một cách tốt nhất và đồng thời cũng tránh rơi vào những âm mưu của Pháp trái ngược với chính sách của Mỹ.
 
MƯU MẸO “ESCAMOTAGE” CỦA PHÁP BỊ LỘ TẨY
Tuy có những chỉ thị của Donovan đối với Pháp, tôi vẫn có những nghi ngại về những cố gắng của Pháp nhằm sử dụng và lợi dụng những phương tiện của Mỹ ở Viễn Đông theo một lối bí mật và xảo quyệt. Vào giữa tháng 11-1944, tôi được biết sau khi sự việc xảy ra từ lâu và qua sự báo động của một sĩ quan Mỹ ở SEAC rằng đề án do người Anh đảm nhận nhân danh phái đoàn quân sự Pháp ở Ceylon có tất cả những dấu hiệu của một hoạt động chiến tranh chính trị không được cho phép.
Đề án ấy quan trọng ấy về mặt chính trị, và những chi tiết về sự khởi đầu và thực hiện của nó nói lên rất rõ rằng đó là một mẫu mực của sự hợp tác Anh - Pháp nhằm “làm phá sản” chính sách của Mỹ. Ngày 21-2-1944, lực lượng 136 đệ trình Bộ tham mưu hỗn hợp Mỹ - Anh của SEAC một đề nghị của Pháp về việc phối hợp nhân sự. Việc phối hợp ấy được gọi bằng tên mã là BELIEF(5) và chủ trương cho một tổ thâm nhập vào bắc Đông Dương. Những mục tiêu của nó là: thành lập một tổ chức bí mật ở Đông Dương được kiểm soát từ bên ngoài và phá hoại những phương tiện cập bến của các cảng Đông Dương.
Đề nghị ban đầu của Pháp như đã nêu với SOE, chủ trương cho “một hay nhiều sĩ quan trong phái đoàn quân sự Pháp” nhảy dù từ một căn cứ không quân Trung Quốc xuống bắc Bắc Kỳ. Nhưng tất cả những hoạt động không quân rời khỏi Trung Quốc đòi hỏi phải được sự tán thành của Chennault và các phái đoàn độc lập của Pháp không được phép làm điều đó, nên người Anh viết lại mục tiêu của phái đoàn thành ra: “ Việc thả người và tiếp tế xuống vùng phía bắc Bắc Kỳ nhằm phát triển một hoạt động do cơ quan mật vụ Anh tiến hành”. Việc thả dù được thực hiện đêm 4-5 tháng 7 từ một máy bay Anh đỗ ở Côn Minh.
Hành động của Pháp có thể diễn ra mà không ai hay biết gì nếu không phải yêu cầu lực lượng 136 “một sự cho phép đặc biệt cho hoạt động BELIEF II, coi như một bộ phận nằm trong BELIEF I, được tung ra ngày 13-7. Hoạt động thứ hai này cũng được đại bản doanh SEAC và bản doanh Chennault tán thành.
Trong lúc đó, thiếu tá Hải quân Taylor(6), sĩ quan cao cấp của Mỹ, ở sư đoàn “P”, được báo tin ngày 7-7 rằng lại có thể cần phải tổ chức hoạt động BELIEF lần thứ ba để vớt một sĩ quan Pháp đã nhảy dù trong BELIEF I lên, vì viên sĩ quan này đã mang một bức thư viết tay của tướng De Gaulle và phải lấy một sự trả lời từ Đông Dương mang đi. Mưu kế đánh lừa rõ ràng của người Pháp, được SOE tán thành và đồng loã, đối với chính sách của Mỹ đã làm cho Taylor tức giận và thúc bách ông thông báo cho tướng Wedemeyer (lúc đó là tham mưu phó của SEAC) biết toàn bộ sự việc.
Giác thư của Taylor viết một cách thích hợp cho Bộ tham mưu hỗn hợp Anh - Mỹ nói rõ: “Giá trị và tầm quan trọng của hoạt dộng BELIEF rất lớn, và nếu nó bị coi là không có lợi cho chính sách quốc gia của Mỹ, thì theo quan điểêm của sư đoàn “P”, nó phải được ủng hộ mạnh mẽ. Nhưng những thông tin mà hiện nay sư đoàn “P” nhận được không đưa lại một cơ sở nào để có một lời khuyên bảo thuận lợi hay không thuận lợi đối với yêu cầu của lực lượng 136 về sự giúp đỡ của phái đoàn quân sự Mỹ trong việc thực hiện kế hoạch của họ”.
Hiểu rất rõ những xung đột chính trị trong vấn đề này, Wedemeyer đã thảo luận nó với Mountbatten. Mountbatten, đến lượt ông ta, đã mở một cuộc họp ngày 24-7 với tham mưu trưởng của mình, giám đốc tình báo John Keswick thuộc SOE/SEAC và cố vấn chính trị về công việc Trung Quốc, trung tướng R.A. Wheeler, đại diện cho Wedemeyer, và thiếu tướng R.T. Maddocks, trợ lý của Wheeler. Trong cuộc gặp mặt, Mountbatten nêu rõ rằng nhân viên người Pháp là thiếu tá De Langlade đã xuất hiện để mang một bức thư viết tay của tướng De Gaulle. Sau đó ông cho rằng “bức thư không nhằm mục đích thúc đẩy người Pháp ở Đông Dương đứng lên chống người Nhật mà rõ ràng chỉ là một bức thư giới thiệu”.
Tướng Maddocks thừa nhận rằng trường hợp đó rất có thể là như vậy, nhưng lại khôn ngoan nêu lên rằng chưa thể biết được De Langlade đã có những chỉ thị miệng gì. Rõ ràng vụ rắc rối này có hiệu quả đi khá xa. Nó dính líu tới De Gaulle và đi ngược lại với chính sách và chiến lược của Đồng minh. Tướng Wheeler gợi ý báo cáo vấn đề này cho London và Washington. Mountbatten thì trực tiếp chỉ thị cho Keswick làm một bản báo cáo đầy đủ cho Bộ ngoại giao (Anh).
Vì 4 tháng sau tôi mới được đọc lại những giác thư của Mỹ về vấn đề này, nên tất nhiên là tôi không thể không biết tới những ý đồ của Pháp và những phương pháp khá xảo quyệt được họ dùng để được bảo đảm sự ủng hộ và vận tải. Tôi cũng đã suy nghĩ về ảnh hưởng có thể có của những điều đó với những kế hoạch của tôi.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:19:46 PM
TỪ CATROUX ĐẾN DECOUX

Quyết định của Pháp nhằm sắp đặt một âm mưu không được cho phép ở Đông Đương rõ ràng bắt nguồn từ tướng De Gaulle vào lúc De Langlade nhảy dù xuống đó. De Gaulle là một yếu tố mới trong những mối quan hệ Pháp - Nhật ở Đông Dương. Sự sụp đổ của Pháp vào tháng Sáu-1940 đã làm cho người Nhật rảnh tay tràn xuống Đông Nam Á. Một ngày sau khi Thống chế Pétain yêu cầu giảng hoà với nước Đức, người Nhật đã gửi một tối hậu thư cho Toàn quyền Đông Dương thuộc Pháp, tướng Georges Catroux. Trong vòng 48 giờ, Catroux đã chấp nhận các điều khoản của người Nhật(7), lúc đó ở gần biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ, và đồng ý để cho phái đoàn quân sự Nhật kiểm soát việc đình chỉ mọi viện trợ cho Trung Quốc.
Điều trái ngược là chính phủ Pétain - Darlan trong khi trong nước đã khuất phục trước những yêu cầu sỉ nhục của người Đức thì lại khiển trách Catroux vì đã chấp nhận những điều khoản kém nặng nề hơn của người Nhật và đã thay ông ta bằng một người đã được Darlan bảo trợ, phó đô đốc Jean Decoux. Bị từ bỏ bởi một Chính phủ mà ông ta định phục vụ, bị làm nhục và cô đơn, Catroux đã muốn chia sẻ số phận với một người lưu vong Pháp ở London, Charles De Gaulle.
Tuy nhiên không thể nghĩ rằng những yêu cầu của người Nhật dừng lại ở đó. Các kế hoạch của họ được bố trí có mục đích và được thực hiện có hệ thống. Nhật cần có những dự trữ chiến lược của Hà Lan và Pháp ở Đông Nam Á. Vichy, London cũng như Washington đều không ngăn chặn được họ vào năm 1940. Anh và Mỹ, lo đối phó với cuộc tấn công quyết liệt của Hitler ở châu Âu, đã thiếu phương tiện để bảo vệ các đế quốc thuộc địa ở Viễn Đông.
Sự nhân nhượng lúc đầu ở Đông Dương chỉ khuyến khích Nhật Bản đặt ra những yêu cầu lớn hơn đối với viên Toàn quyền mới. Ngày 22-9-1940, với sự tán thành của Vichy, đô đốc Decoux và tróng Issaku Nishihara đã ký kết một thoả ước thứ hai cho phép người Nhật chiếm đóng những vị trí then chốt ở phía bắc Bắc Kỳ. Mười tháng sau, Chính phủ Vichy chấp nhận quyền người Nhật chiếm thêm những phần thuộc miền nam Đông Dương. Sau trận Trân Châu Cảng, Đông Dương trở thành một căn cứ để cho người Nhật tấn công Đồng minh.
Người Nhật được phục vụ một cách lý tưởng. Mặc dầu có khoảng 5 vạn quân Pháp ở Đông Dương, Nhật đã giành được một căn cứ chiến lược ở Đông Nam Á mà không cần phải đổ máu hay phải đầu tư to lớn cho các lực lượng chiếm đóng. Trái lại, Nhật có thể để sự cai trị đất nước lại cho người Pháp một cách thích hợp, đến mức dung thứ cả cho quân đội thuộc địa của Pháp. “Những năm chiến tranh” thật khá thoải mái đối với những kẻ thực dân Pháp và những nhà kinh doanh Pháp đã lợi dụng được việc buôn bán của họ với kẻ thù. Về phần mình, Nhật Bản đã tìm được một nguồn tiếp tế sẵn sàng và tự nguyện cho nền kinh tế nước họ.
Trong thời kỳ hợp tác ấy, Decoux đã lợi dụng khá thành công cái gọi là “huyền thoại Pétain” trong người Pháp, nhìn chung, người Pháp đều là pétainistes(8) và cả trong những người Việt Nam trở nên giàu có, phồn thịnh trong nền kinh tế chiến tranh mới. Để chống lại tuyên truyền của Nhật về khu thịnh vượng chung Đại Đông Á - sự tuyên truyền này cũng hấp dẫn phần nào trong các thuộc địa do người Âu thống trị - Decoux đã tiến hành một loạt các cải cách nhỏ nhặt để “tranh thủ trái tim của người Annam”, như cấm gọi người Việt Nam là “mày” theo lối bề trên hay đánh dập người Việt Nam công khai. Vô hình chung, Decoux đã cung cấp cho phong trào cách mạng đang lên một số viên chức cai trị và quan liêu được huấn luyện bằng cách tăng gấp đôi số viên chức trung cấp và cao cấp trong ngành dân sự.
 
“HÃY CẦM VŨ KHÍ” - DE GAULLE

Chỉ có một nhúm người ở Đông Dương được biết đến lời kêu gọi đầu tiên của De Gaulle qua đài BBC về sự liên kết với nước Pháp tự do, phát đi ngày 18-6-1940 theo giờ London (19-6 ở Đông Dương). Trong số những người nghe được, chỉ có một số rất nhỏ những viên chức Pháp cao cấp nhận ra tiếng nói của đại tá Charles De Gaulle. Catroux là một trong số đó; cho đến khi bị Pétain cách chức hẳn, ông ta mới quay hẳn sang với “phái De Gaulle”. Dù sao thì Đông Dương cũng đứng hẳn về phía Vichy cho tới năm 1944 và không chuyển sang phía De Gaulle cho đến lúc mà sự kết thúc cuối cùng cuộc chiến tranh ở châu Âu là chắc chắn rồi.
Ở Trung Quốc, lời kêu gọi của De Gaulle được một số người Pháp nghe được và một trong những người đó, Jean Escarra, một chuyên gia luật quốc tế đã từng làm cố vấn cho Quốc dân đảng, đã đáp lại lời kêu gọi và đi sang London. Ở đây, cùng với Lapie, cựu Toàn quyền Chad, và ông Hackin, cái bào thai tham mưu đối ngoại của De Gaulle đã hình thành để “liên lạc với các vụ khác nhau của Bộ Ngoại giao Anh và với các chính phủ lưu vong của châu Âu”.
Escarra sang Trùng Khánh vào giữa năm 1941 để tiếp xúc với Tưởng Giới Thạch, nhân danh De Gaulle, và để thu xếp những mối liên hệ chính thức giữa Quốc dân đảng và “nước Pháp tự do”. Với sự giúp đỡ của nhà thám hiểm André Guibaut, lúc đó cũng ở Trùng Khánh, và của nhiều sỹ quan trong quân đội Pháp đã rời Đông Dương, Escarra thành lập một cái khung mà về sau được biết tới dưới cái tên “Phái đoàn quân sự Pháp ở Trung Quốc”.
Theo lời kể của De Gaulle, ông đã có những “đại diện” của nước Pháp tự do hoạt động ở nhiều thủ đô trên thế giới và họ trực tiếp báo cáo với ông. Trong số nhiều cái tên được nhắc tới trong hồi ức của ông, có Schompré, Baron và François De Langlade ở Singapore, Guibaut và Béchamp ở Trùng Khánh. Trong số đó, De Langlade nổi bật lên như một kẻ tiên phong trong bộ máy bí mật của Pháp ở Viễn Đông. Là một người quản lý trước kia của các đồn điền cao su ở Malaysia, ông đã phục vụ cho tình báo Anh năm 1940 và đã cộng tác với cơ quan tình báo của nước Pháp tự do ở Singapore dưới quyền của trung tá Tutenges. Khi Singapore thất thủ năm 1942, tổ Tutenges - De Langlade sang Trung Quốc và móc nối với phái đoàn quân sự không chính thức của Escarra.
Sự có mặt mới của nước Pháp ở Trung Quốc không lẩn tránh được con mắt luôn luôn cảnh giác của Tai Li. Ông ta không cho phép bất cứ một hoạt động tình báo độc lập nào của Pháp ở đây. Escarra giới thiệu nhóm này với Tưởng và giành được một quy chế gần như chính thức cho nước Pháp tự do, với điều kiện họ chỉ hoạt động với BIS của Tai Li. Sự thu xếp tỏ ra không có hiệu quả. Tutenges và De Langlade tuy được tự do đi lại nhưng luôn luôn bị Trung Quốc giám sát. Nhưng sự thu xếp cũng thu được một điểm bù lại cho người Pháp: Tai Li, do sử dụng được những phương tiện của hạm trưởng Miles lấy từ OSS, đã cung cấp cho những nhân viên Pháp quỹ, đài phát và những tiếp tế đặc biệt. Nước Pháp tự do lập được một mạng lưới có thể làm việc được ở Đông Dương và cung cấp lại cho người Trung Quốc những tin tức về những sự bố trí của quân Nhật và những tin tức về các mục tiêu cho lực lượng không quân Chennault, bao gồm cả sự giúp đỡ cho các phi công nhảy dù của Mỹ khi cần thiết.
Những phương tiện của hạm trưởng Miles chỉ là một nguồn hỗ trợ cho những hoạt động bí mật rộng lớn và tốn kém của Tai Li. Một nguồn thu nhập quan trọng hơm là việc buôn thuốc phiện có lợi và những đường chợ đen từ Malaysia, Miến Điện và Thái Lan đi qua Đông Dương. Tai Li cần nắm được việc buôn bán ấy một cách liên tục, và ngay từ lúc bắt đầu cuộc chiến tranh Trung - Nhật, ông ta đã nhập bọn với kẻ quân phiệt hùng mạnh cai quản cửa tây nam vào Trung Quốc; tướng Trương Phát Khuê tỉnh Quảng Tây và tướng Lư Hán ở tỉnh Vân Nam. Cả hai tỉnh nằm sát với Đông Dương.
Để tự bảo vệ khỏi sự can thiệp của Mỹ mà ông coi là quá trong sạch, Tai Li ngay từ đầu cuộc chiến tranh đã yêu cầu người Mỹ không xen vào Đông Dương. Ông ta sau đó đã làm dịu lòng người Mỹ bằng những hoạt động được cho phép của OSS ở Đông Dương với điều kiện sử dụng người Pháp hơn là người Mỹ.
 
GIRAUDISTES VÀ GAULISTES

Để đáp ứng những điều kiện của Tai Li, Donovan tiếp xúc với người Pháp ở Bắc Phi và gợi ý họ phái một số sĩ quan Pháp vào OSS để hoạt động tình báo ở Đông Dương. Người Pháp nhận lời và Donovan chỉ thị cho Miles, lúc từ Washington trở lại Trung Quốc, thảo luận vấn đề này với tướng Chennault. Đó là vào tháng 5-1943, khi Miles đang làm phó cho Tai Li trong SACO vừa mới thành lập.
Miles giành được sự phục vụ của một số sĩ quan hải quân Pháp nổi tiếng và đã được nhiều lần tặng thưởng huân chương thiếu tá Robert Meynier, một người trẻ tuổi theo Giraud(9), chỉ huy tàu ngầm. Ông ta không những nổi tiếng về những cuộc tấn công thắng lợi chống lại hạm đội Đức, mà tháng 11-1942 còn thực hiện được một cuộc chạy trốn nguy hiểm khỏi nước Pháp với chiếc tàu và toàn bộ thuỷ thủ tới Casablanca.
Theo những hồ sơ của OSS, Meynier dường như đã tuyển mộ được nhiều sĩ quan Pháp có kinh nghiệm ở Đông Dương và một số lính Việt Nam trong quân đội Pháp đóng ở Pháp. Nhóm này được huấn luyện trong một căn cứ của OSS gần Alger và đổ bộ lên Trung Quốc tháng 7-1943 để được huấn luyện ở căn cứ SACO, trong khi chờ đợi Meynier. Những hồ sơ chính thức nói đến điểm này rất không rõ ràng, đặc biệt về việc tại sao Meynier đi qua Washington trong khi tới Trung Quốc.
Meynier lấy một phụ nữ lai Âu - Á quyến rũ, được coi là một công chúa An Nam, cháu của cựu Khâm sai (phó vương) Bắc Kỳ và ủy viên Hội đồng tư vấn của Bảo Đại, Hoàng Trọng Phu. Năm l943, bà Meynier bị bắt giam trong nước Pháp bị chiếm đóng. Kế hoạch của Meynier rõ ràng là muốn dùng nhũng hiểu biết và ảnh hưởng của vợ mình một cách đầy đủ, và đó là một điểm mà ông ta không tiết lộ ra cho đến khi tổ này sẵn sàng đi sang Trung Quốc. Với sự giúp đỡ của SOE và những phần tử kháng chiến Pháp, một hoạt động theo kiểu biệt kích của OSS đã giải thoát bà Meynier khỏi một trại tập trung của Đức, nhưng phải trả giá bằng nhiều mạng sống của người Anh và người Pháp. Bà ta được hộ tống đến một vùng hoang vắng, được đưa lên một chiếc máy bay Anh đi London, và sau đó bay tới Alger để gặp chồng.
Việc giải thoát bà Meynier đã tạo ra một cơn bão táp nhỏ trong cộng đồng tình báo và phơi bày ra những xung đột gây ra bởi cuộc đấu tranh quyền lực đang diễn ra giữa De Gaulle và Giraud, mà De Gaulle rõ ràng đã thắng thế. OSS che giấu SOE mục tiêu thật sự của Meynier, người theo Graud, vì sự ủng hộ rõ rệt của SOE đối với cơ quan tình báo thuộc phái De Gaulle, BCRA(10). OSS cũng dựng lên một câu chuyện ngụy trang. Meynier bề ngoài được giao cho cầm đầu một hoạt động đặc biệt của OSS/USN(11) ở Philippines, được tiến hành từ bờ biển Trung Quốc và bà Meynier thì trở thành một sĩ quan WAC(12) của Mỹ được chỉ định vào một “phái đoàn cao cấp” vì thế mà vợ chồng Meynier đã bay từ Alger tới Washington.
Tuy nhiên, theo một nhận xét bí mật trong một thông báo của OSS/Alger gửi cho OSS/Washington, Meynier đã được cơ quan tình báo của Giraud giao cho một bảng mật mã riêng để sử dụng trong một hoạt động tình báo ở Đông Dương, và điều cần thiết là bảng mật mã đặc biệt ấy phải phù hợp với mật mã của cơ quan tình báo hải quân ở Washington.
Khi Meynier đến Trùng Khánh hồi tháng 8-1943 để tiến hành nhiệm vụ do Giraud giao cho, ông đã tìm thấy một phái đoàn quân sự Pháp chính thức mới thành lập do một người đại diện cho De Gaulle cầm đầu bên cạnh Tưởng Giới Thạch, tướng Zinovi Pechkov(13) (cũng gọi là Pechkoff và Petchkoff). Tướng Pechkov yêu cầu Meynier trao lại mật mã riêng và đặt ông ta dưới sự kiểm soát của Phái đoàn. Không cần phải thách thức công khai với Pechkov, Meynier phàn nàn với đại tá Emblanc, người kế tục Tutenges, về hậu quả của việc sứ mệnh của ông ta bị đối xử xấu. Ông ta nói rằng ông ta được Giraud chọn để tiến hành một “sứ mệnh rất khó khăn cho nước Pháp” và kế hoạch ấy đã được De Gaulle tán thành và ông ta, Meynier, định tiến hành kế hoạch đó dù phải làm việc bên ngoài Phái đoàn quân sự Pháp. Meynier gợi ý, có thể đó cũng là lời đe doạ che đậy, rằng ông ta có thể trông cậy vào sự ủng hộ của Miles và Tai Li để thực hiện nhiệm vụ được giao. Nhưng Emblanc không chú ý lắm và từ chối ủng hộ sứ mệnh của Meynier.
Sự va chạm ấy đã phát triển thành một cuộc xung đột trong các người Pháp ở Viễn Đông. Nhóm Meynier bị coi là những kẻ theo Giraud và được người Pháp ở Đông Dương gọi là “Bộ tham mưu”, trong khi nhóm Pechkov - Emblanc được coi là những kẻ theo De Gaulle, đại diện cho nhóm dân sự kháng chiến ở Đông Dương, hoạt động từ Trung Quốc.
Tuy đã được thừa nhận chính thức, Phái đoàn quân sự Pháp ở Trùng Khánh vẫn vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của Tai Li, bị Tai Li lên án là đang do thám chính phủ Trung Quốc. Phái đoàn phản đối rằng Tai Li đang tiến hành việc giết hại những người Pháp yêu nước để đảm bảo cho sự lật đổ không bị ngăn cản của Trung Quốc đối với người Việt Nam ở Bắc Kỳ.
Trong lúc đó, nhóm Meynier, với sự giúp đỡ của Miles và Tai Li, đã tuyển mộ những nhân viên Việt Nam ở Trung Quốc và đã tiếp xúc với một người bà con giàu có của bà Meynier và với những viên chức thuộc địa người Pháp ở Hà Nội. Qua những liên hệ buôn bán của bà Meynier, vợ chồng Meynier đã thiết lập được liên lạc với những viên chức chống De Gaulle trong Chính phủ Decoux.
Chẳng bao lâu, nhóm Emblanc ở phái đoàn đã kêu lên về “cú chơi xấu” ấy. Bản thân Emblanc tuyên bố “Bộ tham mưu” là một công cụ của Vichy, làm việc cho những quyền lợi nước ngoài, không thù địch với tương lai nước Pháp, và bất cứ người Pháp lương thiện nào cũng nên ngăn cản điều đó. Hai phái Emblanc và Meynier vẫn duy trì mối hận thù cay đắng của họ suốt cả cuộc chiến tranh ở Viễn Đông.
Là người được hạm trưởng Miles bảo trợ, Meynier hiện ra trước con mắt của Tai Li với một vẻ thuận lợi nhất. Tai Li hoan nghênh những sự tiếp xúc với chế độ Decoux để làm dễ dàng cho việc buôn bán “nhập khẩu” của BIS/Đông Dương. Meynier cũng thuyết phục được Tai Li rằng phái đoàn quân sự Pháp đối nghịch với BIS. Có thể đoán chắc rằng đó là một sự tin nhau rất nhỏ vì hai bên vẫn bắn tỉa lẫn nhau. Kết quả là đầu năm 1944, Tai Li ra lệnh cấm chỉ những phương tiện liên lạc của phái đoàn quân sự Pháp với Đông Dương. Điều đó làm tê liệt hoạt động của phái De Gaulle cho đến lúc tận cùng của cuộc chiến tranh.
Sứ mệnh của Meynier, có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc chia rẽ người Pháp, là một thất bại của OSS. Nó rất ít có tiến bộ trong việc thâm nhập Đông Dương và OSS không nhận được những tin tức quân sự mà Donovan chờ đợi và Miles hứa hẹn. Tháng 12-1943, Miles bị cất khỏi chức đứng đầu OSS ở Viễn Đông và cắt những tiếp tế cho những cơ quan đó. Trong lúc đó, những sự rắc rối chính trị của Pháp tỏ ra quá mạnh và Donovan yêu cầu nhóm Meynier chuyển sang đặt dưới quyền kiểm tra và điều khiển hoàn toàn của Phái đoàn tướng Pechkov.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:21:58 PM
RESISTANCE(14) CỦA MORDANT

Ở Alger, Đông Dương vẫn được nhớ tới. De Gaulle nhắc lại trong hồi ức của mình rằng: “Một số nhà chức trách Pháp ở Đông Dương dần dần quay về phía Chính phủ Alger. Ông François, một giám đốc ngân hàng từ Sài Gòn tới nói với tôi như vậy; ông De Boisanger, người đứng đầu ở Sở chính trị của Phủ toàn quyền (chính phủ Decoux), đã mở một ăng ten bí mật hướng về tướng Pechkov, đại sứ chúng tôi (sic) ở Trùng Khánh; tướng Mordant, Tổng chỉ huy quân đội, bí mật tiếp xúc với đại tá Tutenges...”.
Cuối năm 1943, ông François gửi một thông điệp của tướng Mordant cho tướng Giraud ở Alger, tỏ ý muốn hợp tác với Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp (CFLN) ở Alger. Thông điệp được chuyển tới BCRA và cuối cùng tới De Gaulle. Ông đã viết trong hồi ức của mình rằng: “Ngày 29-2-1944, tôi viết cho tướng Mordant để xác nhận với ông ta những thiện chí mà ông ta bày tỏ với tôi và nêu rõ với ông ta rằng Chính phủ chờ đợi ở ông ta và quân đội của ông ta đang nằm trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn”. Bức thư của De Gaulle đáng lẽ được trao cho Mordant bởi ông François, nhưng việc trở lại Đông Dương của ông này bị hoãn lại và bức thư ấy được giữ ở BCRA (Alger) cho tới khi có những thu xếp khác 4 tháng sau đó.
De Gaulle, đoán trước sự đồng ý của Mỹ đối với sự tham gia của Pháp ở Viễn Đông, hồi đó đã chỉ định Blaizot làm chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (CEFEO), với sứ mệnh chính là giải phóng Đông Dương. Cùng lúc đó, các kế hoạch được vạch ra để hợp nhất những cơ quan tình báo của Giraud vào tổ chức BCRA. Những cơ quan hợp nhất hợp thành một tổ chức mới, Tổng nha công tác đặc biệt, viết tắt là DGSS. Mọi cách tiến hành chiến tranh không chính thống đều do DGSS hướng dẫn, bao gồm cả hoạt dộng chiến tranh chính trị ở Viễn Đông, do trung úy (sau đó là thiếu tá) François De Langlade cầm đầu.
De Langlade, người đã từng làm việc ở Ceylon với SOE/SEAC, tới Alger vào mùa xuân 1944 để báo cáo những hoạt động của mình ở Đông Nam Á cho đại tá Escarra; rồi với Bộ tham mưu quốc phòng đang phụ trách tất cả các phái đoàn quân sự ở nước ngoài, và trình bày tóm tắt với đồng nghiệp cũ của mình là đại tá Tutenges về tình hình Đông Dương. Tutenges, một chuyên gia về Đông Nam Á, là người đứng đầu Phòng nhì (bộ phận tình báo) của tướng Blaizot.
Khi nhận chức giám đốc DGSS/Viễn Đông, De Langlade yêu cầu De Gaulle ủng hộ về nhân sự và về quyền hành để thực hiện sự kiểm soát duy nhất đối với tất cả những hoạt động bí mật của Pháp về Đông Dương. Cả hai người, De Gaulle và René Pléven, Ủy viên thuộc địa, đồng ý điều đó. Thế nhưng, trước khi De Langlade đảm nhận chức vụ mới của ông ta, De Gaulle yêu cầu ông ta truyền đạt riêng cho tướng Mordant ở Đông Dương những chỉ thị cao nhất của mình. Đó là lí do của việc De Langlade nhảy dù xuống Bắc Kỳ trong kế hoạch BELIEF I. Người Mỹ không biết gì đến những chỉ thị của De Gaulle cho Mordant. Thế nhưng, trước khi tôi sang Viễn Đông vào tháng 3-1945, tôi đã được biết một phần câu chuyện này từ tùy viên quân sự Mỹ ở New Delhi (qua những người Anh chống đối trong SEAC và do OSS/châu Âu cung cấp).
Chẳng bao lâu sau khi quân Đồng minh đổ bộ lên Bắc Phi, Mordant, người chỉ huy các lực lượng Pháp ở Đông Dương từ năm 1940, đã cảm thấy một sự bố trí mới ở nước Pháp và quay sang Chính phủ lâm thời của Pháp ở Alger; do đó mà có thông điệp của ông ta nhờ ông François mang tới cho Giraud năm 1943. Nhận được sự đồng ý của De Gaulle thông qua De Langlade, Mordant yêu cầu rút lui khỏi danh sách tại chức ngày 23-7-1943. Đô đốc Decoux đồng ý với yêu cầu ấy và cử phó chỉ huy là tướng Aymé làm tổng chỉ huy mới. Những chỉ thị bằng miệng của De Gaulle do De Langlade truyền lại đã chỉ định Mordant làm thủ lĩnh cuộc kháng chiến của người Pháp ở Đông Dương; việc từ chức của ông là để ông rảnh tay chuẩn bị cho “một cuộc đổ bộ của Đồng minh” chống người Nhật ở Đông Dương. Sau cuộc gặp gỡ Mordant - Aymé - De Langlade ở Hà Nội, De Langlade tới Calcutta, ở đó những người theo De Gaulle đã lập ra một Chi nhánh liên lạc Pháp ở Viễn Đông (SLFEO), và dàn xếp với người Anh để thả dù vũ khí, đạn dược, tiếp tế và những nhân viên của “nước Pháp tự do” cho Mordant. Chúng tôi biết được đại khái là người Pháp dự định dùng những căn cứ ở Ceylon và Ấn Độ.
Ở Đông Dương, những thay đổi diễn ra hỗn loạn. Mordant, chủ yếu là một quân nhân, không thông thạo những phương pháp bí mật; ông ta tiến hành các hoạt động của mình như những hoạt động quân sự thông thường và rất ít bí mật. Ông ta coi phong trào kháng chiến gần như là một hoạt động quân sự và không nghĩ tới sự ủng hộ của dân chúng. Khi SLFEO thả dù những nhân viên dân sự đã được huấn luyện của họ xuống Đông Dương, và khi họ gợi ý nên tranh thủ sự cộng tác của người Việt Nam, thì quân đội lẩn tránh và bướng bỉnh bác bỏ những lời khuyên bảo về chính trị và quân sự của các chuyên gia dân sự. Nhóm Mordant tiến hành công việc của họ mà hoàn toàn không tính đến sự an toàn và chẳng bao lâu, mọi người, kể cả người Nhật, đều biết đến những hoạt động của họ. Trong các tiệm rượu và tiệm cà phê, câu chuyện chính là huyền thoại người Mỹ sẽ đến, như họ đã làm ở Bắc Phi. Câu chuyện hoang đường ấy càng lặp đi lặp lại bao nhiêu thì người ta càng tin chắc điều đó sẽ xảy tới nhanh chóng bấy nhiêu. Người ta tưởng tượng ra những cuộc đổ bộ của Đồng minh lên bờ biển Đông Dương, được một làn sóng cờ tam tài chào đón hợp thành một cuộc tấn công quy mô vào người Nhật. Những sự căn dặn của SLFEO phải giữ bí mật hơn và bớt phởn đi đã không ngăn nổi tinh thần cả tin của người Pháp, lần đầu tiên kể từ năm 1940, họ cảm thấy mình cũng vẫn còn là một phần của nước Pháp.
Những câu chuyện ba hoa về việc Đồng minh đổ bộ, về việc đuổi người Nhật, về kháng chiến đã làm cho đô đốc Decoux và những kẻ ủng hộ ông ta trong giới thương nghiệp - công nghiệp Pháp lo ngại. Sau khi giải phóng Paris hồi tháng 8-1944, việc cai trị, nhân danh chính phủ Vichy đã chết, trở nên khó khăn. Nhưng De Gaulle, lo lắng đạt tới địa vị bình đẳng trong Đồng minh, đã không bỏ mất thòi gian trong việc tuyên bố “nước Pháp mới” của mình đang tiến hành chiến tranh với Nhật Bản. Điều đó đặt Decoux vào một vị trí đặc biệt tế nhị - không phải là bạn cũng không phải là thù - với người Nhật chiếm đóng, cũng không phải là đại diện hợp pháp của “nước Pháp mới”. Vị đô đốc già này báo cho chính phủ Paris và đại diện Pháp ở Trùng Khánh rằng chỉ có thông qua sự tiếp tục cộng tác với người Nhật mới giữ được chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Và ông ta phản đối tất cả những gì mà viên tướng náo động Mordant gây ra một phong trào kháng chiến ít được che giấu của mình.
Những lời phản đối của Decoux rơi vào những cái tai điếc vì ngày 12-9, De Gaulle bí mật chỉ định Mordant làm Tổng đại diện của mình ở Đông Dương với đầy đủ quyền hành để đưa ra những quyết định chính trị và quân sự, trở thành đại diện của Chính phủ Pháp ở Paris, trong thực tế. Khi Decoux hay biết điều đó, ông ta đã chống lại. Một lần nữa, ngày 19-11-1944, De Langlade được phái tới Hà Nội, lần này là để thuyết phục Decoux đừng chống lại và đưa ông ta vào sự cộng tác với De Gaulle. Với những chỉ thị từ Paris phải kiên quyết với viên Toàn quyền bấp bênh này, De Langlade nhân danh Chính phủ Lâm thời Pháp ra lệnh cho Decoux phải giữ vị trí của ông ta, không được thay đổi chút gì về thái độ và quan hệ của ông ta với các nhà chức trách Nhật, để cho người Nhật không biết gì tới những kế hoạch của Pháp ở Đông Dương, và không biết gì tới phong trào kháng chiến. Viên đô đốc kiêu căng và ích kỷ này, hiểu ra tình hình và tương lai chính trị của bản thân mình, đã chấp nhận mệnh lệnh của Paris và đồng ý tất cả.
Chưa đầy mười ngày sau (28-11), De Langlade lại trở lại Đông Dương để báo cho Decoux biết Chính phủ Paris đã lập một hội đồng Đông Dương bí mật để trông coi tất cả những vấn đề chính trị và quân sự. Decoux được chỉ định là “chủ tịch” Hội đồng. Cùng với ông ta, có Mordant là “phó chủ tịch”, tướng Aymé và 5 người trung thành với De Gaulle khác. Như vậy, Decuox bị tước mọi quyền hành ở Đông Dương và chỉ là “bình phong” cho Mordant.
 


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:23:16 PM
PHẢN ỨNG CỦA NGƯỜI NHẬT

Đúng vào những tháng cuối cùng của ưu thế thuộc địa Pháp ở Đông Nam Á ấy, người Nhật vẫn yên trí bằng lòng để cho người Pháp kiểm soát hành chính và thương mại cho đến lúc nào chưa có một sự can thiệp bên ngoài làm cho tình hình thay đổi khác đi. Nhưng chỉ cần nghe thấy tính thiếu thận trọng và những lời khoác lác, thách thức của những sĩ quan Pháp, của những viên chức chính phủ và của những kẻ thực dân, là họ đã cảm thấy có một cái gì hết sức đáng lo ngại đang xảy đến.
Người Nhật đã chịu những sự đảo ngược ở Miến Điện và Thái Bình Dương, lo lắng trước sự náo động bên trong và sự biến động chính trị ở Đông Dương; và họ bắt đầu đề phòng. Họ thay đạo quân đồn trú ở Đông Dương bằng đạo quân Thiên Hoàng chiến thuật thứ 38, dưới sự chỉ huy của trung tướng Yuitsu Tsuchihashi. Như tôi trực tiếp được biết mấy tháng sau đó ở Hà Nội, viên tướng này đã đoán trước được những chuyện rắc rối đối với phái De Gaulle và với “quân Etsumei (Việt Minh)” và đã xin phép Tokyo vào tháng 12-1944 cho tiến hành những biện pháp thích hợp để ngăn chặn một cuộc tấn công của Pháp, nhưng Tokyo đã bác bỏ yêu cầu đó.
Trung tá Tateki Sakai, một sĩ quan cao cấp ở Ban tham mưu của Tsuchihashi, hồi tháng 8-1945, đã kể cho tôi nghe về tâm trạng của người Nhật trong mùa đông trước đó: “Do cuộc hành quân Philippin của quân Mỹ, …toàn bộ bờ biển Đông Dương phơi ra cho... những cuộc đổ bộ của kẻ địch... Những đường giao thông của chúng tôi với chính nước Nhật có nguy cơ bị cắt đứt bởi các lực lượng hải quân và không quân có ưu thế của Mỹ và những người bản xứ Đông Dương đang chờ đợi nổi dậy khi kẻ địch (Mỷ) ném bom... Xứ Đông Dương thuộc Pháp cho đến nay vẫn chỉ là một khu vực giao thông thì bây giờ đã trở thành một chiến trường”. Sau đó: “Việc tăng cường phòng thủ trong khu vực này không thể bị coi thường. Khi đã thấy rõ sự tiến triển bất lợi về quân sự trên mặt trận phía Tây và phía Đông, quân đội Đông Dương thuộc Pháp rõ ràng muốn hoạch định việc chuẩn bị tác chiến chống lại Nhật, bắt đầu tuyển mộ dân bản xứ vào quân đội. Trong việc tuyển mộ này, họ đặc biệt tránh những người An Nam ngoan ngoãn và thân Nhật, và lấy các bộ lạc man rợ Mọi và Lào vào sư đoàn Bắc Kỳ. Hành động ấy bị chúng tôi chú ý vì nó báo trưóc những mối liên hệ tương lai của nó với Trung Quốc”.
Về tình hình đặc biệt hồi tháng Giêng, trung tá Sakai nói: “Trong khi đó, quân đội chúng tôi tiếp tục nhận được những tin tức tình báo có giá trị như: “Bọn gián điệp Pháp vào Đông Dương qua đường không”; “Chúng đang liên lạc bằng vô tuyến điện với Ấn Độ và Trung Quốc”; “nhóm FFI(15) chịu trách nhiệm về những hoạt động ngầm”; “Toàn quyền Decoux trong một diễn văn đã sỉ nhục nước Nhật và ca ngợi Chính phủ De Gaulle”; “Dân bản xứ đang được tuyển mộ vào quân đội”; “quân đội Đông Dương thuộc Pháp đang phân tán ra các ngoại ô và các vùng nông thôn, và đang tập trung xây dựng những công sự phòng thủ”. Lúc đó Đông Dương thuộc Pháp đã tỏ rõ thái độ đối địch với Nhật và vẫn còn cố che giấu những tình cảm bên ngoài của họ cho đến lúc các lực lượng Đồng minh đến”.
Nhưng, hồi tháng 12-1944, Tokyo đã không sẵn sàng đảo lộn nguyên trạng. Đạo quân Thiên hoàng chiến thuật thứ 38 mới được tổ chức lại còn thiếu các đơn vị chiến đấu, vẫn còn trên đường từ các khu vực ngoài Đông Dương tới, và cho đến tháng 4-1945 nó vẫn chưa thể chiếm lĩnh được vị trí của nó. Trong số những lí do chính trị dài dòng được đưa ra ở Tokyo, có lí do nói rằng trong trường hợp thất bại của Nhật, thì tốt nhất không nên để Pháp đứng thêm vào những nước đòi bồi thường. Và trong tình thế ấy, khiêu khích người Pháp sẽ có lợi gì? Việc ủng hộ những nguyện vọng độc lập của người Việt Nam, như Tsuchihashi đã có lần gợi ý, cũng vô ích vì rốt cuộc Đông Dương lại bị trả lại cho Pháp, bị Trung Quốc nuốt đi hoặc trở thành lệ thuộc của Liên Xô. Dù cái gì đang xảy đến, nước Nhật vẫn gánh chịu sự hận thù của người Pháp, và ở Tokyo đã đi đến kết luận rằng nên khôn ngoan tránh khỏi những vướng mắc chính trị ở đó và nên ở trong tư thế trao Đông Dương nguyên vẹn cho Pháp. Nhưng IGHQ(16) ở Tokyo lại cân nhắc hết sức thận trọng trong việc trả lời cho Tsuchihashi và chỉ thị cho ông ta chờ cho đến lúc nào quân đội của ông ta sẵn sàng chiến đấu đã.
Như vậy, nhiều tuần lễ trôi qua khi quân đội Nhật ở Đông Dương phải đối phó với vấn đề hoạt động ngầm của phái De Gaulle. Từ lúc khởi đầu vào tháng 8-1944 đến tháng 1-1945, hoạt động ấy phát triển om sòm, nếu không phải là có hiệu quả. Từ mỗi bản doanh đều có những chỉ thị nói rằng các kế hoạch kháng chiến phải dựa vào một hoạt động ít tổn thất nhất: người Pháp không có kỳ vọng cuộc kháng chiến của họ sẽ là một hành động độc lập của người Pháp để giải phóng xứ này; trái lại, họ đều thừa nhận rằng họ chỉ tấn công người Nhật sau khi các cuộc đổ bộ của Đồng minh bắt đầu. Người Nhật ở Đông Dương đã biết rõ những kế hoạch ấy của người Pháp và đã nghĩ tới việc bảo vệ cho chính họ. Họ cũng không đánh giá thấp khả năng sau này là không có những cuộc đổ bộ trước khi Nhật thất bại và người Pháp trong trường hợp ấy tuy vốn rất ít dũng cảm nhưng vẫn có thể trả thù. Vì thế, người Nhật ở Đông Dương không có cách nào khác ngoài việc vô hiệu hoá quân đội Pháp trước khi Nhật thất bại, nếu nhu cầu phải tránh một cuộc tàn sát sau khi ngưng chiến.
Những gián điệp có kinh nghiệm hơn trong người Pháp hẳn phải thấy được việc cải tổ quân sự, những biện pháp tăng quân và những chuyển hướng ngoại giao của Nhật là những chỉ dẫn rõ rệt cho thấy rằng phong trào kháng chiến đang được chờ đón một cách thận trọng như thế nào. Nhưng Mordant và SLFEO đã có những hành động khác thường chỉ khiến cho người Nhật càng thêm nghi ngờ.
Hồi tháng Giêng và tháng Hai, Mordant ra lệnh di chuyển quân đội Pháp từ các thành phố và ngoại ô lên các vùng núi của Bắc Kỳ và Lào. Cuộc di chuyển ấy dựa trên sự tính toán là trong trường hợp Đồng minh tấn công, quân đội sẽ không bị nhốt kẹp vào những đồn đóng quân thời bình và có thể hoạt động như du kích ở những vùng ít dân cư. Làm thế nào để giúp cho các cuộc đổ bộ của Đồng minh ở những đồng bằng ven biển xa xôi, điều đó không được thảo luận kỹ lưỡng. Hơn nữa, những sự di chuyển quân đội của họ bị người Nhật theo dõi; và khi những viên chỉ huy Pháp di chuyển quân đội từ các vị trí chính qui của họ đi, thì các đơn vị Nhật lại đi theo và đóng với một khoảng cách cần thiết.
Tháng 2, SLFEO ở Calcutta làm sống lại một cách dại dột huyền thoại về việc Đồng minh đổ bộ vào tháng 5, và những hoạt động sôi nổi lại bùng lên - nhưng bao giờ cũng ở dưới những con mắt giám sát của Kempeitai, cơ quan an ninh Nhật.
Do một sụ trùng hợp không may trong chiến tranh, 9 phi công Mỹ buộc phải nhảy dù khỏi máy bay trên Đông Dương trong thời kỳ đó, và 4 phi công đã bị người Pháp bắt giam. Người Nhật yêu cầu chuyển giao cho người Nhật giam giữ, nhưng đô đốc Decoux từ chối.
Người Nhật đã thấy quá đủ. Một quyết định được đưa ra để chấm dứt những hoạt dộng của Pháp. Ngày 9-3-1945, vào 6 giờ, giờ Sài Gòn, đại sứ Matsumoto trao cho đô đốc Decoux tại dinh ông ta ở Sài Gòn một tối hậu thư đòi các lực lượng vũ trang Pháp phải đặt dưới quyền chỉ huy của Nhật. Nhận được một sự trả lời không hài lòng sau 2 giờ đồng hồ đã được qui định, người Nhật cho rằng Decoux đã bác bỏ tối hậu thư.
Trong vòng 48 giờ, tất cả các viên chức Pháp, từ đô đốc Decoux cho tới những viên chức thấp nhất, đều bị tước quyền hành và bị bỏ tù hoặc bị tập trung lại. Các tướng Mordant và Aymé bị bắt. Cờ Pháp bị kéo xuống khỏi các nhà công cộng và các căn cứ quân sự. Các nhà công nghiệp chủ chốt và những người bị biết rõ là thuộc phái De Gaulle đều bị bắt giam như những tù chính trị. Tất cả sĩ quan và các đơn vị thuộc phái quân đội của Pháp đều bị giải giáp và giam giữ. Chỉ có mấy nghìn quân Pháp đóng ở phía Bắc Kỳ và Lào là trốn thoát được cú vét lưới của Nhật. Và những người trốn thoát đã bắt đầu một cuộc rút lui bằng cách đi bộ sang Trung Quốc.
________________________________________
(1) Nguyên văn: status quo-ante
(2) tức Whitaker
(3) thiếu tá, cựu giám đốc chi nhánh công ty Standard Oil ở Hải Phòng
(4) thiếu tá, trưởng ban Nhật – Trung Quốc, SI-OSS
(5) lòng tin
(6) phó giám đốc cục “P”
(7) ngày 20-6-1940
(8) những người theo Pétain - tiếng Pháp
(9) Cao ủy Pháp ở Bắc và Tây Phi, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Pháp
(10) Nha tình báo và hành động trung ương (BCRA), sau đổi thành DGER, chức năng tương tự như OSS và SOE
(11) USN (US Navy): Hải quân Mỹ
(12) WAC (Women's Army Corps): lực lượng nữ quân nhân
(13) trưởng phái đoàn quân sự Pháp ở Trung Quốc từ năm 1943
(14) cuộc kháng chiến
(15) lực lượng kháng chiến nội địa Pháp
(16) Tổng hành dinh quân đội Hoàng gia (Nhật)


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:32:27 PM
Chương 6
Người Mỹ phát hiện ra Hồ Chí Minh
Khi các cường quốc bắt đầu xúc tiến các hoạt động bí mật ở Đông Dương thì ở đó ít nhiều cũng đã có một số nhóm công tác ngầm. Một nhóm đại diện cho quyền lợi giới dầu lửa phương Tây. Một nhóm khác là phong trào dân tộc Việt Nam - Việt Minh. OSS đã có liên hệ ở mức độ nhất định với cả hai nhóm và trước khi rời Washington, tôi đã để ý nghiên cứu tình hình các nhóm này.
GBT: NHÓM GORDON
Điều đầu tiên gợi cho tôi chú ý đến nhóm GBT là bản báo cáo của AGAS/ Trung Quốc(1) nói về tin của nhóm GBT tường thuật cuộc tập kích đường không của Đồng minh trên vùng Sài Gòn.
Nhóm GBT cho biết 9 phi công Mỹ đã bị hoả lực đối phương bắn rơi và 3 trong số đó đã bị Nhật bắt. Tin tức tiếp sau lại chỉ rõ các phi công khác đã được người Pháp cứu và có thể sẽ không trao lại cho Nhật.
Sau đó độ một tuần, tin tức của nhóm GBT đã được xác nhận lại khi Hurley báo cho Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ biết là người Pháp ở Côn Minh phán đoán là giữa Pháp và Nhật sẽ nổ ra một cuộc khủng hoảng vì đại sứ Matsumoto đã đưa ra cho đô đốc Decoux một số yêu sách, trong đó yêu cầu Pháp phải trao trả quân đội Nhật: “4(!) phi công Mỹ đã bị hạ trên đất Đông Dương và đã rơi vào tay người Pháp”.
Báo cáo của nhóm GBT về các nhân viên hàng không Mỹ đã làm tôi nhớ đến bức điện của đại sứ Gauss trước đó 6 tháng: “Người Trung Hoa và OSS hoạt dông thông qua nhóm Gordon, một tổ chức không được phái đoàn Pháp hoàn toàn ưa chuộng”. (Gordon là một người Anh, bề ngoài là đại diện của hãng Texas ở đó, nhưng bên trong thì để nhiều thời gian làm công tác tình báo cho OSS và cho quân đội Mỹ. Khi tới Trùng Khánh, Gordon đã ở cùng với tùy viên quân sự của chúng ta).
Tôi muốn tìm hiểu nhóm GBT này nhưng cơ quan OSS đã chẳng cung cấp cho tôi được gì hơn, mãi cho đến khi trung tá Duncan Lee gợi ý cho tôi phải hỏi đến OSS New York của chúng ta. Đến tháng 2-1945, tôi mới nắm được một ít tình hình về cái nhóm hai mặt kì cục này.
GBT là chữ tắt của các tên Gordon - Bernard - Tan. Nhóm GBT thuộc sự điều khiển của Laurence Laing Gordon, một công dân Anh sinh ở Canada. Trước đây Gordon là một chủ đồn điền cà phê ở Kénya, đã chuyển sang kinh doanh công nghiệp dầu lửa và phụ trách nhiều công tác khoan dầu ở Ai Cập, Trung Quốc và ở Madagascar.
Khi chiến tranh bùng nổ (1939-1940), Gordon là giám đốc công ty Cal - Texaco ở Hải Phòng. Sau khi Nhật chiếm đóng Đông Dương, Gordon và gia đình trở về California nhưng vẫn giữ quan hệ với các lãnh đạo của Cal - Texaco. Vào năm 1941, Cal - Texaco khuyên Gordon trở lại trông nom quyền lợi của hãng ở Đông Nam Á. Nhưng chuyến đi của Gordon đã phải bỏ dở vì Nhật đánh Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) và cũng từ đó, lãnh đạo Cal - Texaco đã đặt kế hoạch cho Gordon xâm nhập vào Đông Dương dưới một cái vỏ bán công khai.
Câu chuyện ngụy trang của Gordon do Sir William Stephenson(2), thủ trưởng Cục phối hợp An ninh Anh xây dựng. Sau khi được cơ quan tình báo Anh tuyển mộ, Gordon được điều tới New Delhi và theo chỉ thị của Bộ chiến tranh Anh, được bí mật phong hàm đại uý tình báo. Nhiệm vụ của Gordon lúc đó là đến cộng tác với phái đoàn Pháp ở Trùng Khánh để xây dựng một mạng lưới tình báo ở Đông Dương.
Thoạt đầu Gordon muốn tranh thủ sự giúp đỡ của phái đoàn Pháp và nhận thấy ngay rằng việc đó sẽ chẳng mang lại một kết quả gì, không những chỉ vì có sự hạn chế của tướng Tai Li mà còn do những chia rẽ vì tranh giành về chính trị. Gordon liền xoay xở để có một chỗ dựa chính thức, tìm đến tùy viên quân sự của ta(3) và được giới thiệu với Đô đốc Yang Hsuan Cheng(4). Người Trung Hoa đã cho phép Gordon được hoạt động ở tỉnh Quảng Tây, nhưng với điều kiện không được cộng tác với các cơ quan tình báo Pháp.
Thoạt tiên, Gordon chỉ hạn chế hoạt động trong việc duy trì sự có mặt của mình trong đám các nhân viên cũ của Cal - Texaco. Về sau, với danh nghĩa là một đại lý dầu hoả độc lập, Gordon đi khắp Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, nối lại các quan hệ cũ, tập họp những người Pháp và người Việt trung thành, vừa cung cấp khá nhiều xăng dầu và các thứ khác cho chợ đen của người Trung Hoa, vừa xây dựng một mạng lưới chỉ điểm để nhằm cứu vãn tài sản của công ty dầu lửa. Như thế là ngẫu nhiên mà đã hình thành một cơ cấu sớm mang những đặc điểm của một tổ chức tình báo tài tử.
Trong năm đầu hoạt động, Gordon sử dụng tiền tài, đài vô tuyến điện và thiết bị máy móc của người Anh, nhân viên người Hoa, với sự cộng tác của hai người Mỹ, một là Frank (“Frankie'') Tan, dân Boston gốc Hoa, quen với Gordon khi ở Hải Phòng, hai là Harry V. Bernard, một cựu nhân viên Cal - Texaco ở Sài Gòn.
Trong thời kỳ hoạt động khẩn trương 1943, nhóm GBT đã làm cho người ta thấy họ không thể thiếu được đối với người Trung Hoa và đội không quân thứ 14 của tướng Chennault. Lợi dụng tốt nhất các quan hệ Pháp và Việt, nhóm GBT đã thiết lập được ở khắp Đông Dương một mạng lưới năng nổ các đài vô tuyến và trạm thu tin tình báo. Nhân viên của họ tuy không được đào tạo chuyên môn nhưng vẫn là nguồn cung cấp tin chủ yếu về Đông Dương trong những năm 1942-1943.
Sau khi hợp nhất tổ chức OSS và AGFRTS(5) tháng 4-1944, người Anh yêu cầu tướng Donovan sử dụng nhóm GBT và tất nhiên là phải trợ cấp cho họ. Lúc đầu, Gordon tỏ ra bướng bỉnh, muốn duy trì một kiểu hoạt động độc lập ngoài sự ràng buộc bởi lợi ích dân tộc và lề lối quan liêu bàn giấy. Nhưng sau, nhận thấy sự hỗ trợ hạn chế của người Anh, thấy tài nguyên và thế lực ngày càng lớn của OSS trên chiến trường Trung Quốc, Gordon cuối cùng đã phải nhận cộng tác với OSS/AGFRTS và đã tham gia vào các chiến dịch tâm lý (MO) của OSS. Tháng 9-1944, OSS cử trung uý Charles Fenn(6) làm sĩ quan liên lạc đến nhóm này. Về sau, trong khi mở rộng hoạt động của mình, OSS lại gia tăng nỗ lực để kiểm soát chặt chẽ nhóm tự do GBT hơn. Gordon không vừa lòng nên cuối cùng đã tự tách mình ra khỏi OSS/AGFRST và đi theo AGAS. Nhưng đến tháng 2-1945, Fenn lại được bổ nhiệm làm sĩ quan liên lạc của OSS với AGAS và do đó tái lập lại mối quan hệ với tổ chức GBT lúc ấy đang cộng tác với AGAS. Trung uý Fenn tiếp tục giám sát Gordon cho OSS.
Cuộc đảo chính tai hại của Nhật vào tháng sau đã làm cho mọi hoạt động của Gordon tiêu tan không thể tránh khỏi.
 



Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:33:31 PM
TRƯỜNG HỢP “ÔNG HỒ”
Các báo cáo của nhóm GBT đều khẳng định mọi thành công trong việc giải thoát được người của Đồng minh từ sau vùng bị Nhật kiểm soát là nhờ ở sự tổ chức và cộng tác có hiệu quả của những người Việt “phiến loạn” thuộc một phong trào chính trị vững mạnh đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam, được coi là có xu hướng thân Matxcơva, nhưng người Nhật, Trung Hoa và Pháp nói chung lại gọi họ là “cộng sản”. Trong các báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, AGAS và OSS/AGFRTS, họ lại thường được kêu là phần tử “thân Đồng minh”, “chống 'Nhật” và “chống thực dân”. Về phần mình, tôi cho rằng nhóm người này cũng giống như những người du kích chống phát xít châu Âu, có thể hỗ trợ nhiều cho các nỗ lực chiến tranh của chúng ta ở Đông Nam Á.
Lục trong đống hồ sơ, tôi đã tìm được một số thông báo của các nhà ngoại giao ta ở Trùng Khánh, Sài Gòn và Côn Minh, đề ngày tháng từ 1940 nói về các hoạt động của phong trào dân tộc này. Các bản thông báo đầu tiên phản ánh quan điểm của người Pháp đánh giá người Việt Nam “non nớt về chính trị, có thái độ lãnh đạm và thân Pháp”. Nhưng khi phong trào do đã có đà phát triển mạnh và sự chống đối với các nhà chức trách Pháp, Nhật đã trở thành công khai thù địch hơn; người Pháp, người Nhật và cả một số quan chức trong cơ quan đối ngoại của ta bắt đầu gán cho những người trong phong trào đó danh hiệu là “cộng sản”.
Chắc chắn rằng trong số lãnh tụ phong trào quốc gia đó cũng có mặt các phần tử thân Matxcơva, nhưng đa số những người lãnh đạo nhân dân nổi dậy đấu tranh giành độc lập ấy chỉ là một khối hỗn hợp, trong đó bao gồm thành phần của mọi xu hướng chính trị, từ các tín đồ tôn giáo cho đến những người bảo hoàng theo ông hoàng Cường Để thân Nhật, từ những người Việt không Cộng sản, thân Trung Quốc, lưu vong ở Hoa Nam cho đến những người Cộng sản triệt để đi theo đại biểu Xô-viết Hồ Chí Minh.
Qua tập hồ sơ, tôi thấy lần đầu tiên người ta đề cập đến Hồ Chí Minh trong một bức điện của Đại sứ Gauss ghi ngày 31-12-1942. Bức điện đã nhắc tới một bản thông báo trước đó nói về việc người Trung Hoa bắt giữ một lãnh tụ Việt Nam “một người An Nam tên là Ho Chih Chi (?)” (sic) và được biết là giam ở Liễu Châu, Quảng Tây ngày 2-9.
Một năm sau, đại sứ Mỹ ở Trùng Khánh đã gửi về Bộ Ngoại giao hai bức thư của Ủy ban Trung ương hiệp hội Quốc tế chống xâm lược Đông Dương. Một bức viết bằng tiếng Pháp gửi cho Đại sứ Mỹ, một bằng tiếng Trung Hoa gửi cho thống chế Tưởng Giói Thạch. Cả hai bức thư đều đề ngày 25-10-1943, Hà Nội, nhưng mang dấu bưu điện 25-11-1943, Trình Tây(7). Bức thư gửi đại sứ Mỹ yêu cầu Đại sứ ủng hộ “Hiệp hội” trong việc đòi tha cho “đại diện Hồ Chí Minh của chúng tôi”. Bức thư cho Tưởng đòi Tưởng trả lại tự do cho Hồ Chí Minh, để tiếp tục lãnh đạo các hội viên Hiệp hội hoạt động chống Nhật.
Trong hồ sơ của OSS chúng tôi, chỉ có thấy nhắc đến Hồ Chí Minh trong bản báo cáo của Powell thuộc OWI(8) ghi ngày 28-8-1944 và trong bức điện của William R. Langdon, tổng lãnh sự Mỹ ở Côn Minh, xin ý kiến Bộ Ngoại giao về việc xin thị thực nhập cảnh cho Hồ Chí Minh vào nước Mỹ.
Lúc đó cái tên Hồ Chí Minh liên tục xuất hiện trong các tài liệu hồ sơ hàng năm của OSS đã thu hút sự chú ý của tôi. Tôi liền tìm hỏi Austin Glass, một người bạn thân và là chuyên gia về các vấn đề Đông Dương. Anh ta có biết “người bạn An Nam” này, nhưng lại không rõ bây giờ ông ta lấy tên gì và Glass cũng chẳng giúp cho tôi tìm được ông ta ở đâu vì ông ta không có nơi ở nhất định. Glass chỉ nói: “Hãy kiếm ông ta ở Bắc Kỳ”.
Qua nhiều cộng tác viên khác của OSS tôi được biết Nha Viễn Đông sự vụ Bộ Ngoại giao cũng đang loay hoay tìm bắt mối với “Ông Hồ” và xem xét trường hợp của ông. Người bạn đồng nghiệp của tôi ở đó đã bắt tôi phải cam đoan giữ tuyệt đối bí mật mới cho phép tôi được xem tập hồ sơ những “tin tức chỉ để tham khảo” chứ không phải “để giải quyết” của Bộ. Theo tôi, đúng là tình hình đã được thổi phồng lên quá mức trong tài liệu của Bộ Ngoại giao.
Như vậy, thoạt tiên Hồ Chí Minh đã được những người Mỹ ở Trung Quốc chú ý vào khoảng 4 tháng sau khi ông bị bắt ở Quảng Tây (nay được xác định là vào ngày 28-8-1942). Bằng một nước cờ tài tình nhằm thu hút sự chú ý của người Mỹ nhưng đồng thời cũng làm cho Quốc dân đảng Trung Quốc bối rối, ông Hồ đã dựa vào sự giúp đỡ của bạn bè cho đăng trên đại công báo, tờ báo hàng ngày ở Trùng Khánh, một bài tiết lộ sự tồn tại của một chính phủ lâm thời do Trung Quốc dựng lên cho Đông Dương. Bài báo xuất hiện ngày 18-12-1942 và lập túc được ngay hãng UP tóm lấy để chuyển về New York và Washington.
Bản tin của UP đã gây ra một sự ngao ngán đáng kể trong giới ngoại giao Trung Quốc, Pháp và Mỹ ở Trùng Khánh. Chỉ vài giờ sau khi tin này được công bố tại Mỹ, Đại sứ quán của chúng ta ở Trùng Khánh phải chỉ thị cho một trong số những sĩ quan trẻ tuổi sắc sảo Cục Đối ngoại, Philip D. Sprouse(9) tiến hành diều tra về vấn đề này. Sprouse đã báo cáo là bài báo do một phóng viên của tờ Đại công báo tên là Hsu Ying viết dựa theo tin tức của một người Đông Dương không rõ căn cước nhưng được coi là một người Cộng sản. Sprouse cũng có đến gặp J. Fisbacher, đại diện “những người Pháp chiến đấu” theo De Gaulle ở Trùng Khánh. Fisbacher nói không hay biết gì về một “chính phủ lâm thời” cho Đông Dương nhưng lại cho Sprouse xem một bức thư (cũng từ một “người An Nam” không được xác minh!) gửi cho thông tín viên địa phương của hãng Reuters phản đối việc nhà cầm quyền Trung Quốc ở Liễu Châu đã bắt giữ ngày “2-9-1942” một người An Nam tên là Ho Chih Chi(?) “được xác nhận là lãnh tụ Đông Dương Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược”. Theo Sprouse, Fisbacher đã hăm hở gạt bỏ không những bài báo mà cả bức thư gửi cho Reuters và tỏ ý mong rằng cơ quan sứ quán Mỹ hãy bỏ qua đừng quan tâm đến chuyện này nữa.
Nhung cả Gauss và Sprouse đã không hoàn toàn bỏ rơi câu chuyện. Theo thường lệ, ngày 31-12, Gauss báo cáo về Bộ những điều đã khám phá ra được, kèm theo bản tường thuật của Fisbacher và nêu nhận định của Gauss có thể đồng ý với quan điểm của Pháp là không có “Chính phủ lâm thời” nhưng điều đó chưa thực chắc chắn lắm. Việc các nhà đương cục Trung Hoa vội vàng gạt bỏ câu chuyện và người Pháp đã quá nhậy cảm đối với quyền lợi của Mỹ trong các vấn đề Trung - Việt đã gây cho Gauss nhiều sự nghi ngờ.
Gauss đã không chững lại. Khi rời Trùng Khánh về Washington xin chỉ thị, Gauss đã đề nghị với đại diện lâm thời George Atcheson Jr. cho tiếp tục công việc. Ngày 20-5-l943, được sự đồng ý của trên, J.S. Service(10) và Sprouse đã tổ chức một bữa ăn với G. Wang, thông tín viên UP ở Trùng Khánh và ban biên tập Đại công báo, trong đó có người phóng viên độc đáo, ông Hsu Ying. Trong cân chuyện hôm đó, Hsu Ying đã nói chi tiết về nguồn gốc bài báo, đồng thời lại tiết lộ cho biết có hai tổ chức tuy có liên quan với nhau nhưng khác hẳn nhau, cùng tồn tại trong những người Việt lưu vong ở Trung Quốc và Hoa kiều hải ngoại.
Nhóm thứ nhất gọi là “Đông Dương Cách mạng Đồng minh Hội”, thành lập ở Liễu Chân dưới sự bảo trợ của tướng Trương Phát Khuê(11). Lãnh tụ của họ gồm toàn người Hoa kiều nhưng nghe nói họ cũng có khoảng chừng 2.000 lính An Nam được giới quân sự Trung Quốc huấn luyện.
Nhóm thứ hai là nòng cốt của “Chính phủ lâm thời Đông Dương”, gồm toàn người Việt và dựa vào Quốc dân đảng. Lãnh tụ của nhóm là một người Việt tên là Wu Fei, người này đã có lần đến Trùng Khánh, gặp bác sĩ Chu Chia Hua (12). Cái gọi là Chính phủ lâm thời này được tổ chức bởi hai đảng - Quốc dân đảng (không có quan hệ với chính phủ Trung ương Trung Hoa) và đảng Bảo hoàng. Có tin “Chính phủ” của họ đã có độ 12.000 quân du kích đang hoạt động ở miền bắc Bắc Kỳ, giáp biên giới Trung Quốc.
Ngày 28-5, Atcheson đã gửi bản báo cáo công tác của Sprouse cho Bộ Ngoại giao để hỏi ý kiến của John Carter Vincent(13). Carter Vincent tuyên bố không biết gì về các tổ chức nói trên nhưng biết có người nào đó thuộc một nhóm quốc gia Đông Dương “không phải đã bị bắt cầm tù mà chỉ bị các nhà chức trách Trung Quốc ở Liễu Châu giám sát chặt chẽ không cho tự do hoạt động”. Vincent cho rằng người Trung Hoa đã nghi nhóm người Đông Dương nói trên được cảm tình của cộng sản và đang xúc tiến thành lập một Chính phủ lâm thời Đông Dương trên đất Trung Quốc, mà theo ông thì chủ trương này không được Trung Quốc tán thành (14).
Nhưng Vincent, trước đây là quyền cố vấn đại sứ quán Mỹ lại nghĩ rằng người Pháp ở Trùng Khánh cũng nghi ngờ người Trung Hoa “đang mưu toan xúc tiến một cuộc vận động nhằm thiết lập một Chính phủ lâm thời ở Đông Dương” và phỏng đoán nhóm người Việt ở Liễu Châu đã được họ giúp đỡ để thực hiện ý đồ đó. Vincent đã nhắc tới việc Boncourt, cựu cố vấn đại sứ quán Pháp tại Trùng Khánh, cùng nhiều nhà chức trách Pháp đã tỏ ra rất mẫn cảm đối với mọi gợi ý về việc Trung Quốc có kế hoạch nhằm tranh chấp chủ quyền của Pháp ở Đông Dương.
Bộ trưởng Hull không hài lòng về thái độ lững lờ của Bộ Ngoại giao đối với trường hợp “ông Hồ”, ngày 30-6 đã điện cho đại sứ quán ta ở Trùng Khánh biết là tình hình “chưa hoàn toàn rõ ràng” và Hull muốn có một bản báo cáo bằng công văn tỉ mỉ hơn, kèm theo nhận xét của đại sứ quán về vấn đề này. Bản phúc đáp của Sprouse ngày 21-7 không nói gì đến việc ông Hồ bị bắt hoặc bị giam giữ mà chỉ xác định lại các báo cáo trước đó và phản ánh quan điểm của người Pháp cho rằng phong trào của người Việt Nam nói trên không có gì đặc biệt quan trọng trong lúc này. Sự việc này đã dừng lại ở đó vào tháng 7-1943.
Cố gắng đầu tiên của ông Hồ để thoát khỏi bị giam giữ và tranh thủ sự công nhận chính thức của Đồng minh đã không đi tới đâu. Câu chuyện trên tờ Đại công báo tuy có làm cho giới ngoại giao xôn xao ít nhiều nhưng rồi cũng bị lắng chìm đi trong cái biển quan liêu của Bộ Ngoại giao.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:34:28 PM
OSS VÀ “ÔNG HỒ”

Nhưng tình hình đã đổi khác, khi mà ở Trùng Khánh OSS ra sức xây dựng một hệ thống tổ chức hoạt động bí mật có hiệu quả. Đại diện của Mao Trạch Đông ở Trùng Khánh đã tiếp xúc với các sĩ quan OSS và SACO, và gợi ý rằng bằng con đường điều đình riêng có khả năng khiến cho nhà lãnh tụ Việt Nam đi theo phe Đồng minh.
Như chúng ta đã rõ, 1942 và 1 943 là những năm khó khăn cho hoạt động bí mật của Mỹ ở Đông Nam Á. Vì những lý do khác nhau, cả hai nước Pháp và Trung Quốc đều tỏ ra dè chừng đối với Mỹ, và cả hai đều đã từ chối không chịu trình bày ý đồ của mình hoặc cộng tác với Mỹ về các chủ trương chính sách đối với Đông Dương. Thực tế, họ đã có mưu đồ cách ly người Mỹ với các kế hoạch của họ. Pháp thì muốn ve vãn cảm tình và sự ủng hộ của người Anh, cùng là nước thực dân như nhau, để loại trừ người Mỹ. Còn Trung Quốc lại lo giành thế mạnh trên bàn đàm phán hoà bình sau này về các vấn đề đặc quyền ngoại giao và nhượng địa của Pháp ở Trung Quốc, nên Trung Quốc đã mưu tính với những người quốc gia Việt Nam nhằm thừa cơ hất cẳng Pháp ra khỏi thuộc địa cũ của Pháp.
Bằng nhiều con đường kín đáo khác nhau, gợi ý của những người cộng sản Trung Quốc đã được chuyển tới các đại diện của OSS ở Trùng Khánh. Không cho cả Miles và Tai Li biết, các đại diện của OSS đưa vấn đề ra thảo luận với OWI, với nhân viên Đại sứ quán; và họ đã đồng ý sẽ cho xúc tiến một cố gắng chính thức nhằm kéo Hồ Chí Minh ra khỏi nhà tù và điều đình để ông cộng tác với OSS.
Bây giờ chúng tôi mới hay là, cũng trong mùa hè và mùa thu 1943, khi OSS xúc tiến thương lượng qua đường ngoại giao và quân sự để giải thoát ông Hồ thì lúc đó tướng Trương Phát Khuê cũng đã làm áp lực để buộc ông hoạt động cho Quốc dân đảng. Trương đã gặp nhiều khó khăn rắc rối với các nhóm người Việt lưu vong ở Hoa Nam mà sự chia rẽ chống đối nhau về phương pháp tiến hành đấu tranh và những sự tranh giành quyền lực giữa các lãnh tụ đảng phái đã che lấp mất mục tiêu thống nhất đấu tranh giành độc lập đất nước họ đang theo đuổi. Trương đã lập luận rằng nếu muốn lợi dụng được các nhóm này để phục vụ cho Quốc dân đảng thì trong chiến tranh hay thời bình họ phải được thống nhất và tổ chức lại thành một khối thuần nhất thân Trung Quốc - Hồ Chí Minh đã được coi như là con người thích đáng nhất để đảm nhận công việc đó và “để giúp chấn chỉnh” Đồng minh Hội(15), mặt trận quốc gia do Trung Quốc đỡ đầu.
Tháng 11 năm đó được xem như là thời điểm mà Hồ Chí Minh đã được người Mỹ nghĩ tới, người Trung Hoa và các bạn Cộng sản của ông ở Việt Nam cho là biệt tăm vì họ chẳng được tin tức gì về số phận của ông ở Quảng Tây. Lúc đó cũng là lúc có hai bản kiến nghị xin tha cho ông được gửi đi từ Hiệp hội quốc tế chống xâm lược. Tài liệu Bộ Ngoại giao cho thấy con người lanh lợi Sprouse đã trình ngay bản kiến nghị cho Đại sứ và đề nghị gửi về Washington, kèm theo một công văn chuyển giao do Sprouse thảo. Nhưng cái lối làm việc quanh co ở đây đã giúp cho Đại sứ quán lẩn tránh được nhiệm vụ gay cấn phải giải quyết các vấn đề chính trị của người Pháp ở Đông Dương. Trong công văn, Sprouse đã ghi “người An Nam” chính là người được coi là đã bị bắt, là người đã được báo cáo gần một năm trước đây. Nhưng Gauss lại đề nghị Bộ trưởng “không nên phúc đáp bức thư của tổ chức người An Nam” khi mà người Pháp đã từ chối mạnh mẽ không công nhận sự tồn tại của “Hiệp hội”.
Lúc đó bản thân Đại sứ Mỹ cũng đang bị rối bận về các mối quan hệ Mỹ - Trung, một mặt là các vấn đề gay cấn trong cấp chỉ huy, giữa huân tước Mounbatten và Tưởng Giới Thạch, mặt khác là mối hận thù giữa Stilwell và Chennault. Các việc nhỏ nhặt khác như vấn đề Đông Dương đều được giao lại cho cơ quan giải quyết. Nhưng cơ quan, đặc biệt là Sprouse lại thường xuyên chịu ảnh hưởng và bị chi phối bởi Phái đoàn Pháp theo De Gaulle trong các sự vụ ở Đông Dương. Các quan chức phụ trách phái đoàn đã để nhiều thời gian và công sức thuyết phục người Mỹ rằng tất cả mọi người Việt Nam đều thân Pháp và mong đợi lực lượng thân De Gaulle quay trở lại, ở đó không có phong trào độc lập dân tộc quan trọng nào mà chỉ có người Trung Hoa khuyến khích một số ít người Việt bất mãn gây rối cho người Pháp. Bức thú gửi cho Hull, phản ánh ảnh hưởng của Pháp với Sprouse, đã kết luận “hình như không có cơ sở để nghĩ rằng các tổ chức quốc gia Đông Dương không đại diện gì cho một cái gì khác hơn là một mưu toan của Trung Quốc nhằm phơi bày một thái độ hữu nghị đối với các dân tộc bị lệ thuộc châu Á và đồng thời cũng nắm trong tay một hạt nhân tổ chức để phục vụ cho “những tình huống có thể xảy đến” sau này. Bức thư - báo cáo đến Washington ngày 12-1-1944 và đã được chuyển cho nhiều cơ quan để “biết và làm tài liệu”.
Mấy ngày sau, Lãnh sự quán của chúng ta ở Quế Lâm đã báo cáo là lãnh tụ của Đảng Cộng sản là “một ông Hoàng nào đó, đã từng cộng tác lâu năm với đảng Cộng sản Trung Quốc... Cơ quan lãnh đạo của phong trào đóng trong vùng phía nam tỉnh Vân Nam”. Đây hầu như là điều chắc chắn ám chỉ ông Hồ, nhưng tên thì chưa được xác nhận; đây không phải là “đồng chí Vương” như người ta đã nhiều lần được biết tên ông ở Quảng Đông, Liễu Châu và Côn Minh.
Hồ sơ của Bộ Ngoại giao đã cung cấp những tin tức có giá trị về vấn đề Powell/Langdon xin giấy phép nhập cảnh cho Hồ Chí Minh 6 tháng trước đó. Powell thuộc cơ quan OWI đã đến gặp Langdon, Tổng lãnh sự Mỹ ở Côn Minh và yêu cầu cấp thị thực nhập cảnh cho một người Đông Dương gốc Hoa “Ho Ting Ching”. Powell cho biết các nhà chức trách OWI New York đã định thuê người này trong một thời gian dài để phát thanh các bản tài liệu dịch tiếng Việt của OWI từ San Francisco.
Langdon đã trả lời là sẽ đồng ý cấp giấy nếu OWI yêu cầu và nói thêm rằng “Ho Ting Ching” cần phải xin một giấy phép thông hành do Chính phủ Trung Hoa cấp để đến công tác tại nước Mỹ và Langdon đã tỏ ra không tin là Ho Ting Ching đã có giấy đó. Langdon cũng lại cho biết trong bất cứ tình huống nào người Pháp cũng sẽ “rất bất bình” nếu “Ho Ting Ching” được đoán chừng cũng có thể là một người có quốc tịch Pháp, được đưa đến nước Mỹ để tuyển dụng vào làm nhân viên nhà nước mà người Pháp không được hỏi ý kiến trước.
Thấy có khả năng xảy ra nhiều điều phức tạp, Langdon đã hỏi xem ý kiến Bộ. Vấn đề được đặt ra cho Washington vào tháng 12-1944 và được chuyển tói Sprouse(16). Sprouse đã phải chuẩn bị một bản bị vong lục nói về “ông Hồ” cùng với những hoạt động và quan hệ của ông với OWI Côn Minh. Nhưng chứng chỉ nhập cảnh đã không được cấp.
Vấn đề xin nhập cảnh cũng như bài đăng trên Đại công báo và các kiến nghị xin trả tự do cho ông Hồ đã nằm chết trong đống hồ sơ của Bộ Ngoại giao. Nghĩ tới các bản danh sách các nạn nhân chiến tranh bi thảm của chúng ta trong những thập kỷ vừa qua, người ta chỉ có thể đau xót, hối tiếc đã để lỡ mất những cơ hội có khả năng làm chuyển biến thời cuộc đi theo một hướng khác như đã được trình bày ở trên. Còn đối với tôi lúc đó, ít ra tôi cũng đã nắm được một số đầu mối tổ chức kháng chiến của những người Việt Nam vào đầu năm 1945. Đó là một việc mà tôi cảm thấy có thể sẽ có ích cho tôi ở Trung Quốc. Nhưng lúc đó thì tôi không nhận thức được rằng những hồ sơ bị xếp xó đó và những cuộc điều đình của OSS ở Trùng Khánh đã thể hiện một cố gắng nhất định của Hồ Chí Minh chỉ nhằm để làm cho Mỹ chính thức công nhận “sự nghiệp” của ông ta.
Khi Hồ Chí Minh còn là khách của tướng Trương Phát Khuê tại nhà tù Tiên Dao thì Wendell Wilkie đến thăm Trung Quốc vào tháng 10-1942. Qua các báo chí cũ và các tin tức phát thanh bập bõm, ông Hồ cũng nắm được các sự kiện xảy ra trên thế giới và những lời công bố của Wilkie, và đã phát hiện được sự căng thẳng trong quan hệ giữa Mỹ, Anh, Pháp về vấn đề chủ nghĩa thực dân. Khi rời Trung Quốc Wilkie đã tuyên bố là người châu Á đang yêu cầu thi hành các nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương phù hợp với điều kiện đặc biệt của đất nước họ. Sau đó ông Hồ lại được đọc trên báo chí Trung Quốc những tin tức mới, những lời bình luận về cuộc trao đổi ý kiến giữa Churchill và Roosevelt về việc thi hành Hiến chương Bắc Đại Tây Dương. Vào 1945, trong một phút giễu cợt hiếm có của ông, ông Hồ đã hỏi tôi “phải chăng Hiến chương Bắc Đại Tây Dương chỉ là một bạn cùng đôi với 14 điểm Wilson được áp dụng cho các nước người da trắng châu Âu, ngoại trừ các nước thuộc địa Á – Phi”(17).
Trong những năm 1942-1944, vấn đề tự do của tất cả các dân tộc phụ thuộc đã trở thành một vấn đề quan trọng và người Mỹ đã nổi lên như một quán quân bênh vực cho lý tưởng này. Roosevelt và Cordell Hull yêu cầu các cường quốc thực dân châu Âu theo gương người Mỹ ở Philippin trong việc đặt nền tảng cho việc thực hiện độc lập của các nước thuộc địa cũ của họ. Roosevelt đã có lần nhấn mạnh quá mức đến nước Pháp ở Đông Dương và nói đến nền cai trị Pháp ở đây như là một điển hình nổi bật của chủ nghĩa thực dân áp bức bóc lột nặng nề.
Điều đó đã làm cho huân tước Halifax(18) phải yêu cầu Hull ngày3-1-1944 giải thích rõ hơn về ý đồ của Tổng thống Roosevelt. Theo bộ ngoại giao Anh thì Tổng thống Mỹ đã “xác nhận phần nào” những lời tuyên bố trong dịp đi Cairo và Téheran của ông với nội dung là “Đông Dương có thể sẽ được tách ra khỏi nước Pháp và đặt dưới quyền ủy trị quốc tế”. Halifax cho biết thêm là bản thân ông cũng đã nhiều lần được nghe Tổng thống có ý kiến như vậy nhưng không biết chắc những lời phát biểu đó của Tổng thống có phải đã là kết luận cuối cùng không. Người Anh ngại rằng những lời nhận xét đó của Tổng thống có thể tới tai người Pháp và sẽ gây ra nhiều sự lúng túng lớn.
Hull đảm bảo với Halifax là ông ta cũng chẳng biết gì hơn về việc này và gợi ý rằng có thể tốt hơn hết là Tổng thống và Churchill nên trao đổi với nhau về vấn đề này trong một cuộc gặp gỡ sau nào đó.
Câu chuyện giữa Halifax và Hull đã gây ra những tiếng vang xôn xao. Hai ngày sau, S.K. Hornbeck, cố vấn chính trị Bộ Ngoại giao, đã thông báo cho Hull biết tin nhà chức trách Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố rằng mặc dầu Trung Quốc mong muốn thấy Đông Dương được trả lại cho Pháp nhưng lại không muốn điều đó được thực hiện mà không có một số các điều bảo đảm nhằm ngăn chặn Pháp dùng Đông Dương vào những hoạt động không thân thiện đối với quyền lợi của người Trung Hoa sau này. Nói tóm tắt là tương lai của Đông Dương sẽ không được định đoạt nếu như không có mặt người Trung Hoa trên bàn Hội nghị Hoà bình. Chính trong bối cảnh của việc nhận thức mới này về sự quan trọng của Đông Dương mà Trung Quốc và OSS đã sử dụng Hồ Chí Minh trong năm 1944-1945.
Sau vụ “hạ tầng công tác”(19) ở Đồng minh Hội, ông Hồ thấy rằng mình đã có một cương vị vững vàng để tự do hoạt động, vai trò lãnh đạo đã được công nhận trong đám đồng bào bạn bè và không bạn bè của ông, nên ông đã sử dụng triệt để lợi thế mới của mình. Đồng minh rõ ràng sẽ chiến thắng ở châu Âu và ông Hồ đã thấy trước là toàn bộ lực lượng của bộ máy chiến tranh Đồng minh sẽ chuyển sang chống Nhật Bản. Ông Hồ cũng biết rằng thời giờ còn lại cho ông rất eo hẹp. Ông phải sẵn sàng, nếu không theo luật pháp thì trên thực tế, là người đại diện cho chính quyền ở Đông Dương đối với những người Đồng minh chiến thắng, nếu như ông giành và duy trì được sự kiểm soát của một nước Việt Nam độc lập. Trong thực tế, thời gian của ông còn bị hạn chế hơn ông tưởng rất nhiều vì có vụ nổ bom nguyên tử.
Nhờ có đầu óc phân tích, bản chất thực dụng và một sự thông hiểu sâu sắc tình hình chính trị thế giới, ông Hồ đã rất sớm rút ra kết luận phải tranh thủ cảm tình của nước Mỹ. Ông đã xác định được không thể coi Trung Quốc như là một Đồng minh và thậm chí còn hơn thế nữa, có thể trở thành đối kháng. Ông đoán trước sẽ không có một sự ủng hộ tích cực về phía nước Nga “anh dũng” đối với kế hoạch giành độc lập của ông, bởi ngay sau khi thắng trận họ đã bị kiệt sức vì chiến tranh. Trong khối Đồng minh phương Tây, các nước thục dân như Anh, Pháp và cả Hà Lan - sẽ nhất tề không thể nào khác được trong việc chống lại cuộc vận động chống chủ nghĩa thực dân của ông. Đối với những nước này thì chỉ có việc đẩy mạnh công cuộc đề kháng. Trong suy nghĩ của ông, nhất định là khi có cơ hội, Pháp sẽ đòi lại Đông Dương làm thuộc địa.
Chỉ còn có Mỹ, một khả năng cuối cùng của ông. Nhưng đồng thời Mỹ cũng là một điều bí ẩn đối vối tâm tình của một con người đã được đào luyện chính trị ở Matxcơva. Ông Hồ đã phải vắt óc suy nghĩ để tìm ra những điều khá lạ lùng để dung hoà những đòi hỏi về lý thuyết và thực hành của ông. Ông cảm thấy người Mỹ rõ ràng là chống thực dân, bối cảnh lịch sử, thành tích trước kia và những lời tuyên bố mới đây, tất cả đều chứng minh điều đó. Nhưng Mỹ cũng vẫn là tư bản. Những cải cách kinh tế xã hội của họ chưa thực sự “dân chủ”. Vô sản của họ thật chưa được “tự do” và được “giải phóng” như ở Nga. Nhưng chỉ còn có người Mỹ có lẽ mới chịu nghe và giúp đỡ phong trào của ông một cách có thiện cảm.
Cuối mùa xuân 1944, thoát khỏi được gánh nặng ở Đồng minh Hội, chưa bao giờ ông Hồ lại lo tranh thủ sự chú ý của người Mỹ như lúc này. Năng khiếu nhận thức và tính toán thời cơ của ông đã giữ vai trò quan trọng trong các sự kiện tiếp theo. Ông biết rằng OSS cho tổ chức những nhóm gián điệp người Trung Hoa để quấy phá Nhật Bản dọc theo bờ biển Trung Quốc và trong các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây. Lúc đó OSS ở Trung Quốc đánh giá cao cái vốn quý của ông Hồ trong lĩnh vực công tác tình báo và chiến tranh du kích, nhưng người Pháp và Trung Hoa ở Trùng Khánh đã hoạt động chống lại việc người Mỹ muốn sử dụng Việt Minh. Mặc dù vấp phải những trở ngại nói trên, giữa năm 1944, OSS và AGAS đã tiếp xúc với ông Hồ trong một cố gắng không thành nhằm tổ chức một lưới tình báo ở Đông Dương, sau khi ông đã cộng tác phần nào với người Mỹ trong công tác tuyên truyền.
“Ông già” mưu mẹo(20) đã phản đối việc sử dụng ông giống như những nhân viên người Trung Hoa khác. Ông muốn được công khai chính thức công nhận và ở cấp bậc cao nhất có thể được. Tất nhiên ông không có được sự ủy nhiệm ngoại giao cần thiết để làm việc với một cường quốc bên ngoài. Ông được Matxcơva công nhận nhưng Cộng sản hoàn toàn không được thừa nhận ở Trùng Khánh. Ông Hồ có được một cơ sở chính trị trung thành và có hiệu lực ở Đông Dương nhưng lại bị người Pháp ở đó đặt ra ngoài vòng pháp luật. Ông bị đàn áp ở Trung Quốc vì Trung Quốc ủng hộ bọn “tay sai bù nhìn” mà họ hy vọng để sử dụng cho những tín toán sau chiến tranh. Nếu người Mỹ muốn lợi dụng sự giúp đỡ của ông cho mình - và họ cũng mong muốn như vậy - thì họ buộc phải đối xử với ông một cách khá trang trọng hơn. Và một cuộc thương lượng giữa ông Hồ với những người của OSS tiếp cận với ông đã được xúc tiến.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:35:50 PM
ÔNG HỒ TÌM KIẾM SỰ CÔNG NHẬN CHÍNH THỨC
Vào tháng 8-1944, qua các sĩ quan OSS và OWI ở Côn Minh, Đông Dương Độc lập Đồng minh Hội đã gửi một bức thu đến Đại sứ Mỹ. Tác giả bức thư yêu cầu Mỹ giúp đỡ công cuộc đấu tranh giành độc lập của họ và cho họ được cơ hội chiến đấu chống Nhật bên cạnh các nước Đồng minh. Ngày 18-8, một sĩ quan OSS trình bức thư cho Langdon, kèm theo bình luận: “Những người cách mạng An Nam... hiện nay tinh thần rất cao... [và] họ mong việc yêu cầu Mỹ giúp đỡ được chấp nhận”. Và người sĩ quan đó phán đoán: “Sau chiến tranh, sẽ có rối loạn lớn ở Đông Dương, nếu như không có ít nhất một biện pháp sớm bảo đảm quyền tự trị thực sự cho đất nước này”.
Ngày 8-9, được OSS khuyến khích, Langdon đã gặp các tác giả bức thư. Theo lời kể lại của Langdon, ông Phạm Viết Tự, được coi như là người phát ngôn của họ, đã nói rằng họ “đến để tranh thủ cảm tình... của nước Mỹ”. Langdon đã đáp lại như sau:
“Họ hoàn toàn đúng khi làm cho người đại diện nước Mỹ biết đến những quan điểm và nguyện vọng của dân tộc Việt Nam trong khi mà người phát ngôn cấp cao nhất của chính phủ Mỹ đã nhiều lần tuyên bố bảo đảm sự quan tâm của chính phủ Mỹ đối với chính sách vì phồn vinh và tiến bộ của các dân tộc bị trị ở phương Đông, trong đó nhân dân Việt Nam cũng có thể tự coi như có mình”.
Và Langdon đã hứa với những người đối thoại rằng những ý kiến của họ sẽ được ông ta chuyển tới Chính phủ Mỹ. Nhưng Langdon lại nói tiếp:
“Người Việt Nam là công dân của nước Pháp, mà nước Pháp lại đang sát cánh cùng Mỹ đấu tranh... chống lại phe Trục. Thực không còn nghĩa lý gì nếu như một mặt Mỹ đã phải bỏ ra những chi phí rất lớn về người và của để chi viện và giải phóng nước Pháp khỏi ách nô lệ của người Đức mà mặt khác Mỹ lại đục khoét đế quốc Pháp”.
Phạm Viết Tự đã đáp trả:
“Người An Nam rất biết về tình hình hữu nghị lâu đời giữa Pháp và Mỹ, và Đồng minh Hội chúng tôi không có ý đồ đấu tranh chống lại Pháp mà chỉ muốn cho các hội viên của mình được đứng về phía Đồng minh đánh Nhật. Vì thế Hội đã có kế hoạch hành động theo hướng đó nếu như Mỹ bằng lòng cung cấp vũ khí và tiếp tế cho chúng tôi”.
Đến đây Langdon ngắt lời và nói rằng đó là một vấn đề quân sự nên Đồng minh Hội phải trực tiếp thảo luận với Bộ chỉ huy quân sự của Đồng minh.
Phạm Viết Tự nói lại ông chỉ muốn hạn chế ý kiến của mình ở khía cạnh chính trị của vấn đề và yêu cầu Langdon đề đạt rõ với Chính phủ Mỹ là ở đây chỉ nhấn mạnh đến vấn đề tự trị cho nhân dân Việt Nam. Một lần nữa Langdon lại kéo dài câu chuyện và nói rằng ông hy vọng Đồng minh Hội xem xét lại lời yêu cầu trên với một lập trường thực tế hơn và cũng nên thấy rằng trong đó có bao hàm một sự ép buộc có thể đối với Đồng minh Pháp.
Langdon nói thêm là người An Nam có gì phải kêu ca đối với người Pháp thì họ nên theo con đường thông thường mà nói chuyện thẳng với người Pháp.
Phạm Viết Tự đáp lại rằng về lý thuyết mà nói thì đó là một cách giải quyết chính đáng “nhưng bênh vực cho điều đó trong trường hợp của Đông Dương là ngu ngốc, không nhận thấy thực tế của tình hình, vì ở đó chỉ có áp bức, không có dân chủ”.
Một lần nữa Langdon lại đả vào các người khách của mình: “Dân An Nam không nên nhìn tiền đồ của mình một cách quá bi quan. Tháng 7(21) vừa qua, tướng De Gaulle đã có công bố với báo chí Washington rằng chính sách của Pháp là nhằm dẫn dắt mọi dân tộc trong đế quốc Pháp tiến tới tự trị...”.
Cuộc nói chuyện đã tiếp diễn theo cái kiểu đó để rồi dẫn đến một kết thúc tất nhiên không tránh khỏi.
Khi Phạrn Viết Tự và các bạn của ông báo cáo lại cho ông Hồ, họ đã tỏ ra thất vọng và chỉ có thể nói rằng họ đã được tiếp đón thân mật nhưng không được một lời hứa hẹn ủng hộ về chính trị nào. Điều tốt nhất mà họ hy vọng có thể đạt được chỉ là một sự giúp đỡ hạn chế về quân sự và cũng có thể chỉ được trả công các dịch vụ đã tiến hành. Nhưng ông Hồ không thất vọng, trái lại ông tỏ ra hoan hỉ, trước sự ngạc nhiên của mọi người kể cả các sĩ quan OSS...
“Đồng minh Hội” của ông đã tranh thủ được sự công nhận của một quan chức trong Chính phủ Mỹ và đã giành được lời hứa hẹn sẽ làm cho các nhà cầm quyền cao cấp nhất  ở Washington, có thể cả đến “Tổng thống Roosevelt vĩ đại”, phải quan tâm đến sự nghiệp chính nghĩa của Hội.
Nhưng ở Washington, người ta đã đi đến một kết luận rất khác. Người Pháp đã được chấp nhận trước một cách không có cơ sở thục tế, như là một nước Đồng minh chiến dấu chống lại các lực lượng của Nhật ở Trung Quốc. Không muốn bị bỏ quên trên chiến trường Thái Bình Dương và hy vọng chiếm lại chủ quyền ở Đông Dương, người Pháp đã dồn dập yêu cầu các Chính phủ Washington và London cho họ tham gia vào các kế hoạch quân sự ở Viễn Đông.
Về sau việc tham gia chính thức của Pháp càng trở nên phức tạp khi Pháp đòi có quyền xúc tiến các hoạt động bí mật “chuẩn bị tác chiến” ngay trên đất Đông Dương. Việc đó đã đến tai cả Roosevelt và Churchill. Churchill không phản đối ý đồ của Pháp nhưng lại không muốn công khai bác bỏ lập trường đã được công bố của Roosevelt cho rằng ngtiòi Pháp không được chiếm lại Đông Dương bằng võ lực. Vấn đề được đưa ra bàn bạc rộng rãi và đã là đầu đề cho hàng đống giấy tờ và công văn ngoại giao trao đổi trong nội vụ và giữa các Bộ Ngoại giao Mỹ - Anh.
Roosevelt rất bực bội trước những đòi hỏi khăng khăng của Pháp, Anh và đã chỉ thị cho Hull “không được làm gì cả đối với các nhóm kháng chiến hay bất cứ cái gì khác có liên quan đến Đông Dương...”. Và như thế là câu chuyện đã được chấm dứt vào ngày 16-10-1944, nhất là đối với các hoạt dộng của Pháp như Roosevelt đã có ý nói. Nhưng vấn đề cũng đã lại chấm dứt với cả các “nhóm kháng chiến”.
Về sau, điểm này đã được làm sáng tỏ vào mùa xuân 1945, khi các nhà cầm quyền Mỹ cuối cùng đã phải cho phép chỉ giúp đỡ cho các nhóm nào đã chuẩn bị đánh Nhật.
 


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:36:27 PM
ÔNG HỒ GẶP CHENNAULT
Trong lúc này, nhiều cuộc dàn xếp với ông Hồ đã được xúc tiến tại chỗ. Sau lần thương lượng mới với Trương Phát Khuê, ông được hoạt động tương đối tự do, và đã để một phần thời giờ cùng với các nhà chức trách OSS và OWI tham gia điều khiển công tác tuyên truyền của Đồng minh ở Côn Minh, Quế Lâm, Liễu Châu. Ông đã tận dụng các phương tiện của OWI để trau dồi thêm vốn tiếng Anh và sự hiểu biết thêm về lịch sử, phong tục tập quán Mỹ cũng như tình hình thời sự quốc tế. Ngoài ra, thỉnh thoảng ông lại cung cấp cho BIS tin tức quân sự về Nhật từ Đông Dương gửi tới, thực hiện công tác của tổ chức Việt Minh của ông và thu nạp người của các nhóm quốc gia đối lập. Đó cũng là một thời kỳ để ông Hồ tận dụng các khả năng thuận lợi của mình; nhưng trong thực tế, ông chỉ là một con tép nhỏ trong cái ao lớn và chắc chắn rằng đã chẳng có người Mỹ nào thấy được tầm quan trọng vai trò của ông trong tương lai.
Những người đi theo ông Hồ ở Đông Dương, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, mà người Mỹ ở Trung Quốc không hề biết, cảm thấy phấn khởi trước việc ông Hồ thoát khỏi sự giam cầm của người Trung Quốc, trước thắng lợi của Đồng minh ở châu Âu và Thái Bình Dương. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Võ Nguyên Giáp, họ đã tiến hành đánh phá các tiền đồn của Pháp và Nhật. Tiếp theo đó là những vụ đàn áp không thể tránh khỏi, cuộc “khủng bố trắng” của người Pháp. Người Việt Nam bị bắt giữ, nhà cửa bị đốt phá, tài sản bị tịch thu, làng xóm bị triệt hạ. Một số người Cộng sản được phát hiện bị bắn bỏ, bị chém đầu, hoặc bị chặt tay chân để bêu ra chợ. Chính quyền Decoux treo thưởng tiền và muối cho ai nộp được đầu các lãnh tụ cách mạng.
Những trận tấn công khủng bố của người Việt Nam và sự đàn áp dã man của Pháp đang còn diễn ra ác liệt vào 1944, khi có tin tướng De Gaulle vào Paris. Giáp trở nên nôn nóng và muốn phát động một cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại cả Pháp lẫn Nhật, nhưng nhiệt tình của ông đã bị các lãnh tụ khác thận trọng hơn kìm lại và cuộc khởi nghĩa đã bị hoãn. Nhưng những cuộc đàn áp của Pháp vẫn tiếp tục và phong trào cách mạng có nguy cơ bị tiêu diệt. Từ Côn Minh, ông Hồ ra lệnh “đình chỉ lại tất cả”, cho đến khi ông có thể về đến Pác Bó, hành dinh chiến đấu của ông trong vùng rừng núi tình Cao Bằng.
Cuối tháng 11, ông Hồ gặp Giáp và các chiến sĩ khác ở Bắc Kỳ. Ông thảo luận với họ về tình hình, phê phán tính nóng vội của họ và chỉ cho họ biết rằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang nổ ra lúc đó là quá sớm và sẽ thất bại. Để nâng cao tinh thần họ và ngăn chặn những hành động liều lĩnh có thể làm nguy hại cho phong trào, ông Hồ cho thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và cử Giáp làm Tổng chỉ huy. Ban đầu, đội tập trung vào tuyên truyền phổ biến và giáo dục cho dân chúng về chiến thuật du kích; và sau đó đội đã trở thành tiền thân của Quân dội Nhân dân hiện nay mà Giáp là Tổng tư lệnh và là người anh hùng.
Sau khi đã giải thích và trấn an những người đi theo, ông Hồ quay trở lại Côn Minh. Khi đi qua vùng Cao Bằng gần biên giới Trung Quốc, ông Hồ gặp một người phụ tá tin cẩn khác là Phạm Văn Đồng, người trước đây đã đề xuất ra các bản yêu sách cho Gauss và Tưởng Giới Thạch để xin tha cho ông Hồ ra khỏi nhà tù. Qua Đồng, tình cờ ông Hồ biết là có một phi công Mỹ bị hạ đang được giữ trong một đơn vị du kích của Giáp ở gần đó. Người phi công đó chính là một trong 9 nhân viên hàng không mà nhóm GBT báo cáo là đã nhảy dù ra khỏi máy bay sau trận đánh trên vùng Sài Gòn.
Hay tin có một phi công Mỹ đang được giữ ở một nơi an toàn, ông Hồ nắm ngay lấy thời cơ may mắn này và ra lệnh cho đưa người Mỹ đó đến gặp. Sau một lúc nói chuyện thân mật và tin chắc rằng người Mỹ đã thấy được sự giúp đỡ của người Việt Nam, ông đã chỉ thị cho Đồng cho hộ tống người Mỹ đó, không phải chỉ giản đơn đến biên giới, mà đến thẳng cho người Mỹ ở Trung Quốc. Đây là một dịp thuận lợi nữa để ông Hồ đề cao phong trào cách mạng với người Mỹ và làm cho họ phải chính thức công nhận phong trào của ông.
Ông Hồ trở lại Côn Minh vào tháng 2 rét lạnh. Ở đó ông đã tiếp xúc ngay với các bạn ở OSS và OWI. Ông tỏ ra lo lắng về các cuộc điều động quân mới đây của Pháp và Nhật. Ông cho việc quân Pháp và cả quân Nhật cũng triển khai lực lượng trên các vùng rừng núi Bắc Kỳ và Lào là một điều lạ lùng. Ông Hồ đã không thể biết rõ về các cuộc điều động binh lực này nhưng chắc chắn là có một cái gì đó quan trọng đang được chuẩn bị. Theo ông có thể có cuộc tiến quân phối hợp Pháp - Nhật về hướng Vân Nam phủ(22) ở phía Bắc hoặc về Nam Ninh ở phía Đông.
Điều mà ông Hồ không biết là đội tuyên truyền mới của ông sắp sửa là mục tiêu cuộc hành quân càn quét của quân Pháp nhằm triệt để hoàn toàn “bọn phiến loạn”. Cuộc hành quân này đã được dự định tiến hành trong tuần lễ bắt đầu từ 10-3. Trong khi chuẩn bị, một số đơn vị quân Pháp ở Bắc Kỳ đã được dàn ra ở phía Bắc, hướng vào các căn cứ địa quân du kích Việt Nam. Thật ra, đó chỉ là một bộ phận trong kế hoạch to lớn chủ yếu của tướng Mordant bố trí toàn bộ quân của ông ở phía Bác để chờ “cuộc đổ bộ của quân Đồng minh” vào Đông Dương. Cuộc hành quân càn quét chỉ là một kế hoạch che giấu nhưng đồng thời đó cũng là một đòn Mordant muốn trả đũa cho “nhóm người An Nam phản bội”.
Nếu như ông Hồ và ông Giáp không hay biết gì về ý đồ nhằm tiêu diệt lực lượng nhỏ bé của họ thì người Pháp lại càng bất ngờ hơn với người Nhật: Nhật đã đột nhiên tấn công quân Pháp chiều ngày 9-3, ngay trước khi cuộc hành quân của Pháp bắt đầu. Như sau này đã rõ, người Nhật đã tước vũ khí và bắt giam tất cả những lực lượng quân sự cùng với những nhà lãnh đạo Pháp, trong đó có tướng Mordant và Aymé, và đã tước quyền của các quan chức mọi cấp - từ Decoux cho đến tên thư ký quèn. Như đã nêu trên, chỉ có những người Pháp trong các đội quân được triển khai ở bắc Bắc Kỳ và Lào(23) để nhằm càn quét vùng rừng núi quân du kích Việt Minh và chờ “quân Đồng minh” đến mới thoát được ra ngoài cú vét lưới của Nhật.
Chỉ có Hồ Chí Minh và mặt trận Việt Minh của ông ta là đã được lợi gấp đôi trong cái cú đánh lớn may mắn này. Họ đã được cứu thoát khỏi những người Pháp đang nhằm tiêu diệt họ, những người mà sau này họ đã che chở và cho ẩn náu khi rút lui qua Trung Quốc. Còn nhân dân Việt Nam thì tạm thời đã được “giải phóng” khỏi những ông chủ Pháp của họ.
Luồng tin tức tình báo từ Đông Dương cho đến lúc đó vẫn còn hạn chế, đã bị tắc trong ngày một ngày hai. Cú đảo chính của Nhật đã làm ỉm đi mất tất cả mọi đường dây thông tin quân sự, chính trị của mạng lưới SACO và GBT. Tướng Chennault bên hàng không đòi cung cấp các mục tiêu tình báo; người Trung Hoa gặp khó khăn nguy hiểm trong việc triển khai các lực lượng trang bị đơn sơ và nghèo nàn của họ, cũng như trong việc xây dựng các cứ điểm phòng thủ của họ dọc theo biên giới Đông Dương mà không nắm được tin tức về sự bố trí quân Nhật. Vì vậy phải cấp bách mở lại các đường giao liên và các hoạt động bí mật để bảo đảm cho các kế hoạch chống Nhật ở Trung Quốc và Thái Bình Dương của Đồng minh thành công.
Trong tình hình khẩn cấp đó, lãnh đạo OSS được chỉ thị phải làm mọi việc có thể được để mở thông lại luồng tin tức và đã cho phép được sử dụng “tất cả mọi nhóm kháng chiến”. Đây rõ ràng là một sự thay đổi trong chính sách cấm đoán của Tổng thống từ tháng 10 trước và cũng có nghĩa là OSS đã được quyền tự do tiếp xúc với Hồ Chí Minh.
Fenn, trung uý hải quân của chúng ta, lúc đó được phái đến công tác ở AGAS, đã dược nghe nói về một “người An Nam tên là Hu Tze Minh” đã giúp cho viên phi công bị hạ “Trung uý Shaw” trở về Trung Quốc. Fenn lại được biết “Hu Tze Ming” đã ở Côn Minh và “thỉnh thoảng” xuất hiện trong các cơ quan của OWI. Fenn thu xếp để gặp người An Nam đó vào chiều 17-3. Đó tất nhiên là Hồ Chí Minh.
Khi tôi đến Côn Minh vào tháng 4-1945, tôi đã có dịp đọc một số báo cáo của Fenn nói về việc tổ chức “các lưới tình báo bản xứ trong nội địa Đông Dương”. Nhưng các báo cáo này không có những chi tiết mà trung uý Fenn đã đưa ra sau này trong quyển sách in năm 1973 của ông(24). Một số ít các chi tiết này (mà tôi đã xác nhận trong tập ghi chú chính thức vào lúc đó) đã nói rất xác đáng về những thắng lợi chính trị của Hồ Chí Minh vài tháng sau đó.
Trung uý Fenn đã kể lại cuộc gặp gỡ đầu tiên của Fenn với ông Hồ: “Hồ đi cùng với một người trẻ tuổi là Phạm(25)... Hình như ông ta đã được gặp... Glass và De Sibour, nhưng chẳng thu được gì ở các vị này. Tôi đã hỏi xem ông Hồ muốn gì ở họ. Ông Hồ nói - chỉ có vấn đề công nhận nhóm của ông ta (gọi là Mặt trận Đồng minh hay Mặt trận Độc lập)”. Sau đó ba hôm, họ gặp nhau lại để chuẩn bị cho ông Hồ trở về Đông Dương, nơi sẽ được đặt các trạm thu tin tình báo với các máy vô tuyến của OSS và các hiệu thính viên người Việt do OSS đào tạo.
Ông Hồ đã gợi ý với Fenn rằng ông ta muốn được gặp tướng Chennault. Fenn chỉ đồng ý thu xếp cuộc tiếp kiến nếu như ông Hồ chấp nhận không được đòi hỏi ở Chennault bất cứ điều gì: “việc xin tiếp tế cũng như hứa hẹn ủng hộ. Hồ tán thành”. Ngày 29-3, Fenn, Bernard và Hồ Chí Minh được đưa đến cơ quan và giới thiệu với tướng Chenjlault.
Fenn kể lại: “Chennault rất cảm ơn ông Hồ về việc người phi công được cứu thoát. Ông Hồ đáp lại bao giờ ông cũng sung sướng được giúp đỡ người Mỹ và đặc biệt giúp tướng Chennault mà ông ta hết mực ca tụng. Họ chuyện trò về đội Hổ bay. Chennault tỏ ra hài lòng về những câu chuyện mà ông Hồ biết chung quanh vấn đề này. Họ bàn chuyện cứu các phi công bị nạn. Không ai nói gì đến người Pháp hoặc nói chuyện chính trị. Tôi thở phào khi mọi người sắp từ biệt nhau. Lúc đó, ông Hồ nói rằng ông muốn xin một vật kỷ niệm nhỏ... Và tất cả cái mà ông muốn chỉ là một cái ảnh của tướng Chennault... Đúng lúc... một tập ảnh 8x10 được đưa ra. “Hãy chọn lấy”, Chennault nói. Ông Hồ cầm lấy một chiếc ảnh và hỏi tướng Chennault có vui lòng cho xin chữ ký?' Chennault liền viết ở dưới “Bạn chân thành của anh. Claire L. Chennault”.
Theo ý ông Hồ thì việc được tướng Chennault tiếp là hết sức quan trọng vì được coi như là một sự công nhận chính thức của Mỹ. Nhưng tấm ảnh có chữ ký đã trở thành vật có ý nghĩa quan trọng sống còn đối với ông khi ông rất cần một chứng cứ cụ thể để thuyết phục một số người Việt Nam quốc gia đa nghi rằng ông đã giành được sự ủng hộ của Mỹ. Đó chỉ là một mưu mẹo không có cơ sở nhưng cũng đã đạt được kết quả.
Khi Fenn, Bernard và Tan điều đình với AGAS để chở ông Hồ đến vùng biên giới Trình Tây để rồi từ đó ông đi bộ về Pác Bó, tôi cũng dùng “Humpll”(25) bay tới Côn Minh để tiếp quản các công tác ở Đông Dương.
________________________________________
 (1) Ban không trợ mặt đất, tổ chức cứu các phi công bị rơi ở chiến trường Trung Hoa, tương tự như BAAG của Anh.
(2) “Người hùng” của Churchill, lúc đó đang hoạt động bí mật dưới danh nghĩa là người Mỹ.
(3) Đại tá  N.B. De Pass
(4) Trưởng ban Ngoại vụ của Quân sự Ủy viên hội, giám đốc Cục tình báo quân sự Trung Quốc.
(5) Ban tham mưu kỹ thuật không lực mặt đất, đơn vị 5329
(6) sĩ quan MO của OSS ở Miến Điện
(7) thuộc đông bắc Côn Minh, cách biên giới Đông Dương 30 dặm
(8) Nha thông tin chiến tranh
(9) Bí thư thứ ba của Đại sứ quán ở Trùng Khánh
(10) Bí thư thứ hai của Đại sứ quán ở Trùng Khánh
(11) Tư lệnh Đệ tứ chiến khu
(12) Bộ trưởng Bộ tổ chức Ban chấp hành Trung ương Trung Hoa Quốc dân đảng
(13) giám đốc Viễn Đông sự vụ Bộ Ngoại giao
(14) ý Vincent muốn chỉ tổ chức Việt Minh
(15) tức Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội
(16) lúc này Sprouse đã được chuyển về Bộ Ngoại giao
(17) Tại hội nghị Versailes 1919, ông Hồ, lúc đó mang tên Nguyễn Ái Quốc, đã thay mặt cho Đông Dương, gửi kiến nghị (bản Yêu sách 8 điểm) cho tổng thống Wilson nhưng không có kết quả.
(18) Đại sứ Anh ở Mỹ 1941-1946
(19) Để đáp lại việc Trung Quốc trả lại tự do vào tháng 8-1943, ông Hồ đã đồng ý hợp tác với tướng Trương Phát Khuê tổ chức lại Đồng minh Hội. Ông Hồ cũng phải hứa cộng tác với người Trung Quốc trong việc thu thập tin tức tình báo.
(20) lúc đó ông Hồ 54 tuổi
(21) năm 1944
(22) Côn Minh
(23) lực lượng dưới quyền tướng Galwel Sabattier, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ và tướng Wavcet Alessandri
(24) Charles Fenn, Hồ Chí Minh, 1973
(25) Sau này chính Phạm Văn Đồng đã xác nhận ông là người đi cùng ông Hồ trong lần gặp gỡ với Fenn
(26) tuyến đường bay ở phía đông Himalaya, được Đồng minh sử dụng để vận chuyển người và đồ tiếp tế từ Ấn Độ sang Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:39:14 PM
PHẦN II
CÔN MINH
Chương 7

Điều mà Washington đã không biết
HỖN LOẠN
Chuyến bay của tôi đến Côn Minh lúc đó mất khoảng độ một tuần, qua chừng 13.000 dặm từ New York. Chiếc phi cơ C.47 lăn bánh vào sân bay Côn Minh chiều tối ngày 13-4-1945, không ai nghênh đón và cũng chẳng ai biết đến. Một lái xe người Hoa đến gặp và đưa tôi về nhà nhân viên OSS. Ở đó người quản ly chia cho tôi một mảnh giấy của trung tá Paul L.E. Helliwell(1) “Hoan nghênh dã đến Trung Quốc, sẽ gặp ở buổi điểm tâm”. Sáng hôm sau, ở Câu lạc bộ sĩ quan, một sĩ quan người cao, dáng dễ coi, đã nhẹ nhàng đi qua phòng ăn và giơ tay chào đón tôi. Ông tự giới thiệu là “Paul” với một nụ cười gượng trên môi. “Tôi sung sướng được gặp anh”, và ông nói thẳng cho tôi biết rằng mọi việc ở đây đều “rối tung lên” và Washington đã “chẳng được giúp đỡ gì cả”. Sau bữa ăn, chúng tôi về khu vực của OSS, một khu có sáu hay bảy nhà cao tầng chung quanh sân và có tường bao quanh. Cơ quan treo cờ rủ - Tổng thống Roosevelt đã mất trước đây hai hôm.
Chúng tôi đến thẳng dãy nhà hai tầng dài và vào nhiệm sở của đại tá Heppner. Thông thường Heppner điều khiển công việc từ cơ quan đóng ở Trùng Khánh, cạnh hành dinh của Wedemeyer, Đại sứ quán Mỹ và chính phủ Trung ương Tưởng Giới Thạch. Nhưng khi tôi tới thì Heppner cũng đến Côn Minh chủ trì một cuộc hội nghị hoạch định kế hoạch cho các hoạt động của OSS ở Đông Dương.
Cuộc đảo chính mới nổ ra của Nhật và các cuộc chuyển quân làm cho người ta phải tính đến khả năng người Nhật tiến về phía Côn Minh và các điểm khác dọc sườn phía nam quân Tưởng, Bộ tư lệnh của Wedemeyer đã chỉ thị cho OSS phải ngăn chặn cuộc tiến quân của Nhật và hội nghị phải làm sáng tỏ các quan hệ Mỹ - Pháp và quyền hạn của OSS được hoạt động ở Đông Dương. Heppner muốn tôi tham dự hội nghị và cuộc gặp mặt đã chuyển thành buổi giới thiệu tôi tham gia vào giới hoạt động ở Trung Quốc, liền ngay sau khi tôi mới chân ướt chân ráo rời khỏi cái bầu không khí đầy cao thượng và thanh khiết của Washington. Cứ như là một cuộc nhảy ào vào nước lạnh. Heppner mở đầu hội nghị và nói rằng tình hình đòi hỏi phải có hành động cấp bách nhưng chính sách Mỹ thì không rõ ràng. Đặc biệt là OSS không biết phải giúp cho người Pháp đang rút lui ở Bắc Kỳ chống cự lại Nhật hay chạy trốn sang Trung Quốc. Người phát ngôn của Đại sứ quán cũng như của Chiến trường có mặt ở đó đều không ai có thể trả lời được câu hỏi này. Đại diện của tướng Chennault giữ lập trường là cả hai việc đều cần được xúc tiến và đưa ra hai bức công điện để hỗ trợ cho quan điểm của mình.
Bức thứ nhất của tướng Marshall gửi cho Chennanlt đề ngày 19-3, trong đó có một đoạn nói: “thái độ mới của Chính phủ là giúp đỡ cho người Pháp với điều kiện là không được để cho sự viện trợ đó ảnh hưởng đến các chiến dịch đã được hoạch định. Đội không quân thứ 14 có thể tiến hành các trận đánh vào quân Nhật ở Đông Dương để chi viện cho người Pháp trong khuôn khổ đã định của chính sách nói trên”.  
Bức thứ hai, mới hơn, của Tham mưu trưởng Liên quân gửi cho Wedemeyer và đề ngày 9-4, yêu cầu Wedemeyer “nghiên cứu việc thả dù một số hàng tiếp tế nào đó (vì những mục đích nhân đạo) nhưng việc thi hành thì vẫn do chiến trường Trung Hoa quyết định”. Rõ ràng là Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân muốn tránh không đi thẳng vào vấn đề và muốn chuồi cho Wedemeyer trách nhiệm quyết định ra lệnh: đó là điều mà Heppner muốn được thấy chiến trường chấp nhận trước khi ông ta quay về Trùng Khánh. Hội nghị ngừng họp vào buổi trưa.
Trong khi tôi vắng mặt, Helliwell đã nắm lấy chồng hồ sơ tài liệu trong cơ quan tôi, và với một niềm thích thú độc ác, đã ghi lại cho tôi mấy chữ: “Để đánh giá tốt hơn nữa đối với tổ Đông Dương sự vụ (FIC Affair) lộn xộn”. Các tập hồ sơ này mang những cái tên cũng nói lên được một cách không úp mở: “Chính sách Mỹ - Đông Dương thuộc Pháp”, “kế hoạch Quail”(2), “người Pháp ở Đông Dương”, “phái đoàn quân sự Pháp - M.5”, “Người An Nam trong các hoạt động của SI – SO” và v.v... Khi xem lại các tài liệu, tôi mới thấy rõ rằng nhiều vấn đề chính sách còn rất mù mờ và trong các quan hệ quốc tế về địa phương của chúng tôi thì đầy rẫy những cuộc đấu tranh chính trị nội bộ tương tàn và xung đột về mục tiêu chiến tranh và các vấn đề về tác chiến đòi hỏi phải có sự quyết định của cấp cao nhất. Trước khi khởi sự hoạt động, tôi thấy cần phải có một cuộc thảo luận sâu sắc, đưa ra quyết định cuối cùng về các vấn đề nói trên và nó phải được đưa tới các cấp ở Trùng Khánh và Washington.
Ngày hôm sau, Helliwell triệu tập các sĩ quan tham mưu, chủ yếu để bàn về “kế hoạch Quail”, một hoạt động quan trọng của SI ở Đông Dương mới được trên thông qua. Trong những người có mặt, tôi thấy có đại uý (sau là thiếu tá) Robber E. Wampler, thủ trưởng phòng SO, ông R. Dulin, đại diện cho phòng Mountbatten, một đại diện của X2 (phản gián), một báo cáo viên của cơ quan R&A(3), và thiếu tá (sau là đại tá) A.R. Wichtrich thay mặt cho AGAS.
Ngay từ lúc tôi phụ trách kế hoạch “Quail”, Helliwell đã giúp tôi cho kiểm điểm lại tình hình từ khi ông đến chiến trường (vào ngày 25 tháng Giêng trước) và nghiên cứu các vấn đề phải đối phó, các tiến bộ đã đạt được trước khi đi vào thảo luận các vấn đề mới.
Báo cáo viên của R&A nêu tóm tắt về các hoạt động tình báo ở Đông Dương. Theo ông, từ những ngày Nhật chiếm Đông Dương, các giới liên quan người Pháp, Anh và Trung Hoa thỉnh thoảng cũng đặt được những trạm thu tin, đường giao liên và mạng lưới điện đài để nhằm đáp ứng các yêu cầu riêng của họ, nhưng những hoạt động đó thường không kết hợp với các mục tiêu của Đồng minh và nhiều khi lại cạnh tranh với nhau. Chỉ có nhóm GBT là ngoại lệ và đã cung cấp được nhiều tin tức quân sự cho Bộ chỉ huy Đồng minh. Nhưng cả nhóm này cũng chỉ là một tổ chức không có hình thức rõ rệt, theo đuổi những mục đích khả nghi, và chỉ được đặt dưới một sự kiểm tra mơ hồ của Đồng minh. Dẫu sao đi nữa thì từ khi có cuộc đảo chính của Nhật, mọi nguồn tin tình báo từ Đông Dương, bao gồm cả nhóm GBT đều im lặng.
Báo cáo của R&A lại cho biết là ngay từ đầu tháng 11-1944, tướng Wedemeyer đã quyết định cho tiến hành mạnh mẽ một chương trình hoạt động bí mật ở chiến trường Trung Quốc và đã yêu cầu tướng Donovan xúc tiến thực hiện vấn đề này.
Trước sự phản ứng của Nhật đối với thắng lợi của Đồng minh ở Thái Bình Dương và hoạt động của Pháp ở Đông Dương, Helliwell, ngày 1-3 (trước cú Nhật Bản) đã phải vội vã xin chỉ thị hướng dẫn của Bộ tư lệnh chiến trường. Helliwell đã được trả lời là ông không được làm việc với “người bản xứ hoặc các nhóm cách mạng” và “trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được gửi tiếp tế cho bất kỳ ai ở Đông Dương...(cũng như) không được làm việc với người Pháp nếu không thông qua những tiếp xúc cấp cao ở Trùng Khánh”. Helliwell lại còn được Hepper nhắc thêm “theo lệnh trực tiếp của Tổng thống, OSS bị cấm không được ra những quyết định về chính sách đối với Đông Dương thuộc Pháp”.
Cú mồng 9-3 đã gây ra một tình trạng cực kỳ hỗn độn ở Trung Quốc. Giữa lúc đó, cả tướng Wedemeyer lẫn đại sứ Hurley đều ở Washington họp với Tổng thống, Tham mưu trưởng liên quân và người cầm đầu Bộ Ngoại giao và Bộ Chiến tranh. Tướng Chennault thay Wedemeyer khi vắng mặt và đại diện lâm thời Atcheson điều khiển đại sứ quán. Vì không có tin tức cụ thể từ Đông Dương nên không thể lường được những ý đồ về chiến lược của Nhật. Tưởng lo sợ một cuộc tiến quân lên phía bắc vào đất Trung Quốc. Người Pháp kêu la xin được tiếp cứu và Chennault thì không nhận được chỉ thị gì. Chennault tuy là người thú hai sau Wedemeyer nhưng thường không biết tới các cuộc thảo luận về đường lối chính sách ở cấp cao. Theo quan điểm của các nhà chính trị thì vai trò sĩ quan không quân cao cấp của ông ở Trung Quốc là chiến thuật hơn là chiến lược. Do đó khi nổ ra cú 9-3, Chennault đã bị đặt vào tình thế khá tế nhị.
Chennault đã không được hay biết gì về cuộc thảo luận ngày 26-1 giữa Clarac, cố vấn Đại sứ quán Pháp, Wedemeyer và Hurley về vấn đề quan hệ Nhật - Pháp “đang đi đến một cuộc khủng hoảng” và cả vấn đề người Nhật yêu cầu Pháp bố trí một sư đoàn mới ở biên giới Bắc Kỳ và Trung Hoa v.v.... Chennault cũng chẳng được báo cho biết việc Wedemeyer có liên lạc trực tiếp với trung tướng J.F. Hull(4) ở Hội nghị Yalta, cũng như việc Wedemeyer đã được Hull thông báo cho biết là tướng Marshall đã trao đổi với Tổng thống về vấn đề các hoạt động tình báo ở Đông Dương. Đặc biệt là: “Tổng thống đã cho Marshall biết rằng ông không có gì phản đối việc (Wedemeyer) cho tiến hành các hoạt động tình báo và lật đổ ở Đông Dương. Tổng thống đồng ý với bất cứ điều gì làm để chống lại người Nhật nhưng với điều kiện là chúng ta không đuợc sắp cùng hàng với người Pháp. Tổng thống cũng không thay đổi thái độ trong việc đối xử với các nhà chức trách Pháp về vấn đề công nhận chính thức quyền lợi của Pháp ở Viễn Đông”.
Những thông tin cơ bản này đã không có giá trị gì đối với Chennault và sau ngày 9-3, khi người Pháp lên tiếng cầu cứu, Chennault đã dùng quyền chỉ huy của mình để đáp lại lời kêu gọi của Pháp. Chennault đã dựa vào một bức điện mơ hồ của Bộ Ngoại giao cho phép Wedemeyer “giúp đỡ người Pháp” trong trường hợp họ phải tới Trung Quốc để “xin viện trợ về thuốc men”, miễn là có thông báo cho người Trung Hoa biết.
Chennault đã gặp Tưởng Giới Thạch vào sáng 10-3 cùng với tướng Hà Ứng Khâm. Chennault hỏi Tưởng xem người Pháp có thể bị tước vũ khí không nếu như họ kéo vào Trung Quốc và không nghiêm chỉnh chống cự lại người Nhật. Tưởng chỉ đáp lại là người Pháp “có thể ở lại Trung Quốc trong một khu vực riêng..”. Đối với câu hỏi phải làm gì nếu như người Pháp tiến hành một cuộc chống cự kiên quyết, họ có bị phó mặc cho số phận của họ hay chúng ta sẽ đưa quân sang hỗ trợ cho họ; Tưởng đáp “nếu có chống cự kiên quyết thì cũng có thể được giúp đỡ”.
Trong khi thiếu một chính sách rành rọt, Chennault đã quan niệm chỉ thị mập mờ của Bộ Ngoại giao và những lời phát ngôn nước đôi của Tưởng là ngọn đèn xanh cho phép ông giúp Pháp. Chennault đã phái các cơ quan tình báo của mình (OSS/AGFRTS) đột nhập vào Đông Dương để tiếp xúc với các nhân viên hàng không người Pháp và thu xếp việc thả dù tiếp tế vũ khí, đạn dược, thuốc men và lương thực. Nhưng đến ngày 20-3, Bộ Chiến tranh đã ra lệnh cấm Chennault cung cấp vũ khí và đạn dược, mà chỉ cho phép thả bom và bắn phá quân Nhật ở Đông Dương.
Bốn năm sau tướng Chennault đã đánh giá tình hình của ông như sau:
“Chính phủ Mỹ rất quan tâm đến việc người Pháp bị đánh bật ra khỏi Đông Dương, vì việc đó sẽ làm dễ dàng hơn vấn đề tách người Pháp ra ngoài thuộc địa của họ sau chiến tranh. Lúc đó, người Anh lại ra sức phục hồi lại hệ thống các thuộc địa của họ ở Viễn Đông và coi việc thất bại của người Pháp ở Đông Dương là vô cùng tai hại cho uy tín của chính đế quốc mình. Khi các máy bay vận tải Mỹ tránh không đến Đông Dương thì các phi đội hàng không Anh có nhiệm vụ tiếp tế mọi mặt cho người Pháp từ Calcutta, thả dù cho họ súng tiểu liên, lựu đạn và súng cối.
Tôi đã nghiêm chỉnh thi hành mệnh lệnh cấp trên đúng từng chữ, nhưng thực sự tôi đã chẳng thích thú gì với cái ý nghĩ phải để mặc cho người Pháp bị tàn sát trong rừng sâu khi mà tôi chính thức bị buộc không được biết đến cảnh ngộ của họ”.(5)
Trở lại cuộc hội nghị, các vấn đề của Helliwell đặt ra rất khác với tướng Chennault. Trong khi Chennault nhận được chỉ thị phải đình chỉ gửi vũ khí đạn dược cho người Pháp ở Đông Dương thì OSS lại nhận được lệnh phải xây dựng những mạng lưới tình báo mới ở đó. OSS đã nhận được hai bản chỉ thị. Cả hai bản đều do tướng Marvin E. Grose, quyền tham mưu trưởng, ký thay cho tướng Chennault, tư lệnh chiến trường Trung Hoa.
Bản chỉ thị thứ nhất cho phép thành lập các lưới tình báo ở Đông Dương và cho phép viện trợ bất kỳ “nhóm kháng chiến nào mà việc chống đối tích cực với quân đội Nhật sẽ làm tăng thêm thuận lợi cho các hoạt động của Mỹ và Trung Quốc”. Ở đây có hai điểm quan trọng: sự viện trợ được hạn chế trong những việc không được gây trở ngại cho các cuộc hành quân đã được hoạch định và đang được xúc tiến trên chiến trường Trung Hoa; phải hết sức thận trọng trong khi hoạt động để làm sao cho “tất cả các nhóm đều được phân phối công tác một cách không thiên vị, bất kể họ có nguồn gốc chính trị hay sự liên kết với một Chính phủ riêng biệt nào”. Bản chỉ thị thứ hai đòi OSS phải thành lập nhiều trạm vô tuyến điện để phục vụ cho cả OSS và Phái đoàn quân sự Pháp. Các bản chỉ thị nói trên đã thúc đẩy OSS hoạt động nhưng đồng thời cũng đặt OSS vào một tình thế khá tế nhị và dễ gây lúng túng cho Pháp. Helliwell giải thích là người Pháp đã nài ép để xin được tiếp viện nhiều vũ khí và trang bị chiến đấu, mà làm như thế thì chỉ gây trở ngại cho các kế hoạch tác chiến của chiến trường vì phải giảm bớt đi không ít khả năng của không lực và, “khối lượng hàng tiếp vận của Hump”. Theo các chỉ thị mới thì cũng trong thời gian này, OSS lại được giúp đỡ người Việt Nam quốc gia. Những người này cũng đòi hỏi vũ khí và trang thiết bị chiến đấu nhưng với một khối lượng nhỏ bé, không cần đến một sự bảo đảm hậu cần quan trọng hoặc phải điều chỉnh lại các kế hoạch hoạt động đã được vạch ra.
Tôi nêu vấn đề là trong tháng qua không biết đích xác là Pháp đã có tiến hành một cuộc chống cự có tổ chúc nào không. Helliwell xẵng giọng đáp lại ngay: “Chết tiệt! Không có gì hết! Chúng ta đã thả dù hàng tấn vũ khí và đạn dược, nhưng không đâu báo là có cuộc chống cự của Pháp. Thực tế chúng ta nghĩ rằng Nhật đã tóm hết mọi thứ của chúng ta trong khi Pháp rút chạy gấp về phía biên giới”.



Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:41:38 PM
Helliwell nói, với hai bản chỉ thị mới, ông ta thấy rằng cần bắt đầu phái các tình báo viên xâm nhập vào Đông Dương, mặc dầu ngày hôm sau ông nhận được một bức điện của Bộ Chiến tranh ra lệnh cho OSS “không được làm gì cả đối với Đông Dương thuộc Pháp”. Bức điện cấm Chennault không được tiếp tục thả dù vũ khí cho nhân viên hàng không Pháp và hai chỉ thị của chiến trường cho phép triển khai các hoạt động tình báo ở Đông Dương đều được ghi cùng một ngày – 20-3.
Giữa tình hình lộn xộn gây ra do mớ điện tín nói trên thì Helliwell nhận được sự đồng ý của chiến trường về “phương án Quail” mà người ta phải nóng lòng chờ từ nhiều tuần nay. Nhưng ngày hôm sau, Helliwell lại nhận được một bức điện của đại tá Willis S. Bird, phó của Heppner, nói “không được làm gì cả trong việc thành lập các đài vô tuyến” định để phục vụ cho cả OSS và Pháp. Lại một chuyện kích động nữa trong quan hệ gay cấn giũa Mỹ và Pháp.
Helliwell tỏ ra rất bực mình vì không có sự phối hợp giữa các yêu cầu cấp bách về tin tức hoạt động của Nhật ở Đông Dương với mớ lệnh và phản lệnh quá hỗn độn của cấp trên. Ông đã phái nhiều sĩ quan Mỹ và hiệu thính viên người Việt tới biên giới để tìm gặp đội quân đang rút lui của tướng Sabattier(6) và thu lượm tin tức về Nhật. Tất cả điều mà những người này đã có thể báo cáo về được là “người Pháp đang bị Nhật đuổi chạy sát nút”. Và theo Helliwell, người Pháp cũng chẳng có thể cung cấp được tin tức gì về các đơn vị Nhật đang săn đuổi họ.
Helliwell cũng rất chán ngán bởi câu chuyện rắc rối mới đây xảy ra giữa Pháp, Anh, Mỹ và Trung Hoa. Câu chuyện đã được nhóm GBT báo cáo cho đại tá Bird ở Trùng Khánh rồi chuyển đến chỗ Helliwell. Theo GBT thì nhà đương cục ở Đông Hưng(7) ngày 20-3 đã thấy hai phi cơ Đồng minh lượn trên vùng trời Móng Cái và thả dù vũ khí cùng với đạn dược của Anh. Nhưng ở đó không có ai thu nhận nên người Trung Hoa đã ra thu nhặt tất cả. Vài phút sau GBT nhận được tin điện của Pháp nói rằng người Pháp đã rút lui hết sang đất Trung Quốc và Nhật đã chiếm Đông Hưng, Móng Cái và Tiên Yên. Pháp yêu cầu cho ném bom vào cả ba vị trí nói trên.
Rõ ràng là người Pháp không muốn mạo hiểm quay trở lại Móng Cái vì sợ đụng phải Nhật nhưng cũng không muốn cho người Trung Hoa thu lượm được món hàng thả dù khá quý giá nên đã yêu cầu cho thả bom ngay vào chỗ người Trung Hoa. Thật hiển nhiên là người Pháp đã tìm cách đánh lừa người Mỹ trong việc thả bom xuống các khu vực có quân đội Trung Quốc, và cũng may mắn mà nhóm GBT còn có liên lạc bằng điện đài với những nạn nhân mà đã được người ta nhắm sẵn.
Helliwell nói rằng Gordon đã cảm thấy người Pháp “hoàn toàn không đáng tin cậy” và mỗi hành động của Mỹ sau này đối với họ đều được xem xét kỹ lưỡng. Gordon cũng lại cảnh báo rằng theo ý kiến riêng của y thì “người Anh đã cắn chặt được một miếng và tự mình lao vào Đông Dương mà không có sự phối hợp của chiến trường”.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:43:01 PM
CÓ TIN GÌ VỀ “ÔNG HỒ” KHÔNG?

Tình hình đã dẫn đến việc phải thảo luận xem sẽ làm ăn ra làm sao đây trong một tình huống chắp vá giữa cái được làm và không được làm. Qua các cuộc gặp gỡ và qua những điều mà tôi được biết ở Washington thì quả nhiên trong lúc này người ta rất ít mong chờ được gì ở người Pháp nên tôi đã phải tự hỏi: “Thế còn người Việt Nam? Đã có ai đó tiếp xúc với họ chưa?”.
Thiếu tá Wichtrich cho biết AGAS đã có khá nhiều cuộc tiếp xúc với họ và cũng đã đạt được kết quả tốt. Ông Dulin đồng ý với Wichtric và nêu ý kiến là trái với những người Pháp không chịu công nhận giá trị của người Việt Nam và quan điểm của Chiến trường về “những sự rối rắm chính trị”, người Việt Nam có một tổ chức đang hoạt động và nếu được trực tiếp tiếp xúc với họ để làm việc thì sẽ rất có ích. Nhưng ông nói thêm “cánh ở Đại sứ quán lại không thích làm ăn với họ. Vì người ta cho họ là Cộng sản và chống Pháp”. Helliwell đáp lại: “Bậy! Nếu họ có một tí gì là tốt thì ta cũng tìm cánh dùng họ. Chúng ta đã được sự đồng ý của Washington và Trùng Khánh cho sử dụng tất cả mọi nhóm kháng chiến”.
Đại diện cơ quan R&A chủ động cho biết có nhận được những báo cáo mới về sự chống cự kịch liệt của người Việt Nam với quân Nhật trong vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Cạn và các cuộc chiến đấu của họ mang tính chất bán quân sự. Nhiều báo cáo của người Việt Nam cung cấp cho OSS/AGFRTS và GBT có giá trị làm cơ sở cho mệnh lệnh chiến đấu. Dulin, một chuyên gia về chiến tranh chính trị, nói rằng OWI đã sử dụng nhiều người của Việt Minh do một “ông già” tên là Hồ Chí Minh lãnh đạo và trong thực tế thì ông Hồ cũng đã tiến trình inột số công tác chiến tranh tâm lý cho cơ quan tuyên truyền Trung Quốc, cùng với OWI. Lúc đó Wichtrich mới công nhận là AGAS đã thực hiện một công tác đối với ông Hồ để tổ chức cứu thoát phi công ở Đông Dương. Wichtrich gượng cười nói với Helliwell: “Fenn, người của anh đã làm om sòm về con người ấy trong nhiều tuần đấy”. Helliwell không chịu kém, đã đáp lại: “Tôi biết! Tôi đã cấp cho ông ta một số vũ khí để tự vệ”.(8)
Tôi kể cho họ là tôi đã bắt gặp tên của “ông Hồ” trong các hồ sơ của Washington đề ngày tháng từ 1942 và cả trong các hồ sơ mới đây của Sprouse và Langdon thuộc Đại sứ quán và của Powell thuộc OWI. Thực tế chỉ trước đó một ngày, tôi cũng đã đọc bản báo cáo của Fenn nói về một cuộc điều đình với ông Hồ để tổ chức một mạng lưới tình báo khắp Đông Dương để hỗ trợ cho OSS và AGAS. Ý định của tôi nếu như không ai phản đối, là đi sâu vào tổ chức của người Việt Nam nhằm để họ phục vụ cho “phương án Quail”, nhưng trước hết tôi lại muốn biết ý kiến có cơ sở của mọi người về phản ứng có thể của người Pháp.
Helliwell không nghĩ rằng chúng ta sẽ phải thảo luận với người Pháp và ngay cả với Đại sứ quán của ta, và cũng không hề thấy rằng sự hợp tác của Heppner đối với chúng ta là rất cần. Wichtrich bị bối rối ra mặt và đã trả lời tôi là anh ta không quan tâm gì đến người Pháp hay nhân viên ngoại giao nhưng anh ta muốn được có sự đảm bảo rằng SI sẽ không làm gì để gây trở ngại cho AGAS. Helliwell đã nói để Wichtrich yên tâm là sự cộng tác của ông Hồ phục vụ cho AGAS sẽ được SI chúng ta hỗ trợ cả về mặt tài chính và phương tiện thông tin liên lạc.
Hội nghị đã kết thúc với ý kiến thống nhất rằng tôi có thể càng sớm càng hay, thực hiện một cuộc thanh tra trên bộ tới Szemao(9) và dọc theo biên giới Đông Dương, cho khởi sự việc khôi phục lại nguồn tình báo, xác định tình trạng quân sự của Pháp và có khả năng thu xếp để tiếp xúc với các lãnh tụ Việt Minh.
Về các mặt khác, trong số ít ngày đầu tiên của tôi ở Côn Minh, đã thể hiện ra một cách không được sáng sủa lắm. Tôi đã chẳng có tin tức gì về số nhân viên đã được đặc biệt chọn lọc mà tôi đã tuyển dụng tại Washington.
Cuộc viếng thăm đầu tiên của tôi đến phái đoàn quân sự Pháp (M.5) (10) cũng chỉ mang lại cho tôi một sự thất vọng. Phái đoàn đang thay đổi bộ máy chỉ huy và trong một tình trạng hoàn toàn rối loạn. Trưởng phái đoàn mới thì vắng mặt, còn những người có mặt thì chẳng ai tỏ ra có trách nhiệm gì cả. Những ngày tiếp theo, tôi trở lại thăm thì tình hình cũng chẳng có gì khác hơn trước.
Tại trụ sở BIS của tướng Tai Li ở Côn Minh thì sự tiếp đón hoàn toàn thân mật nhưng cũng không có gì đáng được tưởng lệ. Khá nhiều nước trà, nhiều nụ cười lịch sự và câu chuyện nói bằng tiếng Trung Hoa giữa những người phiên dịch cũng nhiều hơn. Và các vị khách của tôi chỉ nói rằng họ mới ở Tú Xuyên về và không hay biết gì về các hoạt động tình báo ở Vân Nam và Đông Dương.
Helliwell và Dulin đã cấp cho tôi một bản danh sách các Việt kiều di cư do Cha Jean Tống, một thầy tu Thiên chúa giáo người Hoa dìu dắt. Nhưng sau nhiều cố gắng để tìm kiếm họ mà không có kết quả nên tôi đã bỏ qua.
Suốt trong thời gian đó, Bộ Tư lệnh chiến trường vẫn tiếp tục đòi tin tức tình báo và nhấn mạnh việc OSS phải tiến hành quấy rối người Nhật dọc theo hành lang Hà Nội, Nam Ninh, Quảng Đông. Trong tình huống hỗn loạn lúc đó, nhiều toán OSS ở phía nam Trung Quốc và bắc Đông Dương đang bị mất liên lạc với Côn Minh, và đó cũng là một nguồn đẻ ra nhiều điều lo ngại nghiêm trọng.
 
PHÁI VIÊN CỦA “TƯỚNG” HỒ

Nhưng cũng đã có một sự kiện có tính chất tích cực đã xảy ra trong ngày đầu tiên tôi ở Côn Minh này. Việc tôi sục tìm các con chiên của Cha Tống chắc đã được bàn tán nhiều trong giới Việt kiều ở Côn Minh và tôi đã được một người là Vương Minh Phương tìm đến thăm. Giữa những lời xin lỗi quá thừa vì đã quấy quả tôi vào một chiều thứ bảy, Phương tự giới thiệu là hội viên Mặt trận Độc lập Đông Dương. Tên ông ta cũng không phải là mới lạ gì đối với tôi. Tôi đã bắt gặp cái tên đó trong bản báo cáo của Langdon nói về cuộc nói chuyện với các hội viên của Mặt trận vào tháng 8-1944.
Phương mới ngoài 30 tuổi và nói tiếng Pháp lưu loát. Theo Phương kể thì Phương vốn là sinh viên trường Đại học Hà Nội và đã tới Trung Quốc vào mùa thu năm l943, sinh sống cạnh cơ quan OSS, trong khách sạn Quảng Lạc, 39 Tai Ho Gai. Phương có quen ông Glass ở OSS, đã từng cộng tác với Powell thuộc OWI và đã gặp thiếu tá Stevens(11) ở Trùng Khánh và ông Langdon ở Lãnh sự quán Côn Minh có biết. Rõ ràng là Phương quen biết toàn là những người đúng đắn nên tôi cũng thích thú chờ biết lí do cuộc viếng thăm.
Phương giải thích là cần phải làm cho tôi biết rõ rằng nhũng người mà tôi đang tìm kiếm không phải là “những người Việt Nam tốt nhất” ở Côn Minh mà họ đều là nhân viên của hai công ty do Pháp đỡ đầu(12) liên kết Hoa Việt Cách mạng Đồng minh Hội. Họ đã được định cư ở Trung Quốc và tự coi mình là người dân Trung Quốc. Phương nói, còn những người Việt Nam tha thiết đánh “phát xít Nhật” thì đều thuộc mặt trận của Phương, được nhiều người biết với cái tên là Việt Minh mà lãnh tụ là “tướng” Hồ Chí Minh.
Phương mặc âu phục, tỏ ra là một người có học thức tốt và hoàn toàn thông thạo về vấn đề chiến tranh nói chung, và tất nhiên là giỏi về vấn đề Đông Dương. Phương quen thuộc với OSS và AGAS hơn là tôi đối vối Mặt trận Việt Minh của ông và ông ta cũng biết về tôi nhiều hơn là tôi biết về ông ta. Tôi lắng nghe ông lái một cách tài tình câu chuyện sang mục đích thực sự của cuộc viếng thăm.
Với một chút tự hào, Phương đã kể lại về các đồng sự của ông ở Đông Dương và Trung Quốc đã làm việc một cách rất chặt chẽ với một số người Mỹ của tướng Chennault và OSS, đã cung cấp tin tức về đội hình chiến đấu của quân Nhật và về các mục tiêu tình báo. Phương có nói đến hoạt động tình báo của OSS - AGAS mà Việt Minh có góp phần giải thoát “nhiều” phi công của Mỹ qua việc cung cấp chỗ trú ẩn và hướng dẫn họ đến nơi an toàn.
Sau đó Phương trượt nhẹ sang lĩnh vực chính trị, bình luận rằng người Việt Nam rất biết ơn người Mỹ về sự thông cảm đối với quyền lợi các dân tộc, sự quan tâm của họ đối với vấn đề thuộc địa và đã ghi nhận rằng cố Tổng thống Roosevelt trong nhiều dịp đã công khai ủng hộ độc lập chính nghĩa của họ. Tôi đã ngắt lời và nhắc với ông là tôi không phải là một nhà ngoại giao, cũng chẳng phải là một nhà chính trị mà chỉ là một quân nhân. Với nụ cười thông cảm, Phương chống chế là đã quá phấn khởi vì đã có cơ hội để diễn đạt trước một quan chức Mỹ về những tình cảm tốt đẹp của nhân dân ông ta đối với nước Mỹ. Rồi sau đó Phương lại nói về các khả năng quân sự của Việt Minh.
Theo Phương, Việt Minh mặc dầu là một mặt trận chính trị nhưng cũng đồng thời là một lực lượng vũ trang, tổ chức thành những đơn vị du kích và đã tích cực tiến hành một cuộc chiến tranh không chính thống chống lại Nhật. Phương nói rộng ra là bên cạnh những trận ném bom của Đội không quân thứ 14 thì không còn có một lực lượng nào khác ngoài Việt Minh đã chống cự lại với “kẻ thù chung”. Người Pháp “chưa bao giờ đánh lại bọn phát xít ở Đông Dương và đã từ lâu họ không còn ở đó nữa”. Còn Việt Minh lại có lực lượng trên đất liền, đã quyết tâm và có khả năng “chiến đấu sát cánh” với Mỹ và các nước Đồng minh của Mỹ.
Trưa đến, tôi mời Phương dùng cơm ở nhà ăn OSS rồi sau đó sẽ tiếp tục câu chuyện. Phương tỏ ra vui lòng được nói chuyện thêm nhưng đề nghị đến ăn ở một khách sạn địa phương Trung Quốc cho đỡ lộ liễu. Chúng tôi liền đến một quán cơm bình thường ở gần trường Đại học Vân Nam và các toà lãnh sự Mỹ, Anh. Trong bữa ăn, tôi khuyến khích Phương nói về Việt Minh, lập trường, mục đích của Mặt trận và theo ý họ thì làm thế nào để có thể giúp cho Đồng minh đánh Nhật và họ có thể mong đợi gì ở các nước Đồng minh. Theo lời phát biểu của Phương (mà tôi đã tóm tắt lại để ghi vào băng ngay hôm đó): Việt Minh là một liên minh các đảng phái của những người quốc gia Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, được tổ chức theo đường lối của Đảng nhằm mục đích trước mắt là đánh đuổi người Nhật và ngăn ngừa Pháp quay trở lại. Cuối cùng, Việt Minh hy vọng thành lập được một “Cộng hòa Đông Dương độc lập, dân chủ”. Phương tin rằng mặt trận có thể cung cấp cho Đồng minh những tin tức có ích về người Nhật, người Pháp và bọn bù nhìn ở Đông Dương. Họ có thể cộng tác với người Mỹ trong các hoạt động phá hoại, biệt kích và các trận đánh khác chống Nhật; họ sẽ hướng dẫn và giáo dục cho người Việt tiếp tục giúp đỡ cho các nhân viên hàng không Mỹ bị hạ và đưa họ đến những nơi an toàn. Đổi lại, Việt Minh chỉ yêu cầu Mỹ công nhận Liên minh Độc lập Đông Dương là tổ chức duy nhất hợp pháp và được phép đại diện cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống bọn phát xít và yêu cầu Mỹ cung cấp cho họ phương tiện để chiến đấu bên cạnh các nước Đồng minh. Khi tôi hỏi lại họ cần gì thì Phương đáp: “Vũ khí, đạn dược, cố vấn, huấn luyện viên và phương tiện thông tin liên lạc với Bộ Tư lệnh Đồng minh”.
Phương chờ trả lời nhưng tôi đã cảm ơn và nói rằng đề nghị của họ thật phong phú và rất hay nhưng tôi còn cần phải bàn với các cộng sự của tôi. Trong khi đó thì làm thế nào có thể gặp được “tướng” Hồ? Phương nói là trước đây mấy hôm ông có đến Côn Minh, nhưng nay đang trên đường trở về Việt Nam và có thể đang dừng lại ở Trình Tây. Phương có thể báo tin cho ông Hồ và tin chắc rằng ông sẽ vui lòng gặp tôi. Ông nói với Phương là tôi có thể đến Trình Tây nhưng phải đợi đến sáng hôm sau mới khẳng định chắc chắn được điều đó.
Chúng tôi rời khách sạn khá muộn. Ngay chiều hôm đó, tôi bàn với Helliwell và Wampler về cuộc gặp gõ với Phương. Kế hoạch chung nhằm cộng tác với người Việt Nam mà chúng tôi đồng ý tiến hành mấy hôm trước nay lại có thêm một khía cạnh mới qua lời phát biểu khá đặc biệt của Phương. Sự khẩn khoản của họ đối với vấn đề công nhận chính thức là một vật chướng ngại quan trọng. Helliwell đồng ý với quan điểm được Heppner ủng hộ là không có vũ khí nào do OSS cung cấp lại được sử dụng để chống lại người Pháp. Nhưng Helliwell vẫn giữ quan điểm của mình là trong khi AGAS sử dụng Việt Minh vào các hoạt động của họ thì chúng ta cũng có thể mở rộng mạng lưới đó ra để bao gồm cả việc thu thập tình báo và đánh du kích.
Đêm đó, Heppner đã từ Trùng Khánh đến và chúng tôi đã đề đạt ngay ý kiến với Heppner. Thoạt đầu Heppner đã gạt bỏ và cho rằng ý kiến đó không thể thực hiện được về phương diện chính trị; ông đã gặp rất nhiều khó khăn với tướng Hurley(13) chung quanh việc những người Cộng sản Trung Quốc. Ông nói riêng cho chúng tôi hay rằng người phụ tá của ông, đại tá Bird(14), lúc đó đang công tác ở Diên An với đại tá David D. Barrett(15) để thu xếp một sự liên minh giữa những người Quốc dân đảng của Tưởng với nhũng người Cộng sản của Mao; và Hurley đã rất phẫn nộ với OSS, cho rằng OSS đã chen vào một việc mà ông cho đó là của Bộ Ngoại giao. Heppner tin chắc rằng người Trung Hoa sẽ đưa ra mọi sự phản đối về bất cứ một sự cộng tác nào với những người Cộng sản Việt Nam. Mà cả đến Đại sứ quán của chúng ta nữa cũng vậy. Và chúng ta cũng không được quên Phái đoàn Quân sự Pháp, chắc chắn là họ sẽ không hài lòng nếu họ thấy được là chúng ta đang điều đình với Việt Minh.
Nhưng khi Heppner đã biết được người Pháp và người Trung Hoa tiếp đón tôi như thế nào thì ông cũng chấp nhận lập trường của chúng tôi, không có gì thay đổi thêm. Ông căn dặn tôi không được làm gì chống đối với người Trung Quốc cũng như với người Pháp vì ông và Whitaken cũng sẽ phải làm việc với họ ở Trùng Khánh, còn tướng Donovan thì đã được Nhà Trắng chỉ thị cho phải hợp tác với cả đôi bên. Chính vì thế mà vấn đề làm việc với Việt Minh đã được để lại sau này sẽ xem xét khi tình hình phát triển thêm.
Sáng hôm sau, Phương, rất đúng giờ, đến cơ quan của tôi và cho biết đã gửi thư báo cho “tướng” Hồ nhưng không chắc là thư sẽ đến kịp trước khi ông Hồ rời đi biên giới. Phương gợi ý là nếu tôi có đến Trình Tây thì tôi nên dừng lại ở một quán trà nào đó và tìm một người Trung Hoa nói thạo tiếng Anh tên là Wang Yeh Li, người này có thể giúp tôi gặp được ông Hồ nếu ông còn ở đó.
________________________________________
(1) trưởng ban mật vụ SI, OSS Côn Minh
(2) Kế hoạch hoạt động của OSS ở Bắc vĩ tuyến 16 Đông Dương
(3) Cơ quan nghiên cứu và phân tích, OSS
(4) Trợ lý Tham mưu trưởng, Cục tác chiến, VVD
(5) Chennault, “Con đường của một chiến sĩ”
(6) Tổng chỉ huy lực lượng Pháp ở Bắc Kỳ và Tổng đại diện Pháp ở Đông Dương sau khi Aymé và Mordant bị bắt.
(7) Thị trấn biên giới Trung Hoa, giáp với thị trấn Móng Cái
(8) Đầu tháng 3, Helliwell đã cho phép lấy ở kho OSS 6 khẩu Colt 45 và nhiều đạn giao cho AGAS để chuyển cho ông Hồ
(9) còn gọi là Fu Hsing Chen, một thị trấn cổ, cách Côn Minh 200 dặm về phía nam.
(10) Đây có sự nhầm lẫn. Chỉ có một phái đoàn quân sự Pháp bên cạnh chính phủ Trung Quốc ở Trùng Khánh, dưới quyền tướng Pechkov; còn M.5 ở Trùng Khánh chỉ là một đơn vị của SLFEO/Calcutta, phụ trách về các hoạt động bí mật ở Đông Dương
(11) đại diện OSS ở Đại sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh
(12) Hội tương tế và Hội thể thao của người An Nam ở Vân Nam
(13) Đại sứ mới thay cho Gauss từ tháng 1-1945
(14) đại diện OSS/Chiến trường Trung Hoa
(15) thủ trưởng Nhóm quan sát Mỹ (DIXIE) ở hành dinh Cộng sản Trung Quốc ở Diên An


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:51:33 PM
Chương 8
Vấn đề mới của Pháp

CUỘC ĐẢO CHÍNH MỒNG 9-3
Trước khi rời Szemao, tôi may mắn được đọc một bản báo cáo thảo ra dựa trên cơ sở của cơ quan R&A thu lượm những mẩu chuyện của những người Pháp dân sự và quân sự tị nạn và của OWI rút ra từ các bản tin phát nhanh của Nhật. Bản báo cáo tổng hợp những tin tức về “coup de force”(1) ngày 9-3 và hậu quả của nó, đã giúp cho tôi được rất nhiều trong khi tôi đi thị sát chiến trường. Qua bản báo cáo, tôi được biết là chiều ngày 9-3, đại sứ Nhật Shunichi Matsumoto và Tổng lãnh sự Kono đã triệu Toàn quyền Decoux đến để ép Pháp phải có một sự cộng tác nhiều hơn và chân thành hơn với người Nhật. Kono đòi hỏi một sự gia tăng quy mô lớn của Pháp vào “quỹ chiến tranh” của Nhật, giảm bớt các biện pháp hạn chế việc thu mua thóc gạo của quân đội Nhật và bảo đảm sẽ không huỷ bỏ thoả hiệp Liên minh phòng thủ Pháp - Nhật ở Đông Dương. Decoux chần chừ nói rằng cần phải có thời gian để trao đổi với Chính phủ của ông ở Hà Nội.
Cho rằng Decoux tìm cách lảng tránh, đến 6 giờ chiều ngày hôm đó, Đại sứ Nhật gửi cho viên toàn quyền một tối hậu thư. Lần này yêu cầu của người Nhật được nêu rõ ràng: người Pháp phải cùng với người Nhật phòng thủ Đông Dương trong trường hợp có cuộc xâm lăng của Anh - Mỹ; tất cả các lực lượng quân sự và cảnh sát của Pháp phải đặt dưới quyền chỉ huy và kiểm soát của quân đội Nhật; Pháp phải giao cho Nhật tất cả các hệ thống thông tin liên lạc, vận tải, hệ thống ngân hàng và các cơ quan hành chính. Các điều khoản trong tối hậu thư phải được chấp nhận vô điều kiện trong vòng 2 giờ.
Đến 10 giờ 15 tối, quá hạn 2 giờ ấn định trong tối hậu thư, người Nhật nhận được công hàm của Decoux báo cho biết ông cần nhiều thời gian hơn nữa để còn “trao đổi ý kiến”, Matsumoto liền ra lệnh cho quân đội nắm quyền và đặt Decoux dưới sự “canh giữ bảo trợ” của quân đội.
Đến 2 giờ sáng (giờ Tokyo) ngày 10-3, Tổng hành dinh Thiên hoàng ở Tokyo ra thông báo về việc tiếp quản ở Đông Dương và nói rõ đó là do Bộ chỉ huy quân đội Nhật ở đó chủ động tiến hành. Tiếp đó, vào 9 giờ sáng (giờ Tokyo), sau một buổi họp nội các đặc biệt ở Hoàng cung, Chính phủ Tokyo công khai thừa nhận quyết định quân sự nói trên và đề xướng ra chính sách ủng hộ nền độc lập của Việt Nam:
“Ngay sau khi Đông Duơng tỏ ra có dấu hiệu đang tiến lên thành một nước độc lập thì Chính phủ Nhật nhất định giúp đỡ cho các dân tộc  này đạt được “sự độc lập chủng tộc chân chính” dựa trên cơ sở những nguyên tắc đã được nêu lên trong bản tuyên ngôn chung của các nước Đại Đông Á”.
Khi người Nhật trong buổi chiều ngày 9 đang làm áp lực để người Pháp gia tăng sự ủng hộ cho Nhật thì Hoàng đế Bảo Đại của An Nam trong bản thông điệp nhân dịp năm mới (Tết) ca ngợi Pháp và nêu lên rằng: “Nước Pháp đã phải chịu rất nhiều đau khổ để khôi phục lại đất nước và sự phục hưng đó là điềm báo hiệu của một thời kỳ hoà bình và thịnh vượng mà trong đó tất cả các dân tộc sống dưới sự bảo hộ của Pháp sẽ được thừa hưởng”. Ông ta còn nói: “Chúng ta tha thiết cảm ơn đô đốc Decoux, người đã lái con tàu Đông Dương qua cơn bão táp của thế giới. Nhờ đô đốc mà Đông Dương được hưởng hoà bình và an ninh”.
Hai ngày sau, trong một cuộc trở mặt vô liêm sỉ, Bảo Đại đã bác bỏ Hiệp ước Bảo hộ Pháp - An Nam 1884, tuyên bố độc lập của Vương quốc An Nam và tham gia khối các nước Đại Đông Á. Hoàng đế hứa đem tất cả quyền lực của nhà vua ra để cộng tác với người Nhật, tin tưởng ở sự thành thật và thiện chí của đế quốc Nhật.
Đến ngày 13-3, Hoàng thân Norodom Shihanouk ở Kampuchia cũng chuyển theo tình hình và tuyên bố đất nước ông độc lập. Ông ta công khai phát biểu: “Vương quốc Kampuchia đã lâu không còn cần đến sự bảo hộ của nước Pháp, vì vậy tuyên bố Hiệp ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp là không còn hiệu lực... đặt sự tin tưởng tuyệt đối vào Đế quốc Nhật... Kampuchia quyết tâm hợp tác với Nhật…”.
Một tháng sau, vua Sisavang Vong của Luang Prabang ở Lào cũng đi theo các vị Hoàng thân láng giềng, tuyên bố nước Lào không chấp nhận sự ràng buộc của người Pháp nữa và hoan nghênh người Nhật như là bạn bè và Đồng minh.
Ở Đông Dương, người Nhật đã nhanh chóng tuyên bố thiết quân luật, tước vũ khí và giam giữ các lực lượng quân đội và cảnh sát, bắt giữ các nhà cầm quyền quân sự và dân sự chủ yếu, đặt lệnh giới nghiêm, kiểm soát giao thông và tiếp quản toàn bộ cơ cấu bộ máy hành chính. Ngày 11-3, Bộ Tư lệnh tối cao Nhật công bố tên một số người đã bị bắt gồm Decoux, các tướng Aymé, Mordant và chánh sở mật thám Đông Dương nổi tiếng Louis (Paul) Amoux, người đã truy nã Hồ Chí Minh từ 1919.
Các sĩ quan nghiên cứu của OSS cho rằng sự sụp đổ của Pháp là do kế hoạch tổ chức kháng chiến của Mordant tồi, do họ không hoàn toàn coi trọng nguyên tắc hoạt động bí mật, và do thiếu một sự phối hợp giữa các phần tử quân sự và dân sự của cái gọi là phong trào kháng chiến. Điều đó quá rõ ràng vì trong ngày 8-3 đã có một viên chức cảnh sát Việt Nam, mật vụ của SLFEO, đã báo cho Mordant biết là người Nhật có kế hoạch vô hiệu hoá quân đội Pháp vào một lúc nào đó giữa ngày 8 và ngày 10 tháng 3.
Ở Hà Nội, Mordant và Aymé đã đánh giá thấp tin báo của người mật vụ SLFEO. Mordant cho rằng dù sao đi nữa thì cơ quan quân sự tình báo cũng chẳng có tín hiệu gì về vấn đề này, còn bên dân sự lại thường có xu hướng khuếch đại sự việc. Chỉ có tướng Gabriel Sabattier, chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ và là thủ lĩnh của phong trào kháng chiến miền Bắc, đã coi tin báo đó một cách nghiêm túc. Ông không hỏi ý kiến của Mordant hay Aymé, phát lệnh “tình trạng báo động thực sự” vào ngày 8-3 và rời khỏi Hà Nội để đến hành dinh dã chiến của ông. Sáng ngày 9, khi biết tin có cuộc “báo động” thật sự, Aymé liền quyết định bãi bỏ lệnh của Sabattier, cho là không cần thiết và chỉ làm cho người Nhật hoảng sợ không đúng lúc. Nhưng hành động của Sabattier đã làm cho Alessandri cảnh giác, ông rút ra ngoài doanh trại và cho quân vượt sông Đà và sông Hồng, di chuyển về núi phía bắc và tây Bắc Kỳ.
Đến đêm ngày 9, khi người Nhật tấn công vào nơi có người Pháp ở thì Mordant và Aymé đều bị bắt làm tù binh và quân đội của họ đã không sẵn sàng để chống cự lại. Ngoài số khoảng chừng 99.000 sĩ quan và binh lính người Pháp ở Đông Dương, chỉ có gần 5.000 quân (thuộc quyền Sabattier và Alessandri) được bố trí theo kiểu để đánh chặn hậu ở phía sau là được rút về bên giới Lào và Trung Quốc(2).
Suốt trong các ngày 10 và 11 tháng 3, đài phát thanh báo về tin cuộc đầu hàng “hoà bình” của các cứ điểm quan trọng của Pháp. Ngay ở các đồn xa xôi như Quảng Châu Loan (một nhượng địa của Pháp ở phía nam Trung Quốc) và Thượng Hải, với một đội quân thường trú 1.000 lính và 797 cảnh sát người Pháp, quân đội Pháp đã bị tước vũ khí mà không chống cự.
Nhưng cũng có những ngoại lệ. Ở đó nổi lên những hành động dũng cảm và anh hùng. Ở đồn Lạng Sơn, độ 1.200 quân đã quyết chiến suốt trong 2 ngày. Bị áp đảo về số lượng, thiếu nước và đạn dược, vài trăm người sống sót đã phải đầu hàng Sư đoàn 37 Nhật, nhưng chỉ huy đơn vị này tức giận vì những tổn thất đã phải gánh chịu do sự ngang bướng của đồn quân Pháp gây ra nên đã ra lệnh tàn sát cho bằng hết số quân đầu hàng. Ở Đồng Đăng, quân Pháp cũng phải chịu một số phận tương tự, khi cũng bị chính viên tư lệnh nói trên sau khi đã được thêm một trung đoàn của Sư đoàn 22 tăng cường, đã tiến đánh và trừng phạt.
Ở Hà Nội, quân Pháp ở trong Thành cũng chống cụ chút ít sau nhiều giờ nổ súng rời rạc. Cũng có người chết và bị thương, nhưng Nhật coi đó chỉ là một hành động để giữ thể diện. Ở Hoàng thành Huế, đội Bảo an Pháp đóng ở doanh trại trung đoàn 10 RIC(3) cũng cầm cự được đến nửa đêm ngày 10. Suốt miền trung Trung Kỳ và Nam Kỳ chỉ có một vụ chống cự nhỏ đối với Nhật.
Trước cảnh ngộ đáng buồn của người Pháp, báo cáo của R&A nhận xét rằng với một sự chuẩn bị kháng chiến đã khá lâu năm và tất cả các đồn trại, kho tàng đều đầy ắp người và súng đạn như mọi người đều biết rõ, thì sự giải thích duy nhất có thể chấp nhận được về một cuộc đầu hàng nhanh chóng đó của Pháp là do thiếu sự thống nhất tổ chức và lãnh đạo. Một lý do phụ thêm vào đó nữa là có thể thiếu sự ủng hộ quần chúng, của những người Việt bị áp bức.
Báo cáo của R&A thêm vào những đoạn trích trong công điện của Tổng Lãnh sự quán Langdon nói rằng người Pháp ở Côn Minhh đồng ý với luận điệu của Nhật, cho rằng người Nhật sở dĩ phải có hành động chống Pháp vì họ sự Pháp và Mỹ hợp tác với nhau trong trường hợp Mỹ đổ bộ vào Đông Dương. Langdon đã ghi: “...Nếu người Pháp cũng có một kế hoạch nào đó thì hiển nhiên họ đã không phối hợp với kế hoạch của người Mỹ và người Trung Quốc, và chờ đợi để sớm muộn cũng có lúc đưa ra thực hiện. Người Nhật đã chơi trội hơn người Pháp”.
Trước khi tôi tới vùng biên giới, tin tức cuối cùng tôi nhận được là một trong những toán SI được nhảy dù xuống chỗ người Pháp đang rút lui. Quân của Sabattier và Alessandri đi theo hướng tây Hà Nội về phía Sơn La và Điện Biên Phủ. Sau khi sục tìm các tướng nói trên, một sĩ quan của chúng tôi đã bắt gặp Alessandri ngày 3-4 ở Phong Saly thuộc Lào, nhưng không thấy tung tích Sabattier. Viên sĩ quan đã báo cáo là quân Pháp trang bị nghèo nàn và bị mệt mỏi, tinh thần thấp; để giảm bớt gánh nặng, họ đã bỏ lại nhiều vũ khí nặng và nhiều tấn đạn dược mà cũng không buồn phá huỷ đi nữa.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:52:21 PM
NHỮNG HÌNH ẢNH ĐANG THAY ĐỔI

Báo cáo của R&A chứa đựng một số nhận xét về mối quan hệ giữa người Pháp với người Việt, Trung Hoa và Mỹ. Các nhận xét đó rất đáng được bình luận vì chỉ dựa trên cơ sở một số sự kiện lúc đó chưa được hoàn toàn bộc lộ rõ với một khoảng thời gian ngắn ngủi vài tuần hay vài tháng.
Về người Việt Nam:
- Một mặt: theo Langdon: “Phản ứng của dân chúng An Nam đối với cú của Nhật hình như đã làm cho người Pháp hoang mang, chán nản. Mặc dù một bộ phận lớn quân đội còn tỏ ra trung thành, nhưng nhiều người trong số họ đã đi theo người Nhật, còn thường dân thì vẫn giữ thái độ nói chung là thụ động và thờ ơ.
- Mặt trái lại: Trong thực tế hơn 90% lính Việt Nam đã vứt bỏ vũ khí và trở về nhà khi họ biết rõ là phải sang Trung Quốc. Nhiều người đã đi theo phong trào chính trị giành độc lập ở Đông Dương và chỉ có một số rất nhỏ, chắc chắn không quá vài trăm, chạy theo Nhật. Rất nhiều nhà hoạt động chính trị trong giới quân sự đã chia xẻ số phận của họ với phong trào chống Pháp, chống Nhật.
Ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn thấy có một số ít người Việt Nam mang băng tay “mặt trời mọc” và hợp tác với quân cảnh Nhật ở địa phương. Phần lớn họ là người thuộc các tổ chức bí mật thân Nhật bao gồm Cao Đài, Hoà Hảo và các phần tử tôn giáo và bảo hoàng ở Đông Dương.
Những người hoạt động chính trị Việt Nam thuộc ba phong trào quốc gia chủ yếu: Việt Nam Quang phục Hội, một tổ chức bí mật thân Nhật, chủ trương bảo hoành, Việt Nam Quốc dân đảng dựa vào Chính phủ Trùng Khánh và được Trung Quốc ủng hộ và Đông Dương Độc lập Đảng, một mặt trận cộng sản theo Matxcơva.
Điều người Pháp thất vọng đối với người Đông Dương không phải ở chỗ họ tỏ ra thờ ơ mà ở chỗ người Pháp cho là họ bội bạc. Trong hơn 80 nam, thực dân Pháp đã cho lan truyền câu chuyện thần thoại gán cho người Pháp vai trò của nhà khai hoá, ân nhân và là người bảo hộ vĩ đại của nhân dân Việt Nam “nghèo túng, bơ vơ và thấp hèn”. Trong câu chuyện đó, người Pháp ở Đông Dương có quyền đòi hỏi phải được người dân “bản xứ” lệ thuộc yêu quý và phục dịch và đồng thời lại có quyền xử phạt khi người “bản xứ” không làm được những việc hèn hạ của mình. Qua thời gian, câu chuyện thần bí đã biến thành sự thực trong đầu óc của người Pháp và chi phối cuộc sống hàng ngày của họ. Điều đó đã quá ăn sâu vào tính nết của người Pháp nên đã không gạt bỏ đi được ngay cả sau các sự kiện ngày 9-3.
Trong những giờ “bi thảm” của cuộc đấu tranh chống Nhật, mặc dù người Pháp bối rối bởi thái độ gia trưởng và bề trên của mình đối với người “bản xứ”, nhưng những người này vẫn tỏ ra nhã nhặn và không gay gắt gì đối với người Pháp. Người Việt đã giúp đỡ cho các ông chủ cũ của họ trốn tránh trước sự truy lùng của kẻ thù, chỉ dẫn cho họ vượt rừng rậm để sang Tnmg Quốc và có khi còn cho họ ẩn nấp ngay trong nhà mình một thời gian. Rõ ràng đối với người Pháp đang chạy trốn thì đây không phải là do lòng trung thành hay vì sợ sệt mà chính là trên cơ sở nhận thức được rằng họ, người Việt Nam, đang bước vào một thời đại mới. Vai trò của họ bất chợt đã được đảo ngược. Người Việt Nam không còn là dân thuộc địa lệ thuộc mà là người công dân tự do và độc lập của chính đất nước họ. Họ đã không hành động với tinh thần trả thù trong những ngày đầu tiên đó mà chỉ với động cơ mong muốn giải thoát cho đất nước họ khỏi gánh nặng người Pháp. Trong tháng 4-1945, người Pháp đã không thể hiểu nỗi được phản ứng của người Việt Nam; họ chỉ có thể cảm thấy chán ngán.
Về người Trung Hoa.
- Một mặt: quan hệ Pháp - Hoa đã không phải là hoàn toàn thân thiết. Nhiều lắm thì cũng chỉ có thể coi các quan hệ đó là vừa phải và đúng đắn. Langdon đã báo cáo rằng phản ứng của người Trung Quốc đối với cú mồng 9-3 của Nhật “được coi như là một lời cảnh cáo đối với sự an ninh của Vân Nam, do đó những biện pháp được thi hành (tháng 3-1945) phản ảnh một thái độ thụ động”.
- Mặt trái lại: Tưởng đã rất phiền lòng trước sự xoay chuyển tình hình ở Đông Nam Á, vì nó làm tổn hại đến địa vị quân sự của ông ở Miến Điện và Trung Quốc. Ông ta đặc biệt bực mình với người Pháp về chỗ sau khi đã đẩy cho Nhật tiến hành cú 9-3, họ đã không gây được cái gì coi như một cuộc kháng chiến đáng tin cậy để có thể buộc Nhật rút bớt đi một số lực lượng từ các mặt trận của người Trung Hoa ở Miến Điện và Trung Quốc. Không những thế, họ lại không giữ được nguyên tình trạng ở đó và làm cho quân đội Tnmg Quốc bị uy hiếp một cách vô ích bởi một cuộc tiến công của Nhật vào phía sườn đã yếu hướng tây nain. Hơn nữa, người Pháp đã làm cho vấn đề phúc tạp thêm qua việc rút quân sang đất Trung Quốc và tạo nguy cơ để Nhật rượt đuổi theo vào Vân Nam và Quảng Tây, gây ra những vấn đề khó khăn về chính trị và tiếp tế hậu cần.
Quan hệ Pháp - Hoa còn bị những sự chống đối nhau trong cấp cao nhất của Quốc dân đảng Trung Quốc làm cho nghiêm trọng thêm. Nhiều người Trung Quốc quyền thế đã va chạm vào quyền lợi với các nhân viên trong bộ máy cai trị của Decoux suốt trong những năm chiến tranh, họ cũng xung khắc với sự hoạt động của các phần tử theo De Gaulle ở Trung Quốc và Đông Dương. Tỷ dụ như tướng Hà Ứng Khâm đã tỏ ra bực bội vì quân đội nước ngoài vào đất Trung Quốc và đã xem việc người Pháp rút lui là một điều đã có ảnh hưởng xấu đến mối bang giao giữa ông Hồ và Wedemeyer mà ông ta cho là có cảm tình với Pháp. Mặc dù bề ngoài tướng Hà đóng vai trò của một nhà bác ái và đã tự mình cấp tất cả “giấy phép và giấy thông hành để cứu trợ cho những người Pháp tị nạn, lòng tốt của ông chỉ làm chậm lại một quá trình và cung cấp cho cảnh sát, mật vụ có cơ hội để phân hóa và sàng lọc các phần tử xấu”.
Tướng Long Vân ở Vân Nam, tỉnh mà người Pháp đi qua, cũng có nhiều va chạm từ trước với Pháp. Tướng Lư Hán, “cháu” của ông, đặc biệt ghét tướng Alessandri, người được nhiều người Trung Quốc gán cho là phải chịu trách nhiệm như là một trong những cố vấn chủ chốt của Catroux (và sau là Decoux) cho phép quân đội Nhật vào Đông Dương. Trong một thời gian dài, Tai Li đã xung đột với người Pháp ở Trung Quốc và Đông Dương về vấn đề hoạt động bí mật và buôn lậu. Các nhân viên OSS ở biên giới đã báo cáo về một điển hình người Trung Quốc chống lại người Pháp. Một đơn vị quân Pháp bị mất tất cả số lính người Việt, khoảng 3.000, bị tan rã hoặc chạy theo Việt Minh và bỏ mặc cho các sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp tự xoay sở lấy. Cuối cùng người Pháp cũng đến được điểm kiểm soát ở biên giới Trung Quốc gần Lào Cai nhưng phải chờ ở ngoài rừng cho đến tận khi được phép cho vào đất Trung Quốc.
Về ngươi Mỹ:
- Một mặt: Trong những tuần lễ đầu tiếp sau cú 9-3, người Pháp đã phê phán mạnh mẽ việc Mỹ đáp ứng lại những yêu cầu giúp đỡ của họ. Họ đã xin tiếp tế đạn dược. Nhưng đạn dược của chúng ta không thích hợp với vũ khí của họ. Họ đã yêu cầu vũ khí thì vũ khí của chúng ta lại chỉ dể dành riêng cho người Trung Quốc.
Họ đã yêu cầu chi viện đường không và mặc dù điều đó không có trong kế hoạch của Đồng minh ở Trung Quốc. Đội không quân thứ 14 đã tiếp tế nhiều hơn mức phải làm. Họ đã yêu cầu được vận chuyển đến Trùng Khánh bằng máy bay quân sự nhưng người Trung Quốc đã không cho phép.
- Mặt trái lại: Về sau cả thường dân lẫn nhân quân Pháp ít nhiều cũng đã đánh giá được quan điểm tiếp viện của Mỹ, cũng như những khó khăn thực tế của việc giúp đỡ các đồng bào của họ ở Đông Dương. Họ cũng đã thấy chúng ta đã cấp một số lớn chăn, mền, giường, thuốc và quần áo. Họ cũng công nhận không quân của chúng ta phối hợp với AGAS để sơ tán hàng trăm phụ nữ và trẻ em sang Ấn Độ, đã táo bạo cứu vớt những người thường dân Pháp bị rớt lại trong vịnh Hải Phòng.
Nhưng ở các giới chính quyền vẫn còn rơi rớt lại một sự hằn học dân tộc. Thí dụ như khi tổ chức UNRRA(4) giúp đỡ cho khoảng 24.000 dân Pháp tị nạn rải rác tại các trạm tại Vân Nam, tướng Pechkov đã phản đối, cho là một điều sỉ nhục vì được cứu trợ bởi một cơ quan từ thiện chứ không phải được đối xử như một đồng minh quân sự hào hoa.
Nhân viên Đại sứ quán chúng ta đã bắt buộc phải giải thích cho ông rằng UNRRA là một tổ chức quốc tế do Liên Hợp Quốc đỡ đầu, trong đó Pháp là một nước hội viên, nên nhận sự giúp đỡ qua UNRRA tức là Pháp chỉ tự giúp mình mà thôi.
Tuy vậy, qua những lời kêu ca của Pháp, điều mà người Pháp ở cấp cao cảm nhận thấy bực bội nhất vẫn là việc tướng Wedemeyer kiên quyết đặt ra những hoạt động của Đông Dương và người Pháp ở Trung Quốc, công khai cũng như bí mật, dưới quyền kiểm soát của người Trung Quốc.
________________________________________
(1) cuộc đảo chính - tiếng Pháp
(2) Trong đó chỉ có 2.100 người Pháp, còn lại là người Đông Dương thuộc địa
(3) Trung đoàn bộ binh thuộc địa
(4) Tổ chức cứu trợ Liên Hợp Quốc


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:53:30 PM
Chương 9
Một chuyến đi đến biên giới Trung Quốc
[/b]
 
TÌNH TRẠNG LỘN XỘN
Chuyến đi vòng mở đầu của tôi ở miền nam Trung Quốc bắt đầu ở Szemao, ở sân bay bận rộn của mình(1), trung uý William A. Pye, người của trạm chúng tôi ở đây, đã đón tôi với nhiều chuyện phiền muộn về chủ trương phá rối của Trung Quốc, về những lời phàn nàn của người Pháp và về một cuộc tấn công “trước mắt” của Nhật Bản. Anh ta hoàn toàn thất vọng vì không thấy tiến bộ trong việc xây dựng một mạng lưới tình báo và gán vấn đề này cho thái độ không cộng tác của người Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tai Li và cho sự thờ ơ của những người lánh nạn Pháp, họ đang cần giữ một khoảng cách giữa họ với người Nhật ở biên giói Đông Dương, cách đó chừng 40 dặm về phía nam.
Chúng tôi lái xe đến trạm OSS, ở đó một người Pháp là thiếu tá De Monpezat(2) đang đợi chúng tôi. Ông ta mô tả tình hình ở Szemao như là một sự hỗn loạn cực độ. Những đội quân “Annamite” bỏ ngũ hàng đoàn. Người Trung Quốc không hề có một sự cố gắng nào để quan tâm đến điều đó hay để di tản những người Pháp lánh nạn sang Ấn Độ; nhiều người trong số đó thiếu ăn, rách rưới, mắc bệnh kiết lị, sốt rét và bị kiệt sức và hết sức cần đến một sự chăm sóc y tế. Dân lánh nạn đã đạt tới “con số vô cùng lớn là 3.500 người hay hơn nữa”. De Monpezat muốn biết xem chúng tôi có thể làm được gì về vấn đề này. Điều duy nhất mà tôi có thể làm được là xem xét qua và báo cho Trùng Khánh biết, nhưng tôi đã gợi ý cho ông ta cùng với Pye chuẩn bị một bản báo cáo dễ hiểu nêu lên những nhu cầu và nói chi tiết về số người lánh nạn và các loại yêu cầu nổi bật. Thiếu tá có vẻ hài lòng.
Viên quan tòa nhăn nheo ở Szemao, Chao Cha Fung, cũng chờ đợi dể gặp tôi. Ông ta biết tin 400 người Pháp lánh nạn khác và nhân viên quân sự sẽ đến trong 4 ngày tới và bày tỏ nỗi lo sợ của ông ta là họ có vũ khí. Ông ta yêu cầu tôi khuyên các nhà chức trách Pháp thu vũ khí của những người lánh nạn ấy trước khi họ tới và đặt họ dưới sự bảo vệ của giới quân sự Trung Quốc. Tôi đã báo tin cho ông ta rằng đó là vấn đề của Pháp và Trung Quốc, không có liên quan gì tới người Mỹ. Tuy nhiên tôi nói thêm rằng theo tôi hiểu thì giới quân sự Pháp không bị giải giáp và đã được người Trung Quốc đưa đến những khu vực tập trung để chờ đợi quyết định của Trùng Khánh. Viên quan toà rõ ràng không thích thú với tin tức ấy và đoán trước về tình trạng rắc rối giữa giới quân sự Pháp và Trung Quốc nếu vấn đề không được giải quyết. Ông ta phàn nàn rằng người Pháp kéo đến đông đảo sẽ gây những thiếu thốn về nhà ở và lương thực, tình hình đã trầm trọng hơn vì ngôn ngữ bất đồng. Lính tráng đe doạ những người buôn bán địa phương vì khó mua hàng hóa hơn và giá hàng lên cao. Đối với tất cả những vấn đề ấy, tôi gợi ý ông ta nên hỏi ý kiến Trùng Khánh. Ông ta cảm ơn tôi vì sự “thông cảm” của tôi và rút lui.
Những vấn đề ở trạm OSS thật hỗn độn. Nhiều sĩ quan OSS đã đến biên giới một tháng, nhưng không ai biết chính xác mình đến đâu. Những yêu cầu cấp bách của các tiền đồn OSS khác nhau đã bị chất đống ở Szemao mà không được giải quyết. Tôi yêu cầu Pye đưa công việc vào trật tự đến mức cao nhất và điện cho Helliwell phái thêm một người nào đó đến để giúp thêm cho Pye để cho anh ta có thể về Côn Minh báo cáo về tình hình người Pháp và về công việc của trạm.
Sáng hôm sau, tôi lên máy bay đến Trình Tây (Ching Hsi) cách đó 300 dặm. Dọc đường chúng tôi dừng lại ở tiền đồn của chúng tôi tại Mương Sinh, một làng thuộc vùng núi Đông Dương, cách Szemao chừng 125 dặm. Chúng tôi dừng xuống đường băng một lát để xác định nó là một sân bay và đã gặp trung uý Charles D. Ambelang. Ba tuần nay, anh ta đã di chuyển từ đỉnh đồi này sang đỉnh đồi khác theo một con đường mòn đầy bụi, đặt các trạm nghe và sẵn sàng tháo gỡ ngay khi thấy quân Nhật di động. Đó là một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Người Pháp không ở lại và người Việt Nam ở địa phương không thể được huấn luyện nhanh chóng để làm những thao tác vô tuyến điện. Tôi yêu cầu ông ta rời bỏ khu vực này, đến móc nối với nhóm của tướng Sabattier ở Phong Saly, và sau đó cùng với họ về Szemao, ở đó tôi sẽ gặp anh ta.
Chỗ dừng sau đó của tôi là Mông Tự (Meng Tzu), thuộc Trung Quốc, một tiền đồn OSS khác, ở đó công việc kém sôi nổi hơn. Đội này đã thành công trong việc thu lượm một khối lượng khá lớn những thông tin về mệnh lệnh chiến đấu của Nhật và một ít tin tức tình báo chính trị về những liên hệ Pháp - Nhật ở Hà Nội và Hải Phòng.
 
NGÔI NHÀ AGAS
Cuối cùng, một giờ trước lúc hoàng hôn, tôi hạ xuống Tepao, phía bắc Trình Tây, và đi tới ngôi nhà AGAS. Chúng tôi dự một bữa ăn do một sĩ quan Pháp mời, những người đó đang làm việc với GBT và cộng tác với AGAS. Nóng người lên vì rượu cognac tuyệt vời của Pháp, câu chuyện của chúng tôi tình cờ đụng tới chuyện nghề nghiệp, người Pháp phàn nàn về những điều rủi ro của họ và trách móc “các nhà chính trị”. Là một người khách, tôi tránh tranh cãi khi một người nào đó nhắc tới những người “Annamites” như những người “không thể tin cậy” được và nói chung đó là một “vấn đề”. Để giữ câu chuyện dừng lại ở đề tài này, tôi nói với họ là tôi đã gặp một thành viên của Liên minh Độc lập Đông Dương, người đó nói tổ chức này không phải là một tổ chức chống Pháp, mà chỉ chống phát xít. Điều đó gây ra một sự tranh cãi, tôi ngồi lùi ra và lắng nghe.
Người Mỹ giữ lập trường cho rằng người Việt Nam có thể cực kỳ có ích. Họ biết rõ địa hình, họ kín đáo và họ dễ huấn luyện. Họ tuyệt nhiên không phải là những người chống Pháp, bằng chứng là nhiều người Việt Nam phục vụ trung thành trong hàng ngũ quân đội thuộc địa Pháp. Dù sao, khi còn cần thiết, họ không có sự lựa chọn nào ngoài việc tuyển mộ người Việt Nam và điều đó có thể làm được.
Các sĩ quan Pháp chỉ thừa nhận đó là những tay chân riêng biệt, được M.5 của Pháp sàng lọc, có lẽ chỉ một số ít được sử dụng dưới sự giám sát của Pháp nhưng phải theo một sự hoạch định thận trọng và được bảo đảm hết sức an toàn. Họ khuyên tôi nên thận trọng hơn với Liên minh và tổ chức theo xu hướng Matxcơva của nó là Việt Minh. Tôi rất chú ý tới một điều người ta nói là “một số người Lê dương Nga trong sư đoàn Alessandri đã bị kết án vì những hoạt động nổi loạn trong phong trào độc lập của người An Nam trong nấy năm vừa qua”. Ông nói rằng Việt Minh ở Đông Dương cổ động dân chúng bản xứ đã lâu rồi và đám dân chúng rộng lớn thì theo “chủ nghĩa chủng tộc và thân Nhật”. Nếu họ giành được chỗ đứng ở Đông Dương, thì điều đó báo hiệu sự kết thúc ảnh hưởng của người da trắng ở Đông Nam Á. Họ nhắc nhở tôi rằng nếu không có gần 80 năm sống dưới sự “nhân từ” của người Pháp thì người An Nam đã phải quỳ gối xuống trước người Trung Quốc mà không hưởng dược cái lợi của nền văn hoá phương Tây và Pháp.
Không cần phải làm cho các vị khách người Pháp phải nổi giận, tôi đồng ý là nước Pháp chắc chắn đã góp phần vào việc phương Tây hoá Đông Dương, nhưng vấn đề sắp tới là làm thế nào để khôi phục một cách tốt nhất sự tiếp xúc với bên trong và đưa họ tới chỗ chống lại kẻ thù chung của chúng ta là người Nhật. Một người AGAS trở lại ý kiến lúc đầu của mình là có thể sử dụng người Việt Nam và nước Pháp thừa nhận đó là một biện pháp, nhưng vẫn giữ ý kiến là điều đó có thể gặp nguy hiểm. Sau đó câu chuyện chuyển sang những đề tài khác.
Khi các vị khách đi khỏi, đội AGAS hỏi tôi suy nghĩ như thế nào đối với Việt Minh. Tôi chỉ nói rằng SI và AGAS có thể xem xét một hành động chung với Việt Minh và tôi hy vọng sẽ gặp được một người của Việt Minh không để cho người Pháp biết, và cần AGAS giúp tìm cho một người Trung Quốc. Họ đồng ý.
Hôm sau tôi đi sâu vào xem xét nhóm GBT. Với sự giúp đỡ của đại tá Emblanc và một số sĩ quan khác thuộc phái đoàn quân sự Côn Minh, Gordon đã lập được một vài đường vô tuyến điện ở biên giới Đông Bắc. Ông ta cũng thành công trong việc tổ chức một số “hệ thống liên lạc” giữa Hải Phòng và Hà Nội, và thỉnh thoảng đã cung cấp được thông tin OSS - Côn Minh và hạm đội Mỹ ở Trung Quốc.
 
ÔNG WANG YEH LI
Công việc tiếp đó của tôi là đi tìm Wang Yeh Li. Một người cộng tác với AGAS biết nói tiếng Trung Quốc đã giúp tôi tìm ra cho một quán trà tối tăm mà tôi đang cần tìm. Nó nằm trên một đường phố chật hẹp có những cửa hiệu đang mở của buôn bán và đầy những người có cả những đứa trẻ con ở trần mỉm cười chào thân mật “ting hao”. Bà Wang chào đón chúng tôi; chồng bà, như bà nói, đang đi ra đâu đấy một lát. Chúng tôi chờ đợi và gọi nước chè, thấy có một số người Trung Quốc đi vào. Họ không ăn cũng không uống gì mà đi thẳng vào cái phòng gần đó. Một vài người trở ra sớm và đi khỏi đây; nhưng người khác thì hoặc là những người trong nhà hoặc là đi ra bằng lối khác. Chúng tôi suy xét điều đó và kết luận rằng quán trà này còn là một cái gì hơn nữa ngoài một nơi uống trà và ăn bánh bao.
Một người Trung Quốc khá trẻ bước vào, đi thẳng tới bàn chúng tôi và không ngần ngại tự giới thiệu bằng tiếng Anh. Ông ta nói tên của ông ta là Wang và ông ta đang đợi gặp tôi. Tôi giới thiệu người bạn của tôi là trung uý “Karl” (nhân viên AGAS hiếm khi để lộ tên thật của họ). Wang không có cung cách xã giao phương Đông thường thấy và bằng tiếng Anh Hongkong của mình, ông ta hỏi có tính chất thăm dò về những cảm tưởng của tôi đối với Trung Quốc và về việc Quốc dân đảng sẽ ra sao khi Mỹ có một Tổng thống mới. Ông ta không tin chắc rằng nước Nhật sẽ bị đánh bại trong mấy năm tới, có thể là chưa phải năm 1947 hay 1948, và lúc đó chắc là nước Nga sẽ tham chiến. Ông ta cho rằng tôi cùng với tướng Chennnault đang tiến hành một công việc tình báo nào đó. Ông ta như muốn đánh giá tôi, muốn biết những xu hướng chính trị của tôi và muốn biết xem mục đích của việc tôi đến thăm là gì. Chậm rãi, tôi giúp ông ta nắm được những thông tin mà tôi thấy rằng cần để ông ta nắm được. Vâng, tôi làm tình báo với OSS. Dưới quyền của Wedemeyer, chứ không phải của Chennault. Không, tôi không quan tâm đến chính trị Trung Quốc mà chỉ quan tâm đến hoạt động của Nhật ở Đông Nam Á. Tôi cần tổ chức một mạng lưới những người hoạt động bí mật ở Đông Dương, tốt hơn cả là với sự giúp đõ của người Việt Nam. Cuối cùng, Wang nhận xét rằng chỉ có người Trung Quốc và người Việt Nam mới có thể thành công trong một công việc như vậy và có thể ông ta sẽ nói đúng cái người có thể giúp cho chúng ta. Liệu tôi có muốn gặp người đó không? Có, tôi trả lời, nhưng đó là người nào? Ông ta chỉ nói đó là “một người An Nam có ảnh hưởng và khoáng đạt”. Sau mọi chuyện tôi cảm thấy dường như ông ta nói đến ông Hồ, nhưng không một ai trong chúng tôi nhắc tới cái tên đó, và theo một ý nghĩa nào đó, đó là cách kiểm tra sự bí mật. Tôi muốn tin vào Wang và Wang sẽ có thể giới thiệu cho tôi đúng con người ấy. Tôi muốn liều một chuyến và đồng ý sẽ đến gặp Wang về mục đích này chiều hôm sau. Tôi sẽ tới một mình.
“Karl” không tin đến như vậy. Trở về chiếc xe của chúng tôi, anh ta bày tỏ vẻ khó chịu của mình. Tay chân của Tai Li ở khắp nơi và không ai chắc được về người Trung Quốc như ông ta. Tôi chợt nghĩ phải chăng ông ta đã biết ít nhiều về Wang? Tôi nói cho “Karl” biết ai bố trí cho tôi gặp Wang và tại sao, anh ta cảm thấy yên tâm nhưng vẫn thuyết phục tôi rằng có thể Wang là một người Cộng sản Trung Quốc, phải hết sức thận trọng, và đó là người có thể tin được. Tuy vậy anh ta nói là sẽ xem xét kỹ hơn nhóm của Wang.
Chiều tối hôm ấy tôi nhận được bức điện vô tuyến của Helliwell cho tôi biết đang xảy ra một chuyện cấp bách. G-2(3) hỏi về những hoạt động OSS ở Hà Nội và Sài Gòn. Bộ chỉ huy muốn biết tin tức về những đơn vị chiến đấu Nhật mới tới và xác nhận những sân bay và những căn cứ quân sự mới theo cách nhìn từ trên không. Bộ chỉ huy cũng đòi hỏi phải tiến hành cấp tốc một chiến dịch tuyên truyền chống lại quân đội Nhật thuộc sư đoàn 37 để làm giảm tinh thần và gây đào ngũ. Bộ chỉ huy muốn biết mọi điều và tất nhiên là họ có quyền làm như vậy. Rõ ràng là chúng tôi phải nhờ đến sự giúp đỡ của bất cứ ai - người Trung Quốc, người Việt Nam hay người Pháp - để bắt đầu tiến hành hoạt động.
Để cho chắc chắ, tôi tìm quán trà nằm giữa những con đường hẻm rối rắm kia, và chúng tôi lại đến đó một lần nữa vào buổi chiều ngày hôm sau lúc còn sớm. “Karl” nói cho tôi biết rằng Wang đúng là một người Cộng sản Trung Quốc đã hoạt động tích cực trong Đồng minh Hội, tổ chức của những người lưu vong ở Liễu Châu và Quế Lâm. Tối hôm trước Wang bị nghi ngờ là có hướng chống Quốc dân đảng vì sự liên hệ mật thiết của ông ta với Việt Minh, nên ông ta đã bị Đồng minh Hội khai trừ và hiện nay ông đang chờ cơ hội để lên phía bắc với nhóm của Mao ở Diên An.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:54:16 PM
MỘT QUÁN TRÀ TRONG LÀNG

Mặt trời đã lặn khi tôi và Wang đi vào một cái làng nhỏ gọi là Chiu Chow Chich. Phải mất 45 phút để đi xe qua 6 dặm từ Trình Tây, trên một con đường hẹp (và chỉ có con đường đó). Cuối ngày, tất cả đều đi ngược lại chúng tôi - người, gia súc và xe bò - khiến chúng tôi phải dừng lại không biết bao nhiêu lần vì bị trâu bò và xe chở lặc lè ngăn cản. Làng này chỉ là một cụm nhỏ 15 hay 20 ngôi nhà nhỏ bé có tường thấp và vôi gạch đổ nát bao quanh. Wang chỉ một ngôi nhà thấp nằm ở giữa.
Khi chúng tôi vừa đỗ xe gần đó, hai người ra gặp chúng tôi(4). Họ không phải là người Trung Quốc. Wang đi lên trước và nói mấy câu mà tôi tin đó là tiếng Trung Quốc. Người lớn tuổi hơn trong hai người đó là một người mảnh khảnh, thâm thấp, 50 hay 60 tuổi gì đó; ông ta đến gặp tôi với nụ cười niềm nở và chìa tay ra. Ông ta nói tiếng Anh rất thành thạo. “ Xin chào! Người bạn tốt của tôi”. Tôi nắm lấy bàn tay gần như mỏng mảnh của ông Hồ và bày tỏ sự vui sướng của tôi vì gặp được một người có nhiều người bạn Mỹ ở Côn Minh. Sau đó, ông Hồ giới thiệu người Việt Nam khác, ông Lê Tùng Sơn, như là một người cộng tác gần gũi của mình trong Liên minh.
Wang dẫn mọi người vào một căn phòng sáng lờ mờ, dường như có một cái bệ nhỏ. Ông Sơn vào sau cùng và cài cửa ra vào cũng như cửa sổ thật cẩn thận. Ông Hồ bước tới chiếc bàn duy nhất và mời chúng tôi ngồi. Vừa rót nước chè cho chúng tôi, ông Hồ vừa giải thích rằng ông Sơn không nói được tiếng Anh và tiếng Pháp, nhưng hiểu được tiếng Pháp đôi chút. Ông Hồ nói mình thích dùng tiếng Anh vì cần phải luyện tập.
Wang đi thẳng vào vấn để. Chi nhánh Côn Minh của Việt Minh hy vọng cộng tác với Đồng minh và chúng ta đến đây để thu xếp công việc. Không do dự, ông Hồ đáp lại rằng có thể cộng tác được, rằng ông Phạm Viết Tự đã tiếp xúc với Lãnh sự quán Mỹ từ tháng 8 trước và ông Langdon đã có thái độ tốt đối với người Việt Nam (đó là một lời cường điệu về lập trường của Tổng lãnh sự, như tôi đã biết). Thật ra, ông Hồ nói tiếp, AGAS và Việt Minh đang tổ chức một hoạt động bí mật ở trong nước để giúp những phi công bị rơi, nhưng ông coi điều đó có một ý nghĩa khác.
Ông Hồ nói ông cần nói trước hết tới những người bạn thân của chúng tôi. Ông rất muốn biết làm thế nào tôi biết đến Việt Minh và hơn nữa, tới ông. Tôi nói thẳng thắn nhưng chỉ nêu bật lên những điểm chính rằng, ở Washington tôi đã nghe nói ông bị Quốc dân đảng “bắt giam”, rằng ông làm việc trong Đồng minh Hội, rằng ông cộng tác với Đồng minh để cứu những phi công bị rơi, và tất nhiên nói đến cả cuộc chuyện trò của tôi với Phương. Tôi thấy ông Hồ rất quan tâm đến những điều tôi để lộ ra, và trong một thoáng, thấy ở ông một ánh mắt ngạc nhiên và hài lòng khi biết rằng cái tên Hồ Chí Minh không phải không được giới chính thức ở Washington biết tới, nhưng ông trở lại bình thường rất nhanh. Ông hỏi tôi có biết thiếu tá Glass không; tôi nói với ông, Glass đã gợi ý cho tôi đi tìm một người “An Nam thân thiết” ở Bắc Kỳ và tôi ngạc nhiên thấy rõ ông có thể là người đó.
Con người mảnh khảnh, nhỏ bé và kỳ lạ ấy cười rộng miệng và dành mấy phút để ca ngợi Austin Glass, “người Mỹ Việt Nam”. Ông Hồ nhắc lại với một cảm tình rõ ràng là thật sự rằng người Việt Nam ở Hải Phong đã quý trọng Glass như thế nào, ông ta đã lấy một phụ nữ Việt Nam và đã sống ở Đông Dương hơn 30 năm. Theo ông Hồ, Glass biết tiếng Việt rất thạo, hiểu những vấn đ xã hội, kinh tế và chính trị của Việt Nam vớ một thái độ thân thiết và có thiện cảm. Ông nhắc lại trong khi người Nhật chiếm Bắc Kỳ năm 1940, Glass là một trong những người phương Tây đầu tiên bị Kempeitai(5) giám sát một cách khó chịu, không phải vì ông ta thân Pháp mà vì ông ta tán thành mạnh mẽ tinh thần độc lập và chống phát xít của người Việt Nam. Ông Hồ nhắc lại một cách sinh động những lời kể của nhiều người bạn Việt Nam của Glass ở Hải Phòng đã từng lên tiếng chào Glass khi ông ta rời khỏi Hải Phòng trong một cuộc trao đổi nhũng người dân sự Mỹ - Nhật. Vì chưa bao giờ gặp Glass cả, ông Hồ đã kể lại ở cương vị một người thứ ba.
Ông Hồ hút thuốc lá liên tục, ông hút thứ thuốc lá địa phương rất mạnh và hăng. Khi ông cuốn thứ thuốc lá ấy và hỏi mình cuốn đã khá hơn chưa, tôi bèn mời ông một điếu Chesterfield. Mắt ông ánh lên thích thú khi ông đưa những ngón tay nhỏ nhắn và dài ra cầm lấy một điếu và nói thêm với một vẻ tự bào chữa rằng hút thuốc là một tật xấu khá nặng của ông. Về sau tôi thấy điều đó là sự thật. Khi sức khoẻ ông gặp gay go trong những ngày căng thẳng tháng 8 và tháng 9, ông rất thích hút thuốc Chesterfield của tôi. Ngay cả khi ông ho rung cả người lên, ông cũng hút. Dường như đó là một niềm vui thích của ông và tôi chưa bao giờ thấy thích thú nhưu khi thấy ông ưa những điếu thuốc lá của tôi.
Nhưng để trở lại với câu chuyện của chúng tôi, tôi cảm thấy một vài sự dè dặt của ông Hồ đối với tôi đã được xua tan, nhưng ông là một nhà cách mạng lão thành, một bậc thầy về những âm mưu và bí mật, nên ông vẫn tiếp tục đi sâu vào câu chuyện với một vẻ thăm dò dễ mến và tế nhị. Tôi hiểu ông muốn biết những động cơ của tôi và cố khám phá thái độ của tôi đối với nhân dân Việt Nam và nói riêng để xem tôi là người đại biểu cho những quyền lợi thực dân hay đại biểu cho thái độ chống thực dân của Roosevelt. Tôi cần phải giành lấy sự tin cậy của ông và sẵn sàng tham gia cuộc đấu trí biện chứng của ông.
Ông Hồ cũng mô tả khá dài về đời sống khó khăn mà người Việt Nam phải chịu trong mùa đông trước ở Bắc Việt Nam. Vụ lúa tháng 10 bị bão tàn phá, đê bị vỡ, nước lụt tràn ngập. Những thiếu thốn về thuốc men, lương thực, áo quần và vận tải hồi mùa đông lại cộng thêm với việc không có những biện pháp đặc biệt nên đã đưa đến kết quả cuối cùng là nạn đói kinh khủng nhất trong toàn bộ lịch sử dân tộc đã xảy ra.
Những thiếu hụt về lương thực, cộng thêm nạn đầu cơ tích trữ tha hồ về thóc gạo, đã trở nên hết sức gay go hồi tháng Giêng khi sức khoẻ của người Bắc Kỳ và bắc Trung Kỳ xấu đi nhanh chóng. Nhiều người ốm đau hay quá yếu nên không thể làm việc được. Gia súc chết trên nhũng cánh đồng vì không được chăm sóc và thiếu ăn. Hệ thống đê điều phức tạp do người Pháp phát triển và duy trì đã bắt đầu rơi vào tình trạng không được sửa sang trong suốt mùa đông vì ngân sách công ích bị cắt đi. Nhân viên người Pháp ngừng làm việc và những người Việt Nam không được huấn luyện không thể thay thế họ. Những đường sá lớn ở đồng ruộng cuối cùng bị ngập lụt.
Khi tôi hỏi chính quyền Pháp đã làm gì dể giảm bớt tình hình ấy, ông Hồ xua rộng hai tay và thở dài. “Những gì họ làm bao giờ cũng là theo đuổi quyền lợi riêng của họ”. Ông coi chế độ Decoux là chế dộ của những quyền lợi tham lam, bám lấy những quyền lợi bất di bất dịch và hờ hững với cảnh ngộ của dân chúng Việt Nam. Đáng lẽ phải vạch ra một kế hoạch phân phát những kho lương thực lớn ở phía nam, Chính phủ Decoux lại áp đặt những hình phạt nặng nề, kể cả cái chết, cho những người đang cố sống sót.
Việt Minh đã nắm lấy vai trò lãnh đạo trong cuộc khủng hoảng ấy. Các đơn vị du kích Việt Minh đã đánh vào những kho tàng ở nông thôn Trung Kỳ và Bắc Kỳ(6), chiếm lấy lương thực, đặc biệt là thóc gạo, để phân phát cho những người đang thiếu. Nhiều người đã được cứu giúp, những nạn đói vẫn tăng lên. Chỉ trong mấy tháng, từ 1,5 đến 2 triệu người Việt Nam đã chết đói. Không một người Pháp hay người Nhật nào bị chết đói cả, chỉ có người Việt Nam mà thôi. Các thành phố của người Pháp vẫn sống sót; chỉ có những làng xóm đầy rẫy những xác chết trên các ngả đường, các kênh mương, các cánh đồng, còn những người sống thì rất yếu và hốc hác, vẫn cứ phải đi nhặt nhạnh và chôn cất người chết. Nhiều làng mất từ một phần ba tới một nửa số dân.
Ông Hồ mô tả tai họa của dân mình bằng một giọng đầy xúc động và khi gần kết thúc, trông ông buồn rầu và mệt mỏi. Ông Hồ hứa sẽ gửi cho tôi một “tập ảnh bằng chứng” và một sự tường thuật chi tiết nhan đề “Sách trắng”, do một vài người của ông soạn ra. Tôi nói với ông là tôi muốn có một bản sao và tin chắc rằ nó sẽ được Bộ chỉ huy của tôi quan tâm đặc biệt.
Ông Hồ bày tỏ ý kiến là mọi việc sẽ khác đi sau chiến tranh. “Chúng tôi đang chuẩn bị cho một Chính phủ dân chủ độc lập, do người Việt Nam điều hành vì người Việt Nam”. Với một vẻ trầm ngâm, ông Hồ thừa nhận rằng đó là một nhiệm vụ to lớn. Người Pháp chắc chắn sẽ chống lại một hoạt động như vậy. Người Trung Quốc có những lý do của họ để ủng hộ người Pháp, nhưng cũng có thể đứng về phía người Việt Nam. Còn người Anh thì chắc chắn không để cho cơ cấu thuộc địa ở Đông Nam Á bị sụp đổ; và sẽ là một vấn đề nghiêm trọng nếu họ giúp sức cho người Pháp.
Mặc dù tôi đã tỏ ra khách quan và thận trọng một cách cố ý, không để mình dính líu vào những khía cạnh chính trị của vấn đề Đông Dương, nhưng sự chân thành, thái độ thực dụng và sự hùng biện của ông Hồ đã gây cho tôi một ấn tượng khó phai mờ được. Ông Hồ không hiện lên đối với tôi như một nhà cách mạng không thực tế hay một người cấp tiến cuồng nhiệt, theo đuổi những lời nói rập khuôn, hét to những đường lối của Đảng, hay thiên về phá hoại mà không có những kế hoạch xây dựng lại. Đây là một con người thông minh, thấu hiểu những vấn đề của đất nước mình, một con người biết điều và tinh tế. Tôi cũng cảm thấy có thể tin cậy ông như một bạn Đồng minh chống Nhật. Tôi biết mục tiêu cuối cùng của ông là giành được sự ủng hộ của Mỹ đối với sự nghiệp của nước Việt Nam tự do và thấy rằng ước muốn ấy không trái ngược với chính sách của Mỹ. Từ một quan điểm thực tiễn, ông Hồ và Việt Minh hiện ra như một câu giải đáp cho vấn đề trước mắt của tôi là tiến hành các hoạt động ở Đông Dương.
Đã gần nửa đêm, Wang nhắc tôi trở về Trình Tây, nhưng ông Hồ khẩn khoản mời chúng tôi ở lại để tiếp tục câu chuyện, ông nói thêm- nếu như tôi không cảm thấy mệt hay phải trở về ngay. Chúng tôi ở lại.
Tôi hỏi về những nơi đóng của Bộ chỉ huy Việt Minh và những chi tiết về bộ máy của nó. Wang cắt ngay, theo kiểu Trung Quốc, và ra lệnh cho ông Hồ phải thận trọng. Nhưng ông Hồ giơ tay lên tỏ ý không tán thành những chỉ thị của Wang và trả lời những câu hỏi của tôi.
Bộ chỉ huy đóng ở một số hang tự nhiên phía ngoài gần Cao Bằng. Việt Minh không phải là một đơn vị đặc biệt có thể di chuyển đây đó, mà là một bộ phận rất rộng của người Việt Nam. Nó có mặt khắp nơi, trong công nhân công nghiệp và trong nông dân ở nông thôn. Những đơn vị công nhân và nông dân được tổ chúc thành những nhóm cơ động nhỏ dưới sự chỉ huy của một cán bộ được huấn luyện; mỗi đơn vị có thể hoạt động độc lập hay tập thể tuỳ theo nhu cầu. Chẳng hạn, nếu cần có tin tức về quân Nhật đóng ở Biên Hoà (gần Sài Gòn), thì các đơn vị ở khu vực này sẽ được yêu cầu cung cấp tin tức, tin tức này sẽ được chuyển qua Đà Nẵng (Tourane) và cuối cùng đến Cao Bằng. Phải nhận rằng đó là quá trình chậm chạp và những tin tức đến Côn Minh thì đã cũ rồi. Cũng thế, nếu có lệnh tấn công theo lối biệt kích một đơn vị Nhật ở Sơn Tây (tây bắc Hà Nội), thì tổ chức bán quân sự của Việt Minh ở vùng có thể thực hiện cuộc hành quân ấy.
Ông Hồ cho rằng đó là vấn đề thời gian và khoảng cách. Người của ông được trang bị nghèo nàn, gồm đủ thứ súng ống của Pháp, Bỉ, Anh và Nhật, với ít đạn dược, không có xe cộ và chỉ có rất ít máy vô tuyến điện. Họ bị phụ thuộc vào những vũ khí lấy được, đó là điều chủ yếu nhưng lại đòi hỏi một sự huấn luyện đặc biệt và những người huấn luyện. Nếu thu xếp được với Đồng minh để có những thiết bị liên lạc và một số hạn chế những vũ khí nhỏ để trang bị cho một số đơn vị nhỏ, và sử dụng được những huấn luyện viên Mỹ thì tình hình sẽ thay đổi hẳn đi.
Trong sự trình bày rất ngắn ấy, ông Hồ nói với tôi những gì ông có thể làm đuợc với những gì ông có và những gì ông đang cần có thêm. Bằng những lời lẽ thận trọng, ông nhắc đi nhắc lại đề nghị hấp dẫn của mình mà ông cảm thấy chắc chắn sẽ được chúng ta chú ý một cách nghiêm túc. Với sự khôn khéo của mình, ông không yêu cầu gì cả; ông chỉ trình bày cho tôi nghe giá trị tiềm tàng của tổ chức quân sự - chính trị của mình. Và ông muốn đợi thời cơ nên không yêu cầu một lời hứa nào cả.
Tuy nhiên khi chúng tôi đi vào những chi tiết ấy, tôi thấy mình bắt buộc phải nói rằng tôi không chuẩn bị để cam kết một điều gì. “Ông già” kín đáo, giả vờ ngạc nhiên trước nỗi lo lắng của tôi, mỉm cười một cách ranh mãnh và nói rằng ông không yêu cầu gì hết, ông chỉ trả lời những câu hỏi của tôi về Việt Minh mà thôi. Ông nói là ông hoàn toàn thông cảm, không sao hết. Ông sẵn sàng đi với người Mỹ khi nào người Mỹ thấy sẵn sàng. Tất cả nhũng gì tôi phải làm là làm thế nào để cho người của ông ở Côn Minh biết đang cần những gì và ông mong muốn những thứ đó sẽ được cung cấp.
Đã quá khuya khi Wang và tôi trở về, nhưng đường về vắng vẻ nên đi rất nhanh. Khi đi đường, Wang nói với tôi những lời bông đùa, nhưng tôi có cảm giác ông vẫn còn nhìn tôi với thái độ nghi ngại.
Về tới chỗ trú, tôi thấy rõ sự tương phản giữa cuộc gặp gỡ ấy và cung cách tiến hành những cuộc họp như vậy trong chiến tranh ở châu Âu và châu Phi. Ở đó, những đại diện bí mật thường đưa ra những lời xác nhận to lớn về những gì họ có thể thực hiện (thường là thổi phồng), chỉ cần họ được cung cấp vũ khí và tiền (những khoản tiền lớn). Ông Hồ thậm chí không nhắc gì đến chuyện tiền cả. Và ông đã thẳng thắn cho biết là người của ông đã lấy được vũ khí. Ở Nam Tư, các sĩ quan OSS biết rằng những người hoạt động bí mật đã chôn đi nhiều vũ khí lấy được của Đức và kêu ca thiếu vũ khí. Đó là một phương châm để khi kết thúc chiến tranh, họ muốn giải quyết những sự tranh chấp nội bộ của họ vơớ những kho vũ khí càng nhiều càng tốt. Về chuyện này, những điều như vậy cũng xảy ra ở Trung Quốc, khiến cho những viên chỉ huy Mỹ rối trí lên. Còn ông Hồ thì lại cho biết những vũ khí của mình như hiện có và không yêu cầu gì về tiền nong cả. OSS thường quen trả tiền cho tình báo. Kết luận của tôi là cuộc gặp gỡ đêm nay sẽ mang lại nhiều điều tốt lành.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:56:16 PM
QUÂN ĐỘI CỦA SABATTIER
Sáng hôm sau, tôi đáp máy bay đi Poseh, cách Trình Tây về phía bắc chừng 30 phút bay. Một người tiền trạm của chúng tôi đang làm việc với những nhân viên của GBT và của Hạm đội Mỹ và làm việc tốt. Poseh là một điểm tập trung khác của những lực lượng Pháp vừa rút lui nhưng vì không cần nấn ná gì ở đây nên tôi lại bay trở về Szemao vào ngay chiều hôm ấy.
Khi tôi xuống khỏi máy bay, tôi được biết một trong hai đội SO của chúng tôi được gửi tới cho các lực lượng của tướng Sabattier ở Đông Dương đã bị một đơn vị tiền duyên Nhật phục kích, do lỗi của tình báo Pháp. Dưới lửa đạn nặng nề của người Nhật ở Don Chai (gần Mong Ou Tay), đội của thiếu tá Summers giữ được vị trí của họ nhưng những máy vô tuyến điện, mật mã và những thiết bị đặc biệt đã bị phá huỷ và sau đó đã chạy về phía bắc. Helliwell và Davis yêu cầu tôi theo dõi họ. Tôi tìm thấy họ ngày 2-5, sau nhiều lần bắn pháo sáng trên các đường núi và rừng rậm. Họ đã ở biên giới Cheng Tung (hay Keng Tung) bên phía Trung Quốc và còn nguyên vẹn sau những thử thách ngặt nghèo khi lang thang xuyên rừng rậm. Tôi đã thu xếp cho họ chuyển tới Côn Minh.
Tướng Sabattier, đang trên đường đến Szemao, đã phái De Monpezat tới trước báo cho tôi biết ông ta cần thảo luận với tôi về cuộc kháng chiến của người Pháp. Tôi báo cho Helliwell và được chỉ thị là “không cam kết gì cho đến lúc nào việc giải quyết mối quan hệ của Pháp với chiến trường được sáng tỏ”. Tuy nhiên, nếu các kế hoạch xem ra là tốt, Helliwell nói, thì ông ta sẽ “thúc giục để có hành động ngay 1ập tức”.
Chúng tôi gặp nhau ngày 2-5 ở Szemao, và tướng Sabattier bày tỏ lòng biết ơn về việc ủng hộ mà người Pháp đã nhận đuợc của OSS và của Đội không quân thứ 14 trong “giờ phút bi thảm” của họ và tỏ ý hy vọng người Mỹ tiếp tục sự giúp đỡ “hào hiệp và có thiện cảm” ấy. Ông ta cho tôi biết để khỏi bị hiểu sai rằng ông ta là “chỉ huy tối cao của tất cả các lực lượng Pháp ở Viễn Đông” và ông ta hành động theo những chỉ thị trực tiếp của chính phủ lâm thời Pháp. Ông ta định đóng sở chỉ huy của mình ở Côn Minh, ở đó ông ta sẽ chỉ huy tất cả những hoạt động sau này của Pháp “trong sự hợp tác” với Đồng minh. Kế hoạch của ông ta là cải tổ những lực lượng của ông ta ở Trung Quốc dưới sự chỉ huy của tướng Alessandri và đại tá Seguin(7) và đặt họ dưới quyền điều khiển của tướng Wedemeyer.
Về những hoạt động bí mật, ông ta còn nắm trong tay vài trăm sĩ quan và binh lính đã được huấn luyện đặc biệt; những người này muốn và sẵn sàng trở lại Đông Dương và thiết lập lại những mối liên lạc với những nhân viên Pháp đã rời khỏi đó. Tôi hỏi những nhân viên ấy có phải là một bộ phận của mạng lưới của tướng Mordant không, và viên tướng này bày tỏ ngạc nhiên vì tôi biết tổ chức bí mật của họ. Phần nào bối rối, ông ta nói rằng đúng như thế và nói thêm rằng ông ta còn có một mạng lưới riêng trong người Mán(8), những người này “tuyệt đối trung thành” với ông ta. Sau đó chúng tôi thảo luận về những chi tiết trong kế hoạch của ông ta mà ông ta đã phác vẽ lên trên nhiều bản đồ và đồng ý tiếp tục những cuộc thảo luận ở Côn Minh. Viên tướng này mong muốn được dựa vào người Mỹ để được ủng hộ về hậu cần và huấn luyện, và muốn việc huấn luyện ấy sẽ được tiến hành ở Szemao để khỏi lộ những cán bộ Pháp - An Nam cho người Trung Quốc biết.
Thời tiết ở Szemao đã thay đổi. Mây đen phủ kín bầu trời và những trận mưa liên tiếp đổ xuống làm cho việc bay không thể thực hiện được và việc vận chuyển bằng đường bộ trở nên nguy hiểm và chậm chạp. Điều đó làm tăng thêm sự nguy khốn của những người lánh nạn. Dòng người Pháp vào Trung Quốc ở trong tình trạng thê thảm. Mệt mỏi, đói khát, ốm đau, không giày dép, họ đã thiếu kiên nhẫn với bất cứ người chức trách nào. Họ yêu cầu những khu đóng quân thậm chí cũng không thể kiếm được cho quân đội Trung Quốc. Họ cố tịch thu xe cộ và các kho thực phẩm riêng mà không qua các nhà chức trách, kết quả là đã xảy ra những cuộc va chạm gay gắt. Khi họ biết là có người Mỹ đang ở trong khu vực này, thì cơ quan của chúng ta bị bao vây với những yêu cầu của các sĩ quan trẻ tuổi để chúng tôi “ra lệnh” cho người Trung Quốc giải quyết những yêu cầu của họ. Chúng tôi giải thích rằng chúng tôi không có quyền hành gì cả, và đại sứ Pháp có thể cung cấp cho họ. Họ cho rằng đó là một sự trả lòi rất không thoả mãn.
Tôi xúc động sâu sắc trước tình cảnh khốn khổ của một đội quân phương Tây bại trận, bị người Nhật sỉ nhục và đang rời rạc đi vào cửa Trung Quốc để được bảo vệ và lánh nạn. Tôi đã từng trông thấy những đám lớn người Đức và Ý, tù binh chiến tranh cũng như dân sựu, rút về phía sau những chiến tuyến của chúng ta ở châu Phi và châu Âu; nhưng đó là những người phương Tây ở thế giới phương Tây. Còn ở châu Á, tình hình lại mang những kích thước khác, không diễn tả được nhưng lại là có thật. Những sự khác nhau về chủng tộc và văn hoá hàng chục năm nay bị che đậy dưới những sự tế nhị ngoại giao và xã hội bỗng nhiên nổi rõ bề mặt. Người Pháp, tượng trưng cho văn hoá và sức mạnh quân sự châu Âu ở châu Á đã bị đập tan bởi một cường quốc phương Đông và đang chịu sự ơn huệ đầy khó chịu của một dân chúng phương Đông khác. Bề ngoài người Trung Quốc tỏ ra có thiện cảm, muốn giúp đỡ và nhân từ; ở phía trong họ lại theo đòi một thói quen đáng kinh tởm là chần chừ một cách lễ độ, rạch ròi về chính trị và tôn trọng chặt chẽ những tập quán địa phương có thật hay tưởng tượng cũng như những hiệp nghị quốc tế. Đây là tinh thần “ngược đời của người châu Á, mà chúng ta phải gánh chịu”.
Về phía người Pháp, cũng có những vấn đề có liên quan với chủng tộc: những khó khăn về ngôn ngữ, những nhu cầu cá nhân và tình trạng mất mặt, tất cả đều góp phần tăng thêm nỗi thất vọng của người Pháp, thể hiện ra ở những yêu cần không hợp lý và tâm trạng kiêu ngạo quá mức của họ đối với tất cả nhũng người châu Á. Kết quả là những cuộc va chạm thường xuyên với những ngụ ý chủng tộc âm ỉ.
 



Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:56:50 PM
MỘT CHÂN DUNG THỰC DÂN

Trong 8 ngày từ khi tôi đặt chân lần đầu đến Szemao, nơi đây trở thành trại tập trung người Pháp. Tôi có một cơ hội tốt để thu lượm tin tức từ những người lánh nạn và tuyển mộ người Pháp cho những hoạt động bí mật, do đó tôi yêu cầu Helliwell cử đến một sĩ quan nói tiếng Pháp giỏi với một bộ phận giúp việc. Ông ta gửi trung uý John P. Spaulding và một số nhân viên mới tuyển, và tôi quyết định lưu lại ở đó một thời gian nữa. Suốt trong 10 ngày, tôi phỏng vấn có lẽ tới hơn một chục sĩ quan và gấp đôi số ngưuời ấy gồm có hạ sĩ quan và những nhân viên cấp thấp hơn, cả người Pháp lẫn người Việt Nam, cộng với những viên chức dân sự và những nhà kinh doanh. Nhưng cuộc nói chuyện ấy cho thấy một bức tranh không có gì hấp dẫn của thái độ hững hờ, tinh thần trả thù và quyền lợi ích kỷ.
Những thái độ của những người lánh nạn về căn bản phản ánh chính sách quốc gia của Pháp cũng như những kinh nghiệm của họ về tổ chức dân sự hay quân sự dưới chính phủ Decoux từ năm 1940. Họ cảm thấy cảnh ngộ hiện nay của họ sẽ sớm kết thúc và họ trở về Đông Dương để lấy lại những gì mà họ đã để lại. Sẽ không có gì thay đổi.
Tôi cảm thấy hầu hết những người lánh nạn đã sống những năm tháng của mình ở Đông Dương mà không hề rời khỏi môi trường Pháp của mình. Sự hiểu biết của họ về dân bản xứ, về những đặc trưng dân tộc và những nguyện vọng chính trị giống như sự hiểu biết của một người đi qua ngẫu nhiên. Họ coi những nhân viên Việt Nam trong quân đội của họ như “những binh lính và cu-li tầm thường” mặc dù nhiều người Pháp đã nhận được một sự ủng hộ trung thành của những đội quân và những người dân thường “bản xứ” trong những cuộc xung đột với người Nhật. Điều đó được coi là “bình thường và là bổn phận của họ”. Đối với những người đó, “cuộc kháng chiến bản xứ” không phải là một phong trào có xung lượng riêng mà là một bằng chứng thành công của chủ nghĩa tự do và của sự lãnh đạo của Pháp.
Gần như nhất trí, những người Pháp mà tôi phỏng vấn đều cho rằng người Việt Nam không đủ sức gánh trách nhiệm chính trị. Họ thừa nhận những kẻ theo chủ nghĩa quốc gia đang tồn tại, nhưng “đã tỏ ra hèn kém khi đụng phải Sureté(9) hay Quân đội”. Thái độ của người Pháp tốt lắm cũng chỉ là thái độ cha chú. Còn thái độ tệ hại nhất thấy có ở một số ít người là thuần tuý khinh miệt, được cô đọng lại trong thái độ của một sĩ quan cho rằng “không có một người An Nam chân thành nào”.
Đối với những Đồng minh phương Tây, tôi thấy có những thái độ rất khác nhau, nhưng số đông nhất có thái độ nghi ngờ những ý định của Đồng minh. Cá nhân tôi đã thấy những thành viên trong Phái đoàn quân sự Pháp ở Szemao tự mình truyền cho những người mới tới sự nghi ngờ ấy, trước khi họ tiếp xúc với bộ phận của tôi. Sự bảo vệ quyền lợi người Pháp chống lại lòng thèm khát đượcc gán cho người Anh và người Mỹ rõ ràng là cái cớ để biện hộ cho sự hợp tác vừa qua của họ với người Nhật.
Rất ít sĩ quan Pháp tỏ ra thẳng thắn như người cuối cùng đã hỏi tôi “có phải người Mỹ định sẽ sử dụng những con đường sắt Đông Dương sau chiến tranh không?”. Sau khi lẩn tránh những câu hỏi của tôi về vận tải Đông Dương, một số ít người bào chữa cho chủ trương gây trở ngại của giói cầm quyền và tỏ ra sẵn sàng cộng tác về những vấn đề tình báo nếu sự cộng tác của họ không bị những nhà chức trách Pháp biết. Một nhà kinh doanh bày tỏ ý muốn được thấy xứ này(10) phát triển lên bằng tư bản và tính năng nổ của nước ngoài nếu những nguồn tư bản của Pháp không thể đáp ứng với nhu cầu. Nhưng ông ta là người duy nhất nói ra điều đó với tôi.
Mặc dù thái độ của người Pháp đối với những Đồng minh phương Tây có vẻ lạ lùng đối với nhiều người Mỹ ở Trung Quốc, nhưng tôi không thấy thế. Trái lại, tôi hiểu đó là sự mở rộng tự nhiên của lập trường chính thức ở Paris, dưới chính quyền mới của De Gaulle. Người phát ngôn của Chính phủ Pháp đã công nhiên khiển trách những sự hoang tưởng nặng nề về chính trị của người Pháp ở Syria và Lebanon trước những hoạt động của người Anh và cũng lên án người Anh mưu toan thay thế người Pháp ở những thuộc địa ở Trung Đông của họ. Các Bộ trưởng Pháp khi trình bày với Hội đồng tư vấn đã lên án Mỹ âm mưu chiếm Nouvelle Calédonie và những căn cứ ở Đông Dương. Sự phê phán của báo chí Mỹ về chính sách thuộc địa của Pháp đã bị Bộ trưởng Ngoại giao Bidault gạt bỏ một cách khinh bỉ với sự nhấn mạnh rằng “nước Pháp không cần phải học ai về những vấn đề này”. Thái độ xấu đối với Mỹ do chính sách chống thực dân của chúng ta có thể hiểu được, nhưng công kích người Anh, bạn Đồng minh mạnh mẽ duy nhất trong việc chống đỡ cho lý tưởng “đế quốc” bị nghiêng ngả, là một thái độ thiển cận và u uất.
Dù sao, tôi vẫn báo cáo cho cơ quan Chiến trường và Đại sứ về việc tôi từ Côn Minh trở về với thái độ nghi ngại và bực bội của Chính phủ Paris và của các nhà chức trách thuộc địa. Cả hai đều nhằm phục vụ mục tiêu của các giới cầm quyền Pháp là khôi phục vị trí của Pháp trước chiến tranh mà không chịu chấp nhận một sự thoả hiệp nào. Họ có thể dùng đến những phương pháp chắc chắn sẽ gây ra sự phê phán và làm suy yếu việc phối hợp nỗ lực chiến tranh của Đồng minh. Sự chống đối của Đồng minh tỏ ra không hiệu lực vì Đồng minh đã có thái độ thiếu ngay thẳng và một quyết định giải quyết các vấn đề một cách quá nhanh và trọn vẹn bằng việc sử dụng những đội quân của Pháp ngay trước khi các vấn đề được hỏi đến. Như các sự kiện về sau này chứng tỏ, việc giao phó cho các nhà chức trách Pháp thực hiện chính sách đó nôn nóng đã bị hạn chế, và mức độ ủng hộ cần phải có của những người dân trong nước họ cũng đáng ngờ. Nhưng họ lại cần phải đặt nước Pháp và phần còn lại của thế giới trước một việc đã rồi - đó là một nhiệm vụ không thể làm được.
Những cuộc thảo luận của tôi trong những ngày ban đầu ấy với tướng Sabattier, tướng Alessandri, đại tá Emblanc và thiếu tá De Monpezat cũng cho thấy một vấn đề ít lộ ra công khai trong nội bộ Đồng minh mà chỉ có một số ít người Pháp hiểu được. Điều đó có liên quan đến nhiều cuộc tiếp xúc công khai và bí mật giữa Trung Quốc và Đông Dương.
Hoa Kiều ở Đông Dương nói chung đối địch với người Nhật. Sự hợp tác công khai của họ với với giới quân sự Nhật hồi đó không được người Pháp coi là không trung thành - đó chỉ là một yêu cầu của chiến tranh, một sự thu xếp thực dụng. Nhưng người Pháp mà tôi đã nói chuyện với họ, cho rằng cộng đồng người Trung Quốc ở Đông Dương sẽ chào đón sự cai trị của người Pháp quay trở lại, không phải vì lý do nào khác ngoài lý do ổn định kinh tế.
Tuy nhiên các nhà chức trách Pháp lại rất quan tâm đến thái độ của Quốc dân đảng Trung Quốc. Họ lo ngại về những bài phát ra trên báo chí Trung Quốc, đã thông qua sự kiểm duyệt của Trùng Khánh, đang kêu gọi nhập lại Đông Dương vào Trung Quốc, trong khi những tờ báo bán chính thức của Trung Quốc thì lại khuyến khích các nhóm cách mạng Việt Nam khác nhau. Những người cách mạng đã ủng hộ một cách khác nhau mọi chủ trương đoàn kết với Trung Quốc để hoàn thành nền độc lập của Việt Nam. Dù con số những người cách mạng ấy còn ít, nhưng họ họp thành những trung tâm tuyên truyền chống Pháp, điều duy nhất mà những người cách mạng đồng ý với nhau, và đó là nguồn rối loạn ở “thuộc địa”. Chính phủ Trung Quốc ít phân biệt những nhóm cách mạng ấy, dung nạp tất cả, nhưng cộng tác chặt chẽ nhất với chi nhánh An Nam của Quốc dân đảng. Hơn nũa, các nhà chức trách Pháp còn biết rằng Tai Li đang nắm giữ một mạng lưới tay chân khắp Đông Dương và mạng lưới này đang tránh né cả “Sureté” cũng như “Kempeitai”.
Các thủ lĩnh quân sự Pháp sẵn sàng thừa nhận rằng Decoux cũng giống như những người tiền nhiệm của ông ta, đã không thể đè bẹp được những đảng bí mật khác nhau ở Đông Dương hay ngăn ngừa được sự thâm nhập bí mật của Trung Quốc, cả hai đều được chỉ đạo từ Trung Quốc. Hơn nữa, sau cuộc đảo chính, người Nhật lại ban hành quy chế chính thức cho một nhóm quốc gia ở Đông Dương. Nhưng các thủ lĩnh quân sự Pháp vẫn thấy Việt Minh là mối đe doạ lớn nhất đối với chủ quyền của Pháp. Việt Minh đang tiếp tục những hoạt động ngấm ngầm chống lại người Nhật và người Pháp trong suốt cuộc chiến tranh, nhưng bị tất cả các phần tử chống Cộng ở Việt Nam khinh rẻ.
Chính quyền Decoux không có mấy cố gắng để tranh thủ sự ủng hộ của những người dân thường, do đó không có gì ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam ít tôn trọng nó. Tuyên truyền của Pháp vẫn hoàn toàn giữ lối nói rằng nền văn minh Pháp đã ban cho Đông Dương những điều may mắn về văn hoá. Những quy định cải cách thuộc địa khác nhau do chính phủ De Gaulle đưa ra trong những cuộc thương lượng Pháp - Anh - Mỹ được công bố rất ít. Khá lạ lùng là chính người Nhật đã dùng những quyết định ấy để đối chiếu với những cải cách ít ỏi được hứa hẹn và với mối đe doạ được giả định về sự bóc lột của Anh - Mỹ sau chiến tranh, với những mối lợi phi thường mà người Việt Nam có thể tìm thấy ở chương trình của Nhật Bản về khối thịnh vượng chung Đại Đông Á.
Sau đảo chính, đường lối tuyên truyền của Pháp, trước kia cũng tỏ ra vô hiệu, bây giờ chỉ tập trung vào quyết định của Pháp giải phóng Đông Dương khỏi ách áp bức Nhật Bản. Sự tan rã của bộ máy tuyên truyền Pháp và sự kiểm soát của người Nhật đã làm cho người Pháp không đến được Việt Narn, là những người bất kể thế nào cũng không tin vào họ nữa. Tuy nhiên, vào tháng 4, người Pháp lại đặt hy vọng của mình vào sự phản ứng thù địch của Việt Nam đối với sự chiếm đóng của Nhật, trái với điều mà họ từng thấy khi còn sự cai trị rộng lượng của họ. Họ tin chắc là người Nhật rốt cuộc sẽ đưa người Việt Nam trở lại những cánh tay của người Pháp. Hy vọng ấy được duy trì bằng một ảo tưởng về thiện chí bẩm sinh của các nhà vua ở An Nam, Cambốt và Lào. Đó là một sự tin tưởng sai lạc vì không tính đến những người Việt Nam bình thường và nguyện vọng độc lập hoàn toàn của họ.
Trong khi tất cả những người Pháp hân hoan với sự chào đón mà người Việt Nam sẽ dành cho sự cai trị trở lại của người Pháp, vẫn có một số sĩ quan Pháp quyết định phải khôi phục sự cai trị của người Pháp, bằng cách sử dụng những đội quân Pháp ở châu Âu. Không một người Việt Nam nào được đại diện trong các hội đồng của những thủ lĩnh thuộc địa lưu vong. Những hạn chế có chủ tâm được áp đặt cho việc tham gia của những đội quân “bản xứ” vào việc giải phóng nước mình. Người Việt Nam vẫn bị đặt ra ngoài rìa những hoạt động bí mật của Langlade - Mordant - Sabattier, và các thủ lĩnh quân sự Pháp đã phản đối việc phát vũ khí cho cái họ gọi là “du kích bản xứ”. Họ vẫn thi hành chính sách tôn trọng những đội quân “bản xứ” đang chiến đấu trong quân đội Pháp với những cam kết mới đây mà lòng trung thành tiếp tục của họ không có gì đáng nghi ngờ cả.
Chính sách khai trừ ấy rõ ràng không phải do yêu cầu chiến thắng nước Nhật mà được vạch ra vì quyền lợi phiến diện của Pháp. Nó phải đảm bảo cho các lực lượng Pháp những cánh tay hoàn toàn rảnh rang để đối phó với hậu quả nổi lên sau khi đuổi được người Nhật. Nó phải đảm bảo chỉ có những đội quân người Âu dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp giữ được quyền kiểm soát về tiếp tế và vũ khí để người Pháp sử đụng khi họ trở lại “thuộc địa” bằng sức mạnh vũ khí.
Tôi đưa tất cả những điều đó vào bản báo cáo về người Pháp ở nam Trung Quốc, nói chung chúng được tiếp nhận tốt, nhưng có ai đó trong Đại sứ quán chúng ta cho rằng tôi đã giải thích quá nghiêm khắc về những động cơ của Pháp. Điều đó làm cho Côn Minh và Trùng Khánh tưởng rằng tôi là một người chống Pháp. Tuy nhiên sự cộng tác sau này của tôi với các nhà chức trách Pháp ở Trung Quốc đã chứng tỏ tôi không chống Pháp mà chỉ tán thành Đồng minh mà thôi.
Chúng tôi, những người Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương, có một mục tiêu vượt lên tất cả - đánh bại nước Nhật ngay cả khi phải làm điều đó một mình, biết rằng trong những Đồng minh của chúng tôi có những kẻ sẵn lòng để cho người khác giành thắng lợi trong chiến tranh trong khi họ chuẩn bị để hái những trái quả chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 03:57:42 PM
“NƯỚC PHÁP TỰ DO” THỌC SÂU VÀO

Tôi gửi kế hoạch của tướng Sabattier cho Côn Minh ngày 2-5. Helliwell đã giành được một sự tán thành hạn chế của chiến trường nhằm tiến hành những hoạt động phối hợp Pháp - Mỹ và ngày 6-5 đã điện vô tuyến rằng “O.K! Hãy thử thách Sabattier trước tiên ở Szemao”. Nhưng ông ta cũng cẩn thận dặn tôi nhớ tới “những giới hạn của chúng ta về trang bị và nhân sự” và hãy “tỏ ra kiên quyết để người Pháp bảo đảm rằng trong mọi trường hợp không được để chúng ta dính líu tới bất cứ chuyện gì có tính chất chính trị”. Ông ta còn nhắc nhở nghiêm khắc rằng “không được cung cấp vũ khí và đạn dược” cho người Pháp, ngoại trừ để tự vệ một cách có hạn chế và chỉ trong trường hợp “OSS nắm đầy đủ quyền kiểm soát hành động”.
Cho rằng sự cộng tác chặt chẽ của các tướng Sabattier và Alessandri là điều dĩ nhiên, tôi không ngạc nhiên khi Alessandri mời tôi đến vào chiều ngày 6-5 để hỏi về các kế hoạch của OSS cho những người Pháp hoạt động bí mật. Tôi nhiệt thành nói với ông ta rằng tôi vừa nhận được những tín hiệu từ Côn Minh về kế hoạch của Sabattier. Đứng phắt lên và với thái độ bực bội không cần che đậy, ông ta nói rằng “cuộc kháng chiến của Pháp ở Đông Dương là một việc không dính gì đến Bộ chỉ huy tối cao cả”. Tôi hiểu sai ý của ông ta, tưởng là ông ta nói đến Bộ chỉ huy tối cao của Mỹ, nên sau đó tôi có nói rõ những mệnh lệnh của tôi đều từ đại bản doanh chiến trường đến. Alessandri lập tức lấy lại thăng bằng và nói: “Naturellement!”(11). Tất nhiên ông ta muốn ám chỉ tới Sabattier và sự thu xếp chỉ huy “tạm thời” của Pháp, và đây là sự ám chỉ đầu tiên khiến cho tôi hiểu là về mặt này mọi cái chưa phải là tốt đẹp.
Alessandri đột nhiên bỏ qua vấn đề những hoạt động bí mật, quay sang nói về vấn đề cấp bách hơn là vấn đề tiếp tế cho những đội quân của mình. Ông ta chuyển sang một chuyện dàn hoà khi bày tỏ mối lo ngại của mình về việc tập trung các đội quân đó lại, hiện đang đóng rải rác ở nam Trung Quốc, từ Szemao đến Fanch'eng. Ông ta tỏ ý hy vọng người Mỹ cung cấp cho những khu vực tập tnmg, những phương tiện vận chuyển và những đồ tiếp tế để phục hồi lại những đội quân của ông ta. Tôi bày tỏ sự thông cảm hoàn toàn của tôi đối với những vấn đề của ông ta nhưng buộc phải nói với vị tướng này rằng OSS không có thẩm quyền giúp đỡ và vấn đề này phải được giải quyết ở Trùng Khánh giữa Đại sứ Pháp và Tưởng Giới Thạch. Ông ta kiên nhẫn nhắc lại cho tôi rằng ông ta biết rất rõ những thủ tục thông thường, nhưng đây chỉ là những cố gắng để làm dễ dàng hơn cho một chức năng chỉ huy cấp bách của Đồng minh - những yêu cầu khẩn cấp của các đội quân của ông ta, “một thành phần các lực lượng Đồng minh ở Trung Quốc. Hy vọng làm cho ông ta yên tâm, tôi gợi ý rằng tôi sẽ lấy làm sung sướng hơn nếu thu xếp được cho ông ta hay cho đại diện ông ta gặp ông Snyder thuộc UNRRA, hiện đang ở Szemao; ông này đã được Mỹ uỷ quyền giúp đỡ người Pháp.
Nhưng Alessandri lại hết sức cáu tiết vì tôi nhấn đi nhấn lại rằng ông ta phải giải quyết các vấn đề này ở những nơi khác và rõ ràng không bao giờ quên được cuộc gặp gỡ này. Về sau ông ta bị bắt buộc phải ngồi ở các cuộc hội nghị cấp chiến trường mà tôi cũng thỉnh thoảng tham gia với tư cách đại diện cho những quyền lợi của OSS ở Đông Dương, nhưng ông ta không bao giờ trực tiếp nói chuyện với tôi trong những cuộc gặp ấy. Tháng 9, ở Hà Nội, ông ta bày tỏ sự giận dữ của mình đến mức từ chối tham dự một cuộc họp mặt với tướng Lư Hán(12) mà bản thân ông ta được mời đến, nhưng tướng Gallagher(13) cũng lại mời tôi đến cuộc gặp mặt ấy với tư cách đứng đầu Phái đoàn quân sự Mỹ; với lý do, theo lời ông ta, “thiếu tá Patti không thân thiện với người Pháp”.
Tướng Sabattier đã lên Côn Minh, đoán trước sẽ được một cuộc tiếp đón nồng nhiệt với tư cách là viên chỉ huy cao cấp của các lực lượng Pháp ở Trung Quốc và Tổng đại diện ở Đông Dương. Ông ta đã thất vọng khi không thấy người nào ngang hàng ra đón mình. Côn Minh chỉ là bản doanh của cấp gần nhất. Nơi chỉ huy này cách Trùng Khánh 400 dặm; ở Trùng Khánh, ông ta sẽ có thể gặp Tưởng Giới Thạch và những cố vấn gần gũi của Tưởng, Phái đoàn quân sự Pháp, tướng Wedemeyer và Bộ tham mưu của ông, và Đại sứ Mỹ. Cái gọi là phái đoàn quân sự Pháp ở Côn Minh thật ra là M.5 và đã bị SLFEO của “những bàn tay Trung Quốc cũ”(14) thanh trừng và trở thành trung tâm của phái De Gaulle ở Trung Quốc. Sabattier ở đây không có bạn bè.
Những người theo De Gaulle ở Côn Minh hy vọng sẽ có một nhân vật xuất sắc đại diện cho “nước Pháp mới” - một người nào đó có bóng dáng cao lớn như Leclec, Catroux hay thậm chí Blaizot. Sabattier chỉ là một người giúp việc khốn khổ. Chính trị của ông ta là chính trị của một sĩ quan điển hình của quân đội chính quy Pháp, trung thành với nước Pháp, ủng hộ chế độ đang cầm quyền và nghiêm ngặt tuân theo luật lệ truyền thống về danh dự nhà binh. Với việc Aymé bị bắt, Sabauier trở nên người có cấp cao nhất trên sân khấu nắm giữ chức Tổng chỉ huy tất cả các lực lượng Pháp ở Đông Dương. Sau đó, với sự “biến mất” của Mordant, Sabattier đã được chỉ định thay mặt cho ông ta.
Những người của SLFEO ở Côn Minh, rõ ràng chịu sự chỉ huy từ Calcutta, đã tung ra một chiến dịch làm mất uy tín của Sabattier trong con mắt của quân đội Pháp và của Phái đoàn quân sự Pháp ở Trùng Khánh, bằng cách để hở ra một phần bức điện ngày 10-4 của De Gaulle gửi Sabattier, trong đó nói: “Rõ ràng ông sẽ tiếp tục kháng chiến trên đất Đông Dương, bất chấp mọi khó khăn. Một điều cũng cần thiết như vậy là cá nhân ông phải ở lại Đông Dương cho đến giới hạn cùng tột...”(15). Cũng như những người ấy lúc đó đã cho lưu hành những lời lên án Sabattier rằng ông ta bao giờ cũng là người đầu tiên rời bỏ khu vực của người Nhật đe doạ - là người đầu tiên chạy khỏi Điện Biên Phủ 4 ngày trước khi quân của ông ta di chuyển, khỏi Phong Saly 3 ngày trước khi người Pháp tản cư khỏi khu vực và khỏi Muong Ou Tay 3 ngày trước khi rút lui.
Những sự việc đi trước ấy là những biện pháp bảo đảm an toàn bình thường đối với một vị Tổng chỉ huy, nhưng những việc đó đã bị đẩy đi quá mức và do đó đã đẻ ra một hiệu quả tự hạ thấp mình xuống. Những người theo De Gaulle coi Sabattier là một “sự ngẫu nhiên trống rỗng của số phận”, nghi ngờ năng lực của ông ta trong việc mang croix de Lorraine(16) một cách lịch sự tới vũ đài chính trị ở Trùng Khánh.
Mặc dù có sự chống đối do M.5 để lộ ra, Sabattier vẫn quyết định thiết lập một sở chỉ huy ở Côn Minh cho các lực lượng Pháp và đã ra lệnh cho Alessandri tiếp tục tổ chức và huấn luyện trong khi ông ta đến Trùng Khánh để thảo luận về việc sử dụng các đội quân của Pháp với Wedemeyer và Hà Ứng Khâm. Sabattier có vẻ tự tin và tỏ ra rất ủng hộ những mục tiêu của Đồng minh, nhưng phái De Gaulle chỉ nhìn thấy có Đông Dương, và những ngày của Sabattier ở Trung Quốc không được bao nhiêu.
________________________________________
(1) thuộc tổ liên lạc 19, đội không quân thứ 14
(2) chỉ huy chiến dịch Poitou để thu thập tình báo ở vùng biên giới Cao Bằng
(3) Ban tình báo
(4) Cuộc gặp gỡ đầu tiên diễn ra ngày 27-4-1945
(5) Hiến binh Nhật
(6) Các kho dự trữ của quân Pháp và Nhật
(7) chỉ huy trung đoàn 9RIC
(8) chỉ người dân tộc thiểu số ở miền núi cực bắc Việt Nam
(9) Sở mật thám Pháp
(10) tức Đông Dương
(11) Tất nhiên!
(12) khi đó là Tổng chỉ huy lực lượng chiếm đóng Đông Dương phía bắc vĩ tuyến 16
(13) trưởng đoàn cố vấn và viện trợ quân sự Mỹ cho quân đội Trung Quốc chiếm đóng Việt Nam
(14) từ ngữ mà De Gaulle dùng để nói  về việc bắt cầm tù Mordant tiếp sau cú 9-3
(15) G. Sabattier, “Số phận của Đông Dương”
(16) huân chương Loraine


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 04:03:25 PM
Chương 10
Một phiên họp của “bộ óc”
ĐỘI OSS
Vào lúc tôi rời Szemao ngày 12-5, Spaulding cùng với một đội 20 người đang điều khiển sau trạm thu tin dọc biên giới, tôi rất hài lòng. Trở về Côn Minh, tôi suy ngẫm làm sao để mở rộng những hoạt động của chúng tôi ở bên trong bằng những phương tiện của Sabattier và của ông Hồ có tại chỗ.
Hồi đó Ban tham mưu của tôi ở Côn Minh đã tăng thêm những người mới từ Mỹ đến: trung uý (sau đó là đại uý) Roger P. Bernique, thuộc Lục quân; trung uý (sau đó là đại uý) Carleton Swift Jr., thuộc Hải quân và nhiều lính nghĩa vụ có trình độ cao được huấn luyện về tiếng Pháp và tiếng Việt. Với đội ấy và với sự giúp đỡ của những chuyên viên khác ở ban tham mưu OSS, chúng tôi bắt đầu cuộc hoạt động SI đối với Đông Dương trên qui mô đầy đủ.
Ngay trước khi tôi bay trở về, một chỉ thị mới của chiến trường đã chỉ thị cho OSS “ngăn cản sự vận chuyển và phá hoại đường bộ và đường sắt từ Trấn Nam Quan đến Hà Nội”. Chỉ thị có một giọng cấp bách khác thường: “…trong trường hợp tất cả các đường sắt nằm trong hoạt động này, những đường sắt nào có thể tháo dỡ được thì… phá hủy, cả cầu và đường hầm cũng phá hủy. Ít nhất phải có những khúc đường bộ hay đường sắt dài 10 dặm sẽ không thể hoạt động được nữa. Không để cho người Nhật sử dụng đuờng giao thông… tâấ cả các hầm hố và các ụ đất (sẽ) được gài mìn… (và phải) tiến hành việc phá hủy các kho tàng tiếp tế của Nhật trong hoặc gần Hà Nội… các đội quân phá hoại phải bắt tù bình khi nào có thể đuợc”.
Helliwell và tôi thảo luận bức điện ấy. Thật lạ lùng, chỉ thị quá chi tiết nhưng lại không xác định được mục tiêu rộng lớn; và chúng tôi đều ngạc nhiên về một anh chàng tài tử nào đó ở Bộ tham mưu đã vạch ra chỉ thị đó.
Đây là một công việc thuộc SO/OG(1) chứ không phải thuộc SI, nhưng chúng tôi cũng hỏi Helliwell xem ông ta có chỉ thị gì cho tôi không. “Ngài đại tá hay nổi khùng” ấy, như ở một vài cơ quan thường gọi Helliwell như vậy, cáu kỉnh nói: “Đây là khu vực của anh, anh hãy tới đó”. Rõ ràng đó là lần đầu tiên tôi được báo cho biết là sựu phân công của tôi đi xa hơn việc tình báo bí mật. Với một giọng có phần gay gắt, Heliiwell báo cho tôi biết rằng nhiệm vụ của tôi bao hàm toàn bộ những hoạt động bí mật và chiến tranh chính trị. Helliwell nói rằng những chỉ thị của tướng Donovan cho Heppner đã đặc biệt nhấn mạnh rằng Whitaker và tôi sẽ chịu trách nhiệm trước ông ta(2) về những hoạt động ở Đông Dương. Vào lúc tôi vừa mới bắt tay vào hoạt động SI, tất cả những điều đó làm cho tôi ngạc nhiên phần nào nhưng Helliwell tiếp tục bảo đảm với tôi là tôi sẽ được tiếp xúc và được sự ủng hộ đầy đủ với tất cả các bộ phận tham mưu và ông ta tin rằng họ sẽ cộng tác với tôi.
Ngày hôm sau, Heppner, Whitaker và Quentin Roosevelt(3) từ Trùng Khánh đến ở lại đây một thời gian ngắn. Họ cùng nhập bọn với Helliwell, Duncan Lee và tôi trong một dịp hiếm có - một bữa ăn Trung Quốc được sửa soạn đặc biệt với nhiều món ăn và chúng tôi ngồi nhắm rượu trắng Trung Quốc với rượu mạnh Ecosse của Anh suốt đêm. Những chuyến đi thăm thường xuyên lẫn nhau giữa cái nhóm nhỏ bé tin cậy nhau của chúng tôi được coi như những phương tiện duy nhất để chúng tôi quan hệ với nhau và trao đổi ngay thẳng với nhau những tin tức và quan điểm về chính sách và những hoạt động của Mỹ và tăng cường những liên hệ làm việc của chúng tôi bằng một mối quan hệ cá nhân.
Heppner có một cái đầu lạnh và chúng tôi biết dựa một cách tin cậy vào sự phán đoán vững chắc của ông ta. Ông ta rất lịch thiệp và được ban tham mưu của mình ủng hộ mạnh mẽ, nhưng khi cần có thể cứng rắn được. Được tướng Donovan hoàn toàn tin cậy và được biết riêng về những cuộc thảo luận của Nhà Trắng, ông ta thường đụng phải vấn đề tế nhị nhất với các thủ lĩnh Trung Quốc, nhưng ông ta không bao giờ tỏ ra một thái độ quá bận rộn với một sự mệt mỏi khi nghe hay xem xét những vấn đề của chúng tôi, hoàn toàn ngược lại, bao giờ ông ta cũng vui vẻ và sẵn sàng.
Whitaker dược Donovan giao cho thâm nhập các giới của người Pháp ở Trùng Khánh để báo cho Washington những kế hoạch của Pháp. Đối với công việc được giao ấy, ông ta có lợi thế là đã trải qua 20 năm ở châu Âu như một nhà văn và nhà báo Mỹ. Ông ta có bạn bè ở khắp châu Âu, đặc biệt trong những người Pháp, và có một phong cách tao nhã, một nhân cách xuất sắc và một sự hiểu biết sâu sắc về chính trị châu Âu. Ông ta có mặt trên sân khấu với tư cách là một nhà báo khi Hội Quốc liên suy tàn và chết, đã tới Matxcơva để tìm “sự thật” và trở về vỡ mộng, và đã viết cả một loạt bài từ Ethiopia đến Tây Ban Nha và từ cuộc thanh lọc của Hitler năm 1934 đến cuộc chính biến ở Viên với tư cách phóng viên chiến tranh. Ông ta cảm thấy rằng mình bị ràng buộc một cách sâu sắc với cuộc chiến tranh chống nước Đức và nước Nhật, và hy vọng nước Mỹ cuối cùng sẽ khắc phục được sự yếu ớt của mình là cái đã từng phá hoại Hội Quốc liên cũ.
Helliwell là một nhân vật quyết định và ông ta đau khổ như một người đang ốm ở khi những quyết định chính trị làm trì hoãn những kế hoạch và hành động của mình. Ông ta ít tỏ ra sôi nổi, nhưng thỉnh thoảng những cơn bực dọc của ông ta làm cho ông ta trở nên giận dữ, ông ta không phải là một người ưa những sự nhỏ nhặt hay những ác cảm. Khi khí sắc tươi tỉnh, ông ta hăng hái thúc đẩy mọi hoạt động, ủng hộ và khích lệ, lôi kéo mọi người theo mình và tự mình lao vào việc một cách hăng hái nhất.
Quentin Roosevelt là cháu Tổng thống Theodore Roosevelt. Chắc chắn anh ta được đặt tên theo tên người chú đã bị giết trong Thế chiến thứ nhất. Hồi ấy anh ta mới 25 tuổi hay vào khoảng đó, và được bạn bè gọi là anh “Q”. Anh ta có vẻ rất thoải mái trong môi trường Trung Quốc và nói tiếng Trung Quốc khá thành thạo. Bố anh ta, Theodore Roosevelt Jr., là một người bạn cũ và thân thiết của Tưởng và vợ. Điều rất quan trọng đối với chúng tôi là anh ta hiểu biết sâu sắc suy nghĩ của các cố vấn của Tưởng, anh ta cũng là một người bạn tốt và là một người kể chuyện tế thị.
Duncan Lee là một nhà Trung Quốc học; đẻ ở Trung Quốc, bố mẹ là những nhà truyền giáo, nói thạo tiếng Trong Quốc, có phần văn vẻ nữa. Trong đời sống bình thường, ông ta là một luật sư cũng giống như những luật sư khác và cũng đã từng tốt nghiệp trường Đại học Oxford. Lee cũng đã từng làm trưởng chi nhánh Viễn Đông của OSS ở Washington, nơi chúng tôi gặp nhau lần dầu tiên, và kiến thức của ông ta rất có ích cho chúng tôi. Ông ta là người dễ ưa và dễ làm quen.
 
CARBONADO

Những tin tức quan trọng vào buổi chiều do Heppner cung cấp là tuyệt mật. Wedemever (vừa mới từ Washington về) đang chuẩn bị một cuộc tấn công đần tiên của Mỹ ở Trung Quốc, theo tên mật mã là Carbonado. Đó là một cuộc tấn công trên đất liền, dọc theo đường Quế Lâm - Liễu Châu - Nam Ninh để bảo vệ khu vực Quảng Châu - Hongkong, sau đó mở những cảng lớn ở phía nam Trung Quốc để tiếp nhận quân đội từ châu Âu và Phillipine đến. Ngày mở đầu cuộc hành quân được dự định chỉ còn ba tháng rưỡi nữa, tức là vào ngày 1-9, và cuộc tấn công kết thúc vào ngày 1-11-1945.
Để dạo đầu cho Carbonado, Wedemeyer cần mở một cảng nhỏ Fort Bayard (Chanchiang) nằm trên bán đảo Lôi Châu, cách Quảng Châu chừng 250 dặm về phía tây nam, như là một căn cứ tiếp tế sắp tới để duy trì cuộc tấn công Carbonado.
Hepper nhấn mạnh tầm quan trọng của những hoạt động của OSS chúng tôi, vì Wedemeyer và Bộ tham mưu của ông ta buộc chúng tôi cung cấp rất nhiều tin tức tình báo và phải quấy rối người Nhật ở khu vực tấn công được dự tính. Tướng Mc Clure(4) cũng yêu cầu OSS mở đầu cuộc hành quân này bằng cách đánh du kích (SO), phá hoại (OG) và hoạt động tâm lý (MO). Điều đó đặc biệt quan trọng để ngăn quân Nhật ở Đông Dương tăng cường những vị trí của họ nằm trên khu vực của những cuộc hành quân Carbonado. Tất nhiên, đó là những điểm đặc biệt trong bản chỉ thị mà Helhwell và tôi đã chế giễu. Whitaker nói rằng khu Hà Nội - Trấn Nam Quan sẽ là “người yêu” của tôi và tuyến Trấn Nam Quan - Nam Ninh sẽ bị hạm đội Mỹ cắt đứt.
Khi báo cho tôi, Whitaker nói rằng ông ta đã gặp tướng Pechkov và Sabattier, thấy rõ họ sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi và hỏi ý kiến của tôi. Helliwell nhăn mặt, tôi nhận thấy thế, khi Heppner và Lee ngồi lùi ra với những bộ mặt nghiêm trọng còn Q thì nở một nụ cười sung sướng. Tôi suy nghĩ một lát và nói: “Chắc chắn như vậy, sao lại không? Chỉ cần chúng tôi có đủ thời gian và được ủng hộ về hậu cần, và nếu như người Pháp không phản đối đánh nhau ở Trung Quốc”. Nhưng tôi nói với ông ta rằng, theo chỗ tôi biết về điều kiện của họ và về những kế hoạch của họ, tôi hoài nghi việc đánh nhau ở Trung Quốc được đặt lên một vị trí cao trong danh mục những ưu tiên của họ. Hơn nữa, tôi cho rằng mục tiêu duy nhất của họ lúc này là tránh khỏi người Nhật càng xa càng hay. Thật ra nếu ông ta hỏi tôi, tôi sẽ gợi ý là nên gửi họ đến một trung tâm hồi phục ít ra là 6 tháng nữa. Whitaker im lặng một lát với một vẻ khổ sở, để lộ ra một sự thất vọng đối với tôi. Sau đó ông ta hỏi: “Làm thế nào ông định hoạt động Đông Dương mà không có người Pháp được?”. Tôi bắt đầu mất kiên nhẫn và trong khi mọi người đều lặng thinh, tôi nói: “Ta hãy xem John có thật nghiêm túc không? Các ông đã nhìn thấy những người lánh nạn chưa? Những đội quân ấy, thật ra, không nhìn thấy bất cứ một thứ vũ khí hiện đại nào hay học những chiến thuật mới nào từ năm 1940. Họ vẫn còn sống trong Thế chiến thứ nhất”. Whitaker không thể giữ mãi tư thế cũ. Mọi người phá lên cười vì cái điều tôi đã phát hiện ra ấy, tôi trở thành cái bia của một sự đùa cợt nhỏ của Whitaker - ông ta giễu cợt tôi suốt buổi. Điều đó đã làm cho tôi rụt lại một lúc.
Khi những tiếng la hét và những tiếng cười ha hả lắng đi, Q nói với chúng tôi rằng Pechkov là một vấn đề nặng nề với tướng Hà Ứng Khâm, vì ông ta đòi hỏi mọi thứ cung cấp và vậnn chuyển, và yêu cầu trang bị “4.000”(?) người Pháp chiến đấu để đánh người Nhật ở Đông Dương. Ông Jean Daridan, đại diện của Đại sứ quán Pháp ở Trung Quốc, đã khẩn nài Đại sứ quán Mỹ dùng ảnh hưởng của mình đối với Tưởng nhằm tổ chức những hoạt động bí mật của Pháp ở Đông Dương. Tướng Cheng Cheng, Bộ trưởng chiến tranh Trung Quốc, đã hai lần từ chối gặp Pechkov cũng như Sabattier để thảo luận vấn đề về sử dụng các lực lượng Pháp ở Trung Quốc. Ông ta lịch sự bảo họ đến gặp tướng Hà.
Heppner ước đoán về con số quân đội mà Sabattier có thể tập hợp được trong thực tế. Ông ta nghe nói tới những con số khác nhau, từ 1.000 đến 6.000người. Dù nhiều đến đâu, ý kiến của ông ta là những số quân ấy có thể được sử dụng tốt nhất như những đội quân yểm trợ ở các khu vực hậu phương của Cục quân nhu (thuộc OSS). Whitaker nghĩ tới việc có thể sử dụng một số ít vào công tác tình báo, miễn là OSS giữ quyền kiểm soát các hoạt động. Helliwell gợi ý rằng nếu Sabattier tổ chức được vài trăm người tự nguyện và có năng lực thì họ có thể sử dụng vào những hoạt động du kích và phá hoại. Rõ ràng là có một vai trò dành cho một số đội quân người Pháp trong các kế hoạch của Đồng minh nếu họ bằng lòng chấp nhận sự lãnh đạo và kiểm soát của Đồng minh.
Theo sự gợi ý của Whitaker và Helliwell, tôi đã đề nghị đưa M.5 về gần Côn Minh để thu xếp việc tuyển lựa và huấn luyện một đội quân nhỏ cho những hoạt động SI, SO và OG. Heppner không đồng ý. Thay vào đó, ông ta yêu cầu tôi triển khai một kế hoạch mà ông ta và Whitaker đã vạch ra với Sabattier ở Trùng Khánh. Wedemeyer và Donovan rất nhạy cảm với quan hệ với người Pháp và, ông ta nói, tốt hơn cả là nên bàn luận vấn đề đó lúc đầu ở cấp Chiến trường và Đại sứ quán. Mc Clure sẵn sàng thảo luận với tướng Sabattier về khả năng sử dụng một số hạn chế quân Pháp phối hợp với người Trung Quốc ở đông bắc Trung Quốc. Whitaker đồng ý rằng chúng ta ở Côn Minh không nên dính vào chuyện này cho đến lúc mọi việc được sáng tỏ ở Trùng Khánh. Đặc biệt về sự tranh chấp giữa những người Pháp theo De Gaulle ở M.5 và Bộ tham mưu Pháp ở Trùng Khánh. Ông ta cũng thấy những cuộc xung đột cá nhân giữa Sabattier, Alessandri và Pechkov. Hai người sau này đều là những sĩ quan lê dương(5), đã từng cộng tác với phái De Gaulle thuộc SLFEO/Calcutta trong một chiến dịch mà Sabattier bị gọi về Pháp, theo ông ta nói.
Tôi nêu lên vấn đề người Việt Nam, mô tả lại những cuộc tiếp xúc mới đây của tôi, và nói rằng tôi tán thành sử dụng lực lượng dự trữ chưa đặt quan hệ ấy. Phản ứng đầu tiên của những vị khách Trùng Khánh của chúng tôi là tiêu cực. Whitaker và Roosevelt đều cảm thấy người Pháp và người Trung Quốc sẽ mếch lòng với sự tiếp xúc của chúng ta với những người Cộng sản Việt Nam. Heppner cũng thấy trước vấn đề ấy, nhưng cho rằng lúc này chúng ta vẫn chưa có một sự lựa chọn nào, và ông ta thấy không có gì gay go trong vấn đề ấy chừng nào chúng ta tách khỏi chính trị và hành động êm thấm, ở cấp thấp. Lee và Helliwell tán thành sử dụng người của Hồ Chí Minh, nhưng rất thận trọng. Với một vẻ hoài nghi, Lee muốn biết xem chúng tôi làm thế nào để cho Tai Li không khám phá ra được việc này. Tôi nói: “Để việc đó cho tôi”, và Whitaker hết sức ủng hộ tôi và nói với họ rằng tôi đã từng thành công ở Ý, khi làm việc bên cạnh những người Cộng sản, những người quân chủ và những kẻ phát xít Ý mà không để họ khám phá ra những hoạt động đồng thời tiến hành ấy.
Cuộc nói chuyện chuyển sang những sự kiện ở Trùng Khánh. Whitaker nói với chúng tôi rằng 6 tuần lễ trước khi xảy ra cuộc đảo chính của Nhật, đại tá Jacques Guilermag(6) đã đích thân báo tin cho Wedemeyer rằng người Nhật đang hoạt động mạnh mẽ ở Đông Dương và hậu quả là người Pháp thấy trước mình sẽ bị tước mất vũ khí và quyền lực. Ấy thế mà, khi điều đó xảy ra, người Pháp đã tỏ ra ngạc nhiên và kêu gọi sự giúp đỡ của Mỹ. Sau đảo chính, Pechkov đã đưa ra những yêu sách vô nghĩa lý của một phong trào kháng chiến không tồn tại và muốn trách cứ Mỹ về sự sụp đổ ấy, đúng như Vichy và Catroux đã làm năm 1940. Việc họ thiếu nhìn xa và thiếu kiên quyết chống lại đã để cho Nhật giành được một sự kiểm soát chiến lược không chối cãi được ở Đông Nam Á và đặt Trung Quốc vào một thế nguy hiểm. Cả Tưởng lẫn Wedemeyer đều tỏ ra hết sức thất vọng với người Pháp.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 30 Tháng Bảy, 2008, 04:04:25 PM
DE GAULLE VÀ QUỸ ĐẠO NƯỚC NGA

Ba ngày trước cuộc đảo chính, đại sứ Pháp ở Washington, Henri Bonnet, đã vẽ lên cho Bộ Ngoại giao chúng ta một bức tranh rực rỡ về “cuộc kháng chiến của Pháp ở Đông Dương và có một số đông những người bản xứ tham gia”. Ông ta yêu cầu Mỹ giúp đỡ cho những người maquisards(7) giúp thành lập một tổ chức dân sự hỗn hợp và chấp nhận việc ủy nhiệm tướng Blaizot liên lạc với tướng Wedemeyer. Bonnet được nói cho biết là không có những người maquisards ở Đông Dương, những kế hoạch dân sự còn quá sớm và tướng Weaemeyer khi được hỏi đã trả lòi rằng lúc này ông ta không cần đến một sĩ quan Pháp ở Bộ tham mưu của mình.
Whitaker cũng được biết một sức ép nặng nề vẫn đang được thực hiện. Tướng De Gaullle đã nói với đại sứ chúng ta ở Paris, Jefferson Caffery, rằng người Pháp ở Đông Dương đã tổ chức một “cuộc chiến đấu thực sự” nhưng không được sự giúp đỡ của cả người Mỹ lẫn người Anh. De Gaulle cho biết rằng người Mỹ được chỉ thị không giúp đỡ gì cả và người Anh cũng đi theo sự lãnh đạo của Mỹ. De Gaulle nói rằng ông ta không hiểu được chính sách của Mỹ. Chúng tôi phải làm thế nào đây, chẳng lẽ lại kéo nước Pháp vào quỹ đạo nước Nga chăng? Nước Pháp không cần trở thành Cộng sản, nhưng nếu như chính sách của chúng ta không thay đổi thì ông ta sợ sẽ xảy ra như thế, dù ngược lại với ý muốn của ông ta.
Mườì ngày sau cuộc đảo chính, khi người Pháp đang vượt qua biên giới Trung Quốc, Bonnet vẫn cố thuyết phục Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao rằng những người maquisards vẫn chống cự một cách anh dũng ở Đông Dương, rằng chỉ vì thiếu viện trợ của Mỹ nên họ không thể chiến đấu tốt được. Whitaker nói với chúng ta đã gửi hàng trăm tấn hàng cho người Pháp trong cuộc rút lui của họ, nhưng đã bị người Nhật nhặt được. Tôi không thể nào không nói lên nhận xét của mình rằng khi nhìn thấy hoàn cảnh cơ cực của đội quân Pháp, thì người ta không thể nào tin được rằng chúng ta đã không thả dù tiếp tế cho họ chút nào.
Sau đó Heppner báo cho chúng tôi rằng đã nghe được những tin đồn từ các nguồn của Pháp nói rằng chính sách của Mỹ về Đông Dương đã thay đổi và trong cuộc nói chuyện riêng với các nhân vật chính thức cao cấp Pháp ở Hội nghị San Francisco ở Liên Hợp Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao chúng ra đã nói rằng Mỹ không bao giờ nghi ngờ về chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Heppner nói rằng ông ta đã kiểm tra các nguồn tin ấy ở Hurley và Wedemeyer và biết rằng chính sách của Mỹ không thay đổi. Quay sang tôi, ông ta nói: “Những chỉ thị của Donovan cho ông vẫn giữ nguyên. Chúng ta không được cộng tác bằng bất cứ cách nào với kế hoạch trở về của Pháp. Nói cách khác, cho đến lúc nào ông không nghe thấy một cái gì khác từ 109 (tên mật mã của tướng Donovan), thì vẫn tiếp tục làm như đã đồng ý”. Whitaker nói thêm rằng khi nào và nếu như chính sách thay đổi, 109 sẽ thay đổi sự phân công của tôi đối với bên nước.
Xen kẽ với những cuộc thảo luận ấy về Đông Dương, đã có những cuộc nói chuyện về những vấn đề khác, bao gồm cả hoạt động của Cộng sản Trung Quốc - OSS ở Diên An, dự án đặc biệt của Helliwel (“Chim ưng”) để thâm nhập Triều Tiên và dự án SEAC-OSS ở miền Nam Đông Dương và Thái Lan. Cuộc gặp mặt kết thúc rất muộn.
 
BẢN BÁO CÁO ĐẦU TIÊN CỦA ÔNG HỒ

Tôi đã nhận được một báo cáo tình báo thú vị của Hồ Chí Minh, cùng với hai bài viết chính trị gửi cho phái đoàn Mỹ ở hội nghị Liên Hợp Quốc. Tôi đưa hai bài ấy cho Whitaker, ông ta quyết định chuyển tiếp cho Đại sứ quán Mỹ; một bài gửi cho giới lãnh đạo Mỹ, Trung Quốc, Anh và Liên Xô, và bài kia là một bức thư ngỏ cho Liên Hợp Quốc(8). Cả hai bài đều kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam.
Những văn kiện ấy đều ký tên “Quốc dân đảng Đông Dương (Annam)”. Cái tên ấy có nghĩa là một chi nhánh của Quốc dân đảng (Trung Quốc); nhưng theo tôi, nguồn gốc thật sự của nó là Việt Minh. Đảng quốc dân Đông Dương là một nhóm gồm 5 đảng đã hợp nhất vào Đồng minh Hội năm 1942, nhưng sau đó đã lập thành Đông Dương Độc lập Đồng minh Hội. Vì những văn kiện ấy là từ ông Hồ gửi đến, nên tôi không nghi ngờ gì rằng ông đã dùng cái tên cũ để không lộ ra chân tướng của Việt Minh. Ngay cả trong bản viết bằng tiếng Anh, đường lối của đảng ông đã được trình bày mạnh mẽ và rõ ràng.
Bản báo cáo tình báo kèm theo những bài viết gồm một số trang đánh máy có pha thêm những mẩu chuyện về những mối liên hệ thân thiện Pháp - Nhật và sự đau khổ của người Việt Nam vì cả hai đều làm cho họ thất vọng; tất cả những điều đó chúng tôi đều trừ hao đi vì những lý do chính trị. Tuy nhiên, nó cũng cho một thông tin có ích để nhận biết một vài đơn vị của sư đoàn Nhật Bản 37, chỗ đóng quân của nó chỉ mới cách đây vài ngày và tên của một vài sĩ quan cao cấp. Mở đầu như thế không phải là xấu, Phòng tác chiến của chúng tôi đã xác nhận một phần của nó và còn tỏ ra muốn chấp nhận những điều còn lại. Tôi lấy làm hài lòng và Whitaker cũng tỏ ra cảm kích.
Mấy ngày sau đó, tôi nhận được qua đường dây một bản báo cáo thứ hai của ông Hồ với nhiều tin tức quân sự hơn. Lần này báo cáo đã cung cấp những chi tiết về việc xây dựng công sự mới của Nhật và những cải tiến công sự hiện có do Pháp xây dựng ở vùng Cao Bằng và trên đường về Hà Nội. Việc xác định lần đầu tiên những đơn vị của Quân đoàn 38 của Nhật và đặc biệt những đơn vị của Sư đoàn 32 ở vùng biên giới Cao Bằng đã gây nên một hứng thú to lớn ở phòng tác chiến của chúng tôi cũng như ở cấp Chiến trường.
Ông Hồ đã gắn một mảnh giấy nhỏ viết bằng tiếng Anh hỏi xem hai văn kiện chính trị có đáng gửi đi San Francisco không. Tôi nói với người mang thư đến - người này đợi tôi trả lời - rằng những văn kiện ấy đã được gửi đến các nhà chức trách hữu quan ở Trùng Khánh, nhưng tôi không thể chắc chắn là chúng đến được với phái đoàn ở San Francisco. Về sau, tôi đã có thể xác định rằng đó là lần đầu tiên ông Hồ có ý định đưa sự nghiệp của mình tới sự chú ý của Liên Hợp Quốc. Tất nhiên, đó là 32 năm trước khi một Chính phủ Việt Nam độc lập được thừa nhận là hội viên của nó.
________________________________________
(1) Tổ công tác đặc biệt, lực lượng biệt kích phá hoại
(2) Heppner
(3) Thiếu tá, sĩ quan liên lạc của OSS với Tưởng
(4) Trung tướng, tham mưu trưởng chiến trường Trung Hoa, tư lệnh quân dã chiến Mỹ tại Trung Quốc
(5) Légions: lực lượng quân đội gồm những người nước ngoài mang quốc tịch Pháp.
(6) Tuỳ viên quân sự Pháp tại Đại sứ quấn ở Trùng Khánh
(7) Du kích chiến khu - tiếng Pháp
(8) Lời kêu gọi được viết bằng 2 thứ tiếng Việt và Anh


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 09:50:43 AM
Chương 11
Một đồng minh miễn cưỡng

CUỘC XUNG ĐỘT ÂU – Á
Khi nhìn lại, một điều nổi bật lên trên tất cả là cái gì đang tiếp diễn ở châu Á: quan điểm về châu Á sau chiến tranh rất khác nhau trong các nước Đồng minh, tùy theo quyền lợi của mỗi nước. Mục tiêu của Mỹ chỉ đơn giản là đánh bại Nhật Bản và, với một sự dè dặt, phục hồi những quy chế “quo ante”(1) ở Viễn Đông. Nước Đồng minh đáng tin cậy nhất của chúng ta, nước Anh, lại quan tâm chủ yếu đến việc giữ gìn sự nguyên vẹn của đế quốc Anh. Tham vọng của Pháp là giành lại địa vị “chính đáng” của nó trong các cường quốc lớn bằng cách đòi lại các thuộc địa đã mất. Trung Quốc của Tưởng đứng trước một nhiệm vụ hai mặt là giải quyết cuộc xung đột của nó với bọn xâm lược Nhật Bản và giữ vững chế độ Quốc dân đảng của mình chống lại mối đe dọa Cộng sản của Mao.
Vào giũa cuộc xung đột Âu - Á ấy, lợi ích của thế giới thứ ba nổi lên làm mất thằng bằng “status quo”(2). Người Việt Nam, được kích thích bởi những lời tuyên bố cao quý của Hiến chương Đại Tây Dương hứa hẹn các nước Đồng minh sẽ “tôn trọng quyền của các dân tộc lựa chọn hình thức Chính phủ của mình mà họ sẽ sống dưới đó”, đã cảm thấy kỷ nguyên mới đang tới đối với họ và đã bước vào cuộc xung đột.
Tình trạng có nhiều mục tiêu ấy làm cho việc phối hợp kế hoạch của các nước Đồng minh trở nên cực kỳ khó khăn và đôi khi bị rối loạn - nhóm nước này hoài nghi các nhóm nước khác, và mỗi nhóm trong nước cũng ganh đua nhau với đảng phái đối lập của mình như với kẻ thù. Những thủ đoạn đấu tranh dường như vô tận.
Người Mỹ ở Trung Quốc, mặc dù ít về số lượng, là những người duy nhất thật sự quan tâm đến việc kết thúc cuộc chiến tranh với Nhật Bản. Các cố vấn quân sự của chúng ta ở các đội quân Trung Quốc phải dùng hết sức mạnh lãnh đạo của mình để thuyết phục các chỉ huy Trung Quốc bám giữ và chiến đấu. Chennault dựa nhiều vào những máy bay Mỹ để chặn các lực lượng bộ binh Nhật lại. Còn những hàng tiếp tế Vay - Mượn to lớn của Mỹ thì được chuyên chở qua những vùng đồi núi và bằng những tầu chở hàng theo con đường Miến Điện để giữ cho Trung Quốc khỏi sụp đổ dưới sức mạnh của Nhật. Người Anh cũng như người Pháp không hề đóng góp gì về vật chất cho cố gắng chiến tranh ở Trung Quốc.
Trong lĩnh vực hoạt động bí mật và chiến tranh không chính quy, chỉ có OSS của Mỹ có một chương trình tích cực và có hiệu quả. Trong bối cảnh hoạt động của tôi ở Đông Dương, trong thời kỳ từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945, chúng tôi đã tổ chức được 5 mạng lưới chính và 12 mạng lưới phụ, tất cả đều bí mật, từ đó chúng tôi thu lượm tình báo, tiến hành những cuộc đột kích vào các cứ điểm then chốt của địch, và tiến hành nhiều hoạt động phá hoại ở các đường giao thông của Nhật.
Vào lúc chót, những hoạt động đó được thực hiện với một sự giúp đỡ rất nhỏ bé của các Đồng minh Pháp, Anh và Trung Quốc. Bất chấp những ý đồ phá hoại, những cố gắng của Mỹ được lặp đi lặp lại nhiều lần. Đặc biệt người Pháp, với lòng mong muốn cao nhất là nhanh chóng chiếm lại thuộc địa cũ của họ nên đã theo đuổi một hoạt động tình báo về chính trị và quân sự rất quyết liệt. Họ chiếm đoạt những vũ khí và đồ tiếp tế được dành cho những cuộc hành quân của Đồng minh và họ cố ngăn cản những ý định hoạt động của Mỹ bất cứ ở đâu trong xứ Đông Dương.
Trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, và tiếp tục cho đến lúc này, một số người Pháp cố hết sức ngăn cản cố gắng chiến tranh chống Nhật. Họ lớn tiếng tuyên bố rằng họ đã bị ngược đãi, bị lạm dụng và bị coi thường, và cho mình là nạn nhân của một “âm mưu” - hoàn toàn ăn khớp với đường lối chính trị có chủ tâm của họ cho rằng quyền lợi chính đáng của họ bị xâm phạm.
 
MỘT SỰ DÀN XẾP CÓ ĐI CÓ LẠI

Chỉ thị ngày 10-5 yêu cầu OSS thực hiện nhiệm vụ chặt đứt đường hành lang của Nhật Bản từ Hà Nội đến Nam Ninh để chuẩn bi cho Carbonado. Nó đòi hỏi phải sử dụng các đội phá hoại và các đơn vị du kích đã quen thuộc ít nhiều với khu vực này và đã hiểu biết khá rõ về người Pháp hay người Việt Nam. Wampler đã có một số người mới từ châu Âu đến đã được huấn luyện cho những hoạt động SO và OG, nhưng chỉ có một số ít nói được tiếng Pháp. Trong khi Heppner và Whitaker gặp các tướng Sabattier và Pechkov ở Trùng Khánh, thì tôi tiếp xúc với nhóm M.5 ở Côn Minh.
Sau khi tôi ghé lại lần đầu vào cuối tháng 4, tôi mắc bận nhiều vấn đề cấp bách nên không có ý định tiếp xúc cá nhân hay trở lại thăm nơi đó. Tuy nhiên, Bernique và Ettinger đã thiết lập được những mối liên hệ không chính thức, nhưng thân mật, với nhóm này và được biết rằng trung úy Flichy(3) đã bị thay thế bởi thiếu tá Jean Sainteny trong chức vụ chỉ huy nhóm M.5(4).
Tôi ghé thăm M.5 ngày 18-5 và được Sainteny và những người trong ban tham mưu của ông ta tiếp đón. Thiếu tá là một người dễ chịu, hơn 30 tuổi, rất đúng đắn, đã tỏ ra dè dặt và không thoải mải lắm. Ông phân trần về những thiếu sót của mình vì bị những nhiệm vụ mới thúc bách nên chưa gặp được tôi sớm hơn. Từ khi ông ta đến đây, cách đây một tháng, ông ta phải cải tổ lại “Phái đoàn” và, theo ông ta nói, mong đợi được làm việc với OSS. Ông ta yêu cầu Flichy mô tả cho tôi nghe vai trò của M.5, và lần đầu tiên ông ta được biết những người tiền nhiệm của mình đã thiết lập đúng một mạng lưới những đơn vị tình báo đáng kể dọc theo biên giói Trung Quốc và một đội tuần tiễu đường biển nhỏ ở khu vực phía bắc Vịnh Bắc Bộ. Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp và chúng tôi đồng ý cộng tác với nhau trong tương lai trước mắt.
Trong cuộc gặp gỡ của chúng tôi, Sainteny nêu lên rằng ông ta và trung tá Wichtrich thuộc AGAS đang thảo một dự án chung để tiến hành những hoạt động cứu giải ở khu vực Pakhoi(5). Trong vài ngày nữa ông ta sẽ đáp máy bay hạ xuống nơi đó và gợi ý rằng tôi có thể phái một sĩ quan của tôi nói được tiếng Pháp đến xem xét khu vực này cho những hoạt động hỗn hợp sau này. Tôi cảm ơn ông ta và đồng ý sẽ báo cho ông ta rõ. Trong thời gian đó, chúng tôi chỉ định các sĩ quan liên lạc cho những hoạt động hàng ngày.
Tôi báo cho Whitaker rằng M.5 vui lòng hoạt động chung với OSS trên có sở có đi có lại, nhưng nghi ngại rằng họ đòi hỏi nhiều hơn. Về bề ngoài, Sainteny tỏ ra thẳng thắn khi yêu cầu vũ khí, trang bị và vận chuyển của Mỹ để đánh đổi nhân lực Pháp - Annam, nhưng bên trong tôi phát hiện ra rằng ông ta hy vọng giành được một sự thừa nhận đặc biệt cho cơ quan người Pháp duy nhất đảm nhận những hoạt động bí mật ở Chiến trường Trung Quốc. Điều đó bao hàm một sự độc lập của M.5 đối với Sabattier và Pechkov, và để cho SLFEO/Calcutta chỉ huy và kiểm soát M.5. Tôi nhấn mạnh rằng đó là ấn tượng đầu tiên của tôi và chúng ta cần thăm dò ý đồ của Sainteny hơn nữa. Tuy nhiên, nếu những nghi ngại của tôi là đúng, thì chúng tôi có thể nhìn thấy trước các vấn đề.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 09:51:49 AM
MỘT CUỘC CHẠY THỬ

Trong khi chờ đợi ý kiến từ Trùng Khánh về việc tiếp tục quan hệ với M.5, tôi đơn phương khởi sự 2 hoạt động do Chiến trường chỉ huy. Một hoạt động nhằm cắt đứt đường sắt và đường bộ từ Trấn Nam Quan đến Hà Nội, còn hoạt động kia là một cuộc tuần tiễu giám sát bờ biển ở các cảng Hải Phòng và Fort Bayard. Hoạt động thứ nhất phải chờ đến lúc nào lấy được người cho thiếu tá Gerald W. Davis(6) để đi bộ vào Đông Dương và làm nhiệm vụ. Còn cuộc giám sát bờ biển thì đòi hỏi phải có những thủy thủ được huấn luyện và một đội thuyền buồm nhỏ. Phải có thời gian tôi mới kiếm được những thứ đó nhưng Wedemeyer thì lại sốt ruột về những kết quả nhanh chóng, và chỉ có một chiếc tàu thích hợp trong khu vực này là của người Pháp, nhưng tôi không có quyền sử dụng. Tôi nghĩ tới dự án AGAS với M.5 và “hạm đội” của nó ở vùng Pakhoi.
Tuân theo các quy tắc phần nào, tôi lập luận rằng một khi AGAS đã được phép cộng tác với người Pháp thì không có lý do gì để tôi không được làm việc với AGAS và cùng nhau sử dụng tàu thủy của Pháp. Khi thảo luận điều đó với Whichtrich, chúng tôi đồng ý với nhau rằng tôi sẽ cung cấp cho AGAS những phương tiện vô tuyến điện của OSS để thực hiện những hoạt động cứu thoát để đánh đổi những tin tức về hạm đội Nhật mà nhân viên OSS - AGAS thu nhận được bằng những phương tiện của các đơn vị hải quân Pháp.
Trong khi tôi thương lượng với AGAS, tôi nhận được tin từ Trùng Khánh cho biết rằng Sabattier và Tưởng đã thỏa thuận với nhau rằng: “Tất cả các đội quân chính quy Pháp đang chiến đấu chống Nhật ở Đông Dương thuộc Pháp được đặt dưới quyền chỉ huy của Thống chế”, rằng Sabattier đã được thừa nhận là “Tổng chỉ huy” của những đội quân ấy, và rằng tướng Alessandri đã được bổ nhiệm là “chỉ huy địa phương của Pháp”. Đó là một sự thỏa thuận lạ lùng. Toàn bộ kháng chiến của Pháp ở Đông Dương chống Nhật đã bị xóa bỏ từ lâu, khiến cho Alessandri hiện nay đã trở thành viên chỉ huy tất cả các lực lượng hiện có của Pháp ở Trung Quốc mà thôi. Vậy thì, Sabattier chỉ huy cái gì? Phải chăng đó là một cách gạt êm thấm Sabattier ra khỏi dây chuyền chỉ huy và trao cho Alessandri toàn bộ quyền kiểm soát tác chiến chỉ của những đội quân Pháp chưa bị Nhật bắt làm tù bình? Chúng tôi cảm thấy một sự bối rối và băn khoăn mới trong những mối liên hệ của mình với Phái đoàn quân sự Pháp, DGER, SLFEO và M.5.
Ngày 24-5, khi chưa nhận được ý kiến của Heppner về việc sử dụng các đội quân Pháp, chúng tôi nhận được một bức điện của thiếu tá Davis nói rằng một đội quân Pháp lớn đã đến Posech mà không báo trước, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Revol; ông này nói rằng họ được trang bị và huấn luyện bởi OSS cho những cuộc hành quân ở Đông Dương.
Cuối cùng, ngày 26, Heppner nói cho chúng tôi rằng ông ta đã ký một thỏa thuận có dụng ý với SLFEO. Tôi lại đến gặp Sainteny để vạch các chi tiết và, một lần nữa, sự đón tiếp của ông ta tỏ ra nồng nhiệt và thân mật. Giọng khó tính đầu tiên mà Sainteny ném ra là khi ông ta bảo đảm với tôi rằng chúng tôi có thể cùng nhau vạch ra một kế hoạch “có lợi cho cả hai bên”. Nhận xét ấy không thích hợp với tôi, và tôi trả lời rành rọt rằng “mối lợi” duy nhất mà người Mỹ nghĩ tới là thu được tình báo của Nhật và tiến hành những hoạt động riêng biệt đằng sau các phòng tuyến của họ. Tất nhiên, Sainteny đồng ý, nhưng nhận xét của ông ta làm tôi phải “qui vive”(7).
Những sự thỏa thuận của tôi với AGAS đã phù hợp với sự tán thành của bản doanh cho phép làm việc với M.5, và tôi được tự do bàn bạc với Sainteny về dự án Pakhoi. Đầu tháng, tôi lại phái Ambelang tới Maoming(8) để tiến hành những hoạt dộng giám sát ven biển phối hợp với cuộc hành quân Ford Bayard. Ngày 27, tôi gửi Ettinger đến Pakhoi để nhập với trung úy James W. Jordan(9). Với Ettinger và Jordan ở Pakhoi và Ambelang ở Maoming, tôi quyết định thiết lập một trạm căn cứ trong vùng và gợi ý với Sainteny rằng dự án OSS - AGAS đang tiến hành và với sự giúp đỡ của ông ta, chúng tôi có thể cùng nhau mở rộng hoạt động để giành những kết quả tối đa trong một thời gian tối thiểu. Ông ta đồng ý và sẵn sàng vạch kế hoạch.
Ngày 30-5, dự án Pakhoi được tiến hành. Đội tàu nhỏ của Pháp gồm hai chiếc tầu tuần tiễu, Crayssac và Frézouls, được nhiều thuyền máy yểm trợ, tất cả đều do thủy thủ Pháp điều hành, bắt đầu chuyển (bằng các đài vô tuyến của OSS) những tin tức có giá trị về hạm đội Nhật và giúp đội tầu ven biển của chúng ta thăm dò những độ sâu dọc vịnh Fort Bayard và vịnh Mandarin. Ettinger và Jordan, với sự giúp đỡ của các nhân viên Pháp do M.5 cung cấp đã tiến hành một công việc tuyệt vời, không những chỉ báo cáo về sự bố trí của quân Nhật và các hoạt động của Hạm đội Nhật (đặc biệt từ vùng Fort Bayard - Hải Phòng), mà còn thu được một số tin tức từ bên trong Đông Dương.
 
NGƯỜI PHÁP TỔ CHỨC MỘT CUỘC BÃI CÔNG NGỒI

Một ngày sau khi Dự án PAKHOI được tung ra, chúng tôi ký kết với người Pháp ở Trùng Khánh một thỏa thuận thứ hai nhằm sử dụng 100 binh sĩ Việt Nam và 10 hay 12 sĩ quan Pháp. Sabattier và Pechkov đồng ý để OSS có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với nhóm này và những tin tức tình báo thu được sẽ chia nhau. Chúng tôi vạch kế hoạch huấn luyện đơn vị ở Trình Tây. Wampler chọn đại úy (sau đó là thiếu tá) Charles M. Holland và thiếu tá Allison K. Thomas đứng đầu hai đội với mật danh là “Con Mèo” (“Cat”) và “Con Nai” (“Deer”). Chúng tôi báo cho Davis và Poseh biết và yêu cầu họ phái Holland và Thomas đến Trình Tây để đón nhận những người Pháp, đến ngày 12-6 thì bắt đầu huấn luyện.
Nhóm người Pháp mới(10) đến đúng ngày giờ đã định nhưng lại từ chối huấn luyện như đã thỏa thuận ở Trùng Khánh. Viên sĩ quan cao cấp nhất của Pháp, thiếu tá Courthlac, yêu cầu OSS trả tiền cho nhóm ông ta và cung cấp ăn uống cho họ. Điều đó không nằm trong sự thỏa thuận. Người Pháp phải lấy khẩu phần của họ từ Cục quân nhu Trung Quốc trước khi đến đây theo thủ tục thông thường và việc trả tiền cho đội quân người Pháp là trách nhiệm của Chính phủ Pháp ở Trùng Khánh. Thiếu tá Thomas không có quỹ để thỏa mãn những yêu cầu của người Pháp và báo cho thiếu tá Courthlac biết điều đó; nhân đó người Pháp bèn tổ chức một cuộc bãi công ngồi cho đến lúc có chỉ thị của M.5. Do đó, từ ngày 4 đến ngày 17 tháng 6, chương trình huấn luyện ở Trình Tây đã bị hoàn toàn đình chỉ.
Một tia lóe lên sau đó vào sáng 12-6, khi Heppner nhận được một bức thư không đề ngày tháng của Sainteny, do Flichy ký tên, nói rõ ràng Sabattier đã chỉ thị cho M.5 phải chịu trách nhiệm về hoạt động du kích với sự cộng tác của các đơn vị Mỹ. “Do ưu thế của lực lượng Pháp” và sự nguy hiểm sẽ xảy ra, Sainteny yêu cầu được biết về mục đích của hoạt động này, về những mệnh lệnh cho người Mỹ, và những gì đã được thực hiện từ đây đến đó. Cho đến khi nhận được trả lời cho những câu hỏi của ông ta, Sainteny đã ra lệnh cho viên chỉ huy phân đội Pháp ngừng các hoạt động. Heppner lập tức không đồng ý với mệnh lệnh của Sainteny, coi đó là một hành động đơn phương và độc đoán và là một sự phá vỡ việc thỏa thuận Sabattier - Heppner ngày 31-5 và báo cáo điều đó cho tướng Wedemeyer. Rõ ràng đã có một sự đứt quãng trong những liên lạc giữa M.5 của phái De Gaulle và “Bộ Tham mưu” ở Trùng Khánh. Vấn đề đối với chúng tôi là phải giao dịch với ai trong những người Pháp?
Giai đoạn thứ ba của tình trạng này là sự bắt đầu một cuộc nổi dậy nhỏ của những người Pháp mới đến ngày 14-6, khi toàn bộ những liên lạc của mạng lưới PAKHOI im lặng. Tôi biết khá sớm qua Jordan rằng người Pháp đã ra lệnh đình chỉ cung cấp luồng tin tức tình báo cho người Mỹ vì bị đe dọa của “tòa án quân sự”.
Khi mọi hành động Pháp - Mỹ ngừng lại và người Mỹ ở trong tâm trạng bực túc, thiếu tướng Douglas L. Weart(11) triệu tập một cuộc gặp mặt ở Côn Minh ngày 15-6 để dàn xếp mọi việc và đặc biệt đòi phải rút lại bức thư của Sainteny và các hoạt động phải đặt dưới sự kiểm soát của OSS. Weart mở đầu cuộc gặp mặt bằng việc nhắc lại cho Alessandri rằng giới quân sự Pháp đặt dưới quyền kiểm soát về tác chiến và cung cấp của tướng Hà Ứng Khâm và của OSS, và việc sử dụng các đội quân Pháp phải được cấp Chiến trường cho phép. Weart nói rằng không thể hiểu được M.5 nằm ở vị trí nào trong chuyện này, và nói cho Alessandri biết rằng “Sự kiểm soát tác chiến của tướng Hà không thừa nhận Phái đoàn quân sự Pháp như một nguồn liên lạc; mọi sự tiếp xúc chỉ dược tiến hành trực tiếp với tướng Sabattier...”. Tướng Alessandri biện bạch rằng M.5 đã hành động mà không biết gì đến thỏa thuận giữa Wedemeyer và Sabattier, và bức thư của Sainteny sẽ bị rút lại. Phân đội Pháp ở Trình Tây sẽ được lệnh hoạt động dưới sự kiểm soát của OSS. Như vậy, đến ngày 17 mọi việc trở lại bình thường, hay ít ra chúng tôi cũng nghĩ như thế.
 
M.5 CỦA SAINTENY

Tại cuộc gặp mặt Weart - Alessandri, Flichy cố nhấn mạnh vai trò của M.5 trong những hoạt động bí mật, nhưng ông ta đã bị bác bỏ và Sainteny không gặp may. Một ngày sau cuộc gặp mặt, Sainteny yêu cầu tôi ghé lại ở một biệt thự Pháp: ông ta cần làm sáng tỏ những sự hiểu lầm. Ông ta cho rằng tôi hẳn đã biết tới việc SLFEO/Calcutta đã giao cho M.5 chịu trách nhiệm hoàn toàn về những hoạt động bí mật ở Chiến trường Trung Quốc; và ông ta, với tư cách người cầm đầu M.5, đã được cho phép giao dịch trực tiếp với OSS. Còn về nhân lực, thì ông ta đã được Calcutta giao cho sử dụng các đội quân của Sabattier được bổ sung bằng những chuyên viên của DGER lúc đó đang trên đường từ Pháp đến Ấn Độ. Về vấn đề chỉ huy và kiểm soát M.5 ở Côn Minh, Sainteny nhấn mạnh rằng ông ta chỉ nhận những chỉ thị và hướng dẫn của tướng Passy(12) ở Paris và đại tá Roos(13) ở Calcutta, những người này chỉ chịu trách nhiệm trước tướng De Gaulle.
Tôi hỏi Phái đoàn quân sự Pháp trực thuộc vào đâu, và Sainteny nói rất rõ ràng tướng Pechkov không có quan hệ gì với DGER cả. Ông ta nằm dưới sự chỉ đạo của Bộ Ngoại giao, còn DGER thì hoạt động dưới những chỉ thị trực tiếp của cá nhân De Gaulle.
Hoàn toàn không có dụng ý, Sainteny cho tôi biết rằng SLFEO/Calcutta đã có một số thỏa thuận rõ ràng với SOE của Anh về hoạt động ở Đông Dương. Những thỏa thuận ấy được tiếp tục cả sau khi ký kết thỏa thuận OSS - DGER. Đó là những thỏa thuận riêng rẽ và khác nhau: Pháp - Anh, Pháp - Mỹ. Tôi bình luận rằng đối với tôi, sự thỏa thuận ấy có vẻ cơ hội chủ nghĩa và rõ ràng nhằm giành lấy phần tối đa từ hai phía riêng rẽ. Sainteny đáp lại rằng người Anh đã đóng góp nhiều về vũ khí và vận chuyển cho sự nghiệp của Pháp ở Đông Dương, và nói thêm: “Vâng, chúng tôi là những kẻ cơ hội chủ nghĩa trong trường hợp này - mọi cái đều nhắm tới cùng một mục đích, có phải thế không?”. Tôi trả lời rằng tôi không nghĩ thế, nhưng Sainteny nói tiếp rằng người Anh đã giúp đỡ lâu trước người Mỹ và đã có nhiều đội đang hoạt động tại chỗ, đã đem lại những kết quả tốt đẹp và ông ta không muốn chấm dứt những hoạt động của họ.
Sau đó, tôi đặt câu hỏi về quyền hạn của Chiến trường. Người Pháp ở Trung Quốc dù sao cũng nằm dưới sự chỉ huy của Tưởng và Đông Dương thì nằm trong Chiến trường tác chiến Trung Quốc. Nhưng Sainteny khoát tay tỏ ra không cần phải băn khoăn gì về tất cả những điều đó và nói rằng chúng tôi không thể thông qua sự thỏa thuận Tứ cường ở cấp chúng tôi, khiến cho tôi gợi ý có lẽ ông ta nên nêu vấn đề này với tham mưu trưởng và đại tá Heppner. Chúng tôi không giải quyết được gì và đặt những vấn đề quyền hạn cho những cuộc thảo luận sau này.
Những hoạt động của Anh - Pháp từ SEAC khiến cho tôi rất quan tâm. Tôi không biết chắc rằng những hoạt động ấy có thể đưa vào kế hoạch chung của tôi không. Sainteny nói rằng ông ta không biết được nhiều chi tiết và bảo đảm với tôi rằng kết quả hoạt động của các đội ấy sẽ được chia cho M.5, M.5 sẽ chuyển cho Sabattier, và ông ta sẽ chuyển đi “theo những đường liên lạc tình báo”. Vì tôi biết sự ngăn cấm bí mật của người Pháp không cho người Anh giao tin tức cho người Mỹ, nên tôi lại càng hoài nghi hơn. Không để lộ việc tôi biết sự ngăn cấm bí mật ấy, tôi lưu ý với Sainteny về thỏa thuận giữa Tưởng và Sabattier nói rằng đường liên lạc duy nhất đối với người Pháp ở Chiến trường Trung Quốc để tuyền đạt tin tức tình báo là qua OSS, rồi OSS chuyển tới Sabattier. Sainteny đáp lại điều đó: “Đúng thế! Vậy thì tôi sẽ chuyển tin tức tình báo cho ông, nhưng với điều kiện không để trì hoãn bởi nhũng thủ tục quan liêu thường thấy trong trường hợp ở châu Âu”. Chấp nhận câu trả lời dễ dãi của ông ta với một sự miễn cưỡng lớn, tôi bảo đảm với ông ta rằng sẽ không có những sự trì hoãn. Và, tất nhiên, những lo lắng của chúng tôi đã được chứng thực: chúng tôi không hề nhận được một tin tức nào cả.
Chúng tôi chuyển qua vấn đề cuối cùng, kế hoạch hoạt động của ông ta. Sainteny nói rằng kế hoạch đó sẽ được ông ta thảo xong ngày 18-6. Khi tôi từ giã, ông ta hỏi liệu có thể được thông báo cho biết về các kế hoạch của Chiến trường cho Đông Dương với những cuộc đổ bộ dự định được đặc biệt ghi rõ hay không. Tôi gợi ý ông ta nên thảo luận điều đó với Heppner.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 09:53:25 AM
M.5 GIÀNH ĐƯỢC QUY CHẾ CHÍNH THỨC

Kế hoạch Sainteny thảo xong ngày 18 là một kế hoạch rộng lớn cho những cuộc hành quân trên bộ và trên biển. Nó bao gồm khoảng 1.000 sĩ quan và binh lính Pháp - Việt, tất cả được trang bị bởi OSS. Helliwell và tôi rất ngạc nhiên và đề nghị Heppner chấp nhận kế hoạch ấy với những điều kiện: Các đơn vị này được đặt dưới sự kiểm soát của OSS; mỗi đơn vị có một sĩ quan cao cấp Mỹ chỉ huy; chỉ sử dụng mật mã vô tuyến điện của OSS; mỗi đơn vị chỉ hoạt động dưới sự đỡ đầu của OSS chống lại các mục tiêu của Nhật.
Sainteny và Flichy phản đối tất cả những điều kiện ấy Sainteny nói ông ta cảm thấy trái lương tâm khi yêu cầu các sĩ quan Pháp phục vụ dưới sự chỉ huy của những sĩ quan không phải người Pháp, dù cho đó là những sĩ quan Đồng minh. Heppner nói rằng đó không phải là một thủ tục gì khác thường; phải chăng tất cả chúng ta đều không nằm dưới sự chỉ huy của Thống chế (Tưởng) ở Chiến trường Trung Quốc? Chúng tôi đi tới một sự bất đồng.
Để khỏi mất thì giờ hơn nữa, vì ngày hạn định cho Carbonado đã gần đến, tôi gợi ý chúng tôi cùng vạch một dự án trước mắt và giải quyết vấn đề chỉ huy trên cơ sở mục tiêu và khả năng hiện có về sĩ quan có năng lực cho mỗi dự án. Sainteny đồng ý một cách miễn cưỡng, nhưng ông ta yêu cầu cung cấp vũ khí và trang bị cho tất cả 1.000 binh sĩ. Heppner nắm chặt lấy điểm đó. Mỗi đơn vị sẽ được cung cấp những gì cần thiết khi nó thật sự được giao cho một phái đoàn OSS được phê chuẩn.
Sainteny nêu lên vấn đề những cuộc đổ bộ của Đồng minh được dự tính và hỏi xem liệu ông ta có được thông báo về những gì sẽ được hoạch định không. Heppner nói với ông ta rằng Sabattier sẽ được thông báo khi tướng Hà Ứng Khâm thông qua để cho kế hoạch ấy có hiệu lực.
Đó là một cuộc gặp mặt hoàn toàn không thỏa mãn. Người Pháp cảm thấy bị khước từ và người Mỹ chúng tôi rời ra với một cảm giác rõ ràng về tính mơ hồ của lập trường người Pháp. Helhwell và tôi, cùng với Heppner, biết rắng Sainteny không phải là một người ngay thẳng. Quá nhiều điều ông ta không nói ra và quá nhiều câu hỏi không được ông ta trả lời.
Trong 4 tuần lễ sau đó, chúng tôi dành nhiều thì giờ để hội họp, hỏi han, bàn bạc và thảo luận, mà không di tới một sự thỏa thuận nào để có thể thực hiện được. Trong khi đó người Pháp đánh nhau ở vùng ven biển phía nam Trung Quốc không có mục tiêu rõ ràng. Căn cứ của chúng tôi ở Pakhoi được báo cáo rằng một đơn vị biệt kích Pháp đang được tổ chức và huấn luyện trong vùng cho những hoạt động mà chúng tôi chưa biết. M.5 quấy phá các hệ thống tình báo của lực lượng không quân thứ 14, AGAS, Bộ tư lệnh chiến đấu Trung Quốc (CCC) và OSS bằng những loạt báo cáo không được xác nhận về các bố trí và vận động của quân Nhật. Khi ban kế hoạch của Chiến trường hỏi OSS về tính xác thực của những báo cáo ấy, tất nhiên chúng tôi không thể xác minh chúng được, cũng không thể bảo đảm tính chính xác của chúng vì chúng tôi không được M.5 hỏi ý kiến.
Các báo chí địa phương của Trung Quốc ở Côn Mình công bố một bản báo cáo, nói là của phái đoàn quân sự Pháp, cho biết một đơn vị Pháp ở Trung Quốc đã “xâm nhập và chiếm đóng” đảo Weichow của Trung Quốc(14). Vụ rắc rối ấy không có gì đáng nêu lên, ngoại trừ tướng Hà Ứng Khâm và đại bản doanh Chiến trường nổi cáu lên vì hành động không được phép ấy của người Pháp. Như câu chuyện về sau được làm sáng tỏ ra, trong một kế hoạch rút lui về lục địa Trung Quốc, người Nhật đã bỏ hòn đảo ấy. Khi biết tin người Nhật đã bỏ đảo Weichow, M.5 ra lệnh cho các tàu tuần tiễu của họ (Frézouls và Crayssac) chiếm lấy đảo này bằng một đơn vị nhỏ của Pháp. Sainteny kiêu hãnh gửi một bức điện cho tướng Chennault báo tin đã “phá hủy sân bay Nhật và chiếm đảo này nhân danh Đồng minh”. Mấy ngày sau, Sainteny bị Tổng chỉ huy Trung Quốc ra lệnh rút khỏi hòn đảo và phải chấm dứ cũng như chưa không được xúc tiến những hoạt động không được cho phép sau này để khỏi gây tổn hại lớn cho các kế hoạch của Chiến trường.
Trong khi gỡ M.5 ra khỏi hành động hoang toàng đáng tức cười ở Weichow, Sainteny nói với trung úy Fauchier - Magnon rằng ông ta đang chuẩn bị một đội để “đánh chiếm” đảo Nightingale(15) với một đơn vị tình báo và một máy vô tuyến điện được AGAS cung cấp. Chính tướng Wedemeyer đã ra lệnh đình chỉ các kế hoạch ấy.
Tôi giải thích những trò cường điệu trẻ con ấy là một cách mà Sainteny dùng để thu hút sự chú ý, vì DGER và đặc biệt là M.5 của Sainteny vẫn chưa được thừa nhận ở cấp Chiến trường Trung Quốc.
Hoàn toàn thất vọng vì hành động của người Pháp, tôi khuyên Heppner chấm dứt sự ủng hộ đáng ngờ của DGER. Toàn bộ vấn đề này đã được đặt ra ở một hội nghị tại Trùng Khánh ngày 29-6, giữa tướng Paul W. Caraway(16) đại tá Joseph Dickey(17), Heppner, Whitaker, Helliwell và tôi. Tôi phác lên những thỏa thuận OSS - DGER (M.5), những thành tựu và những thất bại của nó. Tôi thừa nhận rằng người Pháp có một tiềm năng to lớn cho những hoạt động bí mật, miễn là chúng ta chấp nhận DGER như một cơ quan bình đẳng trong Chiến trường và đưa họ vào các kế hoạch của Chiến trường. Tuy nhiên, tôi cảnh cáo rằng, nếu chúng ta đi theo con đường đó, thì vai trò của tướng Sabattier với tư cách Tổng chỉ huy sẽ bị phụ thuộc vào quyền của DGER và chúng ta sẽ bỏ mất quyền kiểm soát đối với những hành động của Pháp trong Chiến trường.
Dickey và Whitaker đồng ý với sự đánh giá của tôi và nêu rõ rằng tướng Alessandri đã gặp tướng Gross ở Côn Minh ngày 22 và gặp tướng Ray T. Maddocks(18) ngày 27 để đi tới một thỏa thuận đúng về những điểm đó - thừa nhận vai trò của DGER và của Sabattier trong những hoạt động bí mật. Tướng Caraway nhận xét rằng: Mặc dù đó là một vấn đề riêng của người Pháp, chúng ta vẫn có trách nhiệm tinh thần và pháp lý đối với sự ủng hộ viên chỉ huy đã được bổ nhiệm một cách hợp thức là Sabattier.
Heppner, trước kia là một nhân viên tham mưu chủ chốt của đại bản doanh của huân tước Mountbatten, đã vạch rõ rằng sự thừa nhận chính thức DGER, bao hàm SLFEO thuộc SEAC cũng sẽ được phép hoạt động ở Chiến trường Trung Quốc; đó là một vấn đề quyền hạn nghiêm trọng, đòi hỏi phải được sự đồng ý của Thống chế (Tưởng). Heppner cũng nêu lên rằng người Pháp không phải chỉ là nguồn duy nhất gây hỗn loạn ở chiến trường Trung Quốc. Ông ta có nhiều báo cáo cho biết Nhóm yểm trợ Quân đội Anh (BAAG), dưới quyền chỉ huy của đại tá Ride đang hoạt động ở khu vực Hongkong - Quảng Châu, trang bị vũ khí cho du kích Trung Quốc nhằm sẵn sàng kiểm soát Hongkong trong trường hợp Đồng minh đổ bộ. Những hoạt động của cả Anh và Pháp ở chiến trường Trung Quốc không được Thống chế đồng ý và do đó sẽ có những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với hoạt động của OSS. Heppner đã báo cho tướng Wedemeyer biết về những hoạt động của BAAG và ông ta đã lưu ý trung tướng E.C. Hayes, Tổng chỉ huy quân đội Anh ở Trung Quốc về điều này. Hayes hứa sẽ điều tra vấn đề này và sẽ cung cấp một báo cáo đầy đủ. (Bảy tuần lễ sau đó, khi chiến tranh kết thúc, tướng Hayes vẫn chưa làm xong công việc này).
Chúng tôi kết luận rằng cần phải có một lập trường kiên quyết. Tuy nhiên, sự có mặt của Pháp ở Trung Quốc không thể bị bỏ qua và cần được sử dụng, mặc dù có những vấn đề khó khăn về chính trị và hậu cần. Tướng Caraway báo cho Wedemeyer rằng ông ra đã khuyến cáo với tướng Marshall “ngay khi những lực lượng (của Pháp) ấy đã lại sung sức về thể chất, họ sẽ được sử dụng như những người bảo vệ sân bay, những đội tuần tiễu biên giới, những nhân viên tình báo, và những đội SCS(?)”. Như vậy, chúng ta đã cam kết thực hiện một cố gắng phối hợp để sử dụng họ vào những mục đích nào đó. Cho đến nay, họ đã được sử dụng ở tất cả các khu vực đã nói trên, trừ tình báo ra. Có lẽ, nếu chúng ta nêu ra một hay hai điểm, thì M.5 có thể dễ chấp nhận một phần sự giám sát. Tướng Caraway sẽ báo cáo với tướng Maddocks và tôi phải chuẩn bị cho Heppner một giác thư về những sự vi phạm của Pháp đối với thỏa thuận DGER - OSS.
Ngoài những lý do đó, một thỏa thuận cụ thể mới với người Pháp đã được vạch ra ngày 3-7, giữa tướng Weart và tướng Alessandri. Mọi người có mặt đã biểu lộ sự thông hiểu và hài lòng với những điểm chủ yếu sau đây:
- Hàng tuần phải báo cáo cho tướng Wedemeyer về mọi hoạt động của DGER ở Chiến trường Trung Quốc;
- M.5 phải bảo đảm kiếm được những tin tức tình báo do DGER đóng ở Ấn Độ và chuyển giao cho tướng Wedemeyer;
- DGER phải nhận những chỉ thị trực tiếp từ Paris hay từ Bộ thuộc địa, không nhất thiết qua Sabattier;
- DGER được thừa nhận là cơ quan tình báo Pháp về Đông Dương, cần biết về tất cả các hoạt động bí mật có liên quan với nhân viên người Pháp được tiến hành như thế nào, ở đâu và tại sao;
- Sabattier không được bác bỏ bất cứ sự phản đối nào do DGER nêu lên về những hoạt động tình báo đặc biệt;
- Trong việc vạch kế hoạch và chỉ huy những hoạt động tình báo về Đông Dương, OSS phải hành động thông qua những đường liên lạc chỉ huy bình thường của Pháp, đặc biệt là đối với những hoạt động tình báo thông qua DGER và những hoạt động quân sự thông qua Sabattier.
Chúng ta đã nêu lên một hay hai điểm thừa nhận chính thức DGER như một cánh tay của Chính phủ Paris và đồng ý một mức độ tự trị nào đó của nó, nhưng chúng ta không từ bỏ sự kiểm soát hay chịu để cho Sabattier có quyền cao nhất. Khi chúng tôi hỏi Sainteny ông ta nghĩ như thế nào về thỏa thuận mới này, ông ta nhận xét một cách thô lỗ: “Mới gì?”.
 


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 09:53:39 AM
MỘT TRƯỜNG HỢP CHƠI TRÒ ẢO THUẬT
Trong những tuần lễ thỏa thuận và không thỏa thuận của chúng tôi, tôi đã yêu cầu M.5 khẩn cấp lấy bản dự án mang tên COMORE. Đó là một phần của việc chuẩn bị cho Carbonado để tăng thêm những thông tin của chúng tôi về việc người Nhật đã biết đến mức nào về các kế hoạch của Mỹ - Trung Quốc, những lực lượng nào được tập trung ở khu vực Hà Nội - Hải Phòng và ở hành lang Lạng Sơn - Lào Cai, những sân bay và hải cảng nào có những hoạt động bất thường, và đang có những di chuyển quân đội như thế nào.
Tôi giao nhiệm vụ cho một người Jedburgh cũ, đại úy Lucien E. Conein(20), một chuyên gia về các chiến thuật phá hoại và du kích, nói thạo tiếng Pháp, đáng tin cậy, và không hoàn toàn đồng ý với chính sách của Pháp đối với Đông Dương. Đội này có khoảng 100 binh sĩ Pháp - Việt và 5 sĩ quan và binh sĩ Mỹ. COMORE thực hiện được những cuộc đột kích song song vào các cứ điểm Nhật trong những hoạt động bắt đầu đêm 28 rạng 29 tháng 7 và tiếp tục cho đến 8-8, chỉ có một trường hợp thương vong. Mặc dù người Nhật chống cự mạnh mẽ, nhân viên COMORE đã đốt cháy và phá hoại các kho xăng và đạn dược, một ban chỉ huy tiểu đoàn và một số doanh trại. Họ bắt được hai tù binh Nhật (một là sĩ quan) về để hỏi cung và những tài liệu có thể mang theo được.
Thành công của COMORE là một thước đo của sự yên tâm về triển vọng cộng tác với người Pháp, nếu không có những khó khăn mới đồng thời tăng lên trong cùng thời kỳ đó. Tôi hết sức ngạc nhiên khi Sainteny đang trên đường về Paris thì tôi nhận được của M.5 ngày 20-7 một kế hoạch hoàn toàn mới mang mật danh MAROC, một cuộc hoạt động Hải quân nhằm thu lượm tình báo từ lục địa Trung Quốc và những vùng ven biển. Nó đòi hỏi một số đơn vị phụ thuộc, bao gồm một số binh sĩ không hạn định của Pháp - đâu vào khoảng mấy trăm đến mấy nghìn. Theo người Pháp, MAROC được phục vụ bởi một trạm vô tuyến điện của OSS, mà những đơn vị phụ thuộc ấy sẽ gửi những tin tức của họ đến trạm theo mật mã OSS. “Những đường liên lạc hiện có của Pháp chỉ được dùng cho việc buôn bán công khai”. Kế hoạch có vẻ nghe xuôi tai khi mới đọc qua, ngoại trừ việc OSS cấp vũ khí và trang bị cho binh sĩ Pháp.
Tuy nhiên, một sự xem xét kỹ lưỡng kế hoạch MAROC lại để lộ ra rằng vị trí chỉ huy của nó được đặt ở lãnh sự Pháp ở Pakhoi, chỉ do người Pháp đảm nhiệm. Thủy thủ của hai chiếc thuyền (Bluebird và Vieux Charles) được đặt dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Pháp. Ngoài ra, hai đơn vị phụ (Oise và Bạch Long Vĩ) cũng nằm dưới sự kiểm soát của Pháp, có liên lạc với người Trung Quốc và AGAS. Nhân viên OSS sẽ chỉ tham gia với sự đồng ý hoàn toàn của chỉ huy Pháp. Trung úy Jordan, lúc đó ở Pakhoi, được cắt cử vào kế hoạch MAROC để nhận những đồ tiếp tế của Mỹ thả dù xuống, do người Pháp phân phối.
Tôi tức điên lên. Rõ ràng OSS chỉ được trông đợi để cấp tiền và vũ khí cho những hoạt động không hề chịu một yếu tố kiểm soát nào của Mỹ. Về điểm này, tôi đã thật sự mệt mỏi với sự “cộng tác” và những âm mưu của M.5, và ngay lập tức tôi yêu cầu M.5 làm sáng tỏ vấn đề chỉ huy và kiểm soát. Các bản sao bức thư của tôi gửi Heppner và Helliwell có ghi chú: “Nếu có những thay đổi ấy, thì sự kiểm soát của OSS đối với những hoạt động ở Đông Dương thuộc Pháp sẽ còn lại con số không, và chúng tôi sẽ chủ yếu thành một cơ quan tiếp tế cho những hoạt động độc lập của DGER”. Sự kết thúc đột ngột của cuộc chiến tranh đã may mắn cứu tôi khỏi một trong những điều bực mình và tranh chấp mà kế hoạch MAROC rõ ràng đã đẻ ra.
Binh sĩ Pháp tại chỗ đã bị bỏ mặc trong suốt thời kỳ bất đồng và thương lượng kéo dài ấy. Ở K’aiyuan, Posech, Trình Tây và ở những khu vực khác có người Pháp tập trung, họ được cung cấp rất tồi tệ về áo quần, giày, thuốc men và những khoản khác. Vấn đề huấn luyện và sử dụng những binh sĩ ấy vào các hoạt động của OSS còn tùy thuộc vào việc họ được trang bị bởi Chiến trường như thế nào. Cứ mỗi lần chúng ta trang bị cho một đơn vị để làm nhiệm vụ đặc biệt, thì một phần lớn nhân viên của đơn vị ấy lại bị chuyển ra khỏi sự kiểm soát của OSS và một nhóm binh sĩ mới không ai thừa nhận lại thay thế họ. Rõ ràng là sự khôn ngoan tầm thường ấy đã làm cho nhiều người hơn có áo quần mặc, nhưng chương trình huấn luyện tất nhiên phải bị tiến triển chậm lại. Một khía cạnh nghiêm trọng hơn nhiều của cái lối láu cá ấy, không đơn giản lắm, là khi chúng tôi biết được rằng những đồ tiếp tế như vũ khí và đài vô tuyến điện không phải bao giờ cũng được giữ lại ở những đơn vị ấy mà lại bị cất giấu đi cho những hoạt động sau này của Pháp để chiếm lại Đông Dương. Tôi đưa cho Heppner một đanh sách những đồ tiếp tế, tất cả đều được các sĩ quan Pháp nhận một cách hợp lệ, mà không còn thấy ở những đơn vị Pháp được chỉ định làm nhiệm vụ của OSS nữa, và Heppner đã báo cáo vấn đề lên tướng Olmsted.
Một lần nữa, Alessandri gặp các tướng Maddocks, Caraway và Olmsted. Tấn công ngay lập tức, Alessandri hỏi chúng tôi đã nhận được chỉ thị từ Washington về việc cung cấp cho người Pháp những thứ hàng theo luật cho Vay - Mượn vũ khí hay không. Olmsted trả lời có, người Pháp có đủ tư cách để nhận sự viện trợ ấy, nhưng điều đó không có nghĩa là họ bắt đầu lấy được trang bị của Mỹ ngay, mà phải 6 tháng sau mới có thể cung cấp trang bị ấy và chở đến Trung Quốc được. Hơn nữa, Olmsted không thể đồng ý với tiền đề của Alessandri là mọi đồ cung cấp hiện có để trang bị cho quân đội Pháp không phải là để cho họ tách khỏi những hoạt động do Chiến trường chỉ huy: “Chúng tôi không có một sự bố trí riêng nào cho những lực lượng chiến đấu tách biệt của Pháp cả”.
Alessandri tỏ vẻ ngạc nhiên vì thông tin ấy: ông ta đã được trả lời mọi điều mà ông ta phải hỏi. Olmsted kiên trì giải thích rằng chỉ có một số ít hàng ăn mặc đã có sẵn. Còn trang bị chiến đấu thì phải đợi gửi từ Mỹ sang và nói chung phải mất 6 tháng. Alessandri trông ỉu xìu. Sáu tháng là quá dài, ông ta nói. Caraway hỏi Alessandri đang chờ có bao nhiêu binh sĩ ở Chiến trường Trung Quốc; ông ta trả lời: “5.000!”. Olmsted cố làm nguôi bớt sự choáng váng của Alessandri, nhưng nói thẳng thắn rằng ông ta không có cách nào để đẩy nhanh hơn quá trình này cả.
Lúc đó, tướng Alessandri đề nghị mua trang bị bất cứ ở đâu và chuyên chở bằng máy bay Pháp. Và ông ta lại được nhắc cho biết rằng các sân bay đều đang hoạt động hết năng lực rồi. Alessandri cố gắng một lần nựa: liệu ông có thể mua trang bị ở Ấn Độ và mua các xe chở hàng để chuyển qua con đường Miến Điện không? Ông ta được nói cho biết rằng xăng dầu cho xe chở hàng bị hạn chế rất ngặt nghèo và nhiều đoàn xe đang chờ đợi có đường để đi và trong trường hợp ông ta không hiểu được điều đó thì ông ta sẽ yêu cầu tới 2.500 chiếc xe tải để duy trì 5.000 binh sĩ bằng những nguồn tiếp tế lấy ở Ấn Độ. Hoàn toàn thất vọng, Alessandri nhắc lại rằng binh sĩ Pháp sẽ không thể tham gia các hoạt động nếu như trang bị cho họ đến quá muộn. Maddocks ghi nhận một cách lịch sự rằng ông ta đã hiểu được những gì viên tướng này cần phải làm. Mọi người đều thấy rõ ràng mối lo lắng của Alessandri không phải là để đánh bại Nhật, mà là để sẵn sàng giữ Đông Dương cho nước Pháp. Vấn đề tiếp tế của OSS thậm chí cũng không được nhắc đến tại cuộc gặp gỡ, nhưng điều muốn nói đã toát lên rất rõ - binh sĩ Pháp chỉ được cung cấp vũ khí và trang bị cho những hoạt động do OSS kiểm soát và do Chiến trường chỉ huy.
Alessandri cố cứu vãn tình hình một cách tuyệt vọng bằng cách bày tỏ sự thất vọng của ông ta đối với việc giao cho binh sĩ Pháp giữ các sân bay và tham gia các hoạt động của OSS. Ông ta nói rằng, ông ta muốn thấy họ được giao cho một nhiệm vụ chiến đấu. Tướng Maddocks đã gợi ý một cách lịch sự là sẽ nêu vấn đề này với tướng Hà Ứng Khâm, và Hà sẽ có những đề nghị thích hợp của mình cho Thống chế. Tất cả chúng tôi đều biết rằng người Pháp đã được giao cho một nhiệm vụ chiến đấu ở vùng đông bắc Trung Quốc, nhưng họ đã từ chối, bề ngoài nói là do bộ đội của họ chưa thật khỏe mạnh để làm nhiệm vụ chiến đấu. Sự thật là người Pháp thích ở gần biên giới Đông Dương một cách tiện lợi hợn là chấp nhận nhiệm vụ chiến đấu ở những nơi khác ở Trung Quốc.
Khoảng 10 ngày sau đó, trong khi Sainteny vẫn tiếp tục vắng mặt, Flichy gửi cho tôi những nhận xét và những sửa đổi riêng của ông ta đối với kế hoạch MAROC và dường như chúng tôi có thể đạt tới một bước tiến nào đó về vấn đề này. Nhưng vào lúc đó có cả một dòng tin tức lại từ Pakhoi đến bất ngờ và chặn đứng bước tiến ấy. Người Pháp giải thích không đâu vào đâu rằng khi chúng tôi bàn bạc về kế hoạch MAROC thì việc phải có người và trang bị để những công việc trùng lên nhau trong cùng một khu vực là vô nghĩa. Sự giải thích ấy hoàn toàn không thuyết phục. MAROC vẫn chưa tồn tại và OSS hoàn toàn chưa nhận được gì hết từ Pakhoi gửi đến. Và thế là sự “cộng tác” OSS - M.5, vốn đã chưa có, lại trở thành phá sản.
Chúng tôi may mắn có được những nguồn tình báo khác. Ba hệ thống tình báo lớn dã tung được người vào phạm vi hoạt động gồm những người Pháp và Việt đặt dưới sự kiểm soát của các sĩ quan chính quy Pháp trung thành với Sabattier. Chúng tôi còn có 5 nhóm có những mục tiêu riêng biệt, hoàn toàn độc lập với người Pháp. Tất cả có chừng 300 đội tình báo và đơn vị du kích, với một mạng lưới liên lạc rộng lớn hoạt động không dựa vào DGER chút nào. Chúng tôi cũng nhận được một luồng tin tức tình báo đều đặn và đáng tin cậy từ bộ máy Hồ Chí Minh và từ những cá nhân ở những địa phương khác nhau không gắn với bất cứ một mạng lưới tình báo nào.
Với sự kết thúc chiến tranh đột ngột chỉ trước có mấy ngày, nhiệm vụ bảo đảm tình báo về Đông Dương của tôi để cung cấp cho những hoạt động quân sự của chúng ta cũng đình chỉ đột ngột, nhưng những cuộc xung đột với Nhật vẫn chưa kết thúc hẳn vì những hoạt động của Sainteny: chiến dịch của ông ta chỉ mới bắt đầu.
________________________________________
(1) trước đó - tiếng Pháp
(2) nguyên trạng - tiếng Pháp
(3) chỉ huy phó nhóm M.5
(4) Jean Roger Sainteny (1907-1978), chỉ huy nhóm M.5 ở Côn Minh, con rể cựu Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut (1872-1962); đến Hà Nội cùng với toán Mercy OSS ngày 28-8-1945, được cử làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ (1945-1947), là người đại diện nước Pháp ký bản Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 với Hồ Chí Minh; sau làm tổng đại diện Cộng hoà Pháp tại VNDCCH (1954-1957)
(5) hay Bắc Hải, một cảng thuộc Quảng Đông cách Móng Cái 60 dặm
(6) trưởng toán OSS/SO, mật danh là “Chow”, đóng ở Posech, bắc Trình Tây 60 dặm
(7) Cảnh giác - tiếng Pháp
(8) thuộc Quảng Đông, bắc Pakhoi 120 dặm
(9) thuộc Hải quân Mỹ, chịu trách nhiệm phối hợp với AGAS để trinh sát bờ biển cho OSS
(10) Nhóm gồm 8 sĩ quan, 40 lính lê dương người Âu và 60 lính người Việt
(11) Phó Tổng tham mưu trưởng Lực lượng quân Mỹ ở Chiến trường Trung Hoa
(12) Thủ trưởng DGER ở Paris
(13) Chỉ huy trưởng SLFEO/Cacutta
(14) nằm trong vịnh Bắc Bộ, cách Pakhoi 25 dặm
(15) nằm trong vịnh Bắc Bộ, các Móng Cái 100 dặm
(16) Phó Tổng tham mưu trưởng Lực lượng quân Mỹ ở Chiến trường Trung Hoa
(17) Trợ lý Tổng tham mưu trưởng Lực lượng quân Mỹ ở Chiến trường Trung Hoa, phụ trách Ban tình báo G-2
(18) Tổng tham mưu trưởng Lực lượng quân Mỹ ở Chiến trường Trung Hoa
(19) sau là sĩ quan CIA tại miền Nam Việt Nam, đạo diễn cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm 1-11-1963


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 09:55:08 AM
Chương 12
“Quyền ủy trị” được xác định lại
Chỉ thị gián tiếp của Roosevelt về Đông Dương là nhằm để giải quyết vấn đề đó vào thời kỳ sau chiến tranh chứ không phải vào giũa năm 1945, khi Mỹ đang phải đương đầu với tình hình thay đổi nhanh chóng ở Đông Nam Á, hoặc đang ở trong một tình trạng cấp bách của chiến tranh. Những chỉ thị của Washington lúc đó chỉ gây thêm phức tạp và rối rắm cho các quyết định cấp bách về chỉ huy và làm gây cấn thêm tình trạng tranh chấp giữa Pháp, Trung Quốc và Mỹ.
Những điều bí mật chung quanh Hội nghị Yalta tháng 2, cuộc đảo chính tháng 3 của Nhật và cái chết của Roosevelt trong tháng 4 ngay trước khi bước vào Hội nghị San Francisco đã làm cho vai trò của Pháp ở Viễn Đông nổi lên vượt quá tầm vóc của nó. Trong những kế hoạch tiến hành chiến tranh của chung ở Trung Quốc dự kiến cho đến năm 1946, chúng tôi không đặt vấn đề có sự tham gia của Pháp. Tuy vậy đến đầu năm 1945 thì Pháp đã được coi như là thành viên của Chiến trường Đồng minh. Do đó, Đại sứ Hurley, tướng Wedemeyer và đại tá Heppner đã phải thường xuyên chất vấn Bộ Ngoại giao, Bộ Chiến tranh và OSS ở Washington xem có phải là đã có một sự thay đổi chính sách hoặc ít ra thì cũng phải có một sự giải thích để làm sáng tỏ tình hình.
 
DE GAULLE ÉP TRUMAN

Trong vòng 2 tuần lễ sau khi Roosevelt chết, Chính phủ De Gaulle đã tiến hành một đợt tuyên truyền mạnh mẽ nhằm hướng dư luận thế giới sang phía có lợi cho việc giữ nguyên tình trạng của Pháp ở Đông Dương, thậm chí đến mức gợi ý một cách không có cơ sở thực tế rằng chính sách của Mỹ đối với Đông Dương đã thay đổi dưới chính quyền Truman. Đợt tuyên truyền đó đã được triển khai đồng thời ở Trung Quốc và ở nước Mỹ vào ngày 25-4 khi tướng (đại sứ) Pechkov đọc một bài diễn văn tại cuộc họp báo cùng lúc với việc mở đầu Hội nghị San Francisco. Ông nói:
“Pháp đang chiến đấu ở Thái Bình Dương, nơi có chiến hạm Richelieu, một trong những thiết giáp hạm mạnh nhất thế giới đang tuần tiễu và ở Đông Dương, nơi những du kích Pháp đang quấy rối người Nhật và ngăn chặn không cho họ tiến đánh Vân Nam và Quảng Tây...
Trong cuộc xung đột này, người Đông Dương tỏ ra trung thành với sự nghiệp của Pháp. “Quyền ủy trị” thực sự đã nằm trong trái tim chúng ta…”.
Ở đây, có vấn đề được đặt ra là trên thực tế tàu Richeheu phải chăng có mặt ở Thái Bình Dương vào thời điểm đó? Tôi chỉ có thể trả lời rằng, theo Hải quân Mỹ cho biết thì trong khoảng từ 15 đến 30 tháng 4 năm 1945, tàu đó đang có mặt ở Ấn Độ Dương. Nhưng luận điệu nói là “du kích người Pháp” quấy rối Nhật ở Đông Dương và ngăn chặn những cuộc tấn công vào phía nam Trung Quốc đã được xác định rõ là cường điệu hoàn toàn. Người Việt Nam đã sớm nói lên tiếng nói của họ.
Sau khi Roosevelt mất, người phát ngôn của Pháp ở San Francisco đã tìm được những vũ khí tuyên truyền tốt nhất của họ trong lời tuyên bố năm 1942 của Sumner Welles và trong chương trình về các dân tộc phụ thuộc của Mỹ đưa ra tại Hội nghị Dumbarton Oaks năm 1944. Ngày 2-5, G. Bidault, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp lúc đó tham dự Hội nghị San Francisco, đã tuyên bố một cách mạnh mẽ trước thế giói rằng quyết định về tương lai của Đông Dương phụ thuộc vào nước Pháp và chỉ có Pháp mà thôi. Ông ta đã đề cập đến quyền ủy trị như đã được xác định ở Dumbarton Oaks nhưng lại tuyên bố rằng nguyên tắc ấy chỉ áp dụng cho một số vùng nhất định nào đó chứ không phải cho Đông Dương.
Sau này Bonnet phàn nàn với Ngoại trưởng Stettinius rằng “mặc dù Chính phủ Pháp hiểu lời tuyên bố của Welles năm 1942 có liên quan đến việc khôi phục lại chủ quyền của Pháp đối với đế quốc Pháp trước đây là có bao gồm Đông Dương ở trong đó, nhưng báo chí Mỹ vẫn cứ tiếp tục nói rằng một qui chế đặc biệt vẫn dược dành cho khu vực thuộc địa này”. Để tránh có sự bất đồng trong hội nghị, Stettinius khẳng định với Bidault rằng “bất cứ lời tuyên bố chính thức nào của Chính phủ nói đến chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, thậm chí… nhưng trong dư luận công chúng Mỹ cũng có những ý kiến nào đó lên án những chính sách và những điều thực hành của Pháp ở Đông Dương”.
Sau bước thăm dò kết quả, De Gaulle tăng sức ép đối với chính quyền mới ở Washington từ một hướng khác. Trong một bức công hàm riêng, De Gaulle yêu cầu Tổng thống Truman tiếp Bộ trưởng Ngoại giao của ông ta để ông này thảo luận về sự tham gia của các lực lượng Pháp “bên cạnh các lực lượng Mỹ trong chiến dịch quyết định chống Nhật”.
Bidault thăm Nhà Trắng ngày 17-5. Sau khi bày tỏ lòng cảm kích đối với đề nghị được tham gia chiến đấu của De Gaulle, Tổng thống nói với Bidault rằng chính sách của ông ta là để cho Tổng tư lệnh Chiến trường (Mac Arthur) quyết định nếu như có thể được và có cần thiết phải để các lực lượng Pháp tham gia vào các cuộc hành quân chống Nhật hay không. Bản thân Tổng thống cho rằng việc này còn tùy thuộc khá nhiều vào điều kiện chuyên chở vận tải, một vấn đề đòi hỏi phải có một lực lượng lớn gấp 3 lần trong chiến tranh ở Đại Tây Dương.
Ngày hôm sau, Grew và Bidault cũng thống nhất với nhau sau khi xem xét kỹ lưỡng các vấn đề nói trên. Nhưng Bidault lại cho biết thêm là đã có hai sư đoàn của Pháp sẵn sàng để đưa ngay sang Viễn Đông. Có thể là nhằm cho Grew yên tâm về những động cơ của Pháp, Bidault nói ngay rằng các sư đoàn đó có thể được sử dụng ở bất cứ nơi nào tại Viễn Đông và Pháp không có ý định hạn chế sự đóng góp của họ chỉ ở trong việc chống lại kẻ thù ở Đông Dương. Grew đáp lại là sẽ nêu ngay vấn đề này với các nhà chức trách quân sự của chúng ta.
Trong khi bộ máy ngoại giao khuấy động thì cơ quan đấu tranh chính trị của DGER ở Calcutta và Trùng Khánh cũng cho tung ra tin đồn là do “các nhân vật cao cấp” cho biết Washington đã bỏ rơi quan niệm về quyền ủy trị và cũng không còn phản đối việc Pháp quay trở lại Đông Dương nữa.
 
ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA Ở YALTA

Chiến trường Trung Quốc là “điểm chót tận cùng” trong Thế chiến. Vì vậy tin tức về những sự kiện ở Washington, London và Paris đến đó được, chủ yếu là do con đường trao đổi thư từ cá nhân giữa những người bạn quen thuộc với nhau. Những đường thông tin liên lạc chính thức giữa những người vạch ra quyết định ở các thủ đô thế giới với các nhà lãnh đạo ngoại giao và quân sự ở Trung Quốc thường bị hạn chế trong những chỉ thị từng phần nhằm ngăn ngừa việc giải thích theo ý cá nhân hoặc các hành động có tính chất độc lập. Những chính sách cơ bản giao cho tướng Wedemeyer và Đại sứ Hurley từ khi họ mới được chỉ định sang Trung Quốc đã thay đổi liên tục ở Washington, nhưng những thay đổi đó lại chỉ được nêu lên một cách rõ ràng sau khi sự việc thực tế có liên quan đến sự thay đổi đó đã xuất hiện. Cũng may mà tình trạng đó không phải chỉ riêng những người Mỹ ở Trung Quốc mới có; trong những chừng mực nhất định, nó còn tồn tại ở người Anh, người Pháp. Và ngay cả trong các chính sách của người Trung Quốc cũng có tình trạng tương tự.
Để đối phó với những yêu sách quá mức của người Pháp và đấu tranh với các tin đồn đại về việc Mỹ thay đổi chính sách, chúng tôi phải dựa vào sự giúp đỡ và hướng dẫn của Đại sứ quán Mỹ. Đại sứ Hurley cũng khá thông thạo về vấn đề quyền ủy trị của Mỹ đưa ra ở Hội nghị Dumbarton Oaks năm 1944 và cũng biết rằng vấn đề đó đang được “ba nước lớn” thảo luận tại Yalta. Tuy vậy, ông cũng không được thông báo là vấn đề đó đã được phê chuẩn hay đã bị sửa đổi. Tình huống nào cũng đều tác động đến mối giao dịch của ông ta cũng như của giới quân sự đối với người Pháp ở Trung Quốc. Vì vậy, Hurley muốn biết quyết định cuối cùng của Washington và ngày 10-5, ông đã điện về Mỹ, nhắc đến lời tuyên bố báo chí của Pechkov, như sau:
“Vì một thực tế là qui chế tương lai của khu vực đó chắc chắn sẽ làm cho người ta ở đây quan tâm và thảo luận ngày càng nhiều nên thật là bổ ích cho tôi nếu như Bộ ngoại giao bí mật thông báo riêng cho tôi biết nội dung các quyết định ở Yalta (hoặc bất cứ một quyết định nào khác về chính sách) xung quanh vấn đề ấy. (Tôi biết rõ chính sách của Roosevelt đối với Đông Dương nhưng muốn xác định xem chính sách đó có gì thay đổi không)”.
Tám ngày sau, Hurley nhận được một trả lời ngắn gọn: “Không có quyết định nào của Yalta (SFAMB) liên quan đến Đông Dương mà Bộ Ngoại giao được biết (URTEL 750, ngày 10-5). Các tài liệu về chính sách quân sự và chính trị hiện đang nghiên cứu sẽ được chuyển đến để làm thông báo một khi đã được phép. Grew (điện).
Câu trả lời kín đáo của Grew làm tăng thêm sự lẫn lộn. Nếu không có quyết định nào đạt được ở Yalta, tại sao Bộ Ngoại giao lại không muốn tiết lộ ra. Thư tín trao đổi giữa các nhân viên tham mưu dự họp ở Yalta với Trùng Khánh nói rằng vấn đề Đông Dương đã được thảo luận chí ít là giữa Roosevelt và tướng Marshall, và có thể dưới một hình thức nào đó với cả Churchill và Xtalin.
Vài ngày sau, Hurley gửi một bức điện cá nhân dài đến Tổng thống Truman, đề cập đến quyền lợi và các cuộc vận động của Anh ở châu Á. Với một ngôn ngũ rõ ràng, Hurley bày tỏ mối lo ngại về việc Mountbatten đã sử dụng viện trợ Vay - Mượn và các nguồn tài nguyên khác của Mỹ để xâm chiếm Đông Dương, nhằm làm thất bại cái mà Hurley cho là chính sách của Mỹ và để thiết lập lại chủ nghĩa đế quốc Pháp. Ông ta muốn tổng thống hiểu rằng hiện nay ở châu Á có dư luận ngày càng tăng, cho là ở đây Mỹ đang nghiêng về xu hướng đế quốc hơn là dân chủ. Theo Hurley thì đó là một điều phi lý và cần uốn nắn. Từ vị trí xa xôi cách biệt của mình, ông có ấn tượng rằng đoàn đại biểu Mỹ ở San Francisco hình như ủng hộ thuyết đặt các thuộc địa và các dân tộc phụ thuộc dưới sự kiểm soát đế quốc với hình thức các nước đế quốc riêng rẽ hoặc liên kết với nhau chứ không phải đặt dưới sự ủy trị của Liên Hợp Quốc.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 09:56:09 AM
TRUMAN NÓI: KHÔNG THAY ĐỔI

Bức điện của Hurley được Nhà Trắng chuyển cho Bộ Ngoại giao ngày 29-5 để phúc đáp lại một cách thích đáng vào 8 ngày sau, đồng thời cũng nêu hai vấn đề là sự kiểm soát của Pháp ở Đông Dương và nguyện vọng chiếm lại Hongkong của Anh.
“…Tổng thống yêu cầu tôi nói rằng không có thay đổi cơ bản nào trong chính sách... Và lập trường hiện nay là như sau:
Tổng thống cho rằng ông thông hiểu lời phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao ngày 3-4-1945, trong đó được sự đồng ý của Tổng thống Roosevelt, Stettinius đã tuyên bố rằng kết quả các cuộc thảo luận ở Yalta cho thấy, cơ cấu về quyền ủy trị phải được xác định thế nào để cho phép đặt dưới nó những lãnh thổ nhất định chiếm được từ kẻ thù trong cuộc chiến tranh này (như đã được thông qua vào một ngày sau đó) và cả những lãnh thổ khác nếu họ tự nguyện chấp nhận sự ủy trị. Tình hình vừa được công bố liền được khẳng định bằng những cuộc trao đổi ý kiến hiện nay đang diễn ra ở San Francisco bàn về các quyền ủy trị. Suốt trong các cuộc thảo luận này, đoàn đại biểu Mỹ nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa ra cho tất cả các dân tộc phụ thuộc một hình thức tiến bộ về Chính phủ tự quản để họ đi đến một kiểu liên bang nào đó phù hợp với khả năng và hoàn cảnh của các dân tộc có thể loại trừ việc thiết lập quyền ủy trị ở Đông Dương, trừ khi Chính phủ Pháp đồng ý. Mà điều đó thì hình như không thể được. Tuy nhiên đó chỉ là ý định của Tổng thống vào những thời điểm thích hợp nhằm đòi hỏi Chính phủ Pháp có những biểu hiện tích cực tỏ rõ ý định muốn thiết lập các quyền tự do công dân và nới rộng các biện pháp về Chính phủ tự quản ở Đông Dương trước khi hoàn thiện hơn nữa tuyên ngôn về chính sách trong lĩnh vực này”.
Sau đó, bức điện kể lại cuộc nói chuyện của Tổng thống với Bidault và vạch ra cho Hội đồng Tham mưu trưởng các tiêu chuẩn về khả năng sử dụng các lực lượng Pháp:
“a/ Trong khi tránh để không đi tới phải làm một điều gì không thiết thực, hay một cam kết dài hạn về khối lượng và tính chất của viện trợ mà Mỹ có thể cung cấp cho lực lượng kháng chiến của Pháp ở Đông Dương thì Chính phủ (Mỹ) vẫn tiếp tục giúp đỡ trong chừng mực không ảnh hưởng đến những yêu cầu của các chiến dịch đã được hoạch định. Vì phải đáp ứng nhu cầu tập trung mọi tiềm lực của chúng ta ở Thái Bình Dương cho các chiến dịch đã được vạch ra, do đó trong lúc này không dự liệu những chiến dịch qui mô lớn nhằm trực tiếp giải phóng Đông Dương. Quân đội Mỹ sẽ không được sử dụng ở Đông Dương ngoài các chiến dịch quân sự của Mỹ chống lại Nhật.
b/ Lời đề nghị giúp đỡ được đánh giá về mặt quân sự như là một hành động nhằm mục đích đánh bại Nhật Bản cũng giống như trường hợp của Anh và Hà Lan.
Vì vậy không có gì ngăn trở việc cung cấp viện trợ cho các lực lượg quân đội và Hải quân Pháp theo như quan niệm đã được nêu ở trên, nhưng phải tính đến việc đừng để gây ra cho Chiến trường, nơi phải cung cấp sự viện trợ đó, một sự phân tán tiềm lực quân sự, kinh tế mà đáng lẽ Hội đồng tham mưu trưởng phải tập trung cho các nơi khác”.
Vào quãng giữa thánh 6, Heppner đã có dịp được đọc toàn văn bức điện nói trên và được phép phổ biến một số đoạn cần thiết cho một số ít nhân viên trong cơ quan, trong đó có tôi.
Cả Heppner và tôi đều cho là chính quyền Truman đã đầu hàng trước yêu sách của De Gaulle, chấp nhận chỉ chịu để cho Đông Dương thuộc quyền ủy trị nếu có sự đồng ý của Pháp. Nhưng đối với giới quân sự, thì Đông Dương có được đặt thuộc quyền ủy trị hay không lại là một việc không quan trọng. Điều đáng quan tâm là vấn đề cung cấp cho Pháp những sự hỗ trợ và tiếp tế hậu cần, và nhằm vào mục đích gì. Chúng tôi hy vọng sẽ có những lời tuyên bố dứt khoát hơn, một lời tuyên bố có thể làm tiêu tan những mập mờ mà chúng tôi đang phải cố gắng khắc phục. Điều cơ bản mà chúng tôi cần là những tiêu chuẩn chính trị cho phép OSS có thể cộng tác với người Pháp, Anh và Việt Nam; các giới hạn địa lý của khu vực hoạt động và việc mở rộng các hoạt động phi quân sự của OSS.
Heppner đã triệu tập một hội nghị để hy vọng làm sáng tỏ những điểm này. Hội nghị gồm các đại diện Đại sứ quán, các nhà làm kế hoạch của Chiến trường và các trưởng ngành của OSS.
 
BỐN CƯỜNG CUỐC TRỞ THÀNH NĂM

Theo báo cáo viên Đại sứ quán, mục tiêu chủ yếu của Roosevelt là nhằm bảo đảm và duy trì hòa bình bằng một cơ chế tổ chức quốc tế (Liên Hợp Quốc). Ông đã phác họa ra cơ chế lãnh đạo là một nền chuyên chính tay tư, gồm những cường quốc tham gia chủ yếu vào cuộc chiến tranh: Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Quốc. Nhưng sau các hội nghị Dumbarton Oaks và Yalta, rõ ràng là Anh cần có sự cộng tác của Pháp ở châu Âu và Roosevelt đã chấp nhận khái niệm “năm cường quốc”.
Cũng có thể là cuộc viếng thăm Mỹ vào tháng 7-1944 của De Gaulle đã ảnh hưởng đến Roosevelt. De Gaulle đã hứa là Pháp sẽ để cho Đông Dương được hưởng một mức độ tự trị sau chiến tranh. Roosevelt không nài ép ông về vấn đề ủy trị. Roosevelt cũng rất biết sự thù ghét của Churchill đối với việc xáo trộn cơ cấu thuộc địa ở Đông Nam Á, mặc dù Xtalin và Tưởng đều tán thành thủ tiêu nó. (Quentin Roosevelt đã tiết lộ cho tôi biết là vào giữa tháng 3-1945, Tổng thống có thể đã có một lập trường ôn hòa hơn nhưng không phải là đã hoàn toàn từ bỏ lý tưởng về quyền ủy trị. Theo “Q” thì Roosevelt đã nói rằng, nếu nước Pháp cam kết nhận cho mình vai trò của người được ủy nhiệm thì ông sẽ không phản đối việc Pháp giữ lại các thuộc địa của mình với ý nghĩa là một sự độc lập hoàn toàn cho các thuộc địa đó sẽ được đảm bảo thực hiện).
Theo báo cáo viên Đại sứ quán, lần đầu Đông Dương đã trở thành một vấn đề nói trong các công hàm của Tổng thống vào tháng 11-1944. Khi Wedemeyer báo cáo cho Tổng thống biết rằng các thế lực Anh, Hà Lan và Pháp đang hoạt động mạnh mẽ nhằm khôi phục lại địa vị chính trị và kinh tế trước chiến tranh của họ ở Đông Nam Á; Wedemeyer nói về phái đoàn quân sự của Blaizot ở Ấn Độ đang chuẩn bị xâm nhập vào Đông Dương và yêu cầu phải có chỉ thị chính trị vì theo Wedemeyer thì Đông Dương thuộc Chiến trường Trung Quốc. Ngày 16-11-1944, Tổng thống đã chỉ thị cho Hurley thông báo cho Wedemeyer biết rằng chính sách của Mỹ đối với Đông Dương không thể được xác định trước khi có sự tham khảo với các đồng minh trong hội nghị Tham mưu hỗn hợp sắp tới và Tổng thống yêu cầu Hurley cung cấp đầy đủ cho ông các tin tức về hoạt động của Anh, Pháp và Hà Lan ở Đông Nam Á. Nhưng Hurley đã chẳng có gì để báo cáo thêm với Tổng thống và Tham mưu Trưởng Liên quân cũng chẳng rõ đồng minh của chúng ta mưu toan làm gì, ở đâu.
Khi cả Hurley và Wedemeyer đều ở Washington vào tháng 3-1945, Tổng thống đã nói với Wedemeyer rằng ông ta cần phải sẵn sàng để ngăn chặn các hoạt động chính trị của Anh và Pháp trong khu vực này, và chỉ được giúp đỡ họ những gì mà các chiến dịch trực tiếp chống Nhật đòi hỏi.
Người ta đã kể lại chuyện Churchill đã điện cho Tổng thống rằng ông biết đang có những khó khăn nhất thời giữa Wedemeyer và Mountbatten chung quanh các hoạt động ở Đông Dương, và đề nghị có chỉ thị cho Hội đồng Tham mưu trưởng Hỗn hợp Anh - Mỹ (CCS) tổ chức một cuộc trao đổi sâu sắc và thẳng thắn về các ý đồ, kế hoạch và tình báo giữa hai tư lệnh chiến trường. Ngày 22-3, Roosevelt đã phúc đáp là ông và Churchill nên thống nhất với nhau để quyền cho Wedemeyer được phối hợp mọi chiến dịch của Anh, Mỹ và Trung Quốc.
Churchill đã không trả lời cho đến ngày 14-4, khi Wedemeyer trên đường từ Washington về Trung Quốc và đã dừng lại để gặp Mountbatten ở Bộ Tổng hành dinh SEAC. Lúc đó, giữa hai vị tư lệnh đã đạt được một sự “thống nhất hiểu lầm”. Wedemeyer ra về và cứ tưởng rằng SEAC sẽ không cho tiến hành các chiến dịch ở Đông Dương trước khi chưa được ông ta thông qua với tư cách là Tổng tham mưu trưởng của Tưởng. Mountbatten lại hiểu rằng tất cả những gì mà ông phải làm theo như sự thỏa thuận đã đạt được chỉ là thông báo cho Wedemeyer biết về những chiến dịch được dự kiến ở Đông Dương. Nội dung chủ yếu trong công hàm của Churchill gửi cho Tổng thống sau đó đã phản ánh cách nhìn của Mountbatten. Ngày 14-4, Tổng thống Truman phúc đáp lại, đã chẳng có gì thống nhất với Churchill, mà lại nêu lên một cách đầy đủ hơn quan điểm của Wedemeyer về vấn đề thống nhất ý kiến.
Vào giữa tháng 5, sự bất đồng giữa hai vị tư lệnh trở thành công khai. Mountbatten thông báo cho Wedemeyer biết ông dự định cho 26 chuyến bay của không quân vào Đông Dương để tiếp tế cho các toán “du kích người Pháp”. Cho rằng Chính phủ Pháp đã đặt tất cả các đơn vị nói trên dưới quyền chỉ huy và kiểm soát của Tưởng, Wedemeyer đòi Mountbatten phải bố trí để đảm bảo là tất cả đồ thiết bị tiếp tế phải được sử dụng vào việc chống Nhật. Mountbatten đã không đáp lại về vấn đề đó. Sau một đợt trao đổi tin tức chớp nhoáng mà Momlbatten cũng chẳng cho biết số lượng và địa điểm các đơn vị dự kiến được tiếp tế của Pháp, Mountbatten đã bất chợt ra lệnh cho phi cơ bay mà không chờ phải có sự đồng ý của Wedemeyer và Tưởng. Ngày 25-5, Wedemeyer đã kịch liệt phản đối Mountbatten và báo cáo với Hội đồng Tham mưu trưởng của chúng ta. Quan hệ chỉ huy giữa hai tư lệnh trở nên căng thẳng.
Trở lại hội nghị, Heppner yêu cầu chúng tôi đánh giá tình hình dưới ánh sáng của chỉ thị hiện hành, nhưng phải hết sức thận trọng đừng để vi phạm chính sách đã được công khai tuyên bố của Mỹ.
Helliwell mở đầu cuộc thảo luận bằng cách xem xét lại những mối quan hệ của chúng ta với Anh, Pháp và Việt Nam. Chúng tôi thống nhất ý kiến là OSS không cần quan tâm nhiều đến những hành động phối hợp Mỹ - Anh, ngoại trừ trường hợp có liên quan trực tiếp đến Đông Dương, và khi đó có thể phải chờ có quyết định của cấp trên. Đối với người Pháp và người Việt thì vấn đề lại hoàn toàn khác. Trong một công hàm dài của Bộ Ngoại giao, Grew đã tuyên bố rõ ràng là ở đây không có gì thay đổi về cơ bản trong chính sách. Do đó chúng ta cần phải duy trì một cách hợp lý một nguyên trạng như trước đây. OSS chỉ việc không cần biết tới những cố gắng của Pháp để chiếm lại Đông Dương, và sẽ không làm gì để hỗ trợ hoặc ngăn chặn các cố gắng đó nhưng nếu có thể được thì sẽ dùng các đội quân Pháp vào các cuộc hành quân bí mật. Những điều đó bao giờ cũng phải là một bộ phận hoặc phải được gắn chặt với các kế hoạch phối hợp của Chiến trường. Còn đối với người Việt, thì có nhiều sự hạn chế không cho chúng ta đóng góp vào việc thực hiện nguyện vọng chính trị của họ.
Một người trong hội nghị đã đặt câu hỏi xem phải làm thế nào khi đã rõ ra là tổ chức của người Việt Nam thực chất là chính trị, chống Pháp và chiến đấu giành độc lập dân tộc. Có ý kiến nêu lên là việc sử dụng các cá nhân người Việt cho các hoạt động bí mật do Chiến trường phối hợp không được coi như là một sự ủng hộ về chính trị hay quân sự đối với họ. Điều này đã gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi. Cuối cùng, một trong những người thảo kế hoạch của Chiến trường đã kết luận là trong chừng mực mà người Việt có đóng góp vào nỗ lực của Đồng minh chống lại Nhật thì chúng ta cũng không cung cấp cho họ một số khí giới nhiều hơn số họ cần để tự vệ cho cá nhân mình. Như vậy, không ai có thể phê phán chúng ta là đã hoạt động một cách thiên vị.
Điểm phải bàn tiếp theo là vấn đề SEAC thâm nhập vào Đông Dương. Đã được khẳng định là Đông Dương tức là Việt Nam, Lào và Kampuchia là một bộ phận của Chiến trường Trung Quốc và thuộc quyền chỉ huy kiểm soát của Tưởng. Một người nào đó đã nêu lên tính chất hợp pháp của các khu vực hoạt động vì ở đây thực ra chỉ có một thỏa thuận “lịch sử” giữa Mountbatten và Tưởng. Những thỏa thuận không chính thức như vậy rất không đáng tin cậy. Heppner ủng hộ ý kiến này và đưa ra những công văn của OSS gửi SEAC nói về các hoạt động của lực lượng 123 ở Lào và nam Đông Dương để làm chứng cứ. Tất nhiên, đó là sự thiếu phối hợp trong các kế hoạch hoạt động bí mật giữa SEAC và Chiến trường Trung Quốc.
Lúc đó, một người thảo kế hoạch của Chiến trường báo cáo là Hội đồng Tham mưu trưởng hỗn hợp có ý kiến như một phương án chia Đông Dương làm hai phần, một phần sẽ do SEAC có toàn quyền kiểm soát, bao gồm vùng phía nam của vĩ tuyến 15 hoặc 16 bắc. Theo ông, đây mới chỉ là đang giai đoạn chuẩn bị, và còn phải chờ có sự chấp nhận của OSS và sự đồng ý của Tưởng. Nhưng ông gợi ý OSS cần phải lưu ý đến vấn đề này để làm kế hoạch hoạt động tương lai ở Đông Dương. Heppner đã đồng ý. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được nghe nói đến ý định cắt Việt Nam làm đôi và chúng tôi đã coi vấn đề đó là một vấn đề quy định pháp lý giữa các Chiến trường.
Hội nghị đã rất bổ ích cho những ai trong chúng tôi đang chuẩn bị hoạt động. Trong khi không có những chỉ thị hướng dẫn chi tiết của Washington, chúng tôi cũng đã có thể dựa vào một số điểm nói về cách giải quyết cấn đề ở cấp cao để vận dụng ở cấp chúng tôi. Lúc đó, chúng tôi chưa nhận thức được đề án của Washington cắt Đông Dương làm hai phần đã có một ý nghĩa xa đến thế, nhưng đó cũng là một nhân tố quyết định tình hình của năm đang đi tới.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 09:58:01 AM
Chương 13
Toán “Con Nai” đến Kim Lũng
Sau những tháng kiên trì điều đình với người Pháp mà không mang lại kết quả gì, Hồ Chí Minh vẫn bền bỉ cung cấp cho OSS nhiều tin tức và sự giúp đỡ rất có giá trị đối với các kế hoạch hoạt động bí mật của chúng tôi. Tôi vẫn giữ được liên lạc với ông qua các nhân viên ở Côn minh, Posech và Trình Tây.
Ông Hồ đã trở về bản doanh của mình ở Đông Dương, đi qua Pắc Bó, trạm trú chân đầu tiên, rồi đến Tân Trào, nơi ông đặt căn cứ chính trị và quân sự để lãnh đạo các hoạt động của Việt Minh cho đến khi ông chuyển về Hà Nội vào 4 tháng sau.
Vào giữa tháng 6, tôi phát triển thêm một số quan hệ với những người được lựa chọn trong cộng đồng Việt kiều ở Côn Minh. Tôi đã để nhiều thì giờ nghe tin tức và điều thích thú đối với tôi nhất là nghe kể về những thành tích của Việt Minh ở Đông Dương và về “tài khôn khéo” của Hồ Chí Minh, lãnh tụ của họ. Câu chuyện về việc tôi gặp gỡ với ông Hồ đã gây nhiều lời bàn tán chung quanh sự hợp tác của chúng tôi và vai trò của OSS đối với phong trào Việt Minh ở Côn Minh. Những dư luận này, một thứ tự đề cao “tâng bốc” mình bắt nguồn ngay từ các tổ chúc Việt Minh ở Côn Minh. Nhưng điều đó cũng chứng tỏ rằng việc đặt được những quan hệ công tác tốt đối với các hội viên của Việt Minh quả thực là điều bổ ích.
Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp, nhưng thỉnh thoảng họ lại sa vào một vài “thổ ngữ địa phương”, làm cho tôi chẳng hiểu gì. Họ nói cả đến những nhân vật, chắc là quan trọng, nhưng rất xa lạ đối với tôi. Họ kể về những địa danh ở Đông Dương mà tôi chưa hề nghe thấy bao giờ, nhưng sau tôi cũng phải cố gắng xác định lại trên bản đồ. Tuy vậy tôi cũng đã biết được khá nhiều về phong trào độc lập của người Việt Nam và đã báo cáo một cách trung thực với Trùng Khánh và Washington về các sự kiện và những phán đoán của tôi.
Những báo cáo về thực chất và ý nghĩa của Việt Minh của tôi nói trên cũng không gây được ảnh hưởng gì đối với Bộ chỉ huy Chiến trường và Đại sứ quán. Whitaker đã chất vấn cả về nguồn tin cũng như những kết luận của tôi. Ông đã được nhân viên Đại sứ quán khuyên bảo là tôi đã phí phạm thời gian để cho một số ít cộng sản cuồng tín đánh lừa. Nhưng Whitaker, Helliwell và Heppner cũng không thể không biết đến giá trị những tin tình báo do Việt Minh cung cấp hoặc hiệu lực của nhiều nhân viên Việt Nam mà tôi đã sử dụng trong các chiến dịch phá hoại các mục tiêu Nhật Bản. Tất nhiên là người Trung Quốc ở Bộ tham mưu Chiến trường và các sĩ quan phái đoàn quân sự Pháp có quan hệ với Đại sứ quán Mỹ đã không thích sự cộng tác của người Việt Nam, nhưng chúng tôi ở OSS thì lại vui lòng tiếp tục sự hợp tác không chính thức của chúng tôi.
 
CHỈ CÓ MỘT SỰ LỰA CHỌN - VIỆT MINH

Đứng trước âm mưu của Pháp và Trung Quốc nhằm làm trở ngại cho các cố gắng của OSS và cũng biết rõ xu hướng của người Mỹ thích những gì thiết thực cụ thể, tôi đã chỉ thị cho một nhân viên tham mưu chuẩn bị cho tôi một hồ sơ đầy đủ về những thành tựu của Việt Minh đã đạt được tử cuộc đảo chính mồng 9-3. Hai ngày sau tôi đưa ra cho Heppner một lô tình hình khá quan trọng: 6 tỉnh ở phía Bắc Kỳ thuộc quyền kiểm soát về quân sự và hành chính của Việt Minh, một đội quân Giải phóng đã được thành lập gồm các đơn vị tự vệ và du kích, một tổ chức tuyên truyền có hiệu lực với một số phương tiện báo chí và điện đài hạn chế, một chương trình chính trị xã hội - quân sự và cái cực kỳ quan trọng này, đó là sự ủng hộ của quần chúng nhân dân Việt Nam, một yếu tố mà khốn khổ cho chúng ta là đã không biết đến trong những năm 1960, 1970.
Heppner thấy không có lợi trong việc thúc bách giải quyết vấn đề này với Đại sứ quán, ông liền thảo luận riêng với tướng Wedemeyer và Goss, đồng thời cho gửi bản tài liệu của tôi về Washington cho cá nhân tướng Donovan. Sau đó, suốt trong thời gian tôi làm nhiệm vụ ở Chiến trường Trung Hoa, các hoạt động và quan hệ của tôi với người Việt Nam đã không còn thành vấn đề nữa.
Trong tuần lễ đầu tháng 6, Hồ Chí Minh đã cho tôi biết tin ông đã chuẩn bị sẵn sàng hơn 1.000 quân du kích “được huấn luyện tốt” để phục vụ cho bất kỳ kế hoạch nào của tôi chống lại Nhật. Số du kích này đã được tập trung ở một địa điểm trong khu vực chợ Chu, Định Hóa, và tôi đã báo tin cho ông Hồ biết là tôi cám ơn ông về đề nghị nói trên và sẽ chú ý xem xét vấn đề này một cách nghiêm chỉnh. Đề nghị của ông Hồ đã đến đúng vào một lúc thuận lợi, khi mà đội quân Pháp dưới quyền của Courthelac (được thành lập để chuẩn bị cho trận đánh nhằm cắt đứt đường giao thông liên lạc Trấn Nam Quan - Hà Nội) đã từ chối không chịu tham gia huấn luyện và không nhận nhiệm vụ đã được đề ra. Helliwell, Wampler và tôi đã bắt buộc phải đi đến kết luận là người Pháp tham gia vào các hoạt động của OSS một cách rất chậm chạp và mang theo đầy những chủ trương phá rối. Wampler và tôi tán thành thay thế người Pháp bởi người Việt trong hoạt động phá hoại này nhưng Helliwell vẫn còn ngần ngại. Kế hoạch đầu tiên cho nhiệm vụ này đã định để cho toán “Con Mèo” do Holland chỉ huy và toán “Con Nai” do Thomas chỉ huy, mỗi toán được tiếp nhận và huấn luyện 50 binh sĩ Pháp ở Trình Tây.
Helliwell lo ngại về những ảnh hưởng chính trị nếu chúng tôi sử dụng du kích Việt Nam để thay thế cho Pháp và ông cũng không muốn phải thu lại những vũ khí và trang bị đã sẵn sàng cung cấp cho đội quân Pháp để chuyển cho người Việt Nam. Tôi đưa ra lý do là nếu chúng ta sử dụng đơn vị của ông Hồ ở chợ Chu thì sẽ loại bỏ được việc phải cho đi bộ hoặc chuyên chở người Pháp một quãng đường 25 dặm đến biên giới, cộng thêm 150 dặm nữa để đi tới Hà Nội. Với những đường mòn trong rừng hiện nay thì cự ly đó sẽ là gần 250 dặm, nghĩa là 10 đến 15 ngày đi đường. Ngoài ra còn phải kể đến những điều thuận lợi quan trọng khác trong việc sử dụng căn cứ và người của Việt Minh cho hoạt động này, như chúng ta sẽ được sự ủng hộ của dân chúng địa phương và có địa hình che chở cực kỳ thuận lợi. Những lợi ích thực tiễn này đã có sức nặng và cuối cùng Helliwell đã đồng ý. Đội quân Pháp của Courthelac đã không bao giò được sử dụng nữa.
Trong lúc này, nhóm GBT cũng có một nhân vật chủ chốt của họ Frankie Tan, ở tại bản doanh của ông Hồ, làm nhiệm vụ thu thập tình báo về Nhật và đồng thời cùng với AGAS triển khai mạng lưới giúp giải thoát người của chúng ta. Frankie Tan cũng đang tìm kiếm những người Mỹ bị bắt đã chạy thoát trong khu tam giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Bắc Cạn, nơi trung tâm các hoạt động chống Nhật của ông Hồ. AGAS đã lập được một mạng luới vô tuyến trên suốt đất nước, từ Hà Nội đến Sài Gòn, thống nhất theo kế hoạch của OSS. Chúng tôi đề nghị với Wichtrich của AGAS cùng nhau hợp tác với Hồ Chí Minh và tiến hành những hoạt động độc lập đối với người Pháp. Wichtrich đồng ý và chỉ định một trung úy trẻ tuổi tên là Phelan gánh vác nhiệm vụ của AGAS và làm liên lạc giữa OSS và Việt Minh cho đến khi toán “Con Mèo” và toán “Con Nai” của chúng tôi đến căn cứ của ông Hồ.
Sau khi Sainteny đã ra lệnh đình chỉ hoàn toàn cộng tác của người Pháp với OSS và sau khi điện đài ở Pakhoi im tiếng, tôi mới yêu cầu Trương Quốc Anh, một trong số các đầu mối tiếp xúc với Việt Minh của tôi, báo cho ông Hồ biết rằng tôi rất quan tâm đến đề nghị của ông và đồng ý là sẽ có một toán người Mỹ, do một sĩ quan cao cấp đứng đầu, sẽ được thả dù xuống vùng Tuyên Quang.
Trong khi nói chuyện, ông báo cho tôi biết là thiếu tá Sainteny đã kết giao với Nguyễn Tường Tam. Tôi thấy khó mà nghĩ được rằng Sainteny lại đi giao thiệp với một phần tử quốc gia cực hữu, và chí ít cũng là lãnh tụ của một phong trào cách mạng do Trung Quốc đỡ đầu. Nhưng 3 tuần sau, sự việc nói trên đã được một nhân viên Pháp Việt trong toán “Con Nai” xác định là đúng.
Ngày 30-6, tôi nhận được trả lời của ông Hồ đồng ý tiếp nhận toán của chúng tôi và yêu cầu được biết khi nào thì người Mỹ có thể đến. Trong thòi gian đó Phelan đã được thả xuống khu vực Tuyên Quang và đã gặp được Frankie Tan.
Chúng tôi báo cho thiếu tá Davis ở Posech biết về sự thay đổi trong kế hoạch và gợi ý Davis cho máy bay đưa các cán bộ của toán “Con Nai” và “Con Mèo” đến vùng Tuyên Quang, ở đó AGAS và GBT đã cho chuẩn bị sẵn những địa điểm thả dù. Tôi yêu cầu Davis nhắc nhở Thomas và Rolland phải sửa lại kế hoạch đầu tiên định thu nạp binh lính Pháp vào trong nhiệm vụ của họ và cũng báo cho Davis biết là chúng tôi đã có tin tức xác thực của Việt Minh nói rằng một đội quân du kích cỡ lớn đã sẵn sàng ở địa điểm thả dù, mặc dù họ có xu hướng chính trị mác xít, nhiệm vụ trước mắt của họ là chiến đấu chống Nhật và đó cũng là điều quan tâm chủ yếu đối với hoạt động của chúng ta. Nhưng cũng phải sau ít nhiều nhầm lẫn và cả một mớ điện tín qua lại giữa Posech và Côn Minh, Thomas mới rút ra được kết luận là một hoạt động phối hợp Pháp - Mỹ có thể không được người Việt Nam hoan nghênh.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 09:58:39 AM
CĂN CỨ TRONG RỪNG CỦA ÔNG HỒ

Thomas đã quyết định tự mình đi trinh sát tình hình trước khi cam kết cho người Pháp hay người Việt tham gia toán của mình. Ông tổ chức một tổ phái đi trước gồm có bản thân Thomas, trung úy Montfort thuộc quân đội Pháp, hai binh nhì người Mỹ và hai người Việt Nam được giới thiệu nguyên là đội(1) trong quân đội Pháp. Cuối buổi chiều ngày 16-7, nhóm này được thả dù xuống vùng lân cận làng Kim Lũng, cách Tuyên Quang khoảng 20 dặm về phía đông. Cuộc thả dù được tiến hành một cách trôi chảy, trừ việc Thomas, Montfort và một lính Mỹ đã bị rơi một cách không hay vào những ngọn cây và phải nhờ người ta gỡ xuống đất. Theo Thomas thì lúc đó ông ta được nghênh tiếp bởi khoảng 200 người trang bị bằng “súng trường Pháp, mấy khẩu Bren, carbin, tiểu liên và mấy khẩu Sten”. Thomas đã tả lại và coi điều đó như là “một ủy ban đón tiếp gây xúc động rất sâu sắc”.
Báo cáo đầu tiên của Thomas đã được thêm thắt vào: “Khi đó tôi được đưa đến gặp ông Hòe, một trong những người lãnh đạo lớn của Việt Minh. Ông Hòe nói tiếng Anh rất tuyệt nhưng người ốm yếu vì mới cuốc bộ từ Trình Tây về. Ông tiếp đón chúng tôi hết sức thân thiết. Rồi chúng tôi được chỉ đến khu vực dành riêng cho chúng tôi, một cái chòi tre đặc biệt gồm một cái sàn bằng nứa làm cách mặt đất vài feet, mái lợp bằng lá gồi. Bữa ăn chiều hôm đó có bia (mới thu nhặt được), măng tre, thịt bò thui. Họ vừa mới giết một con bò để dành chiêu đãi chúng tôi”.
Từ sớm tinh mơ ngày hôm sau, một sĩ quan M.5 đã đến tìm tôi báo tin thiếu tá Thomas và trung úy Montfort đã bị du kích Việt Minh bắt giữ. Tôi nói cho ông ta yên trí là không phải như vậy và tôi đã được Thomas báo cáo là việc thả dù đã được thực hiện đúng như kế hoạch đã định. Người sĩ quan có thể vẫn chưa yên tâm và đã tiết lộ với tôi là Montfort và hai người Việt Nam tên là Logos và Phác đều là nhân viên của M.5 phái đi làm “nhiệm vụ đặc biệt”. Ông rất lo lắng cho an ninh của họ và phát biểu mong được OSS bảo đảm cho họ được trở lại một cách an toàn thuộc quyền chỉ huy của người Pháp trong một thời gian tốt nhất có thể được.
Trong những ngày đó, tôi đã được biết là M.5 chú ý tìm cách tiếp xúc với Hồ Chí Minh và đã yêu cầu Gordon thuộc nhóm GBT thu xếp cho một cuộc gặp gỡ. M.5 đã chỉ thị cho thiếu tá Rivol, nhân viên M.5 ở Trình Tây theo dõi cuộc thu xếp của nhóm GBT, và đã cử Montfort đi cùng Thomas đến bản doanh của ông Hồ. Thực không may cho M.5, vốn có xu hướng thích chạy theo các hoạt động bằng cửa sau, khi Montfort đến Kim Lũng được ngụy trang như một sĩ quan Mỹ thì cái trò giả dối này đã bị thất bại, vì Montfort gần như ngay tức khắc, đã bị nhận mặt bởi một du kích Việt Minh trước đây không lâu đã phục vụ dưới quyền ông trong đội quân thuộc địa Pháp.
Thomas đã viết trong bản báo cáo đầu tiên: “Đã có một cuộc họp dài với ông Hồ…, về vấn đề người Pháp”. Ông Hồ đã nói với Thomas bằng một giọng quả quyết rằng “sẽ không thể để cho trung úy Montfort, một sĩ quan Pháp ở lại, cũng như bất cứ người Pháp nào đến nữa cũng sẽ không được hoan nghênh”. Còn đối với binh lính Việt nam (đi cùng người Pháp), ông Hồ đồng ý cho họ ở lại nhưng ông không tin là người Pháp sẽ buông tha họ. Điều đó lại trở thành vấn đề.
Trong khi chờ để được đưa về Posech, viên “đội” Pháp mấy ngày sau đó lại bị một du kích Việt Minh phát hiện ra là một đảng viên Việt Narn Quốc dân đảng, một đảng quốc gia thân Trung Quốc. Trong khi bị hỏi, Phác đã thú nhận là người trung gian đứng thu xếp cuộc gặp gỡ ở Côn Minh (đã nêu ở phần trên) giữa thủ lĩnh của M.5 và Nguyễn Tường Tam. Để biện bạch trong tình trạng khó khăn nguy hiểm lúc đó, Phác đã nói với những người Việt Nam tra hỏi hắn rằng hắn đã đi theo Montfort với hy vọng là Việt Minh sẽ để hắn ở lại và đánh Nhật. Tất nhiên những người Việt Minh đã có những nhận xét khác về vấn đề này, và viên “đội” hay “thiếu úy” Phác đã bị giam giữ chặt chẽ cho đến khi được dời khỏi nói đây.
Ngày 31-7, Montfort và hai người Việt Nam đã được dời đi cùng với 20 người Pháp lánh nạn tìm thấy ở một làng gần khu vực AGAS hoạt động. Số người Pháp này đã được du kích Việt Minh giải thoát ngày mùng 4-7 tại một trại tập trung thường dân của Nhật ở Tam Đảo. Montfort đã dẫn những người đi bộ theo đường mòn cho tới biên giới, còn đàn bà và trẻ con thì được chở bằng máy bay sang Trung Quốc.
Ngay trong ngày Thomas tới, ông Hồ thường xuyên tìm bắt “cơ hội thuận lợi” đã nắm lấy dịp có mặt người Mỹ để bắt liên lạc với người Pháp ở Trung Quốc. Ông đã yêu cầu Thomas báo cho nhà chức trách Mỹ biết rằng “Mặt trận Việt Minh vui lòng muốn nói chuyện với một sĩ quan cao cấp Pháp nào đó, như tướng Sabattier chẳng hạn (sic), để biết những gì mà người Pháp muốn đề xuất ra”. Mấy ngày sau, AGAS ở Côn Minh báo cho tôi biết đã nhận được một điện tín của ông Hồ nhằm gửi cho các nhà chức trách Pháp và nói rằng ông Hồ sẽ hoan nghênh một cuộc nói chuyện với một quan chức cao cấp Pháp, đặc biệt là về vấn đề tuyên bố của De Gaulle liên quan đến Đông Dương mà ông Hồ cho rằng còn có một số điểm không rõ ràng. Tôi gọi ý cho AGAS chuyển bức diện cho M.5, nhưng sau đó tôi nhận biết ở đây người ta đã tiếp nhận nó một cách khá lạnh nhạt.
Ngày 25-7 Thomas lại báo cáo, cho rằng một lần nữa ông Hồ đã tỏ ý muốn nói chuyện với người Pháp, hoặc ở Côn Minh hoặc ở Bắc Kỳ, về một yêu cầu cải cách năm điểm gửi cho Chính phủ Pháp. Đó là:
“Chúng tôi, Mặt trận Việt Minh, yêu cầu người Pháp cho công bố và ghi vào trong chính sách tương lai của Pháp ở Đông Dương các điểm sau đây:
1.         Thực hiện phổ thông đầu phiếu để bầu ra một nghị viện để quản lý đất nước, có một viên Toàn quyền người Pháp làm chủ tịch cho đến khi chúng tôi hoàn toàn đuợc độc lập. Viên Toàn quyền sẽ lập ra nội các hay đoàn cố vấn được nghị viện chấp nhận. Quyền hành chính xác của các quan chức nói trên sẽ được thảo luận sau.
2.         Độc lập phải được ban bố cho đất nước, trong vòng ít nhất là 5 năm, nhưng không quá 10 năm.
3.         Các nguồn lợi thiên nhiên của đất nước phải được trả lại cho nhân dân trong nước thông qua một sự đền bù thỏa đáng.
4.         Mọi quyền tự do do Liên Hợp Quốc đề xuất ra được đảm bảo thi hành cho người Đông Dương.
5.         Cấm chỉ việc bán thuốc phiện.
Chúng tôi hy vọng rằng các điều khoản trên sẽ được Chính phủ Pháp chấp nhận”.
Thomas đã gửi bức điện trên của ông Hồ cho Davis ở Posech để chuyển cho AGAS Côn Minh tiếp theo với bản thứ nhất. Ở đó họ đã chuyển ngay bức điện thứ hai này cho phái đoàn quân sự Pháp.
Dù cho các điện tín của ông Hồ đã không được đáp lại và không được công nhận, đến một chừng mực nào đi nữa thì vai trò chúng tôi cũng chỉ là thực hiện một dịch vụ, tránh không để cho bị lôi kéo vào việc ủng hộ thiên vị cho bên này hay bên kia. Nhưng cũng thật là thú vị mà phản ảnh rằng các yêu cầu nhũn nhặn của Việt Minh, mặc dù là người Pháp không thể chấp nhận được, cũng đã có thể sử dụng được để làm cơ sở thích hợp cho một cuộc thương lượng. Thực vậy, cả hai bản đề nghị gặp gỡ trên những cơ sở nghiêm chỉnh nói trên cũng chỉ là những dự định đầu tiên trong nhiều lần của người Việt Nam để thương thuyết với người Pháp với tư cách là người đại diện cho tương lai đất nước họ. Thật quá rõ ràng là sự không khoan nhượng của Pháp đã làm cho mọi dự định muốn thương lượng trở thành không có kết quả.
Từ đó về sau, việc người Pháp tham gia nhiệm vụ toán “Con Nai” được chấm dứt và toán của thiếu tá Thomas ở lại với những người du kích Việt Minh cho đến tận khi họ về tới Hà Nội ngày 9-9-1945. Trong 7 tuần lễ ở đây, Thomas và các chuyên viên người Mỹ đã để ra 4 tuần để huấn luyện cho khoảng 200 người được lựa chọn kỹ lưỡng để làm cán bộ lãnh đạo tương lai cho quân đội của các tướng Chu Văn Tấn và Võ Nguyên Giáp về việc sử dụng những vũ khí Mỹ mới nhất và chiến thuật đánh du kích. Một số chúng tôi cũng đã có nghĩ tới việc trong tương lai những vũ khí và sự huấn luyện đó có thể sẽ được sử dụng để chống lại người Pháp, nhưng không một ai lại tưởng tượng được rằng chúng sẽ có bao giờ có thể được dùng để chống lại người Mỹ.
________________________________________
 
(1) cấp bậc tương đương Thượng sĩ nhất


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 10:01:11 AM
Chương 14
Những quyết định lịch sử
Vào ngày Hồ Chí Minh và thiếu tá Thomas gặp nhau trong rừng sâu Bắc Kỳ, tôi ở Côn Minh được biết tướng Alessandri đã nhận được những tin khá đau khổ là chương trình viện trợ Vay - Mượn của Mỹ đã không được dành cho ông để trang bị quân đội Pháp nhằm chiếm lại Đông Dương.
Thiếu tá Sainteny thì ở đâu bên kia quả đất tại Paris, cũng chẳng đạt được kết quả gì trong việc vận động cho Chính phủ của ông ta quan tâm đến tình trạng khó xử của Đông Dương. Sainteny đến thủ đô Pháp vào cuối ngày kỷ niệm hạ thành Bastille (14-7) và hy vọng báo động cho “Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Pháp” (De Gaulle) và các quan chức khác trong chính phủ biết phương hướng nguy hại cho các quyền lợi Pháp ở Đông Dương mà Đồng minh đang theo đuổi ở Viễn Đông. Nhưng tướng De Gaulle lúc đó “très pris”(1) nên không gặp ông được, còn giới quan chức Pháp cũng đang bị lôi cuốn vào các vấn đề quốc gia cấp bách hơn là lo toan đến các công việc thuộc địa ở Viễn Đông. Sainteny đã trở lại Trung Quốc với hai bàn tay trắng.
 
QUYẾT ĐỊNH Ở POTSDAM - VĨ TUYẾN 16

Cách đó không lâu, ở một ngoại ô thành phố Berlin, một lớp đủ mặt các nhà lãnh đạo chính trị, quân sự Mỹ, Anh và Liên Xô đã gặp nhau ở Hội nghị Berlin (Potsdam). Các vị đã xúc tiến nhiều cuộc thảo luận quan trọng và kết thúc hội nghị với nhiều quyết định có ý nghĩa sâu xa, lâu dài nhưng không có một quyết định nào có liên quan đến Đông Dương cả. Trong khi đó, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ cũng đã bàn nhiều vấn đề, và trong đó có nhiều điều chỉnh lại các giới tuyến chỉ huy nhằm mục đích làm giảm bớt cho các cấp chỉ huy và các lực lượng Mỹ trách nhiệm ngặn chặn và càn quét quân Nhật trên các khu vực thuộc phạm vi quyền lợi thực dân của Anh, Hà Lan và Pháp, để cho các chỉ huy Mỹ được rảnh tay tập trung lực lượng vào cố gắng chủ yếu là các chiến dịch đánh vào chính đất Nhật.
Một trong nhiều đường giới tuyến được đưa ra thảo luận có đụng chạm đến Đông Dương. Lúc đầu, tham mưu trưởng Liên quân (Mỹ) đã chọn một đường ranh giói chạy qua 150 vĩ tuyến Bắc, nhưng sau khi trao đổi với Tham mưu trưởng Liên quân Anh và Mountbatten, con đường đã được điều chỉnh lại ở vĩ tuyến 16. Điều đó có nghĩa là để cho Mountbatten có phạm vi hoạt động bí mật rộng rãi hơn ở miền nam Đông Dương. Toàn bộ vùng phía bắc con đường nói trên vẫn thuộc Chiến trường Trung Hoa dưới sự chỉ huy tác chiến của Tưởng và Wedemeyer.
Một tuần sau, vào ngày 24-7, đề nghị phân chia ranh giới nói trên được đệ trình cho Truman và Churchill, và được thông qua kèm theo chỉ thị là hai Chính phủ Mỹ và Anh sẽ cùng tiến hành một cuộc vận động để Tưởng đồng ý chấp nhận. Ngày 1-8, Hurley gửi công hàm của Tổng thống báo cho Thống chế biết điều quyết định ở Potsdam và mong rằng sẽ được ông tán thành. Thông điệp của Truman được chuẩn bị một cách chu đáo và nói rộng ra rằng việc phân chia ranh giới chỉ “nhằm cho các inmục đích tác chiến” và không bao hàm một nghĩa rộng nào khác. Mười ngày sau Tưởng phúc đáp lại với một sự đồng ý có điều kiện.
 
MỘT LỰC LƯỢNG THỨ BA Ở BẮC KỲ

Ông Hồ đã không được các cường quốc ở Potsdam, Paris và Trùng Khánh biết đến, nhưng trong khu căn cứ hẻo lánh của mình ở Bắc Kỳ, ông ráo riết xúc tiến tuyên tuyền, tổ chức, huấn luyện và chỉ đạo các lãnh tụ chính trị, quân sự hoạt động cho việc xây dựng một quốc gia mới.
Sau cuộc gặp gỡ với ông Hồ vào tháng 4, tôi nghiên cứu kỹ lưỡng phong trào Việt Minh và vào khoảng trung tuần tháng 6, tôi đã tin chắc rằng đây là một phong trào thực tế, năng động và nhất định sẽ giành được thắng lợi. Dựa trên cơ sở vững vàng, tôi xác định phong trào đã được tổ chức tốt, có mục tiêu chiến đấu rõ rệt và được ủng hộ của dân chúng. Trong các báo cáo gửi cho Heppner, Wedemeyer và Hurley, tôi đã bác bỏ một cách mạnh mẽ những luận điệu của người Pháp cho rằng không có phong trào độc lập thực sự ở Đông Dương, cho đây chỉ là một số ít khiêu khích gây rối loạn và đều là những “tên Cộng sản vô tổ chức” được Matxcơva, Diên An và Trùng Khánh giúp đỡ, xúi giục, hoặc cho rằng “người bản xứ” vẫn trung thành và dân chúng lệ thuộc đang nóng lòng chờ người Pháp quay trở lại để bênh vực và che chỏ họ chống người Trung Hoa và Thái Lan. Trái lại, tôi đã kết luận là phong trào độc lập chỉ là một bước quá độ để đi đến lý tưởng tối cao là bản năng sinh tồn. Nếu độc lập dân tộc có khả năng bảo đảm sự sống còn cho người Việt Nam thì họ sẽ coi Việt Minh là một sự giải đáp cho họ. Đối với họ thì dù cho bước quá độ có mang tính chất dân chủ, xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa thì đều chẳng có ý nghĩa quan trọng gì. Vấn đề và ở chỗ thoát được cảnh túng thiếu, được hưởng thành quả lao động của chính mình và được sống yên ổn không bị quấy nhiễu.
Trong bản báo cáo của tôi, tôi khẳng định chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương là một trong những điển hình xấu xa nhất về chế độ bóc lột công nhân công nhật, coi thường nhân quyền và về sự tham nhũng của người Pháp và trong hơn 3/4 thế kỷ vừa qua, người Việt đã bị bóc lột tàn tệ, bị đối xử một cách dã man, và nói chung, bị sử dụng như là những vật sở hữu của người Pháp. Họ đã chống đối, đánh lại và nổi dậy, nhưng đội quân thuộc địa và sở mật thám Pháp bao giờ cũng thắng thế. Những người bản xứ tích cực nhất, hoặc đã bị giết chết, hoặc đã bị đưa đi đầy khổ sai. Chính tình hình kinh tế xã hội đó, chế độ thuộc địa đó tạo nên ở đây, đã nuôi dưỡng cho sự bất mãn và nổi loạn, và đã sản sinh ra nhiều phong trào quốc gia và các lãnh tụ yêu nước, mà trong số này thì Hồ Chí Minh là một trong những người có ảnh hưởng và hoạt động có hiệu lực hơn hết.
Qua những người Việt Nam ở Côn Minh, tôi được biết rằng khi đã bôn ba 25 năm ở nước ngoài, đã tiếp thụ được ở đó lý thuyết và sách lược Marxism - Léninism, ông Hồ đã trở về nước vào năm 1940 và đã tự đặt cho mình nhiệm vụ tập hợp các nhóm quốc gia khác nhau vào trong tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh. Thấy rõ sự nghèo nàn lạc hậu về kinh tế xã hội của Việt Nam, vốn hoàn toàn chỉ là một xã hội nông nghiệp; đầu tiên ông Hồ đề nghị hãy gạt các quyền lợi địa phương và giai cấp sang một bên để phục vụ cho độc lập dân tộc và tự do đối với chủ nghĩa thực dân. Ông kêu gọi những người đi theo ông chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa để đánh đuổi Pháp - Nhật, giành lấy chính quyền cho nhân dân Việt Nam.
Trong suốt những năm chiến tranh, Việt Minh đã theo đuổi thực hiện một chương trình huấn luyện, tổ chức và đánh phá các cứ điểm của Pháp - Nhật ở Bắc Kỳ. Sau mỗi chiến thắng, dân chúng địa phương lại tập hợp đi theo Việt Minh và số lượng những người tham gia tăng lên theo cấp số. Hoảng sợ trước phong trào cách mạng, người Pháp đã cho thi hành một chiến dịch khủng bố vào những năm 1943-1944. Đổi lại, Việt Minh đã cho tăng cường công tác giáo dục ở cả hai vùng thành thị và nông thôn, kích động công nhân cũng như nông dân chống lại những sách nhiễu của Pháp và Nhật.
Lúc đó, vào cuối năm 1944 đầu 1945, một nạn đói chưa từng có đã xảy ra ở Bắc Kỳ, làm cho một số rất lớn người chết. Giá gạo tăng vọt lên từ 150 đồng một tấn (tháng 10-1944) tới 500 đồng (tháng 12) rồi 800 đồng (tháng 2-1945). Mặc dù sự thiếu hụt về lương thực ở Bắc Kỳ lúc đó là do mùa màng bị thất bát, nhưng nguyên nhân chính của nạn đói này là do Pháp, Nhật đã cho thi hành một chính sách thu mua lương thực quá tàn bạo. Cộng thêm với việc cướp đoạt gạo trong bữa ăn của ngườì Việt Nam bằng cách xuất cảng gạo ra thị trường nước ngoài và cho cất trữ để phục vụ lợi ích buôn bán của người Pháp; chế độ thu mua lương thực đã làm cho nông dân cùng quẫn. Chi phí sản xuất thông thường cho một tấn thóc là khoảng 80 đồng, giá thị trường khoảng 200, nhưng người nông dân khi nộp thóc thì chỉ được trả chừng 25 đồng. Mặc dù bị mất mùa năm 1944, nông dân vẫn buộc phải nộp đủ xuất gạo của mình, do đó họ phải tìm mua số còn thiếu bằng giá cao ở thị trường để nộp cho Pháp, Nhật với giá thu mua hết sức thấp hơn nhiều. Họ đã bị bỏ chết đói và không còn nguồn sống. Tất cả những điều kể trên là do Hồ Chí Minh thuật lại cho tôi nghe vào tháng 4-1945.
Khi ông Hồ nói với tôi về nạn đói, tôi đã không nắm chắc được ý nghĩa quan trọng này và những ảnh hưởng lâu dài của nó. Mãi nhiều tháng sau tôi mới thông cảm được sâu sắc hơn với mối quan tâm và sự đau khổ của ông Hồ. Ngoài việc gần 2 triệu người bị chết đói, trong đó phần lớn là trẻ em, nạn đói kém đã tàn phá một cách nghiêm trọng sức khỏe của những người Bắc Kỳ còn sống sót. Điều đó đã hun đúc lòng căm thù của họ đối với những kẻ áp bức Pháp - Nhật, và tăng cường quyết tâm chiến đấu và giành lại cuộc sống.
Quyền sống - sự sống còn - đó là lý tưởng cao cả nhất của cuộc cách mạng. Phù hợp với điều đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đưa ra khẩu hiệu “chiếm kho thóc để cứu đói nhân dân”. Họ đã coi đó là một nhiệm vụ trung tâm để động viên quảng đại quần chúng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa.
Các cuộc chiếm kho thóc đã mang lại những kết quả không lường hết được: cứu đói nhờ có giá gạo hạ, vạch mặt kẻ thù chung là Pháp và Nhật, hướng các mối bất bình của nhân dân vào một mục tiêu rõ rệt, khuyến khích nhân dân tổ chức tự vệ cũng như để nắm lấy chính quyền, đề cao sự quan trọng của tổ chức kháng chiến và sự thống nhất hành động, lôi cuốn hàng trăm ngàn người tham gia phong trào cách mạng, tức là Việt Minh.
Khi tôi gặp ông Hồ ở Chiu Chow Chieh, tôi đã không nhận thức được rằng ông đang trên đường trở về Đông Dương để trực tiếp đảm nhận việc lãnh đạo một phong trào năng động đang tiến sát đến ngày bùng nổ. Sau đó tôi mới biết ông đã đi thẳng ngay về Tân Trào, và ở đó, ông dựng lên một quốc gia nhỏ bé gồm sáu tỉnh và một phần đất của ba tỉnh khác, cái mà ông gọi là “khu giải phóng Việt Bắc”. Ông cũng đã củng cố lại các đội vũ trang của Chu Văn Tấn và Võ Nguyên Giáp để thành lập một Quân đội giải phóng thống nhất. Sau đó, ông đã đưa ra một chương trình thời điểm cho khu giải phóng:
-           Đánh đuổi Nhật
-           Tịch thu tài sản của bọn xâm lược và phản bội để phân phát cho dân nghèo.
-           Công bố quyền phổ thông đầu phiếu và các quyền tự do dân chủ.
-           Vũ trang nhân dân và kêu gọi họ ủng hộ du kích, tham gia quân Giải phóng.
-           Tổ chức khai hoang, khuyến khích sản xuất, thực hiện kinh tế tự túc trong Khu Giải phóng.
-           Thực hiện cứu tế xã hội và cứu trợ các nạn nhân.
-           Chia lại công điền, giảm tô và tức, hoãn việc trả nợ.
-           Huỷ bỏ thuế và các hình thức làm xâu.
-           Đấu tranh chống nạn mù chữ, huấn luyện chính trị và quân sự cho nhân dân.
-           Bảo đảm bình đẳng giữa các dân tộc khác nhau, giữa nam và nữ.
Mặc dù đối với ông Hồ, mọi mục tiêu đều quan trọng, nhưng như tôi sau này đã được biết, ở Hà Nội, số người Việt Nam mù chữ khá cao cũng như tồn tại của các hình thức làm xâu, đều là những nguồn gây đau khổ đặc biệt đối với ông.
Các điểm trong chương trình nói trên, trong quan điểm của ông Hồ, đã thể hiện như là một cơ sở cách mạng cho toàn đất nước Việt Nam trong tương lai, và chính các điểm đó đã khích lệ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh cho độc lập dân tộc. Vào giữa tháng 7 năm đó, ông đã có cơ hội đầu tiên bộc lộ điều mơ ước của mình cho một số ít người Mỹ. Thomas, Phelan, Defourneaux, Hoaglund, Squires và các nhân viên khác của toán “Con Nai” đều hết sức xúc động đến mức đã chấp nhận điều quyết đoán của ông Hồ rằng phong trào đó không phải là Cộng sản.
 


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 10:01:26 AM
HỘI NGHỊ CỦA ĐẢNG Ở TÂN TRÀO

Vào ngày 6-8, sự kiện “Hiroshima” đã báo trước kết thúc của cuộc chiến tranh. Trước tình hình đó, ông Hồ chưa thực sẵn sằng; nhưng khi ông được Thomas cho biết sự sụp đổ của Nhật, ông đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng chân vững chắc ở nơi ông muốn như Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính chất hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ được vai trò lãnh đạo và đà phát triển của phong trào. Mặc dù còn rất yếu sau một cơn sốt rét và nhiều bệnh tật khác, ông cũng cho triệu tập một cuộc hội nghị các đại biểu Đảng và các lãnh tụ chính trị Việt Minh.
Ngày 13-8, các đại biểu bắt đầu tới Tân Trào. Tất cả không phải đều đã có thiện ý đối với ông. Nhiều người thắc mắc về địa vị đứng đầu mặc nhiên của ông trong phong trào quốc gia. Một số lại hơi ngại về những tin đồn ông được Đồng minh ủng hộ. Một số khác khao khát địa vị lãnh đạo cho bản thân mình. Mặc dù sức khỏe rất kém, ông Hồ vẫn tỏ ra tự tin, tươi vui, phấn khởi, tự thân đón chào một cách nồng nhiệt từng người mới đến. Ông đi lại giữa mọi người, trao đổi tin tức, quan điểm và ôn lại các câu chuyện cũ. Trong cái “cơ quan và hành dinh” hỗn hợp của ông Hồ trưng bày nhiều tranh ảnh trong đó có Lênin, Mao và tướng Chennault với đủ các giải băng, sao, phù hiệu cấp bậc. Nhiều người tham dự hội nghị đã hỏi xem người sĩ quan ngoại quốc này là ai vậy và ông Hồ đã vui vẻ giải thích cho họ.
Đến chiều thì một số lớn đại biểu đã đến hội nghị. Họ đại diện cho các cơ quan của Đảng từ ba vùng Bắc, Trung và Nam của Việt Nam, và cũng có một số đại biểu từ ngoài nước trở về. Mưa to và đường sá đi lại khó khăn đã làm cho một số đại biểu phải vắng mặt, một số thì chắc không nhận được giấy triệu tập.
Công việc đầu tiên phải làm là quyết định về vấn đề khởi nghĩa. Vào buổi tối ngày 13-8, một Ủy ban Khởi nghĩa Toàn quốc được thành lập. Ủy ban nhận định là thời điểm cho một cuộc tổng nổi dậy và toàn dân đứng lên cầm vũ khí đã đến. Chính trong đêm đó, Ủy ban đã phát bản Quân lệnh số 1, ra lệnh phát động cuộc tổng khởi nghĩa. Ngày hôm sau, Tổng bộ Việt Minh ra một bản kêu gọi nhân dân nổi dậy đấu tranh giành độc lập. Cũng trong ngày hôm đó, Ủy ban Khởi nghĩa Toàn quốc thảo ra bản Kế hoạch hành động dựa trên 4 phương châm cơ bản: kết hợp mọi hành động quân sự và chính trị, tập trung toàn bộ lực lượng dưới quyền một chỉ huy thống nhất, củng cố hàng ngũ cán bộ quân sự, dân sự và giữ vững liên lạc với lãnh đạo. Bản kế hoạch hành động đã hướng dẫn tỉ mỉ việc vận dụng vào thực tế các phương châm công tác nói trên.
 
QUỐC DÂN ĐẠI HỘI
Liền ngay sau cuộc hội nghị của Đảng, Quốc dân đại hội đầu tiên đã được triệu tập họp vào ngày 16-8. Dưới quyền chủ toạ của Hồ Chí Minh, Đại hội gồm hơn 60 đại biểu đại diện cho nhiều đảng phái chính trị trong Mặt trận Việt Minh, các tổ chức quần chúng, các dân tộc (thiểu số), các cộng đồng tôn giáo ở Đông Dương và hải ngoại.
Vì Đại hội họp ở Tân Trào nên các đại biểu cũng loáng thoáng thấy được một cách kín đáo một số bộ đội mặc đồng phục, được trang bị tốt và rất có kỷ luật đi qua lại trong khu vực hội họp. Người ta đã nhận ra ngay đó là những người Việt Nam và là đội viên của Giải phóng quân. Trang bị và vũ khí Mỹ của họ còn mới, cùng một kiểu và cỡ thống nhất. Ông Hồ vẫn yên lặng một cách khiên tốn nhưng hài lòng về sự tò mò và quan tâm của các đại biểu. Với bức ảnh có kèm theo chữ ký của Chennault trong lều của ông Hồ cùng với những du kích quân trang bị tốt như thế, dư luận lan truyền là Việt Minh và đặc biệt là “Cụ Hồ” đã được Đồng Minh “bí mật ủng hộ”. Trong thâm tâm, chắc ông Hồ đã vui miệng khi thấy toán “Con Nai” đã đến thực đúng lúc, và bằng cách trải loãng nó ra thì lại thấy hình như nhiều hơn lên so với tình hình thực trạng của nó.
Đại hội đã tán thành nghị quyết về một Cuộc tổng khỏi nghĩa và thông qua Quân lệnh số 1. Trong một phiên họp 2 ngày, Đại hội đã chấp nhận một chương trình 10 điểm, một quốc kỳ có ngôi sao vàng 5 cánh nằm giữa một nền đỏ và một bài quốc ca, bầu ra Ủy ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam, đứng đầu là Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, hoạt động như một chính phủ lâm thời trong quá trình thưa có Tổng tuyển cử toàn quốc.
Ông Hồ, luôn luôn thực dụng, đã lái Đại hội đi tới chỗ tán thành một chính sách thực tế “giành lấy chính quyền từ tay người Nhật và Chính phủ bù nhìn trước khi quân đội Đồng minh vào Đông Dương và như thế với danh nghĩa là những người chủ của đất nước, chúng ta hoan nghênh đón quân đội đó đến để giải giáp quân Nhật”. Nghị quyết này của Đại hội đã thể hiện sự lo lắng của ông Hồ trước mưu toan tìm kiếm lợi ích của Pháp và Trung Quốc, mối đe doạ mà mọi người đều biết, đối với sự nghiệp của ông do việc khối Pháp, Anh, Hà Lan muốn thu hồi trọn vẹn các thuộc địa cũ của họ. Ông Hồ đã nhận thức được Đồng minh không phải là đồng minh trong thực tế, mà đó chỉ là một sự liên kết với nhau nhằm mở rộng việc bảo vệ các quyền lợi thực dân ở Đông Nam Á. Căn cứ vào kinh nghiệm trước đây, ông Hồ đã thấy trước một cách rất sáng suốt là Trung Quốc sẽ không dễ dàng bỏ qua một cơ hội tốt nào để bóc lột Việt Nam.
Khi kết thúc Đại hội đáng ghi nhớ này, ông Hồ đã đưa ra một lời kêu gọi hùng hồn với toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó có đoạn ghi:
“Giờ quyết định số phận đất nước chúnlg ta đã điểm. Toàn dân trong nước hãy nổi dậy, dùng sức mạnh của bản thân chúng ta đế giải phóng cho chúng ta. Các dân tộc trên thế giới đang nô nức thi đua để tiến lên giành lấy độc lập. Chúng ta không cam chịu ở lại đàng sau...
Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ của Việt Minh, nhân dân ta hãy anh dũng tiến lên phía trước”.
Ông Hồ đã ký vào bản kêu gọi với cái tên mà trước đây ông đã dùng khi bắt đầu cuộc đời đấu tranh cách mạng của ông - Nguyễn Ái Quốc. Lời kêu gọi đánh vào tinh thần yêu nước của người Việt Nam và ông muốn cho họ biết ông vốn là “Nguyễn, ngườ coi tình yêu Tổ quốc là đạo đức tối cao”.
Ngày thứ nhất của Đại hội cũng là ngày xuất phát của toán “Con Nai”. Theo chỉ thị của Ủy ban Khởi nghĩa Toàn quốc, một đơn vị dưới quyền chỉ huy của Võ Nguyên Giáp (được toán “Con Nai” huấn luyện trước) đã rời Tân Trào tiến đánh trại lính Nhật ở Thái Nguyên để mở đường tiến về Hà Nội ở phía Nam. Khi mọi việc chuẩn bị đã sẵn sàng, ông Hồ, vị Chủ tịch mới, đã mời tất cả đại biểu các đảng phái và quan khách đến để quan sát đơn vị Việt Nam hành quân tiến ra ngoài doanh trại, có toán “Con Nai” đi cùng.
Thiếu tá Thomas là một sĩ quan trẻ tuổi, giỏi, nhưng chất phác một cách dễ hiểu trong lĩnh vực đấu tranh giữa các cường quốc thế giới. Thomas và toán của ông cùng với những người Mỹ được rải ra trên khắp Trung Quốc và Đông Dương đã chán ngán và không hài lòng khi họ thấy bị chính sách của Bộ chỉ huy Chiến trường cấm không được đòi hỏi quân Nhật ở địa phương mình hoạt động đầu hàng, hoặc nếu có việc họ muốn xin hàng thì cũng không được tiếp nhận. Như Thomas đã nêu: “điều đó đã làm cho tôi chán ngán đến cực độ khi tất cả chúng tôi cảm thấy chúng tôi đã phải liều cả tính mạng mình để đến đây nhưng đến nay, khi công việc đã chạy tốt rồi thì chẳng còn ai đếm xỉa đến chúng tôi nữa...” vân vân và vân vân. Một số toán tình báo này, hoạt động ở cách xa mọi sự chỉ huy của cơ quan quân sự đến hàng trăm dặm, đã làm ầm ĩ lên hơn thế nữa và đã không tuân theo mệnh lệnh của Chiến trường.
Trong trường hợp của toán “Con Nai”, họ đã làm dịu bớt sự bất mãn của mình bằng cách đi theo cùng với bộ đội Việt Minh suốt trên đường về Hà Nội, nhưng chỉ với tư cách là những quan sát viên. Có thể họ đã hoàn toàn lãng quên mất cái ấn tượng họ đã tạo ra được cho ông Hồ một cách chắc chắn là ông đã có được sự ủng hộ “bí mật” của Đồng minh. Nhưng còn các đại biểu thì sau khi Đại hội kết thúc, họ phân tán trở về địa phương, họ lại mang theo cái ấn tượng nói trên cùng với họ đi khắp đất nước.
 
________________________________________
(1) rất bận - tiếng Pháp


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 10:03:44 AM
Chương 15
Một cuộc hoà bình đến không đúng thời hạn

MỘT CÁI HỘP ĐÀN BẠN ĐƯA TRỐNG RỖNG

Cuộc chiến tranh kết thúc đột ngột làm cho ai nấy đều bị bất ngờ. Khi công tác chuẩn bị cuối cùng để đánh chiếm Fort Bayard, một hoạt động bí mật của chúng ta hoàn toàn không dựa vào Pháp, đang tiến triển tốt và thiếu tá Sainteny đã từ Pháp trở về được gần một tuần thì chúngg ta nhận được những tin tức choáng váng về quả bom Hiroshima. Ba ngày sau, ngày 9-8, Nga tuyên chiến với Nhật và quả nguyên tử thứ hai được thả xuống Nagasaki. Tất cả mọi công tác chuẩn bị cho hoạt động Carbonado phải dừng lại, bộ đội đứng yên tại chỗ và tàu bè dàn ra gần Fort Bayard vẫn giữ nguyên vị trí ở ngoài khơi - mọi người chờ đợi sự phát triển của tình hình sắp tới. Ngày 10-8 (lịch Trung Quốc), chúng tôi nhận được tin không chính thức báo Nhật đã chấp nhận các điều kiện đầu hàng Potsdam.
Vào đầu tháng 8, không ở đâu đã có dấu hiệu là chiến tranh ở châu Á sắp kết thúc. Chúng tôi vẫn nghĩ rằng còn phải đánh nhiều trận nữa mới tới được ngày Chiến thắng, vì thế mà chúng tôi cảm thấy lúng túng trong một loạt sự việc diễn ra sau đó. Sau khi dư luận của các vụ nổ nguyên tử đã tiêu tan, không một ai ở châu Á lại có thể nghĩ được rằng đây lại là bước đầu của một cuộc đấu tranh mới. Tưởng và Chiến trường Trung Hoa của ông đã được mang một tầm cỡ mới. Thống chế, với tư cách là Tổng tư lệnh Tối cao, muốn được giao hoàn toàn trách nhiệm tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật trên Chiến trường Trung Hoa - một vấn đề có liên quan trước hết đến người Anh, Nga và cả người Pháp nữa.
Người Anh đã hối tiếc ngay lập tức việc họ đã đồng ý về vấn đề điều chỉnh lại ranh giới các chiến trường. Liên Xô đã không để phí mất thời gian bằng cách điều động quân đội sang bảo vệ các quyền lợi của họ ở Mãn Châu Lý. Còn người Pháp, không được hỏi ý kiến Potsdam, đã hoàn toàn mất tinh thần bởi sự bất lực của bản thân họ.
Ngay trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt, Jean Daridan, đại biện lâm thời sứ quán Pháp, đã gặp Wedemeyer để yêu cầu cho người Pháp tham gia vào việc chiếm đóng lại Đông Dương và việc chuyên chở bằng đường không cho quân đội Alessandri. Đó là một vấn đề quân sự. Wedemeyer đã thảo luận với tướng Alessandri nhưng đã báo cho ông ta biết là máy bay và xăng dầu không còn đủ để chi viện. Ông nói điều tốt nhất ông có thể làm được chỉ là cho phép một phi cơ của Pháp hoạt động giữa sân bay Mông Tự - Côn Minh và Hà Nội để chở những nhân vật quan trọng của Pháp và ông đồng ý là sẽ hỏi ý kiến Thống chế (Tưởng) về các vấn đề khác. Đó là một cử chỉ vô dụng vì Tưởng đã có quyết định cho phép quân đội Pháp được đi xuyên qua đất liền từ Mông Tự đến biên giới của tỉnh Lào Cai, vượt một cự ly 75 dặm và rồi từ đó đi về Hà Nội thêm 1.000 dặm nữa. Wedemeyer không ở trong tư thế có thể bác bỏ mệnh lệnh của Tưởng. Đối với người Pháp, điều này cũng tương đương như đã bị làm tê liệt ở Trung Quốc, trong khi Trung Hoa một mình chiếm đóng Đông Dương.
Thấy bị thất thế với giới quân sự, Darian liền tìm đến Fllis O. Briggs, cố vấn Đại sứ quán của chúng ta. Darian nói với Briggs rằng ông đã thảo luận về vấn đề địa vị của Pháp với bác sĩ KC. Wu, quyền Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc và nhận mạnh tới việc tình hình có thể sẽ có một “hiệu quả hết sức xấu” và gây thiệt hại nghiêm trọng cho mối quan hệ Pháp - Hoa nếu như quân đội Pháp không được phép tiến vào Đông Dương. Đồng thời ông cũng báo trước là sẽ có “rối loạn nghiêm trọng” nếu như chỉ có quân đội Trung Quốc tiến vào đó một mình.
Để tăng thêm sức nặng cho lập luận của Pháp, Darian đã nhắc cho Brigss nhớ là còn có chừng 1 vạn tù binh chiến tranh người Pháp ở Đông Dương và quân đội của Alessandri có thể sẽ là những người giúp việc chăm lo đến các nhu cầu của số này. Trả lời của Briggs là chiếu theo các điều kiện đầu hàng thì người Nhật phải chịu trách nhiệm chuyên chở một cách an toàn các tù binh chiến tranh tới các địa điểm do Bộ chỉ huy Đồng minh quy định. Darian đã rút lui, mất tinh thần và thất vọng. Trong lúc đó, đã có hai sư đoàn Trung Quốc ở gần Nam Ninh được dự kiến chuyển vận vào Đông Dương để thực hiện việc giải giáp, hồi hương và tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật. Đại sứ Hurley, lường trước một cuộc xung đột tiềm tàng trong tình hình đó, đã khuyến cáo với Bộ Ngoại giao (Mỹ) như sau:
“…Pháp mong muốn gấp rút khôi phục chủ quyền trọn vẹn của mình ở Đông Dương vào một thời điểm sớm nhất có thể được và nhìn một cách không có thiện cảm bất kỳ đội quân Trung Quốc nào tiến vào Đông Dương.
…Người Pháp muốn gỡ thể diện bằng việc chính họ phải được tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật (ở Đông Dương)”.
Đó là một điều không thể được vì đã có chỉ thị và vấn đề này đang được thi hành, và như Hurley nhận xét, ông cũng như Wedemeyer chẳng ai có quyền gì để thay đổi các điều khoản về đầu hàng đã được qui định. Nếu không có Bộ ngoại giao hướng dẫn thì Hurley đã gợi ý cho Thống chế nên có những cuộc thương lượng trực tiếp giữa hai Chính phủ Trung Quốc và Pháp để cho phép đại diện của Pháp tham gia vào việc tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật ở Đông Dương.
Vấn đề ai là người tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật ở Đông Dương cũng đã khơi dậy một sự quan tâm to lớn ở các nơi khác. Bộ trưởng Byrnes đã chỉ thị cho Đại sứ Caffery ở Paris báo cho Bidault biết rằng người Nhật sẽ chỉ đầu hàng với Tưởng ở phía Bắc và với Mountbatten ở phía Nam. Điều đó đã bao hàm một ý là việc “phân chia” ở vĩ tuyến 16 bắc là một vấn đề “đơn thuần tác chiến”… và không có một ý nghĩa chính trị nào khác. Ông lại nói thêm rằng chúng ta đã gợi ý cho Chính phủ Anh và Trung Hoa để họ mời đại diện của Pháp tham dự vào buổi lễ tiếp nhận đầu hàng và người Pháp phải giải quyết vấn đề này trực tiếp với các Chính phủ nói trên.
Sự sụp đổ đột ngột của Nhật đã làm bung ra công khai những bất đồng sâu sắc về các vấn đề đất đai thuộc địa mà suốt trong thời kỳ chiến tranh người ta đã phải kìm chế không nói đến. Anh đã thông báo cho Chính phủ Trung Hoa là Vương quốc Anh đang chuyển quân chiếm và khôi phục lại nền cai trị ở Hongkong, đồng thời cũng đã phái một lực lượng đến Sài Gòn để giữ việc kiểm soát các hành dinh quân Nhật ở đây. Cũng với một thái độ coi thường mà họ vẫn hay dùng để đối xử với người Trung Quốc, người Anh đã thông báo một cách giản đơn cho họ biết rằng các sự kiện xảy ra đã rất ăn khớp với sự điều đình về các đường ranh giới chỉ huy ở Đông Dương và cũng không còn việc gì phải bàn về vấn đề này nữa. Vì vậy, người Anh cho rằng Chính phủ Trung Hoa sẽ đồng ý về mục tiêu chung của Anh và Trung Quốc ở Đông Dương là sẽ phục hồi lại nền cai trị của Pháp và tạo điều kiện thuận lợi cho quân đội Pháp và các quan chức hành chính vì mục đích trên càng sớm càng tốt.
Người Trung Quốc rất căm phẫn và đã chống lại sự độc đoán của Anh. Tưởng đã thẳng thừng báo cho Anh biết họ chống lại thể thức tiếp thu đầu hàng đã được chấp nhận và ghi trong bản mệnh lệnh chung số 1, và người Trung Quốc không tán thành đề nghị của Anh. Bác sĩ Wu đã gặp Hurley vào ngày 18-8 và trao cho ông một bản sao lời phúc đáp của Trung Quốc ra lệnh cấm người Anh cho quân đội đổ bộ vào bật cứ nơi nào trên Chiến trường Trung Hoa mà không được phép tướng Mac Arthur và Tưởng, nhưng lại bảo đảm là Chính phủ Trung Hoa sẽ tôn trọng tất cả các quyền lợi hợp pháp của Anh và sẽ bảo vệ cho các quyền lợi đó.
Cùng ngày, Tưởng điện cho Tổng thống Truman nhắc lại đề nghị của Anh và lập trường của bản thân ông. Tưởng đã kết luận bằng lời tuyên bố rằng nếu Anh cứ tiến hành các bước đi đã được dự định thì sẽ là một điều “bất hạnh” lớn cho Đồng minh và gợi ý với Tổng thống thúc ép người Anh phải “kiềm chế đừng để có bất cứ hành động không thể bảo đảm được nào”.
Yêu cầu của Darian với người Tnlng Quốc cho chuyển quân đội Pháp từ Trung Quốc vào Đông Dương đã làm nổ ra một cuộc khủng hoảng khác, nhưng Tưởng cũng đã có thể giải quyết được theo kiểu cách riêng của mình. Tưởng đã đồng ý với Darian sẽ để cho người Pháp quay trở lại phía nam biên giới. Ông ta cho biết lúc đó người Pháp không có phương tiện vận tải dư thừa nên người Pháp muốn thì họ phải đi bộ, tay cầm tay như trước đây, cùng với lực lượng chiếm đóng của Trung Quốc và dưới sự “điều khiển” của người chỉ huy họ. Sau đó, cứ như là một việc được nhớ tới một cách muộn mằn, Darian lại đươc báo cho biết thêm là ngay sau khi ấn định được thời gian và địa điểm để tổ chức việc tiếp nhận đầu hàng và sau khi đã chỉ định xong viên tư lệnh người Trung Hoa được uỷ nhiệm làm việc đó thì tướng Alessandri sẽ được mời đi cùng với viên tư lệnh ấy. Điều đó đã thực sự trở thành một cân chuyện rùm beng rỗng tuếch như những tiếng đàn banđua om sòm.
Đề nghị của Anh và sự bác bỏ đề nghị đó của Trung Quốc đã đặt Tổng thống Truman vào một thế khó xử giữa hai đồng minh. Thủ tướng Atllee đã điện cho Tổng thống, yêu cầu sửa lại chỉ thị trước đây của Tổng thống cho Mac Arthur để cho phép người Nhật giao nộp Hongkong cho người Anh. Ông ta lấy cớ là thuộc địa Anh không thể được giải thích là “thuộc Trung Quốc” vì đó rõ ràng là vùng đất đai thuộc chủ quyền Anh, không có liên quan gì đến vấn đề ranh giới, quân sự của chiến trường. Nhưng người Anh cũng báo cho Tưởng biết rằng sự có mặt của một đại diện Trung Quốc trong việc tiếp nhận đầu hàng cũng vẫn sẽ được “hoan nghênh”.
Dù sao đi nữa thì Hurley cũng vẫn cứ bực tức. Ông đã nhận được một bản sao lời phúc đáp của Anh cho người Trung Quốc, trong đó có nói trong khi Đại sứ quán Anh gửi bản đề nghị đầu tiên cho Trung Quốc thì họ chưa được xem bản Mệnh lệnh chung số 1 nhưng vì thiện chí họ đã báo cho Trung Quốc biết những ý định của họ. Vào cuối giờ buổi sáng hôm đó(1), Đại sứ quán chúng ta được thông báo cho biết là Chính phủ London khăng khăng đòi quân Nhật ở Hongkong phải đầu hàng người Anh nhưng lại chịu nhượng bộ ở Đông Dương và sẽ tuân theo những quyết định trong Bản Mệnh lệnh chung số 1 với điều kiện là người chỉ huy cao cấp nhất của Nhật ở Sài Gòn phải đầu hàng người Anh còn người Trung Quốc sẽ tiếp thu ở Hà Nội việc đầu hàng của các chỉ huy Nhật cấp dưới phụ trách vùng phía bắc thuộc chiến trường Trung Hoa. Để xoa dịu, người Anh sẽ mời một đại diện Trung Quốc đến dự buổi lễ tổ chức tại Sài Gòn.
Điều tôi được nghe sau hết về cuộc cãi lộn này trước khi tôi đi Hà Nội là Tổng thống đã làm áp lực đối với Tưởng, bắt phải chấp nhận yêu cầu của người Anh. Ngày 21-8, ông đã điện cho Tưởng biết rắng vấn đề Hongkong “trước hết là một vấn đề mang tính chất tác chiến quân sự” và đó không phải là vấn đề chủ quyền của người Anh như người Trung Hoa đã nêu lên. Sau khi chuyển tới Tưởng một ít lời hoan nghênh về sự thông cảm và hợp tác của Tưởng, Tổng thống đã kết luận rằng phương thức mới được sửa lại “đã đưa ra một cách giải quyết hợp lý”.
Hai ngày sau, Tưởng đáp lại là ông “đồng ý uỷ quyền” của ông cho một chỉ huy người Anh và kết luận: “Ngài Tổng thống, tôi đã làm như vậy là xuất phát từ lòng mong muốn lớn được cộng tác với ngài về mọi mặt mà tôi có khả năng. Tưởng Giới Thạch.”
Truman đã công nhận sự khuất phục của Tưởng trước thực tế của tình hình: “Xin nhận lấy sự đánh giá cao của tôi về hành động chung của ngài đối với việc Nhật đầu hàng một chỉ huy người Anh ở Hongkong. Hành động đó của ngài đã giúp gỡ được một tình huống khó khăn”.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 10:04:34 AM
CÁC TOÁN “MERCY” NHÂN ÁI

Khi chiến tranh kết thúc có độ 2 vạn tù binh chiến tranh người Mỹ và Đồng minh, và khoảng 1,5 vạn thường dân bị cầm tù trong tay người Nhật. OSS đã xác định được chỗ của họ bị giam ở các vị trí tại Mân Châu Lý và Nam Triều Tiên đến Đông Dương. Các nhà chức trách Đồng minh rất lo lắng về việc quân đội bại trận Nhật có thể trả thù đối với những người họ đã bắt giữ hoặc có thể ngưng tiếp và cung cấp thuốc men để cho họ chết khi người Nhật rút lui. OSS đã nhận được chỉ thị phải chuẩn bị kế hoạch cho một chiến dịch cứu trợ và đến cuối tháng Bảy, chúng tôi đã tổ chức ra một số toán kiểu biệt kích được gọi chung là các toán “Mercy”. Nhiệm vụ của các toán này là nhảy dù xuống các trại tù binh chiến tranh trước khi cuộc xung đột kết thúc, đảm bảo an ninh cho tù binh, ngăn chặn mọi sự hành hạ và thu dọn các sân bay ở gần đó để nhanh chóng chuyên chở tù binh đi bằng đường không. Đối với OSS thì các toán này cũng sẽ tạo cơ hội thuận tiện để theo dõi các mục tiêu tình báo và hoạt động chiến tranh chính trị sau khi địch đầu hàng. Chưa ai có thể đoán trước được phản ứng của Nhật ra sao, nên hoạt động cứu trợ này đã được ấn định tiến hành theo 5 bước: trước hết là bắt liên lạc với các trại đã được lựa chọn để xác định số lượng và tình hình thể lực của tù binh, bước thứ hai là đơn vị Mountbatten cho in những truyền đơn để thả xuống báo cho Nhật biết là một toán OSS sẽ tới vì mục đích nhân đạo, sau đó các toán sẽ được thả dù xuống các nơi có trại giam, kèm theo việc thả dù các đồ tiếp tế, cuối cùng là tù binh hoặc các người bị giam sẽ nhanh chóng được sơ tán đi.
Khi có tin Nhật đầu hàng thì OSS cũng đã sẵn sàng. Đội Không quân thứ 14 đã cung cấp máy bay và mọi thứ cần thiết cho 4 đợt xuất kích từ Hsian (San) vào Bắc Kinh, Weihsien, Harbin và Mukden. Ngày 15-8, 3 trong số 4 toán Mercy đã được tung đi, nhưng chuyến bay về Harbin phải huỷ bỏ vì chúng ta không giải thích nổi điều đó cho người Nga rõ. Toán hạ xuống Mukden đã được người Nhật báo cho biết là những cuộc đổ bộ sau này phải đuợc thu xếp trước với họ. Suốt trong 7 ngày sau, lại có thêm 3 toán bổ sung nữa được gửi đến Thương Hải, đảo Hải Nam và Hà Nội. Tôi cầm đầu toán bay đi Hà Nội.
Khi chúng tôi chuẩn bị được nửa chừng, chúng tôi dồn dập nhận được rất nhiều điện tín của các đơn vị OSS phân tán ở các nơi, yêu cầu cho phép họ được giữ một cách đầy đủ vai trò của những người chiến thắng. Vấn đề đầu hàng của người Nhật ở bất kỳ nơi nào trên Chiến trường Trung Hoa đều là việc dễ gây rắc rối cho Bộ chỉ huy Mỹ. Trong bất kỳ trường hợp nào chúng tôi cũng không được cho phép quân đội Mỹ chấp nhận, dù chỉ là một sự đầu hàng của một đơn vị, mà không có sự đồng ý của Trung Quốc. Và thực tế chúng tôi đã làm như vậy. Đối với quân đội Mỹ mà cũng bị kích động và phản ứng với các điều khoản đầu hàng như thế thì người ta cũng có thể tưởng tượng được là các điều khoản đó đã xúc phạm đối với những người Pháp kháng chiến theo De Gaulle ở Trung Quốc như thế nào, và những cố gắng của họ nhằm phá bỏ các mệnh lệnh hiện hành cũng có thể trở thành dữ dội ra sao.
 
MỘT PHÁI ĐOÀN TỰ PHONG
Sau cuộc ném bom Nagasaki mấy ngày, Sainteny đã yêu cầu gặp tôi vì có việc khẩn cấp. Tôi không được nghe nói tới ông ta kể tới khi ông ta ở Paris trở về, nhưng tôi cũng không ngạc nhiên mà cũng chẳng hào hứng gì đối với yêu cầu của ông. Chúng tôi đã gặp nhau tại trụ sở của tôi vào ngày 12-8. Lúc đó ông ta có Flichy đi cùng và đã thể hiện có một thái độ không cứng nhắc như trước.
Với một phong cách ít nhiều nhún nhường, ông đi thẳng vào vấn đề. Ông thừa nhận một cách buồn bã là chiến tranh đang đi đến chỗ kết thúc, vượt lên trên dự kiến của người Pháp, do đó, cần thiết phải sửa đổi lại các kế hoạch của Pháp để đối phó với tình hình đang thay đổi. Theo Sainteny, chính phủ Pháp đã không chuẩn bị thành lập một chính phủ quân sự mà cũng chẳng đặt ra bộ máy cai trị lâm thời của người Việt Nam, do người Pháp đỡ đầu, chủ yếu chỉ vì Pháp “đã không được phép” tập trung lực lượng quân đội của Pháp sang Viễn Đông.
Tôi đã hỏi ông về những chỉ thị ông đã nhận được từ Paris về việc Pháp trở lại Đông Dương. Ông ta buột miệng trả lòi “không có gì”, nhưng sau đã giải thích thay vào đó là ông đã nhận được chỉ thị của đại tá Rose ở Ấn Độ và ông này có liên lạc trực tiếp với Paris. Chính sách của Pháp, theo ông nói, là giữ một thái độ bị động trước việc chiếm đóng lại Đông Dương vì người Pháp không có khả năng thực hiện việc trở lại với một cuộc biểu dương “lực lượng võ trang hùng mạnh”.
Kế hoạch trước mắt của ông là “thăm dò các lực lượng khác nhau ở Đông Dương” trước khi toan tính cho người Pháp quay trở lại. Để làm việc đó, Chính phủ Pháp đã chỉ định một “Ủy ban” ba người: Sainteny, với tư cách là thủ trưởng DGER/Côn Minh; Tổng thanh tra các thuộc địa (không nêu tên); giám đốc công dân vụ Pierre Mesmer, lúc đó ở Calcutta, đang chờ được đưa tới Trung Quốc. Họ sẽ đến ngay Hà Nội để tiếp xúc với các lãnh tụ Việt Nam ở địa phương và điều đình với họ theo những “điều khoản có lợi cho người Đông Dương”. Theo Sainteny thì “Ủy ban” được trao quyền thương lượng và cam kết thay cho Chính phủ Pháp. Những điều đạt được và những điều khuyến cáo của Ủy ban sẽ được chuyển tới De Gaulle, các Bộ trưởng ngoại giao và thuộc địa và cho Chính phủ Pháp. Ông đã được “bảo đảm” là các điều cam kết của Ủy ban sẽ được chính phủ Pháp tôn trọng, hoặc nếu cần thì có sửa đổi chút ít.
Trong lúc ấy, Sainteny nhắc lại, Chính sách của chính phủ Pháp là nhằm “làm dịu bớt” việc quay trở lại của người Pháp cho thích hợp với tình hình. Ông nói với tôi, ông muốn làm một chuyến bay mở đầu đến Hà Nội, cùng với 4 hay 5 nhân viên trong Bộ tham mưu của ông. Ông cũng muốn bắt liên lạc với nhân viên của ông, thiếu tá Blanchard, đã được phái đến vùng Hà Nội ngày 8-8, và qua người này, Sainteny sẽ bắt mối với các lãnh tụ địa phương. Ông dự định sẽ ở lại Hà Nội 48 tiếng, sau đó trở về Côn Minh báo cáo những điều ông đã thấy cho hai ủy viên khác của Ủy ban, cũng như với Tổng đại diện quân sự, tướng Alessandri. Rồi Ủy ban sẽ báo cáo tổng hợp các điều phát hiện được cùng với các lời khuyến cáo cho Chính phủ Paris; và trên cơ sở đó, cả ba người sẽ đến Hà Nội để thành lập một bộ máy cai trị lâm thời của người Pháp “với sự tán thành của người Đông Dương”.
Sainteny đã nói rộng ra ít nhiều về lập trường của Pháp. Nếu như những cuộc thương lượng dự định bị thất bại hoàn toàn, Chính phủ Pháp sẽ không có hành động gì và để hoàn toàn cho Mỹ và Anh lập lại trật tự ở Đông Dương. Ông bảo, “Ủy ban” cảm thấy chắc chắn rằng, người Mỹ cũng như người Anh đều không chuẩn bị hoặc muốn duy trì những lực lượng chiếm đóng ở Đông Dương, mà sẽ chỉ để cho người Trung Quốc và người Pháp làm việc đó.
Theo Sainteny, nếu người Trung Quốc được lựa chọn, thì người Pháp tin chắc rằng Thống chế sẽ cử tướng Trương Phát Khuê làm đại diện của mình để tiếp nhận việc đầu hàng của người Nhật ở Hà Nội. Ông nghĩ rằng Trương sẽ được hâm mộ hơn các tướng của Thống đốc Long Vân, nhưng người Pháp vẫn còn sợ xảy ra những vụ cướp bóc, tàn phá quy mô lớn và cũng có thể nổ ra xung đột với người Việt Nam.
Như vậy, lại có khả năng người Nhật lúc đó sẽ xin hàng theo người Việt. Đó cũng sẽ vừa là một điều tai hoạ và cũng là một điều may mắn. Sainteny tin chắc rằng trong trường hợp đó, người “Annam” sẽ không có khả năng để đối phó với tình hình, sẽ xảy ra rối loạn và từ đó sẽ mong muốn mạnh mẽ cho người Pháp quay trở lại, ít nhất cũng trong một thời gian.
Sainteny cũng kể lể dài dòng đến lời tuyên bố về Đông Dương của Bộ trưởng thuộc địa ngày 24-4, hứa điều mà Sainteny coi như là “các quyền tự do dân chủ”, một sự độc lập hoàn toàn về kinh tế đối với những quyền lợi và sự kiểm soát của Pháp. Ông đã nhắc đi nhắc lại là Chính sách của Pháp là một “nền cai trị tự do” nhất, vượt xa những mơ ước ngông cuồng nhất của ngay cả “những người Annam cấp tiến nhất”. Sainteny đã kết luận với một câu hỏi: “OSS có thể giúp cấp cho tôi một máy bay để đi làm nhiệm vụ ở Hà Nội được không?”. Và, ông nói tiếp “Ồ, đúng như vậy! Người Pháp sẽ mặc quân phục Mỹ hoặc thường phục”.
Rõ ràng là người Pháp đã bị mắc kẹt. Họ đã không được trang bị mà cũng chẳng được chuẩn bị gì cho một cuộc tiếp quản bằng quân sự thuộc địa cũ của mình. Tất cả điều gì mà Sainteny có thể làm được trong hoàn cảnh đó, sẽ chỉ là nhanh chóng thiết lập được một kiểu có mặt nào đó của người Pháp trong khi chờ đợi sự ủng hộ và chỉ thị của Paris. Hy vọng của ông trong việc dựng lên một chính quyền Việt Nam lâm thời thân Pháp với sự giúp đỡ hữu nghị của những người Quốc dân đảng quốc gia (thân Trung Quốc) sẽ chỉ là một hành động chống đỡ mạnh mẽ; nhưng hình như ông lại không biết được rằng tinh thần chống Pháp của người Việt Nam đã được kết hợp lại trong một mặt trận chính trị vững mạnh, Mặt trận Việt Minh.
Còn về yêu cầu OSS chuyên chở và người Mỹ che dấu thì tôi nói với Sainteny là tôi hiểu vấn đề của ông, và gặp trường hợp tương tự, tôi sẽ phải dùng thử những biện pháp như thế; nhưng việc nhờ người Mỹ che dấu là hoàn toàn không thể đặt thành vấn đề, vì nó sẽ đem lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về ngoại giao. Ý kiến của Sainteny về việc người Nhật đầu hàng người Đông Dương là không có căn cứ. Người Nhật đã được lệnh chỉ đầu hàng những chỉ huy Đồng minh được chỉ định về việc này, và người Việt Nam không thuộc vào hàng các người đó. Tôi nói với Sainteny rằng tôi không tin là Chiến trường lại muốn chuyển một máy bay dùng vào các kế hoạch của các toán Mercy sang làm một việc khác, nhưng tôi cũng sẽ chuyển lời yêu cầu của ông cho Chiến trường. Trước khi ra về, Sainteny cám ơn tôi đã nghe ông ta một cách có thiện cảm và gợi ý là ông và người của ông có thể được ghép vào toán Mercy đi Hà Nội. Tôi hứa là sẽ khêu gợi vấn đề đó với Bộ chỉ huy và cũng ngay chiều hôm đó, tôi chuyển yêu cầu của Sainteny đến OSS/Trùng Khánh. Hai ngày sau, tổng hành dinh của Wedemeyer đáp lại rằng việc cho người Pháp tới Hà Nội trong chuyến bay của toán Mercy là không mang lại lợi ích gì và sự có mặt của người Pháp ở Hà Nội đang được thu xếp “trong một thời gian thích hợp”.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 31 Tháng Bảy, 2008, 10:05:32 AM
MỘT TRỞ NGẠI KHÔNG ĐÁNG KỂ DO TRỜI MƯA

Thực tế chỉ trong ngày một ngày hai mà khu cư trú của chúng tôi ở Côn Minh đã thay đổi từ một trung tâm chỉ huy quân sự thành một tiền đồn cho việc chỉ đạo chính trị. Những phần tử ngoại quốc - Pháp, Hà Lan, Anh và Trung Quốc - trước đây được nguỵ trang cẩn thận, nay lộ mặt xuất hiện tại hành dinh của OSS để chuẩn bị cho các công tác sau chiến tranh, hoặc phải đặc biệt xử lý việc này hay việc khác. Nhân viên OSS chúng tôi bận rộn chẳng kém gì những ngày còn chiến tranh.
Lúc đó trời mưa. Trong những ngày đầu tháng 8 mưa còn nhỏ, nhưng càng ngày càng trở nên dữ dội. Giữa tháng 8, mưa to đã gây thành một trận lụt tệ hại nhất. Côn Minh biến thành một cái hồ lớn.
Nhưng trận lụt cũng không ngăn cản được sự chuẩn bị sôi nổi của toán Mercy, mà cũng chẳng làm nhụt chí được những người Triều Tiên, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam trong việc vật lộn một cách vất vả với bản báo cáo “bí mật”, các sơ đồ và đề nghị về các sự nghiệp khác nhau của họ. Nổi bật nhất là những người Việt Nam, họ yêu cầu được đối xử một cách đặc biệt và yêu cầu được sự ủng hộ của Đồng minh, đặc biệt là của Mỹ.
Người phát ngôn của Việt Minh nghiêm chỉnh đề nghị biến Đông Dương thành một xứ bảo hộ của Mỹ và thúc ép Mỹ can thiệp với Liên Hợp Quốc để gạt cả người Pháp và người Trung Quốc ra ngoài kế hoạch chiếm đóng lại Đông Dương của Đồng minh. Đại diện của Hồ Chí Minh rất lo lắng về kế hoạch chiếm đóng của Trung Quốc. Họ sợ rằng những người láng giềng phương Bắc sẽ trở thành những kẻ đi chiếm đất đai ở Đông Dương, sống bằng sự cướp bóc, tước đoạt. Người Pháp đồng ý với những mối lo lắng nói trên, nhưng thêm vào đó lại muốn giữ độc quyền về cai trị cho bản thân mình.
Tổng bộ Việt Minh ở Hà Nội đã gửi đến một công hàm để giải thích rõ lập trường của họ, trong đó có đoạn viết:
“Nếu người Pháp mưu toan trở lại Đông Dương để hòng cai trị đất nước này và một lần nữa lại đóng vai những kẻ đi áp bức; thì nhân dân Đông Dương sẵn sàng chiến đấu đến cùng,, chống lại việc tái xâm lược đó của Pháp. Mặt khác, nếu họ đến với tư cách là những người bạn để gây dựng nền thương mại, công nghiệp mà không có tham vọng thống trị, thì họ sẽ được hoan nghênh như bất kỳ cường quốc nào khác.
Tổng bộ mong muốn báo cho Chính phủ Mỹ biết là nhân dân Đông Dương yêu cầu trước hết là nền độc lập của Đông Dương và mong rằng nước Mỹ, người bảo vệ chế độ dân chủ, sẽ giúp đỡ họ giành lại độc lập bằng cách sau đây:
1. Ngăn cấm hoặc không giúp đỡ người Pháp quay trở lại Đông Dương bằng võ lực.
2. Kiểm soát người Trung Quốc để hạn chế đến mức thấp nhất các cuộc cướp bóc, tước đoạt.
3. Cho các chuyên viên kỹ thuật sang giúp người Đông Dương khai thác nguồn tài nguyên đất đai.
4. Phát triển các ngành kỹ nghệ mà Đông Dương có khả năng cung ứng.
Nói tóm lại, người Đông Dương muốn sẽ được đặt ở một địa vị ngang hàng như Philippin trong một thời gian không hạn định”.
Đây là bản thông cáo bán chính thức đầu tiên gửi cho nước Mỹ và tôi cũng cảm thấy nó có đầy đủ mức quan trọng để được chuyển về cho tướng Donovan và đã được Helliwell điện đi vào ngày 18-8.
Trong khi đó, mùa trở nên tồi tệ hơn, và cũng chẳng có việc gì khác phải làm, Sainteny và tôi gặp nhau lần thứ hai (vào sáng ngày 16-8) để trao đổi về vấn đề Trùng Khánh bác bỏ chuyến đi của ông đến Hà Nội. Sainteny rất nôn nóng khó chịu và kết tội OSS là đã ăn cánh với người Trung Quốc để phá hoại kế hoạch quay trở lại của người Pháp. Ông ta cáu giận đến trở thành mất trí và vô chính trị, doạ không công nhận chính sách của Chiến trường, tiếp tục làm theo ý mình, được gì thì được. Tôi khuyên giải ông và hứa thử hỏi một lần nữa Trùng Khánh cho ông tham gia giúp đỡ việc quản lý các tù binh Pháp ở Hà Nội, nếu như ông cam đoan tự hạn chế mình không làm những hành động vô chính trị. Với một thái độ miễn cưỡng, ông chấp nhận cho ông và 4 nhân viên trong Bộ Tham mưu của ông mang quân phục Pháp được đến Hà Nội với danh nghĩa tham gia phái đoàn của tôi.
Cùng ngày hôm đó, tôi nhận được một bản giải thích thêm của Chiến trường: phải nói thêm cho Sainteny và 4 nhân viên của ông một cách rõ ràng là họ phải hạn chế hoạt động trong các nhiệm vụ có tính chất nhân đạo trong cộng đồng người Pháp. Nhưng trời mưa đã làm trở ngại cho việc xuất phát của chúng tôi lúc đó.
Nôn nóng muốn đến Hà Nội để thực hiện nhiệm vụ “bí mật” của mình, Sainteny đã kiếm được một máy bay Pháp, một chiếc C.47 vừa mới ở Calcutta tới. Chiếc máy bay này do một phi công dân sự tên là Fulachier lái cho hãng Air France đưa đến để nhằm khôi phục lại các chuyến bay giữa Ấn Độ và Trung Quốc, sau khi được Đại sứ quán và Chính phủ Trung Hoa bàn xong các vấn đề chi tiết. Cuối buổi chiều hôm đó, Helliwell báo cho tôi biết là Sainteny đang chuẩn bị dùng một máy bay Pháp để nhảy dù xuống Hà Nội. Alessandri cũng yêu cầu tướng Hà Ứng Khâm cho phép máy bay Pháp bay tới Hà Nội. Yêu cầu trên đã bị bác bỏ và người Trung Hoa đã cho binh lính tới canh giữ chiếc phi cơ của Pháp với mệnh lệnh là không cho người nào lên máy bay đi Hà Nội. Mệnh lệnh đã nói gộp cả lại: “Tất cả các máy bay, không kể từ đâu đến và thuộc quốc tịch nào, đều không được cất cánh để bay đi Đông Dương thuộc Pháp cho đến khi có lệnh mới”.
Ngày hôm sau lại xảy ra một chuyện khác với Sainteny. Ông đã tấn công tôi dồn dập với những lời buộc tội, nào là người Mỹ phản bội người Pháp, cá nhân tướng Wedemeyer đã gây trở ngại cho người Pháp ở Chiến trường, người Mỹ ở Trung Quốc tuy không cố tình nhưng lúc nào cũng hùa theo với mưu đồ của người Trung Quốc. Ông nói ý nghĩ riêng của mình,, cho là Wedemeyer đã không trung thực với người Pháp ngay từ những lúc đầu. Khi tôi hỏi ông điều ông dự tính làm trong những ngày sắp tới, ông gượng gạo nói rằng ông chẳng làm gì cả ngoài việc ngồi chờ chỉ thị của Trùng Khánh.
Sau đó, tôi tình cờ được biết là Sainteny đã cho một toán 10 người do Blanchard phụ trách, xâm nhập vào Hải Phòng để bắt liên lạc với người Nhật ở Hà Nội và xúc tiến công tác với trung tá Kamiya, một cựu sĩ quan liên lạc Tổng hành dinh quân Nhật ở Hà Nội với chính quyền Decoux. Nhưng Kamiya đã giữ toán người Pháp lại ở Hải Phòng và đã hạn chế hoạt động của họ vào việc chuyển những tin tức thời tiết cho người Pháp ở Côn Minh.
Đúng như điều chúng tôi lo ngại, người Nhật đã tiếp đón máy bay Đồng minh của các phái đoàn Mercy khác một cách rất lộn xộn. Hơn nữa, một phi cơ Đồng minh khi bay qua Hà Nội ngày 19-8 đã bị hoả lực phòng không bắn, nên Bộ chỉ huy Chiến trường quyết định hoãn chuyến đi Hà Nội của chúng tôi cho đến khi nào cơ quan chỉ huy Nhật ở Hà Nội nhận được thông báo là chúng tôi tới đó. Bấy giờ trời mưa lại ngăn trở không cho máy bay cất cánh.
Những khó khăn phiền toái với người Pháp ở Trung Quốc đã là đầu đề cho vô khối thư từ công văn giữa Trùng Khánh và Washington. Và tướng Donovan đã phải chỉ thị cho Heppner phối hợp chặt chẽ mọi kế hoạch của OSS có liên quan đến người Pháp trở lại Đông Dương với Bộ chỉ huy chiến trường và Đại sứ quán Mỹ. Trong lời giải đáp cuối cùng đối với chỉ thị của Donovan, Helliwell đã điện báo:
“Phúc đáp diện 642, chúng tôi đã tiến hành công việc theo như đã được hướng dẫn. Sainteny đi cùng với Patti hôm thứ bảy. Điều đó có nghĩa rõ ràng là người Pháp hoàn toàn thuộc quyền chỉ huy của Mỹ và cũng chỉ có những người Pháp hoạt động với OSS. Cờ Pháp sẽ không được dùng đến”.
Trước khi bức điện được gửi đi, tôi đã trao đổi với Heppner về ý nghĩa của nó và yêu cầu phải ghi rõ sự đồng ý lên bản sao tài liệu. Nói tóm lại, không có trường hợp nào chúng tôi đã giúp đỡ cho người Pháp trong việc tiếp quản Đông Dương bằng vũ lực hoặc ngay cả tới việc tỏ ra có sự đồng tình tham gia vào các kế hoạch của họ.
Trong khi gặp trở ngại về thời tiết, chiều ngày 19-8, tôi có gặp nhiều nhân viên thuộc chi nhánh Côn Minh của Mặt trận Việt Minh tại nhà của Phạm Viết Tự. Họ cũng vừa mới nhận được những tin tức rất phấn khởi từ Hà Nội, và khi tôi tới, tôi thấy họ đang rộn lên vì vui mừng. Tống Minh Phương đã được một người bạn của Thái Hà ấp ngoại ô Hà Nội, báo cho biết là Hà Nội đã nổi dậy. Họ kể lại một cách sơ sài là vào ngày 17-8, chính quyền địa phương Việt Nam của chế độ Bảo Đại đã tổ chức một cuộc biểu tình để ủng hộ Chính phủ trung ương của Trần Trọng Kim. Tổng hội viên chức(2) là người đứng ra tổ chức cuộc biểu tình ở địa phương và một đám quần chúng tới 2,5 vạn người đã tập hợp ở trước cửa Nhà hát lớn thành phố. Không rõ tình hình đã xảy ra như thế nào, chỉ biết là các đội viên đội võ trang tuyên truyền đã chiếm lấy các cuộc mít tinh kêu gọi quần chúng lật đổ Chính phủ “bù nhìn”, đi theo Việt Minh và giành chính quyền về cho nhân dân. Theo những tin tức nhận được thì người Nhật đã không can thiệp và Ủy ban thành Hà Nội đã nắm lấy cơ hội thuận lợi có cuộc mít tinh lớn lao đó để thúc đẩy tình hình tiến tới một cuộc khởi nghĩa qui mô rộng toàn thành phố.
Sau những giò phút bị kích động cao độ lúc đầu, nhóm Côn Minh cũng tỏ ra thấy rõ được tình hình hơn, một số nghĩ rằng hành động của Ủy ban Thành Hà Nội là quá sớm. Nếu người Nhật quyết định đàn áp cuộc nổi dậy thì sao. Chuyện gì sẽ sẩy ra nếu Đồng minh, và đặc biệt là Trung Quốc cho chuyển người Pháp vào Đông Dương với bọn bù nhìn Quốc dân đảng? Không rõ Giải phóng quân có sẵn sàng đối phó với tình hình không? Đây là điều lo lắng đã xen vào niềm vui hân hoan của họ, tuy chẳng gì có thể che giấu được lòng tự hào và những cao vọng của họ. Tự và các người cộng sự với ông hướng về phía tôi, nhưng tôi cũng chẳng làm gì được để họ yên tâm. Tôi chỉ có thể gợi ý được rằng phải thận trọng, đừng để cho tình hình tuột khỏi tay và dẫn đến những sự đổ máu không cần thiết, dù là người Việt hay người Pháp cũng vậy.
Cũng ngay chiều hôm đó, tôi đã nói lại với Helhwell và Heppner về những gì tôi đã nghe được và gợi ý là phải báo cáo với tướng Wedemeyer. Helliwell đã mạnh dạn phát biểu ý kiến, cho rằng Tưởng sẽ chẳng vui vẻ gì nếu như quân đội của ông ta ở Việt Nam lại bị dồn đến chỗ phải giữ một nền trật tự lâu dài ở Đông Dương. Heppner thì lo lắng đến việc sơ tán các tù nhân Đồng minh và làm thế nào để cho quân Nhật đầu hàng mà không xảy ra chuyện rắc rối gì. Mối quan tâm chủ yếu của tôi lại là chung quanh vấn đề người Pháp. Nếu họ được phép vào Đông Dương với người Trung Hoa thì chắc chắn là sẽ xảy ra xung đột với người Việt Nam, và người Trung Hoa sẽ không tránh khỏi lôi cuốn vào chuyện này. Chúng tôi cũng không nghĩ tới việc tình hình mới này đúng ra là phải được cấp Chiến trường xem xét và quyết định. Nhưng sáng hôm sau,, khi Heppner thảo luận tình hình Hà Nội với tướng Gross thì không có gì có thể quan trọng hơn nữa và toán Mercy được lệnh phải tiến vào Hà Nội ngay khi thời tiết cho phép.
Mưa vẫn tiếp tục như trút nước. Đường băng bị hỏng và bị ngập sâu, xăng dầu cũng bị tràn bởi nước lũ, độ cao thấp và tầm nhìn xa hạn chế nên không máy bay nào có thể cất cánh được. Nhưng Sainteny vẫn còn lồng lộn lên và chưa mất hết cái thói quen thích hoạt động theo lối cửa sau. Ông không còn phải giữ gìn gì nữa và đã tiết lộ cho tôi biết (điều mà tôi đã nghe từ một nơi khác) là Blanchard đã vào Hải Phòng, đã bắt liên lạc với người Nhật và cũng đã báo cho người Nhật biết là người Pháp sẽ đến trên một chiếc phi cơ của Mỹ và không được bắn vào họ. Theo Sainteny, nói thì như vậy sẽ bảo đảm hoàn toàn an ninh cho chúng tôi khi tới Đông Dương. Nhưng chỉ riêng cái ý muốn giầy xéo lên các mệnh lệnh của Chiến trường của ông ta cũng đã quá lố bịch và không cần phải được thảo luận tới. Đấy là chưa kể đến sự việc Nhật đã không chấp nhận “proposition”(3) của Blanchard.
Chúng tôi vẫn phải đợi ở Côn Minh. Cho đến ngày 21, một số chuyến bay ưu tiên bậc nhất mới được phép cất cánh. Lúc đó người Trung Quốc đã thu xếp với cơ quan liên lạc của Nhật ở Trung Quốc để cho toán của chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Bạch Mai gần Hà Nội, và chúng tôi đã được báo để xuất phát vào sáng ngày 22. Lần này thì không có gì ngăn cản được nữa.
________________________________________
(1)  ngày 19-8
(2) Ủy ban trung ương các công chức
(3) Đề nghị - tiếng Pháp


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:26:59 PM
PHẦN III
HÀ NỘI
Chương 16
Những người khách không mời


BAY TỚI HÀ NỘI
Phi cảng chính ở Côn Minh vẫn còn bị ngập nước, do đó máy bay phải cất cánh từ Chanyi(1), một sân bay trên nền đất cao hơn. Đoàn xe của chúng tôi chậm chạp đi theo những con đường ngập nước lầy lội...
…Khi chúng tôi tới, cả sân bay như còn đang ngủ. Người gác Trung Quốc vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi đến chòi kiểm soát, nơi duy nhất có ánh sáng. Tôi được báo cho biết là máy bay đã ở sẵn trên sân, nhưng toán lái phi cơ thì phải nhiều giờ nữa mới từ Côn Minh tới được. Khoảng 8 giờ sáng, sân bay bắt đầu hoạt động nhộn nhịp nhưng máy bay của chúng tôi vẫn nằm chết ở một góc xa. Đó là một chiếc vận tải C.47 của quân đội và chúng tôi cũng còn đủ thì giờ rỗi rãi để ngắm đường nét và số hiệu của nó - 5908. Đến khoảng 9 giờ, người lái tới. Chúng tôi đóng bộ vào với đầy đủ vũ khí, dù và chụp ảnh. Sau đó máy nổ và máy bay rời đường băng. Trong phi cơ, toán 12 người của chúng tôi và 4 người Pháp của Sainteny lặng lẽ ngồi đối diện nhau.
Chúng tôi cất cánh vào 11 giờ 35 ngày 22-8 và lao vào mây mù. Bất chợt trên mây, có ánh mặt trời tỏa sáng, như một điềm báo hiệu tốt làm phấn chấn tinh thần, hết căng thẳng. Người lái thông báo phải bay cao trên 8.000 bộ và thòi tiết còn xấu. Dự tính là 1 giờ 30 sẽ tới nơi. Người Pháp và người Mỹ chuyện trò với nhau, mời nhau thuốc lá, kẹo và thỉnh thoảng lại cất tiếng hát.
Nhóm người Pháp bên ngoài tỏ ra tự tin. Sainteny cho rằng chúng tôi sẽ không gặp khó khăn gì và sẽ được người Pháp và người Việt vui mừng nghênh đón như những người đến giải phóng. Điều lo ngại của tôi dựa trên một sự nhận định thực tế đúng mức là mặc dù Bộ chỉ huy tối cao Tokyo đã chấp nhận đầu hàng hoàn toàn,, nhưng các tư lệnh dã chiến Nhật ở khắp châu Á vẫn có thể ngoan cường từ chối, không chịu nhận thất bại. Tôi cũng chẳng nghĩ trước được rằng sự có mặt của người Pháp mặc quân phục sẽ tăng thêm an ninh cho chúng tôi. Đã được tính toán trước là nếu người Việt Nam phản đối thì người Pháp sẽ được ghép vào trong phái đoàn của tôi.
Đúng 1 giờ 30, phi công gọi tôi ra phía trước. Đã trông thấy sân bay Bạch Mai và ngay từ 8.000 bộ, tôi cũng có thể nhìn thấy các hồ lớn và các chướng ngại trên đường băng. Máy bay hạ xuống ở độ 2.000 bộ, cửa được mở ra để nhìn cho rõ và chuẩn bị hạ cánh. Chúng tôi lượn nhiều vòng, chụp ảnh các đường bay bị chặn và ngạc nhiên tự hỏi không hiểu sao cơ quan liên lạc của Nhật ở Trung Quốc lại chỉ cho chúng tôi xuống một sân bay không sử dụng.
Cũng may mà chúng tôi có nhiều phương án thay thế để vào Hà Nội. A: xuống nơi đã định ở Bạch Mai, ở đó tôi sẽ được một phân đội nhỏ Giải phóng quân Việt Nam đón và đưa về Hà Nội, cách đó khoảng 1 dặm. Hai là phương án dự bị B: xuống Gia Lâm, sân bay chính của Hà Nội, ở phía đông thành phố, trên bờ sông Hồng và cạnh một trại tù binh chiến tranh. Phương án B đã được phối hợp với AGAS/Côn Minh, đề phòng khả năng Nhật chống đối lại và trong trường hợp đó chúng tôi sẽ phải chiếm lấy trại tù binh, cấp vũ khí cho các tù binh và cầm cự cho đến khi bộ phận chủ yếu của toán chúng tôi tới, có thể trong vài giờ sau.
Chuyển sang phương án B, chúng tôi bay trên sông Hồng và cánh đồng lúa bị ngập, dọc theo cầu Doumer, đường thuộc địa số 1 và đã thấy Gia Lâm. Sân bay hình như đang được sử dụng, nhưng ở đó lại có một số xe tăng cỡ nhỏ và súng cao xạ đặt trên xe. Tôi yêu cầu trung úy Grelecki, tổ trưởng biệt động, cho thả dù một tổ trinh sát. Đến 2 giờ có ánh xanh phát ra ở phía cửa mở và Grelecki cùng 3 người nữa lao vào không trung. Chúng tôi lo lắng quan sát họ xuống đất một cách khá đẹp. Không có hỏa lực của Nhật bắn chống lại. Vào 2 giờ 06, người cuối cùng đã tới đất và chúng tôi trông rõ họ đi về phía một số xe gần đấy. Gần như liền sau đó, Grelecki điện báo cho biết mọi việc thông suốt, và 4 phút sau phi cơ chúng tôi đặt bánh xuống đường băng.
 
KẾT THÚC MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH GAI GÓC
Máy bay dừng lại và một đơn vị độ 50 hay 60 người Nhật, súng ống đầy đủ bao vây lấy phi cơ. Mọi người nắm lấy súng và chúng tôi chuẩn bị bên trong khi người lái vẫn cho phi cơ chạy và quay đầu về ngược hướng gió, sẵn sàng cất cánh. Tôi đứng ở phía cửa máy bay, Sainteny ở đằng sau. Tôi thấy Grelecki cùng với cả tổ tiến lại gần, theo sau có nhiều sĩ quan Nhật. Tôi ra lệnh cho người của chúng tôi hạ súng, nhanh chóng ra khỏi máy bay và tiến lại chỗ các sĩ quan, trong số đó có một trung úy biết nói tiếng Anh.
Cách xa đó có một chút, có một nhóm khá đông người đang vẫy cờ Anh và Mỹ. Họ là các tù binh Anh, phần lớn là binh lính Ấn Độ bị bắt ở Singapore mà tôi đã được AGAS báo cho biết, và họ cũng đã có liên lạc bằng điện đài với tôi khi tôi chuyển sang phương án B. Họ đã cùng nhau vượt ra ngoài trại để nghênh đón chúng tôi nhưng khi họ đến cách máy bay vài trăm thước thì một đơn vị Nhật dùng lưỡi lê chặn họ lại. Theo đúng truyền thống Anh, các tù binh liền dừng lại thành hàng, hoan hô ba lần và giương cao các cờ được làm từ trong trại. Tình hình căng thẳng, chúng tôi và người Nhật mỗi bên nhìn cái cảnh tượng đó với những cảm xúc khác nhau và trong khoảnh khắc tôi thấy có vấn đề... Nhưng tình hình đã tự giải quyết được. Một đội nhỏ tù binh do một sĩ quan Nhật dẫn đầu, lặng lẽ đi về phía chúng tôi. Trung úy “Simpson Jones”(2), đại đội trưởng của nhóm tù binh Ấn Độ ở Gia Lâm đã đến đến “báo cáo” rằng các tù binh đã sẵn sàng ở bên cạnh quân Đồng minh và về tình hình trong trại... Tôi cảm ơn Simpson về “bản báo cáo” và yêu cầu ông ta cung cấp cho sĩ quan AGAS những tài liệu về nhu cầu trước mắt và việc nhanh chóng sơ tán tù binh.
Sau ít phút gay go đầu tiên, tôi quay về phía các vị khách Nhật. Họ tỏ ra đang kiên nhẫn chờ đợi được nghe những yêu cầu khác của tôi. Tôi nói rằng chúng tôi đến đây để trông coi vấn đề tù binh chiến tranh và chuẩn bị sơ bộ việc tiếp nhận đầu hàng của Nhật cho Tưởng Thống chế. Hiển nhiên là các sĩ quan Nhật ở sân bay đã không nhận được chỉ thị gì và đã tỏ ra hoàn toàn bị bất ngờ. Nhưng họ cũng không có hành động gì chống đối và ra lệnh cho người của họ giãn ra. Tuy vậy phi công của chúng tôi vẫn tiếp tục duy trì liên lạc điện đài với Côn Minh, còn tôi cùng với Sainteny, Grelecki và hai người trong tổ biệt kích đi với các sĩ quan Nhật tới một ngôi nhà nhỏ cạnh đường băng. Số còn lại trong toán chúng tôi ở lại với trung úy R.A. Feeback gác máy bay.
Trong căn nhà, chúng tôi gặp một thiếu tá Nhật, có thể là người sĩ quan cao cấp nhất ở đây, cùng với một số tùy tùng. Hai nhân viên của chúng tôi đứng canh ngoài cửa, bên cạnh hai người gác Nhật. Gần như là một điều phi lý, nhưng chúng tôi đã được mời dùng bia lạnh, kem. Một chút ít lịch sự đã thành tập quán sinh hoạt trong bầu không khí nóng nực của mùa thu Hà Nội... Người Nhật thì đúng mức trong cách cư xử của họ và rất tháo vát. Tôi yêu cầu nhanh chóng được gặp Tổng tư lệnh của họ nhưng được trả lời là tướng Yuitsu Tsuchihashi(3) đang ở Huế và chỉ trở về vào khuya tối hôm đó. Viên thiếu tá gợi ý là chúng tôi được sống thoải mái trong thành phố và được phép đi lại tự do. Nhưng ông ta lại ngần ngại về việc các sĩ quan Pháp ở lại đó và nêu ý kiến là tốt hơn hết họ nên quay về Trung Quốc. Sainteny bị xúc động mạnh và tôi đã nghĩ ngay rằng chì vì Saiilteny và người của ông ta không có quy chế chính thức ở đây nên có nguy cơ bị giữ lại. Với ý nghĩ đó, tôi thông báo cho người Nhật biết là người Pháp thuộc quyền kiểm soát của tôi, nhiệm vụ của họ là điều tra tình hình các tù binh Pháp và họ ở lại trong nhóm của tôi. Thiếu tá báo cho tôi biết về tinh thần chống Pháp ở Hà Nội, và nói rằng hình ảnh các bộ quân phục Pháp trong đoàn chúng tôi sẽ chỉ gây rối loạn. Tôi phản công lại và nhắc ông ta rằng Đồng minh trao cho các nhà chức trách Nhật nhiệm vụ duy trì trật tự công cộng và an ninh của nhóm chúng tôi bao gồm cả người Pháp, thuộc trách nhiệm cá nhân của tư lệnh Nhật tại địa phương. Người sĩ quan Nhật vội gạt bỏ lập trường của mình và thu xếp chuyển chúng tôi vào thành phố. Trong khi chờ đợi phương tiện chuyên chở, tôi ngẫm nghĩ về sự may mắn của chúng tôi là mọi việc đều tốt đẹp, mặc dù cuộc đổ bộ thật bất ngờ… Phản ứng của viên thiếu tá Nhật đối với người Pháp trong nhóm nhắc chúng tôi nghĩ tớ nguy cơ của một cuộc đụng độ chẳng thích thú gì với người Việt Nam một khi người Pháp bị họ phát hiện. Và ý nghĩ tới 35.000 người Nhật thù địch có vũ trang, chưa thông suốt là họ đã thất bại trong cuộc chiến tranh, thực sự làm cho tôi không thoải mái.
Cứ như là để nhấn mạnh vào những điều tôi còn đang còn nghi ngại, mọi việc rắc rối lại xảy đến ngay trước khi chúng tôi chưa rời sân bay được bao xa. Một nhân viên dân sự Pháp, Pétris, định lẩn qua sự kiểm soát của Nhật, vượt trước về Hà Nội để báo tin người Pháp đến. Đó là một ý đồ liều lĩnh không chính đáng, sau khi tôi đã xác định một cách đúng đắn phái đoàn Pháp thuộc quyền của tôi. Pétris đã bị giữ lại và bị tống vào phía sau một xe tải.
Nhiều sĩ quan và binh lính Nhật đến cùng với nhiều xe có mui kín và chúng tôi lập thành một đoàn có 1 xe tăng nhỏ đi trước. Tôi ở xe đầu với Sainteny và sĩ quan tùy tùng Nhật. Grelecki, Feeback và các sĩ quan Pháp ngồi trong hai xe có mui kín. Còn những người lính biệt kích thì đi trên xe riêng. Nhiều xe tải chở binh lính Nhật đi sau cùng... Đoàn xe qua cầu, đi về phía Tây, qua trước Thành(4), đến dinh Toàn quyền(5), một dinh thự đẹp, chung quanh có nhiều bãi cỏ và vườn hoa. Ở đây, tôi gặp một sĩ quan Nhật và ông ta cũng hỏi về mục đích của nhóm người Pháp ở Hà Nội. Tôi để cho Sainteny trả lời, hy vọng ông sẽ theo phương hướng mà tôi đã chỉ ra ở sân bay.
Nhưng sự thật lại khác. Sainteny bắt đầu nói về cạnh khía nhân đạo trong nhiệm vụ của ông ta và người sĩ quan Nhật tỏ ra chịu nghe trước khi Sainteny đòi người Nhật cung cấp cho ông ta những thuận lợi ở Đài phát thanh Bạch Mai để phát đi một “chương trình tin tức địa phương” cho người Pháp ở Đông Dương và thông tin với bản doanh của ông ta ở Trung Quốc và Ấn Độ. Người Nhật không phản đối nhưng thoáng thấy biến đổi sắc mặt và báo cho chúng tôi biết là nhà ở đã được chuẩn bị sẵn sàng ở khách sạn Métropole thuộc khu buôn bán của Hà Nội và chúng tôi nên đi đến thẳng nơi đó.
Một lần nữa chúng tôi lại lên xe. Chúng tôi đi quanh khu vực phía Bắc thành phố qua những nơi dân cũ thưa thớt, ở đó rõ ràng không có người Pháp, chỉ thấy những tốp nhỏ người Việt chuyện trò sôi nổi. Họ có chú ý đến đoàn xe nhưng lại tỏ ra không phấn khởi gì về sự có mặt của chúng tôi. Dinh thự và nhà cửa dọc theo con đường đều phất phới đầy rẫy những cờ Việt Minh. Các phố tiếp theo, Puginier và Borgnis Desborder, có bộ mặt hoàn toàn khác hẳn. Công chúng tập trung dày đặc và có nhiều biểu ngữ tiếng Anh, Pháp, Việt chăng qua đường từ bao lơn này qua bao lơn khác, hoan hô Việt Nam độc lập, người Pháp phải chết, hoan nghênh Đồng minh. Chẳng thấy một bóng cờ Pháp. Chỉ độc có cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh.
Chúng tôi yên lặng đi một lúc và Sainteny rõ ràng đang lo âu. Ông ta nhìn chòng chọc, mất tin tưởng. Tôi cũng ngạc nhiên khi thấy phố xá tràn đầy cờ Việt Minh phất phới cùng với những biểu ngữ thù địch và đã nghĩ rằng có thể có Hồ Chí Minh đã về thành phố (nhưng đúng là chưa về) và rất bực với cái trò chơi kiểu này của Nhật. Sainteny quay sang phía tôi và hỏi xem có biết gì về kế hoạch của ông Hồ không. Tôi nhắc lại là tôi đã phát biểu ở Côn Minh là ông Hồ đã có một “Chính phủ” đang tồn tại và chỉ có vấn đề thời gian và hoàn cảnh do Chính phủ đó của ông cầm quyền. Lúc đó tôi đã không đoán ra được những sự tiến bộ của Việt Minh trong việc giành chính quyền. Sainteny yên lặng một cách chán nản.
Đám quần chúng trở nên huyên náo và thù địch hơn khi thấy đoàn chúng tôi ghé vào khách sạn Métropole. Họ đã biết là “người Pháp đã đến” bằng một máy bay Mỹ và được người Mỹ che chở. Lính Nhật súng cắm lê, dọc theo con đường từ hồ Hoàn Kiếm đến khách sạn, phải khó khăn lắm mới ngăn chặn được số quần chúng đang ào ào tới.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:27:55 PM
KHÁCH SẠN MÉTROPOLE:

Từ khách sạn, một nhóm đông người Âu, phần lớn là Pháp, ùa ra chào đón chúng tôi. Một số bắt đầu xô đẩy với những người Việt đã vượt qua hàng rào bảo vệ nhưng đã bị lính Nhật và Bảo an đẩy lùi về phía hành lang. Thật là hỗn loạn. Người ta mừng chảy nước mắt mà ôm hôn nhau không dứt giữa những tiếng kêu la của người Việt chống lại sự đối xử tàn tệ của Nhật. Người Pháp ở trong tình trạng bị kích động gây gổ cao độ còn Nhật thì duy trì trật tự một cách khá lạnh lùng...
Nhiều phòng trên tầng hai khách sạn đã để trống dành cho chúng tôi. Tôi được chỉ tới một phòng lớn có góc nhà nhìn thẳng ra một vườn hoa nhỏ và “Résidence Supérieure”(6) với một lá cờ Việt Minh lớn đang phấp phới bay. Được khoảng 5 phút thì Grélecki và một nữ nhân viên trong khách sạn đưa tới một người Việt Nam trông cứng cỏi nhưng dễ thương, một Lê Trung Nghĩa nào đó, đại diện cho Thành ủy Hà Nội. Nghĩa không nói tiếng Pháp và dùng người phục vụ gái làm thông ngôn. Theo Nghĩa thì ủy ban đã được ủy ban Trung ương Côn Minh báo cho biết là chúng tôi sẽ tới nên đã cử một phái đoàn đến Bạch Mai để đón và đưa chúng tôi về thành phố, nhưng khi máy bay không đỗ xuống Bạch Mai thì họ đã trở về Hà Nội. Ngay sau khi biết tin chúng tôi hạ cánh xuống Gia Lâm, Nghĩa được Thành ủy Hà Nội cử tới để nghênh đón người Mỹ tới Việt Nam, bày tỏ sự quý khách của thành phố và đảm bảo về an ninh của Chính phủ Lâm thời Việt Nam. Tôi cảm ơn và mời Nghĩa uống một chút mà nhà hàng đang mang tới.
Tôi hỏi thẳng Nghĩa về việc quần chúng tập trung bên ngoài với thái độ rõ ràng đối địch là thế nào. Nghĩa trả lời là quần chúng không chống đối với Đồng minh mà chống lại người Pháp quay trở lại. Nhưng Nghĩa cũng mau mắn đảm bảo với tôi rằng sẽ không có gì làm nguy hại cho họ nếu như họ không đưa quân đội đến hoặc cố tình can thiệp vào công việc điều hành của Chính phủ lâm thời. Tôi báo cho Nghĩa biết nhiệm vụ của tôi là trông coi số tù binh Đông minh và sơ bộ chuẩn bị việc tiếp nhận đầu hàng của người Nhật, và cũng chỉ có 5 người Pháp đi cùng tôi để làm công tác nhân đạo là coi sóc số tù binh ở trong Thành. Đáp lại câu hỏi của Nghĩa, tôi đảm bảo với Nghĩa là tôi không làm gì để chuẩn bị cho quân đội Pháp tới và đúng là sẽ chỉ có thêm một số ít người Mỹ sắp đến, là tôi đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và không có vấn đề nước Mỹ ủng hộ chủ nghĩa thực dân.
Có tiếng gõ cửa và người ta báo có trung úy Nhật Ogoshi muốn được gặp tôi. Nghĩa xin rút lui và nói thêm là Thành ủy sẵn sàng để làm việc cùng tôi và người liên lạc với họ trong lúc này là cô nhân viên phiên dịch.
Trung úy Ogoshi quân phục chỉnh tề, mang gươm võ sĩ đạo, báo cho tôi biết rằng những người Pháp trong đoàn của tôi đã gây là một vấn đề nghiêm trọng và sự có mặt của họ tại khách sạn sẽ dễ dàng đẩy tới một cuộc xung đột. Bộ Tổng tham mưu Nhật cảm thấy có thể không có đủ sức đảm nhiệm trách nhiệm bảo vệ an toàn cho phái đoàn chúng tôi nếu như người Pháp cứ cố nài cho họ ở lại khách sạn. Vậy ý kiến tôi về việc này phải làm gì?
Trước hết tôi đáp lại rằng tôi không thể chấp nhận lập trường của các nhà chức trách Nhật là không thể duy trì được trật tự công cộng hoặc đảm bảo an ninh cho phái đoàn Đồng minh, trong đó có người Pháp tham dự. Thứ là tôi hành động theo chủ trương đề ra trong mệnh lệnh chung số 1 của Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh, mà người đại diện là Thống chế Tưởng Giới Thạch, yêu cầu các nhà chức trách quân sự Nhật ở Đông Dương chấp nhận thỏa thuận đã đạt được ở Trung Quốc với đại diện Hoàng gia Nhật. Hình như trung úy Ogashi đã tỏ vẻ xúc động khi nghe nói đến “đại diện Hoàng gia”, ông liền đề nghị cho chuyển những người Pháp đến đóng ở Phủ Toàn quyền, vì ở đó họ có thể được bảo vệ chu đáo và ngăn chặn được sự xô xát với quần chúng. Tôi nói sẽ cho ông biết ý kiến sau. Ogoshi chào và ra đi với một vẻ ít quan trọng hơn khi tới.
Ở hành lang, cảnh tượng vô chung náo nhiệt, ồn ào. Tin quân Pháp đã đến và còn sẽ đến nhiều nữa loang ra nhanh chóng. Phải khó khăn lắm Saiteny mới gỡ mình ra được để đến gặp tôi và được báo cho biết là sẽ tốt cho mọi người nếu họ ở riêng ra một nơi. Sainteny chớp ngay là ý đó và đề nghị được sử dụng dinh Toàn quyền. Chúng tôi liền hỏi ý kiến viên sĩ quan cao cấp Nhật có mặt tại chỗ. Sau khi xin chỉ thị cấp trên, ông mỉm cười lễ phép báo cho biết cấp trên ông ta đã đồng ý, sẽ cấp một toán bảo vệ riêng và đảm bảo an ninh 48 giờ cho người Pháp ở dinh Toàn quyền. Sainteny vui vẻ ra mặt và tôi cũng rất bằng lòng...
Khi ra đi, người Nhật lại phản đối vì người Pháp muốn kéo một số dân thường đi cùng. Người Nhật nói thêm rằng, cho đến khi tôi gặp Bộ Tổng tư lệnh và quy chế của chúng tôi được chính thúc hóa thì toán Mercy của Đồng minh phải tự coi như “đặt dưới sự bảo vệ và quản lý” của Nhật. Tôi phản đối, có Sainteny ủng hộ, nhưng người Nhật vẫn kiên quyết bác bỏ, nên tôi cũng chẳng làm gì được khác hơn là phải nhã nhặn ưng thuận. Nhưng cũng chẳng ai ngăn trở không cho chúng tôi giữ vũ khí và phương tiện thông tin để giữ liên lạc với hành dinh ở Trung Quốc, và chúng tôi được tự do tiếp khách. Mãi đến tận khuya, Sainteny cùng với 4 người bạn của ông mới rời khách sạn với toán lính gác Nhật.
Quyết định của Sainteny tới đóng tại dinh Toàn quyền cũ là một sai lầm nghiêm trọng. Việc biến mình thành một quan chức thực dân chỉ làm cho Sainteny bị tách rời khỏi dòng các sự kiện đang sôi sục diễn ra ở Hà Nội. Tính kiêu căng và sự tham lam cao độ của người Pháp đang chờ đợi ở Sainteny đến giải thoát cho họ đã thể hiện quá rõ người Pháp là một nguồn khiêu khích đối với Nhật và nhà chức trách Việt Nam. Do đó đoàn Sainteny đã bị quản thúc một cách chặt chẽ hơn... Sainteny đã không kiềm chế được thói huênh hoang của đám dân Pháp nhưng nếu khôn ngoan ra thì Sainteny đã cứ tự hạn chế mình trong quy chế của phái đoàn chúng tôi hơn là đã vượt ra ngoài. Sainteny đã yêu cầu tôi giúp sửa lại tình hình khó xử của ông ta, nhưng đâu có phải tôi đến đây để sửa sai cho người Pháp cũng như người Việt.
Tôi trở lại trụ sở trong khi các nhân viên trong đoàn xúc xạo và đám dân Pháp đã nghe ngóng tin tức. Hiệu thính viên Eide Và Rodzvvicz lên lầu để đặt trạm thông tin. Phi công đã trở về Trung Quốc ngay sau khi chúng tôi rời sân bay và chắc đã báo cho Helliwell biết chúng tôi đến nơi an toàn. Còn Grelecki và Feebach nhanh chóng tổ chức các tổ chức bảo vệ, tổ tình báo và thông tin liên lạc... Ai cũng làm việc cật lực để chuẩn bị cho các hoạt động ngày mai. Vào khoảng nửa đêm, một sĩ quan Bộ Tổng Tham mưu Nhật đến báo cho tôi biết là tướng Tsuchihashi đã về và mong gặp tôi, nhưng để tùy tôi quyết định. Chúng tôi thu xếp để cuộc gặp vào 8 giờ sáng hôm sau.
 
TƯỚNG YUITSU TSUCHIHASHI
Đúng 8 giờ, một đại úy Nhật nói tiếng Anh đến gặp và cũng trở thành một cận vệ phiên dịch cho tôi. Ông cho biết tiếng Tsuchihashi đã để một xe con cùng với người lái cho tôi sử dụng và ông được chỉ định làm sĩ quan liên lạc của Bộ Tổng tham mưu về mọi việc có liên quan giữa chúng tôi và người Nhật. Chúng tôi chỉ đi một quãng ngắn để đến Tổng Hành dinh quân Nhật, ở bên bờ sông và gần bảo tàng Louis Fiinot. Viên đại úy dẫn tôi vào dinh qua hai người lính gác và có một người ra mở hai lần cửa lớn. Tôi không hồi tưởng lại kỹ được gian phòng. Sau một bàn ở cuối buồng, thấy một người nhỏ nhắn ngồi, tường đằng sau có treo ảnh Nhật hoàng Hirohito và cờ mặt trời mọc. Bên phải có một dãy độ 10 hay 12 sĩ quan cao cấp đứng nghiêm. Giữa phòng có một bàn họp lớn, có sẵn mỗi bên một ghế và một chiếc thứ ba đặt ở đằng sau gần cửa ra vào.
Khi tôi tới, viên tướng đứng dậy và hơi nghiêng đầu. Các sĩ quan cũng làm theo, cúi đầu sâu hơn. Tôi chào lại theo kiểu quân sự và người đại úy giới thiệu tôi với viên tướng, rồi đến các sĩ quan tham mưu. Trung tướng Yuitsu Tsuchihashi tuổi hạ ngũ tuần, thấp (khoảng 5 bộ 5 hoặc 6), mặt trong vẻ nghiêm nghị, rắn rỏi. Đầu trọc hoàn toàn. Theo lời mời, tôi ngồi xuống một ghế, viên tướng cũng ngồi xuống ghế đối diện, còn người đại diện phiên dịch ở ghế thứ ba phía trong. Các sĩ quan khác vẫn đứng cạnh viên tướng, vẻ mặt kín đáo, rất khó đoán định nhưng rõ ràng là không thân thiện.
Tôi chủ động nói trước là Chính phủ Nhật đã đầu hàng Đồng minh không điều kiện ngày 10-8 và tôi được Thống chế Tưởng Giới Thạch ủy quyền cho đến xem xét tình hình và điều kiện các tù binh chiến tranh Đồng minh ở bắc Đông Dương, và quyết định cho họ hồi hương càng sớm càng tốt. Tất nhiên tôi cũng báo tôi là người trung gian đầu tiên để tổ chức việc tiếp thu đầu hàng của quân đội Nhật cho Đồng minh ở Đông Dương. Viên tướng không công nhận việc đầu hàng của Nhật mà chỉ nói là ngày 17-8 ông đã nhận được lệnh của Cụm Tập đoàn quân Nam ra lệnh ngừng chiến trong vòng 5 ngày. Ngày 18-8, ông đã ra lệnh cho Tập đoàn quân 38 ngừng bắn vào 8 giờ sáng ngày 21-8. Nhưng còn về “nhiệm vụ” của tôi, ông sẽ xin chỉ thị của Tokyo. Trong khi chờ đợi, người Mỹ được tự do đi lại trong phạm vi thành phố Hà Nội.
Tôi nêu vấn đề đến thăm các tù binh Đồng minh. Về nguyên tắc, ông đồng ý, nhưng nói phải chờ chỉ thị của Tokyo mà theo ông thì sẽ nhận được trong vòng 48 giờ.
Tôi nêu việc tiếp theo là vấn dề trật tự và an ninh công cộng. Tsuchihashi đáp lại ngay rằng “trong điều kiện hiện tại” và theo chỉ thị của Tokyo, ông đã trao dần quyền lực và nhiệm vụ cai trị cho nhà cầm quyền “Việt Nam địa phương”. Mặc dù không được sự hướng dẫn về điểm này, tôi báo cho Tsuchihashi biết là vấn đề trật tự và an ninh công cộng thuộc trách nhiệm của nhà chức trách Nhật cho đến khi Đồng minh đến trực tiếp tiếp nhận. Điều đó đã không được từ viên tướng cho đến các sĩ quan ở đó tiếp thu, lần đầu tiên họ phá vỡ sự im lặng và xì xào với nhau.
Cho rằng đã khẳng định được quy chế chính thức của tôi đã xác định được, sự gánh vác tránh nhiệm về trật tự công cộng, tôi cho là đã đến lúc kết thúc cuộc gặp gỡ. Tôi đứng dậy và nói sẽ báo cáo với Trùng Khánh về cuộc gặp sáng nay và sẽ thông báo cho viên tướng sau. Tsuchihashi cũng đứng lên và nghiêng mình. Tôi chào và lui ra cùng với người đại úy theo sau như một cái bóng.
 
________________________________________
(1) cách Côn Minh 75 dặm về phía đông bắc
(2) bí danh của người chỉ huy nhóm tù binh Gia Lâm
(3) Tư lệnh Tập đoàn quân Hoàng gia Nhật thứ 38
(4) Trại lính của Pháp cũ, sau Nhật sửa lại thành nơi giam tù binh và tù chính trị
(5) Nguyên văn: Palais Du Gouvernement
(6) Dinh Thống sứ


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:28:59 PM
Chương 17
Ngày thứ hai của chúng tôi ở Hà Nội

CẢM TƯỞNG ĐẦU TIÊN
Sau cuộc gặp gỡ với Tsuchihashi, tôi đi quanh thành phố một vòng để nắm tình hình địa phương. Ngày hôm trước tôi đã không thấy gì nhiều là cuộc bạo động ở khách sạn Métropole nên tưởng sẽ thấy phố xá đóng cửa và dân chúng trong tình trạng căng thẳng. Ngược lại, các cửa hàng vẫn mở, chợ vẫn đông người, các công sở làm việc tấp nập... Và tất cả đều phất phới cờ Việt Minh. Thực tế là một biển cờ đỏ và biểu ngữ tràn ngập. Người Đông Dương đi bộ, đi xe đạp, nhộn nhịp với một dáng tự hào và tin tưởng nhưng vẫn trật tự theo sự điều khiển của người cảnh sát giao thông Việt Nam.
Nhưng càng vào sâu trong thành phố, tôi mới thấy người Âu vắng bóng hoàn toàn. Không kể các đội tuần tiễu Nhật và lác đác một số người Trung Quốc, thì hình như chỉ còn toàn là người Việt Nam. Ngoài những lá cờ đỏ biểu trưng của chính quyền Việt Minh chỉ còn có những thanh niên nam nữ mang vũ khí đi tuần ở phố và canh gác công sở. Họ không mặc đồng phục nhưng có băng tay của Đội quân giải phóng Nhân dân. Song nếu quan sát kỹ, thì cũng thấy được ở chỗ này chỗ kia có những xe đầy lính có vũ khí đứng bên đường. Thoạt đầu tôi cho đó là những biện pháp nhằm để chống lại các cuộc rối loạn có thể xảy ra. Nhưng khi đến gần Cung Thiếu nhi, tôi thấy có một dinh thự lớn có lính Nhật gác với súng máy, dây kẽm gai và vật chướng ngại. Tôi ngạc nhiên, vì ở ngay Tổng hành dinh Nhật cũng không có sự cẩn mật đến như vậy. Tôi hỏi và viên đại úy cảnh vệ nói ngay: “Nhà băng Đông Dương”. Việc bảo vệ đặc biệt đó là cần thiết vì “đó là điểm duy nhất có giá trị còn lại trong thành phố”.
Về tới Métropole, tôi thấy khu vực đã bị bao vây bởi một vành đai những người Việt vũ trang và một phân đội lính Nhật đứng gác. Còn trên vườn hoa và các phố chung quanh thì chen chúc đầy những người Việt vừa hô khẩu hiệu, vừa hát và thỉnh thoảng lại xô ra định phá vỡ hàng rào bảo vệ, nhưng hành động của họ lại tỏ ra có ít nhiều thiện ý.
Viên đại úy Nhật của tôi liền chạy về phía người sĩ quan chỉ huy phân đội, còn thượng sĩ F. Altman trong toán cũng tới báo cáo cho tôi biết tình hình.
Có hai người Pháp đã đến báo tin là Sainteny và các sĩ quan đi cùng định vào Thành để thả số tù binh Pháp trong đó ra nhưng đã bị bắt giữ. Dân ở Métropole bị kích động đã rối lên. Có người Pháp đã dọa nạt những người “bồi” Việt và yêu cầu người Mỹ tổ chức một “đội trừng phạt” gồm những người tình nguyện Pháp để cứu Sainteny và các tù binh Pháp. Chủ khách sạn báo cho Nhật và họ đã nhanh chóng lập lại trật tự. Khi cảnh sát Việt Nam tới, người Pháp trong khách sạn đã la ó, chửi bới, và quần chúng xúm đông lại.
Cảnh binh đã bắt giữ hai người Pháp và Hiến binh Nhật đã xác định là hai tên khiêu khích. Theo yêu cầu của tôi,, viên đại úy Nhật đã gọi dây nói đến dinh Toàn quyền và được trả lời là Sainteny vẫn còn ở đó và không hề bị bắt. Vụ kích động tan đi, nhưng tôi hiểu hơn tại sao người Nhật lại phải bố trí các xe đầy lính ở các phố bên cạnh. Cái thành phố trông như bình thường và hiền lành này chỉ là trên bề mặt, một việc chút xíu cũng đủ làm nó bùng nổ.
Toán OSS của chúng tôi đã trở thành một trung tâm quyền lực của Đồng minh. Ai cũng có một lý do hay một mong muốn được tiếp xúc với nó. Người Pháp đến để kêu ca yêu cầu và mưu tính. Người Việt đến để xem như là những người bên trong của Phái đoàn Mỹ. Người các nước khác cũng đến với những lý do riêng của mình.
Trong số những người đến đầu tiên, có viên lãnh sự Thụy Sĩ, Robert Blattner. Sau khi nêu chức vụ được ủy nhiệm, ông báo cho tôi biết là ông cũng đại diện cho quyền lợi của Đức, Ý và một số các nước khác. Tôi cảm ơn ông đã đến thăm nhưng nói là không muốn dính líu đến các công tác lãnh sự và báo cho ông biết, cũng có thể sau này Bộ Ngoại giao sẽ phái đến một người đại diện chính thức.
Một người khác cũng đến sớm là ông giám đốc Ngân hàng Đông Dương. Ông lo lắng ra mặt và “hỏi xem” tôi có thay người kiểm soát và lính gác Nhật bằng người của Đồng minh hoặc Pháp được không. Ông bối rối vì trong tuần trước người Nhật đã rút ở Ngân hàng ra những món tiền lớn và họ còn đang đòi hỏi nhiều hơn nữa “để trả cho việc chi tiêu nhằm duy trì pháp luật và trật tư cũng như việc bảo trợ cho người Pháp”. Tôi phát biểu lấy làm tiếc rằng ông đã gặp những khó khăn với những khách hàng cũ của ngân hàng, nhưng việc đó lại không trực tiếp thuộc quyền giải quyết của tôi. Ông ta bỏ về với một bộ mặt giận dỗi.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:29:38 PM
HÀ NỘI LÃNH ĐẠO CUỘC KHỞI NGHĨA NHƯ THẾ NÀO?
Hai đại diện của Thành ủy Hà Nội, Vũ Văn Minh và Khuất Duy Tiến, đã đến ngay để đặt “quan hệ thân thiện với Đồng minh”. Tôi rất muốn được nghe Việt Minh đã nắm chính quyền ở Hà Nội như thế nào và ông Tiến đã vui lòng kể lại.
Điểm đầu tiên mà ông nói là “nhân dân đã chiếm quyền mà không có đổ máu”. Và ông tự hào cho biết “tất cả các ngành phục vụ và dịch vụ công cộng tiếp tục làm việc không gián đoạn” dưới sự điều hành của người Việt Nam địa phương. Những điều tôi chứng kiến đã xác định lời ông nói. Nước vẫn chảy trong ống dẫn, điện bật công tắc lên là có, nước trong buồng tắm khách sạn vẫn chảy xiết, điện thoại vẫn kêu. Các cửa hàng và chợ trưng bày đầy hàng, chứng tỏ luồng tiếp tế ở các địa phương chuyển về mạnh và tôi còn trông thấy cả một số xe tải và xe buýt chạy trên đường phố, điều đó có nghĩa là vẫn có ít nhiều xăng dầu và giao thông công cộng.
Tiến nói tiếp, sau vụ Nagasaki thì ở Hà Nội mọi người đã tin chắc rằng “Mặt trời đang lên đã đến lúc phải lặn”, nhưng tại Hà Nội, Việt Minh vẫn không nhận được một chỉ đạo đặc biệt nào. Trong nhiều ngày, hội viên các Đoàn thể Cứu Quốc đã thảo luận xem sẽ phải hành động như thế nào khi Nhật đầu hàng. Vào ngày 11-8, họ nhận được tin ủy ban Trung ương Đảng triệu tập Quốc dân Đại hội, nhưng giao thông liên lạc giữa Hà Nội và Tân Trào rất chậm và không an toàn, và nhiều hội viên Việt Minh Hà Nội vẫn phải sống trong một vòng bí mật.
Ngày 13 (ngày Hội nghị Đảng khai mạc ở Tân Trào), Xứ ủy Bắc Kỳ họp ở ngoại ô Hà Nội để ấn định phương hướng hoạt động. Một ủy viên nêu vấn đề viên Phó vương Bắc Kỳ (Khâm sai) Phan Kế Toại đã nhiều lần tỏ ý mong được gặp đại diện của Việt Minh. Ông này được mọi người biết là ủng hộ độc lập dân tộc nhưng dưới một triều vua Việt Nam và do Nhật đỡ đầu. Xứ ủy liền cử Nguyễn Khang(1) đi gặp viên Khâm sai để tìm hiểu xem ông có ý gì. Đúng như đã được dự kiến, viên Khâm sai đề nghị Việt Minh tham gia Chính phủ Bảo Đại(2) và ngừng các hoạt động chống Nhật. Khang đã bác bỏ lời đề nghị.
Hai ngày sau, khi Nhật tuyên bố đầu hàng, những người cách mạng ở Hà Nội vẫn không nhận được mệnh lệnh ở Tân Trào. Họ lại họp(3) và quyết định hành động trên cơ sở chỉ thị ngày 12-3 của Thường vụ ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương “cho phát động tổng khởi nghĩa khi có hoàn cảnh thuận lợi”. Họ cho đó là một sự phê chuẩn đầy đủ để hành dộng và Nguyễn Khang trong đêm ấy đã phổ biến quyết định cho những người cách mạng ở Hà Nội.
Để đối phó với một cuộc chiếm đóng của Trung Quốc, hoặc cũng có thể của cả Pháp, các nhà chức trách Nhật ở Bắc Kỳ đã bày ra cách bàn giao cho viên Khâm sai bộ máy hành chính địa phương, sở Bảo an binh, sở Mật thám trung ương, sở Kiểm duyệt và một số công sở ít quan trọng khác. Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, trong một cố gắng cuối cùng nhằm duy trì quyền lực cho Chính phủ Kim đã chết, đã bí mật họp ngày 16-8 ở Phủ Thống sứ và bằng một cử chỉ oanh liệt, tuyên bố tập họp quần chúng đi theo Bảo Đại, né tránh những người Cộng sản quốc gia, và hoãn không thời hạn rồi giải tán.
Cuối cùng, những người cách mạng Hà Nội cũng đã nhận được lệnh của Tân Trào cho phép phát động tổng khởi nghĩa, nhưng bản thảo luận họ lại thấy chưa được chuẩn bị sẵn sàng. Họ thấy cần phải phát động được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân và tiến hành một cuộc biểu dương lực lượng, nhưng cũng chưa biết phải làm thế nào. Gặp vận may hiếm có, chính đối phương của họ đã tạo nên một cơ hội tuyệt vời. Các phần tử dao động trong chính quyền Trần Trọng Kim, trong một cố gắng vô vọng nhằm để cứu vãn địa vị đang sụp đổ của mình, đã triệu tập một cuộc mít tinh quần chúng của Tổng bộ Viên chức vào ngày 17-8. Nắm ngay lấy cơ hội trời cho này, Thành ủy Hà Nội quyết định một cách táo bạo: bung phong trào Việt Minh ra công khai bằng cách phá vỡ cuộc mít tinh và chuyển nó thành một cuộc biểu dương lực lượng của Việt Minh. Trong khoảng thời gian còn lại quá ngắn ngủi, họ sôi sục chuẩn bị sắp đặt những thanh niên nam nữ đã được huấn luyện đặc biệt của Đội tuyên truyền vũ trang vào các vị trí chiến lược trong đám quần chúng để sẵn sàng đạo diễn cho tấn kịch.
Quần chúng tập trung trước cửa Nhà hát lớn để nghe các diễn giả chống Cộng kêu gọi ủng hộ độc lập dân tộc dưới quyền bảo trợ của Nhật. Khi người phát ngôn chính thức đầu tiên bắt đầu lên tiếng thì các đội viên Đội tuyên truyền cũng trương các cờ đỏ sao vàng ra và hô to “ủng hộ Việt Minh”. Mọi người hô theo và một sự hỗn loạn cực độ đã phá vỡ hoàn toàn chương trình tổ chức. Đâu cũng có cờ đỏ, nhấp nhô tung bay phất phới trên đầu quần chúng, hòa theo với những bài ca “Độc lập hay là chết”, “Đả đảo thực dân Pháp”, “Đế quốc Nhật cút đi” v.v... Ban tổ chức gắng lập lại trật tự nhưng đã quá muộn, họ không còn kiểm soát được tình hình nữa. Lúc đó, theo một tín hiệu đã định trước, nhiều đội viên đội danh dự, súng ngắn trong tay, nhảy lên bục và dồn các viên chức của Bảo Đại vào một góc, hạ cờ nhà vua xuống và trương cờ Việt Minh lên.
Các cán bộ tuyên truyền chuyển sang vừa kêu gọi quần chúng, vừa hô khẩu hiệu nhưng không có kết quả; quần chúng không tha thiết nữa và sự náo động bắt đầu nổi dậy. Cuối cùng, Nguyễn Khang, bằng những lời kêu gọi đầy xúc động, đã kéo quần chúng trở lại với việc ủng hộ Việt Minh. Lập luận của ông là Việt Nam đã giành lại được độc lập từ tay người Nhật, chứ không phải từ người Pháp, vì Pháp đã dâng Đông Dương cho Nhật từ năm 1940. Nay Nhật bị Đồng minh đánh bại và Việt Nam đã được tự do. Khang đã nói về độc lập đối với tất cả các nước ngoài - Nhật, Pháp và Trung Quốc, đã kết tội chính quyền Kim phục vụ quyền lợi cho ngoại quốc và kêu gọi quần chúng nổi dậy đánh đổ chính quyền tay sai, đấu tranh cho độc lập dân tộc cùng với Mặt trận Việt Minh và các nước Đồng minh chiến thắng.
Được quần chúng vững vàng ủng hộ, Khang yêu cầu họ sắp thành hàng và diễu hành tới dinh Toàn quyền để biểu thị tình đoàn kết và sức mạnh của mình. Lúc đó là một thời điểm khá gay cấn vì không một ai biết được Nhật và lính Bảo an sẽ làm gì. Nhưng họ đã không hành động để can thiệp. Khi cuộc diễu hành bắt đầu, binh lính Bảo an bồng súng và đi vào hàng cùng với những người biểu tình - một thắng lợi cực kỳ to lớn cho Việt Minh. Dọc đường, một số lớn những người ngoài cuộc cũng ùa đi theo cho nên một trận mưa trút nước lúc đó cũng chẳng làm dịu bớt tinh thần quần chúng. Cuộc biểu tình là một thắng lợi hết sức to lớn. Ngoài một sự xô đẩy nhỏ trên bục diễn giả, thì ở đây không có bạo lực và đổ máu.
Cuộc mít tinh quần chúng đã thể hiện như là một sự xuất hiện công khai và không có đối lập đầu tiên của Việt Minh coi như là một lực lượng chính trị, và điều đó đã phát động được sự phấn khởi của quần chúng tiến hành nhiều cuộc diễu hành và diễn thuyết đầy những lời ca tụng suốt trong ba hôm.
Ngay tối hôm đó, Thành ủy họp một phiên chiến lược và kết luận đúng là đã đến thời điểm phải tiến lên. Họ lý luận rằng chính quyền Kim đã không dám đương đầu với họ, trong khi đó thì lực lượng an ninh và cảnh sát sẽ đi theo họ cùng với vũ khí và tất cả. Họ thấy không có dấu hiệu là quân bại trận Nhật sẽ có hành động chống lại. Ngay cả đến đám thị dân vô chính trị cũng tỏ ra có cảm tình với chính nghĩa của họ. Một sự trì hoãn có thể trở nên nguy hiểm. Người Nhật cũng có thể thay đổi ý định của họ. Đám Quốc dân đảng thù địch như Đại Việt(4) và Phục Quốc(5) đã có những đơn vị vũ trang cũng có thể tổ chức chống đối. Còn quần chúng cũng có thể trở thành thờ ơ. Do đó Thành ủy đã có quyết định lịch sử ra lệnh khởi nghĩa vào ngày 19-8.
Lại bắt đầu một cuộc chuẩn bị sôi sục. Một ủy ban Quân sự cách mạng vạch kế hoạch tiến hành trong ngày, bắt đầu là một cuộc tập hợp quần chúng to lớn, sau chuyển thành một cuộc diễu hành khổng lồ tiến về dinh Toàn quyền, dinh Thống sứ, sở Mật thám, trại Bảo an binh, chợ và các mục tiêu khác gặp trên đường đi.
Sáng tinh mơ 19-8, một ngày chủ nhật, các đội viên Đội võ trang tuyên truyền tản ra các vùng ngoại ô và làng xóm chung quanh kêu gọi dân chúng đến tham gia vào cuộc tập trung ở trước cửa Nhà hát lớn. Đến 9 giờ, nhiều dòng người đi bộ hoặc xe đạp, theo từng nhóm gia đình hoặc láng giềng, lũ lượt phấn khởi kéo vào thành phố. Một số mặc lễ phục hoặc y phục địa phương. Họ được phát cờ Việt Minh hoặc các biểu ngữ mới được làm từ hôm trước và được tập dượt một cách vội vàng hoan hô hoặc hát mỗi khi có lệnh. Hầu hết mọi người đều gấp rút học lời và điệu bài quốc ca tương lai “Tiến quân ca”.
Họ từ mọi phía kéo về quảng trường trước cửa Nhà hát lớn, tràn vào các đường phố trong khu vực, hình thành một cảnh tượng đáng kinh sợ, một biển người đội trên đầu hàng ngàn cờ đỏ. Không có gì quá đáng trong sự diễn tả và các ảnh chụp lúc đó của những người Pháp được chung kiến. Dẫn đầu các dòng người là những đơn vị tự vệ được trang bị bằng tất cả mọi thứ vũ khí, từ khẩu súng tối tân Nhật cho đến khẩu mousqueton(6) của Pháp, súng kíp cổ lỗ và súng săn.
Đến giữa trưa, lực lượng của cuộc mít tinh lớn này được tổ chức lại thành các đội xung kích và tiến về hai hướng khác nhau. Một cánh tiến thẳng về phía dinh Thống sứ, chung quanh có hàng rào sắt cao che, có lính Nhật và lính Bảo an cùng gác. Những người biểu tình lao về phía hàng rào và kêu gọi binh lính hạ súng đầu hàng. Lính gác ngập ngừng, trong khi đó thì nhiều tự vệ đã leo vọt qua được hàng rào. Thấy thế, binh lính chỉ còn cách vứt súng xuống đất trước mắt họ và lặng lẽ rút lui. Những người biểu tình đã lọt vào trong và mở cổng. Dinh Thống sứ đã “bị chiếm”. Người ta phát hiện ra ngay viên Khâm sai và đám tùy tùng đã trốn đi từ trước. Đội tự vệ chiếm lĩnh tòa nhà, trương cờ Việt Minh lên thay vào chỗ cờ của nhà vua và đặt canh gác.
Đó là một thắng lợi cụ thể đầu tiên của Việt Minh và nó đã có tác dụng tượng trưng vô cùng to lớn. Chỉ trong một đòn và không phải bắn một phát súng, khái niệm về chế độ thực dân bị tan vỡ và toàn bộ chính quyền bù nhìn Bảo Đại công khai bị lật đổ.
Đội tự vệ Việt Minh đã tìm được một chỗ cất giấu lớn đầy vũ khí mới và đạn dược trong kho dinh Thống sứ. Có vũ khí mới, lại được một số Bảo an đào ngũ tăng cường thêm, đội tự vệ tiến về các công sở khác và đã chiếm được một cách dễ dàng.
Cánh thứ hai ào tới trại Bảo an binh. Viên chỉ huy trại, vốn là một người cảm tình bí mật của Việt Minh, đã nhanh nhẹn mở cổng vào trao nộp chìa khóa kho vũ khí. Việt Minh chiếm được nhiều vũ khí hiện đại, nhưng chỉ sau đó vài phút, họ đã phải đương đầu ngay với nhiều xe tăng cùng với nhiều xe vận tải đầy bộ binh Nhật được điều tới. Đây là một khó khăn. Những vũ khí mới cũng không giúp gì cho những người nổi loạn vì họ không biết sử dụng và Nhật cũng hay được điều đó. Dù sao thì khi nhìn thấy những vũ khí của Việt Minh, người Nhật cũng phải suy nghĩ. Trong lúc đó họ còn đang do dự thì Lê Trung Nghĩa(7) đã lên tiếng một vài lời và tác động mạnh đến họ bằng cách khéo léo chỉ ra cho họ biết là người Nhật đã bị bại trận và sắp tới họ sẽ được hồi hương. Người Việt Nam, Nghĩa nói, không còn coi họ là kẻ thù của mình nữa và nếu như họ không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, Nghĩa sẽ bảo đảm an ninh cho họ. Đến đó viên chỉ huy Nhật liền rút lui, để lại khu vực cho Việt Minh.
Đến chiều thì toàn bộ thành phố, trừ nhà Ngân hàng Đông Dương, Phủ Toàn quyền và các doanh trại Nhật, đã thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh hay chính xác hơn, của Thành ủy Hà Nội.
Trong nhiều năm, nhiều câu chuyện huyền thoại đã lan truyền chung quanh việc “chiếm” Hà Nội. Đây không phải là một cuộc đảo chính, không có đổ máu, không có khủng bố trả thù, không có chống cự của người Pháp, không có âm mưu bí mật hoặc điều đình thông đồng với Nhật và ngay cả đến một sự giúp đỡ to lớn của người Việt Nam ở bên ngoài Hà Nội cũng không có. Ngay sau khi ông Tiến kể lại các sự việc này với tôi, bốn ngày sau khi xảy ra sự kiện, tướng Giáp và đơn vị bộ đội thiện chiến của ông, cùng với thiếu tá Thomas và toán “Con Nai” vẫn còn đang đánh nhau với Nhật ở Thái Nguyên, cách xa Hà Nội khoảng 40 dặm. Hà Nội, thủ phủ của Bắc Kỳ, trung tâm quyền lực thực dân Pháp ở bắc Đông Dương, đã tự giải phóng lấy mình và đặt ra một khuôn mẫu cho việc giải phóng phần lớn khu vực còn lại của đất nước.
Câu chuyện tìm hiểu về Hà Nội đã phải ngừng lại vì trung úy Ogoshi tới, mang theo một công văn riêng của tướng Tsuchihashi. “Bộ chỉ huy tối cao”(8) lấy làm lo ngại về việc quân đội Trung Quốc tiến vào bắc Đông Dương. Các tiền đồn ở biên giới của Nhật báo cáo có 3 cánh quân Trung Quốc đã vượt qua biên giới ở Lào Cai, Hà Giang và Cao Bằng, và đang tiến về phía nam. Vì chưa tiến hành việc ký kết đầu hàng và người Nhật ở đây chỉ nhận được chỉ thị của Tokyo là “ngừng bắn”, nên việc vượt qua biên giới là không có lý do chính đáng và quá sớm. Do đó cũng có thể hiểu được rằng tình hình đã bắt buộc Nhật phải tự vệ để chống lại các cuộc tiến công của Đồng minh có thể xảy ra.
Nói thêm về bản công hàm của Sài Gòn, Ogoshi cho biết quan điểm của Tsuchihashi là việc vượt qua biên giới Đông Dương trước khi có sự ký kết đầu hàng cuối cùng sẽ gây ra tai họa cho tình hình chính trị tại Hà Nội, có thể gây nhiễu loạn và náo động trong dân chúng người Việt và người Pháp.
Tôi đã không chấp nhận bản công hàm và cho rằng nó có giọng kiêu căng và dọa nạt. Tôi lên tiếng báo cho biết rằng nếu các nhà đương cục Nhật ở Đông Dương muốn làm trái với lời công bố của Hoàng đế họ thì điều đó không có liên can gì đến người Mỹ cả.
Viên trung úy Nhật thấy tôi từ chối dứt khoát, có thể sẽ phải báo cáo lên cấp trên là đã không thực hiện được việc chuyển bức công hàm của Thống chế(9) cho Đồng minh. Tôi hiểu rõ và thông cảm với tình cảnh khó khăn của anh ta nên gợi ý là trong khi cuộc thương lượng ở cấp chúng ta chưa được xúc tiến thì có lẽ Bộ tư lệnh Cụm tập đoàn quân Nam nên đề xuất vấn đề này với cấp chính phủ ở Tokyo. Viên trung úy liền tươi tỉnh hẳn lên và xin rút lui.
Tôi báo ngay cho Côn Minh biết về bản công hàm và sự từ chối của tôi. Một giờ sau, tôi nhận được điện của Heppner: “Khá lắm!”


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:30:13 PM
NHỮNG TIN ĐỒN ĐẠI VỀ MỘT CUỘC THOÁI VỊ

Đang lúc bận rộn công việc thì một phóng viên UPI gọi điện báo muốn gặp tôi để kể về câu chuyện chúng tôi đến. Tôi hỏi ông ta về tình hình Huế và Sài Gòn. “Ồ, ở Huế có lắm chuyện lắm!”, ông nói, và tôi mời ông tối đến chỗ tôi, sau bữa cơm chiều. Ông ta là một nhà báo Việt Nam có nguồn tin khắp Đông Dương và đã làm việc cho UPI từ nhiều năm.
Vừa dùng cà phê và rượu mạnh, ông vừa cho biết tin về cuộc chiếm Hà Nội thành công đã lan đi rất nhanh, theo ông thì hãy còn quá sớm để có thể kết luận là Việt Nam đã được tự do và độc lập, nhưng quá rõ ràng là phong trào đã thổi bùng được sức tưởng tượng của quần chúng và không có gì ngoài một lực lượng vũ trang có thể khôi phục lại nguyên tình trạng cũ. Đã khẳng định được là khởi nghĩa đã thắng lợi ở ít nhất 7 tỉnh lỵ ở Bắc Kỳ và 5 ở Trung Kỳ như Việt Minh đã công bố. Cũng như ở Hà Nội, Việt Minh đã kiểm soát hoàn toàn các bộ máy hành chính ở địa phương. Các “Ủy ban nhân dân” của dân địa phương đã được thành lập ở các thành phố, làng xóm để điều khiển các ngành phục vụ công cộng và tòa án, duy trì trật tự v.v...
“Thế còn Chính phủ Trần Trọng Kim?”. “Nó đã hoàn toàn bị tan rã”. “Thế còn người Nhật? Tại sao họ lại không can thiệp?”.
Ý kiến của ông ta phù hợp với ý kiến ông Tiến, cho rằng sau các vụ nổ bom hạt nhân, Bộ chỉ huy tối cao Nhật ở Đông Nam Á đã tiến hành những biện pháp chuẩn bị cho việc đầu hàng không thể tránh khỏi. Theo ông, Nhật quyết định bàn giao chính quyền lại cho người Việt là do một động cơ phân biệt chủng tộc sai lầm. Từ đầu 1930, người Nhật đã đề xướng ra một chương trình đoàn kết chủng tộc để chống lại người da trắng ở châu Á, chủ yếu dựa vào bọn Sô-vanh hiếu chiến trong quân đội và những phần tử phân biệt chủng tộc trong Hiến binh. Chương trình Liên Á đó chỉ thu được kết quả ít ỏi trong người Việt Nam, nhưng sau thất bại trong chiến tranh, những phần tử cực đoan trong bộ chỉ huy của Thống chế Terauchi lại lặp lại chương trình đó với ý đồ đặt các nước Đồng minh phương Tây trước một vấn đề chủng tộc để nhằm làm phức tạp các vấn đề khác trong việc chiếm đóng sau chiến tranh.
Chính vì mục đích đó mà người Nhật ở Đông Dương đã chuyển giao phần lớn trách nhiệm chính quyền cho Chính phủ Bảo Đại đang chao đảo ngay sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng. Trần Trọng Kim, Thủ tướng của Bảo Đại, đã đưa đơn xin từ chức và lúc đó đang ở Huế chờ được chấp nhận. Viên phó vương Bắc Kỳ, Phan Kế Toại, cũng đã có ý muốn gắn bó với chính quyền lúc đó, nhưng sau cuộc họp cuối cùng của Hội đồng Tư vấn ngày 16-8 (buổi họp mật mà Tiến đã kể), viên Phó vương và hầu hết các phụ tá của ông đã cùng với các quan chức cao cấp chạy trốn vào kinh đô Huế.
Người của UPI cho rằng cái kế hoạch tai quái đó của Nhật đã bị thất bại, ít nhất cũng một phần, vì Nhật đã không 1ường trước được phải đối phó với một lực lượng thứ ba là Việt Minh. Tuy là người Châu Á, nhưng Việt Minh cũng còn là Cộng sản, chống Nhật kiên quyết, và là những người quốc gia vững vàng, và cũng chính vậy mà bọn phân biệt chủng tộc đã thất bại. Theo ông, trong tình hình đó, người Nhật đã chọn con đường để mặc sự đời, lo giữ an toàn cho bản thân mình và không làm gì để chống lại với lực lượng mới.
“Thế còn Bảo Đại?, chúng tôi hỏi tiếp, “Có một sự chống đối có tổ chức chống lại Mặt trận Việt Minh không?”.
Nhà báo, ra ngoài đề một chút, đã nhắc lại câu chuyện sau ngày 9-3 người Nhật đã phải tìm những nhân vật khác để quản lý đất nước phục vụ cho bộ máy chiến tranh của Nhật. Họ không muốn bị lên án là tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân Pháp, do đó đã tuyên bố cho Đông Dương độc lập và yêu cầu Bảo Đại hợp tác trong khối thịnh vượng chung Đại Đông Á và phòng thủ đất nước chống lại Đồng minh.
Theo ông nghĩ, Bảo Đại cũng không mơ tưởng gì đối với người Nhật nhưng cũng phải ưng thuận và thành lập một Chính phủ mới mà Tokyo có thể chấp nhận, chỉ định Kim, một trí thức có tuổi, làm Thủ tướng. Chính phủ gồm phần lớn các giáo sư, luật gia và một số quan lại cũ. Một chính phủ ốm yếu và tất phải sụp đổ ngay từ bước đầu. Bốn tháng hoạt động không có kết quả đã đưa Kim đến chỗ phải xin từ chức đúng giữa lúc Việt Minh đã sẵn sàng phải tiến lên.
“Thế Bảo Đại làm thế nào?”, chúng tôi lại hỏi. Ông đáp, Bảo Đại đã yêu cầu Kim ở lại và cuối cùng Kim đã cho ra một thông cáo báo chí nói rõ ý định của ông ta nhằm bảo vệ độc lập của Đông Dương giành lại được từ tay người Nhật ngày 9-3 và nhấn mạnh rằng người Việt Nam không khi nào chịu để cho Pháp nô dịch một lần nữa.
Hai ngày sau, Kim xúc tiến việc thống nhất các nhóm chính trị và tư tưởng khác nhau trong việc ủng hộ cố gắng của Bảo Đại nhằm cứu vãn “Vương quốc” bằng cách thành lập ra một “Ủy ban cứu quốc”. Ngày hôm sau Việt Minh chiếm Hà Nội.
Chúng tôi nói chuyện cho đến tận khuya và lúc đó nhiều tin đồn đại về việc Bảo Đại sắp thoái vị và lan tràn ra khắp phía. Triển vọng thành hình làm cho người khác chán nản, theo quan điểm của họ thì một sự kiện như thế có thể sẽ chấm dứt các yêu sách đối với thuộc địa cũ của Pháp. Cảm tưởng của người Việt thì lẫn lộn. Một số, chấp nhận xu hướng thân Nhật của chính quyền Bảo Đại, lại lập luận rằng ít nhất đó cũng là một chính quyền Việt Nam và không thân Pháp.
Căn cứ vào các nguồn tin tôi có lúc đó, thì chính quyền Bảo Đại thực sự đã chấm dứt và Việt Minh đã nắm được chính quyền khắp nơi, mặc dù tôi không đánh giá hết được quy mô thắng lợi của họ. Tin tức của chúng tôi từ Sài Gòn gửi đến thì quá vụn vặt. Còn các phần tử thân Trung Quốc, đối lập với Việt Minh lúc đó mới bắt đầu ló ra, có thể vì họ biết tin quân đội chiếm đóng Trung Quốc đã sẵn sàng vượt qua biên giới. Toán của chúng tôi cũng thu lượm được một ít báo cáo về sự khiêu khích của Pháp và hoạt động của đội quân thứ 5 của Nhật.
Về vấn đề tình hình tù binh chiến tranh và việc đầu hàng của lực lượng Nhật, tôi cũng gặp khó khăn. Một ngày, một đêm rồi mà vẫn không nhận được tin gì của tướng Tsuchihashi. Phiền hơn nữa là tôi đã lường trước việc Trùng Khánh sẽ đưa ra các điều kiện và ý kiến của họ về cuộc đầu hàng, ấy thế mà các điện báo của họ vẫn hoàn toàn im lặng về vấn đề này. Thật là một điều lạ lùng đối với tôi, đại diện cho những nước lớn thắng trận mà vẫn bị bất lực chỉ ngay trong việc gặp gỡ với các tù binh chiến tranh.
 
________________________________________
(1) lúc đó là Chủ tịch Ủy ban quân sự Cách mạng Hà Nội
(2) tức chính phủ Trần Trọng Kim
(3) Cuộc họp diễn ra ngày 15-8-1945, tại làng Vạn Phúc, ngoại ô Hà Nội
(4) tức Đại Việt Quốc dân đảng
(5) tức Việt Nam Phục quốc Đồng minh hội
(6) súng trường
(7) Ủy viên Ủy ban Quân sự Cách mạng Hà Nội
(8) Cụm Tập đoàn quân Nam của Nhật
(9) tức Bá tước Hisaichi Terauchi, Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân Nam của Nhật


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:31:34 PM
Chương 18
Những lời kêu gọi và những người kêu gọi
SAINTENY TRONG “LỒNG VÀNG”
Tôi chú ý đến Sainteny và nhóm của ông ta sau khi có một báo cáo giả mạo về việc họ bị bắt. Chúng tôi thăm nhóm này tại dinh Toàn quyền, không những thấy họ “khỏe và vui vẻ”, mà còn thấy đẻ thêm ra: nhóm có 5 người nay, tăng lên thành 11. Số mới là từ toán của Blanchard tới, trước họ ở Hải Phòng nhưng nhờ sự giúp đỡ của Nhật nên đã nhập vào với Sainteny.
Sáng hôm sau, tôi tới thăm Sainteny một mình. Ông ta phàn nàn một cách bi thảm rằng thực tế ông ta là một người tù trong dinh và tôi không làm gì để giúp ông ta cả. Đoạn ông ta nói đến chuyện đang làm ông ta giận sôi lên. Một tờ báo địa phương của Đông Dương đã viết: “Việt Minh đã chiến đấu cùng với quân Mỹ ở Bắc Kỳ, sẽ nhanh chóng kéo về để đánh đuổi nhũng kẻ áp bức ngươi Pháp là thủ phạm đã làm cho 2 triệu người chết đói năm ngoái”. Bài báo còn làm Sainteny choáng váng vì đã nêu đích danh thiếu tá Thomas trong khi Sainteny vẫn còn cay cú về vụ Montfort... Nhưng chúng tôi đã gác chuyện đó lại để nhận định tình hình Pháp ở Hà Nội.
Trước hết, vẫn còn tù binh Pháp ở trong Thành. Tôi hỏi có trường hợp quan trọng đặc biệt nào cần phóng thích mà ông ta muốn tôi gây sức ép để thả ra không? Sainteny vội nói: Có, tất cả những người Pháp đang bị giam giữ. Tôi không tin là chúng ta có thể làm cho người Nhật thả ra tất cả, nhưng cũng đồng ý đặt thành một vấn đề thảo luận với Nhật. Sainteny cho biết ông ta không thể làm được gì cả trong tình trạng bị giữ như một người tù trong dinh, sau này được nói đến như là một một thứ “lồng vàng”.
Vấn đề thứ hai Sainteny nói tới là tình thế của người Pháp ở Hà Nội. Có thể làm được gì cho họ? Tôi khuyên rằng cách tốt nhất cho họ vào thời điểm này là nên lắng lặng để tránh bất cứ sự cố gì có thể dẫn đến việc trả thù phía người Nhật cũng như người Việt Nam. Theo đánh giá của tôi thì tình hình không ổn định trên tất cả các thành phố Bắc Kỳ sẽ đặt người Pháp vào tình trạng tự sát, nếu họ co ý muốn đối đầu với Việt Minh. Nhưng Sainteny lại tỏ ra không bình tĩnh trước việc tôi không tán thành một cuộc biểu dương lực lượng của Pháp.
Tôi cũng mô tả cho Sainteny thấy đang có một xu hướng thân Trung Quốc nổi lên mạnh mẽ trong một số giới dân chúng, và toàn thành phố tràn đầy cờ Trung Quốc và những áp phích ủng hộ Quốc dân đảng. Ông ta lại cho rằng như vậy là có lợi cho người Pháp vì nó cho thấy là Việt Minh không kiểm soát được toàn bộ dân bản xứ. Tôi phải đồng ý, nhưng vẫn cho rằng không có dấu hiệu gì tỏ ra họ ủng hộ người Pháp. Sainteny quả quyết nói chúng ta không thể cho phép người “Annam” tự do cầm cương nẩy mực trên đất nước này được.
Chúng tôi lại bị kéo lại một vấn đề cũ, nhưng tôi không có ý định để cho phái đoàn của chúng tôi bị lôi cuốn vào kế hoạch của Sainteny. Chẳng một ai tin được rằng một cuộc đấu sức liều lĩnh của tất cả người Pháp ở Bắc Kỳ lại có phép thần diệu lật đổ được Việt Minh trong lúc này. Ngược lại, việc đó sẽ chống lại họ một cách không thể cưỡng lại được. Cũng có điều thật đáng ghi nhận là dân chúng Pháp tại Hà Nội, trong khi tha thiết mong nhóm nhỏ người Mỹ chúng tôi lao vào tấn công Thành Hà Nội thì chưa có một lúc họ dám khởi sự mở một trận đánh của người Pháp vào đó, cả trước và sau khi Sainteny tới. Trong bất cứ tình huống nào, toán của chúng tôi đến đây không phải là để tiến hành đánh hộ cho người Pháp.
Sainteny thường xuyên bất đồng với tôi về vấn đề này, nhưng tôi cũng sẵn sàng để ông giang rộng hai tay ra và nói: “Thôi được, cả hai chúng ta hãy cố gắng làm lấy phần việc của mình. Tôi hiểu lập trường của ông. Ông làm ơn gửi bức điện này đến tướng Alessandri hộ tôi có được không? . Tôi nhận lời. Và đây là bức điện:
“Tất cả quân nhân Pháp dưới quyền thiếu tá Sainteny đang bị giam giữ tại tầng một dinh Toàn quyền. Họ không được phép đi quá đường biên quy định và cũng không được phép gặp người đến thăm, trừ Patti”.
Khả năng có thể xảy ra cuộc đụng đầu nguy hiểm là việc cần phải ngăn chặn trước hết. Báo chí đã đăng tin Thomas đến đây và lại được gán cho việc dẫn đầu đạo quân của ông Hồ, điều đó báo hiệu là sẽ có một cuộc biểu tình lớn chống Pháp. Cho rằng những cuộc biểu tình này đôi khi có thể trở thành những cuộc tàn sát, nên khi trở về khách sạn, tôi điện cho Côn Minh về bài báo, nhấn mạnh tầm quan trọng phải thuyết phục toán “Con Nai” của chúng ta tách khỏi lực lượng Việt Minh và rời Hà Nội trở về Côn Minh bằng đường hàng không. Tôi cũng báo trước là rối loạn thật sự có thể nổ ra nếu một quân nhân Pháp quất hiện trên đường phố của bất cứ thành phố nào ở Bắc Kỳ và yêu cầu bằng những lời lẽ kiên quyết nhất cho rút 3 toán biệt kích (SO) của chúng tôi đang hoạt động dọc biên giới phía Bắc, trở lại Côn Minh, trước khi cho họ đáp máy bay đi Hà Nội, nhưng không được để những đồng nghiệp người Pháp của họ đi cùng. Tôi hy vọng bằng cách này sẽ tách được tất cả người Mỹ chúng tôi ra khỏi hoạt động của Việt Minh cũng như của người Pháp. Nhưng các toán biệt kích của chúng tôi rất ngang bướng. Mệnh lệnh cho họ đến Côn Minh không có hiệu lực gì mấy, vì họ đang hăng say và muốn tiếp tục theo đuổi con đường riêng của mình cho tới khi đạt thắng lợi.
Trong khi tôi làm ít nhiều những điều vô bổ này thì thượng sĩ Altman phải đi đón chiếc máy bay chở đợt thú hai của toán chúng tôi đến cùng với mấy tạ đồ tiếp tế khẩn cấp của AGAS gửi cho các tù binh... Đồng thời đoàn của chúng tôi, để có chỗ rộng rãi và an toàn hơn, cũng chuyển đến nơi ở mới. Grelecki đã chọn trong số nhà trước đây do người Nhật ở, lấy nhà Gauthier rộng rãi và thanh lịch với vườn hoa và khu đất đầy quyến rũ cạnh hồ Gươm.
Một việc trọng đại hơn nữa là tôi đuợc báo cho biết tướng Tsuchihashi đã đồng ý cho tôi đến thăm tù binh chiến tranh, mặc dù ông ta vẫn từ chối phóng thích các tù binh đó cho đến khi các lực lượng chiếm đóng tới. Tôi chuẩn bị ngay với người Nhật để đến xem xét Thành Hà Nội và trại tù binh Gia Lâm.

TÙ BINH CHIẾN TRANH

“Thành” là một doanh trại quân đội cũ của người Pháp ở khu vục bắc Hà Nội, gồm gần 100 nhà lầu đủ các loại… Trước đây là nhà tù quân sự có tiếng của Pháp, bây giờ đang giam giữ những người mà người Nhật coi là những tù nhân phiền nhiễu nhất của họ, trong đó có cả những “chiến sĩ kháng chiến” của De Langlade - Mordant.... Ở cổng Thành, chúng tôi(1) được một thiếu tá Nhật đón... và dẫn chúng tôi tới ban quản lý trại gặp trung tá Kamiya(2), một sĩ quan Nhật khá lịch sự...
Tôi đề nghị bắt đầu được xem bản danh sách tù binh... Kamiya nhìn tôi sửng sốt rồi giải thích là có đến hơn 4.000 tù binh và việc làm hồ sơ về tất cả số đó là một điều cực kỳ khó khăn... Tôi nói Bộ chỉ huy Đồng minh khẳng định một cách dứt khoát rằng họ cần phải có bản danh sách trong vòng 72 giờ đồng hồ. Kamiya hứa sẽ cố gắng hết sức mình.
Chúng tôi bắt đầu đi một vòng quanh khu vực bệnh viện... Khi chúng tôi vào phòng đầu, những người gần cửa nhất dò xét những bộ quân phục của chúng tôi rồi ngồi dậy ngay trên giường của họ, im lặng và hốt hoảng: tất cả cử động trong phòng ngừng bặt...
Tôi dừng lại ở một trong những giường đầu, một thân hình nhợt nhạt cố ngồi dậy chào nhưng chỉ đặt được một chân xuống mép giường. Tôi nắm tay anh ta và nói chiến tranh đã kết thúc. Đôi mắt anh vụt sáng lên và hỏi với giọng yếu ớt: “Người Mỹ phải không?”. “Phải”, tôi trả lời. Tất cả những gì anh ta có thể nói được là “cảm ơn”…
Nơi chúng tôi đến thăm tiếp theo là một số buồng giam của tù binh, ở đó chúng tôi được thận trọng giữ một khoảng cách với những người tù. Họ đứng xếp hàng theo kiểu nhà binh phía ngoài trại khi chúng tôi đi vào bên trong. Rõ ràng nhà đương cục Nhật không muốn cho chúng tôi xem nhiều. Họ cẩn thận chọn những khu vực cho xem và giữ an ninh chặt chẽ. Cho dù ở trong điều kiện nghiêm ngặt, tôi vẫn có thể nghe vọng lại tiếng hô từ xa “Nước Pháp muôn năm!”, “De Gaulle muôn năm!”.
Cuộc viếng thăm mở đầu của chúng tôi trong Thành kéo dài khoảng hai giờ rưỡi. Tôi biết được nhiều điều, nhưng vẫn chưa đủ.
…Chúng tôi đến trại tù binh Gia Lâm vào giữa cơn mưa bất chợt...
Trại Gia Lâm tương phản với “Thành” vì có những tháp canh, hàng rào kẽm gai cao, đường xá lầy lội, pháo phòng không và xe bọc thép, tạo nên vẻ ngoài của một đơn vị đang hoạt động.
Trên đường đến sở chỉ huy trại, tôi nhìn thấy những hàng dài tù binh Ấn Độ cầm dụng cụ đựng thức ăn tập thể, đang chờ được phát cơm. Khi chúng tôi đến nơi, tôi vẫy họ và trả lời bằng những tiếng hò reo hào hứng, dùng đồ đựng cơm khua ầm ĩ, nhưng chúng tôi đã vội ngăn họ lại...
Thiếu tá Oshima(3) đứng đón chúng tôi ở cửa, chỉnh tề trong quân phục với mũ lưỡi trai, đeo kiếm, giải thắt... Tôi đoán Oshima khoảng 35 tuổi, có vẻ nghiêm nghị và xuất hiện với một tư thế đầy tự chủ...
Tôi hoàn toàn ngạc nhiên khi thấy, theo yêu cầu của tôi, Oshima đã trao cho tôi mấy tập giấy ghi danh sách tên, chức vụ và số phân loại tù binh. Bản đó do “đại úy phụ trách tù binh chiến tranh Ấn Độ tại Gia Lâm - Simpson Johnes” chuẩn bị và ký tên, có 287 tù binh, tất cả đều là người Anh. Oshima hỏi tôi bao lâu nữa thì Đồng minh tiếp quản trại? Tôi trả lời trong vòng một tuần hoặc 10 ngày. Anh ta không vui và nói rằng có một số ít tù binh gặp khó khăn vì đã gây ra những chuyện rắc rối từ giữa tháng 8, ảnh hưởng đến an ninh và an toàn của trại, của các tù binh khác…
Chiều hôm đó, tôi dã nói chuyện riêng với Simpson Johnes và nhấn mạnh tầm quan trọng phải tránh đừng để xảy ra những chuyện rắc rối và tránh gây bạo lực.
Sau bữa cơm trưa, tù binh xếp hàng trước các trại của họ. Oshima gợi ý tôi có thể kiểm tra họ. Tôi đã làm, tranh thủ cơ hội quan sát họ trực tiếp và nói chuyện với một số người...
Trong văn phòng của Oshima, tôi nhận xét điều kiện sinh hoạt vật chất của tù binh thật tồi tệ… Tuy vậy, những tù binh Ấn Độ này có khá hơn những người trong Thành. Tổ chức và quy mô của trại tù đã mang lại được một trạng thái tinh thần tốt và những người tù có thể giúp đỡ lẫn nhau được.
Tôi không thể làm điều gì có giá trị thực tiễn tức thời để cải thiện điều kiện sinh hoạt của các tù binh, ngoài việc phản kháng với tướng Tsuchihashi, và ông ta đã hứa sẽ xem xét vấn đề đó. Tôi cũng thông báo cho Côn Minh và được nhắc nhở rằng không nên hành động gì cho đến khi nào người Trung Quốc nắm quyền kiểm soát sau khi làm xong thủ tục giải giáp ở Hà Nội. Câu trả lời đó cũng cho thấy sẽ không thể làm được điều gì nếu không có sự tán thành và hợp tác của người Nhật.
Trở lại nhà Gauthier, thủ trưởng AGAS muốn gặp riêng tôi. Chúng tôi đi bách bộ trong vườn và anh ta cho tôi xem một bản ghi bằng tiếng Pháp tên, cấp bậc và số phân loại của một người Mỹ trong Thành. Bản đó đã được một người Pháp chuyển cho AGAS. Chúng tôi ở trong tình thế lúng túng và không thể hỏi người Nhật vì họ không thể biết được người của chúng tôi.... Tôi cho tổ X2(4) biết họ phải làm gì. Ngày hôm sau, một cộng tác viên của AGAS trước đây ở bệnh xá trong Thành, ông M. Orthet, đã phát hiện được một người Mỹ tự nhận là công dân Hungari trong đội lính lê dương Pháp. Anh ta thuộc đội bay bị hạ năm 1943. Ngày 28-8, người Nhật trao anh ta cho tôi và mấy ngày sau anh ta đã được bay về nước.
Grelecki có những người khách trong khi tôi đi vắng, trong đó có Lê Xuân, một người Việt trẻ tuổi, người của Mặt trận Việt Minh. Anh ta khẩn khoản đề nghị được nói chuyện trực tiếp với tôi. Hồ Chủ tịch, anh ta nói, đang trên đường về Hà Nội và muốn gặp tôi. Grelecki bảo anh ta nên trở lại vào ngày hôm sau. Đây là lần đầu tiên, từ khi toán “Con Nai” rời Tân Trào, chúng tôi mới lại có dịp để tiếp xúc với nhau, kể cả gián tiếp. Tình hình của ông Hồ hiển nhiên là đã thực hiện được một bước nhảy vọt kỳ diệu, và tôi mong đợi Lê Xuân trở lại với một sự quan tâm đầy hứng thú.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:32:12 PM
NGƯỜI ĐẠI DIỆN XÔ VIẾT

Tối hôm đó, Stéphane Solosieff, người đại tiện Xô Viết tại Đông Dương đến thăm tôi. Ông ta gặp tôi trong những giờ đầu tiên tôi đến Hà Nội, và lần này tôi đã mời ông đến dùng rượu. Một con người vui vẻ, ở độ tuổi cuối 40, với nụ cười cởi mở và trung thực, Solosieff là một người khách không bình thường. Không giống người Pháp bị tổn thương đang đi tìm kiếm sự đền bù, hoặc người Nhật bại trận với sự kìm chế những suy nghĩ thầm kín của họ đằng sau những bộ mặt nghiêm nghị, hay người Việt Nam đang ra sức tranh thủ để được thừa nhận; Solosieff đến như một người chiến thắng, một đồng minh, một người bạn. Ông ta tự giới thiệu là người liên lạc của Xô Viết với các cơ quan chính trị của Nhật ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn; có trách nhiệm chăm lo đến các quyền lợi của các công dân Xô Viết ở Đông Dương mà theo ông thì có tới 5 hay 6 ngàn người. Vài trăm trong số này nằm trong đội lính lê dương của Pháp, còn một số lớn khác thuộc dân thường. Chắc chắn là nhiều người đã được đưa vào tổ hợp thương mại lớn của Nhật đang hoạt động ở Đông Dương.
Ngay buổi đầu nói chuyện tôi nhận thấy Solosieff là một người thông minh, thức thời và thông thạo nhiều thứ tiếng, cả Anh và Pháp và nhất định cũng giỏi tiếng Nhật nữa. Tôi đã gặp vài người Nga cỡ như ông ta ở châu Âu và đảm bảo rằng anh ta cũng là một cán bộ chính trị của Matxcơva. Buổi tối trôi qua, trực giác của tôi đã chứng minh là đúng và tôi lấy làm vui vì anh ta không có ý định che giấu vai trò của mình. Còn tôi, mọi người đều biết tôi là một sĩ quan OSS.
Chúng tôi đã tìm thấy quan điểm chung khi bình luận về việc Việt Minh giành chính quyền và suy đoán về những thành tựu mới của họ một khi người Pháp quay trở lại. Solosieff cho rằng người Pháp sẽ phải đi theo một đường lối rút lui dần mà không thể chủ trương quay trở lại nguyên trạng như trước. Anh ta nghĩ rằng người Việt Nam chưa hoàn toàn sẵn sàng cho một nền độc lập hoàn toàn và đang còn cần phải có một sự bảo trợ của một nước lớn để ngăn cản những tham vọng về lãnh thổ của người Trung Quốc và Thái Lan. Tôi lưu ý rằng Tưởng đã đi trước một bước, khi ông tuyên bố không đòi hỏi quyền lợi gì ở Đông Dương, ngoài những phạm vi mà người Pháp có dính líu vào. Nhưng Solosieff không tin sẽ lại có thể như vậy. Solosieff nghĩ rằng Pháp vẫn là nước được trang bị tốt nhất trong các nước lớn phương Tây để tái thiết đất nước và đưa nhân dân Việt Nam đến một chính phủ tự quản.
Solosieff dã được nghe người Pháp nói là Hồ Chí Minh và Việt Minh được sự “bảo trợ” của người Mỹ và hỏi xem có đúng như vậy không. Tôi thẳng thắn nói với ông ta rằng chúng tôi đã chấp nhận sự cộng tác với Việt Minh trong các hoạt động bí mật chống Nhật, nhưng Mỹ không có cam kết gì trong việc can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Đông Dương.
Tôi hỏi Solosieff về lập trường của người Xô Viết trong vấn đề Đông Dương, và nhắc đến việc ông Hồ do Liên Xô đào tạo, đã là một phái viên của Quốc tế Cộng sản trong nhiều năm và gần đây lại là một đại biểu Cộng sản do Matxcơva chỉ đạo.
Câu trả lời của Solosieff nghe giống một cách lạ lùng như tiếng vọng của ảo tưởng Roosevelt: thời đại của chủ nghĩa thực dân Pháp đã qua, người Đông Dương phải gánh lấy trách nhiệm dân tộc của mình, cho dù họ có thể chưa đủ sức nắm quyền cai trị một mình. Có thể với sự giúp đỡ sáng suốt của người Pháp và sự viện trợ kỹ thuật của người Mỹ, họ có khả năng thực hiện được nền độc lập dân tộc trong vòng ít năm. Ông ta không nói thẳng ra, nhưng lời bình luận của ông ta đã làm tôi nhớ đến khái niệm quyền ủy trị mà Roosevelt đã nêu ra và ít nhiều cũng đã được Xtalin tán thành tại Yalta.
“Còn Liên Xô thì sao?”, tôi hỏi. Ông ta không tin rằng Liên Xô sẽ giữ địa vị của một nước trung gian can thiệp vào Đông Nam Á. Ông ta nói theo đường lối lúc bấy giờ rằng “Nước mẹ Nga”, sau cuộc đánh phá ác liệt của bọn Quốc xã, cần phải có thời gian để xây dựng lại. Đó cũng là quan điểm của ông Hồ đã từng bày tỏ với tôi. Những người Cộng sản trên toàn thế giới phải giữ vững đường lối theo xu hướng này và bảo tồn lấy lực lượng của họ, trong khi “Nước mẹ Nga” đang hồi phục. Solosieff còn nghĩ xa hơn nữa, rằng sự can thiệp của người Liên Xô vào Đông Dương sẽ gây ra xung đột với những quyền lợi truyền thống của Anh và Pháp, mà điều đó lại không đáp ứng được những quyền lợi tối cao của Liên Xô trong lúc này.
Chúng tôi nói về các sự kiện ở Sài Gòn mà tôi không biết gì mấy. Theo anh ta, người Nhật đã chuyển quyền kiểm soát Chính phủ cho một nhóm nhỏ Cộng sản dưới sự lãnh đạo của “bác sĩ” Trần Văn Giàu và Việt Minh ở Sài Gòn tiến triển rất nhanh; người Anh sẽ gặp khó khăn ở đó. Solosieff có nhã ý muốn tạo điều kiện cho tôi tiếp cận với những người am hiển tình hình hơn, nhưng tôi đã phanh lại và chỉ giới hạn vào những gì đang quan tâm. Sự thật là tôi cũng rất thích thú nhưng không muốn tự xác định mình trước sự nhạy cảm của Solosieff.
Vừa uống vodka, chúng tôi vừa nói chuyện trong không khí thoải mái của một cuộc viếng thăm mà tôi tin rằng cả hai chúng tôi đều thú vị. Khi ra về, Solosieff nhờ tôi chuyển một bức điện cho sứ quán Liên Xô ở Trùng Khánh. Bức điện bằng tiếng Pháp, đề nghị sứ quán Liên Xô gửi sang Hà Nội một người đại diện để giải quyết vấn đề phóng thích “một số người tình nguyện Nga” trong đội Lê dương bị giam giữ như tù binh chiến tranh và “nhiều việc khác”.
Cuối cùng, Solosieff hỏi tôi có nghe nói về một người Nga tên Andrei Voskressensky không? Tôi không nghe nói. Gia đình anh ta ở Nga không nhận được tin gì của anh ta từ cú 9-3. Khoảng 10 ngày sau, toán X2 của chúng tôi tình cờ đã gặp tên anh này trong khi sưu tầm chứng cứ về các tội phạm chiến tranh sở Hiến binh Nhật. Hồ sơ của Hiến binh tiết lộ Voskressensky sống ở Hà Nội và được Hiến binh Nhật sử dụng từ 9-3. Bố anh ta là người Nga, mẹ là người Nhật, nhưng sau đó bà đã chuyển thành công dân Pháp. Người cha đã từng có thời kỳ làm tùy viên hải quân Liên Xô ở Tokyo, còn người con làm thư ký cho tùy viên Đại sứ quán Pháp tại Tokyo. Tháng 9-1942, Decoux đã yêu cầu cho chuyển người con sang Hà Nội và làm việc cho cảnh sát Pháp cho đến cuộc đảo chính, sau đó anh ta chuyển sang làm cho Hiến binh Nhật. Tôi đoán được tại sao Solosieff lại muốn tìm Voskressensky, rõ ràng không phải vì lý do nhân đạo, và chúng tôi cũng không để lộ ra câu chuyện của anh này cho Solosieff rõ.
Tôi đặc biệt chú ý đến lời ám chỉ của Solosieff tới những “người tình nguyện Nga” trong đội Lê dương. Trước đây, một sĩ quan Pháp ở Trình Tây đã nói rằng Alessandri có một bản danh sách về những người lính Lê dương đã bị tòa án binh xử vì hoạt động theo Cộng sản năm 1944, nhưng tôi coi đó là chuyện tầm phào. Sự thừa nhận của Solosieff đã đặt lại vấn đề và tôi đã cử toán X2 tiến hành điều tra hoạt động của những người Xô Viết trong đội Lê dương. Họ đã phát hiện ra được ngay một chi bộ Cộng sản được tổ chức chặt chẽ trong đám lính Lê dương bị giam trong Thành. Không phải chỉ có người Nga, mà họ gồm cả những người Cộng sản Đức, Bỉ, Hungari, những người xã hội Úc và những người cấp tiến Pháp. Trước 9-3, chi bộ trà trộn vào phong trào Langlade – Mordant, và có hợp tác với Việt Minh. Trong thời kỳ người Pháp rút sang Trung Quốc, một số đã đào ngũ và gia nhập hàng ngũ của ông Hồ làm nhân viên tình báo và huấn luyện viên về chiến thuật và sử dụng vũ khí.
Qua việc phỏng vấn những người Việt trong đội Tuyên truyền Giải phóng quân ở Hà Nội và những đảng viên người Âu trong chi bộ, chúng tôi cũng đã điều tra được lịch sử của chi bộ. Cuối năm 1944, để che giấu hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã cho thành lập Mặt trận dân chủ chống Nhật ở Đông Dương. Với bề ngoài là chống Nhật và chống phát xít, người của Mặt trận khó có thể bị phát hiện là Cộng sản và có nhiều cơ hội để làm việc ngay trong chính quyền của Decoux. Một trong những mục tiêu chủ yếu của Mặt trận nhằm phát triển vào các phần tử ngoại quốc có xu hướng chống phát xít. Nó đã đặt được liên lạc với đội Lê dương và tổ chức ở đó một nhóm “Xã hội - Cộng sản”. Tháng 11-1944, nhóm này đã được mời tham gia hành động chung chống phát xít Nhật và Pháp ở Bắc Kỳ. Người ta đã nhất trí để số Lê dương này cộng tác với những người thuộc phái De Gaulle và sẽ dùng ảnh hưởng của họ đối với chính quyền Decoux để ngăn chặn hoặc giảm bớt việc trưng thu thóc gạo, giúp giải thoát tù chính trị và tiếp tế vũ khí cho Việt Minh. Còn những người Trung Quốc có cảm tình với Mặt trận thì làm việc trong quân đội Quốc dân đảng để giúp Việt Minh ở ngoài lãnh thổ Đông Dương. Những người theo De Gaulle nhút nhát, đã không làm được gì, nhưng các “đồng chí” Trung Quốc, đã hoạt động có hiệu quả hơn. Nhưng sau cuộc đảo chính 9-3 thì chỉ còn những hạt nhân cứng rắn trong đội Lê dương vẫn còn trung thành với Việt Minh và gia nhập hàng ngũ của họ.
Solosieff rõ ràng đang cố gắng để kéo khỏi Thành, và có thể ra khỏi Đông Dương những nhân viên Xô Viết đã dính líu vào Mặt trận nói trên, trước khi các lực lượng của Trung Quốc và Pháp đến. Nhưng chúng tôi cũng được biết rằng, trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt, trong hàng ngũ quân đội của Giáp, có nhiều người trước đây là lính Lê dương cũ, đã giữ những vai trò như cố vấn và chính ủy.
Trong những ngày cuối tuần ở Hà Nội, tôi có hỏi Hồ Chủ tịch về ý nghĩa việc chuẩn bị tổ chức các “Đơn vị chiến đấu ngoại quốc” như đã định trong kế hoạch tháng 4-1945 của Hội nghị Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ. Nửa đùa, nửa thật, ông nói: “để chăm lo cho những người bạn Mỹ trong cuộc đấu tranh giành độc lập của chúng tôi”. Với một thái độ bình thản hơn ông giải thích rằng các đơn vị đó được lập ra từ những người lính Pháp, chủ yếu là lính Lê dương, “những người đã chán ngấy chủ nghĩa thực dân Pháp”.
Trong những tuần tôi ở Hà Nội, tôi lấy làm thích thú được quan sát Solosieff vài lần đánh bạn với các chính khách Nhật, những người Pháp có thế lực, các nhà lãnh đạo Việt Minh và những người Trung Quốc có tiếng. Ông ta là người Xô Viết duy nhất có mặt có thể thấy được lúc đó và ông ta đã đóng vai trò của mình một cách khá kín đáo.
 
________________________________________
(1) cùng với tôi có nhân viên của AGAS và viên sĩ quan liên lạc người Nhật
(2) sau này được xác định là thủ trưởng Ban liên lạc quân đội Nhật ở Hà Nội.
(3) nguyên thủ trưởng sở Hiến binh Nhật tại Hà Nội
(4) tổ phản gián


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:33:14 PM
Chương 19
Câu chuyện về hai thành phố
MỘT CUỘC HỌP BÁO
Sự mong đợi của tôi về tin tức những gì xảy ra ở Sài Gòn vẫn là điều cấp bách. Dù có sự phân chia mới đây ở vĩ tuyến 16, nhưng chúng tôi trong OSS vẫn coi Việt Nam là một dân tộc và quan tâm đến các sự kiện ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Thực may mắn mà tôi đã tìm được một nguồn thông tin tuyệt vời từ những cơ quan báo chí địa phương. Tôi không biết gì về việc người Sài Gòn đang tổ chức lễ mừng thắng lợi khá to vào ngày 25-8 khi chúng tôi tiếp một nhóm độ 12 người Việt Nam đại biểu cho những tờ báo lớn ở Hà Nội. Họ đã đến gặp “Phái bộ Đồng minh” để xin ý kiến về việc viết xã luận và kiểm duyệt tin tức. Chúng tôi mời họ vào phòng khách lớn và nói với họ rằng chúng tôi không phải là “Phái bộ đại diện Đồng minh” và công việc của chúng tôi chẳng có liên quan gì đến vấn đề kiểm duyệt và chỉ đạo các bài xã luận(1).
Họ tỏ ra lúng túng khi thấy có được một nền báo chí tự do nhưng vẫn tiếp tục xúc tiến chương trình đã định. Ông Minh(2), với tư cách là người phát ngôn và phiên dịch, xin đọc một bài phát biểu đã chuẩn bị sẵn. Mở đầu bằng nhũng lời chào đón nồng nhiệt, bài nói sa vào việc kể về những sự xấu xa của Pháp, rồi quay sang nói về lòng mong muốn giành độc lập dân tộc của người Việt Nam, kết luận là yêu cầu Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ sự nghiệp của họ.
Tôi cám ơn họ vì sự đón tiếp thân mật và mời họ ở lại đến bất cứ lúc nào họ thấy cần. Nhưng trước việc họ cố coi chúng tôi như là một phái đoàn đại diện, tôi giải thích về vai trò phi chính trị của chúng tôi và đặc biệt nhắc nhở rằng mặc dù Mỹ có thiện cảm đối với nguyện vọng của họ nhưng chính sách của Mỹ vẫn là một chính sách không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Dưới ánh sáng những năm chiến tranh sau này của chúng ta ở Việt Nam, lời phát biểu đó có thể làm cho người đọc kinh ngạc, nhưng vào 1945 thì điều đó hoàn toàn xác thực và phản ảnh một cách rõ ràng chính sách đã được xác định.
Họ hỏi nhiều về ý đồ của người Pháp và người Trung Quốc, về thái độ của Đồng minh đối với Việt Nam và phản ứng của tôi trước những thành công của Việt Minh ở Sài Gòn. Tôi trả lời hầu hết các câu hỏi, trừ những gì về Sài Gòn và nói với họ rằng tôi rất cảm ơn về bất cứ một thông tin nào mà họ có thể cho biết về tình hình Sài Gòn và cả Nam Kỳ hiện nay... Người của các báo hàng ngày thì bảo nên trích các mẩu tin từ các báo cáo của họ. Một số khác lại muốn ngồi tường thuật tỉ mỉ cho chúng tôi nghe. Tôi đồng ý và cử Robert Knapp làm việc này(3).
Bắng cách đó, chúng tôi đã có thể nắm được toàn diện tình hình miền Nam vào ngày 31-8. Đó là những thông tin đầu tiên về vùng này mà Côn Minh, Trùng Khánh và Washington đã nhận được, sau khi Nhật đã đầu hàng 3 tuần lễ. Trong khi Knapp chuẩn bị cho bản báo cáo, tôi đã có điều kiện để nắm bức tranh toàn cảnh miền Nam khi chúng chưa kịp bị thời gian làm phai mờ, và điều đó đã hết sức có ích cho những cố gắng hàng ngày của chúng tôi nhằm ngăn chặn bùng ra rối loạn ở miền Bắc.
 
CUỘC “CÁCH MẠNG” Ở SÀI GÒN

Năm 1945, cũng như hiện nay, thành phố Sài Gòn, trung tâm của Nam Bộ, hoàn toàn khác với Hà Nội ở miền Bắc. Về mặt địa lý, khí hậu, không khí xã hội, và triết lý chính trị của nó đều khác biệt. Đầu 1945, khi Việt Minh nắm được quyền kiểm soát khu giải phóng Bắc Bộ thì quyền lãnh đạo của phong trào đã được củng cố và không ai có thể tranh cãi được. Và khi ủy ban địa phương nắm chính quyền ở Hà Nội ngày 19-8 thì việc đó không phải là một hành động hoàn toàn độc lập mà chính là đi theo đường lối, chủ trương lâu dài của Trung ương đã vạch ra từ trước. Đối với miền Nam lại khác hẳn.
Nam Bộ là một lãnh địa trù phú riêng của thực dân Pháp, ít giống với tình trạng kém giàu có của Trung Bộ và Bắc Bộ. Những sự kiện tháng Tám ở Hà Nội và Huế chỉ có những tiếng vọng xa xôi đối với Sài Gòn. Không phải vì ngọn đuốc độc lập không bùng cháy ở miền Nam, cũng chẳng phải ở đó thiếu các phong trào dân tộc chủ nghĩa và thiếu các môn đồ hăng hái. Ngược lại, ở đó đã có quá nhiều phong trào, và tất cả cố gắng của họ đang hướng một cách mạnh mẽ vào việc tranh luận về tư tưởng và xã hội, nên đã dẫn đến những cuộc đấu tranh đảng phái gay gắt. Tình trạng đó vẫn còn đang tồn tại.
Ngoài đảng Cộng sản ra, các nhóm quốc gia nổi bật nhất ở Nam Bộ gồm có những phần tử Troskism, nhóm thân Nhật Phục quốc và Đại Việt, các giáo phái chính trị Cao Đài và Hòa Hảo và Đoàn Thanh niên Tiền phong, cùng rất nhiều đảng phái nhỏ bé khác. Tất cả đều chủ trương độc lập dân tộc với nhiều hình thức khác nhau. Nhưng chỉ có đảng Cộng sản là có chương trình hành động và tổ chức tốt.
Điểm đáng lưu ý nữa là đặc tính tự trị của đảng Cộng sản miền Nam(4). Sau cú 9-3, Nhật vẫn tiếp tục duy trì sự phân chia về hành chính và chính trị giữa Nam, Trung, Bắc Bộ được đặt ra từ thời kỳ Pháp thuộc cho đến ngày 14-8, khi Nhật cho phép Bảo Đại cử một viên Khâm sai (Phó vương)(5) để nắm quyền cai trị Nam Kỳ. Do kết quả của sự phân chia độc đoán về địa lý giũữ các nước ở Đông Dương như vậy nên đảng Cộng sản miền Nam có sự cách biệt lớn đối với Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở Bắc Kỳ và thiếu những sự chỉ đạo cụ thể cho đến tận sau Hội nghị Tân Trào của Đảng ngày 13-8.
Ngay sau cú 9-3, người Nhật bị thúc bách phải tìm những người Việt trung thành để thay thế bộ máy quan liêu Pháp (lúc đó phần lớn đang ở trong tù) và để bảo vệ cho tuyến giao thông ở hậu phương chống lại sự đe dọa phá hoại của Đồng minh. Họ lấy một số người thân Nhật trong các nhóm quốc gia tập hợp trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất do Nhật đỡ đầu(6) để cung cấp cho Nhật một số người họ cần trước khi để cho Mặt trận này tàn lụi dần.
Nhưng khi những người lãnh đạo cái Mặt trận đang ngủ yên này đột nhiên nhận thấy Việt Minh ở Bắc Kỳ, trong tháng 8, đã xuất hiện để chiếm lấy quyền kiểm soát của phong trào độc lập trên toàn quốc, họ liền thúc cho các hội viên hoạt động trở lại. Ngày 14-8, Ban chấp hành Mặt trận nhanh chóng tiến vào chiếm các vị trí mà người Nhật bỏ trống và họ tiếp quản việc kiểm soát Sài Gòn vào ngày 16-8. Điều đó đã được chào đón như là một cuộc “Cách mạng ở Sài Gòn”, tuy cũng rất khó mà được coi là một cuộc tiếp quản. Bộ máy cai trị thân Nhật vẫn còn được giữ nguyên và cũng không một ai ở Sài Gòn biết đến chuyện một cuộc “cách mạng” đã nổ ra.
Người Nhật có thời vận động ngầm, đã giữ một vai trò quyết định trong cuộc “cách mạng” ở Sài Gòn này. Nguyễn Văn Sâm, Khâm sai của Bảo Đại, đến Sài Gòn ngày 19-8 (đúng vào ngày Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội). Hành động đầu tiên của ông ta là điều đình với Nhật, nhằm xin một số lớn vũ khí để tổ chức lực lượng bán vũ trang thuộc quyền ông ta. Và người Nhật đã cấp vũ khí cho ông(7).
Mặt trận thống trị ở Sài Gòn đúng một tuần. Trong thời gian đó, tin Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội và Huế cũng như tin Hoàng đế có thể thoái vị đã lan tới Sài Gòn.
Tại Huế, Bảo Đại đã được báo tin về những quyết định ở Tân Trào về việc Việt Minh nắm chính quyền ở Hà Nội. Với một quyết tâm sắt đá nhằm duy trì vị trí lung lay của mình, ngay 19-8, Bảo Đại ra lời kêu gọi dân chúng ủng hộ. Đối vớ thế giới, ông ta nói rằng nhân dân Đông Dương “có khả năng tự quản và đã tập trung toàn bộ sức lực để củng cố nền tảng độc lập của họ”. Với nhân dân Việt Nam, ông ta yêu cầu hợp tác và nói rằng: “Tôi đã sẵn sàng hy sinh bản thân mình cho mục đích bảo vệ nền độc lập của vương quốc và các quyền lợi của nhân dân tôi”. Ông ta đã bắt đầu dao động và đó cũng là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ông có thể thoái vị nếu cần thiết.
Bất chấp chức tước, triều đình và quyền lực của ông trên trường quốc tế, địa vị hợp pháp của Bảo Đại với tư cách là người đứng đầu Nhà nước đã được xem xét lại. Sáu tháng trước đó, ngày 11-3, ông đã công bố nền độc lập của Việt Nam bằng cách công khai hủy bỏ Hiệp ướv bảo hộ Pháp - Việt 1884 và chấp nhận sự đỡ đầu của Nhật. Nhưng Pháp đã không biết tới lời tuyên bố độc lập của Bảo Đại và coi Nhật đã chiếm đóng thuộc địa của Pháp là một “sự kiện chiến tranh thuần túy” cần phải được sửa lại bằng việc đánh bại Nhật. Về pháp lý, đã chẳng có gì thay đổi. Đến khi Nhật thất bại, địa vị của Bảo Đại là người đứng đầu nước Việt Nam độc lập bị lâm nguy. Ngày 20-8, Bảo Đại gửi điện riêng cho Tổng thống Truman, Vua George VI, Thống chế Tưởng và tướng De Gaulle để tranh thủ sự đồng tình và công nhận chính thức của các vị này.
Vào lúc đó, ở Hà Nội (hoàn toàn độc lập với các biện pháp tiến hành ở Tân Trào và không có sự hiệp đồng với Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương), các sinh viên Đại học cánh tả đã tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng với danh nghĩa của Tổng hội Sinh viên(8). Họ đưa ra một quyết nghị mạnh mẽ kêu gọi Bảo Đại thoái vị và thành lập một Chính phủ kiểu cộng hòa dưới sự bảo trợ của Mật trận Việt Minh, yêu cầu Mặt trận Việt Minh mở các cuộc thảo luận với tất cả các đảng phái chính trị để lập ngay một Chính phủ lâm thời, và cuối cùng là kêu gọi nhân dân và các đảng phái chính trị hãy ủng hộ Chính phủ lâm thời để thực hiện sự độc lập của dân tộc. Ngay chiều hôm đó, họ đã điện quyết nghị trên tới Hoàng cung.
Bảo Đại bị áp lực thúc ép phải hành động một cách có tính chất quyết định. Việt Minh đã phát động công nhân thành thị và nông dân các thôn xã tiến hành cướp chính quyền; trí thức và sinh viên đại học đấu tranh đòi hỏi những cải cách triệt để trong Chính phủ và những người Quốc gia thì yêu cầu đánh đổ tất cả bọn vua chúa ở trong cũng như ở ngoài nước. Trước những áp lực đó, Bảo Đại trả lời là không chịu thoái vị, mà chỉ cố đứng vững ít lâu nữa, bằng cách mời Mặt trận Việt Minh thành lập một Chính phủ mới thay cho chính phủ Trần Trọng Kim. Ông chia xẻ với đồng bào ông lòng mong muốn được độc lập, sau khi đã có quá đủ những sự bảo hộ của nước ngoài. Ông cũng không có hận thù cá nhân với Việt Minh và muốn họ tham gia vào Chính phủ của ông, sau khi họ đã xuất hiện như là một lực lượng chính trị. Nhưng hành động của ông đã quá muộn: Tại Huế, Sài Gòn và Hà Nội, các Bộ trưởng của ông đã từ chúc và do đó, tất nhiên ông không còn có Chính phủ nữa.
Tuy thế, Bảo Đại luôn luôn là người dễ bảo, đã điện cho các nhà chức trách Việt Minh ở Hà Nội là ông sẵn sàng thoái vị và mời Mặt trận Việt Minh ra thành lập một Chính phủ quốc gia. Lời đề nghị của ông tới Hà Nội ngày 22-8. Nhưng Việt Minh đã lập xong một Chính phủ lâm thời, đã nắm quyền kiểm soát ở nhiều thành phố lớn, và tất nhiên cũng đã yêu cầu Bảo Đại thoái vị để nhường chỗ cho một nước cộng hòa mới.
Các đảng phái miền Nam, cả Mặt trận Dân tộc Thống nhất cũng như các tổ chức đại diện cho Việt Minh đều cảm thấy áp lực phải thay đổi mạnh. Việc chuyển giao vũ khí giữa người Nhật và viên Khâm sai không thoát khỏi được sự chú ý của Trần Văn Giàu, người bạn tin cậy của Hồ Chí Minh. Điều hiển nhiên đối với Giàu là một cuộc đối đầu với kẻ địch được vũ trang đầy đủ sẽ làm cho Việt Minh cực kỳ khó khăn, nếu không nói là không thể giành được một chỗ đứng chân ở Nam Bộ. Cố nắm lấy cơ hội mỏng manh, Giàu tìm cách được trình bày trong hội nghị Mặt trận Dân tộc Thống nhất được triệu tập vội vã vào ngày 22-8.
Ông khôn khéo nêu ra vấn đề là Mặt trận Dân tộc Thống nhất sẽ bị Đồng minh, hiện lúc đó đã đến Hà Nội(9), coi như một phong trào do Nhật đỡ đầu, và vì thế sẽ nhanh chóng bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Tất nhiên, dù không chỉ đích danh, Giàu cũng đã đề cập đến các nhóm thân Nhật như Phục quốc, Đại Việt, Cao Đài, Hoà Hảo, và các nhóm nhỏ bé khác với tinh thần tương tự như vậy. Sau đó, ông đề nghị một sự lựa chọn khả dĩ có thể chấp nhận được là Việt Minh - đã được nổi tiếng về thái độ chống Pháp của họ, “lại được Đồng minh giúp đỡ mạnh mẽ bằng vũ khí, trang bị và huấn luyện” và đã được công nhận là một lực lượng tiền phong của phong trào dân tộc. Giàu cũng nhắc cho họ hay là Việt Minh cũng là một liên minh của nhiều đảng phái khác nhau đấu tranh cho độc lập dân tộc, và ông khẳng định rằng Mặt trận Dân tộc Thống nhất chắc chắn sẽ được hoan nghênh và ủng hộ trong Mặt trận Việt Minh.
Trong khi hội nghị đang tiến triển thì họ nhận được tin sửng sốt là Hoàng đế “đã chỉ thị cho đảng Cách mạng Việt Nam, phái Quốc gia cánh tả, thành lập Nội các mới... để thay thế cho nội các của Thủ tướng Kim đã từ chức toàn bộ...”(10). Mặc dù có sự chỉ định mờ ám đó, họ cũng vẫn tin tưởng chắc chắn rằng trọng trách đã được giao phó cho Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh của ông gánh vác.
Lập luận của Giàu có thể không hoàn toàn thuyết phục được mọi người có mặt nhưng điều ông nói rằng Đồng minh thiên về phía Việt Minh, gắn liền với việc hoàng đế tỏ ý muốn giao phó số phận đất nước cho Việt Minh đã làm cho mọi người tin tưởng hơn. Lời Giàu nói đến lực lượng vũ trang của Việt Minh với ý nghĩa là được sự ủng hộ của Đồng minh, cũng như quyết định để cho đội Thanh niên Tiền phong có vũ trang(11) đứng về phía những người Cộng sản, đều là những nhân tố thuyết phục mạnh mẽ.
Suốt đêm 22 và ngày 23, các đường dây điện thoại và điện báo giữa Sài Gòn, Huế và Hà Nội không lúc nào ngớt các điện ưu tiên. Ngày 23, kinh thành Huế yên tĩnh đã phải chịu đựng một chấn thương hết sức nặng nề là quang cảnh một cuộc biểu tình “hòa bình” vĩ đại do Ủy ban Giải phóng tiến hành với sự ủng hộ của Việt Minh. Họ đưa quần chúng đông tới hơn 10 vạn người (hơn gấp đôi số dân kinh thành) ra yêu cầu Bảo Đại chuyển giao chính phủ cho Việt Minh.
Ngày 23 cũng là ngày Mặt trận Dân tộc Thống nhất họp lần cuối cùng để quyết định rút lui khỏi sự lãnh đạo cách mạng và nhường chỗ cho một ủy ban chấp hành Nam Bộ lâm thời mới được thành lập(12) do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Ủy ban đóng trụ sở ngay tại Nam Bộ phủ và Tòa thị chính, và cho phát ra một bản tuyên bố công khai tự xác định là một bộ phận phía Nam của Chính phủ Hà Nội và Huế.
Ở Huế, tối hôm đó Hoàng cung cùng nhận được bức điện của Ủy ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam yêu cầu nhà vua thoái vị(13). Nếu Bảo Đại còn bất cứ sự dè dặt nào đối với Việt Minh thì các sự kiện ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn cũng đã gạt tan hết. Nhà vua, cũng như phần lớn nhân dân Việt Nam lúc đó, tin chắc rằng Việt Minh đã may mắn được sự ủng hộ của Đồng minh nên cũng chẳng còn có lý do gì để chống lại với phong trào “dân chủ” đang lên nữa. Ngày hôm sau, 24-8, theo lời khuyên của người bí thư riêng trong triều(14), Bảo Đại trả lời Ủy ban Giải phóng Dân tộc ở Hà Nộ; rằng ông ta quyết định thoái vị “để không làm trở ngại cho công cuộc giải phóng đất nước và giành độc lập của nhân dân tôi”. Đồng thời, ông ta đề nghị Ủy ban cử người đại diện được chỉ định tới Huế để hợp pháp hóa sự chuyển giao quyền lực và trách nhiệm(15).


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:34:15 PM
THIÊN MỆNH

Một sự ngược đời lớn luôn luôn ám ảnh tôi là hình như chính người Pháp, trong những tháng sắp kết thúc Thế chiến thứ hai, với những lo toan của họ nhằm phá vỡ chính sách Mỹ không ủng hộ sự đô hộ của Pháp ở Đông Dương dẫn đến sự sụp đổ của chính họ, một cách vô ý thức. Rất nhiều lần họ đã làm thất vọng mọi cố gắng chân thành của các nhà quân sự Đồng minh yêu cầu họ cộng tác chống Nhật. Nếu họ thật lòng muốn hoạt động để đánh bại Nhật trong khuôn khổ của Đồng minh, thì không thể nghi ngờ gì là họ phải cần đến bất cứ mọi hoạt động quân sự phối hợp nào với Việt Minh. Việc toán “Con Nai” chỉ là một thể nghiệm, một thử thách mạo hiểm, đẻ ra từ những thất vọng về việc người Pháp đình công, lãn công rút lui không tham gia hợp tác.
Còn ông Hồ đã thành công một cách cực kỳ khéo léo trước nhân dân của ông, trong việc đề cao nhiệm vụ nhỏ bé của toán “Con Nai” lên thành một nhân tố tâm lý kỳ diệu. Trước hết, bằng một chứng cứ mong manh, ông đã thuyết phục được các lãnh tụ các đảng phái cạnh tranh ở Tân Trào rằng ông được người Mỹ nâng đỡ và rằng ông ta là một con người cùng với Đảng của ông, được nhằm để thành lập một Chính phủ lâm thời... Hơn nữa, trước lập luận của ông Giàu là Mỹ ủng hộ Việt Minh về mặt quân sự, và việc Bảo Đại phải mời Việt Minh thành lập Chính phủ, thì còn có đảng chính trị quốc gia nào ở miền Nam lại không chấp nhận sự lãnh đạo của Việt Minh “được Mỹ nâng đỡ” nữa?(16)
Khi đám quần chúng chất phác thấy hành động thoái vị, Việt Minh tiếp nhận quyền lực của Bảo Đại từ chính tay Nhà vua trao, trật tự hoàn hảo và sự điều hành tốt trong việc Việt Minh tiếp quản thì đối với họ, đó rõ ràng là một vấn đề thuộc về “Thiên mệnh”. Trong khi thế giói có thể bỏ qua tư tưởng can thiệp siêu phàm như là một sự mê tín, thì đó lại là một mục quan trọng của lòng trung thành với người nông dân Việt Nam... Người ta có thể hiểu được tình hình trong binh lính và dân chúng các xã ở miền Nam trong những năm chiến tranh gần đây đối với chế độ Hà Nội, nếu coi đó như là do có “thiên mệnh” và điều đó đã mang lại niềm tin vào “Bác Hồ”.
Trong điều kiện của tháng 8-1945, ông Hồ đã biến được những tiềm năng hạn chế của mình thành thắng lợi trong một câu chuyện thật giống như thần thoại. Nhưng chắc chắn ông Hồ sẽ không thể thành công nếu như Đảng Cộng sản Đông Dương của ông đã không được tổ chức và chuẩn bị tốt cho việc giành chính quyền. Nhiều năm chuẩn bị không phải là vô bổ. Tuy nhiên, nếu không có cái hào quang giả tạo về sự ủng hộ của người Mỹ, thì Việt Minh cũng rất có thể không đạt được việc giành quyền lãnh đạo dân tộc trong bước đường tiến từ hoạt động bí mật sang nắm quyền thống trị công khai.
Như thế Việt Minh đã phát triển thành một lực lượng thống nhất vĩ đại và cũng là một sự báo oán cho người Pháp. Trong khi mà Sainteny ngồi để cố mà hình dung ra sự non yếu của người Việt Nam và chờ đợi cho các nhà chính trị của họ lần lượt ngã gục trong sự chia rẽ, thì cũng chính ông ta và các bạn cộng sự trong DGER của ông, bằng một cách gián tiếp kỳ lạ, đang làm động cơ thúc đẩy sự nổi dậy phi thường của Việt Nam...
 
“THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”

Ở Sài Gòn, ngày 25-8 là một ngày hội mở đầu một kỷ nguyên mới đối với người dân Nam Bộ. Hầu như tất cả mọi người đều muốn mình có dính phần trong đó. Cờ Việt Minh tung bay khắp nơi. Xứ ủy Nam Bộ đã tổ chức một cuộc biểu tình quần chúng chưa từng có với trên 50 vạn người, để chào mừng việc ra mắt của những người lãnh đạo mới. Với một sự cố gắng hơn hẳn đồng bào của họ ở Hà Nội và Huế, người Sài Gòn đã diễu qua các nhà lãnh đạo của mình trong 9 giờ liền.
Chỉ trong vòng 6 ngày mà Việt Minh đã thành công trong việc nắm chính quyền ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Ít ra là về bề ngoài thì cuối cùng Việt Nam cũng đã thống nhất và độc lập. Đó là một sự thống nhất ngắn ngủi, như các sự kiện sau này chứng tỏ, nhưng đó là một sự bắt đầu và người Việt Nam đã rất phấn chấn.
Trong ngày tiếp theo, người Sài Gòn và dân các tỉnh lân cận ở phía Nam, lần đầu tiên đã được nghe giọng nói của Hồ Chí Minh qua đài phát thanh, điều đó đã khuấy động mạnh mẽ tinh thần độc lập tiềm tàng của họ. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, họ có ý thức về chủ quyền, ý thức về một dân tộc lớn và mạnh hơn trước. Để nói lên ảnh hưởng về mặt tâm lý lời nói của ông Hồ đối với người Sài Gòn, bộ máy tuyên truyền của Huỳnh Văn Tiểng đã đặt một tên mới cho Sài Gòn: “Thành phố Hồ Chí Minh”.
Hai ngày sau khi nắm quyền, Giàu bị thất vọng nghiêm trọng lần đầu tiên khi gặp J. Cedile(17) để thảo luận về vai trò của Pháp. Giàu đã sớm thấy người Pháp chỉ thảo luận về tương lai của Đông Dương với điều kiện trước hết là chủ quyền người Pháp phải được khôi phục. Người Việt Nam lại giữ lập trường là chỉ giải quyết mối quan hệ với nước Pháp khi Pháp công nhận Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền. Tình hình đã nhanh chóng dần đến chỗ bế tắc.
 
ÔNG HỒ Ở HÀ NỘI

Lê Xuân, người Việt Nam trẻ nói là thay mặt Hồ Chủ tịch, đang đợi tôi sau cuộc gặp gỡ với các nhà báo Hà Nội. Xuân nói “Chí sĩ Hồ” đang cùng với bạn bè ở Hà Nội và mong rằng tôi thu xếp thời gian gặp gỡ với ông. Tôi nói tôi sẽ đến, nhưng bao giờ và ở đâu? Xuân giải thích là “Chí sĩ Hồ” mong rằng chưa để lộ cho công chúng thấy rõ trước khi ông đã sẵn sàng đảm nhiệm việc nắm quyền, và ông có thể phái một người bạn đến đón tôi tới gặp ông. Tôi cho anh ta biết là tôi có một người Nhật thường xuyên đi theo bảo vệ và chắc chắn là có hiến binh Nhật theo dõi.
Xuân cho điều đó không có gì trở ngại. Vấn đề quan trọng là đừng để người Pháp, bất cứ người Pháp nào, biết tin ông Hồ đã ở trong thành phố và tôi sẽ gặp ông. Tôi đảm bảo với anh ta sẽ giữ kín đáo, và khi ra đi, anh nói sẽ vẫn giữ liên lạc.
 
IMAI LÀ AI?

Sau khi đi kiểm tra Thành và Gia Lâm về, viên đại úy bảo vệ người Nhật đã hỏi xin đến gặp tôi vào tối hôm đó. Vào lúc đã khuya, anh đến biệt thự tôi ở, mang theo một chai Johnnie Walker đỏ. Tôi rất khoái về thái độ lịch duyệt không bình thường này vì Imai là một viên sĩ quan thận trọng, không tỏ ra tò mò nhưng cái gì cũng biết, đeo quân hàm dại úy nhưng luôn luôn được đối xử một cách tôn kính bởi người Nhật ở một chức vụ cao hơn thế nhiều.
…Trước ly rượu, đối diện với tôi, với một giọng hối hận, anh ta nói rằng anh ta lấy làm tiếc vì người Nhật đã chọn con đường chiến tranh năm 1941, thay cho việc làm theo lời khuyên của Hoàng thân Konoyé(18)... Anh nói tiếp là có quen biết nhiều người Mỹ ở Tokyo và hy vọng có một cơ hội nào đó để gặp lại người quen cũ...
Để chuyển hướng câu chuyện, tôi hỏi nhiệm vụ của anh ta là gì? Không một chút do dự, anh trả lời: “Để tạo thuận lợi cho sứ mệnh người Mỹ ở Hà Nội”. Chắc anh ta nhận thấy sự hoài nghi trên nét mặt của tôi nên giải thích rằng Bộ Tổng Tham mưu đã đồng ý với tướng Tsuchihashi là sẽ chẳng có lợi gì trong việc chối từ không chịu chấp nhận ý nguyện đầu hàng Đồng minh của Nhật Hoàng, nước Nhật đã bị đánh bại trong chiến tranh và người Nhật sẽ cần phải được tôn trọng trong sự giao tiếp của họ với kẻ chiến thắng. Tôi không thể tin được những lời tôi đã nghe và có ý ngờ rằng đây là một trò gì chăng...
Imai rót thêm rượu và nói rằng anh ta có biết về OSS. Mặc dù không hay biết gì về cấp bậc của tôi nhưng anh ta biết tôi là một sĩ quan OSS trong Cục tình báo của tướng Wedemeyer. Và dĩ nhiên, trước mắt anh ta, nhiệm vụ của tôi không chỉ giới hạn trong các vấn đề tù binh chiến tranh và vấn đề đầu hàng sắp tới, mà còn bao trùm nhiều vấn đề có lợi ích rộng lớn khác.
Tôi vẫn thản nhiên, nhưng cũng thấy trong thông báo của anh ta không có biểu hiện gì của sự thù địch. Khi tôi rót rượu tiếp, anh ta nhắc lại là được cấp trên chỉ thị cho anh phải “tạo thuận lợi” cho công tác của tôi, “bất kể công tác đó là gì”. Tiếp đó anh ta trao cho tôi tấm danh thiếp có in “Ichio Imai” cùng với địa chỉ cá nhân ở số 7 đường P. Jabouille, Hà Nội và số điện thoại.
… Tôi hỏi thẳng anh ta muốn gì đây. Imai vui vẻ trả lời trong một hay hai ngày nữa Việt Minh sẽ được các nhà đương cục Nhật trao lại cho toàn bộ chính quyền và tôi, chắc chắn là sẽ muốn có những quan hệ chặt chẽ hơn nữa với họ. Vì vậy Imai đã được phép phải giúp đỡ tôi. Anh ta quan tâm đến việc Lê Xuân đã gặp tôi và báo cho tôi biết tin Xuân là người của Việt Minh. Xuân được giao làm công tác tuyên truyền trong quân đội Etsumei (Việt Nam), một nhóm cách mạng trong Mặt trận Việt Minh cộng tác với Nguyễn Ái Quốc, còn được gọi là Chí sĩ Hồ hay là Hồ Chí Minh.
Tôi cảm ơn Imai và nhờ chuyển đến tướng Tsuchihashi sự cảm kích của tôi trước mối quan tâm và sự cộng tác của ông, đồng thời cũng tranh thủ nhắc lại nhiệm vụ của tôi đã được nêu lên trước đây, vấn đề tù binh và việc đầu hàng. Tuy nhiên, thấy tình hình Pháp - Việt ở địa phương căng thẳng, tôi rất muốn thấy không ai được châm lửa vào tình hình chính trị và gây ra một cuộc tàn sát người Pháp. Nếu tôi cần giải quyết một việc gì đó với Việt Minh, tôi sẽ làm việc đó thận trọng và không để lộ cho bên ngoài biết. Imai đồng ý và nói với tôi được tự do làm bất cứ việc gì tôi thích và anh ta lúc nào cũng sẵn sàng để phục vụ. Ít phít sau, anh ta ra về…
Lúc đó đã 11 giờ đêm, tôi trao danh thiếp của Imai cho người phụ trách X2 và yêu cầu cho tôi biết tất cả những gì anh ta có thể tìm được về Imai.
Ngày hôm sau, trước khi tôi đến gặp ông Hồ, X2 báo cáo.
Tóm tắ: Imai, đại úy hải quân Hoàng gia Nhật, trước cầm đầu phái đoàn hải quân Nhật tại Hà Nội, phụ trách nhóm tình báo. Hiện nay đang làm nhiệm vụ đặc biệt đóng vai phiên dịch cho một số tướng Nhật ở Đông Dương, hình như đang được giao nhiệm vụ rất quan trọng và được tham gia vào tất cả các cuộc họp bí mật của Bộ Tổng tham mưu.
Tôi cười, khi nhận ra “cái bóng” của mình lại là con chó đầu đàn trong cái trò này.
Dù thế nào đi nữa thì bọn hiến binh cũng phải bị loại bỏ. Họ không có gì đáng phải sợ khi tôi đến thăm ông Hồ và các cố vấn của ông ta. Người Nhật, họ đã tin vào những đồn đại về việc người Mỹ đã nâng đỡ Việt Minh.
 
________________________________________
(1) Trước năm 1945, các tin tức bất kỳ dưới dang nào đều phải chịu kiểm duyệt và được hướng dẫn ở một mức độ nhất định, đặc biệt trong giai đoạn Toàn quyền Decoux và Nhật chiếm đóng.
(2) tức Vũ Văn Minh, thuộc Thành ủy Hà Nội, phụ trách cơ quan thông tin của Chính phủ Lâm thời.
(3) Chuyên viên dân sự, phụ trách chiến tranh chính trị thuộc MO
(4) chỉ Xứ ủy Nam Bộ
(5) tức Nguyễn Văn Sâm, một trong các sáng lập viên Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng, có xu hướng thân Nhật
(6) Mặt trận Dân tộc Thống nhất thành lập ngày 14-8-1945 gồm các tổ chức Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng, Thanh niên Tiền phong, Nhóm trí thức, Liên đoàn Công chức, Tịnh độ Cư sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, Nhóm Tranh đấu La Lutte, Cao Đài; chịu ảnh hưởng chủ nghĩa Troskism và tẩy chay những người Việt Minh Cộng sản.
(7) Phần lớn số vũ khí này lại chuyển về tay các lực lượng vũ trang của Cào Đài, Hòa Hảo và sau này đã được dùng để chống Anh, Pháp, Việt Minh và cũng có thể đối với Ngô Đình Diệm.
(8) trụ sở ở Việt Nam học xá Hà Nội, do Phan Anh và Tạ Quang Bửu, hai cựu thủ lĩnh phong trào thanh niên thời Toàn quyền Decoux trước 9-3, lãnh đạo.
(9) Nguyễn Khang ở Hà Nội đã điện thoại báo cho Giàu biết có “Ủy ban đình chiến Đồng minh” đang trên đường đến Hà Nội. Cái được gọi là “Ủy ban” đó thực sự chỉ là toán Mercy của chúng tôi.
(10) mãi đến khi Bảo Đại tuyên bố ở cuộc mít tinh, Giàu và người cộng tác thân cận của ông mới biết tin về hành động của Bảo Đại, vì Nhật đã cấm báo chí và tin tức trong 6 ngày, đến 28-8 mới dỡ bỏ.
(11) Thanh niên Tiền phong là lực lượng vũ trang quan trọng của Mặt trận Dân tộc Thống nhất, cùng với Cao Đài.
(12) còn gọi là Ủy ban Hành chính Lâm thời miền Nam Cộng hòa Việt Nam, hay Lâm ủy Nam Bộ. Thành phần Lâm ủy gòm Trần Văn Giàu (Cộng sản) - Chủ tịch, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (Việt Minh) - Ủy viên Ngoại giao, Nguyễn Văn Tạo (Cộng sản) - Ủy viên Nội vụ, Huỳnh Văn Tiểng (Dân chủ) - phụ trách Tuyên truyền, Dương Bạch Mai (Cộng sản) - Ủy viên hành chính và chính trị miền Đông, Nguyễn Văn Tây (Cộng sản) - Ủy viên hành chính và chính trị miền Tây, Hoàng Đôn Văn (Việt Minh) - Ủy viên Lao công, Phạm Văn Bạch (độc lập) - Ủy viên, Ngô Tấn Nhơn (đảng Độc lập Dân tộc) - Ủy viên và Huỳnh Thị Oanh (độc lập)- Ủy viên Phụ nữ.
(13) Điện của Việt Minh yêu cầu Bảo Đại thoái vị gửi đi ngày 23-8 từ Hà Nội. Công văn Bảo Đại gửi mời Việt Minh thành lập Chính phủ mới gửi đi ngày 22-8 từ Huế. Tuy cùng thời gian chuyển đi nhưng không có sự phối hợp gì giữa 2 văn kiện.
(14) tức Phạm Khắc Hòe, Đổng lý Văn phòng của Bảo Đại
(15) Ngày 25-8, Ủy ban cử Trần Huy Liệu (Phó chủ tịch) cầm đầu phái đoàn vào tiếp nhận việc thoái vị của hoàng đế. Trong đoàn còn có Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận. Cùng ngày, tại Hội nghị Hội đồng tư vấn hoàng gia tại điện Kiến Trung, Bảo Đại cho thảo bản tuyên bố thoái vị.
Phái đoàn đến Huế ngày 28-8 và được Bảo Đại tiếp kiến riêng – và có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một hoàng đế An Nam đã bắt tay với một thường dân của ông. Ngày hôm sau, tại Hoàng cung, Bảo Đại đã trao bản tuyên bố thoái vị cho Trần Huy Liệu. Chiều 30-8, Bảo Đại mặc lễ phục, đọc bản tuyên bố thoái vị trước cửa Ngọ Môn, dưới sự chứng kiến của rất đông công chúng. Cờ Hoàng đế hạ xuống và cờ đỏ sao vàng của nước Việt Nam mới được kéo lên. Buổi lễ kết thúc với việc trao lại ấn kiếm Hoàng đế trong khi quần chúng hô to hoan nghênh công dân Vĩnh Thụy.
(16) Trả lời phỏng vấn của đài BBC, tháng 9-1977, tướng Trần Văn Đôn, người trong nhóm tướng lĩnh chỉ huy lật đổ chế độ Diệm tháng 11-1963, đã nói: “Chúng tôi biết lúc đó, tổ chức này (Việt Minh) được người Mỹ nâng đỡ…”, “ngay cả Bảo Đại lúc đó cũng cho là nhóm Hồ CHí Minh lãnh đạo, được người Mỹ hỗ trợ”… Cũng trong một bài phỏng vấn khác của BBC vào năm 1977, tướng E.G. Lansdale, phụ trách CIA ở Bắc Việt Nam một thời gian năm 1954, đã nói về ảnh hưởng của các  hoạt động của Mỹ năm 1945 ở Việt Nam như sau: “Dân chúng mà tôi đã gặp nói chuyện ở miền Bắc, đều khẳng định là nhóm Hồ Chí Minh là hoàn hảo nhất vì được Mỹ ùng hộ và do đó, có thể được tín nhiệm hoàn toàn…”
(17) Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam kỳ, được bí mật thả dù xuống vùng lân cận Sài Gòn đêm 22 rạng 23-8.
(18) Hoàng thân Konoyé (1891-1945), 3 lần làm Thủ tướng Nhật và được nhiều người xem như là ông phản đối việc Nhật tham gia chiến tranh chống Mỹ.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:35:07 PM
Chương 20
Một ngày chủ nhật bận rộn

CUỘC ĐÓN TIẾP CHÍNH THỨC
Vào ngày chủ nhật đầu tiên ở Hà Nội, chúng tôi đang chờ đợi một ngày yên tĩnh và kéo dài bữa ăn sáng thì nghe thấy ngoài cửa có tiếng ồn ào, tiếng kèn trống. “Đây là một cuộc biểu tình nữa”, Grélecki vừa nói vừa cùng với Bernique chạy ra cửa quan sát. Ngay ở thềm cửa trước nhà đã có bốn quý ông Việt Nam chờ hỏi trưởng phái bộ Mỹ. Họ là đoàn đại biểu của Ủy ban Giải phóng Dân tộc, tức Chính phủ lâm thời mới, đến để chào mừng Đồng minh.
Bernique mời họ vào phòng khách lớn. Tôi nhận ra ngay Vũ Văn Minh và ông ta giới thiệu người cầm đầu phái đoàn là Võ Nguyên Giáp, đại diện cho Hồ Chủ tịch. Tiếp đó Giáp giới thiệu Dương Đức Hiền(1) và Khuất Duy Tiến(2). Họ đều mặc đồ trắng, thắt cà vạt, trừ Giáp mang một áo khoác cũ và mũ cát trắng.
Bằng tiếng Pháp hoàn hảo, Giáp chuyển lời hoan nghênh của cá nhân Hồ Chủ tịch và của bản thân ông. Chúng tôi có được dễ chịu không? Có cần gì không? Chúng tôi hãy cứ tự coi mình như là khách quý của Chính phủ Việt Nam(3). Người ta mong rằng chúng tôi sẽ ở lại đây lâu và sẽ thấy thú vị. Tôi nhờ Giáp cảm ơn Chủ tịch Hồ và mong rằng sẽ sớm được gặp ông.
Hai người giúp việc Việt Nam bưng cà phê vào mời khách và Hiền đã thân mật chuyện trò với một trong hai người. Chúng tôi ít nhiều ngạc nhiên khi biết Phát, một người giúp việc, trước đây là một sinh viên trong phong trào thanh niên của Hiền và phong trào này đã đi theo đội quân Giải phóng của Giáp. Sau, Phát đã được chỉ thị gia nhập vào đơn vị Bảo an thân Nhật để hoạt động cho Việt Minh(4).
Tuy ngạc nhiên nhưng chúng tôi cũng chẳng có gì phải lo ngại vì đã thường xuyên duy trì được một chế độ bảo mật chặt chẽ trong sinh hoạt...
Sau những lời hoan nghênh và xã giao chính thức, Giáp thưởng thức ly cà phê và đi vào câu chuyện nghiêm chỉnh. Theo ông, Hồ Chủ tịch rất mừng khi biết chúng tôi tới Hà Nội, nhưng lại lo việc về các sĩ quan Pháp đi theo cùng phái đoàn chúng tôi. Ông muốn cho biết thế nào mà người Pháp lại có thể tới Hà Nội trước được người Trung Quốc? Hay là Đồng minh đã thay đổi kế hoạch? Hoặc người Pháp đã được phép chiếm lại Việt Nam?
Tôi bảo đảm với Giáp rằng kế hoạch của Đồng minh không có gì thay đổi. Ở Potsdam, người Trung Quốc đã được chỉ định tạm thời chiếm đóng Đông Dương từ bắc vĩ tuyến 16 để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật và hồi hương quân Nhật bại trận. Quân đội Pháp ở Trung Quốc sẽ chỉ được phép di chuyển dần từng bộ phận về phía nam sau khi Đồng minh đã tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật. Theo chỗ tôi hiểu thì cả người Trung Quốc và người Mỹ đều không có kế hoạch giúp Pháp quay trở lại Đông Dương bằng vũ lực.
Thế còn nhóm đi cùng trên máy bay với tôi? Tại sao tôi lại đưa họ đi theo? Giáp không hiểu nổi như thế là thế nào.
Tôi cũng thấy được sự bối rối của họ. Người đứng đầu cơ quan Tình báo Pháp ở Trung Quốc hiện đã có mặt ở tại Hà Nội nhờ có sự giúp đỡ của Đồng minh, và họ lại còn được người Nhật cho trú ở Dinh Toàn quyền Pháp... Người Mỹ là những người đầu tiên vào Đông Dương, nhưng họ lại tuyên bố họ chỉ có nhiệm vụ quan sát việc giải giáp quân Nhật và giao cho người Trung Quốc gánh vác mọi trách nhiệm.
Trong con mắt những người khách của chúng ta thì tình hình thực là rối rắm.
Tôi nói rõ với họ là theo chỗ tôi biết, cho đến nay Mỹ không có ý định giúp người Pháp quay trở lại Đông Dương chống lại nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, và sau này chắc cũng sẽ như vậy. Nhưng tất cả chúng tôi đều hiểu rằng Pháp đã là một nước đồng minh, đã bị thiệt hại nặng nề trong cuộc chiến tranh chống Đức, giống như Anh và Liên Xô, Pháp không thể bị khước từ về tình hữu nghị của chúng tôi, mặc dù chúng tôi có thể không đồng tình với các chính sách thực dân của Pháp.
Trong vấn đề này chúng tôi không hoàn toàn nhất trí với cách làm của người Anh. Phái đoàn chúng tôi đã để cho toán nhỏ 5 người Pháp đi theo, trên cơ sở thống nhất với nhau rằng họ sẽ chỉ hạn chế vào việc làm công tác nhân đạo đối với tù binh và thường dân Pháp. Hơn nữa, ngay cả việc đó họ cũng chưa được phép làm.
Khi tôi nói tới Liên Xô, Giáp và Tiến đã tỏ ra chú ý đặc biệt. Cả hai đều muốn phát biểu, nhưng Giáp đã nói muốn biết tại sao Liên Xô lại không có đại diện ở Đông Nam Á. Tôi đáp lại một cách dễ dàng; Nguyên soái Xtalin ở Potsdam đã đồng ý để cho Tổng tư lệnh tối cao các nước Đồng minh được cử các đại diện Đồng minh để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật và chỉ định nơi tổ chức cuộc đầu hàng. Thống chế Tưởng đã được chỉ định cho miền Bắc Đông Dương, trong khi mà Liên Xô tỏ ra không muốn giành quyền ưu đãi đối với vùng này. Hiển nhiên là Giáp và Tiến chẳng khi nào nghĩ tới khả năng có thể Nguyên soái Xtalin lại không muốn để cho mình bị dính líu trực tiếp vào vấn đề Việt Nam đang rối rắm. Họ ngừng hỏi và cũng có thể ngại hỏi để rồi lại phải nghe thêm những điều chẳng thích thú lắm.
Giáp lên tiếng cừời, một điều ít khi thấy, và nói “Công chúng đang mong được đón chào ông và các bạn Mỹ của chúng ta. Vì vậy, xin mời ông và cả đoàn hãy vui lòng ra phía cổng trước”. Qua những tiếng ồn ào, chúng tôi biết ngay đây là một buổi lễ ở ngoài trời. Bernique tập hợp cả toán lại trước cái sân nhỏ, còn chúng tôi cũng thu xếp, Giáp và tôi dẫn đầu, theo sau là các vị đại biểu Việt Nam rồi đến những người còn lại trong toán OSS.
Chúng tôi tiến đến các bệ ở cạnh cổng ra vào, giữa một cảnh tượng đẹp mắt xúc động. Một dàn quân nhạc khoảng 50 người đã đứng dàn ngang trên đường, phía trước mặt. Phất phới trong gió 5 lá cờ lớn của Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bên trái là một đơn vị bộ đội 100 người đứng ở tư thế “nghiêm chào”. Họ trông thật giống đội quân mà Thomas trong toán “Con Nai” đã tả, với mũ cát, có áo cộc tay, quần soóc kaki, mang vũ khí Mỹ và Anh. Bên phải là các toán thanh niên của Hiền, mặc đồ trắng. Chung quanh bên trong là các vòm cây điểm hoa của khu phố Beauchamp... Giáp chỉ và nói một cách tự hào: “Bộ đội của chúng tôi vừa mới từ rừng núi về”.
Thoáng một cái, các cờ được kéo xuống, trừ cờ Mỹ, quốc thiều Mỹ nổi lên, rồi các cờ lại được kéo lên. Sau đó, cứ tiếp tục như vậy cho cờ mỗi nước, lần lượt đến Liên Xô, rồi Trung Quốc và cuối cùng là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau khi tôi tỏ lời cảm ơn đoàn đại biểu, viên chỉ huy bộ đội, đội quân nhạc, các đơn vị bắt đầu diễu hành... Có cả một hàng dài thường dân, có nhiều cờ và biển dẫn đầu ghi lời chào mừng phái đoàn chúng tôi và các khẩu hiệu chính trị. Nhiều thiếu nữ và thiếu niên vừa đi vừa hát bài quốc ca mới. Khi qua chỗ chúng tôi, họ đều “nhìn thẳng” và giơ cao tay phải lên chào.
Đến tận gần trưa cuộc diễu hành mới kết thúc và đoàn đại biểu cũng ra về.
Trong lúc chia tay, Giáp, với một vẻ xúc động, đã quay lại nói với tôi: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà cờ nước chúng tôi được trương lên trong một buổi lễ quốc tế và quốc ca chúng tôi được cử hành để chào mừng một vị khách nước ngoài. Tôi sẽ mãi mãi không quên cơ hội này”.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:35:52 PM
GẶP LẠI ÔNG HỒ
Ở trong nhà, Lê Xuân đứng nóng lòng chờ tôi. Anh ta chuyển lời ông Hồ mời tôi tới ăn cơm và đã có sẵn một xe và lái xe để đưa tôi đi. Tôi xem nhanh các điện từ Côn Minh mới gửi tới, nhưng cũng chẳng thấy được điều gì nói về việc đầu hàng, mà chỉ thấy có điện của Helliwell ra lệnh cho các đại úy Conein và Spaulding đang chỉ huy hai toán ở biên giới Đông Dương phải về Côn Minh để đáp máy bay đi Hà Nội và không được đưa người Pháp đi cùng.
Lê Xuân và tôi ngồi vào một chiếc xe Citroën cũ và lên đường. Đã gần một giờ nên Xuân rối lên vì tôi được hẹn vào giữa trưa. Tôi thì vui và đảm bảo có thể giải thích được sự chậm trễ này vì dù sao thì Chủ tịch chắc cũng đã biết việc gì đã xảy ra.
Người lái Việt Nam đã điều khiển cái xe cũ kỹ một cách khá thông thạo, vừa tránh người tản bộ ngày chủ nhật, vừa tránh các luồng xe đạp và lách trong dòng đủ các xe cộ. Chúng tôi đi hết đường này đến đường khác, cứ như là đi vòng tròn. Gần 10 phút đi quanh và tôi cho rằng người lái xe đã cố để cho không bị theo dõi. Cuối cùng, chúng tôi đã dừng lại trước một ngôi nhà hai tầng bình thường trong khu thành phố cũ(5). Không có bóng một người Âu hoặc người Nhật. Một thanh niên đứng đón chúng tôi ở cửa, trao đổi một vài câu với Xuân, rồi dẫn chúng tôi vào nhà và bật đèn.
Khi tôi lên đến buồng gác, một bóng nhỏ nhắn tiến lại gần và giang rộng hai tay đón chào thân mật. Tôi rất vui được gặp lại ông nhưng cũng rất sửng sốt. Ông Hồ chỉ còn là một cái bóng của con người mà 4 tháng trước đây tôi đã gặp ở Chiu Chou Chich. Tôi cầm lấy tay ông nhưng hình như tay ông hơi run. Trên đôi chân đi dép, thân hình xương xẩu trái ngược với cái trán khá rộng với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt. Trang phục của ông, một tấm áo nâu sẫm và quần rộng, lại càng làm đậm thêm một vẻ hoang tàn.
Tôi bắt đầu xin lỗi vì đến chậm, nhưng ông Hồ không chú ý và nói đó không phải lỗi tại tôi và nhìn về phía Giáp mỉm cười. Còn tôi cũng vui khi thấy Giáp ở đây, mặc dù trước đó ông vẫn lặng thinh chẳng nói gì với tôi về bữa cơm. Đưa tôi về phía những người còn đứng yên ở một góc, ông Hồ giới thiệu, “người bạn Mỹ từ Washington của chúng ta”. Tôi hơi lúng túng và không muốn để bị hiểu lầm về quy chế chính thức của tôi, tôi sửa lại “xin lỗi, từ Côn Minh tới”, mọi người cười xòa, và ông Hồ cũng nhắc lại “từ Côn Minh tới”. Tôi đã cố nhớ lại những người có mặt buổi hôm đó, nhưng chắc chắn chỉ có ông Hồ, Giáp, Trường Chinh và có thể cả Nguyễn Khang.
Tôi hỏi thăm về tình hình sức khỏe, ông Hồ cho biết có bị sốt nhẹ và đau bụng, nhưng bằng một cử chỉ khoáng đạt, ông gạt chuyện đó sang bên và hỏi tôi về những tin tức ở Côn Minh và Washington. Trước khi tôi trả lời, người thanh niên đón chúng tôi đã bưng vào một cái khay với 6 cốc và một chai Vermouth. Người thanh niên rót rượu và ông Hồ mời tôi đầu tiên. Tôi đã nghĩ ngay đến một lời chúc từ chính trị phiền hà, nhưng ông Hồ đã chẳng làm tôi phải lúng túng và chỉ nói “à votre santé”(6). Tôi cũng đáp lại “à la vôtre”(7). Tôi không ngạc nhiên khi thấy ông chỉ chạm môi vào ly cốc vì đã nghe nói ông là một người ăn uống thanh đạm.
Ông Hồ mời chúng tôi sang phòng bên, ở đó đã có bày bàn cơm cho 6 người, món ăn thanh đạm nhưng rất ngon... Tôi ngồi chỗ bên phải ông Hồ và là chỗ duy nhất bày đồ dùng theo kiểu Âu Châu, đồ Trung Quốc và bằng bạc. Đó là một sự chiếu cố, nhưng tôi sử dụng khá thành thạo bát đũa nên đã hỏi xem có thể có bát đĩa được không. Mọi người thích thú và bát đũa được đưa tới ngay. Không khí chan hòa. Ai cũng thoải mái.
Câu chuyện diễn ra bằng tiếng Pháp, thỉnh thoảng có xen lẫn tiếng Anh. Tôi thấy chỉ mình ông Hồ biết tiếng Anh, nhưng còn ít sử dụng để giữ cho mọi người đều có thể tham gia câu chuyện. Và một cách nhẹ nhàng, ông nhắc sơ lại việc nhân dân ông đã cộng tác với AGAS, GBT, OWI và tất nhiên là cả OSS khi ông nói tới việc người Mỹ đã có ý định tuyển mộ ông làm việc cho OWI ở San Francisco năm 1944-1945. Theo ông nói thì ông đã hy vọng là nếu như người Mỹ thực hiện điều đó thì ông đã có thể gặp được đại diện Liên Hợp Quốc để trình bày nguyện vọng độc lập của nhân dân ông. Nhìn lại, ông nói, chắc cũng không thể thành công hơn việc đã làm ở Versailles vào 1919.
Cơm xong, chúng tôi chuyển ra ban công để dùng cà phê, bốn người kia rút lui và chỉ còn lại ông Hồ và tôi. Mở đầu câu chuyện, ông cảm ơn tôi đã có nhã ý nhận lời mời và mong rằng sẽ được cùng nhau nhận định về tình hình hiện tại. Tôi cho rằng điều đó thực là bổ ích nhưng phải xác nhận rằng địa vị của tôi rất bị hạn chế bởi các chỉ thị của cấp trên và tôi không được phép để cho mình dính líu vào các vấn đề chính trị Việt - Pháp. Ông Hồ lắc đầu nhiều lần, giơ tay và cười nói: “Tôi hiểu! Có thể sau này, chứ bây giờ tôi không yêu cầu gì cả. Còn hôm nay chúng ta có thể nói chuyện với nhau như những người bạn, chứ không phải là những nhà ngoại giao”. Tôi cũng cười đáp lại: “Đúng! Và như thế là ông không nghĩ rằng tôi sẽ báo cáo nội dung câu chuyện của chúng ta cho Côn Minh?”. “Không!”, ông Hồ nói, “cho tới khi cả người Pháp lẫn người Trung Quốc cũng không hay biết gì về tôi”.
Trong hai giờ liền sau đó, chúng tôi đã soát lại một số sự kiện và các vấn đề đặt ra từ khi có cuộc gặp gỡ với toán “Con Nai” cho tới các “Cuộc khởi nghĩa” ở Sài Gòn và Hà Nội. Ông Hồ rất nóng lòng muốn cho tôi biết hết những tình hình mới nhất và tôi cũng rất muốn nắm trọn được mọi tinh huống.
Khi nhắc lại một cách buồn cười sự việc của Montfort, ông Hồ hỏi tôi tại sao người Pháp lại bỏ qua những đề nghị gặp gỡ của ông Hồ dạo tháng 7. Đặc biệt trong lúc bấy giờ, ông rất chú ý không những đến việc làm sáng tỏ bản tuyên bố mơ hồ ngày 23-4 của Pháp(8) mà còn việc mở ra các cuộc thương lượng với các nhà chức trách Pháp tại Trung Quốc. Tôi thú thực không biết gì về ý đồ của Pháp, ngoài việc OSS đã nhờ AGAS chuyển những bức điện của ông cho họ. Ông Hồ thất vọng và cảm thấy bị xúc phạm bởi sự kiêu căng của Pháp khi ông phê phán cuộc vận động chống Việt Nam của Pháp tại Trung Quốc. Ông đặc biệt tức giận đối với Sainteny và nhấn mạnh là chẳng ai còn lạ gì “Sainteny, trưởng đoàn M.5, là người đại diện của De Gaulle”. Theo ông thì phái đoàn Sainteny chống đối với người Việt Nam và do đó sẽ gây ra nhiều vấn đề cho Chính phủ Lâm thời.
Về “kíp người” ở dinh Toàn quyền, ông Hồ hỏi “Họ hy vọng làm được gì nhỉ? Không biết có lúc nào họ nghĩ rằng họ lại có thể ngăn chặn được sự tiến triển của lịch sử Việt Nam không?”. Tôi không thể trả lời thay cho người Pháp và chỉ có thể giải thích rằng chúng tôi đã để họ đi theo là nhằm để giúp đỡ chúng tôi trông nom số khá lớn tù binh Pháp và do đó chúng tôi đã hạn chế chỉ để cho họ có 5 người. Ông Hồ rất mực không tin. “Đó có thể là mục đích của các ông nhưng chắc chắn không phải mục đích của họ”.
Để ông bớt lo ngại, tôi gợi ý xem có thể lợi dụng nhóm Sainteny làm cái cầu để sớm bắt liên lạc với người Pháp được không, thậm chí cũng có thể thử dẫn dắt họ tới việc phải công nhận trên thực tế việc Việt Minh đã nắm chính quyền. Ông Hồ không nghĩ như vậy. Trong lúc này, ông không sẵn sàng thương lượng. Tình hình sau này cũng có thể sẽ thay đổi khi người Pháp nhận thức được họ không thể giữ mãi được những tham vọng của họ trước. Nhưng cho đến lúc đó thì họ vẫn cứ phải ở tại Dinh và cần phải được canh giữ. Tôi gợi ý một lần nữa về một cuộc đối thoại với Sainteny nhưng ông Hồ vẫn khăng khăng không chịu và cho rằng không được kết quả gì tích cực. Song, vì nhã ý đối với tôi, ông nói về vấn đề này, tôi có thể tùy ý quyết định.
Nhưng ông Hồ không phải chỉ lo lắng về người Pháp không thôi, ông còn gặp khó khăn đối với những mưu toan của người Anh và Trung Quốc. Ông nói một cách thông thạo về sự hợp tác Pháp - Anh ở Lào, Kampuchia và Nam Bộ. Trong các khu vực này, rõ ràng quyền lợi của Anh trùng hợp với các mục tiêu của Pháp với mục đích lâu dài nhằm khôi phục lại khu vực thuộc địa trước chiến tranh của họ ở Đông Nam Á. Còn đối với người Trung Quốc, ông Hồ xác định lợi ích của họ chính là những vụ “trấn lột về chính trị”. Có tin từ Trùng Khánh cho biết, Quốc dân Đảng (Trung Quốc) đang xúc tiến thương lượng với Chính phủ Paris về nhiều vấn đề đặc quyền ở Đông Dương và ông Hồ tin chắc rằng hoạt động của các cường quốc Pháp, Anh, Trung Quốc sẽ gây nguy hại cho sự toàn vẹn của phong trào giải phóng dân tộc.
Câu chuyện trở nên chán ngán. Tôi chuyển sang hỏi về mối quan hệ giữa Nhật và Chính phủ Lâm thời. Ông Hồ khẳng định là Nhật không can thiệp và đã có thái độ hợp tác tốt từ sau cuộc “khởi nghĩa” ở Hà Nội, đã có một sự thông cảm ngầm không qua những mối quan hệ chính thức hoạt động thương lượng. Người Nhật đã rút lui một cách có trật tự và Việt Minh tiếp quản dần từng ngành chính quyền. Nhưng ông không biết phải chờ đợi gì ở Đồng minh sau khi Nhật rút đi và ông cũng chẳng rõ ai thay thế họ. Tôi nói có thể là người Trung Quốc như đã thỏa thuận ở Potsdam. Ông Hồ không ngạc nhiên vì ông cũng đã nghĩ là tình hình cũng có thể sẽ như thế nhưng chưa chắc chắn lắm. Tôi ngầm tự hỏi không rõ ông có hy vọng gì vào việc Mỹ chiếm đóng không.
Ông rất khó chịu về việc người Việt Nam phải tiếp đón quân đội Trung Quốc và cho rằng việc một số lớn người Trung Quốc tràn vào Việt Nam, cộng với số quân Nhật ở đây sẽ làm cho tài nguyên đất nước khánh kiệt một cách ghê gớm. Một cách tinh vi, ông đã liên tưởng đến những rối loạn mà quân đội chiếm đóng Tưởng có thể gây ra nếu họ cướp bóc lan tràn và lộng hành đối với dân chúng. Ông yêu cầu tôi báo trước cho Đồng minh về những khả năng này, và tôi đã hứa sẽ làm đầy đủ.
Đó là một số vấn đề đã ám ảnh ông Hồ, đều là những vấn đề giải quyết không dễ dàng và chúng tôi cũng chỉ có thể tác động tới được rất ít.
Không kể đối với một số ít người thân cận và một số người Trung Quốc, tên tuổi và con người Hồ Chí Minh còn được ít người Việt Nam biết đến, và đối với các lãnh tụ thế giới đang chia cắt Đông Nam Á thì lại càng không biết tới. Những cố gắng trước đây của ông để tranh thủ sự công nhận của Mỹ đã không đi tới đâu. Ông Hồ cảm thấy khẩn thiết phải tìm được cách làm cho Đồng minh chú ý đến chính phủ của ông trước khi quân đội chiếm đóng của họ tới. Ông đã xem bản kêu gọi công nhận nền độc lập Việt Nam của Bảo Đại gửi cho những người cầm đầu các nước Đồng minh mấy ngày trước. Điều đó làm cho ông lo lắng vì lời kêu gọi đã tăng cường địa vị hợp pháp là người đứng đầu quốc gia của Bảo Đại và không nói gì đến sự tồn tại của Chính phủ Lâm thời. Ông phải nhanh chóng hành động để sửa lại điều sai trái này.
Theo ông Hồ thì Bảo Đại đã không cầm quyền từ lâu. Chính phủ duy nhất hợp pháp lúc bấy giờ là Chính phủ Lâm thời của ông. Tôi không thảo luận ý kiến của ông có liên quan tới Hà Nội và ngay cả Bắc Bộ nhưng nêu vấn đề là đối với cả nước thì Bảo Đại vẫn là người đứng đầu quốc gia. Với nụ cười quen thuộc, ông báo cho tôi biết rằng đúng vào lúc đó, một phái đoàn Chính phủ đã lên đường đi Huế để tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Đại. Và khi việc thoái vị xong, ông dự định sẽ công bố một bản Tuyên ngôn độc lập, thành lập một nội các, đưa ra một chính phủ hoàn chỉnh, và tranh thủ cho được sự công nhận của quốc tế. Với một giọng tự nhiên, ông hỏi: “Mỹ sẽ làm gì nhỉ?”. Tôi không thể phát biểu thay cho chính phủ nhưng đưa ra ý kiến riêng là Mỹ sẽ xem xét lại tình hình dưới ánh sáng các sự kiện mơi. Ông Hồ tỏ vẻ thất vọng nhưng cũng không nài ép gì tôi thêm.
Điều quan trọng đối với ông Hồ là Mỹ tiếp tục chính sách chống thực dân của Mỹ đối với Đông Dương. Ông cũng tìm cách để xua tan điều “hiểu lầm” cho ông là “một phái viên của Quốc tế Cộng sản” hay là một người Cộng sản. Mối quan tâm sốt sắng của tôi đã tạo cho ông con đường duy nhất có giá trị để đặt quan hệ với Washington. Và ông đã cố tận dụng điều thuận lợi đó. Ông công nhận một cách thẳng thắn ông là một người Xã hội, ông đã cộng tác và làm việc với những người Cộng sản Pháp, Trung Quốc và Việt Nam, nhưng nói thêm “Các ông ở đây nữa cũng thế phải không?”. Ông tự gán cho mình nhãn hiệu là một người “Quốc gia - Xã hội - Cấp tiến”, có một sự mong muốn mãnh liệt muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của nước ngoài. Ông nói một cách lưu loát không điệu bộ, nhưng với một vẻ thành thật, quyết tâm và lạc quan.
Vào khoảng 3 giờ 30, có người tới và nói với ông Hồ điều gì. Ông xoa tay vui vẻ và quay lại phía tôi, với nụ cười rạng rỡ, ông báo cho biết: “Viên Khâm sai ở Nam Kỳ vừa điện cho Triều đình xin từ chức. Ông ta đã chính thức đặt chính quyền miền Nam vào trong tay Ủy ban Hành chính Nam Bộ”. Tôi không ngạc nhiên lắm vì hôm trước đã được nghe nói Việt Minh do Trần Văn Giàu lãnh đạo đã nắm quyền kiểm soát ở đó. Ông Hồ giải thích là Bảo Đại chỉ mới tuyên bố có “ý định” thoái vị. Nhưng người cuối cùng trong số 3 viên Khâm sai cũng đã rút lui thì không còn có trở ngại chính thức gì cho việc thoái vị hiện nay của ông ta nữa. Rõ ràng đó là một điều hân hoan đối với ông Hồ…
Tôi cho rằng các bạn ông đang chờ để gặp ông, nên xin rút lui. Ông Hồ tiễn tôi ra tận cửa và nói ông sẽ không bao giờ quên buổi chiều vui vẻ này của chúng ta và tỏ ý mong rằng tôi sẽ vui lòng giữ quan hệ mật thiết với ông. Tôi đáp lại xin sẵn sàng gặp ông sớm. Người lái xe đã đợi sẵn và 5 phút sau tôi đã trở lại nhà Gauthier.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: (ak47) trong 04 Tháng Tám, 2008, 02:36:57 PM
NHỮNG TRÀO LƯU NGẦM
Tôi hy vọng còn lại được một đêm của ngày chủ nhật “yên tĩnh”, nhưng lại rơi vào một tình hình khá căng thẳng. Người trong toán chúng tôi đang chờ để báo cáo về cuộc phiến động mới nhất. Họ đã bắt được nhiều tên khiêu khích (người Việt và Nhật) đi rải những truyền đơn tiếng Việt, nói Pháp sẽ đổ bộ để chiếm lại “An Nam”, hay Việt Nam sẽ thay Nhát để giải phóng châu Á khỏi ách “đế quốc da trắng”... Nhiều người cho rằng đó là luận điệu tuyên truyền của Nhật, muốn gây hoang mang và hiềm khích dân tộc. Qua Imai, tôi đã báo và xác định trách nhiệm ngay với Bộ Tổng Tham mưu Nhật...
Tôi nhận được một bức điện có ý nghĩa đặc biệt từ Côn Minh, do thủ trưởng cơ quan R&A gửi riêng cho tôi để nghiên cứu. Đó là tóm tắt bản tin của Vụ Hoa kiều Hải ngoại (Quốc dân Đảng Trung Quốc) trong đó có nói:
“Đông Dương không phải chỉ không còn giữ được vai trò của một nước trung lập, mà đã trở thành một căn cứ chủ yếu cho Nhật xâm chiếm Trung Quốc từ phía nam, do đó đã gây thiệt hại nặng nề cho Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc không hề có mưu đồ gì về đất dai đối với Đông Dương, trừ việc đến đó để nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật ở miền bắc xứ này”.
Kết tội về những sai lầm đã qua vốn là một thủ đoạn cổ truyền của Trung Quốc để nhằm làm thay đổi chiều hướng phát triển của tình hình mà họ không thích... Vào 1945, lời tuyên bố trên báo lên án Đông Dương đã đi theo phục vụ Nhật chỉ là một phương pháp thể hiện ý đồ người Trung Quốc muốn làm áp lực để người Pháp phải chấp nhận những yêu sách của họ về các vấn đề khác như vấn đề tô giói ở Thượng Hải, trong lĩnh vục đặc quyền về buôn bán, bến cảng v.v...
OSS Côn Minh báo cho tôi biết có tin phong thanh về một sự thỏa thuận giữa Pháp và Trung Quốc, việc chiếm đóng của Trung Quốc đã chỉ được sử dụng như là một phương sách để đưa người Pháp đến chỗ đồng ý với nhiều vấn đề quốc tế hiện nay. Nếu đạt được sự thỏa thuận thì người Trung Quốc sẽ rút lui nhường chỗ cho người Pháp chiếm lại Đông Dương. Do đó, tôi không còn phải quá nhấn mạnh tới chính sách trước đây của Mỹ về “quyền tự quyết và quyền tự do của các dân tộc phụ thuộc”.
Bức điện làm cho tôi lúng túng. Đây chưa phải là một sự thay đổi chính thức trong chính sách của Trung Quốc nhưng cũng báo hiệu là một chính sách mới đang hình thành. Tôi không có lý do gì để hỏi lại Côn Minh nên chỉ biết thế và sau này hãy hay. Điều này đã xảy ra vừa đúng một giờ sau khi ông Hồ đã bực bội tỏ rõ sự lo ngại của ông đối với các hoạt động của các nước lớn Pháp, Trung Quốc. Ông lo là đúng, ấy là chưa nói đến những tin tức về người Anh.
 
SAINTENY MUỐN GẶP ÔNG HỒ

Chiều hôm đó tôi nhận được điện của Sainteny yêu cầu tôi đến gặp ở dinh Toàn quyền. Tôi đến vào khoảng 6 giờ và thấy Sainteny đang ở trong một trạng thái ủ rũ, không phải đối với tôi, mà chán nản vì cách cư xử của người Nhật và sự bất lực của ông. Qua đài truyền thanh, ông nghe tin Huế, Sài Gòn đã “rơi vào tay Việt Minh” và thất vọng vì người Pháp ở Paris vẫn chưa thức tỉnh. Nhưng hình như ông vẫn chưa từ bỏ ý định là không thể không làm gì được trong lúc này.
Một trong những điều ông lo lắng nhất, và cũng là lý do ông muốn gặp tôi là vấn đề an ninh của thường dân Pháp, mà theo ông nói, ông sẽ cảm thấy được yên tâm hơn, nếu như ở đây có quân đội người Âu. Ông hỏi xem có cách nào để tổ chức được “một phân đội nhỏ” lính Pháp từ trong Thành để tuần tiễu các khu vực tập trung nguời Pháp. Tôi nói khi mà người Nhật còn nhiệm vụ ở đây họ sẽ không thể đồng ý. Tôi có hỏi Sainteny xem cần độ bao nhiêu người, ông đáp “Phải đến một nghìn”. Tôi nghĩ như thế không phải là một phân đội nhỏ nữa. “Thế còn vũ khí và nơi đóng quân?”. Sainteny cho rằng sẽ nhờ Nhật thu xếp. Tôi khẳng định người Nhật sẽ không bao giờ đồng ý. Tôi thử gợi ý Sainteny nên tìm gặp tướng Tsuchihashi. Sainteny chộp ngay lấy ý đó, “Tuyệt, tại sao hai chúng ta lại không cùng gặp ông ta nhỉ?”. Tôi cười, nhưng cũng nghiêm chỉnh nhắc lại rằng theo mệnh lệnh chung số 1 thì việc duy trì trật tự và pháp luật thuộc trách nhiệm người Nhật. Sainteny trở lại ủ rũ và chỉ còn biết nói là chưa được xem bản mệnh lệnh. Vấn đề dừng lại ở đây nhưng cũng lại được nêu lên trong những tuần sau đó.
Tôi kể cho Sainteny về chuyến đi thăm Thành và trại Gia Lâm của tôi, việc tôi đã chính thức phản đối Bộ chỉ huy Tối cao Nhật về tình hình tù binh, đã báo cáo với Côn Minh và nghe tin sẽ có một nhân viên có thẩm quyền của Chiến trường đến để giải quyết vấn đề này.
Sainteny nói ông thông cảm hoàn toàn với địa vị của tôi và ông ở đây, ông đánh giá cao sự quan tâm của tôi, nhưng người Mỹ ở Trung Quốc đã không hiểu hết được cảnh ngộ của Pháp; nếu như người Pháp được tự do hoạt động thì tình hình ở trong Thành chắc đã được cải tiến một cách chóng vách.
Với thái độ ít nhiều chua chát, ông ngỏ ý muốn biết chung quanh “câu chuyện om sòm” buổi sáng nay trước nhà phái đoàn Mỹ. Tôi giải thích đó là một cuộc gặp gỡ xã giao với đoàn đại biểu của Chính phủ Lâm thời đến chào. Sainteny bình luận “Ít ra thì họ cũng đã không quên kiểu cách lịch sự của người Pháp”. Nhưng điều đó đã đưa ông ta quay trở lại vấn đề bảo vệ dân chúng Pháp. Ông cũng có chút ca ngợi sự kiềm chế và thiện ý muốn tránh bạo lực của Việt Minh, nhưng lại thêm “dĩ nhiên là người Nhật còn ở đây, vì vậy nhận xét gì trong lúc này thực vẫn còn quá sớm”.
Tôi kể lại cho Sainteny hay là một số các nhà lãnh đạo Việt Minh đã đảm bảo với tôi rằng Hồ Chí Minh sẽ không dung túng cho bất kỳ một sự quấy rối không vì bị khiêu khích nào đối với cộng đồng người Pháp. Tôi nhấn mạnh vào chữ “không vì bị khiêu khích”, và nói với Sainteny rằng tôi đã được Chính phủ Lâm thời cho biết là “nhóm đại úy Blanchard” đã hợp tác chặt chẽ với Nhật trong việc gây ra một số vụ rắc rối. Sainteny chỉ nhún vai mà không bình luận gì.
Tôi không để lộ cho Sainteny biết là tôi đã gặp ông Hồ, nhưng hình như ông ta cũng cho rằng tôi đã có liên lạc với ông Hồ nên đã hỏi tôi xem có thể thu xếp một cuộc gặp gỡ giữa hai người không. Tôi đảm bảo với ông ta là tôi sẽ vui lòng làm và nhắc cho ông ta biết là ông Hồ đã không hài lòng về việc những cố gắng trong tháng 7 của ông đã không mang lại kết quả gì tích cực. Sainteny đã chống chế lại là ông đã chuẩn bị đến gặp ông Hồ dạo đó, nhưng vì “mưa to và đường ngập” nên đã bị ngăn không tới được căn cứ của ông Hồ. Tôi nhận xét là các điện tín lúc đó có ghi ông Hồ có thể tới Côn Minh hoặc Trùng Khánh, nhưng Sainteny trả lời rằng điều quan trọng là phải làm việc với ông Hồ ngay trên “đất Pháp”, nghĩa là Đông Dương, chứ không phải “trước mũi của người Trung Quốc”. Ông ta và cả tôi, không ai nhắc đến việc đề nghị của ông Hồ đã không được phúc đáp lại. Về sau, tôi hỏi lại Sainteny một lần nữa xem ông ta có muốn tiếp tục thu xếp việc gặp gỡ giữa hai người không. Sainteny đã đáp lại là điều đó rất có ích và ông đánh giá cao việc tôi có thể thu xếp được.
Tối hôm đó, tôi bắt liên lạc với Xuân qua Imai. Khoảng 9 giờ Xuân tới và tôi đã nhờ chuyển lời của Sainteny cho ông Hồ. Lời phúc đáp tới liền ngay: ông Hồ sẽ phái Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ của ông, tới gặp Sainteny nếu có tôi đi cùng. Cuộc gặp gỡ được ấn định vào sáng ngày hôm sau.
 
________________________________________
(1) Dương Đức Hiền (1916-1963), lúc đầu hoạt động cho Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau khi Đại Việt được thành lập năm 1941, Hiền với Nguyễn Tường Tam và em là Nguyễn Tường Long cùng tham gia lãnh đạo. Là một trí thức, lãnh tụ sinh viên, Hiền được bầu làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Hà Nội. Tháng 6-1944, Hiền tập hợp một số lớn sinh viên lập ra Việt Nam Dân chủ Đảng và trở thành Tổng bí thư đầu tiên. Chịu ảnh hưởng của bạn thân là Võ Nguyên Giáp, Hiền sát nhập đảng Dân chủ vào Mặt trận Việt Minh, vừa là chỗ ngụy trang cho các đảng viên Công sản trong những lúc bị khủ bố, vừa đóng vai trò một thiểu số trung thành trong Việt Minh. Tại Đại hội Tân Trào, Hiền được cử vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc và sau đó làm Bộ trường Thanh niên trong nội các đầu tiên của ông Hồ.
(2) Bí thư Thành ủy Đảng Cộng sản Đông Dương Hà Nội
(3) Tôi giữ phép lịch sự, mặc dù chúng tôi không có một địa vì gì đối với người Việt Nam. Chúng tôi đã được trú ở một nơi thích đáng do các nhà chức trách quân sự Nhật bố trí không kể gì đến tình hình chính trị của người Việt hay người Pháp.
(4) Khi người Nhật giao nhà Gauthier cho toán OSS chúng tôi, họ đã chọn Phát trong hàng ngũ Bảo an để làm chỉ điểm cho Hiến binh Nhật sau khi đã rút khỏi tổ Đảng ở Hà Nội. Phát nhận nhiệm vụ của Nhật, nhưng về sau Hiến binh cũng thôi không tiếp xúc hoặc chỉ thị gì cho Phát.
(5) sau này tôi mới biết ngôi nhà đó ở phố Hàng Ngang.
(6) Chúc sức khỏe! (tiếng Pháp)
(7) Chúc Ngài sức khỏe! (tiếng Pháp)
(8) tức bản tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 09:18:11 AM
Chương 21
Đường lối ngoại giao kém cỏi của Pháp
HAI ĐỊCH THỦ GẶP NHAU
Hai đối thủ có trọng trách Pháp và Việt, cả hai đều không có quy chế chính thức, sẽ gặp nhau lần đầu tiên vào lúc 10 giờ. Tôi đã báo cho Sainteny biết là Giáp sẽ đại diện cho ông Hồ; tôi cũng sẽ đến trước tại Dinh… Sainteny đã cho bố trí một trong những phòng rộng nhất, lịch sự nhất trong Dinh, rất phù hợp với một sự phô trương thích đáng của chủ quyền nước Pháp. Sự lựa chọn của ông cũng có thể được coi như phù hợp với sự tôn trọng đối với một vị khách quan trọng và được biệt đãi là biểu hiện của một ý đồ tinh vi muốn uy hiếp tinh thần người Việt Nam. Điều này tôi cũng không rõ lắm.
Sainteny hở cho tôi biết là tôi sẽ phải ngạc nhiên khi được nghe thấy những quan điểm tự do của Pháp trong dịp này. Nhưng tôi không cho điều đó lại là lạ, vì như tôi biết, nước Pháp trong lúc này, chẳng còn có con đường nào khác ngoài việc chấp nhận Chính phủ Lâm thời.
Chúng tôi từ cửa sổ thấy Giáp và Dương Đức Hiền tới trong một xe mui kín đen bóng, hai bên đằng trước có cắm cờ Việt Minh… Họ có một vệ sĩ người Việt mang tiểu liên Sten đi theo, còn một vệ sĩ khác thì mở cửa cho Giáp. Ông vẫn mặc bộ đồ trắng thường ngày, cà vạt thẫm, mang áo khoác “có vết tích chiến đấu” đã trở thành biểu tượng cho quyền lực của một lãnh tụ du kích Việt Minh và Giải phóng quân. Đường hoàng, trang nghiêm và tự tin, Giáp tiến vào cửa chính, ở đó đã có một sĩ quan Pháp đang chờ.
Ngay sau khi vào phòng, Giáp tiến thẳng về phía Sainteny. Người Pháp đợi cho Giáp đi được quá nửa đường rồi mới bước tới. Tôi tiến lên trước và chào Giáp, rồi giới thiệu ông và Hiền với Sainteny. Chúng tôi đi xuyên qua gian phòng rộng một cách lặng lẽ tới chỗ đã bố trí đi-văng và nhiều ghế ngồi. Tôi phá vỡ im lặng bằng cách bình luận về tình hình sôi sục tôi đã thấy ở ngoài phố buổi sáng. Giáp gượng cười giải thích là dân chúng xuống đường đến mừng bộ đội của ông “mới từ rừng núi về” sau nhiều trận đánh với quân Nhật. Họ sẽ tới vào buổi trưa hôm đó và khi ở đây xong, bản thân Giáp cũng sẽ đi đón mừng họ.
Tài ngoại giao của Sainteny chắc chắn đang ở trong chiều hướng suy tàn tầm thường nhất. Mặc dù đã cố gắng nhiều để tỏ ra lịch sự, ông đã lên giọng chặn Giáp bằng một bài diễn văn gia trưởng về cách xử sự của người “A na mít”. Không đếm xỉa gì tới mối ác cảm của người Việt Nam đối với tính gia trưởng của người Pháp, với một giọng trầm bổng và bằng những danh từ nhẹ nhàng, Sainteny hỏi tại sao Việt Minh đã liều lĩnh “làm cho thế giới biết rằng sự có mặt của Pháp ở Đông Dương đã từ lâu không được mọi người hoan nghênh nữa”. Không ngừng để chờ giải đáp, Sainteny tiếp tục phát biểu là tuyên bố như thế chỉ làm cho các nước Đồng minh thêm lo lắng về sự an ninh của dân chúng Pháp tại Đông Dương và đưa họ đến kết luận là phải thận trọng giữ các nhà chức trách Pháp không cho vào Đông Dương trong lúc này. Để nhấn vào sự không hài lòng, chứ không phải là sự thất vọng, đối với cách xử sự của Việt Minh; Sainteny báo cho các vị khách của ông ta biết ông “sẽ theo dõi một cách cảnh giác” các hoạt động của cái gọi là Chính phủ Lâm thời và sẽ tự mình đánh giá công sức các nhân viên Chính phủ đó trong việc cai trị Đông Dương sau chiến tranh.
Tôi e rằng Giáp có thể hiên ngang bước ra khỏi phòng bất cứ lúc nào, nhưng ông đã không làm như vậy. Bằng một thứ tiếng Pháp hoàn hảo, với một sự tự kiềm chế tuyệt đối, Giáp nói ông đến đây không phải để nghe diễn thuyết, cũng chẳng phải để biện minh cho các hoạt động của nhân dân Việt Nam và ông đến là theo lời mời của người mà ông cho là đại diện của “Chính phủ Pháp mới”, do đó ông sẵn sàng tham gia một “cuộc trao đổi quan điểm” thân mật. Lần đầu tiên trong đời mình, Sainteny đã gặp mặt đối mặt với một người Việt Nam đã dám dũng cảm đương đầu với một người Pháp. Thái độ Sainteny nhụt hẳn đi. Với một nụ cười hoà giải, ông tuyên bố ông là đại diện cá nhân của tướng De Gaulle. Trước hết ông muốn báo cho dân chúng Việt Nam biết Pháp hiện nay là “một nước độc lập và tự do”, các “lề thói cũ” sẽ được loại bỏ, tất cả những người Pháp xấu sẽ bị cho về nước và người “An Nam” sẽ được ban nhận nhiều yêu sách của mình. Trong thâm tâm, tôi nhớ lại là Sainteny đã thú nhận với tôi ở Côn Minh rằng ông chẳng nhận được chỉ thị gì của Chính phủ cả, nhưng ông vẫn hy vọng đạt được một tạm ước Pháp - Việt trong lúc giao thời.
Một cái gì đó trong lời phát biểu của Sainteny chắc đã gãi đúng chỗ ngứa. Giáp đã không hoàn toàn bỏ qua thái độ hoà giải của đối phương. Những những tiếng mơ hồ về tự do cho “người An Nam”, một danh từ đáng ghét của thực dân Pháp hình như đã làm ông bối rối. Giáp yêu cầu phải nói chính xác, như trước đây ông Hồ đã từng đòi hỏi Pháp vào tháng 7, nhưng Sainteny đã trả lời là họ sẽ “vạch ra chi tiết cụ thể, ngay sau khi Nhật và Trung Quốc rút đi”. Giáp không thoả mãn và vẫn yêu cầu là phải cụ thể. Nhưng Sainteny một lần nữa lại vẫn lao vào những lời chung chung. Giáp ngồi phớt lạnh. Ông không hề xúc động trước những lời hứa mơ hồ.
Trước thái độ không lay chuyển được của Giáp, Sainteny cũng quay lại đường lối cứng rắn của mình. Tôi đã cảm thấy khó xử trong không khí căng thẳng nặng nề, thiếu tin cậy và chống đối nhau. Cả Giáp và Hiền đều tỏ ra không muốn nhân nhượng để cho Pháp có tiếng nói về tương lai của Việt Nam. Để nhằm thuyết phục họ rằng đường nào rồi Đông Dương cũng phải chịu chấp nhận sự đô hộ của nước ngoài, Sainteny đã phịa ra rằng chính những hành động không khôn ngoan của Việt Minh đã đưa tới tình hình không thể chịu đựng nổi hiện tại. Các nước Đồng minh thấy Việt Minh chống đối với Pháp, nên ở Postdam đã quyết định để cho Trung Quốc tước vũ khí quân Nhật; điều đó sẽ mang lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho người Đông Dương mà Giáp chắc đã biết quá rõ kinh nghiệm lịch sử, là một khi người Trung Quốc đã vào Đông Dương thì cũng phải còn rất lâu họ mới lui về.
Cái kiểu lập luận này hình như có tác dụng nên Sainteny càng đi tới. Việc chiếm đóng của Trung Quốc chỉ có nghĩa là kiệt quệ về kinh tế, rối loạn xã hội và một sự hoàn toàn mất tự do. Giáp và Hiền nhìn tôi chờ một sự xác nhận; với một vẻ thoả mãn, Sainteny cũng yêu cầu tôi chứng nhận cho lời phát biểu của ông. Tôi nhắc lại điều mà tôi đã nói với họ từ hôm trước, Trung Quốc sẽ tiếp nhận sự đầu hàng Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16, còn Anh ở phía nam, và nhấn mạnh vào điều mà tôi hiểu là người Trung Quốc không có ý định ở lại Đông Dương lâu quá thời gian cần thiết để hồi hương quân Nhật. “Thế là bao lâu?”, Sainteny hỏi sâu vào vấn đề.
Giáp tỏ ra lúng túng một lúc nhưng trở lại điềm tĩnh ngay, nói đây không phải là lần đầu tiên người Trung Quốc đến Đông Dương và họ sẽ không ở lại lâu. Không thấy cái lạc quan còn chập chờn của Giáp, Sainteny tiếp tục bằng một giọng chắc nịch rằng trong khi chờ đợi thì tính mệnh của mọi người Pháp phải được bảo toàn “bằng bất cứ giá nào” và “Chính phủ Lâm thời An Nam phải chịu trách nhiệm về vấn đề này”. Ông nói, Chính phủ Pháp mong muốn Chính phủ Lâm thời yêu cầu các nhà chức trách Đồng minh có biện pháp ngăn chặn không cho quân dội Trung Quốc tiến vào các thành phố có đông người Âu sống như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Huế, và các nơi đó sẽ được các nhân viên Pháp - Việt trông nom. Chẳng ai có thể nói được đây là một thủ đoạn có tính toán của Sainteny hay là một lỗi lầm thô thiển, nhưng con người sắc xảo của Giáp đã ghi nhận được ngay. Như thế là người đại diện của De Gaulle đã công nhận “Chính phủ Lâm thời An Nam” là một cơ cấu có trách nhiệm, Sainteny đã yêu cầu Chính phủ Lâm thời thay Pháp nói chuyện với các nhà chức trách Đồng minh. Giáp đáp lại ngay là không cần quấy rầy đến Đồng minh về các vấn đề này làm gì; Chính phủ ông sẽ xem xét tới việc không để cho người Pháp sẽ bị quấy nhiễu.
Bị thua điểm, Sainteny buồn ra mặt nhưng tự trấn tĩnh được và liền thay đổi ngón chơi bằng cách gợi ý cho đây chỉ là một câu chuyện nội bộ trong gia đình, họ có thể giải quyết được mọi sự xung đột nếu họ cùng làm việc với nhau, như họ đã từng làm trước đây vì lợi ích chung của cả hai bên; một sự liên minh Pháp - Việt có thể sẽ là một giải pháp cho mọi vấn đề. Giáp đã quyết định chấm dứt cái trò chơi đố chữ này. Cười một cách hết sức nhạt nhẽo, ông nói “mọi việc đều có thể”.
Sau một vài nhận xét không đâu vào đâu, Giáp nói ông còn phải đi duyệt các đơn vị bộ đội mới tới, rồi qua những câu vui đùa hời hợt, những cái bắt tay và nụ cười giả tạo, Giáp và Hiền rời dinh Toàn quyền. Sau khi họ đi khỏi, Sainteny tỏ ra hài lòng với mình: Điều nhận xét lúc đó ông nói với tôi là ông đã thuyết phục được các vị khách của ông bỏ cái “tính tự phụ trẻ con” định xoay xở sống mà không có Pháp. Ông đã không thấy được chút nào là ông đã đụng đầu ngay với một người mà sau này đã được ghi nhận trong lịch sử bằng việc làm tan rã một cách cơ bản đế quốc thuộc địa Pháp ở Viễn Đông.
MỘT VIỆC MUA CHUỘC NGƯỜI MỸ CỦA PHÁP
Tôi nán ở lại một lúc, nhưng cũng chỉ là để nhận được một điều bất ngờ đáng tởm. Người phục vụ mang cà phê và bánh tới, chúng tôi chuyện trò về bộ đội Việt Nam mới tới và phán đoán về ảnh hưởng về sự có mặt của họ trong thành phố. Sainteny tỏ vẻ bực tức. Nhưng, hoàn toàn bất ngờ, với một giọng nói rất tin cậy cứ như là chúng tôi âm mưu với nhau, ông báo cho tôi biết: “Chính phủ Pháp đã chuẩn bị mở một ngân sách 5 tỷ đồng quan Pháp để chỉ dành riêng cho người Mỹ đầu tư vào Đông Dương, và tôi(1) muốn biết nên tiếp xúc với ai về vấn đề này để có thể xúc tiến việc thương lượng”. Ông còn nói cần phải giữ hết sức bí mật. Tôi nổi điên lên và cứng miệng không sao trả lời được…Cuối cùng, tôi nói là sẽ chuyển vấn đề này cho Trùng Khánh, và tôi đã điện ngay tối hôm đó. Như tôi biết thì sau đó tôi nhận được trả lời của Heppner bảo cho tôi phải tránh xa mọi hoạt động nhằm hối lộ các quan chức Mỹ. Và cũng chẳng ai đã dính đến vụ mua chuộc này của Pháp.
Đó cũng chỉ là một thủ đoạn vô liêm sỉ và trắng trợn của Pháp, nhưng chỉ vài tuần sau, Pháp lại tố cáo Hồ Chí Minh đã mưu tính mua chuộc tôi và những người Mỹ khác ở Đông Dương.
Trước khi tôi rời khỏi Dinh, Sainteny vẫn sảng khoái nói với tôi về việc thiết lập một “Ban tâm lý chiến có quy mô toàn quốc”. Ông dự định cộng tác với người Việt Nam ở đài Bạch Mai để tuyên truyền… Tôi cho đó là một điều không thể được, nhưng không nói gì.
Sainteny còn có một yêu cầu. Ông muốn tôi báo cho “Uỷ ban Đình chiến” (tôi cho ông muốn nói đến các nhà chức trách Đồng minh) là Chính phủ Pháp (có nghĩa là cả bản thân ông) mong muốn cho chuyên chở các phụ nữ và trẻ em Pháp tới các địa điểm ở nam vĩ tuyến 16 để tránh các sự không may trong khi Trung Quốc chiếm đóng và yêu cầu cho tổ chức một lực lượng cảnh sát Pháp để duy trì trật tự và luật pháp ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Huế. Đã có nhiều lần ông đã nói riêng với tôi rằng các toán trước đây do OSS trang bị cần tạm thời được sử dụng làm lực lượng cảnh sát. Về việc ông ta lại gợi ý muốn tổ chức một lực lượng cảnh sát Pháp, tôi thừa hiểu mục đích của ông ta chỉ là muốn sử dụng họ làm một lực lượng đi trước cho đội quân của Leclerc đang có tin đồn là đã lên đường sang Đông Dương, những tin đồn được đài phát thanh Delhi tung ra một cách rộng rãi làm cho người Việt Nam và đặc biệt là Việt Minh lo ngại.
Với điều thất vọng quá rõ ràng này về Sainteny, tôi cáo lỗi và trở về nhà Gauthier, trong một tâm trạng khó chịu.
Chú thích:
(1) tức Sainteny


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 09:31:27 AM
Chương 22
Gấp rút tiến hành tổ chức cuộc đầu hàng
NGƯỜI NHẬT ĐƯỢC GỌI ĐẾN TRUNG QUỐC
Việc chậm không nhận được chỉ thị cho xúc tiến cuộc đầu hàng đã gây ra nhiều vấn đề không dự kiến trước được. Người Nhật thì lo lắng, nhất là đối với tin quân Trung Quốc sẽ tới và nắm quyền kiểm soát. Đã qua 2 tuần, sau khi có tin đầu hàng từ Tokyo, nhiều quân nhân Nhật đã tự do bỏ đi, trà trộn vào quần chúng, gây rối ren thêm cho trật tự xã hội… Sự vắng mặt kéo dài của quân đội Đồng minh đã không nâng cao được uy tín của Đồng minh trước con mắt những phần tử không có thiện cảm. Bọn tay sai của Hiến binh ra sức tuyên truyền chống lại người da trắng, đặc biệt trong những người Cao Đài và Hoà Hảo…
Nhưng đến ngày 27-8 tôi nhận được tin của người Trung Quốc ở Khai Viễn(1) yêu cầu cho họ đặt đường dây liên lạc vô tuyến với Nhật ở Hà Nội. Đoán trước về cuộc hành quân sắp tới của Trung Quốc, Tsuchihashi lo ngại có khả năng xảy ra xung đột giữa quân đội của ông với Trung Quốc. Ông điện báo cho Bộ chỉ huy Trung Quốc ở Khai Viễn và yêu cầu được cho biết về những đường mà quân Trung Quốc sẽ đi để ông cho rút quân Nhật về gần Hà Nội và ra ngoài các đường tiến quân của Trung Quốc.
Ngày hôm sau chúng tôi nhận được chỉ thị tiến hành thương lượng sơ bộ. Chỉ thị gửi cho Tư lệnh Nhật ở Hà Nội, nhưng điều đáng ngạc nhiên nhất là chỉ thị lại do Lư Hán ký. Viên tướng Vân Nam này sẽ tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật thay vì viên tướng thân tín của Quốc dân Đảng (Trung Quốc) là Trương Phát Khuê. Việc chỉ định Lư Hán đã báo trước một cách rõ ràng là sẽ có nhiều vấn đề đặt ra cho người Pháp và Việt Nam. Điều đó cũng giải thích được những ý trong bức điện tôi nhận ngày hôm trước về các vấn đề tù binh, giao thông liên lạc… Côn Minh muốn cho tôi hay là sẽ có dấu hiệu về một sự thay đổi, nên trong điện viết “Tạm thời ít nhất người Trung Quốc không muốn, nhắc lại “không”, cho người Pháp tiến vào Đông Dương. Một số phân đội Trung Quốc ngày 28-8 đã tiến vào Hà Giang và Bắc Quang”.
Sự nghi ngờ của tôi về mưu mô của người Trung Quốc đã được khẳng định. Qua việc Lư Hán đảm nhiệm các chiến dịch ở Đông Dương, Tưởng Giới Thạch muốn nắm chắc được việc Pháp phải nhân nhượng trong cuộc điều đình về quyền lợi của Pháp ở Trung Quốc: Như đã biết, từ cú 9-3, Tưởng chủ trương một chính sách không tuyên bố nhằm gạt Pháp ra ngoài các vấn đề Đông Dương. Ông đã từ chối không cung cấp vũ khí và không để họ trở lại thuộc địa cũ của họ. Bây giờ đội quân của Alessandri bị cầm chân lại ở phía nam Trung Quốc, chính vì Tưởng có ý định sử dụng việc chiếm đóng làm một phương tiện ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện của ông. Cái nhiệm vụ không hay ho đó đã được giao cho con người nổi tiếng chống Pháp là Lư Hán. Sự lựa chọn đã làm cho người Pháp phát khiếp, nhưng Trung Quốc lại cho đó là một thủ đoạn có tính toán khôn ngoan.
Lư Hán đã hoan nghênh vì có được dịp may để kiếm chác, đồng thời lại thanh toán được một vấn đề lưu cữu từ trước. Mối thù cá nhân của ông đối với người Pháp nói chung và với Alessandri nói riêng, bắt nguồn từ một sự việc xảy ra trong năm 1940, sau khi Nhật chiếm Đông Dương. Với sự cộng tác của Pháp, Nhật đã chặn những con đường thương mại buôn lậu cổ truyền của Trung Quốc với Đông Nam Á. Thống đốc Long Vân và tướng Lư Hán có lợi lớn trong việc giữ cho các con đường này được thông suốt, nên họ đã tìm gặp tướng Martin, chỉ huy quân Pháp ở đây, để thu xếp một sự thoả thuận sao cho các bên đều có lợi. Lư Hán là người đứng ra điều đình trong vụ này; ông đã đến Hà Nội để gặp Alessandri, lúc đó là tham mưu trưởng của Martin, nhưng đã được tiếp đón một cách khá lạnh nhạt. Do đó người Trung Quốc cho Alessandri là người chống đối chủ yếu với đề nghị của Lư Hán và Lư Hán đã không bao giò quên Alessandrỉ cũng như người Pháp.
… Trên đầu bảng chì thị có ghi rõ:
“Theo lệnh Thống chế Tưởng Giới Thạch, Tư lệnh tối cao Chiến trường Trung Quốc, qua tướng Hà Ứng Khâm; Tư lệnh dã chiến Trung Quốc, Lư Hán, Tổng chỉ huy Đệ nhất chiến khu Lục quân Trung Quốc, được chỉ định làm đại diện cho Thống chế để tiến hành thương lượng và tiếp nhận việc đầu hàng sắp tới”.
Bản chỉ thị còn báo cho Nhật gửi một phái đoàn nhỏ gồm một đại diện, hai trợ lý và một phiên dịch đến Mông Tự, một thành phố cổ ở sâu trong miền đông nam Vân Nam, vào ngày 31-8. Hiển nhiên là Tưởng không muốn bị áp đảo bởi số đông và cấp bậc người Nhật. Họ cũng chẳng muốn đề cao sự việc bằng cách tiếp đón phái đoàn ở thủ đô Côn Minh để Long Vân có thể tham dự, hoặc ở Trùng Khánh mà ở đó Nhật có thể có bề thế hơn. Phi cơ chở phái đoàn phải được sơn một chữ thập xám ở cánh và thân máy bay.
Khi tôi báo cho Tsuchihashi, ông tỏ vẻ ngạc nhiên vì địa điểm được lựa chọn lại không phải là Trùng Khánh. Tôi giải thích đây chỉ là một cuộc gặp gỡ sơ bộ, chưa ai biết là địa điểm tổ chức cuộc đầu hàng sẽ ở đâu. Tsuchihashi yên tâm, nói sẽ thành lập đoàn và trả lời tôi vào ngày hôm sau.
Tôi nêu lại vấn đề tù binh, nhu cầu tiếp tế thuốc men và dịch vụ cho họ. Tsuchihashi đã có lệnh cho cải tiến công tác và tăng thêm một số y bác sĩ nhưng lại lúng túng thú nhận rằng các nhà chức trách Nhật đã không có tiền để chi cho các nhu cầu mới này.
Thực tế là tôi đã nhận được nhiều kiến nghị của quan chức Ngân hàng Đông Dương báo cho biết 18 ngày trước đó, Nhật đã rút ra một khoản 60 triệu đồng Đông Dương(2) nên họ đã yêu cầu các nhà chức trách Đồng minh hướng dẫn cho biết phải làm gì nếu như người Nhật lại đòi hỏi nũa. Nhưng Côn Minh đã chỉ thị cho tôi: “Không làm gì cả. Việc đó do ngân hàng giải quyết”.
Ấy thế mà Tsuchihashi lại kêu không có tiền mua thuốc nên tôi đã nói thẳng là khoản tiền thuốc không thấm vào đâu so với số tiền lớn mà Nhật đã rút ra 18 ngày trước đây. Ông tỏ vẻ sửng sốt thực sự. Nhưng tôi cũng chẳng cần biết là bộ chỉ huy của ông hay một ngành dân sự nào khác của Chính phủ Nhật đã nhúng tay vào những vụ này nên đã báo cho ông hay là Ngân hàng Yokohama Species ở Hà Nội mà Nhật có tài khoản, vẫn còn tiếp tục hoạt động(3). Tsuchihashi đã trấn tĩnh lại và hứa sẽ giải quyết các nhu cầu của tù binh.
Tsuchihashi lại nhấn mạnh là thuốc tốt và đặc hiệu không có ở Đông Dương, gợi ý để người Trung Quốc cung cấp rồi Nhật trả tiền. Tôi đồng ý sẽ xem xét vấn đề này…
Sau đó, Tsuchihashi nêu lên việc người Pháp ở dinh Toàn quyền. Ông cho biết họ thường xuyên liên lạc với những phần tử khiên khích để gây rối loạn trong thành phố. Ông yêu cầu tôi sử dụng quyền hành của mình để giữ số này lại cho tới khi “Uỷ ban Đình chiến” tới. Tôi đòi hỏi có chứng cứ, và Tsuchihashi nói là Imai có thể cung cấp đủ.
Nhưng tôi đã bỏ rơi vấn đề này, vì không thể đặt Mỹ vào địa vị cảnh sát đối với người Pháp và cũng không muốn dính vào việc duy trì trật tự công cộng. Đó vẫn thuộc trách nhiệm người Nhật.
Chiều tối hôm đó, Imai mang lại cho tôi một bức điện do Sài Gòn thu được, coi như điện của người Pháp ở Hà Nội gửi cho SLFEO/Calcutta nói về việc Đồng minh đã làm thất bại các mục tiêu của Pháp ở Đông Dương và yêu cầu Paris phải có hành động ở cấp ngoại giao. Đó hoàn toàn có thể là một bức điện bình thường của Sainteny gửi khi ông không giành được thắng lợi trong nhiệm vụ của mình(4). Nhưng mặt khác, cũng có khả năng bức điện đó do Nhật gửi đi với ý đồ tạo ra một vết rạn nứt giữa Pháp và Mỹ. Nếu đúng như vậy thì thực họ chẳng biết gì về việc Sainteny đã nhiều lần điên đầu với Đồng minh vì họ đã từ chối không cung cấp vũ khí cho Pháp và để Pháp chiếm lại Đông Dương. Chẳng ai có thể biết được là thế nào. Nhưng tôi cũng đã cảm ơn Imai và không bình luận gì thêm.
Sáng hôm sau, Imai báo cho tôi danh sách phái đoàn Nhật(5). Tôi ngạc nhiên thấy đại uý hải quân Imai, mới đây được gọi là đại uý Imai, rồi ông Imai, đã được ghi trong danh sách đoàn là “phiên dịch”. Tôi cho rằng Imai có thể là một đoàn viên.
Imai yêu cầu tôi chuyển cho người Trung Quốc biết tướng Tsuchihashi không có sẵn phi cơ, trong hai ngày còn lại trước hội nghị thì không đủ để kiếm được một chiếc và chuẩn bị sơn ký hiệu như đã yêu cầu. Do đó, tướng Tsuchihashi “trịnh trọng yêu cầu” gửi một phi cơ Mỹ sang Hà Nội cho phái đoàn sử dụng, và như thế mới kịp thời gian. Imai cũng mang tới bảng kê khai nhu cầu thuốc thang cho tù binh.
Tôi báo cho Khai Viễn và được trả lời là Nhật phải tự giải quyết lấy vấn đề máy bay(6). Cuối cùng thì Tsuchihashi cũng kiếm được một chiếc phi cơ ở Sài Gòn. Nhưng đến phút chót, người Trung Quốc lại hoãn cuộc họp tới ngày 2-9. Khi máy bay Nhật bay tới không phận Lào Cai, có bốn phi cơ chiến đấu Mỹ đón và hộ tống tới Mông Tự. Từ Mông Tự, phái đoàn được một phi cơ L-5 của Mỹ chở tới Khai Viễn để dự hội nghị.
Ngày 31-8 tôi cũng nhận được thông báo là địa điểm chính thức tổ chức lễ đầu hàng sẽ là Hà Nội, còn thời gian sẽ định sau khi phái đoàn ở Khai Viễn về.
Chú thích:
(1) Thị trấn ở phía nam Côn Minh khoảng 100 dặm, nơi đóng Bộ tư lệnh Đệ nhất chiến khu của tướng Lư Hán.
(2) Lần thứ nhất, ngày 10-8, 21 triệu; lần thức hai, vài ngày sau, 29 triệu; lần thứ ba, mấy ngày trước khi tôi thảo luận với Tsuchihashi, định rút 30 triệu, nhưng chỉ thực hiện được 10 triệu.
(3) ở phố Paul Bert
(4) Đó chính là bức điện của Sainteny gửi cho SLFEO/Calcutta mà mấy năm sau Sainteny đã nhắc lại nguyên văn trong hồi ký.
(5) Phái đoàn gồm trung tá Sakai, các sĩ quan tham mưu, thiếu tá Miyoshi, đại uý Takahashi và ông Imai, phiên dịch.
(6) Điều khó khăn thêm là phải có chiếc phi cơ có sơn ký hiệu màu này.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 09:34:36 AM
TRÙNG KHÁNH CHUẨN BỊ THANH TOÁN
Ngày 28-8, những bộ phận đầu tiên của quân đội Vân Nam của “Long Vân”(7) nhung nhúc kéo qua biên giới Đông Dương như một bầy châu chấu lớn. Chúng đi riêng, không có người Pháp và bộ đội tinh nhuệ của Trương Phát Khuê đi cùng, và thành phần của đội quân chiếm đóng này thật đáng nghi ngờ. Đó là một mớ lẫn lộn các đơn vị Vân Nam và Quảng Tây(8). Điều cũng làm cho người ta ngạc nhiên là việc chỉ định một tướng Quảng Tây, Tiêu Văn(9), đóng hai vai phó tư lệnh và cố vấn chính trị cho Lư Hán. Toàn bộ cơ cấu chiếm đóng rất kỳ quặc. Rõ ràng là Lư Hán không được Quốc dân Đảng (Trung Quốc) tín nhiệm hoàn toàn và Tiêu Văn đã được trao nhiệm vụ phải cảnh giác đối với Lư Hán để bảo đảm giữ quyền lợi cho Trùng Khánh.
Tin tức quân Trung Quốc đi qua biên giới đã gây cho người Việt cũng như người Pháp lo lắng và tức giận. Sainteny, Giáp và cả Mai đều tìm hỏi tin tức và xác định thực sự. Tôi cung cấp được rất ít. Không phải cho đến khi nhận được bản thông báo của OSS tôi mới ý thức tất cả những sự rối rắm về chính trị trong các quyết định đã được đưa ra ở Trùng Khánh. Không còn Nhật để làm vật cản đường, nên mối đe doạ của Cộng sản từ Diên An tiến ra đã trở thành điều quan tâm chủ yếu phải đối phó của Quốc dân Đảng (Trung Quốc).
Nhiều vùng rộng lớn trước đây do Nhật chiếm đóng, nay đã trở thành miếng mồi ngon cho Xô viết và Cộng sản Trung Quốc xâm nhập. Tưởng phải đảm bảo nhanh chóng và thực sự kiểm soát được các vùng này bằng cách cho triển khai lực những đội quân thiện chiến và trung thành nhất của họ ở các trung tâm then chốt: Quảng Châu, Áo Môn, Hán Khẩu, Thượng Hải, Thiên Tân và các nơi khác.
Tưởng cũng còn muốn duy trì vị trí thứ tư của họ trong “năm cường quốc” sau chiến tranh, như Tổng thống Roosevelt đã đề ra. Pháp phải ở thứ năm. Hơn nữa, vị trí đứng trên Pháp của họ, đã được khẳng định ở Postdam, khi họ được cử là người duy nhất đứng ra tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật trên Chiến trường Trung Quốc, bao gồm cả miền bắc Đông Dương. Tưởng cũng nhanh chóng nhận thức được thuận lợi do vai trò cường quốc quốc tế của ông sẽ mang lại cho Trung Quốc trong việc chiếm đóng Đông Dương; đó chính là việc ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện của ông để giải quyết cuộc xung đột của họ trước khi Pháp muốn quay trở lại thuộc địa cũ của mình.
Ở phía Nam Trung Quốc, Tưởng chỉ có lực lượng là các đơn vị của Đệ nhất Chiến khu ở Vân Nam thuộc quyền Lư Hán và các đơn vị của Đệ tứ Chiến khu ở Quảng Tây và Quảng Đông, dưới quyền của Trương Phát Khuê. Trong hai đội quân thì Đệ tứ Chiến khu được trang bị và huấn luyện tốt hơn và trung thành hơn hết đối với Chính phủ Quốc dân Đảng. Nhưng Tưởng đã sử dụng lực lượng Đệ tứ Chiến khu vào nhiệm vụ chiếm đóng Quảng Châu và cử Trương tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật ở đấy. Lực lượng Đệ nhất Chiến khu sẽ được dùng tốt hơn ở Đông Dương và Lư Hán phải đại diện cho Tưởng trong công việc đối với Pháp và Nhật. Nhưng bên cạnh ông ta sẽ có Tiêu Văn để thực hiện một cách đầy đủ các chính sách chính trị đối với người Việt Nam.
Trong những năm chiến tranh ở Trung Quốc (1935-1945), có hai lần, viên Thống đốc độc nhãn quân phiệt Vân Nam, Long Vân, đã giữ một thái độ nước đôi đối với những người Cộng sản; lần đầu vào tháng 3-1935 trên sông Trường Sa, khi Mao Trạch Đông dứ đánh vào Côn Minh; và trong những năm gần đây, khi Long Vân cho người Việt, Ấn Độ, Triều Tiên và những người Quốc gia khác hệ với Cộng sản được cư trú. Tham lam, xảo quyệt, tàn nhẫn, Long Vân đã thống trị Vân Nam một cách hà khắc từ năm 1927 và đã thu nhặt được một tài sản khá lớn trong việc buôn bán các hàng viện trợ Mỹ, thuốc phiện và các vật liệu chiến lược hiếm từ các nguồn của Pháp và Nhật. Ông cho phát hành giấy bạc riêng, duy trì một đội quân riêng để bảo vệ các khu vực rộng lớn trồng cây thuốc phiện của ông, dọc theo hành lang biên giói ở tây bắc các tỉnh Vân Nam và Tứ Xuyên, và cho các con ông chặn đường cướp liên tục các đồ hàng viện trợ Vay-Mượn của Mỹ như vũ khí, trang bị, khẩu phần thức ăn trên đường vận chuyển từ Miến Điện tới Côn Minh(10). Có lúc, vào đầu năm 1945 ông đã có đủ quyền lực để doạ bắt Quốc dân Đảng phải chia thêm “phần” cho ông trong số hàng tiếp tế viện trợ của Mỹ được chuyển qua tỉnh của ông. Ông còn đi xa hơn nữa bằng cách đe doạ Trùng Khánh, sẽ tịch thu tất cả của cải và đồ tiếp tế của Quốc dân Đảng và Mỹ ở Vân Nam, nếu như các yêu sách của ông không được thoả mãn.
Để điều được viên thống đốc quấy nhiễu này ra khỏi khu căn cứ của ông ta ở Côn Minh, Quốc dân Đảng đã mưu mô dử vào lòng tham của Long Vân. Ngay trước khi Nhật đầu hàng, Tưởng đã hứa cho ông được có “đặc quyền chiếm đóng Đông Dương” một khi quân Nhật bại trận, nhưng với điều kiện phải thôi không được yêu sách về các đồ tiếp tế viện trợ. Vào giữa tháng 8, Long Vân chấp nhận đề nghị trên, cử cháu và là người cộng tác tin cẩn của ông ta, tướng Lư Hán, thay mặt làm đại diện cho Thống chế để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật ở Đông Dương, nhưng với điều khoản là thời gian chiếm đóng “không có hạn định”. Cuộc dàn xếp cũng đáp ứng được quyền lợi của Lư Hán; ông này trong những năm chiến tranh, đã hợp tác với ông chú thống dốc trong một vụ buôn lậu có lãi với tập đoàn quân thứ 6 của Nhật(11). Quốc dân Đảng đã thấy trước là cơ hội để có thể chiếm đoạt lớn ở Đông Dương sẽ làm cho tướng Long Vân không thể cưỡng lại được và do đó sẽ làm cho ông ta không còn dựa được vào sự bảo vệ của những đội quân trung thành với ông vì họ đã hành quân tiến vào Đông Dương. Như thế là việc bố trí để trừ khử Long Vân đã được dàn dựng xong.
Đến đó, qua một loạt các hành động khá sâu sắc, thấy được Quốc dân Đảng đã đạt mục tiêu số một cho việc chống lại các lực lượng của Mao, thứ hai là ép buộc Pháp phải chấp nhận các điều khoản về kinh tế của họ, thứ ba là việc thủ tiêu Long Vân, và ưu tiên thứ tư là bòn rút Đông Dương được càng nhiều càng tốt.
Trong khi tướng Tsuchihashi và tôi bực dọc về việc hoãn chưa xúc tiến việc thương lượng đầu hàng, thì các tướng Hà Ứng Khâm, Tu Yu Minh(12), Tiêu Văn và Bác sĩ K.C. Wu(13) còn đang bận để chuẩn bị giáng cho Thống đốc Vân Nam và chính phủ Pháp một đòn chí tử. Cũng trong ngày quân của Lư Hán vượt qua biên giới, Hà Ứng Khâm ra lệnh cho quân Pháp ở Trung Quốc tập trung về Mông Tự và “chờ lệnh mới”. Ở Trùng Khánh, bắt đầu tiến hành việc thương lượng giữa Bộ ngoại giao Trung Quốc và đại diện ngoại giao Pháp về những yêu sách của Pháp ở Trung Quốc. Cũng trong thời gian đó, tướng Tu Yu Minh ở Côn Minh, chuẩn bị cú đảo chính chống Long Vân.
Ở Hà Nội, tin quân Trung Quốc vượt qua biên giới đã được báo cho Hồ Chí Minh ngay, và Giáp đã đến gặp tôi, xúc động, với nhiều tin tức nóng hổi hơn tôi có lúc đó. Những cửa khẩu biên giới đã điện báo cho ông về việc quân đội “Vân Nam” tới( ), nhưng điều làm cho người Việt lo ngại không phải là bản thân việc vượt qua biên giới. Giáp đã nói với tôi rằng theo chỗ ông biết thì đội quân này là “một đội quân tham nhũng và vô kỷ luật nhất trong tất cả các đội quân của Trung Quốc”. Ông tỏ ra lo ngại rằng những người Trung Quốc này sẽ tìm cách lật đổ Chính phủ Lâm thời và dựng lên một chế độ thân Trung Quốc.
Không biết rõ tình hình ở Trung Quốc, Giáp đã chê trách Hà Ứng Khâm về việc lựa chọn những người Vân Nam. Ông cho tướng Hà là “một người chống Cộng khét tiếng và tay sai của Tưởng Giới Thạch,” nhất quyết tiêu diệt phong trào Việt Minh và sát nhập bắc Việt NamNam” (Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và một số khác) để hòng nắm chính quyền ở Việt Nam sau thời kỳ chiến tranh. Ông mô tả họ như những tên đã bỏ xứ sở mà đi và không có liên hệ gì với phong trào cách mạng trong nước; họ tự kêu mình là những người yêu nước phụng sự cho Chủ nghĩa Quốc gia, nhưng thực tế chỉ là “một nhóm phản động đang ra sức thu vén làm giàu cho bản thân”, nhờ vào sự giúp đỡ của Trung Quốc. vào Trung Quốc. Để cho tôi tin, Giáp nói là Quốc dân Đảng đã tô vẽ cho nhiều “tên phản bội Việt
Giáp rất lo lắng muốn qua tôi để biết xem người Mỹ có hay bọn chúng đang làm gì không. Vấn đề này, với những lý do khác, cũng đã được Sainteny nhiều lần đặt ra để hỏi tôi. Tôi giải thích cho Giáp là Mỹ không có trách nhiệm trong việc lựa chọn người cũng như việc kiểm soát quân đội Trung Quốc; thực tế là toàn bộ việc đầu hàng và chiếm đóng đều thuộc thẩm quyền duy nhất của Tưởng Giới Thạch. Nhìn thẳng vào tôi, Giáp hỏi thế tôi không tham dự vào việc thu xếp cho việc đầu hàng. Ông muốn rõ tại sao đối với tôi, một đại diện Mỹ đang thu xếp các vấn đề này mà lại không có trách nhiệm gì trước những việc đang xảy ra. Một lần nữa, tôi lại phải nêu lên là tôi không tham gia vào trong quá trình làm ra các quyết định, vạch ra các điều khoản thương lượng, đặt các thể thức đầu hàng, mà tôi chỉ hoạt động trong nhiệm vụ truyền đạt. Giáp lắc đầu, không tin và bực mình, ông nói ông hy vọng mọi việc sẽ chuyển thành tốt.
Trở lại câu chuyện quân Trung Quốc “nam tiến”, Giáp tỏ ra chú ý đến việc Lư Hán có thể kéo theo một số phần tử Việt Nam đáng tởm đi cùng. Ông gợi ý tôi nhắc lại cho các nước Đồng minh biết Chính phủ Lâm thời đang tồn tại ở Việt Nam và đang trông chờ sự công nhận của các nước đó. Tôi chỉ có thể đáp lại được rằng các nhà chức trách ở Côn Minh và Trùng Khánh đã được biết về sự tồn tại của Chính phủ Lâm thời, còn vấn đề công nhận chính thức thì phải chờ tình hình sau khi đầu hàng.
Sau khi Giáp về, tôi không thể không nghĩ rằng trong khi việc quân Trung Quốc và bọn bù nhìn Việt Nam đi theo chúng vào nước, thể hiện là mối đe doạ gần nhất và dễ thấy nhất đối với Chính phủ Lâm thời, thì mối đe doạ nguy hiểm nhất đối với họ chính là ở Trùng Khánh. Ở đó Quốc dân Đảng và đại diện Pháp đang mặc cả chia nhau chiến lợi phẩm. Ở đó, người Việt Nam, cùng như Pháp trước đây ở Postdam, đã không có tiếng nói nào. Cả Pháp và Trung Quốc đều đã không bị làm nhụt chí vì một việc không chắc là có các nước khác lên tiếng công nhận chính phủ Việt Nam non trẻ Hà Nội.
Chú thích
(7) Dân chúng gọi là “Thống đốc Long Vân”
(8) Quân đội của Lư Hán gồm các Tập đoàn quân Vân Nam số 60 và 93, các Tập đoàn quân Quốc dân Đảng Quảng Tây 53 và 62, các Sư đoàn độc lập tăng cường là 23, 39 và 93, Sư đoàn danh dự số 2 (thuộc Tập đoàn quân 52, Phương diện quân IX)
(9) Sinh năm 1890, quê ở Quảng Đông, phụ trách chính trị của Quốc dân Đảng Trung Quốc tai Đệ tứ chiến khu, Phó tư lệnh, phụ trách Ban Ngoại vụ (1943), cánh tay phải của tướng Trương Phát Khuê, được xem là một chuyên gia về vấn đề Việt Nam. Tháng 1-1944, Trương giao cho Tiêu việc theo dõi các hoạt động của Đồng minh Hội và gây dựng tinh thần Quốc dân Đảng trong người Việt Nam. Khi chiến tranh kết thúc, Tiêu được điều sang Hành di của Lư Hán (9-1945) ở Hà Nội, được trao cho nhiệm vụ trong coi quyền lợi của Trung Quốc ở Đông Dương, phụ trách Ban Hoa kiều Hải ngoại. Tiêu chống lại chính sách của ông Hồ và của Lư Hán về vấn đề vai trò của những người Quốc gia chống Việt Minh trong chính phủ của ông Hồ. Những năn sau đó, Tiêu có mắt liên lạc với Trung Cộng, trong đó có tướng Diệp Kiếm Anh (Yet Chien Ying), bạn của ông Hồ từ khi ở Diên An và tỏ ra có xu hướng trung tả. Do đó, năm 1950, được giao giữ chức cố vấn cấp thấp trong tỉnh Quảng Đông, dưới quyền tỉnh trưởng Diệp Kiếm Anh.
(10) Ai cũng biết khi tôi còn ở Trung Quốc trong những năm 1944-1945, Long Vân đã cho cướp đoạt hàng ngàn xe Jeep Mỹ và rất nhiều lốp xe, để bán lại cho các chủ xe bò nhỏ, mà theo kinh nghiệm của tôi thì loại xe này đi rất êm.
(11) Sau này, tướng Y. Okamura, Tư lệnh “Tập đoàn quân viễn chinh Trung Quốc” của Nhật đã xác nhận ông và Thống đốc Long Vân đã liên lạc với nhau trong thời kỳ chiến tranh.
(12) Trước đây là chỉ huy Phương diện quân V (dự bị) dưới quyền tướng Stilwell trong chiến dịch Ấn Độ - Miến Điện, cuối năm 1946 được bổ nhiệim cầm đầu Bộ tư lệnh quân trù bị Trung Quốc ở Côn Minh
(13) Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của chính phủ Quốc dân Đảng Trung Quốc


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 09:41:16 AM
Chương 23
Những cuộc đàm luận
ÔNG HỒ DỰ LIỆU TRƯỚC
Trên tờ danh thiếp cá nhân, ông Hồ ghi nguệch ngoạc mấy chữ ngắn gọn nhưng có vẻ thúc ép: “Nếu có thể được, cần đến gặp chúng tôi trước 12 giờ hôm nay. Hồ”. Tôi không nghĩ ra được ông muốn gặp tôi về vấn đề gì.
Từ cuộc viếng thăm đầu tiên của chúng tôi đến ba ngày trước đó, có dư luận rất xôn xao chung quanh việc thành lập Chính phủ mới. Bản công bố chính thức chỉ nói giản đơn là ông Hồ sẽ đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng(1) và Bộ trưởng Ngoại giao. Hồ Chí Minh? Ai vậy? Một số dân kỳ cựu nghi ông là “Nhà Cộng sản lão thành Nguyễn Ái Quốc” nhưng cũng không chắc chắn. Các nhà báo có trực tiếp hỏi ông, nhưng ông Hồ chỉ làm tăng thêm điều bí ẩn khi ông trả lòi ông là một “nhà cách mạng” yêu nước và mong muốn cho nước nhà được tự do độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của nước ngoài. Các nhân viên khác trong Chính phủ cũng được công chúng rất chú ý. Một số người đã được nghe nói về Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ và Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Tài chính(2).
Trước khi cử hành lễ thoái vị của nhà vua, dự định vào ngày hôm sau 30-8, đài phát thanh Hà Nội đã đề cao vai trò của Bảo Đại là “Cố vấn tối cao” cho Chính phủ mới và tả ông là “người công dân bình thường Vĩnh Thuỵ” hoặc là ông Nguyễn Vĩnh Thuỵ. Người dân trung lưu Việt Nam thường có quan niệm Hoàng đế là “biểu tượng siêu phàm của sự hợp pháp” đối với Chính phủ mà họ ủng hộ. Ông Hồ nắm được đặc điểm này và khai thác nó một cách rất khéo. Do đó, ông đã hướng dẫn cho Bộ trưởng Tuyên truyền Trần Huy Liệu trong công tác chính trị tâm lý phức tạp nhằm đáp ứng những yêu cầu tình cảm của mỗi giới xã hội, chính trị và tôn giáo trong xã hội Việt Nam. Điều đó lại càng thể hiện rõ trong việc Chính phủ Lâm thời bao gồm những người Công giáo, Xã hội, ôn hoà, và chỉ có một thiểu số đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Rõ ràng là Chính phủ mới đại diện cho một mặt trận dân chúng thực sự và lúc đó họ được nhân dân ủng hộ hoàn toàn. Hơn nữa, sự lãnh đạo cũng đã tự khẳng định được qua việc trật tự công cộng và các công cụ đều được duy trì tốt. Không có gián đoạn trong các ngành phục vụ công cộng và giao thông vận tải, buôn bán vẫn tiếp tục như thường lệ. Những cuộc biểu tình xảy ra gần như hàng ngày, không có bạo lực và cũng không trở ngại cho đời sống thành phố. Mọi người đều tỏ rất sung sướng trước sự chuyển biến của thời cuộc, cả nhiều người Pháp và đặc biệt là các nhà chức trách Nhật cũng thế. Nhưng tin tức lan truyền nói người Trung Quốc vượt qua biên giới đã gây ra lo sợ. Có lẽ chính vì thế mà ông Hồ có ý định muốn trao đổi với tôi.
Ông Hồ đã cho một xe đón tôi đến ngôi nhà Hàng Ngang vào lúc 10 giờ 30. Trường Chinh dẫn tôi đến chỗ ông Hồ, ở đó thấy có nhiều người ra vào với một vẻ rất hân hoan và bận rộn tấp nập. Ông Hồ vào, vẫn ung dung và mỉm cười, ông giơ bàn tay gầy gò ra bắt chặt tay tôi và nói: “Tôi sợ có khi ông không nhận được thư của tôi. Tôi rất muốn trao đổi với ông về một số chủ trương và các kế hoạch tương lai của chúng tôi”. Trường Chinh kéo mấy cái ghế lại gần bàn và chúng tôi ngồi xuống đó. Ngoài cái dáng mảnh khảnh, ông Hồ có vẻ hoàn toàn mạnh khỏe, sôi nổi và thích nói nên đã kể ngay cho tôi nghe những tin tức mới về Huế.
Ông đã nghe Trần Huy Liệu báo cáo về việc ông được Bảo Đại tiếp và đưa ra bản Tuyên bố thoái vị. Ngày hôm sau, Bảo Đại đã dọc bản Tuyên bố trước công chúng và trao ấn kiếm nhà vua cho phái đoàn của Chính phủ Lâm thời. Ông Hồ rất phấn khởi. Ông coi hành động cuối cùng này của nhà vua cũng là tàn dư cuối cùng của chủ nghĩa thực dân và sụ mở đầu của một thời đại mới. Nhưng ông nói thêm, như tự nói với mình, có thể cuộc đấu tranh chưa phải đã hoàn toàn kết thúc, người Trung Quốc đang tới và người Pháp đã ở sẵn đây.
“Ô, đúng, người Trung Quốc”, ông nhắc lại. Đã có báo cáo nói có xung đột nhỏ giữa người Trung Quốc và dân chúng ở Lào Cai và Hà Giang. Điều đó có thể cho ông biết được con đường mà người Trung Quốc sẽ đi chăng? Ông sẽ phái các đại diện của Chính phủ đến đón trước các đoàn quân Trung Quốc đang tiến để kiềm chế dân chúng địa phương nếu người Trung Quốc “ngỗ ngược” hay “quá hăm hở” để thu vét chiến lợi phẩm. Tôi nói với ông là người Nhật đã được báo tin và tôi đã chất vấn các nhà chức trách Trung Quốc nhưng họ chưa trả lời. Nết tôi nhận được tin gì mới, tôi sẽ vui lòng chuyển cho ông ngay.
“Thế bao giờ thì Trương Phát Khuê tới?”, ông Hồ hỏi. “Tôi không rõ”, tôi đáp, “Trương đã phái tướng Tiêu Văn đi cùng với quân đội Quốc dân Đảng, nhưng người chỉ huy cao cấp nhất lại là tướng Lư Hán và ông này sẽ tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật”.
Ông Hồ không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên, và sau một lúc trầm ngâm, ông cười nói, “Đây chỉ là một thủ đoạn của Tưởng Giới Thạch muốn điệu hổ ly sơn thôi. Không có quân đội của Lư Hán ở Vân Nam thì Long Vân sẽ dễ dàng bị quật đổ”. Với một vẻ suy tư sâu sắc, ông tỏ ra lo lắng về việc quân Vân Nam kéo vào sẽ gây ra nhiều vấn đề không thể khắc phục được. Chúng không phải là một đội quân có kỷ luật như của Trương và ông Hồ phán đoán là sẽ có rối loạn.
Ông Hồ cũng có nói về những Việt kiều sẽ được Quốc dân Đảng kéo theo. Ông cho họ là bọn “quốc gia giả hiệu”, “đầy tớ Quốc dân Đảng”, không mảy may có liên hệ với nhân dân Việt Nam. Bàn về ảnh hưởng của những người này có thể có đối với Chính phủ Lâm thời, ông tả họ như là những người không có tổ chức, một nhóm cơ hội tranh giành nhau, tàn dư của các đảng quốc gia cũ, không có chương trình hành động cơ bản nhưng lại có quá nhiều lãnh tụ. Theo ý ông thì điều nguy hiểm là ở cho họ có thể gây ra một sự hỗn loạn nếu như người Trung Quốc áp đặt họ lên đầu người Việt Nam như là một chính phủ bù nhìn, một khả năng mà ông không thể gạt bỏ một cách nhẹ nhàng.
Ông Hồ nhắc cho tôi hay động cơ của Trung Quốc đối với nền độc lập của Việt Nam chẳng có gì thật thà và mang tính chất vị tha. Tuy có lời tuyên bố “cao thượng” của Tưởng(3) “không có yêu sách về đất đai ở Đông Dương”, và sự ủng hộ “rộng rãi” của ông ta đối với các phong trào quốc gia Việt Nam ở Trung Quốc; ý đồ của họ rõ ràng không phải là tốt nhất cho người Việt Nam. Theo quan niệm của ông Hồ thì Quốc dân Đảng muốn làm thất bại ý đồ của Pháp định khôi phục lại địa vị ở Đông Dương và muốn ngăn chặn sự liên minh của người Việt Nam với các lực lượng Cộng sản Trung Quốc trong phạm vi quyền lợi của Trung Quốc. Để nói rõ ý mình, ông Hồ nhận xét Quốc dân Đảng đã chọn Lư Hán và Tiêu Văn thay mặt cho Long Vân và Trương Phát Khuê. Những người này rất có ý nghĩa đối với ông Hồ. Trong 15 năm qua, tuy Thống đốc Long Vân và Lư Hán, cháu ông ta, đã chứa chấp những người Việt Nam Quốc gia thân Nhật và thân Trung Quốc trong tỉnh của họ, nhưng ông Hồ coi cả hai như là những tên tướng cướp, đã bỏ tù và giết hại nhiều người Việt Nam vô tội để che đậy cho việc buôn bán bất chính của họ ở biên giới Đông Dương.
Đối với Trương Phát Khuê và Tiêu Văn, ông Hồ tỏ ra có độ lượng hơn. Họ không thô bỉ bằng người Vân Nam nhưng cũng rất ích kỷ. Trương tiêu biểu cho tinh thần chống Cộng của Quốc dân Đảng và ông Hồ còn nhớ sâu sắc những đau khổ, nhục nhã đã phải chịu đựng suốt 15 tháng trong nhà tù Quảng Tây của Trương. Nhưng ông Hồ cũng nhớ đến thế lực của Tiêu Văn trong việc giải thoát cho ông khỏi tù đày và đã mang lại cho ông một địa vị quan trọng trong mặt trận quốc gia những người Quốc dân Đảng chống Pháp ở Trung Quốc. Sự cộng tác nhất thời này không phải do vì Trương và Tiêu có cảm tình đối với ông Hồ hay phong trào của ông, mà chính là họ hy vọng có thể lợi dụng và kiểm soát được ông và tổ chức của ông. Song lại chính ông Hồ và Việt Minh đã tận dụng được sự cộng tác ngắn ngủi đó.
Nhưng ông Hồ cho biết ông mời tôi đến không phải để bàn luận chuyện người Trung Quốc, ông muốn cho tôi hay về những kế hoạch hoạt động trong những ngày sắp tới của ông. Ông muốn tôi là người đầu tiên được biết. Lúc đầu tôi hơi nghi ngại nên cứ nghe và không bình luận. Ông kể nội các của ông đã họp phiên đầu tiên ngày 27-8 ở Bắc Bộ phủ, đã có quyết định chính thức hoá Chính phủ Lâm thời và lấy ngày 2-9 là Ngày Độc lập. Trong dịp này, ông sẽ công bố nền độc lập của dân tộc, sẽ giới thiệu các thành viên trong Chính phủ Lâm thời với nhân dân và sẽ vạch ra chương trình hoạt động của Chính phủ cho mọi người dều biết.
Sự hoàn hảo của ông đã làm tôi phải ngạc nhiên và xúc động. Tôi khen ngợi và chúc ông thành công. Ông khiêm tốn đáp lại là đã phải làm quá nhiều việc trong một thời gian rất ngắn. Đã có một uỷ ban để soạn thảo lời tuyên thệ nhận chức của ông và các bộ trưởng, nhưng bản thảo bản Tuyên ngôn Độc lập còn cần phải được làm xong gấp. Theo ông, chính đó là một trong những lý do ông muốn gặp tôi. Ông gọi một người ở buồng bên mang bản thảo tới và đưa cho tôi với một dáng thoả mãn. Rõ ràng trong việc khởi thảo bản này đã có bàn tay già dặn của ông.
Bản tài liệu đánh máy bằng tiếng Việt Nam, có nhiều chữ bị xoá đi và được viết đè lên bằng bút mực, với nhiều ghi chú bên lề. Tôi ngay ra, và ông Hồ thấy ngay là tôi không thể đọc được. Ông Hồ cho gọi một người trẻ tuổi vào để dịch và tôi chăm chú nghe. Trong mấy câu đầu, người phiên dịch đã nói lên một số danh từ rất đỗi quen thuộc và giống lạ lùng như bản Tuyên ngôn của chúng ta. Câu tiếp sau là “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ”.
Tôi chặn người phiên dịch lại, kinh ngạc quay sang hỏi ông Hồ có thực ông có ý định sử dụng câu đó trong bản Tuyên ngôn của ông không. Tôi không hiểu sao điều đó lại đập mạnh vào tôi, cứ như là có cảm giác khi quyền sở hữu bị đụng chạm, hay là khi làm một việc ngớ ngẩn nào đó. Tuy vậy tôi cứ hỏi. Ông Hồ ngồi dựa vào ghế, hai tay úp vào nhau, ngón tay sát vào môi một cách nhẹ nhàng và đang như suy tưởng. Với một nụ cười nhã nhặn, ông hỏi lại tôi một cách dịu dàng, “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Tôi cảm thấy ngượng ngập và lúng túng. “Tất nhiên”, tôi trả lời, “tại sao lại không?”. Bình tĩnh lại, tôi nói người phiên dịch đọc lại đoạn đó từ đầu một lần nữa. Anh ta đọc, “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ đã được Tạo hoá trao cho những quyền không thể chuyển nhượng lại được; trong đó có quyền tự do, quyền sống và được hưởng hạnh phúc”. Cố sức nhớ lại, tôi mới thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét là trật tự các chữ “quyền tự do” (Liberty) và “quyền sống” (Life) đã bị thay đổi(4). Ông Hồ nắm ngay lấy và nói: “Đúng! Không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”. Ông muốn nài tôi phát biểu thêm. Tôi đã phải trình bày là không biết gì hơn và đúng là như vậy. Tôi không thể dễ nhớ được lời lẽ trong bản Tuyên ngôn của chúng tôi. Và tôi cũng cảm thấy bất tiện khi nhận thấy mình đã tham gia - dù rằng rất ít - vào việc đưa ra công thúc cho một thực thể chính trị và tôi cũng không muốn tạo ra một cái cảm giác là có mình tham gia vào đó. Khi người phiên dịch tiếp tục, tôi nhận thấy, ông Trường Chinh ra khỏi phòng và tôi tưởng là lúc đó tôi đã phát hiện được, nhưng có lẽ nhầm, có sự khác biệt ý kiến giữa những người Việt Nam.
Tôi đặc biệt chú ý đến “chương trình quốc hữu hoá” của ông Hồ. Giáp viện vào “tình hình của đất nước”, nói bắt buộc phải “quốc hữu hoá” một số dịch vụ công cộng và công nghiệp. Với tư cách là “Bộ trưởng Nội vụ mới được đề cử”, Giáp thấy tuyệt đối cần thiết không để công việc gián đoạn trong các lĩnh vực cung cấp điện, nước, lương thực, giao thông, vận tải, đường xá và cảnh sát… Khi nhận chức, ông có ý định đặt tất cả các dịch vụ nói trên thuộc quyền kiểm soát trực tiếp của Chính phủ và phục vụ cho dân chúng với một giá tối thiểu. Tôi nói với Giáp rằng muốn thế thì phải có kỹ thuật và tiền. Ông đồng ý nhưng cũng không tìm được cách nào để giải quyết vấn đề trong khi các nguồn tài nguyên của Pháp và Nhật đã cạn. Theo ý kiến ông, người Việt Nam sẽ phải tự làm lấy một mình một cách tốt nhất.
Trong khi bàn luận về chương trình với ông Hồ, tôi nêu lại ý đây không phải chỉ đơn thuần là vấn đề nhân công, mà ở đây đã có dồi dào, mà còn là việc phải có trong những thứ chủ yếu cho máy phát điện, dây cáp, máy móc, thiết bị nặng, xe cộ, ống thép… Phần lớn những thứ này, trước đây, phải nhập của Pháp và Nhật. Do đó đòi hỏi phải có ngoại tệ và ngân sách quốc gia để buôn bán với nhà sản xuất trên thế giới. Ông Hồ đồng ý, đó cũng là điều ông quan tâm lo lắng nhất. Ông tỏ vẻ tiếc và nhận xét là cuộc chiến tranh đã kết thúc quá sớm và cuộc cách mạng đã nổ ra quá nhanh. Nếu như ông đã thực hiện được một điều cơ bản của chủ nghĩa Marxism - nắm được trung tâm thần kinh của chủ nghĩa tư bản, tức là cơ cấu tài chính, và ở đây là Ngân hàng Đông Dương - thì có lẽ những khó khăn về kinh tế ban đầu đã có thể tránh được. Nhưng nhà Ngân hàng vẫn còn thuộc quyền người Pháp, lại có Nhật vũ trang bảo vệ. Ở trong tay Pháp, Nhật, rồi Trung Quốc, Nhà băng nhất định sẽ bị tước đoạt hết mọi tài sản. Còn như việc đặt ra thuế khoá để tăng thu nhập thì Chính phủ Lâm thời cũng không có ý định làm và nhân dân cũng không có tiền. Họ cũng không thể rút các tài khoản của họ ở nhà băng. Nhưng, ông Hồ cho rằng lúc này cũng chưa phải là lúc phải chú ý quá đến vấn đề kinh tế. Sau khi Chính phủ được thành lập và hoạt động, ông tin rằng mọi việc sẽ có thể giải quyết được.
Khi tôi sắp rút lui ông Hồ hỏi tôi có muốn mang lại cho ông một cái vinh dự có tôi cùng dự với ông trong buổi lễ ngắn gọn Ngày Độc lập. Tôi ướm nhận lời nhưng ông nói ông hiểu rằng tôi sẽ không đến tham dự. Chúng tôi từ biệt nhau theo cách đó.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 09:42:35 AM
PARIS KHÔNG BIẾT ĐẾN SAINTENY
Chiều hôm đó tôi đến gặp Sainteny. Vượt qua khoảng cách nhỏ giữa ngôi nhà phố Hàng Ngang và dinh Toàn quyền chẳng khác nào như đi từ đầu này đến bên kia quả đất. Cảnh trái ngược ngày hôm đó thực quá rõ rệt. Đi từ những hân hoan của việc khai trương một nước tự do đến những mối lo âu nhằm duy trì một đế quốc không ai cần đến và đang hấp hối là cả một chặng đường dài.
Tôi nghe Bernique báo cáo là người Pháp trong Dinh gặp khá nhiều khó khăn. Người Nhật vẫn từ chối, không công nhận một “sự có mặt của Pháp” và giữ Sainteny cùng nhóm ông ta trong cái lồng vàng có lính canh gác. Trong khi đại diện của De Gaulle hội đàm với người Trung Quốc ở Paris và Trùng Khánh thì trưởng đoàn M.5 ở Hà Nội, không có quy chế chính thúc, đã chẳng có quyền nói chuyện với bất cứ ai. Ngay đến “người An-nam-mít”(ông Hồ) cũng đã cả gan chỉ cho một người dưới quyền đến làm việc với vị “đại diện nước Pháp”, mà cũng chỉ là để vứt bỏ lời mời chào hào hiệp của ông về những “quyền tự do vĩ đại”. Hai ngày trôi qua và tính lạc quan trước đây của Sainteny đã biến dần trước sự yên lặng đáng ngại của Hồ Chí Minh.
Sainteny tiếp tôi một cách niềm nở. Sự tiếp khách cũng như phong thái của ông là một điều khó đoán. Nó tuỳ thuộc vào sự biến chuyển của tình hình, cũng như sự mong muốn tôi làm một cái gì đó cho ông. Chiều hôm đó đã trở thành một cuộc viếng thăm vui vẻ…
Đài phát thanh và báo chí địa phương đã đưa tin về việc thành lập chính phủ mới. Sainteny và ban tham mưu của ông đặc biệt chú ý theo dõi thành phần của Chính phủ. Sainteny chẳng biết ai, ngoài Giáp và Hiền mà ông đã gặp lần đầu tiên hai hôm trước. Vừa rót cà phê từ một cái ấm bạc rất đẹp, ông hỏi xem tôi có biết ai trong số những người đó không. Có, tôi biết ông Hồ mà tôi đã gặp lần đầu tiên vào tháng 4 và từ đó đến nay vẫn giữ liên lạc đều. Chu Văn Tấn đã làm việc với Thomas và toán “Con Nai”. Phạm Văn Đồng thì đã cộng tác với dân AGAS của chúng tôi. Và, tất nhiên tôi biết Dương Đức Hiền, bạn của Giáp.
Sainteny nhận định một cách bi quan về ảnh hưởng của Chính phủ mới đối với mối quan hệ “Pháp - An Nam” sau này. Theo ý kiến ông, đó là Cộng sản, trong cấu tạo cũng như trong lý thuyết. Sự lãnh đạo của họ đặc sệt theo Mátxcơva và sẽ không có khả năng đối phó với nhiệm vụ quản lý đất nước. Hơn nữa, nếu như Pháp rút cơ sở kinh tế của họ đi, thì ai sẽ đến để thay thế? Dù có muốn Liên Xô trong lúc này cũng không có khả năng cáng đáng được. Cũng như Trung Quốc, họ chỉ sẽ bòn rút cho khánh kiệt. Ý kiến của Sainteny là sớm hay muộn thì rồi Pháp cũng phải tiếp quản lại Đông Dương, nếu như Mỹ không có ý định muốn thay thế Pháp. Tôi đã tránh để không bị rơi vào bẫy khiêu khích.
Thẳng thắn một cách khác thường, Sainteny chiều đó công nhận với tôi là ông không nhận được một sự khuyến khích nào từ Paris hoặc Calcutta. Ông cho biết đã gửi một bức điện lời lẽ mạnh mẽ về vho Chính phủ Paris của ông để nói về việc nước Pháp có thể để mất Đông Dương nếu như không chịu xúc tiến những bước vận động ngoại giao tích cực ở cấp quốc tế. Tôi hỏi Paris có thể làm được gì. “Phải bắt người Trung Quốc thực hiện lời cam kết của họ và giải toả cho quân đội Pháp ở Vân Nam”. Sainteny đã biết tin Trung Quốc vượt biên giới mà không có người Pháp đi cùng; ông coi đó là một sự “phản bội của Trung Quốc”. Nếu như ông ta có 1.000 lính có đầy dủ vũ khí khi ở Hà Nội thì tình hình sẽ khác. Tôi nhận xét là điều đó có thể làm nổ ra một cuộc chiến tranh đẫm máu. Câu trả lời của ông là tôi không biết gì về dân “An nam mít”. Họ sẽ không bao giờ tấn công vào một người Pháp mặc quân phục; họ rất kính phục nhà chức trách Pháp. Tôi không bình luận gì thêm. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ được lúc đó là quyết tâm cao của Giáp và những người đi theo ông nhằm chống lại mọi tàn tích còn lại của nền cai trị Pháp, và lời thách thức luôn luôn được nhắc đi nhắc lại của ông Hồ là ông sẽ chiến đấu đến cùng cho Việt Nam độc lập.
Sainteny thấy khó mà chấp nhận được sự hờ hững bề ngoài của Paris trong việc giúp đỡ ông. Trong điện gửi về Paris, ông yêu cầu phái đoàn của ông phải chính thức được thừa nhận, thông qua con đường ngoại giao ở Tokyo và có như thế ông mới có thể làm việc trực tiếp với Nhật ở Hà Nội. Nhưng ông chờ mãi mà vẫn không nhận được tin tức gì về bức điện của ông. Giống như hồi tháng 7 ở Paris, khi Sainteny cố gắng làm cho De Gaulle chú ý đến tương lai của Đông Dương mà không có kết quả, thì nay tình hình cũng giống như vậy. “Họ vẫn chưa hiểu được tình hình”. Ông nói riêng với tôi: nếu như Paris muốn cử một người nào đó đến thay thì ông sẵn sàng nhường bước. Đó cũng là lần đầu tiên tôi nghi hoặc cho rằng có thể Sainteny không được các nhà chức trách Paris tín nhiệm hoàn toàn. Song Sainteny đã không bị thay thế mà cũng chẳng nhận được quy chế chính thức cho tới tháng 10-1945.
Trước khi tôi ra về, Sainteny đề cập đến hai yêu cầu khác. Ông muốn biết, theo tôi thì Hồ Chí Minh có muốn xúc tiến một cuộc đối thoại với người Pháp không. Tôi suy nghĩ một lát rồi đưa ra ý kiến là, theo tôi, ông Hồ không phải là một nhà cách mạng cuồng nhiệt. Trái lại, tôi thấy ông là một người ôn hoà và là một trong số ít người có đầu óc thực dụng trong các lãnh tụ quốc gia. Qua nhiều cuộc nói chuyện với ông, tôi suy ra rằng ông hoàn toàn ý thúc được những điều hạn chế và các khả năng của ông. Tỷ dụ như ông công nhận là sẽ phải tiếp quản một đất nước đang bị phá sản, ông không được đảm bảo có sự hỗ trợ của nước ngoài, nhân dân của ông thiếu kinh nghiệm chuyên môn trong việc quản lý đất nước và xây dựng cơ sở nền kinh tế. Về mặt khác, ông Hồ cũng có ý thức về những ưu thế của ông. Những người đi theo ông có kỷ luật; ông có một tổ chức chính trị vững vàng trong giai cấp nông dân, công nhân và trí thức, có động có đấu tranh cho mục đích chung; và phong trào giải phóng bao gồm tới 90% dân chúng mà đa số đều sợ, không muốn có việc quay trở lại nguyên trạng cũ. Sau khi đã giành được một thắng lợi cực kỳ to lớn về tâm lý và chính trị một cách tương đối dễ dàng, mới 10 ngày trước đây và có được một kho vũ khí khá quan trọng, chắc chắn là ông Hồ sẽ ra sức đẩy mạnh phong trào cách mạng tiến lên. Nhưng tôi cũng thấy ở ông Hồ một con người yêu hoà bình, sẽ mong muốn thượng lượng hơn là đánh nhau, mặc dù tôi vẫn tin rằng nếu không có lối thoát, ông sẽ chiến đấu.
Sainteny lắng nghe những nhận xét của tôi, và với một vẻ suy nghĩ, ông gợi ý muốn được nói chuyện trực tiếp thẳng với ông Hồ. Có thể một cuộc tiếp xúc cá nhân cũng có khả năng đưa đến một sự đồng ý cụ thể nào đó cho một cuộc ngừng bắn. Tuy vậy, tôi cũng rất hoài nghi về kết quả của một cuộc gặp gỡ giữa hai người, vì Sainteny không những không có quy chế chính thức mà cũng chẳng có quyền lực gì để có thể làm thay đổi được chính sách cứng rắn của Paris về “chủ quyền tuyệt đối của Pháp”. Tôi đồng ý là một cuộc gặp gỡ như thế cũng chẳng có hại gì. Sainteny hỏi tôi có muốn giúp thu xếp không. Tôi hứa sẽ cố thử, nhưng nêu lên ý kiến là cuộc gặp của ông ta với Giáp và Hiền trước đây đã chẳng đạt được gì. Sainteny ngạc nhiên hỏi tại sao? Tôi nói thẳng là vì không những ông ta đã có thái độ gia trưởng mà còn rất mập mờ trong đề nghị hợp tác của ông. Sainteny không đồng ý nên tôi cũng thôi không tiếp tục vấn đề.
… Đề nghị khác của Sainteny có liên quan đến một số bạn đồng sự của ông thuộc SLFEO ở Calcutta, mà theo ông thì đã được thả dù ngày 23-8 xuống khu vực phía bắc Hà Nội. Ông báo tin cho tôi và sợ rằng nhiều người trong số đó đã bị giết hoặc bị Nhật hay Việt Minh bắt.
Hai ngày trước đó, ông đã được nhận tin từ Calcutta cho hay P. Messmer và cả toán của ông đã bị Việt Minh bắt giữ. Như vậy ông ta còn sống, nhưng ở đâu? Tôi có thể tìm được họ không? Tôi trả lời ông là tất nhiên có thể làm được nhưng phải có thời gian. Ông kể tiếp là SLFEO đã phái nhiều toán sĩ quan chính trị, mà Messmer là một, cũng nhiều tình báo viên của DGER đến bắt liên lạc với du kích ở Đông Dương. Nhiều toán đã không tới được mục tiêu. Và chỉ mới biết tin tức của một số ít. Như đối với toán Messmer, Sainteny cho biết Messmer đã được cử làm Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Bắc Kỳ, trong toán có một nhân viên y tế và một cơ công điện đài.
Phải mất nhiều ngày sau tôi mới nắm được manh mối của toán Messmer. Trong khi đó thì Sainteny vẫn còn là người cầm đầu M.5 phụ trách việc liên lạc của Pháp cho SLFEO, nhưng hình như ông đã bỏ nhiệm vụ chính của ông, công tác tình báo, để lao vào những cuộc đấu tranh chính trị mù mờ. Ông không nhận thức được những công tác cần ưu tiên và say sưa với những vụ khiêu khích vô tích sự.

Chú thích
(1) Khi ấy gọi là Chủ tịch Chính phủ
(2) Những thành viên khác trong Chính phủ Lâm thời
Bộ trưởng Tuyên truyền: Trần Huy Liệu (Cộng sản)
Bộ trưởng Quân chính: Chu Văn Tấn (Việt Minh)
Bộ trưởng Thanh niên: Dương Đức Hiền (Dân chủ)
Bộ trưởng Kinh tế: Nguyễn Mạnh Hà (Dân chủ)
Bộ trưởng Cứu tế: Nguyễn Văn Tố (nhân sĩ)
Bộ trưởng Tư pháp: Vũ Trọng Khánh (Dân chủ)
Bộ trưởng Y tế: Phạm Ngọc Thạch (Việt Minh)
Bộ trưởng Giao thông: Đào Trọng Kim (nhân sĩ)
Bộ trưởng Lao động: Lê Văn Hiến (Việt Minh)
Bộ trưởng Giáo dục: Vũ Đình Hòe (Dân chủ)
Bộ trưởng Canh nông: Cù Huy Cận (Dân chủ)
Bộ trưởng không bộ: Nguyễn Văn Xuân (Việt Minh)
(thiếu Bộ trưởng Quân huấn Trương Trung Phụng)
(3) Ông Hồ trích dẫn diễn văn của Tưởng Giới Thạch ngày 24-8 trước hội nghị liên tịch Hội đồng Quốc phòng Tối cao và Uỷ ban Thường vụ Quốc dân Đảng.
(4) Nguyên văn của đoạn đó như sau: “All men are created equal that they are endowed by the Creator with certain inalienable Rights, among these are Life, Liberty and the persuit of Happiness” (Tuyên ngôn Độc lập nước Mỹ 1776). Tuy nhiên, sau này, Hồ Chủ tịch đã trích lại nguyên văn này: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. (Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam 1945).



Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 09:49:08 AM
Chương 24
Những câu chuyện rắc rối
BÃO TÁP TRONG MỘT ẤM TRÀ
Sáng hôm sau tôi nhận được một điện khẩn của Helliwell, nói tôi phải giải quyết một số vấn đề của toán Sainteny - họ thiếu lương thực, thất lạc điện gửi về Côn Minh, và cái gọi là mối đe doạ Nhật nhiễu phá hệ thống thông tin của họ.
Một vấn đề lớn là đại biện lâm thời Pháp trong một cuộc đối thoại gay gắt với Đại sứ quán của ta, đã yêu cầu giải thích điều mà Pháp gọi là “Mỹ không thực hiện điều thoả thuận cho phép Pháp tiếp tục được vận chuyển người Pháp và vật liệu sang Hà Nội”.
Đây đúng là một ý đồ của Pháp nhằm lợi dụng khai thác địa vị của Mỹ ở Trung Quốc. Vì thực tế, không có một sự thoả thuận nào giữa Mỹ và Pháp có liên quan đến sử dụng, vận chuyển hay về các mặt nào khác của quân đội Pháp ở Trung Quốc. Chỉ có những thoả thuận được thi hành giữa Trung Quốc và Pháp, có liên quan đến Mỹ chăng nữa thì chỉ do lúc đó tướng Wedemeyer giữ vai trò Tổng tham mưu trưởng của Tưởng. Để tránh va chạm với Trung Quốc, người Pháp đã quay sang phía OSS, nêu ra điều thoả thuận về hoạt động của OSS - DGER trước đây. Heppner đã báo cho Pháp biết là thoả thuận OSS - DGER đã hết hiệu lực từ khi chiến tranh kết thúc, còn việc cấm vận hiện nay là do chính phủ Trung Quốc quyết định. Heppner cũng đã thông báo cho họ hay tướng Wedemeyer đã thay mặt Tưởng ra lệnh cấm OSS không được chuyên chở những nhân viên không phải là người Mỹ vào Đông Dương trong lúc này. Ông đã gợi ý cho Pháp nên gặp Tưởng.
Cơn bão táp này, tất nhiên cũng chỉ do Sainteny gây ra để chống lại tôi. Sainteny đã gửi điện tín khuấy động người Pháp ở Trùng Khánh và Calcutta về một âm mưu Hoa - Mỹ nhằm gạt Pháp ra khỏi Đông Dương và việc OSS bày mưu lập kế để thay thế nền cai trị của Pháp bằng Chính phủ Hồ Chí Minh do Cộng sản đỡ đầu.
Hai bức điện điển hình, do Sainteny tiết lộ ra sau này, có ghi(1):
“Chúng tôi phải đối phó với một cuộc vận động hỗn hợp của Đồng minh nhằm loại Pháp ra khỏi Đông Dương. Chỉ có Chính phủ (Paris) mới có thể chống lại ở tầm cỡ quốc tế… Điều đó cũng cần phải được hiểu là, vào giờ phút này, bắc Đông Dương không còn là thuộc Pháp”.
Và:
“Thái độ của Đồng minh đối với nước Pháp có nguy cơ làm cho chúng ta hoàn toàn bị mất mặt… làm việc gì tôi cũng phải thông qua Patti. Tôi nhấn mạnh rằng thực tế trong lúc này, thái độ của Đồng minh có hại hơn là của Việt Minh. Chỉ Leclerc hoặc De Gaulle mới có thể và cần hoạt động”.
Chiều hôm đó tôi đến gặp Sainteny và thấy ông buồn bã. Nhưng lần này tôi rất bực bội. Ông dễ dàng công nhận là đã báo cáo về Trung Quốc rằng tôi đã không hợp tác chặt chẽ, ông và toán của ông coi như bị cầm thì tại chỗ và tình hình đã trở nên nghiêm trọng hơn vì người gác Nhật đã được “thay thế” bằng những người An Nam bất lực và hay báo thù.
Tôi hỏi một cách cộc cằn tại sao ông lại kêu ca với Trùng Khánh về việc thiếu thốn lương thực… và nếu quả thực thế thì tại sao lại không cho tôi biết trước khi báo cáo về Trùng Khánh. Sainteny hơi lúng túng và tỏ ra bực bội vì thấy bị hỏi về những điều nhỏ nhen này. Ông thanh minh là đã có nói điều dó trước khi những người “bồi An Nam” bỏ trốn đi, mà người Pháp thì không được phép ra ngoài để mua bán gì… Tôi hiểu ngay vấn đề lương thực thực sự chỉ là một cái cớ. Sainteny bảo tôi không nên quá quan tâm đến những người Pháp ở Trùng Khánh vì họ không nắm được việc Sainteny phải đối phó với những người “Cộng sản Việt Nam chống đối” và bọn lính Nhật kiêu căng đang bao vây. Ông cho “dân” Trùng Khánh chỉ biết “ăn bánh ngọt, uống trà” trong khi Đông Dương đang suy sụp. Đó chỉ là một quan điểm cục bộ hẹp hòi của cá nhân Sainteny; vì chắc chắn ông biết rằng các nhà ngoại giao Pháp ở Trùng Khánh đang cố gắng giải quyết cho xong với Tưởng vấn đề độc quyền lãnh thổ của Pháp ở Trung Quốc… Tôi cho rằng những điều xuyên tạc và bịa đặt của Sainteny đã chẳng giúp gì được trong việc nâng cao địa vị của Pháp ở địa phương hay trên trường quốc tế.
Tôi có hỏi tại sao ông ta lại đặt tôi vào cái thế phải giải thích những câu chuyện vụn vặt đó mà tôi đã không gây ra và cũng chẳng nắm được…
… Tôi không thật nắm chắc được động cơ của Sainteny. Đây cũng có thể chỉ là những vấn đề nhỏ nhen cá nhân. Nhưng cũng rất có khả năng là ông đã cố ý bịa ra chuyện để đánh lừa, lấy cớ là Pháp thiếu, không có đủ cơ sở tiếp tế hậu cần ở Hà Nội để xin tăng thêm số người Pháp ở Đông Dương. Nhưng dù động cơ thật của ông là gì đi nữa thì mưu mô làm mất uy tín của Mỹ ở Hà Nội hay ở Trung Quốc cũng đã chẳng có ảnh hưởng gì tới người Trung Quốc và bất kể thế nào thì họ cũng vẫn là lực lượng chiếm đóng.
Tôi nói với Sainteny là tôi có gặp ông Hồ buổi sáng và đã đề cập đến việc gặp gỡ giữa hai bên, như ông ta đã yêu cầu, nhưng ông Hồ cho biết rằng ông không có ý định muốn có sự gặp gỡ trong thời điểm đặc biệt này.
Tôi muốn làm dịu bớt lời chối từ của ông Hồ nên có ý kiến có lẽ nên thu xếp một cuộc gặp gỡ vào những ngày sau. Sainteny nhún vai: “Không quan trọng! Chúng tôi sẽ làm điều mà chúng tôi phải làm. Mặc kệ!”. Tôi hỏi xem ông có nhận được phản ứng gì của Paris đối với chính phủ mới của Hồ Chí Minh không. Câu trả lời của ông mập mờ, chẳng đâu vào đâu. Như sực nhớ ra, Sainteny nói là Paris đã có kế hoạch riêng của họ, và thực sự cũng chẳng phải lo lắng gì đến các hoạt động của bọn “đỏ” ở Đông Dương.
Cuộc nói chuyện đã kéo quá dài. Tôi ra về và Sainteny nhắc lại việc những “cai ngục” người Nhật của ông ta đã được những người “Cộng sản An Nam” thay thế. Điều gợi ý của tôi để toán của ông rời khỏi Dinh và chuyển đến một trụ sở ít phức tạp hơn gần Phái đoàn Mỹ, được đáp lại là ông chỉ đóng ở nơi nào mà “sự công nhận chính thức chủ quyền Pháp” được ghi nhận. Ông còn cảm thấy một cách mạnh mẽ rằng, nếu ông không thể làm gì khác hơn nữa thì ít nhất ông cũng cần phải duy trì “sự có mặt của Pháp” bằng cách chiếm đóng trụ sở cũ của Toàn quyền Pháp ở Đông Dương.
MỘT BỨC ĐIỆN GỬI CHO TRUMAN
Nếu như người Pháp băn khoăn lo lắng về chiến lược của Tưởng định gạt họ ra khỏi Đông Dương thì ông Hồ và Việt Minh của ông cũng chẳng yên tâm trước những mưu đồ của Trung Quốc đối với tương lai sự lãnh đạo của họ. Từ sáng sớm, Võ Nguyên Giáp đã gửi cho tôi một thư yêu cầu tôi chuyển bức công điện sau đây của ông Hồ gửi Tổng thống Truman.
“Để đảm bảo có kết quả cho vấn đề mà Uỷ ban liên tịch các nước Đồng minh có nhiệm vụ phải giải quyết ở Việt Nam, yêu cầu để cho phái đoàn Mỹ được làm một thành viên của Uỷ ban nói trên và đặt quan hệ với Chính phủ chúng tôi… Chúng tôi yêu cầu cho Chính phủ chúng tôi, chính quyền duy nhất hợp pháp ở Việt Nam,và là người duy nhất đã chiến đấu chống Nhật (sic) (hoạt động quân sự do Mặt trận Việt Minh và sĩ quan Mỹ tiến hành), có quyền có đại diện trong Uỷ ban đó.
Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký thay”.
(http://i532.photobucket.com/albums/ee328/ngao5/ThuHCMguiTruman2.jpg)
Tôi cho rằng đây chỉ là một sự tính toán, táo bạo và có thể không có hiệu quả của ông Hồ để có được một vị trí giữa các nước có quyền quyết định về tương lai của Đông Dương. Nếu chỉ có Trung Quốc là cường quốc chiếm đóng duy nhất thì đó là một triển vọng không thể chấp nhận được đối với ông. Sự công nhận của quốc tế, nếu đạt được, sẽ củng cố cả vai trò của phong trào độc lập và địa vị lãnh đạo của cá nhân ông. Có hay không có điều đó thì sự mong muốn cho Mỹ tham gia một cách tích cực vào việc quyết định đường lối chính sách, sẽ chỉ cốt để cân bằng lại đối với những mục đích lợi dụng của Trung Quốc, Pháp và Anh. Điều khá mỉa mai là trong khi ông công bố một cách thành thực là đã kháng chiến chống Nhật, thì lại đúng là nhờ vào sự cộng tác tích cực của Nhật mà Chính phủ ông mới hoạt động được. Tỷ dụ như ngay mới đây, Nhật đã lặng lẽ để lại cho người Việt tất cả bộ máy cảnh sát dân sự, trừ việc canh gác nhà Ngân hàng Đông Dương và các hoạt động của Hiến binh Nhật.
Tôi không muốn chuyển bức điện của ông Hồ mà lại không có sự thảo luận với ông nên đã tìm gặp ông vào giữa buổi sáng hôm đó. Cùng với ông, còn có Hoàng Minh Giám(2). Chúng tôi đi thẳng ngay vào đề là tôi không thể gửi được bức điện cho Tổng thống Truman. Đó là một vấn đề ngoại giao vượt ra ngoài quyền hạn của tôi. Nhận xét đó không làm cho ông Hồ bối rối. Với nụ cười cởi mở thường thấy và lộ thái độ thoải mái, ông nói ông hoàn toàn thông cảm việc tôi không thể trực tiếp liên lạc với Nhà Trắng nhưng chắc cũng có thể gợi ý cho ông cách nào đó để liên lạc với Truman; điều đó mới thực là quan trọng.
Không đợi tôi kịp trả lời, ông quay sang Giám và bảo Giám giải thích về nội dung bức điện. Giám đang chờ, và bằng một thứ tiếng Pháp lưu loát, nói bức điện có hai mục đích: thứ nhất là tranh thủ sự có mặt của một người tham dự vô tư, nếu được Mỹ là tốt nhất, trong các cuộc thương lượng giữa Trung Quốc và Pháp, vì họ có thể làm nguy hại cho nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và thứ hai, khuyến khích cho các nước Đồng minh công nhận Chính phủ Lâm thời của ông Hồ là đại diện duy nhất và hợp pháp của nhân dân Việt Nam trong các vấn đề có liên quan đến chủ quyền của Việt Nam…
Giám giải thích điểm hai còn bao gồm việc sắp đặt cơ cấu tổ chức và vai trò của các phái dân tộc chủ nghĩa khác nhau, một điều quan trọng đối với ông Hồ, nếu như ông phải cùng với họ nắm một loại chính quyền hợp pháp nào đó…
Theo Giám lập luận thì việc Đồng minh công nhận Chính phủ Lâm thời chậm chừng nào thì chỉ làm suy yếu địa vị lãnh đạo của họ chừng đó và chỉ làm lợi cho Đồng minh Hội và Việt Nam Quốc dân Đảng trong việc dựng lên bộ máy cai trị thân Trung Quốc. Đến đây ông Hồ xen vào nói rằng tình hình cấp bách phải làm cho Mỹ dùng ảnh hưởng của mình đối với Trung Quốc, bắt họ phải chấp nhận Chính phủ Lâm thời của ông như “một chính phủ đã tồn tại trước khi bọn bù nhìn thân Quốc dân Đảng vượt biên giới vào Việt Nam”.
Không công nhận cách lập luận trên, tôi chỉ nhắc lại chính sách của Mỹ: Mỹ không có kế hoạch can thiệp vào công việc nội bộ của Đông Dương, bất kể ở phía người Trung Quốc, người Pháp hay người Việt và hơn nữa, theo tôi hiểu thì đại diện duy nhất Đồng minh phụ trách tiếp nhận đầu hàng ở miền bắc Đông Dương sẽ là người Trung Quốc. Nhân viên Mỹ đi cùng đoàn tiếp nhận đầu hàng Trung Quốc chỉ là những người trước đây đã được phái tới lực lượng chiến dấu Trung Quốc để làm cố vấn quân sự, không có nhiệm vụ chính trị và không có quyền đại diện chính phủ Mỹ trong các công việc quốc tế.
Tôi nêu ý kiến một cách thẳng thắn. Vì thật là sai lầm nếu như dấy lên một hy vọng về việc Mỹ làm trung gian khi tôi biết rằng điều dó sẽ không thể có. “Ông già” mẫn cảm hiểu vấn đề và với một thái độ chịu đựng trang trọng, ông nói ông đánh giá cao và tôn trọng lập trường của Mỹ. Nhưng nếu tôi làm ơn chuyển hộ ông bức điện, dù chỉ về Trùng Khánh thôi, thì ông cũng rất sung sướng. Có lẽ cũng có người nào đó “ở cấp cao” sẽ thông hiểu được cảnh ngộ của người Việt Nam.
Về sau, coi như là một việc nhân nhượng với họ, tôi nhận sẽ chuyển điện về cho Đại sứ Hurley, nhưng cũng nói với ông Hồ rằng tôi sẽ không thể đoán trước được Đại sứ sẽ có hành động gì không. Trong thâm tâm tôi, tôi cho rằng nỗ lực đó sẽ không mang lại kết quả; và thực sự đúng là như vậy.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 09:54:09 AM
Tôi cũng thông báo cho ông Hồ biết Sainteny yêu cầu có cuộc đàm thoại. Ông suy nghĩ một lát rồi hỏi xem mục đích để làm gì? Tôi nói chỉ có thể phỏng đoán là nhằm để bàn về vai trò tương lai của Pháp ở Đông Dương. Ông Hồ nhẹ nhàng đáp lại là thực tế trong lúc này không còn gì phải thảo luận với Sainteny nữa, trừ phi, ông nói thêm, đó là việc quân đội Pháp trở lại Việt Nam, và nếu như Sainteny có ý như vậy thì tốt hơn hết là nên chờ cho sự việc xảy ra đã rồi hãy gặp nhau. Ông nói nếu như Sainteny có điểm gì có tính chất xây dựng cần trình bày trong khuôn khổ một thông báo chính thức của Paris, thì ông ta nên gửi cho Chính phủ Lâm thời xem xét. Rõ ràng là vấn đề đã kết thúc và tôi không nói gì thêm nữa.
Giám rời khỏi phòng, tôi cũng xin rút lui nhưng ông Hồ nói tôi ở lại. Ông mới được tin nhiều quan chức quan trọng Pháp ở Paris đến Trùng Khánh để điều đình với Tưởng về vấn đề đặc quyền ngoại giao ở Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu và Quảng Châu. Tất nhiên, những cuộc điều đình đó sẽ không được tiến hành mà không có ảnh hưởng lớn đến quy chế tương lai của Việt Nam. Đi sâu thêm, ông Hồ tỏ vẻ lo ngại về vấn đề quyền sở hữu và quản lý đường xe lửa Vân Nam phủ đi từ Hà Nội về Côn Minh và vấn đề khai thác sử dụng cảng Hải Phòng. Ông bình luận một cách buồn bã rằng thật là một điều kinh khủng khi thấy ở Yalta cũng như ở Postdam, các cường quốc Đồng minh đã quyết định những vấn đề cực kỳ nghiêm trọng mà không có một sự chiếu cố nhỏ nhặt nhất đối với nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.
Tôi không đồng ý và có một quan niệm khác. Sự quan tâm chủ yếu của Tổng thống Roosevelt đối với vấn đề Đông Dương ở Cairo, Tehéran và Yalta là số phận tương lai của dân tộc Việt Nam. Ông đã đề cập một cách hoàn toàn đầy sức thuyết phục tới vấn đề tự trị cho nhân dân Việt Nam với Stalin và cả Churchill, cũng như đã nói riêng với Tưởng, và đã giành được sự ủng hộ hết lòng của Stalin và Tưởng. Trong khi bảo vệ sự nghiệp của Việt Nam, Roosevelt đã bày tỏ một cách minh bạch là ông chỉ mong muốn chấm dứt chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương ngay cả khi cần phải trả giá bằng sự bất hoà với Anh, và làm gián đoạn mối quan hệ Mỹ - Pháp.
Hơn nữa, tôi nói, Tổng thống cũng đã thấy Tưởng công khai tuyên bố lập trường không can thiệp của mình, và tôi nhắc cho ông Hồ biết, chỉ trước đó 4 hôm, Tưởng nói lặp lại lập trường nói trên và tuyên bố:
“… Tuân theo các điều khoản trong bản hiệp định của Đồng minh mới đây, ngoài việc phái các lực lượng tới để tiếp nhận đầu hàng của Nhật trong vùng bắc vĩ tuyến 16, chúng tôi không có tham vọng đất đai ở Đông Dương thuộc Pháp. Chúng tôi mong rằng người Việt Nam sẽ từng bước thực hiện được nền độc lập của họ qua con đường tụ trị, và qua đó thực hiện được những điều khoản của Hiến chương Đại Tây Dương…”(3).
Một lần nữa, lại nổi lên vấn đề những người Việt Quốc gia vượt qua biên giới trong gồng gánh của lực lượng chiếm đóng của Lư Hán. Giáp và tôi đã thảo luận vấn đề này từ mấy hôm trước và đã kết luận là có thể dẫn đến những cuộc xung đột nghiêm trọng. Tôi đã báo cáo cho Tổng hành dinh Chiến trường và Đại sứ quán khả năng tiềm tàng có thể nổ ra rối loạn nội bộ, và thậm chí xung đột vũ trang, nếu như những người Việt Quốc gia từ Trung Quốc ở về lại có ý định muốn đánh đổ Chính phủ Lâm thời.
Ông Hồ và tôi nói đến đó thì Giám trở vào, mang theo một bức điện. Ông có tin quân Trung Quốc đã qua biên giới ngày 27-7 ở Cao Bằng và đã tước vũ khí của một phân đội nhỏ Việt Minh đóng ở Lạng Sơn. Nhưng khoảng một giờ sau, bộ đội tăng cường của Việt Minh từ nông thôn kéo đến đã phản công đánh cho quân Trung Quốc phải rút lui và chịu điều đình để có đường tự do đi về phía nam. Người Trung Quốc đã phải yêu cầu Việt Minh thông qua một tổ chức chính quyền liên hợp ở cấp tỉnh để đảm bảo duy trì pháp luật và trật tự trong tỉnh. Xem ra thì biện pháp cuối cùng có thể được lựa chọn sẽ là một chính phủ quân quản vĩnh cửu. Nhưng sau những cuộc thảo luận sôi nổi, mọi người đã nhất trí thành lập một chính quyền liên hợp cấp tỉnh gồm 2 đại biểu của Việt Minh, 2 của Phục Quốc và 3 người độc lập.
Ông Hồ lắc đầu phản đối, cho đó là một điều không thể chấp nhận được: bọn Phục Quốc từ lâu đã là bù nhìn của Nhật và không thể tin cậy được. Giám giải thích là Phục Quốc gồm có ba đảng quốc gia do Nhật đỡ đầu, một trong số đó do Trần Trọng Kim lãnh đạo. Ông Hồ ngắt lời và nói là Phục Quốc đã được tổ chức ra từ trước Thế chiến thứ nhất, với sự bảo trợ của Phan Bội Châu, “một học giả chính trực, một người quốc gia chân chính” với nhiều hoài bão về một sự cộng tác Nhật - Việt. Trong thời niên thiếu,, ông nói, tôi đã có nghĩ đến việc đi theo phong trào Đông Du phục vụ cho châu Á của Tiến sĩ Châu. Nhưng sau này, thấm nhuần một tinh thần độc lập chống sự đô hộ của ngoại quốc mạnh mẽ, ông đã quyết định chuyển đi theo hướng tây - sang Pháp.
Ông Hồ và Giám đưa ra nhiều tài liệu về sự cộng tác của Phục Quốc với quân xâm lược Nhật và ông Hồ cũng nhắc lại kinh nghiệm bản thân của ông với nhóm lưu vong ở Trung Quốc trong vai trò của “những tên đầy tớ trung thành của Quốc dân Đảng”. Những người cộng tác thù địch này sẽ chẳng mang lại được gì thêm cho chế độ mới và rõ ràng ở đây chỉ là một việc ông Hồ phải ngậm bồ hòn làm ngọt.
Trước khi tôi ra về, ông Hồ lại nhắc lại sự mong mỏi khẩn thiết của ông là tôi sẽ báo cáo cho Trùng Khánh tất cả những gì đang xảy ra ở miền Bắc này.
MỘT BỨC ĐIỆN GỬI CHO “ÔNG TAM”
Tôi có dấu vết đầu tiên về việc ông Hồ có ý định giải quyết vấn đề những người Việt Quốc gia đã xuất dương qua một bức thư tôi nhận được trong ngày hôm sau của Võ Nguyên Giáp. Ông yêu cầu tôi trên cơ sở cảm tình cá nhân, chuyển giúp ông một bức điện cho “ông Tam”. Bức điện tỏ ra vô thưởng vô phạt và thông thường tôi không cho nó ẩn ý nào khác.
“Của: Võ Nguyễn Giáp, tức Văn
Gửi cho: ông Tam, nhờ AGAS chuyển
Việt Minh đã thành lập Chính phủ Cộng hoà Lâm thời. Nhân danh cá nhân tôi, mời ông về Hà Nội”.
Nhưng tôi cảnh giác vì thấy ông Hồ đã tỏ ra lo lắng trong khi thảo luận về các đảng phái thân Trung Quốc. Tôi thoáng có ý nghĩ là Giáp có thể có ý đồ muốn xoay xở với Việt Minh. Nhưng tôi đã gạt bỏ ngay ý nghĩ đó, vì sự trung thành của Giáp đối với ông Hồ và Việt Minh là một điều không thể nghi ngờ được. Nhưng yêu cầu của Giáp là không bình thường. Từ trước, chỉ có ông Hồ nhờ tôi chuyển điện tín và nội dung các bức điện bao giờ cũng rõ ràng.
Điều làm tôi thắc mắc là cái “ông Tam” này, ông Tam duy nhất mà AGAS có liên lạc là Nguyễn Tường Tam(4), lãnh tụ đảng Đại Việt, thân Nhật, hợp tác với Việt Nam Quốc dân Đảng, nổi tiếng chống Cộng sản và lại chính là người mà Sainteny đã bí mật liên lạc thăm dò cách đó khoảng một tháng. Điều làm tôi thắc mắc là Giáp, vốn là một trợ thủ chủ yếu của ông Hồ, mà chỉ do sáng kiến cá nhân dám mời lãnh tụ của một đảng đối lập về gặp ở Hà Nội. Có gì bảo đảm cho Giáp là tôi sẽ không thảo luận về bức thư này với ông Hồ, mà Giáp thì cũng chẳng yêu cầu tôi phải giữ bí mật. Với cách lập luận đó, tôi cho rằng Giáp đã hành động với sự đồng ý của ông Hồ và tôi đã chuyển bức điện đi.
Nhưng tôi vẫn phân vân không hiểu tại sao lại có bức điện này. Nó có thể sẽ mang lại cho Việt Minh lợi lộc gì? Hay đây là một cái bẫy chỉ nhằm để bắt cóc hoặc ám sát? Chắc không phải như vậy. Việc thủ tiêu Tam sẽ không ngăn trở được mục đích cuối cùng của Việt Nam Quốc dân Đảng là nhằm tiêu diệt Việt Minh do Cộng sản lãnh đạo.
Có lẽ ông Hồ, một bậc thầy mưu lược, đã suy nghĩ theo cái kiểu người Mỹ chúng ta: “nếu anh không đánh được họ, thì hãy theo họ”. Một chiến thuật mà ông đã từng sử dụng và thu được ít nhiều thành công. Qua suy nghĩ, tôi cho rằng ông Hồ không thể hoà trộn Việt Minh của ông với Quốc dân Đảng mà có thể chỉ là việc một lãnh tụ chủ chốt trong các đảng chống Cộng sẽ bị lôi kéo bằng cách mua chuộc, o ép, doạ nạt, hoặc một cái gì đó mà vẫn không từ bỏ đảng mình để đi theo với Việt Minh… Tôi yêu cầu Bob Knapp, một chuyên gia về chiến tranh chính trị của chúng tôi, giúp tôi phân tích tình huống mới này. Chúng tôi bắt đầu từ sự việc ai cũng đã biết là ông Hồ và Tam đã cộng tác với Trương Phát Khuê ở Đồng minh Hội trong những năm 1943-1944 và kiểm lại tất cả các tình huống mà chúng tôi đã biết về họ.
Vào mùa hè 1943, qua sự tiếp xúc của OSS với những người Cộng sản Trung Quốc trong Quốc dân Đảng, tướng Tiêu Văn đã tìm gặp ông Hồ, lúc đó là tù chính trị của Trương. Tiêu và ông Hồ đã đi tới một quan hệ gần gũi nhau về lý tưởng và đến cuối tháng 7, Trương đã đưa ra một đề nghị xin thả ông Hồ gửi cho Tổng Bí thư Quốc dân Đảng Trung Quốc. Đề nghị đó được chấp nhận vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9, với điều kiện ông Hồ sẽ được giải thoát khỏi bị tù đày, nhưng được giữ lại dưới quyền kiểm soát của Trương để làm công tác chính trị trong Việt kiều. Trương yêu cầu ông Hồ giúp chấn chỉnh tổ chức Đồng minh Hội, vì nó đã chẳng có hiệu lực gì từ khi thành lập vào mùa thu 1942 và đang bị xâu xé vì mâu thuẫn nội bộ.
Mặc dù có sự tranh chấp giữa Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Nam Quốc dân Đảng, ông Hồ cũng đã thành công trong việc làm cho Đồng minh Hội trở thành một liên minh có hoạt động, đáp ứng được yêu cầu của Trương về mặt tổ chức, kỷ luật, công tác tình báo. Khi ông Hồ rời Trung Quốc về biên giới Việt Nam vào tháng 8-1944, ông có khá nhiều kẻ thù, nhưng đồng thời cũng có nhiều bạn bè trong số các lãnh tụ bất mãn của khối chống Cộng trong Đồng minh Hội. Nguyễn Tường Tam là một trong số này.
Knapp và tôi đi đến kết luận là khi ông Hồ được tin quân Lư Hán kéo bọn tay chân cũ trong Đồng minh Hội đi theo họ, trong số đó đặc biệt có bọn Việt Nam Quốc dân Đảng đáng căm thù thì ông đã dự đoán Trung Quốc có kế hoạch định lật đổ ông để thay thế bằng một tên bù nhìn thân Trung Quốc ngoan ngoãn. Nếu quả thực họ có mưu đồ như vậy, thì ông Hồ cũng biết rằng chính phủ và lực lượng quân sự rất hạn chế của ông sẽ không thể đối phó được với sức mạnh quân sự của Tưởng.
Nhưng còn một vấn đề rầy rà khác cho ông Hồ là việc có thể có hoặc sẽ có một “hoạt động” Trung - Pháp, nhằm lật đổ ông, tiêu diệt Việt Minh và trao trả Việt Nam lại cho Pháp.
Chúng tôi có được bản giải thích của cơ quan nghiên cứu R&A của OSS về lời tuyên bố của Tưởng ngày 24-8, mà tôi đã có dịp nói đến ít nhiều trong cuộc gặp gỡ với ông Hồ, và đặc biệt là về chính sách 14 điểm của Quốc dân Đảng trong việc chiếm đóng Việt Nam. Chúng tôi đặc biệt lưu ý đến việc các nhà Trung Quốc học của OSS chúng ta cho rằng chính phủ Trung Quốc không có ý định muốn để cho mình bị sa lầy ở Đông Dương. Thái độ trước đây của Tưởng đối với người Việt Nam đã được trình bày cho Roosevelt ở Cairo tháng 11-1943, hình như vẫn còn có giá trị. Lúc đó Tưởng đã phát biểu là người Việt Nam không phải là người Trung Quốc, không để bị đồng hoá với xã hội Trung Quốc và Tưởng không có quyền lợi về đất đai ở Đông Dương.
Nhưng, lời tuyên bố mới nhất về chính sách của Trung Quốc lại không chịu ghi nhận phong trào độc lập của Việt Nam và việc thành lập của một Chính phủ Việt Minh. Thay vào đó, nó lại công nhận chủ quyền Pháp đối với Đông Dương và bao hàm việc Trung Quốc sẽ xúc tiến cộng tác với Pháp ở tầm cỡ quốc tế để giải quyết vấn đề quyền lợi Trung - Pháp tại Đông Dương.
Như thế rõ ràng là Hồ Chí Minh và Chính phủ “thực tế” của ông đã không có một vai trò gì trong kế hoạch sau chiến tranh của Quốc dân Đảng Trung Quốc và sự ủng hộ trước đây của Trương Phát Khuê đối với những người Quốc gia Việt Nam, dù cho đã được Trùng Khánh chuẩn y, cũng không có góp phần gì vào trong cái mưu đồ to lớn của Thống chế - nhằm làm cho Trung Quốc chiếm địa vị ưu thế trên bàn hội nghị hoà bình với nước Pháp.
Giả sử sự phân tích của chúng tôi là đúng đắn, thì việc mời Tam, trong khi những người cộng tác chính trị với ông còn đang trên đường đi từ Vân Nam vào Việt Nam, có nghĩa là ông Hồ đã cố gắng vận dụng chiến thuật một cách cừ khôi trội hơn người Trung Quốc… Ông Hồ biết rằng Tam đã không được Tiêu Văn trọng vọng ở Đồng minh Hội và bị Vũ Hồng Khanh, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng, đối xử một cách thậm tệ. Cũng có khả năng Tam và Đại Việt của ông có thể bị cắt đứt khỏi Đồng minh Hội. Cũng có thể ông được ép nhận một Bộ trong Chính phủ mới và một số ghế nào đó trong Quốc hội cho những người theo ông. Hành động đó, nếu thành công, chắc chắn sẽ mở rộng cơ sở của chính phủ Việt Minh và đồng thời lại làm suy yếu các đảng phái đối lập từ Trung Quốc về.
Chú thích
(1) “Xem lịch sử”, J. Sainteny
(2)  Lãnh tụ đảng Xã hội và là bạn thân của ông Hồ
(3) Tuyên bố của Tưởng được đăng trên tờ Trung ương Nhật báo ngày 25-8-1945 ở Côn Minh.
(4) Nguyễn Tường Tam (1910-1963), nhà văn, nhà báo với bút danh Nhất Linh, đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng. Đảng này dựa vào Trung Quốc như một đồng minh để giành độc lập dân tộc, chống lại sự kiểm soát quốc gia của Pháp. Khi thế lực của Nhật bắt đầu thống trị Đông Dương (1940), Tam chuyển sang nhờ sự viện trợ của Nhật để chống Pháp và lập ra đảng Đại Việt dân chính (gọi tắt là đảng Đại Việt). Pháp đã đàn áp và bắt giam các lãnh tụ của đảng này. Tam trốn thoát sang Trung Quốc (1942) và theo Việt Nam Quốc dân Đảng của Vũ Hồng Khanh ở Côn Minh. Đây là “Việt Nam Quốc dân Đảng” thứ hai, mặc dù Tam không lộ rõ mặt ở Trung Quốc nhưng Tam và đảng Đại Việt đã được xác định là những người Quốc gia thân Nhật. Trương Phát Khuê quyết định bắt giam Tam (1944) để “dạy cho ông một bài học”. Ngay trước khi họp Đại hội Đồng minh Hội lần thứ hai (3-1944), Trương thả Tam và mời làm đại biểu dự Đại hội ở Liễu Châu và ở đó Tam đã gặp Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng. Mùa thu 1945, ông Hồ tranh thủ sự ủng hộ của Tam và trao cho Tam chức Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ Liên hiệp Lâm thời (1-1946). Khi được mời dẫn đầu đoàn dự Hội nghị Fontainebleau, Tam đã cáo ốm và cùng với Vũ Hồng Khanh đã trốn sang Trung Quốc rồi qua Hongkong.
Tháng 2-1947, Tam, Khanh và một số lãnh tụ Đồng Minh Hội khác đã tham gia các hội nghị ở Nam Kinh và Quảng Châu để lập ra Mặt trận Dân tộc Thống nhất nằm tranh thủ sự ủng hộ của chính phủ ông Hồ và thuyết phục Bảo Đại làm người phát ngôn cho họ. Nhưng họ đã thất vọng với người Pháp và Bảo Đại đã từ chối đứng trung gian hai bên Việt Minh và Pháp. Tháng 10-1947, Tam rút lui khỏi phong trào ủng hộ Bảo Đại và hoạt động chính trị, nhưng vẫn tiếp tục viết báo từ hải ngoại chống lại sự can thiệp của Pháp và Mỹ vào Việt Nam. Trong cuộc nổi dậy của Phật giáo 1963, Tam đã tự vẫn (7-1963) để phản đối sự đàn áp của chế độ Ngô Đình Diệm.




Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 10:00:21 AM
Chương 25
Trước ngày lễ Độc lập
HẾT KHÓ KHĂN NÀY LẠI ĐẾN KHÓ KHĂN KHÁC
Trong một thời gian ngắn ngủi 8 ngày, các sự kiện ở Hà Nội đã phá vỡ các kế hoạch của Đồng minh nhằm chuyển sang một cách có trật tự từ thời chiến sang thời bình. Một cuộc tiếp thu đầu hàng về quân sự theo như thường lệ, không có cảnh báo trước, sẽ làm nảy sinh một cơn lốc chính trị có tầm cỡ quốc tế. Những sự xung đột về quyền lợi của nhiều nước đã nhanh chóng bùng ra liên tục và đã đặt ra cho cơ quan OSS chúng tôi nhiệm vụ phải thỉnh thị, hoà giải hay quyết định.
Tôi cho rằng sự thay đổi trong những diễn biến tình hình này là trực tiếp do sự chậm trễ cố tình của Tưởng trong việc thực hiện nhiệm vụ chiếm đóng của mình. Điều đó đã góp phần gây ra tình trạng hỗn loạn và vô chính phủ tiếp theo. Nó đã giúp cho người Nhật có thời gian để tung ra trận đấu cuối cùng nhưng vô tích sự để nhằm giành ưu thế về tư tưởng. Nó đã cung cấp cho ông Hồ cơ hội để thiết lập cơ cấu chính trị của ông mà không bị chống đối từ bên ngoài. Còn đối với người Pháp thì sự chần chừ của Tưởng chỉ càng làm cho họ dễ bảo hơn nữa trong cuộc thương lượng của Tưởng với Paris.
Hiến binh Nhật đã tiến hành một chiến dịch bỉ ổi chống người da trắng trong người Việt và người Hoa ở Đông Dương, nhằm vào các cường quốc phương Tây ở châu Á. Người Pháp, sau khi đã mất hết quyền kiểm soát thuộc địa cũ của mình, đã rơi vào một tình trạng thất vọng tập thể, chửi bới thậm tệ người Việt Nam, Trung Quốc và người Mỹ. Những tin đồn đại về một cuộc chiếm đóng lâu dài của Quốc dân Đảng đã làm cho dân chúng của ông Hồ và thực dân Pháp kinh hoàng. Họ mường tượng ngay đến những tháng năm đầy áp bức độc đoán, cướp đoạt, đói khát và chết chóc.
Vị trí của chúng tôi trong OSS trở thành không thể chịu đựng được nữa. Quyền hạn của tôi bị bó hẹp trong các vấn đề quân sự nhưng phần lớn các sự việc và vấn đề chúng tôi phải đương đầu thực chất lại là chính trị. Tôi báo cho Côn Minh và Trùng Khánh biết rõ tình hình phức tạp và rất dễ bùng nổ ở đây nhưng hình như các nhà chức trách quân sự và ngoại giao đều không quan tâm lắm. Tôi đã đề nghị với Heppner gặp thảo luận với Đại sứ Hurley và giục ông phái một viên chức ngoại giao có thẩm quyền để đến đối phó với cái lò lửa Hà Nội đang sôi sục này, nhưng chỉ dược đáp lại “chuyển tất cả mọi vấn đề cho các nhà chức trách đảm nhiệm việc chiếm đóng ngay sau khi họ tới”. Thế là hay, nhưng khi nào thì người Trung Quốc sẽ tới? Chúng tôi đã biết các đơn vị tiền trạm đã vượt qua biên giới vào ngày 27, nhưng không rõ Lư Hán và cơ quan chính trị của ông ta ở đâu? Thời gian ông ta đến có thể đoán chừng là còn phụ thuộc vào sự thành công của Tưởng trong việc vô hiệu hoá được viên thống đốc Vân Nam và những thắng lợi trong cuộc thương lượng của Tưởng với Pháp ở Trùng Khánh và Paris. Điều đó đòi hỏi phải có thời gian. Trong khi chờ đợi, chúng tôi làm được gì thì làm để biểu thị sự có mặt của nhà chức trách Đồng minh và duy trì một cái có vẻ như là một nền trật tự.
Những yêu cầu khẩn khoản của tôi về chỉ đạo chính trị và sự giúp đỡ để đối phó với tình hình bấp bênh của Hà Nội đã làm cho Đại sứ quán chúng ta nổi cáu và bức công hàm của ông Hồ gửi Tổng thống Truman lại như đổ dầu thêm. Đại sứ Hurley đã phật ý vì ông vẫn cho rằng Hồ Chí Minh và Việt Minh của ông Hồ chỉ là một sụ mở rộng của “mối đe doạ đỏ ở phương Đông” của Mao Trạch Đông. Sự bực tức của Đại sứ lại được bồi thêm bằng những lời kết tội của Pháp quy cho đại diện Mỹ ở Hà Nội là “chống Pháp” và có cảm tình với “Cộng sản”. Hurley đã điên lên về việc Heppner ngoan cố không chịu gọi tôi về Trung Quốc và cho tôi xuống tàu về Mỹ.
Ở cấp Chiến trường, cơ quan của Wedemeyer đã chất vấn OSS về các “hoạt động chính trị của tôi tại Hà Nội”. Sau này (vào tháng 10), Q. Roosevelt cho tôi hay là Tai Li đã phàn nàn với đại tá Dickey, thủ trưởng G-2(1) Chiến trường Trung Quốc, là tôi đã thân thiện quá với Việt Minh và không hợp tác với nhà đương cục Trung Quốc.
Ngày thứ bảy 1-9, tôi nhận được một bức điện khá nghiêm khắc của Helliwell nhắc nhở tôi rằng hành dinh của Wedemeyer “rất không bằng lòng về hoạt động của OSS ở Đông Dương”. Trong bức điện có ghi: “ở đây nhận được báo cáo là Patti đã tổ chức các cuộc gặp gỡ và đứng làm môi giới cho người Pháp và An Nam”, như thế là trái với các chỉ thị của Chiến trường và “Chiến trường muốn bằng bất cứ giá nào, tránh các hoạt động chính trị nếu các hoạt động đó đặt Mỹ vào một thế đứng giữa”. Bức điện kết luận bằng một lời cảnh cáo: “Chúng ta có nguy cơ nghiêm trọng là cả phân đội có thể bị gọi về”.
Tôi rất buồn phiền về thái độ của những người chúng ta ở Trung Quốc nhưng cũng không có gì phải ngạc nhiên. Tôi biết họ đang phải chịu áp lực của người Pháp và người Trung Quốc, nhưng tôi cũng ý thức được trách nhiệm trong nhiệm vụ của mình. Wedemeyer, Heppner và Helliwell đều biết rõ một cách đầy đủ các mệnh lệnh Donovan chỉ thị cho tôi không được giúp đỡ người Pháp trong mưu đồ của họ trở lại Đông Dương. Họ cũng đã được thông báo đầy đủ về việc lựa chọn tôi để đảm nhiệm công việc này là trên cơ sở tôi thông suốt các chính sách Mỹ đối với “các dân tộc lệ thuộc”, như đã nhiều lần nói đến trước đây. Tôi cảm thấy sâu sắc rằng chính sách Mỹ đã thay đổi, tôi sẽ được khuyên nhủ về vấn đề đó và bị gọi về.
Mặc dù các lý do đưa ra đã được cường điệu lên (một cách khá khéo léo), tôi vẫn muốn trình bày cho OSS - Trung Quốc biết rõ sự việc. Tôi điện báo cho Heppner biết từ khi tôi đến, tôi chỉ thu xếp có được một cuộc gặp gỡ giữa Sainteny và Giáp, và đó là một cuộc gặp gỡ do Sainteny yêu cầu. Không hề có vấn đề làm môi giới chính trị, tuy rằng gần như ngày nào chúng tôi cũng phải can thiệp với các nhà chức trách địa phương về việc đảm bảo an ninh cho người Âu, nhất là đối với người Pháp. Trong nhiều trường hợp chúng tôi đã phải thay mặt người Pháp xin giùm cho một số tay sai đi khiêu khích bị bắt quả tang.
Tôi cũng nhắc lại cho Côn Minh những điều mà tôi đã nêu ra trước đây… Tôi đã yêu cầu Chiến trường và AGAS, ngay từ khi tôi mới tới, cho một nhân viên chuyên môn để phụ trách vấn đề tù binh chiến tranh và để tôi chuyển về công tác của OSS. Một tổ công tác nhỏ dưới quyền đại tá Norlinger(2) đã được đưa tới ngày 28-8. Nhưng thực không may, Norlinger cũng chẳng có gì thành công hơn tôi trong công tác đối với người Nhật về vấn đề tù binh.
Chỉ ít lâu sau, Narlinger và toán của ông cũng bị lôi cuốn vào các vấn đề chính trị Pháp - Việt. Norlinger thông thạo tiếng Pháp và là người thân Pháp trong Thế chiến thứ nhất nên đã dễ dàng trở thành một mục tiêu cho Pháp làm áp lực để giải thoát các tù binh người Pháp ra khỏi Thành. Người Pháp đã nắm lấy những “người Mỹ mới”, thuyết phục Norlinger rằng cộng đồng thường dân Pháp tại Hà Nội đang bị bọn Cộng sản Việt Nam “đe doạ giết” và chỉ có việc thả các tù binh Pháp ra để tổ chức một “lực lượng bảo vệ chống lại cuộc tấn công của người An Nam” thì mới có thể cứu được họ. Tất nhiên, luận điệu đó chỉ là một thứ cặn nước rửa bát dể cho lợn. Chính phủ Lâm thời đã đảm bảo với tôi rằng sẽ tránh dùng bạo lực đối với người Pháp bằng mọi cách, do đó không có lý do gì để mà hốt hoảng, mặc dù có những sự khiêu khích của người Pháp.
Tôi thảo luận với Norlinger về cái thế cân bằng mong manh về chính trị, trên cơ sở đó người Nhật và Chính phủ Việt Nam mới đang duy trì một nền trật tự công cộng hết sức bấp bênh; và tôi đã mạnh mẽ nhắc nhở ông đừng để mắc mưu vào các vấn đề chính trị. Ông đồng ý tình hình có độ nhạy cao và rất dễ dàng bùng nổ, nhưng tôi lại thấy ở ông một cảm tình ngầm cho những “người Pháp - các đồng minh cũ của chúng ta đang bị đàn áp”. Những người Pháp có quan hệ với ông cũng cảm nhận được điều đó và họ đã khai thác đến cùng, để cho người Mỹ phải trả giá. Trước mắt, người Pháp và người Trung Quốc đang chống đối lại phái đoàn OSS thì nhóm của Norlinger đã trở thành một lực lượng thứ ba trong vấn đề gây rối. Họ đã không hài lòng về những điều hạn chế của tôi đối với các hoạt động thân Pháp chống Việt Minh của họ và trong những tháng sau khi tôi còn đang phụ trách phái đoàn OSS, thì những thủ đoạn chia rẽ của họ mặc dù có động cơ tốt, chính là nguồn gốc của nhiều sự trao đổi chẳng hay ho gì giữa Hà Nội và Côn Minh.
MỘT NHÃN HIỆU ĐẶC BIỆT CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
Sáng thứ bảy đó, tôi và Grélecki đi một vòng thành phố. Hôm sau, 2 tháng 9 là ngày lễ lớn, Ngày Độc lập, khắp nơi tưng bừng không khí ngày hội. Ai cũng bận rộn, hớn hở, và vội vàng nhưng không ai tỏ ra hấp tấp. Trước cửa nhà, trên ban công, ngoài cổng ra vào đầy các loại cờ đỏ hoa, đèn. Nhiều toán người hăm hở giăng lên ngang trên đường phố, những khẩu hiệu hô hào “Độc lập và Tự do cho Việt Nam”, và hoan nghênh Đồng minh, đặc biệt là Mỹ. Thỉnh thoảng chúng tôi lại phải dừng xe nhường đường cho một toán Scout(3), một đội nữ du kích hoặc một đơn vị vũ trang vượt qua. Giữa một vườn hoa nhỏ, một đội quân nhạc đang biểu diễn.
Người Việt Nam hướng dẫn chúng tôi giải thích một cách trịnh trọng: “Ngày mai Chính phủ mới sẽ ra mắt dân chúng và chế độ của người Pháp đã bị bãi bỏ”. Tôi hỏi ai sẽ cầm đầu Chính phủ mới, và anh ta trả lời ngay “Hồ Chí Minh”. Anh ta chưa hề trông thấy ông Hồ, mà cả ảnh cũng không. Anh cũng chẳng rõ ông ở đâu về, ngoài việc chỉ được nghe nói Hồ Chí Minh đã “ở ngoại quốc lâu năm” nhưng cũng không rõ ở đâu, Tôi hỏi anh ta có biết gì về xu hướng chính trị của ông Hồ. “Ồ, có chứ, ông Hồ là Việt Minh, một đảng của nhân dân”. Có biết Việt Minh là Cộng sản không? Người hướng dẫn tỏ vẻ lúng túng rồi thú thật rằng anh ta thực sự không hiểu tôi muốn nói gì về Cộng sản. Tôi không tiếp tục câu chuyện nhưng cũng nhận thấy ngay được rằng khi nói đến Hồ Chí Minh, giọng anh ta đượm vẻ tự hào cứ như ông Hồ là một người thân thuộc trong gia đình mình vậy. Tôi đã gặp hiện tượng này nhiều lần trong các tuần lễ sống ở Hà Nội.
Trong buổi sáng, tôi cũng có dịp nói chuyện với một số thương gia. Nói chung, họ tỏ ra vui mừng trước triển vọng một Chính phủ gồm toàn người Việt, nhưng một số cũng tỏ ra vô thưởng vô phạt, còn một số ít thì hoài nghi không biết rồi sẽ có gì khác trước nhiều không. Tôi cũng thường gợi hỏi xem họ hiểu về Việt Minh và Cộng sản thế nào. Nhưng chỉ có ba hoặc bốn người có thể trả lời, các câu trả lời của họ rất lộn xộn, từ “không tốt” đến “tuyệt vời”, “bây giờ thì nhân dân sẽ chăm lo mọi việc”.
Trong chiến tranh tôi đã sống với những người kháng chiến Pháp và Ý (trong đó có nhiều người Cộng sản). Giống như người Pháp, người Ý có ít nhiều không giống với các dân tộc khác về động cơ chính trị. Cả hai dân tộc đã đấu tranh để lật đổ một khái niệm tư tưởng mà Hitler và Mussolini đã đặt lên đầu họ, ngoài ra không có gì khác hơn. Khi đã đạt được mục đích đó, cả hai nước lại chuẩn bị để quay trở lại nguyên tình trạng cũ, chỉ không có khái niệm về chủ nghĩa quốc xã hoặc phát xít mà thôi.
Tôi thấy phải chờ đợi một tình huống hoàn toàn khác ở Việt Nam. Người Việt Nam sẽ không thoả mãn chỉ với sự đánh bại chế độ phát xít của Vichy và Tokyo. Họ không muốn quay trở lại tình trạng trước chiến tranh của họ. Họ muốn có thay đổi. Họ muốn đòi lại đất nước họ và làm cho nó tự do và độc lập đối với sự đô hộ của bên ngoài. Đó cũng chính là điều tôi đã thấu hiểu được từ các nhà hoạt động chính trị trong 6 tháng trước đây ở Trung Quốc.
Nhưng sáng nay tôi đã không bắt gặp cái động cơ chính trị đó trong những người dân mà tôi có dịp nói chuyện. Họ đã cũng không phải là người Việt Nam mà mới chỉ hai tuần lễ trước đây đã khuấy động Hà Nội lên để chiếm lấy chính quyền. Không, đây chỉ là những người dân ngụ ở thành thị, số dân đô thị đã được liên kết vào cộng đồng người Pháp, đã quen với sự giàu có và lối sống đầy đủ tiện nghi. Từ những câu trả lời rối rắm của họ, tôi kết luận họ không phản đối thay đổi. Đúng là họ đã không được thực là sung sướng với người Pháp hoặc các chúa tể Nhật, vì dù sao thì đó cũng vẫn là người ngoại quốc và không thể tin cậy được. Họ cảm thấy dễ chịu hơn với những người đồng chủng của họ, dù cho nhưng người đó là quan lại hay “chức dịch”, miễn họ là người Việt Nam. Nhưng rõ ràng là số dân chúng thực sự muốn có thay đổi không phải là trong giai cấp tư sản ở Hà Nội.
Tôi nhớ lại điều ông Hồ đã nói với tôi hồi tháng 4 tại một gian buồng nhỏ ở biên giới Trung Quốc: Việt Nam là một nước nông nghiệp, 90% dân chúng sống nhờ vào ruộng đất, họ đã bị một chế độ phong kiến và quan lại đàn áp bóc lột dã man như đối với những người nô lệ; do đó, giống như các nước phương Đông, sự thay đổi kinh tế - xã hội ở Việt Nam phải do nông dân khởi xướng và được sự ủng hộ của công nhân. Nhưng muốn thắng lợi, phải có sự ủng hộ hoàn toàn của nông dân.
Trên đường về biệt thự Gauthier, ngẫm nghĩ về điều ông Hồ nói, cuối cùng tôi đã hiểu sâu sắc rằng: quần chúng tiến hành cuộc cách mạng là từ ở miền thôn quê, các làng xóm và rừng núi - họ là nông dân.
Một vị khách đã đợi tôi tại biệt thự. Đó là ông Bửu(4), một người Việt Nam dáng ưu tú, có thể khoảng gần 30. Tôi nhớ hình như đã trông thấy ông ở đâu nhưng không chắc chắn. Tôi và Bernique bắt tay và ông tự giới thiệu là do “Bộ Nội vụ cử tới”, nhưng phát âm tiếng Anh hoàn hảo và giọng Oxford không che lẫn được của ông làm tôi sửng sốt, ngạc nhiên. Ông đưa cho tôi một thư viết tay trên hai mặt tấm danh thiếp của Giáp: Bộ trưởng Bộ nội vụ gửi lời chào v.v… Ông Bửu là đại diện cho cá nhân Bộ trưởng(5) và mong rằng phái đoàn sẽ làm dễ dàng cho công việc của ông.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 10:01:45 AM
Bửu nói mục đích cuộc đến thăm là để báo cho tôi biết một “tình hình nguy hiểm” đang làm cho Hồ Chủ tịch rất không yên tâm. Đó là việc phải đối phó với các hoạt động bí mật của Pháp được điều khiển từ Calcutta. Tôi đã tóm tắt câu chuyện của ông trong bản báo cáo gửi Côn Minh.
“Đã nhận được nhiều báo cáo của Việt Minh tại chỗ nói rằng nhiều nhân viên của Pháp đã được thả dù xuống nhiều nơi và đã bị Việt Minh bắt giữ coi như tù binh chiến tranh. Người mới nhất, đại uý Dupré Louis, có mang theo mệnh lệnh do De Raymond ký thay cho tướng De Gaulle, nói rằng người cầm mệnh lệnh được Chính phủ Cộng hoà Lâm thời Pháp uỷ nhiệm hoạt động ở Đông Dương, chỉ thị cho các nhà chức trách dân sự và quân sự hết sức giúp đỡ… và yêu cầu tất cả người thuộc Nhóm Kháng chiến nội địa của Pháp mà chưa bắt được liên lạc với một phái đoàn nào khác, thì phải tự đặt mình dưới quyền điều khiển của ông ta và phải tuyệt đối tuân theo chỉ thị của ông… Nhiệm vụ là chiếm lấy tất cả các dinh thự và công sở dân sự cũng như quân sự, cả của tư nhân nếu cần. Ông sẽ thay mặt Chính phủ Cộng hoà Lâm thời Pháp để giải quyết mọi vấn đề dân sự, hành chính và quân sự trong vòng được uỷ nhiệm. Tất nhiên, ông ta sẽ từ bỏ chức trách của mình ngay sau khi có các đại diện chính thức có thẩm quyền của Pháp tới”.
Bửu hỏi xem tôi có được báo cho biết về các hoạt động này của Pháp không và cần giải thích cho ông rõ về ý đồ của người Pháp. Tất nhiên là tôi có biết ý đồ của người Pháp mặc dù không được báo riêng cho biết về kế hoạch cụ thể của họ và tôi đã bảo thẳng Bửu là đã có nhiều quan chức cai trị dân sự được phái tới Việt Nam trong thời gian phái đoàn chúng tôi tới Hà Nội. Tôi giải thích thêm, dựa vào kinh nghiệm trước đây ở châu Âu, người Pháp đã cho xúc tiến một thời kỳ quân dân quản trong các vùng mới được giải phóng và các toán được thả dù xuống Việt Nam hình như đúng là những nhân viên cai trị để nhằm thực hiện công việc đó. Tôi nói thêm là đã hỏi Giáp chung quanh vấn đề Messmer nhưng Bửu trả lời không biết gì. (Giáp cũng đã không trả lời gì khác).
Qua việc cử Bửu tới, Giáp cũng ngầm cho biết Việt Minh đã ở khắp mọi nơi, nắm được chính xác tất cả những gì xảy ra ở Việt Nam, và Chính phủ Lâm thời sẽ không ngồi yên một cách vô tích sự trong khi người Pháp âm mưu quay trở lại bằng vũ lực. Tôi cảm ơn Bửu đã thông báo tin tức nhưng cũng không để lộ ra tôi sẽ có làm gì hay không. Bửu cũng chẳng hỏi tôi xem có hành động gì không, nhưng cho rằng (rất đúng) tôi sẽ báo cho Trùng Khánh. Thực là không may, câu chuyện của Bửu đã chẳng mang lại được điều gì để làm yên lòng cho Sainteny. Tôi cũng chẳng rõ được các toán người Pháp ở đâu và hoàn cảnh của họ bị bắt giữ như thế nào.
Ông Hồ mời Gréleki và tôi đến dự bữa cơm chiều trước ngày Độc lập. Đúng 4 giờ 30, lần đầu tiên chúng tôi vào cổng cuốn Bắc Bộ phủ, trước đây là dinh của Thống sứ Pháp. Người gác chào một cách lịch sự và một sĩ quan trẻ tuổi dẫn chúng tôi đến một phòng trên tầng hai. Một phòng rộng, thanh nhã nhưng bày biện đơn sơ, chỉ có một đi văng, một số ghế thông thường và một bàn trà. Rõ ràng trái ngược với nhũng phòng choáng lộn của Sainteny ở dinh Toàn quyền.
Chủ tịch Hồ, có Giám và Giáp bên cạnh, ra đón chúng tôi một cách sốt sắng như là đã lâu lắm không gặp nhau. Vì rằng chúng tôi chính đã họp với nhau chỉ 2 ngày trước đây trong một ngôi nhà cũ ở phố Hàng Ngang, nhưng đây mới thật là lần đầu tiên gặp nhau trong khung cảnh chính thức. Ông Hồ giới thiệu với tôi những người có mặt khác(6) rồi cũng đi sang phòng bên cạnh, ở đó đã có bày sẵn bàn ăn. Tôi ngồi bên phải ông Hồ, còn Grélecki ở bên trái. Giám ở bên phải tôi và Giáp bên trái Grélecki, đối diện vối tôi. Các món ăn, như thường lệ, cũng giản đơn, ngon và theo kiểu Việt Nam.
Người ta thấy ngay, đây cũng là một dịp mang nhiều ngụ ý chính trị. Ông Hồ mở đầu câu chuyện và nói rằng cuộc đi thăm phố phường của tôi buổi sáng đã gây ra một sự “xôn xao nho nhỏ”. Dân chúng đã vui sướng khi thấy tôi quan tâm đến công việc chuẩn bị của họ cho buổi lễ ngày mai và ông cũng muốn được nghe tôi nói về đdiều đó. Tôi có thoả mãn về những điều đã được nghe và thấy không? Ông tỏ ra tò mò và quan tâm một cách nghiêm chỉnh. Không phải ông không biết những điều đã được phát biểu ra đâu, vì trong số những người tò mò ở dọc đường nhất định có nhân viên cảnh sát và chắc rằng họ đã báo cáo lại mọi câu chuyện đã nói. Nhưng chính là ông muốn thấy phản ứng cá nhân của tôi vì ông biết rằnng những phản ứng đó sẽ được phản ảnh trong báo cáo của tôi gửi về Trung Quốc. Để tránh khỏi dính líu vào các vấn đề chính trị và tư tưởng, tôi phát biểu đã có ấn tượng mạnh mẽ đối với công tác chuẩn bị cho ngày lễ và sự cởi mở của dân chúng mà tôi đã bắt chuyện. Tôi ca tụng tài tổ chúc của nhũng người điều khiển các hoạt động ngày hôm sau và sự hân hoan của quần chúng trong việc thực hiện các nhiệm vụ của họ.
Các vị khách tỏ ra hài lòng và Giám đã phấn khởi nói xen vào là mặc dù quỹ để tổ chức buổi lễ do Thành phố đài thọ, nhưng hiện nay thì chính bản thân nhân dân đã bỏ tiền ra thanh toán các chi phí để sửa sang, làm sạch và trang trí cho thành phố. Ông nói thêm là không phải sử dụng đến các quỹ của Chính phủ và thực ra thì Chính phủ cũng chẳng có. Ngân hàng Đông Dương và các ngân hàng phụ thuộc vẫn còn nằm trong tay người Nhật và Chính phủ Lâm thời cũng chẳng có cách nào để có được tiền.
Tôi hỏi xem có chuẩn bị diễu binh không. Với một giọng chán ngán, Giáp trả lời cũng muốn có một số đơn vị đi diễu hành, nhưng bộ đội “vừa mới ở rừng về” không có đủ thời gian luyện tập, nên đành phải bằng lòng với những đơn vị “sắp hàng đứng tại chỗ” vậy. Ông Hồ ngắt lời và nói điều đó không hề gì, bộ đội sẽ đến đó để cho dân chúng xem, và “quân đội nhân dân” cũng có thể xem Chính phủ của họ mới được thành lập.
Chúng tôi trở lại gian phòng lớn để dùng trà. Trừ ông Hồ, Giáp, và Giám, còn những người Việt khác đều rút lui, có thể phải đi chuẩn bị cho ngày mai. Năm người chúng tôi quay quần lại chung quanh bàn trà trong khi ông Hồ rót cà phê nóng của Pháp vào trong những tách nhỏ Trung Quốc xinh xắn. Với một giọng thân mật, ông phát biểu mời chúng tôi dự bữa cơm trước ngày lễ Độc lập của Việt Nam, để tỏ lòng biết ơn của cá nhân ông và các đồng sự của ông trong Chính phủ đối với Mỹ về sự ủng hộ vật chất và tinh thần mà phong trào của ông đã nhận được trong những năm gần đây. Ông đặc biệt cảm ơn OSS(7), về sự cộng tác từ năm 1943 và mong rằng tinh thần “hợp tác hữu ái” đó sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tới. Nhớ lại sự cộng tác trước đây của ông với người Mỹ ở Trung Quốc và sau này tại vùng núi rừng Bắc Ký, ông đã nhắc tới tướng Chennault, đại tá Helliwell, tới Glass với những lời lẽ đầy nhiệt tình, và tới cả các “bạn chiến đấu” của ông, các thiếu tá Thomas và Holland cùng với những người khác trong các toán của họ.
Trong một lúc dừng chuyện trò, Giám nhận xét rằng qua Hội nghị San Francisco( 8 ) của Liên Hợp Quốc, người ta có thể rút ra kết luận là Mỹ đã không hiểu thấu một cách đầy đủ về cảnh ngộ của người Việt Nam. Ông tự hỏi không hiểu tại sao vấn đề “thực sự” của Đông Dương lại không được nêu lên, ngoại trừ trong những lời lẽ nói về vai trò của Pháp như là một cường quốc thực dân. Chẳng phải rõ ràng là người Việt Nam cũng rất thiết tha với cái mà người Mỹ đã đấu tranh cho công cuộc cách mạng của họ, “giải phóng khỏi ách áp bức của ngoại quốc và giành độc lập dân tộc đó sao?”, người Mỹ “từ năm 1776 đã mở đường cho thế giói bước vào một kỷ nguyên độc lập dân tộc”, hơn ai hết, cần phải đánh giá được cái điều mà người Việt Nam đang ra sức làm cho bản thân mình. Và, chắc là để nhắc nhở tôi, ông nói thêm rằng, “ngay cả nước Ý” năm 1848 cũng đã học tập một trang lịch sử của Mỹ.
Trong khi ông Hồ gật đầu tỏ vẻ bằng lòng, còn Giáp vẫn ngồi phớt lạnh thì Giám làm một tràng phê phán các tội lỗi xấu xa của người Pháp. Người Pháp đã cho họ là những “người cách mạng” và “dân An Nam vô ơn bạc nghĩa”. Đúng, họ là những “người cách mạng”! Họ đã nổi dậy chống thực dân Pháp, các chúa tể ngoại quốc bóc lột họ. Còn “vô ơn”, thì họ đã chịu những ân huệ gì? Phải chăng là quyền ưu đãi được làm lao động khổ sai, làm những con đường đẹp đẽ dẫn đến các dinh thự nguy nga, những đồn điền trù phú của người Pháp…
Giáp không thể kìm chế được nữa và nói xen vào là Pháp đã xây dựng nhiều nhà tù hơn trường học, nhiều trại lính hơn nhà ở cho dân… Tất nhiên Pháp cũng lập ra một số trường tốt cho một số ít người Việt Nam được ưu đãi, nhưng chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích thực dân của họ. Nếu có người muốn ra nước ngoài du học, họ cũng không được tự do, ngay cả sang Pháp.
Điều nhận xét trên gợi cho tôi cảm thấy hình như ông quá gay gắt và tôi có phần dè dặt trong việc nhận định chính ông cũng đã được sự giáo dục của Pháp, giống như Giám, Phạm Văn Đồng, Tạ Quang Bửu và nhiều người khác nữa; họ đều là sản phẩm của hệ thống giáo dục Pháp. Làm sao có thể dung hoà được điều đó với những lời kết tội của ông đối với Pháp trong lĩnh vực giáo dục? Giáp thừa nhận có ngoại lệ và nói rằng một vài người trong số cộng sự của ông xuất thân từ những tầng lớp giàu sang, nhưng phần lớn thì không phải thế. Số đông này thường phải chịu đựng những điều sỉ nhục tàn tệ và sự phân biệt đối xử trong học tập…


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 10:02:00 AM
Ông Hồ nói chắc chắn là tôi đã rất thông thạo về chế độ thuộc địa của Pháp nên cũng không cần bàn luận về dĩ vãng làm gì, và tốt hơn hết là nên nhìn vào tương lai. Ông nói ý nghĩ của mình về những tháng sắp tới sẽ có tính chất quyết định cho Việt Nam, vì vậy người Việt Nam có nhiệm vụ phải biểu thị cho các nước Đồng minh biết lòng tin tưởng sắt đá và quyết tâm không gì lay chuyển nổi để tự giải thoát mình khỏi “mọi sự cai trị của bên ngoài dù cho đó là người Pháp, Nhật, Trung Quốc hay bất kỳ ai”, và nhân dân Việt Nam đã đạt tới một “trình độ trung thành về chính trị” cho phép họ có quyền được quản lý lấy mình. Ông Hồ luôn luôn nhắc tới “14 điểm” của Wilson và Hiến chương Đại Tây Dương, và ông trích dẫn lời hứa hẹn riêng cho Việt Nam của Mỹ.
Tiếp đó, ông nêu lên những lời đặt điều xung quanh vấn đề xu hướng chính trị của ông, và tôi chăm chú nghe. Ông nói có được biết nhiều về những lời buộc tội của Pháp, Anh, Trung Quốc cho ông là một “tay sai Xô viết” và Việt Minh là sự bành trướng của “bộ máy Moskva ở Đông Nam Á”. Nhưng Mỹ, dưới “sự lãnh đạo sáng suốt của Tổng thống Roosevelt vĩ đại”, đã công nhận quyền của tất cả các đảng phái được cùng tồn tại sẽ không bận tâm gì về cái nhãn hiệu Cộng sản được người ra gắn cho phong trào của ông. Ông Hồ giữ vững quan điểm là trong lúc đặc biệt này, Việt Minh là một “phong trào dân tộc, bao gồm một cách dân chủ tất cả các đảng phái cách mạng Việt Nam”. Tất nhiên, ông công nhận, Đảng Cộng sản Đông Dương là một nhân tố lãnh đạo trong phong trào giành độc lập dân tộc, nhưng các đảng viên của họ “trước hết phải là người dân tộc chủ nghĩa, sau đó mới là đảng viên của đảng”.
Giáp, thường khó mà im lặng được lâu, đã phát biểu một điều khá bất ngờ “Việt Minh đã làm theo kỹ thuật và chiến thuật tổ chúc của Cộng sản để lập ra các đảng chính trị khác nhau nhằm đấu tranh cho một nền độc lập trong một trật tự xã hội giống như chủ nghĩa Cộng sản, nhưng không phải vì thế mà nó có ý định thay thế một cường quốc bên ngoài khác vào chỗ của người Pháp của Việt Nam”. Tôi đã có ý muốn hỏi ngay xem ông có ý gồm Liên Xô vào lúc đó không, nhưng cảm thấy khiếm nhã và vô vị, nên thôi. Giáp không phải chỉ là một người Cộng sản mà còn là một người Việt Nam trung thực và thẳng thắn.
Ông Hồ tiếp tục nói, riêng ông muốn Mỹ biết các yêu cầu của ông cho nhân dân Việt Nam rất “nhỏ nhặt và giản đơn”. Họ muốn có một nền “độc lập hạn chế”, không có sự cai trị của Pháp, có quyền sống tự do trong gia đình các nước. Ở đây có một sự thay đổi trong đường lối cứng rắn của đảng. Việc ông Hồ nói tới một nền độc lập “hạn chế” chứ không phải hoàn toàn, gợi cho thấy trong suy nghĩ của ông có điều nghi ngờ không biết có thể đạt được mục tiêu cuối cùng ngay trong vòng đầu này không. Có thể ông cũng đang muốn thoả hiệp với người Pháp, hay cũng có khả năng với người Trung Quốc. Tôi phân vân và chỉ biết nghe.
Ông Hồ nói tiếp, dân chúng Việt Nam khao khát được đi tham quan các nước ngoài, “đặc biệt là sang Mỹ, như tôi đã làm từ lâu”. Họ mong đợi đến ngày mà nước Pháp không còn chỉ là nơi duy nhất để học tập, ngày mà học vấn không chỉ hạn chế trong một số người được ưu đãi, ngày mà các sinh viên cũng có thể tới học tập tại nước Mỹ.
Ông Hồ muốn được các chuyên gia kỹ thuật Mỹ giúp thiết lập một số công nghiệp mà Việt Nam có khả năng đảm đương được. Thấy Giám muốn nói, ông Hồ dừng lại. Theo quan điểm của Giám thì Việt Nam cần và muốn trước hết là quyền tự do buôn bán, các cảng tự do, và vốn của nước ngoài - ngay cả vốn của Pháp, mặc dù ông không tin rằng Pháp có khả năng cung cấp được. Theo ý kiến ông, điều mong muốn trước hết là vốn của Mỹ và việc buôn bán với Mỹ, và khi Việt Nam đã có diều kiện, sẽ mở mang các sân bay và bến tàu để có thể tiếp nhận hàng hoá của Mỹ một cách điều hoà(9). Giám tiếp tục nói dài về vấn đề này, về tương lai của Việt Nam.
Ông Hồ nêu ngay lên một vấn đề hết sức cấp bách, tình hình nguy ngập về lương thực. Ông nói về nạn đói khủng khiếp năm 1944. Tình hình lương thực năm nay cũng không khá hơn vì mưa lớn và lụt lội. Thực tế thì số thóc dự trữ để làm giống cho vụ sau cũng đã mang ra ăn hết. Tình hình lương thực “vào đúng lúc này đã cực kỳ nguy hiểm”. Nếu như quân chiếm đóng Trung Quốc định tiếp tế bằng thị trường địa phương tại chỗ, thì “mọi người sẽ chết đói”. Những báo cáo mới nhất từ phía bắc gửi về cho ông Hồ đã chỉ ra rằng quân đội Vân Nam “vô kỷ luật và không ai kiểm soát được”. Và ông Hồ e rằng họ tiến về Hà Nội và Huế thì tình hình lương thực ở đó đã khó khăn sẽ trở thành không sao chịu nổi. Do đó ông nói tôi cần phải kêu gọi sự chú ý của Chính phủ Mỹ cho tiến hành kiểm tra đối với quân chiếm đóng Trung Quốc và yêu cầu người Trung Quốc mua bán chứ đừng trưng thu các vật phẩm và lương thực trong thời gian họ chiếm đóng “để tránh gây ra” tình hình người Việt Nam bắt buộc phải tiến hành chiến tranh đối với người Trung Quốc để bảo vệ cuộc sống và gia đình họ. Tôi đồng ý chuyển lời yêu cầu của ông.
Đến 7 giờ 30, chúng tôi cho là đã đến lúc phải cáo lui vì ngày hôm sau là một ngày nặng nhọc. Ở cầu thang, Giáp nói riêng với tôi về những mưu toan xâm nhập của Pháp bằng cách thả dù một số “viên chức cao cấp”. Tôi hỏi có phải những người mà Bửu đã nói với tôi hôm trước không. “Phải”, ông trả lời và nói thêm là cũng có những người khác nữa. Ông nhắc tới “thiếu tá Messmer từ Calcutta tới” cùng với 2 nhân viên khác thuộc toán của ông. Đến thứ hai, Bửu sẽ mang tới cho tôi một bản báo cáo đầy đủ. Giáp lắc đầu và bình: “Không biết đến bao giờ họ mới hiểu được rằng họ không được hoan nghênh ở Việt Nam, trong tình huống hiện nay?”.
Chú thích
(1) Ban tình báo
(2) S.L. Norlinger, đại tá, thuộc G-5, Bộ tham mưu chiến trường, cầm đầu đơn vị cứu tế xã hội đối với tù bình Đồng minh ở Hà Nội.
(3) Hướng đạo sinh
(4) tức Tạ Quang Bửu, một nhà chính trị độc lập
(5) tức Võ Nguyên Giáp
(6) Tôi không nhớ được tên 3 trong 4 người đã đến.
(7) tức muốn nói về những cố gắng của OSS Trùng Khánh trong những năm 1943-1944 để xin thả ông ra khỏi nhà tù của Trương Phát Khuê
( 8 ) tức Hội nghị Liên Hợp Quốc từ 25-4 đến 26-6-1945.
(9) Câu chuyện được các nhà viết sử (Devillers, B. Fall…) nhắc lại nhiều lần là cả ông Hồ và tôi đã thảo luận về các nhân nhượng kinh tế sau chiến tranh hoặc sự điều đình để đồi lấy việc Mỹ bào đảm nền độc lập của Việt Nam và những câu chuyện đồn đại ra ngoài phạm vi của vấn đề, đều là bịa đặt do các nhà văn Pháp đặt ra, giống như bài của Dessinger đăng trong Le Monde ngày 14-4-1947.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 12:34:17 PM
Chương 26
Ngày lễ Độc lập
TÔI NÓI ĐỒNG BÀO NGHE RÕ KHÔNG?
Ngày chủ nhật đầu tiên trong tháng 9 là ngày lễ các Thánh tử vì đạo của riêng hơn một triệu dân Thiên chúa giáo ở Bắc Việt Nam(1). Có thể cũng chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà ông Hồ đã chọn ngày đó làm Ngày lễ Độc lập. Tại các nhà thờ Thiên chúa giáo, cũng như các chùa Phật giáo, buổi lễ vẫn tiến hành long trọng, các bài thuyết pháp có thêm những ý chính trị ủng hộ chính phủ mới thành lập và nền độc lập của Việt Nam.
Từ sớm tinh mơ, dân chúng Hà Nội như các bầy ong, từng đoàn lúc lớn lúc nhỏ, lũ lượt dần dần kéo đến cạnh quảng trường Ba Đình.
Ở nhiều chỗ là cả một khối dân chúng các làng ngoại ô. Đi theo trong biển người đó, có cả toán dân miền núi với y phục địa phương của họ và nông dân trong những bộ khăn áo cổ truyền.
Giữa các khối khác nhau, người ta dễ dàng nhận ra các tổ chức của công nhân, sơ mi trắng, quần dài hoặc quần soóc trắng hoặc xanh. Phụ nữ mặc áo dài trắng hay màu sáng, tay khoác nón.
Cho đến tận trưa, cả toán OSS chúng tôi lăn lộn ở ngoài phố, chụp ảnh, ghi chép về các nhóm người, các sự kiện, các khẩu hiệu, biểu ngữ, áp phích… Có nhiều khẩu hiệu bằng tiếng Pháp, Anh, một số bằng tiếng Việt Nam: “Việt Nam của người Việt Nam”, “Hoan nghênh Đồng minh”, “Hoan nghênh phái đoàn Mỹ”, “Thà chết, không nô lệ”…
Khoảng trưa, Knapp, Bernique, Grelecki và tôi đi về phía quảng trường Ba Đình. Tôi đã quyết định từ chối lời mời của ông Hồ đến khu vực lễ đài dành cho quan khách, để đi xem buổi lễ chỉ như một người quan sát trong quần chúng. Chúng tôi chọn được một điểm thuận lợi ngay trước lễ đài giữa đám viên chức địa phương.
Trong khi chờ đợi ông Hồ và các quan chức tuỳ tùng tới, tôi nhìn thấy một toán cố đạo Thiên chúa giáo mặc áo thầy tu trắng và xanh den, có cả các chức sắc mang khăn quàng và giải viền đỏ.
… Cách họ không xa, là các nhà sư Phật giáo khoác áo cà sa màu da cam, rồi đến các chức sắc Cao Đài, áo dài trắng có tua và khăn quàng sặc sỡ.
Đội danh dự và công tác bảo vệ được giao cho bộ đội của Giáp và Chu Văn Tấn, lực lượng được huấn luyện, trang bị, có kỷ luật nhất của họ. Mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao, họ trưng bày các vũ khí mới một cách hãnh diện, lúc trong tư thế “đứng nghiêm”, lúc “nghỉ” Ở đó còn có các đơn vị “tự vệ”, dân quân mặc áo lẫn lộn quần áo nhà binh Pháp hoặc Nhật hoặc quần áo ngắn xanh hay đen, mang theo một loạt các vũ khí cũng lộn xộn, từ súng kíp, gươm, dao rùa, mã tấu có cán gỗ dài và cả gậy tày… Có thứ hình như họ mới lấy từ các đình, chùa ở làng ra. Tất cả dựng lên một cảnh tượng sinh động và kinh hoàng(2).
Mặt trời đã lên cao. Không khí oi bức. Nhưng đôi lúc cũng có cơn gió nhẹ thổi làm phất phới cả cái biển cờ trên quảng trường. Cao trên cột trước lễ đài, lá cờ đỏ với ngôi sao vàng lớn phấp phới bay.
Bất chợt có tiếng còi và các hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng và chăm chú theo dõi có người đã bắt đầu xuất hiện trên lễ đài. Mấy phút sau, nổi lên tiếng hô “bồng súng, chào”, quần chúng bỗng im lặng trong khi các vị chức quyền tìm chỗ đứng vào đằng sau cái bao lơn được trang trí bằng màu trắng và đỏ. Trên lễ đài, mọi người đều bận đồ trắng, thắt cà vạt và để đầu trần, trừ một người nhỏ nhắn, mặc áo kaki màu sẫm và có cái gì như là cái khăn trùm đầu - đó là Hồ Chí Minh.
Lê Xuân, nguyên là người liên lạc của chúng tôi, đã đến và sẵn sàng bình luận, nhận xét. Anh ta cũng đã đi một vòng và cho rằng quần chúng hết sức tò mò và quan tâm đến vị lãnh đạo “mới” của Chính phủ. Mọi người đều muốn biết “ông Hồ Chí Minh bí ẩn” này là ai? Ông ở đâu về?
Nhưng không phải chỉ có người Việt Nam mới không quen thuộc với cái tên đó đâu. Ngay cả đến cơ quan Bộ Ngoại giao chúng ta ở Côn Minh và Trùng Khánh cũng không biết gì về vấn đề này, mặc dù là đã có nhiều báo cáo cụ thể của tôi. Một tháng sau, khi đọc một công văn của Sprouse, lãnh sự ở Côn Minh, tôi ngạc nhiên thấy còn nói đến “Ho Chi Minh”. Lúc đó ai cũng nghĩ rằng đã biết tên thật của ông Hồ.
Một tiếng trong loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, giới thiệu “ông Hồ là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng được hướng dẫn của các đảng viên, lên tiếng hát và trong mấy phút liền hô vang “Độc lập”. Ông Hồ ngồi yên mỉm cười, nhỏ nhắn trong tầm cỡ, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc bản Tuyên ngôn, nay thành nổi tiếng của ông với những lời:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Ông Hồ dừng lại đột ngột và hỏi người nghe: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Quần chúng hô vang đáp lại: “Rõ!”. Thực là một nghệ thuật diễn thuyết bậc thầy. Từ lúc đó, quần chúng lắng nghe, nắm lấy từng lời. Chúng tôi không hiểu ông Hồ đã nói gì. Lê Xuân phải cố gắng lắm để dịch nhưng cũng rất khó khăn. Nhưng cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới quần chúng.
Ông Hồ tiếp tục:
“Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Sau đó, quay về bản Tuyên ngôn của Cách mạng Pháp năm 1791, nói về quyền con người và quyền công dân, ông Hồ nói:
“Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”(3).
Đến khoảng 2 giờ, ông Hồ kết thúc bản Tuyên ngôn. Tiếp sau đó là Võ Nguyên Giáp nói về vai trò của Việt Minh, nhấn mạnh vào công tác của Đảng trong lĩnh vực chính trị - quân sự, phát triển kinh tế xã hội, chương trình giáo dục và văn hoá. Trong các vấn đề quan hệ đối ngoại, Giáp đã vạch ra rằng Mỹ và Trung Quốc là những đồng minh đặc biệt và liên tục ủng hộ đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Điều thú vị là không thấy nói gì đến Liên Xô. Tôi không bao giờ bỏ không ghi những lời Giáp nói, nhưng sáng ngày hôm sau, báo chí Hà Nội lạl đăng tin Giáp đã phát biểu “Mỹ đã góp phần lớn nhất cho sự nghiệp giải phóng của Việt Nam và đã cùng với nhân dân Việt Nam đấu tranh chống phát xít Nhật, vì thế Cộng hoà Mỹ vĩ đại là một đồng minh tốt của chúng ta”.
Sau bài diễn văn, các Bộ trưởng mới được chỉ định, từng người một được giới thiệu ra mắt nhân dân. Buổi lễ kết thúc bằng việc các Bộ trưởng tuyên bố nguyện trung thành và triệt để ủng hộ Chính phủ Dân chủ Lâm thời Việt Nam.
Mãi đến tận khuya hôm đó, báo chí địa phương mới cung cấp cho chúng tôi một bản nguyên văn lời tuyên bố của ông Hồ; chúng tôi dịch và chuyển ngay bằng điện đài cho Côn Minh. Tôi cũng gửi kèm theo bằng đường hàng không bài tường thuật và nhận định của tôi…
Sau khi các phần thủ tục kết thúc, chúng tôi cũng phải mất đến 30 phút mới tìm đường ra khỏi được nơi tập trung. Nhờ đi tắt qua khu vực Thành được dành riêng, tránh được những phố đầy người, nên chúng tôi trở về nhà Gauthier đúng vào giờ cơm chiều. Tôi đã mời tất cả các người Mỹ ở Hà Nội đến cơ quan của OSS để tham dự ngày lễ “14-7” lặng lẽ và không pháo hoa của người Việt Nam. Để đề phòng những chuyện xung đột có thể xảy ra giữa những người Việt Nam vui mừng hớn hở và người Pháp tuyệt vọng, và để giữ cho người Mỹ tránh khỏi các cuộc hỗn loạn, tôi đã yêu cầu đại tá Nordlinger và đại uý Mekay, thủ trưởng toán AGAS cùng với cả nhóm đến ăn cơm cùng với chúng tôi…


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 12:35:24 PM
MỘT NGÀY CHỦ NHẬT ĐEN TỐI Ở SÀI GÒN
Mọi việc trôi chảy cho đến 9 giờ tối thì tôi nhận được một bức thư của Imai báo ở Sài Gòn xảy ra rối loạn nghiêm trọng. Ngày Độc lập ở Hà Nội đã biểu thị cho lòng tự hào dân tộc, danh dự của địa phương, và một sự biết kiềm chế đáng khen, nhưng tại Sài Gòn thì bạo lực và chết chóc đã kéo dài thêm danh sách những người “Việt Nam hy sinh”. Theo báo cáo của Imai thì những người lãnh đạo Việt Minh ở Sài Gòn, hoặc các chỉ thị của Hà Nội hoặc muốn biểu thị một sự đoàn kết với Hà Nội, đã tổ chức một cuộc biểu tình khổng lồ nhân Ngày Độc lập. Những người tổ chức đã mất nhiều công sức để duy trì trật tự và tránh các cuộc xô xát với người Pháp. Người ta đã nói với dân chúng rằng các người đại diện Anh và Mỹ sẽ đến Sài Gòn vào ngày hôm ấy(4) và đó cũng là một dịp rất tốt cho người Việt Nam để biểu thị một cách hoà bình, trong trật tự sự thống nhất dân tộc trước các nước Đồng minh. Nhưng các lãnh tụ Việt Minh đã kinh ngạc khi thấy trong đám quần chúng khoảng 20 vạn người đi diễu hành dọc phố Catinat, các đảng phái chính trị hợp thành liên minh miền Nam, đã trương lên những biểu ngữ, bích trương đầy tính chất tranh giành chia rẽ đảng phái.
Khi những người biểu tình tiến đến trước cửa Nhà thờ Lớn thì nghe có tiếng súng nổ từ phía nhà Câu lạc bộ Pháp ở phố Norodom. Cha Tricoire, một giáo sĩ Thiên chúa giáo trong nhà thờ của trại giam và rất được người Việt mến đã bị bắn gục trong khi đang đứng trên bậc cửa nhà thờ. Nghe nói ông bị thương nặng và nằm gục ở đó nhiều giờ.
Tin đồn người Pháp tấn công lan ra hết sức nhanh chóng và tiếp đó là sự hoảng sợ. Không điều tra xem nguồn phát súng ở đâu, cảnh sát Việt Nam đã có bắt ngay hàng trăm người Âu và những người thân Pháp. Bọn lưu manh địa phương nắm ngay lấy cơ hội lộn xộn, xông vào một số nhà và cửa hàng người Pháp và Hoa, cướp đi mọi thứ mà chúng có thể mang được. Cuộc biểu tình có trật tự đã biến thành một sự điên loạn của quần chúng, nghi ngờ lẫn nhau, đưa đến cho đất nước mới sinh một tương lai chính trị không chắc chắn.
Những tin tức mà Hà Nội nhận được qua đài phát thanh Delhi đã khơi cho tình hình bùng cháy to lên. Tin nói về việc tướng Mac Arthur (trong buổi tiếp nhận Nhật đầu hàng trên chiến hạm Missouri sáng hôm đó) đã khuyến khích đại diện Pháp, tướng Leclerc, sử dụng ảnh hưởng của mình đối với Chính phủ Paris để gửi quân đội sang chiến trường Thái Bình Dương. Ở Hà Nội người ta được tin rằng, sau khi ký hiệp ước, Mac Arthur đã kéo Leclerc ra một chỗ và nói “Nếu tôi cần phải khuyên ông thì tôi sẽ nói với ông đưa quân tới, nhiều quân hơn nữa, theo khả năng cao nhất của ông”. Lời của Leclerc trên đài Delhi cộng thêm với sự rối loạn ở Sài Gòn đã nâng niềm hy vọng của người Pháp ở Hà Nội lên điểm cao mới. Quá tin vào một cuộc quay trở lại của quân đội Pháp đang giơ cao ngọn cờ tam tài có Đồng minh hỗ trợ, họ cho là tin tức đã báo hiệu một sự sụp đổ nhanh chóng của Việt Minh.
Một giờ sau, Imai tới để báo cho tôi thêm những tin nhận được từ Bộ chì huy tối cao Nhật và cho biết câu chuyện của Leclerc đã khuấy động xôn xao và gây gổ nhỏ ở trong Thành. Nhưng Bộ tư lệnh Nhật vẫn nắm chắc được tình hình. Trong mấy tuần trước, tướng Mordant, “lãnh tụ” của những người “kháng chiến” theo De Gaulle(5) và cũng là một tù binh trong Thành, đã định làm một cuộc nổi dậy, hy vọng để mở màn cho việc quân đội dưới quyền của Leclerc quay trở lại. Chúng tôi đã có tin nhóm Mordant cất những kho lớn vũ khí và đạn dược tại các nhà và cửa hàng của người Pháp, chuẩn bị sẵn sàng cho lúc nổi dậy.
Nhưng không phải chỉ có riêng tôi biết được kế hoạch của Mordant: Giáp cũng có những nguồn tin của ông. Như mọi lần, tin của ông bao giờ cũng chính xác hơn của tôi. Ông biết rõ người Pháp đã cất dấu vũ khí ở đâu và tên tuổi của các người lãnh đạo.
Cũng còn nguy cơ thực sự là một số Việt Minh nóng đầu nào đó có thể tự động “thủ tiêu” số tù binh Pháp ở trong Thành cùng với những lãnh tụ Pháp ở bên ngoài mà người ta đã biết. Tôi trao đổi những mối lo lắng của tôi với Giáp và Imai, tất nhiên là với riêng từng người. Cả hai đều đảm bảo với tôi rằng đã có những biện pháp đề phòng cẩn thận, ít nhất cũng cho tới khi các lực lượng Đồng minh tới.
Nhưng các sự kiện xảy ra ở Sài Gòn đã cho thấy tình hình dễ bùng cháy đến chừng nào. Rốt cuộc không có ai là thủ phạm của phát súng đầu tiên - Người Pháp bị kết tội không có chứng cớ, một số kẻ hiếu chiến trong phong trào liên minh Việt Nam cảm thấy bị lợi dụng, chính người Nhật hay những người thân Nhật, hay đơn giản chỉ là một người mất trí. Ai mà biết được? Tôi thực sự không muốn những chuyện tương tự xảy ra ở Hà Nội.
Các rối loạn ở Sài Gòn, sự náo động trong người Pháp tại Hà Nội, và lời công bố khiêu khích của Leclerc, cộng với báo cáo của Bửu và mối lo lắng của Giáp xung quanh vụ xâm nhập bí mật của một số quan chức “cao cấp” Pháp, đòi hỏi chính sách Mỹ đối với Pháp phải được làm sáng tỏ rõ ràng. Đêm đó tôi đã điện báo cho Helliwell biết sự quan tâm của tôi đối với tình hình náo động ở bên ngoài và tình hình an ninh của chúng tôi. Tôi nói nhiều về nguy cơ hai mặt ở trong Thành và yêu cầu cho phép được thực hiện các biện pháp đề phòng đặc biệt. Tôi khuyên phải ngăn ngừa việc thả sớm các tù binh Pháp đang chờ hồi hương vì sợ rằng, được thả ra, họ sẽ xúc tiến thực hiện các kế hoạch “kháng chiến” của Mordant và sẽ làm nổ ra cuộc xung đột trong thường dân. Đồng thời tôi muốn gia tăng bảo vệ cho các quân nhân cũng như các thường dân Pháp trong trường hợp người Việt trả thù lại đối với sự việc đã xảy ra ở Sài Gòn hay khi họ thấy bị đe doạ vì quân đội Pháp quay trở lại. Đó là những vấn đề sinh tử nhưng lại không thuộc phạm vi nhiệm vụ của tôi và phải được giải quyết ở cấp Chiến trường, vì vậy tôi đề nghị phải có một cuộc họp bàn ở Côn Minh vào ngày 5-9.
Quá nửa đêm, sự vật mới trở lại yên ắng trong ngôi nhà Gauthier. Nhưng đèn vẫn còn cháy sáng cho tới rạng đông trong mái nhà cũ ở phố Hàng Ngang, trong căn buồng của Pháp tại dinh Toàn quyền, và trong nhà một số lãnh tụ chính trị Pháp và Việt Nam. Đó quả là một đêm không dễ dàng ở Hà Nội.

Chú thích
(1) Người Thiên chúa giáo ở Bắc Việt Nam có khoảng chừng hơn 1 triệu. Dấu hiệu tính chất quần chúng của ông Hồ thể hiện trong lời kêu gọi của ông đối với các dân tộc thiểu số Việt Nam, trong đó có nhiều nhóm tôn giáo khác nhau. Người ta đồn rằng, năm 1945, ông Hồ vì kính trọng đối với Thiên chúa giáoViệt Nam nên đã cử một người Công giáo nổi tiếng là Nguyễn Mạnh Hà làm Bộ trưởng Kinh tế trong chính phủ đầu tiên của ông. Thiên chúa giáo Việt Nam đã ủng hộ chủ nghĩa Quốc gia của ông Hồ cho đến tháng 12-1946, khi bắt đầu nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp. Trước đó, vào tháng 3-1946, Giám mục Lê Hữu Từ, vùng Phát Diệm, đã được cử làm Cố vấn Tối cao thay cho Bảo Đại đã bỏ trốn sang Hongkong.
(2) Ước lượng khoảng 50 đến 60 vạn người, theo không ảnh của Mỹ chụp ngày hôm đó.
(3) Đây là một bản dịch lời của ông Hồ do một phiên dịch Việt Nam thông thạo tiếng Anh, có được nghe tại chỗ.
(4) Điều này có liên quan đến toán OSS - AGAS dưới quyền trung uý Mỹ, R. Counasse ngày 2-9 được đưa đến sân bay Sài Gòn để giải phóng các tù binh Đồng minh, trong đó có 214 người Mỹ.
(5) Trong bản tướng thuật này, vẫn giữ lại danh từ “kháng chiến” mà người Pháp đã dùng. Nhưng cũng cần nói rõ là từ khi đã có ngừng chiến với Nhật thì hoạt động của Pháp chỉ là nhằm mục đích đánh đổ Chính phủ Lâm thời Việt Nam



Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 12:38:47 PM
Chương 27
Hậu quả của ngày chủ nhật đen tối
NHỮNG SUY ĐOÁN
Sáng sớm ngày thứ Hai, Hà Nội nhận được các báo cáo thiệt hại đầu tiên qua đài phát thanh Sài Gòn. Từ các nguồn không được xác nhận, tung ra tin một cuộc “thảm sát lớn” đã xảy ra trong “ngày chủ nhật đen tối” ở khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn, có tới “một trăm người chết - hàng ngàn người bị thương”. Nhưng theo tài liệu chính thức ngày hôm sau thì: 3 người Pháp, cộng với Cha Tricoire, và 14 bốn người Việt chết, trong đó có một em gái nhỏ. Cuộc “thảm sát” là như thế đó.
Các câu chuyện xuyên tạc mới và những tin đồn dại lan nhanh ở Hà Nội. Và trong người Pháp người ta nghe thấy những lời bàn tán độc ác về một cuộc trả thù đối với người “An Nam”. Cũng có những sự ức đoán vô căn cứ rằng cảnh sát Việt Minh phối hợp với Hiến binh Nhật đang chuẩn bị một cuộc vây ráp để bắt những người Pháp kháng chiến đã lộ mặt.
Tôi hỏi lại tướng Tsuchihashi, ông cũng nhận được tin về những hoạt động của Pháp, nhưng theo chỗ ông biết thì không có một hành động bạo lực công khai nào xảy ra và ông cũng không nhận được yêu cầu giúp đỡ từ phía những người cảnh sát Việt Nam. Sài Gòn cũng báo cho ông biết số thiệt hại là 5 người chết, hàng tá người bị thương và một số vụ cướp bóc. Bản doanh thống chế Terauchi(1) cho biết cảnh sát Sài Gòn đã bắt giữ độ 200 người Pháp, đã lộ mặt là “những kẻ gây rối”.
Sau khi trao đổi về phương hướng hoạt động, tôi nêu lại lời căn dặn nhắc nhở trước đây là vấn đề duy trì trật tự công cộng vẫn thuộc trách nhiệm của ông ta và nói thêm, mặc dù tôi không có quyền ra lệnh cho các chỉ huy Nhật ở phía Nam vĩ tuyến 16, họ vẫn có trách nhiệm trong khu vực đó giống như ở đây, cho tới khi lực lượng của Anh tới. Tới đây, Tsuchihashi gợi ý là tốt hơn hết, cả hai chúng tôi nên thảo luận tình hình với Hồ Chí Minh. Trong khi đó, trong chừng mực có thể ông sẽ chuyển ý kiến của tôi cho Bộ chỉ huy Tập đoàn quân Nam và đảm bảo với tôi rằng quân đội của ông ở phía Bắc sẽ làm mọi cách để bảo vệ tính mạng và tài sản của người Âu và Việt Nam.
Từ Hành dinh của Tsuchihashi tôi đi thẳng tới Bắc Bộ phủ. Ông Hồ tiếp tôi ngay và chúng tôi nhận định về tình hình ở Sài Gòn và các ảnh hưởng có thể của nó tới toàn quốc. Ông Hồ cung cấp thêm một số chi tiết về Sài Gòn nhưng không có gì quan trọng, trong khi một số nhân viên tham mưu thân cận của ông tới. Trong số đó có Trần Huy Liệu, Bộ trưởng tuyên truyền và Giáp. Theo gợi ý của ông Hồ, Liệu nói lại cho tôi nghe ý kiến của ông về sự việc đã xảy ra.
Theo Liệu, từ hội nghị ngày 13 - 16 tháng 8 ở Tân Trào, tất cả các đại biểu đã thông suốt và thống nhất ý kiến là cuộc cách mạng sẽ “dân chủ”, cố gắng hết sức tránh không dùng bạo lực và lập ra một mặt trận thống nhất và có kỷ luật của tất cả các đảng phái chính trị đấu tranh cho độc lập để ra mắt với Đồng minh. Tình hình đó đã thực hiện được ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, nhưng “một số đồng bào miền Nam” đã không thấy hết sự quan trọng của việc phải duy trì “trật tự xã hội và kinh tế”, đặc biệt trong giai đoạn chuyển tiếp này.
Liệu có ý nói đến tính chất mờ ám của một số phần tử chính trị ở Nam Kỳ và Kampuchia, đặc biệt là các nhóm Quốc gia không Cộng sản. Ông đã đưa ra một thí dụ, đó là “bọn cướp” Bình Xuyên. Tôi không biết, nên hỏi cho rõ thêm. Nhóm này được mô tả do một tướng cướp nổi tiếng là Bảy Viễn chỉ huy, hoạt động từ làng Bình Xuyên trong vùng lầy phía nam Chợ Lớn, có khoảng từ 500 đến 1.000 tên cướp, thường đánh phá cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn và các nhà giàu Pháp ở ngoại ô Sài Gòn. Có tin Bảy Viễn đã đi theo với bọn Phục Quốc sau cú 9-3, nhưng chỉ nhằm để xoay tiền và tranh thủ được công nhận công khai hoạt động.
Tôi hỏi xem có phải cuộc rối loạn hôm trước là do Bảy Viễn gây ra không. Có người trả lời “hình như không phải”. Bọn Bình Xuyên đến sau, thủ phạm chính là người Pháp. Sau đó, người ta giải thích thêm là các phần tử khác cũng có nhiều lý do cụ thể để gây rối trật tự và đặc biệt là để làm mất uy tín của Việt Minh mà chính sách ôn hoà đã làm cho họ không đồng tình. Nhóm Troskism đang kiểm soát ngành cảnh sát là một trong số những phần tử đó, ngoài ra còn có nhóm chính trị tôn giáo Cao Đài và Hoà Hảo, cũng ác cảm đối với Việt Minh.
Thấy tôi lúng túng trong việc phân biệt Việt Minh và mục tiêu của những người Troskism. Liệu giảng giải là cả hai về căn bản đều thống nhất với khái niệm độc lập dân tộc, nhưng đối lập nhau hoàn toàn trong việc xác định các ưu tiên để hoàn thành giai đoạn “dân chủ - xã hội chủ nghĩa”.
Nhóm Troskism chủ trương vũ trang quần chúng, xoá bỏ mọi tàn dư của nền thống trị ngoại quốc, chống lại các cố gắng của Đồng minh nhằm phục hồi chủ quyền của Pháp và cho thi hành ngay các cải cách xã hội. Còn Việt Minh thì ít cực đoan hơn, vẫn ít nhiều chấp nhận cơ cấu chính quyền cũ, và sẵn sàng thương lượng với Đồng minh. Việt Minh ủng hộ một sự chuyển tiếp từng bước - từ chế độ dân chủ cộng hoà sang xã hội chủ nghĩa tiến bộ rồi chủ nghĩa cộng sản, vì thế tránh được va chạm của một sự thay đổi đột ngột về kinh tế xã hội và cuộc đấu tranh giai cấp gắn liền với nó.
Nhũng sự khác biệt này phản ảnh chủ nghĩa thực dụng của Hồ Chí Minh. Dưới ánh sáng một tình huống khá tế nhị, trong đó người Việt Nam phải tự khẳng định mình và trong cuộc chiến tranh giành giữa các đảng phái để nắm được quyền lãnh đạo chính trị. Thực tế, sự lãnh đạo của ông Hồ trong tháng 9-1945, ngoài Bắc Kỳ ra, thì rất mong manh. Sự kiểm soát của ông đối với khu vực miền Nam có thể nói đúng ra là không vững vàng.
Để làm giảm nhẹ nhược điểm thiếu kỷ luật của Đảng trong sự việc xảy ra ở Sài Gòn, Liệu phát biểu là Chính phủ Hồ ở Hà Nội chưa có dịp thuận lợi để khích lệ chính quyền của Giàu. Nhưng điều đó có nghĩa là những tên quấy rối chưa bị Giàu trừng trị và điều đó làm cho mọi người ở Hà Nội lo lắng. Ông Hồ gật đầu tán thành và nói với một cử chỉ nhẹ nhàng, ra hiệu cho mọi người rút lui, trừ Liệu và Giáp.
Ông Hồ tỏ ra thấm mệt với sự căng thẳng trong những tuần lễ vừa qua. Ông trông già đi và mệt mỏi, với những vết nhăn sâu ở trán. Khi người khác nói, ông hơi nhắm mắt lại và nhẹ nhàng ngả đầu ra thành ghế, không hút thuốc. Khi những người khác đã ra khỏi phòng, ông ngả người trên ghế, hai tay đan vào nhau, và hỏi ý kiến tôi. Nhớ lại các nhận xét của tôi lúc đó mạnh mẽ và quá tự tin, nhưng điều lo lắng trước mắt của tôi là tránh đổ máu. Tôi nêu ra vấn đề nghiêm trọng của tình hình (lúc dó chưa biết cụ thể về sự thiệt hại) và tôi sợ sẽ có những ảnh hưởng lớn trong khắp nước, nếu như ông Hồ không làm một cái gì đó để trấn an người Pháp, cho họ biết rằng hành động ngày hôm qua không phải do Việt Minh gây nên. Tôi báo cho ông Hồ biết là tôi đã trao đổi với tướng Tsuchihashi và ông này nhận thức rõ ràng được nhiệm vụ bảo đảm trật tự và an ninh công cộng của mình; cơ quan của ông sẽ tiếp xúc với Chính phủ Lâm thời để phối hợp kế hoạch đối phó với những sự bất ngờ. Giáp lại muốn biết có sử dụng quân đội Nhật không, nếu có thì phải phối hợp kế hoạch với tướng Chu Văn Tấn. Tôi nói tôi không biết nhưng cho rằng điều đó có thể nêu trực tiếp với người Nhật.
Trở lại vấn đề ở Sài Gòn, ông Hồ muốn các nhà chức trách Đồng minh biết rằng, bất chấp việc đảng nào hay nhóm nào đã gây ra cuộc rối loạn, Việt Minh sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo không để cho tình hình tái diễn trở lại. Tôi đã định hỏi xem ông làm thế nào để giữ được lời hứa, nhưng lại thôi. Ông Hồ lại hỏi tôi có ý kiến gì cần nêu nữa không. Tôi gợi ý bước thứ nhất là nên ra lệnh thả “hàng trăm” người Pháp nghe nói đã bị bắt ở Sài Gòn. Sau đó, phải có một chương trình giáo dục cho người Việt Nam về các mục tiêu và mục đích trước mắt của Chính phủ mới. Có như thế thì mới có thể xua tan được những nghi ngờ và các tin đồn đang lan tràn trong dân chúng. Ông Hồ tỏ ý tán thành, lần đầu tiên trong tối nay ông đã mỉm cười và tuyêu bố đã cho họp phiên đầu tiên của Chính phủ vào sáng nay và Hội đồng Chính phủ đã thông qua một chương trình 6 điểm.
Theo ông Hồ, điểm thứ nhất của chương trình là có kế hoạch tăng gia sản xuất lúa gạo để ngăn chặn nguy cơ nạn đói. Trước mắt, ông đề nghị mỗi gia đình, bắt đầu từ bản thân ông, cứ 10 ngày để dành ra một bát gạo rồi tập trung lại mang chia cho những người thiếu thốn. Các điểm khác trong chương trình gồm có: một cuộc vận động chống nạn mù chữ; tổng tuyển cử; vận động phong trào cần, kiệm, liêm, chính; huỷ bỏ thuế thân, thuế đò, thuế chó; cấm hút thuốc phiện; cuối cùng là hoàn toàn tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo.
Có phần nào phấn khởi và cũng vui vì đã nắm trước được ý của tôi, ông mỉm cười một cách độ lượng và hỏi: “Còn gì nũa không?”. Tôi nêu ra vấn đề nên cử một nhân vật nào nổi tiếng của Việt Minh ở Hà Nội vào làm đại diện cho cá nhân ông, đồng thời có cố vấn chủ chốt cho Giàu trong thời kỳ quá độ này. Tôi cho rằng như thế sẽ tăng thêm được uy tín cho Giàu. Ý kiến của tôi đã được chấp nhận và ông Hồ hứa sẽ xem xét vấn đề những người Pháp bị bắt giữ ở Sài Gòn đã được thả ngay chưa. Quay sang phía Liệu, ông hỏi về phương hướng tuyên truyền cho công chúng. Liệu đáp lại là sáng nay đã cho phép công bố tất cả các pháp lệnh mới trên tờ công báo(2) và ra tuyên bố công khai lên án những người phá rối trật tự ngày hôm qua.
Giáp, Bộ trưởng Nội vụ đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm về an ninh nội địa, tỏ ra lo lắng về giọng bài diễn văn Leclerc đọc trên đài phát thanh Delhi. Ông hỏi xem tôi có thể nói rõ thêm vê câu nói của Mac Arthur với Leclerc cho phép “đưa quân đội” đến Đông Dương. Tôi phân bua không rõ và cho rằng nhận xét của Leclerc không có liên quan gì đến vấn đề này hoặc đã bị người ta cố tình xuyên tạc đi. Nhưng mọi người đều biết rằng Pháp đang xúc tiến điều đình với người Anh và Anh sắp vào chiếm đóng Nam Việt Nam, và chắc chắn quân đội Leclerc sẽ đi theo cùng. Giáp tỏ ra ngán ngẩm trước sự phân tích của tôi, nhưng cũng nhận ra là ông cũng đồng ý với tôi, ông cảm thấy nếu người Anh cho phép người Pháp tái chiếm lại Đông Dương thì trước sau rồi cũng sẽ nổ ra một cuộc chiến tranh lâu dài. Ông tin tưởng rằng phong trào độc lập nhất định không thể từ bỏ sự nghiệp của mình mà không có đấu tranh.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 12:40:09 PM
CÁC ỦY VIÊN CỘNG HÒA PHÁP
Sau khi tôi từ biệt ông Hồ, Giáp đi cùng tôi sang phòng lớn và kể cho tôi nghe về tình hình của Cédile và Messmer. Trong đêm 22 - 23 tháng 8, sau khi toán OSS của chúng tôi tới Hà Nội thì hai phi cơ C.47 của không lực Hoàng gia Anh (RAF) từ Calcutta tới cũng cho thả dù hai toán người Pháp, mỗi toán 3 người, một toán gần Sài Gòn và một toán ở phía bắc Hà Nội.
Toán vào Sài Gòn rơi xuống một ruộng lúa cạnh Biên Hoà, đã bị nông dân bắt giữ và sau đó được trao trả cho các nhà chức trách Nhật. Phụ trách toán này là một nhân viên dân sự tự xưng là “đại tá” J. Cédile, Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Nam Kỳ. Cédile đã được người Nhật đưa về giữ ở Sài Gòn nhưng đã được thả ra ngày 24-8. Từ đó, ông ta xúc tiến điều đình với Giàu và Lâm uỷ Nam Bộ nhưng không đạt kết quả gì nhiều.
Toán thứ hai hạ xuống gần thị trấn Phúc Yên, tây bắc Hà Nội. Thủ trưởng toán này là thiếu tá Pierre Messmer, được chỉ định làm Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Trong toán còn có một dược sĩ, đại uý Brancourt, đã sống ở Việt Nam trước cú 9-3, và một nhân viên điện đài, đội Marmot, người đã đi cùng Langlade trong các lần công tác đến gặp Decoux và Mordant trước cuộc đảo chính. Messmer và toán của ông đã bị du kích của Giáp bắt giữ nhiều ngày, sau dó đã được thả ở gần biên giới Trung Quốc để cho về với đồng bào của họ ở bên đó.
Tôi hỏi Giáp tin tức về vụ Dupré; ông cười và cho biết “Dupré” chỉ là bí danh của Messmer. Khi tôi nói lại với Sainteny về những điều Giáp kể về số phận của Messmer, ông không tin và cho đó chỉ là một trò đánh lừa độc ác của dân “An nam mít”.
ĐỘI TIỀN TRẠM CỦA LƯ HÁN
Hội nghị Trung - Nhật ở Khai Viễn đã kết thúc vào ngày 2-9 và phái đoàn Nhật, trừ Imai, đã trở về Hà Nội ngày 3. Imai đã được giao mang một bức thư chỉ thị cho tướng Tsuchihashi nên đã đáp trên một phi cơ liên lạc đặc biệt về Hà Nội ngay từ đêm 2-9. Đi cùng với bộ phận còn lại của phái đoàn Nhật còn có đơn vị tiền trạm của bộ tham mưu Lư Hán. Đây là những người Trung Quốc đầu tiên trong số 150.000 người sẽ đặt chân tới Hà Nội và phải một năm sau mới rời khỏi đất Việt Nam(3). Chiều hôm đó, đại tá Sakai báo cho tôi biết tướng Tsuchihashi đã nhận được bản giác thư về việc đầu hàng và yêu cầu tôi thông báo cho Trùng Khánh biết.
Đến đêm, máy bay chở các sĩ quan Mỹ thuộc cơ quan của tướng Gallagher(4) cũng tới. Họ bắt liên lạc với phái đoàn chúng tôi và thu xếp chỗ ăn ở cho phái đoàn USMAAG(5) của tướng Lư Hán. Còn tướng Gallagher sẽ đến sau, trong tháng.
Sáng hôm sau, thiếu tá Stevens trong. nhóm tiền trạm, nói với tôi đi tìm trụ sở cho tướng Gallagher và giúp kiếm một biệt thự thích đáng cho tướng Lư Hán. Tôi đề nghị lấy chỗ tôi ở, một toà nhà rộng rãi của Bộ Tài chính cũ. Nhưng Stevens, không rõ được ai gợi ý, lại cho rằng phải đóng ở dinh Toàn quyền mới xứng đáng với một sĩ quan cao cấp Mỹ, nên đã định trưng thu nơi đó mà không cho tôi biết.
Sau bữa cơm chiều, Stevens điện cho tướng Gallagher: “Đã đến xem dinh Toàn quyền, định lấy làm trụ sở. Nhưng lại có vấn đề chính trị vì thiếu tá ở đó nói nhận được lệnh của De Gaulle phải ở lại trong Dinh. Ông nhường lại toà nhà nhưng giữ lại gian buồng đang ở cho đến khi Bộ chỉ huy Tối cao Pháp đến tiếp quản. Tôi có nên cho qua vấn đề này và chấp nhận một vai trò thứ yếu không?”.
Tôi có thói quen chỉ kiểm tra điện tín muộn về khuya nên chậm phát hiện sai sót này, nhưng đã thảo luận ngay với Stevens và dứt khoát yêu cầu tìm trú ở nơi khác vì Sainteny chắc chắn đã phản đối ầm ĩ cái âm mưu nham hiểm của Mỹ và Trung Quốc nhằm đuổi Pháp ra khỏi dinh Toàn quyền.
TÌNH HÌNH CĂNG THẲNG TĂNG THÊM
Trong hai ngày, Hà Nội hình như bị nén lại qua sự biểu thị lạc quan ôn hoà của Pháp và sự chịu đựng gắng gượng của người Việt Nam thì những tin tức từ Sài Gòn tới vẫn còn rất đáng lo ngại. Vẫn tiếp tục xảy ra những sự thái quá như ngày 2-9, mặc dù Giàu đã cố gắng ngăn chặn. Những tin phát thanh của Anh, Pháp từ các đài Delhi và Sài Gòn đã loan báo chính quyền Việt Minh đã không còn kiểm soát được tình hình. Trái lại, Imai lại cho tôi hay Tổng hành dinh Nhật ở Sài Gòn cho biết Lâm uỷ Nam Bộ, và đặc biệt là Dương Bạch Mai, viên cảnh sát trưởng địa phương(6) vẫn làm chủ được tình thế. Tôi có cảm tưởng như người Nhật muốn lẩn tránh vì họ hy vọng không bị bắt buộc phải dính líu đến việc giữ gìn trật tự.
Đài Sài Gòn cũng đã loan tin những người bị bắt vì phá rối trật tự trong ngày lễ Độc lập đã được thả ra. Nhưng trái với điều mong đợi, người Pháp ở Sài Gòn và Hà Nội lại có thái độ nghi ngờ và sợ sệt. Họ ngại rằng những người được tha có thể sẽ bị người Việt trả thù ngay sau khi ra khỏi nhà tù. Sở dĩ như vậy vì họ cũng được tin là Dương Bạch Mai cho tước vũ khí các phần tử Cao Đài và Hoà Hảo nhưng không đạt kết quả. Trong trường hợp đó, người Pháp lại cảm thấy ở trong tù được an toàn hơn.
Báo Dân chúng, cơ quan của Việt Minh ở Sài Gòn cũng đưa ra những tin tức gây lộn xộn. Với những đầu đề chữ lớn, tờ báo kêu gọi nhân dân giữ bình tĩnh, tái lập lại trật tự, và biểu thị một sự trưởng thành về chính trị. Nhưng nội dung bài thì lên án những người Quốc gia không phải Việt Minh đã gây rối loạn trong ngày chủ nhật và phá hoại sự nghiệp độc lập bằng cách tấn công vào các “người Việt Nam yêu chuộng hoà bình”. Chúng tôi hiểu rằng ở đây họ muốn vạch mặt những người Troskism đã bán rẻ mình cho các phần tử cực đoan.
Các báo chí chống Cộng ở Sài Gòn, được nhóm Troskism tiếp tay, liền phản kích lại, kết tội Giàu và “đồng bọn” là thân Pháp, có mưu đồ khôi phục lại nền cai trị cũ của Pháp và như thế là phản bội sự nghiệp độc lập của dân tộc.
Triển vọng tỏ ra ác liệt. Nếu cái tinh thần sôi sục chống Pháp đó lan ra miền Bắc thì tôi không dám chắc rằng Chính phủ của ông Hồ đã có đủ khả năng để đối phó được.
Trên đường ra sân bay, tôi dừng lại ở dinh Toàn quyền. Sainteny tiếp tôi một cách rất thân mật và hỏi han về “việc rắc rối ở Sài Gòn”. Tôi đã kể lại nhũng gì tôi biết nhưng Sainteny không đặc biệt quan tâm lắm. Quan niệm của ông là Việt Minh đã mất quyền kiểm soát tình hình và việc cả đất nước sẽ trở nên hỗn loạn chỉ còn là một vấn đề thời gian, không nhất thiết vì chống Pháp mà là giữa những người Việt Nam tranh chấp nhau. Rõ ràng là những “người Pháp khốn khổ” sẽ bị kẹt vào giữa, nhưng biết trách ai được? Chắc chắn không phải là những người Pháp “đã bị bỏ rơi”. Tình hình chỉ có thể cứu vãn được nếu như người Anh hoặc người Trung Quốc đến kịp thời.
… Thái độ bình thản của Sainteny trong lúc này đã gây cho tôi một cảm giác rõ rệt là ông đã biết nhiều hơn những điều ông đã nói với tôi. Phải chăng ông đã lường trước được việc quân đội của Leclerc sắp tới? Hay ông ta có thể đã sẵn sàng chờ thấy cờ tam tài tung bay trong tiếng quân nhạc? Ngay cả đến việc sai sót dự định trưng dụng dinh Toàn quyền, ông cũng bỏ qua cho là nhỏ nhặt. Sự có mặt của người Mỹ sẽ kết thúc chỉ sau vài ngày đi đường nữa, khi quân đội Trung Quốc tới Hà Nội, do đó tôi cũng rất lo lắng và cũng rất tò mò muốn biết về cuộc rối loạn mà Pháp có thể đang trù tính.
Ở sân bay, tôi đã gặp Imai và thiếu tá Miyoshi đang chờ ở đó. Họ đến để thông báo cho tôi biết kế hoạch của Nhật trong trường hợp có sự bùng nổ tại các đô thị bắc vĩ tuyến 16. Bộ tư lệnh Nhật yêu cầu tôi chuyển báo cho các nhà chức trách Trung Quốc biết họ đã hoàn toàn sẵn sàng thi hành trách nhiệm của họ trong việc giữ gìn an ninh và trật tự công cộng nếu được Chính phủ Lâm thời yêu cầu giúp đỡ, hoặc nếu, theo ý họ, Chính phủ tỏ ra bất lực hay hoạt động không có hiệu quả. Chúng tôi đồng ý là trách nhiệm về vấn đề trật tự vẫn thuộc quyền viên tư lệnh Nhật cho tới khi họ được chính thức thay thế. Còn về việc Nhật muốn dựa vào khả năng của Chính phủ Lâm thời thì đó là một vấn đề phải bàn bạc thống nhất với Chính phủ này và không có liên quan gì tới Đồng minh. Tôi chỉ nhắc lại là Tưởng thống chế mong rằng tư lệnh Nhật thông hiểu đầy đủ các điều khoản trong bản giác thư về đầu hàng.
Tôi gợi ý cho Imai và Miyoshi là các nhà đương cục Nhật nên chính thức thông báo kế hoạch của mình cho Chính phủ Lâm thời biết. Họ cũng có thể, nếu họ muốn, nói rằng họ đã thảo luận vấn đề này với tôi.
… Chúng tôi lên máy bay vào khoảng 6 giờ 30 và hạ cánh xuống Côn Minh trong đêm. Helliwell dón tôi tại sân bay, với một bộ mặt nhăn nhó. Rõ ràng là Đông Dương đã thu hút được sự chú ý của Trùng Khánh từ khi xảy ra các sự kiện trong “ngày chủ nhật đen tối”.
Chú thích
(1) Thống chế Bá tước Hisaichi Terauchi, Tư lệnh Tập đoàn quân Phương Nam Nhật
(2)  Việt Nam Dân quốc Công báo
(3) Theo Hiệp định Pháp - Hoa 1946 thì chậm nhất là ngày 31-3-1946, quân Trung Quốc phải rút hết khỏi Việt Nam. Nhưng sự thật thì đơn vị Trung Quốc cuối cùng (Sư đoàn 2 danh dự) rời Hải Phòng vào tháng 10-1946
(4) trong chuyến bay có các sĩ quan: trung tá Stodter (tình báo), thiếu tá Stevens (hành chính) và trung uý Unger (tuỳ tùng của tướng Gallagher)
(5) US Military Assistance Nhóm Cố vấn Viện trợ Quân sự Mỹ
(6) Một người Cộng sản cựu trào


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 12:46:43 PM
Chương 28
Đi tìm chính sách của Truman
TÂM TRẠNG LO ÂU Ở TRUNG QUỐC
Đến tuần đầu tháng 9 là sự tưng bừng vui vẻ, phấn khởi vì chiến thắng ở Côn Minh đã phải nhường bước cho một bầu không khí đầy lo âu, nghi kị và mưu đồ đen tối. Người Trung Quốc, người Pháp và người Mỹ đều thất vọng, chán nản và ở trong một trạng thái bực dọc. Nếu Đông Dương là một lò lửa thì Trung Quốc là ngọn núi lửa đang sôi sục và sẵn sàng bùng nổ.
Trong khu vực của OSS, xuất hiện nhiều bộ mặt mới. Một số là những tay kỳ cựu đã hoạt động lâu năm trong nội địa Trung Quốc. Số khác mới toanh, mới từ Mỹ đến, quá chậm để phục vụ chiến tranh nhưng lại lợi hại cho các hoạt động hậu chiến.
Helliwell cho tôi biết đủ thứ chuyện đã xảy ra ở Côn Minh, Trùng Khánh và Diên An, hàng loạt vấn đề mà OSS, Wedemeyer, Hurley và Tưởng đang phải đương đầu. Các toán Mercy của chúng tôi đã gặp vô vàn khó khăn với người Nga, Nhật và quân của Mao, từ vụ tìm cứu thê thảm tướng Wainwright từ một trại tù binh Nhật ở Mãn Châu Lý cho đến cái chết vô nghĩa của John M. Birch trong khi tiến hành chiến dịch tìm cứu ở Suchow.
Một vấn đề hoàn toàn khác và tình hình rối loạn ở Côn Minh, đang lan tràn một cách nguy hiểm những tin đồn đại về nội chiến. Thống đốc Long Vân đe doạ làm đảo chính chống lại Quốc dân đảng và định bắt giữ tất cả người Mỹ và các đồ viện trợ của Đồng minh ở Vân Nam để làm con tin. Wedemeyer đã yêu cầu Heppner bảo vệ tính mạng và tài sản người Mỹ trong trường hợp có nổi loạn và trung tá A.T. Cox(1) đã được lệnh bố phòng các cơ sở của OSS, toà Lãnh sự Mỹ, trụ sở Hội Chữ thập đỏ và các quyền lợi khác của Mỹ.
Nhưng vấn đề hàng đầu đối với Wedemeyer và Hurley vẫn là họ đang bị Pháp và Anh làm áp lục về việc kiểm soát Đông Dương. Heppner lại ở Côn Minh nên ngay đêm hôm tôi tới, Helliwell và tôi đã cùng ông bay về Trùng Khánh để gặp các đại diện Đại sứ quán và Chiến trường thảo luận về các hoạt động của tôi ở Đông Dương và về chính sách của Mỹ.
Giữa lúc tình hình nóng bỏng thì USS - Trung Quốc lại phải cải tổ tổ chức. Không còn cần đến nhũng tổ phá hoại biệt kích và đánh du kích nữa, nên phải đưa họ về nước. Nhiệm vụ phái đoàn OSS sau chiến tranh ở Trung Quốc hoàn toàn chuyên về công tác tình báo và phản gián mà thôi. Helliwell đã được chỉ định cầm đầu Nha Mật vụ mới lập.
Đến trưa, Heppner cho chúng tôi biết còn có nhiều vấn đề khác đã gây phiền toái cho người Mỹ. Quentin Roosevelt đã được xem những lời trích dẫn trong một bản giác thư của Bộ ngoại giao do J.C Dunn(2) viết. Bản giác thư nói về cuộc gặp gỡ ngày 29-8 giữa Tưởng phu nhân với Tổng hống Truman, trong đó Tổng thống đã chỉ rằng “đã không đi tới một quyết định nào” liên quan đến tương lai của Đông Dương trong cuộc thảo luận mới đây của Tổng thống với tướng De Gaulle(3). Tôi rất băn khoăn về tình trạng mập mờ trong lập trường của Mỹ và hỏi Heppner nhưng ông cũng lúng túng. Đại sứ Hurley đã tỏ ra muốn thấy không có gì tốt hơn là một “Đông Dương dân chủ”, và hay nhất là thuộc quyền bảo trọ của Quốc dân Đảng. Trong các công văn chính thức mới đây gửi về Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao, ông đã có nhiều dịp lên án “đế quốc” Anh, Pháp và Hà Lan. Nhưng rõ ràng là ông không vừa lòng với Hồ Chí Minh và việc Cộng sản nắm chính quyền nên đã muốn cho rút toán OSS về và để Tưởng đối phó với mọi vấn đề. Đại sứ cũng đã yêu cầu có một sự giải thích làm sáng tỏ chính sách Mỹ nhưng chỉ nhận được của Washington một câu trả lòi ngắn gọn “không có gì thay đổi”. Nhưng chính sách lại đang thay đổi, ít nhất cũng trong phạm vi thi hành. Mặc dù có điều xác nhận “không có quyết định” của Tổng thống Truman và “không thay đổi” của Bộ Ngoại giao, thực tế lại cho thấy chúng ta không còn chống đối một cách tích cực những mưu mô của người Pháp nhằm chiếm lại Đông Dương bằng vũ lực nếu cần.
Tôi nêu vấn đề có thể đã đến lúc OSS nên rút lui khỏi hội trường. Heppner không đồng ý - OSS nhất định sẽ vượt qua được khi nào mà chúng ta có được một lập trường dứt khoát rành mạch của Nhà Trắng.
ĐI BÊN RÌA CÁC LỐI THOÁT
Chúng tôi tới Trùng Khánh lúc khoảng 2 giờ 30 và đi thẳng ngay tới Đại sứ quán. Tướng Olmsted(4) chủ trì cuộc hội nghị và mở đầu nói rằng Đông Dương trước đây phần nào đã bị lãng quên giữa nhiều vấn đề cấp bách khác. Nhưng những sự kiện mới xảy ra đã đòi hỏi Chiến trường phải đi thẳng vào các vấn đề của khu vực này. Heppner tỏ ý vừa lòng và giới thiệu tôi báo cáo cho hội nghị biết tình hình mới nhất.
Tôi nêu ra nhiệm vụ chung đối với toàn Đông Dương, nhấn mạnh vào chỉ thị đặc biệt tháng 4 của Nhà Trắng về hoạt động của chúng tôi ở Trung Quốc, và các mối quan hệ với M.5 ở Côn Minh, sau đó nói đến vai trò hiện nay của phái đoàn OSS ở Hà Nội. Tôi báo cáo tổng hợp về các sự kiện xảy ra từ khi chúng tôi đến Hà Nội, tả lại tóm tắt sự xung đột của các thế lực chính trị và mối quan hệ giữa người Mỹ, người Pháp và người Việt Nam. Tôi vạch rõ vị trí trung lập của chúng tôi đối với nguyện vọng của nước Pháp và hoài bão của người Việt nhằm nắm quyền kiểm soát Việt Nam. Nhưng, tôi nói trên trường chính trị chúng ta đã đạt tới một điểm, mà ở đó chúng ta gặp cực kỳ khó khăn để tiếp tục giữ được lập trường trung lập, vì vậy vấn đề được đặt ra là phải có một sự xem xét lại lập trường này.
Tướng Olmsted đã hỏi một cách chính xác về những chỉ thị công tác ban đầu của tôi và sau này đã có gì thay đổi trong đó không? Tôi đáp lại là tướng Donovan đã chỉ thị cho tôi một cách đơn giản là tiến hành các hoạt động bí mật chống Nhật ở Đông Dương, và thiết lập một mạng lưới tình báo có hiệu lực để phục vụ cho tướng Wedemeyer. Đáp lại câu hỏi của bí thư Đại sứ quán Paxton(5) về những chỉ thị sử dụng các lực lượng và phương tiện của Pháp; tôi nói là hoàn toàn chính đáng được sử dụng họ trong chừng mực mà điều đó không phải là một cách để khuyến khích hay giúp đỡ người Pháp thực hiện ý đồ muốn chiếm lại thuộc địa cũ của họ bằng vũ lực. Tôi lại nhắc lại rằng tướng Wedemeyer và Đại sứ Hurley đều biết rõ về các chỉ thị công tác nói trên và tôi đã được sự ủng hộ đầy đủ của Hành dinh Chiến trường và ở một mức độ thấp hơn, của Đại sứ quán.
Paxton phát biểu là nhiệm vụ của tôi thuộc lãnh vực quân sự nên Đại sứ quán không có sự lãnh đạo trực tiếp, trừ trường hợp cố vấn về mặt chính trị nếu được hỏi ý kiến. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý về điểm này, nhưng vấn đề chính sách Mỹ là một vấn đề của Đại sứ quán nên tôi hỏi là từ tháng 4, chính sách đã có gì thay đổi không. Paxton trả lời là chỉ thị cuối cùng của Bộ Ngoại giao đã được ghi trong công hàm ngày 7-6 của Thứ trưởng Ngoại giao Grew. Heppner và tôi xác nhận là có được biết công hàm đó và hỏi thêm là như thế chúng tôi có thể hiểu là chỉ thị tháng 4 vẫn còn có giá trị đối với tôi. Lúc này, tướng Olmsted xen vào, tỏ ý muốn biết bản công hàm tháng 6 là gì.
Paxton tuyên bố bản công hàm ghi “không thay đổi” trong chính sách nhưng cũng thêm vào đó những điều nhập nhằng. Thứ trưởng Grew đã vạch ra rằng khái niệm của Roosevelt về vấn đề uỷ trị đối với Đông Dương hầu như đã bị gạt bỏ ở hội nghị San Francisco. Lúc đó Mỹ đã nhấn mạnh vào việc phải có một biện pháp tự trị tiến bộ cho tất cả các nước phụ thuộc. Grew đã nêu rõ ý kiến của Tổng thống Truman là vấn đề sẽ được giải quyết sau khi chiến tranh kết thúc, nhưng vào thời điểm thích hợp nào thì phải hỏi chính phủ Pháp để có được một “sự trả lời tích cực”. Theo ông, chính qua những lời gián tiếp này mà Tổng thống muốn nói là đã không đạt tới một quyết định nào về tương lai của Đông Dương.
“Được!”, Olmsted lại hỏi, “Thế rồi sao?”. Trong tuần lễ đó (tuần lễ từ 2-9), Đại sứ Hurley đã phải thảo luận với Wedemeyer một dự án khá hóc búa của Pháp ở Washington, đề đạt coi Đông Dương như là một vùng đất đai của địch đầu hàng trong khu vực của Anh dưới quyền đô đốc Mounbatten. Người Pháp còn đề nghị thêm: đối với viên chỉ huy Nhật, tướng Tsuchihashi thì bản thân tướng này sẽ đầu hàng với người Trung Quốc trên lãnh thổ Trung Quốc, nhưng còn việc đầu hàng của quân ông ta thì sẽ giao cho người Pháp thuộc quyền Bộ chỉ huy Anh tiếp nhận.
Theo Paxton, đề nghị của Pháp đã đặt Đại sứ chúng ta vào một vị trí rắc rối đối với Tưởng. Thực may mắn là Washington đã không chịu khuất phục hoàn toàn và đã giữ lập trường là nếu người Pháp tranh thủ được sự đồng tình của Anh và Trung Quốc về vấn đề đó thì Mỹ cũng sẽ vui lòng chấp nhận hành động theo, và tướng Mac Arthur sẽ không có gì bị phản đối trên các lãnh vực quân sự.
Olmsted ngắt lời, nói rằng rõ ràng là tướng Mac Arthur sẽ khó mà biện minh được cho việc sửa đổi lại Mệnh lệnh chung số 1 qua việc cắt xén các nghị quyết của Hội nghị Potsdam và đưa người Pháp vào số các nước Đồng minh đã được chỉ định tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật. Nhưng ông thêm, Tưởng sẽ không bao giờ đồng ý cho phép một nước không tham gia vào cuộc chiến tranh châu Á - Thái Bình Dương - nước Pháp - đứng ra nhận sự đầu hàng các lực lượng Nhật trên chiến trường do ông phụ trách. Theo Olmsted, tướng Wedemeyer đã thảo luận các vấn đề này với Thống chế và bác sĩ K.C. Wu(6) và người Trung Quốc sẽ trả lời dứt khoát là “không!”.
Đến đây, Heppner nhận xét vấn đề khó xử của Đông Dương khi nào cũng là một điều rnâu thuẫn của Mỹ trước những quyền lợi của Pháp và các nguyên tắc về dân chủ của Mỹ. Qua việc trao đổi thư tín riêng với một người nào đó trong Bộ chỉ huy Đông Nam Á (SEAC), ông đã được biết vào khoảng 30-8, Bộ Ngoại giao Mỹ đã báo cho Bishop, bí thư uỷ ban Mỹ ở New Delhi, rằng Mỹ không có ý định phản đối việc Pháp quay lại cai trị Đông Dương, và nói rộng ra, không có vấn đề xem lại chủ quyền Pháp đối với Đông Dương. Nhưng Bộ Ngoại giao vẫn không ngớt nhắc lại đó không phải là chính sách của Mỹ nhằm giúp Pháp chiếm lại Đông Dương bằng vũ lực. Heppner nói tiếp: Bộ còn báo cho Bishop biết Mỹ mong muốn Pháp phục hồi lại quyền cai trị với danh nghĩa là yêu sách của Pháp đã được nhân dân Đông Dương ủng hộ và sự ủng hộ đó đã được chứng minh bằng những sự kiện tiếp sau. Nói một cách khác đi, lập trường của chúng ta sẽ là đứng ngoài và để cho Pháp chiếm lại quyền cai trị, ngay cả bằng vũ lực, miễn là chúng ta không giúp đỡ và chỉ chờ xem kết quả.
Helliwell, vẫn ngồi yên từ đầu, bật lên nói là điều mà tất cả chúng tôi thắc mắc: chính sách gì mà như vậy? Chúng ta có giúp người Pháp chiếm lại quyền hay không? Chúng ta có giúp Hồ Chí Minh thiết lập một chế độ “dân chủ” cho đồng minh Nga của chúng ta không? Hay là chúng ta đã “hoá dại” và quên hết những lời lẽ hào nhoáng trong Hiến chương Bắc Đại Tây Dương, trong bản Tuyên ngôn Độc lập, và v.v…?
Tất cả chúng tôi chờ Paxton trả lời, nhưng tướng Olmsted đã phá vỡ sự im lặng kéo dài và tuyên bố là chúng ta không thể thay đổi được chính sách cũ mà cũng chẳng làm ra được chính sách mới, nhưng chắc là chúng ta có đầy đủ khả năng để giải thích được chính sách hiện hành. Cuối cùng, Paxton đã gợi ý là chúng tôi nên xem xét đến một điểm trong chính sách nói trên có liên quan cả đến người Pháp và Việt Minh.
Đối với người Pháp, chúng ta ở trong một thế không hay ho gì là không có khả năng hỗ trợ về tiếp tế hậu cần để giúp họ từ Chiến trường Trung Quốc trở lại Đông Dương. Do đó chúng ta phải để cho người Trung Quốc, tuy không muốn, nhưng lại là người duy nhất có điều kiện giúp đỡ cho người Pháp. Không cần phải có chúng ta xen vào giữa họ. Vì vậy chúng ra sẽ không làm gì cả.
Còn về Hồ Chí Minh, ông đã chiếm lại được vị trí của mình, nhưng đang cưỡi trên con ngựa rừng không yên, và chỉ cầm được một dây chằng. Trong khi Mỹ chưa có quan hệ ngoại giao chính thức với Chính phủ lâm thời Việt Nam thì không thấy có gì phải cam kết giúp đỡ họ. Tuy vậy, chúng ta cũng có thể ủng hộ về mặt tinh thần, một cách không chính thưc và kín đáo nhưng không có gì quan trọng. Chúng ta sẽ biến, khi người Nhật đã được giải giáp và hồi hương.
Đó là quan điểm của Paxton và đó cũng là một ý kiến giúp đỡ khá hay ho, đẹp đẽ của một nhân viên Đại sứ quán. “Nhưng”, tôi hỏi, “thế còn OSS”? Cảm thấy có ít nhiều gay gắt nên Olmsted vội trả lời: “Trước đã làm gì thì các anh cứ đúng như thế mà làm. Nhiệm vụ của các anh là thu xếp với người Nhật và người Trung Quốc về việc đầu hàng của người Nhật. Các anh còn phải làm hồ sơ về các tội phạm chiến tranh. Và sau hết là nhiệm vụ lâu dài của các anh. Vấn đề quan hệ quốc tế với Pháp, Trung Quốc và Việt Nam là một vấn đề thuộc Bộ Ngoại giao giải quyết”.
Chúng tôi chuyển sang các vấn đề khác. Cơ quan tham mưu Chiến trường đã theo dõi các báo cáo và đặc biệt chú ý đến các sự kiện xảy ra mới đây ở Sài Gòn. Tướng Wedemeyer lo lắng tình hình đó có thể vượt ra ngoài vĩ tuyến 16 và muốn thường xuyên nắm được tin tức. Theo gợi ý của Heppner, tôi kể lại tất cả những điều mà tôi đã được nghe nói ở Hà Nội: sự lo sợ của người Pháp, phản ứng của người Việt và mối quan tâm của người Nhật. Tôi cho rằng, mặc dù sự rối loạn xảy ra trên khu vực của Bộ Tư lệnh Đông Nam Á (SEAC) nhưng nó cũng có thể tác động mạnh mẽ một cách dễ dàng sang khu vực thuộc chiến trường Trung Quốc. Lúc này, vấn đề được thu hẹp trong sự tranh chấp chính trị giũa những người Việt đang tìm cách kiểm soát chính phủ và chỉ có những tác động ngoài lề đối với dân chúng Pháp và Trung Quốc. Nhưng với việc quân Anh sắp tới Sài Gòn để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật và lại có người Pháp theo đuôi người Anh thì có thể nổ ra rối loạn nghiêm trọng. Một điều quan trọng cuối cùng tôi nêu lên là đã có một toán chuyên gia OSS - AGAS Mỹ nào đó đi cùng với đội tiền trạm Anh và chắc chắn rằng họ cũng sẽ phải đối phó với những vấn đề mà chúng tôi đã gặp ở Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 12:55:24 PM
Olmsted và nhiều sĩ quan đã ngạc nhiên khi nghe nói một toán OSS đã được phái đi theo các hoạt dộng của Bộ Tư lệnh Đông Nam Á (SEAC) và đã yêu cầu được biết rõ thêm. Heppner nói ngay đó là một hoạt động quan trọng và ông chỉ được phép tiết lộ rằng Uỷ ban hỗn hợp Bộ Ngoại giao, Chiến tranh và Hải quân (SWNCC) đã ra lệnh tiến hành hoạt động này và đã thông báo cho tướng Wedemeyer và Đại sứ Hurley biết.
Olmsted muốn kết thúc hội nghị và hỏi xem có ai hỏi gì thêm không. Tôi đưa ra một câu hỏi cuối cùng: Nếu tôi tiếp tục xúc tiến các hoạt động chiến tranh chính trị ở Đông Dương thì nhóm chúng tôi sẽ ra sao? Mọi người im lặng. Sau hết Olmsted hỏi lại tôi muốn nói gì qua danh từ chiến tranh chính trị và theo ông nghĩ thì Paxton đã trả lời câu hỏi đó trước rồi. Nhưng Paxton lại nói ngay là ông không đả động gì đến vấn đề này mà chỉ làm việc giải thích chính sách đã được công bố của Mỹ.
Một cách bộc trực, Olmsted nhận là đã không hiểu câu hỏi của tôi và nói rằng nếu chỉ thị mà tôi nhận được là xúc tiến chiến tranh chính trị và cái mà tôi làm trong chiến tranh chính trị đó phù hợp với chính sách của Mỹ thì tôi có thể bằng mọi cách “cứ cho tiến hành”. Mọi người đều cười, cuộc hội nghị bế mạc.
Cũng như trong phần lớn các cuộc hội họp ở cấp Chiến trường và Đại sứ quán, mọi người đều vui vẻ và không phải cam kết điều gì. Đối với tôi, các cuộc hội họp như vậy chỉ có mỗi một mục đích để nói cho những người làm quyết định biết rằng người chấp hành đã quyết định làm việc này hay việc khác, tuỳ theo vấn đề được đưa ra thảo luận.
Chúng tôi được Walt Robertson, Bộ trưởng cố vấn về các vấn đề kinh tế, mời dự buổi cơm chiều và đêm đó ở lại Trùng Khánh. Nhưng đại tá W.P. Davis(7) bên cơ quan OSS đã báo cho Heppner có công văn khẩn từ Côn Minh gửi tới. Davis đưa ra 2 tin làm náo động mọi người. Một là việc sơ tán các tù binh chiến tranh Mỹ từ Sài Gòn. Hai là lính của Long Vân đã cướp phá các kho tiếp tế của Mỹ trong vùng Côn Minh. Thiếu tướng H.S. Aurand, chỉ huy hậu cần, yêu cầu OSS giúp đỡ ngăn chặn không để cho các kho tàng khác của Mỹ tiếp tục bị cướp đoạt. Heppner đã điện trao đổi với Aurand và sau 15 phút nói chuyện liên tục, đã quyết định trở về Côn Minh ngay tức khắc. Ông xin cáo từ Robertson và chúng tôi chạy đi tìm toán lái máy bay. Phải sau nhiều giờ nữa, chiếc C.47 của chúng tôi mới cất cánh nổi. Tiếp đó, chúng tôi được mời ăn lương khô và nước lạnh. Tất nhiên trên máy bay không có đá…


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 12:55:59 PM
PHƯƠNG ÁN “EMBANKMENT”( 8 )
Trong lúc nghỉ xả hơi sau một ngày kiệt sức, tôi hỏi Heppner cho biết có điều gì không bình thường đã xảy ra chung quanh chiến dịch của OSS trong Bộ Tư lệnh Đông Nam Á (SEAC) và ở phía nam Đông Dương. Về mặt này, tôi biết quá ít, ngoài tin Ed Taylor đã ròi Kandy đi hoạt động, tin ở đó chúng ta tham gia vào việc giúp đỡ phong trào “Thái tự do”, xúc tiến điều đình với Chính phủ Giải phóng Thái; và Heppner cũng còn có ít nhiều mối quan hệ ràng buộc với các lợi ích của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á.
Heppner đã kể cho Helliwell và tôi nghe phần đầu câu chuyện mà không đầy ba tuần lễ sau đã kết thúc bằng tấn bi kịch và đưa đến người Mỹ nạn nhân thương vong đầu tiên sau chiến tranh ở Đông Dương.
Vào tháng Giêng, Bộ trưởng Stettinius đã báo cho tướng Donavan biết về những cố gắng của Bộ Ngoại giao để điều tra tình hình các tù dân sự Mỹ (CIS) và tù binh chiến tranh ở Nhật và trên đất Nhật chiếm đóng. Hội Chữ thập đỏ quốc tế đã thực hiện được một số vụ cứu trợ nhân đạo nhưng chỗ được chỗ không và còn tuỳ thuộc vào ý thích nhất thời của người chỉ huy Nhật tại chỗ. Stettinius thấy cần phải báo cho Chính phủ biết các trại tù binh ở đâu, số lượng và tình trạng các công dân Mỹ bị giam giữ v.v…
Bộ Ngoại giao đã nhờ Marcel Junod(9), F.B. James(10), và Camille George(11) điều đình lập một mạng lưới thông tin giữa Mỹ và Nhật thông qua chính phủ Thuỵ Sĩ. Đồng thời, Bộ Chiến tranh cũng đặt ra Ban MIS - X trong Cục Tình báo quân sự để giúp giải thoát các quân nhân trốn tránh khỏi bị bắt giữ v.v…
Ở Chiến trường Trung Quốc, nhiệm vụ này được giao cho AGAS. Nhưng các tù nhân dân sự thì không được tổ chức nào quản lý, nên chỉ còn nhờ vào hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Quốc tế. Donovan được giao nhiệm vụ này và đã chỉ thị cho Ban Tình báo (SI) thuộc SEAC và Chiến trường Trung Quốc đảm nhận việc xác định các trại, lập danh sách tù binh chiến tranh và tù thường dân, cộng tác chặt chẽ với AGAS. Trong những tháng còn chiến tranh năm 1945, OSS đã rất thành công trong các chiến dịch tình báo này mà đỉnh cao là việc tung ra hoạt động các toán “Mercy”.
Allen Dulles đã báo cho Donovan biết việc Nhật thăm dò hoà bình qua các cuộc tiếp xúc với OSS, Donovan cũng được biết về sự tiến triển của bom hạt nhân và ít nhiều tin tức về kết quả thử nghiệm ở New Mexico. Trong thời kỳ Hội nghị Potsdam, Donovan đã lường trước được việc đầu hàng sắp xảy ra của Nhật và đã thông báo cho Taylor ở Kandy và Heppner ở Trùng Khanh biết. Dựa vào các báo cáo của OSS về sự ngược đãi, lộng hành trong một số trại của Nhật, Donovan đã đề nghị với Tham mưu trưởng Liên quân là phải có biện pháp bảo vệ các công dân Mỹ trong các trại tù binh ở Đông Nam Á trong trường hợp Nhật đầu hàng một cách đột ngột. Uỷ ban phối hợp Bộ Ngoại giao, Chiến tranh, Hải quân đã nghiên cứu vấn đề Mỹ tham gia công tác hậu chiến ở Bộ Tư lệnh Đông Nam Á (SEAC) và đã đồng ý để các nhân viên người Mỹ sẽ phải ở lại SEAC ít nhất cho tới khi có các sĩ quan Cục Đối ngoại Mỹ đến làm việc tại Thái Lan và các nơi khách chỉ có những người Mỹ, nhân viên của OSS mới được miễn trừ.
Nhưng Bishop lại báo qua con đường không chính thức, cho Heppner biết là Bộ Ngoại giao Anh đã phân công cho các quan chức ngoại giao và lãnh sự ở nhiều Bộ chỉ huy các lực lượng ở Đông Nam Á làm cố vấn chính trị dưới quyền Maberly Ester Dening(12) của SOE(13). Theo Bishop thì nhiệm vụ của của số cán bộ này là điều tra bảo cáo về tình hình kinh tế và chính trị vùng Nhật chiếm đóng trước đây. Ngoài ra, Dening cũng nói cho Bishop biết tự người Anh sẽ phụ trách vấn đề “bảo vệ” quyền lợi của Đồng minh trong các vùng đất chiếm đóng và các vấn đề liên quan đến quyền lợi Mỹ thì có thể giải quyết thông qua ông ta, Dening, cho tới khi các cơ quan lãnh sự Mỹ mở cửa trở lại.
Đó quả là một tình hình không thể chấp nhận được. Donavan đã chỉ thị cho OSS - Đông Nam Á và Heppner ở Trung Quốc cứ lặng lẽ theo gương người Anh, tổ chức ra các toán OSS ở Đông Nam Á để đi theo quân đội chiếm đóng Anh vào Thái Lan, Đông Dương, Nam Dương, Malaysia và Bornéo. Vì vậy, vào cuối tháng 7, phương án Embankment đã được đưa ra thực hiện nhằm phái khoảng 50 sĩ quan, binh lính được huấn luyện và trang bị cho những nhiệm vụ đặc biệt của OSS, AGAS để đi cùng các “đơn vị xung kích” đầu tiên của Anh vào Đông Dương.
Người Mỹ liền bị đơn vị đặc nhiệm 136 của SOE coi như là những người cạnh tranh, và thực tế đơn vị này đã đỡ đầu cho các toán SLFEO của Pháp vào hoạt động ở Đông Dương, đồng thời chống lại toán tình báo Mỹ. Người Mỹ vẫn được coi là chống thực dân và bị người Pháp nguyền rủa, do đó càng bị ghét cay ghét đắng.
Và trong một quyết định vào giờ chót, thiếu tướng D.D. Gracey(14), Tư lệnh lực lượng chiếm đóng Anh ở Đông Dương đã gạt bỏ hoàn toàn phương án Embankment ra khỏi chiến dịch Đông Dương. Heppner điện cho huân tước Mounbatten phản đối hành động độc đoán này của Gracey và Mounbatten đã phải bắt ông bạn mình cho phép một toán tình báo Mỹ đã bị thu nhỏ lại rất nhiều, chỉ có 17 người, được phép hoạt động vào ngày 2-9, đi trước cả đội quân của Gracey.
Phụ trách phương án Embankment là một thiếu tá nổi tiếng 28 tuổi (sau là trung tá) A. Peter Dewey(15). Trước đó, anh ta đã được Whitaker chọn, định để bổ sung cho hoạt động của tôi ở Bắc Đông Dương. Chúng tôi đã biết Dewey từ khi còn ở Bắc Phi, biết rõ các thành tích nổi bật của anh trong công tác tình báo và chiến tranh chính trị. Heppner, Whitaker, Helliwell và tôi đều bằng lòng, vì có Dewey ở miền Nam thì toán Đông Dương của chúng tôi sẽ được tăng cường rõ rệt, nên chúng tôi đồng thanh yêu cầu giao nhiệm vụ cho anh ta.
Dewey đến hành dinh của SEAC vào cuối tháng 7, và việc đầu tiên là bắt liên lạc với tôi Chúng tôi thoả thuận cùng nhau phối hợp hoạt động, trao đổi tin tức và nhận xét. Tất cả công văn và báo cáo của chúng tôi dều được chuyển theo hai chiều qua Côn Minh.
Mặc dù tuyến công tác của chúng tôi bị hạn chế bởi ranh giới quân sự ở vĩ tuyến 16, nhưng hoạt động của OSS Đông Nam Á và OSS Chiến trường Trung Quốc đã được phối hợp với nhau, theo tín hiệu của Heppner.
Từ khi nổ ra sự kiện Ngày Độc lập, tôi không theo dõi được tình hình kế hoạch Embankment nữa, tôi phải nhờ đến Heppner. Khi tướng Gracey bị Mounbatten gạt bỏ thì chỗ dựa của Dewey vào người Anh cũng “bị suy yếu”. Dewey trở thành con người không được hoan nghênh ở đó. Gracey đã cho phối thuộc toán OSS nhỏ bé của anh vào Ban Chỉ huy Đơn vị xung kích của SEAC vào SàI Gòn, dưới quyền trung tá người Anh Cass. Người ta cho Dewey biết phải tự xoay xở lấy, không nên chờ đợi sự hỗ trợ về tiếp tế quân sự của người Anh. Điều đó cho phép Dewey tự do hoạt động mà không cần phải có sự giải thích đối với Cass hoặc Gracey trong vấn đề tù binh và tù thường dân của Đồng minh, quyết định quy chế tài sản Mỹ, điều tra các tội phạm chiến tranh và thực hiện các chỉ thị khác của OSS.
Được hành động một cách độc lập, Dewey đã không để phí thời gian. Trong khi người Anh chuẩn bị một cách chu đáo cho một cuộc hành quân “thực sự” để vào Sài Gòn, dự kiến vào tuần lễ thứ hai trong tháng 9, thì Dewey đã phái một tổ tiền trạm bốn người(16) do trung uý Counasse cầm đầu để tiến hành trước các hoạt động về tù binh chiến tranh và tù thường dân. Chiếc phi cơ C.47 của họ đã hạ cánh vào lúc 3 giờ chiều ngày chủ nhật 2-9, xuống một đường bay nhỏ của Nhật gần sân bay chính Sài Gòn.
Sau bất ngờ của sự việc toán chúng tôi hạ xuống Hà Nội ngày 22-8, người Nhật chắc cũng đã dự đoán sẽ có nhiều khả năng nhiều toán khác của Đồng minh tới nên họ không còn bị bất ngờ. Khi phi cơ đỗ lại, nhiều xe quân sự đã lao tới để gặp người Mỹ. Theo báo cáo của Counasse thì một toán Nhật khoảng 30 sĩ quan và lính do một đại tá có sĩ quan tuỳ tùng đã ra đón toán tình báo “một cách trịnh trọng”. Để cho đoàn có một quy chế chính thức, Counasse đã tự phong quân hàm cấp thiếu tá, các người khác là đại uý, trung uý.
Ngày 4-9, trong khi tôi từ Hà Nội bay đi Côn Minh, Dewey cùng với 4 người nữa đã đến tăng cường thêm cho toán ở Sài gòn(17). Chiều hôm đó, Dewey đã điện cho hành dinh ở Candy là Counasse đã phát hiện được 4.549 tù binh chiến tranh Đồng minh(18) trong đó có 214 người Mỹ(19), bị giam tại hai trại trong vùng Sài Gòn. Những người ốm nặng đã được bắt đầu chuyển đi từ ngày 5: chính là ngày mà chúng tôi đang hội họp ở Trùng Khánh; tất cả người còn lại sẽ được sơ tán vào sáng ngày 6. Bức điện Heppner nhận được chiều hôm đó nói về việc người Anh tranh giành với người Mỹ về việc sử dụng đường không và các tù binh Mỹ đã không được ưu tiên trước. Sợ rằng các tù binh của chúng ta bị bỏ bê, tướng Wedemeyer ngay chiều hôm đó đã ra lệnh cho máy bay Mỹ từ Côn Minh bay tới Sài Gòn để giúp cho việc sơ tán người Mỹ.
Vào khoảng nửa đêm thì phi cơ của chúng tôi tới gần Côn Minh, chúng tôi đã nhìn lờ mờ thấy cái hồ lớn ở đó và đến đúng 1 giờ sáng ngày 6 chúng tôi về tới khu nhà vắng vẻ của OSS. Heppner và Helliwell phải đối phó ngay với các vụ cướp phá trụ sở OSS của quân lính Long Vân trong khi tôi tiếp tục nghiền ngầm về những điều lộn xộn tối nghĩa của cái gọi là hội họp “chính trị” mà chúng tôi đã tiến hành ở Trùng Khánh.
Chú thích:
(1) Sĩ quan OSS phụ trách trung tâm huấn luyện biệt kích Trung Quốc ở Côn Minh
(2)  Trợ lý Ngoại trưởng
(3) Tổng thống Truman gặp tướng De Gaulle tại Nhà Trắng ngày 22-8-1945 và sau đó đã nói với bà Tưởng rằng De Gaulle đã đảm bảo với ông là nước Pháp sẽ cho tiến hành ngay từng bước để cho Đông Dương được độc lập. Tổng thống cũng nói với bà Tưởng biết là không có vấn đền “thảo luận về quyền uỷ trị”.
(4)  Thiếu tướng J. Olmsted, G.5 Hành dinh quân Mỹ ở Trung Quốc, thay mặt Hành dinh tại hội nghị.
(5)  J.H. Paxton, bí thư thứ hai Đại sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh, thay mặt Đại sứ quán tại hội nghị
(6)  Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc
(7)  Đại tá Davis, Phó Ban OSS - Trung Quốc
( 8 ) “Đập ngăn sông”
(9)  Trưởng phái đoàn của Uỷ ban Quốc tế Chữ thập đỏ tại Nhật
(10)  Đại diện Hội Chử thập đỏ Mỹ tại Genève
(11)  Bộ trưởng Thuỵ Sĩ tại Nhật
(12)  tức Sir Esler, Cố vấn chính trị Anh thuộc Bộ Tổng tư lệnh tốc cao SEAC, Giám đốc SOE ở SEAC
(13)  Nha Công tác đặc biệt Anh, tương tự OSS của Mỹ
(14)  Thiếu tướng Douglas D. Gracey, sinh năm 1894, tư lệnh Lục quân Đồng minh ở Đông Dương năm vĩ tuyến 16, cầm đầu phái đoàn kiểm tra Đồng minh của Bộ Tư lệnh Đông Nam Á và Đông Á (SEAC - SAC), tư lệnh sư đoàn 20 Ấn Độ. Đến Sài Gòn ngày 13-9-1945, đi ngày 28-1-1946.
(15) Trung tá A. Peter Dewey (1917-1945), sĩ quan chỉ huy kế hoạch Embankment của OSSNam. Nghiên cứu lịch sử Pháp ở Yale, thạo tiếng Pháp, phóng viên ở Paris của báo Chicago Daily News (1930-1940), gia nhập quân đội Ba Lan ở Pháp mùa xuân 1940, sau khi Pháp thua trận, trốn sang Lisbon và trở về Mỹ, làm ở cơ quan điều chỉnh công tác Xô Mỹ. Gia nhập quân đội Mỹ năm 1942, hoạt động tình báo ở châu Phi và Trung Đông. Được OSS tuyển mộ ở Alger 1943 và phái sang công tác ở hành dinh SEAC tháng 7-1945. Bị du kích Việt Minh giết nhầm ở ngoại ô Sài Gòn ngày 26-9-1945. đột nhập vào Nam Việt
(16)  Nhóm tiền trạm gồm Trung uý Counasse, thượng sĩ Nardella, thượng sĩ Hejna và trung sĩ Paul
(17) gồm Đại uý Bluechel, đại uý Frost, trung uý Bekker, trung uý Wicker. Ngày hôm sau đến thêm 3 người nữa là các đại uý White, Coolidge và Warner.
(18)  gồm: trại BOBT 1.681 người (920 Anh, 592 Hà Lan, 194 Úc, 5 Mỹ), trại 5E 2.686 người (1.394 Anh, 1.164 Hà Lan, 101 Úc, 209 Mỹ)
(19)  gồm của sư đoàn 36 (120 người), Hạm tàu Houston (86 người), VPB 117 (3 người), VPB 25 (2 người), trung đoàn phóng pháo cơ 308 (3 người)




Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 01:04:33 PM
Chương 29
Không ai chịu nghe
QUÁ NHIỀU VIỆC RẮC RỐI
Chuyến đi Trung Quốc của tôi nhằm tìm kiếm một sự chỉ dẫn về chính trị đã thất bại. Wedemeyer và Hurley đang bận chuẩn bị đi Washington để xin chỉ thị(1) nên không thể hoặc không muốn để thì giở gặp tôi nữa.
Đáp lại yêu cầu của Heppner, Wedemeyer đã trả lời: “Thấy thế nào tốt nhất thì cứ làm!” đối với những vấn đề không thuộc phạm vi các chỉ thị hiện hành - trừ phi bị Washington bác bỏ. Thật chẳng khác gì nói “Những cái anh làm đều đúng cả, nhưng đừng có vượt qua Washington”. Nhưng lại chẳng có ai nói cho biết là Washington đang làm gì. Ba ngày thảo luận, bàn bạc đã chẳng mang lại được một kết luận đáng giá nào.
Một trong các vấn đề cần phải được chú ý là sự có mặt của các lãnh tụ Đồng minh Hội trong những người thân cận của Lư Hán. Họ mà vào Việt Nam dưới sai bảo trợ của Quốc đân Đảng thì chỉ gây ra hỗn loạn và nội chiến. Chúng tôi yêu cầu thiếu tướng R.B. Mac Clure(1) trao đổi vấn đề này với tướng Hà Ứng Khâm và nhấn mạnh đến nguy cơ tiềm tàng trong nhiệm vụ của Lư Hán. Tôi cho rằng nếu nổ ra một cuộc xung đột quy mô lớn giữa Việt Minh và Đồng minh Hội thì quân lính của Lư Hán có thể phải có nhiệm vụ chẳng hay ho gì là đàn áp người Việt Nam bằng vũ lực, do đó sẽ gây ra một tinh thần chống Trung Quốc mạnh mẽ và làm trì hoãn công việc giải giáp quân Nhật. Tướng Mac Clure hứa sẽ nói với Hà Ứng Khâm nhưng cũng không tin là sẽ có hành động gì được vì tướng Hà còn phải đương đầu với nhiều vấn đề quan trọng khác. Điều quan ngại nổi bật của Quốc dân Đảng lúc bấy giờ là phải đối phó với Cộng sản Trung Quốc đang tiếp quản một cách êm thấm và rất có hệ thống các vùng đất do Nhật chiếm trước đây ở phía bắc. Hà Ứng Khâm và bộ tham mưu của ông ta phải tập trung hết tâm trí vào việc chuyển và điều động các đội quân Quốc dân Đảng trung thành lên phía bắc Trung Quốc. Đồng thời ông ta lại phải ngăn chặn nguy cơ nổi loạn của Long Vân ở phía nam, và chống đỡ với áp lực của người Pháp và Anh đối với Thống chế trong việc chiếm lại Đông Dương.
Trước khi tôi trở về Hà Nội, tướng Mac Clure đã cho tôi biết ông đã đặt vấn đề Đồng minh Hội ra với tướng Hà nhưng không có kết quả. Hà đã không sẵn sàng can thiệp vào các cuộc thu xếp của Lư Hán. Đặc biệt là nếu chúng chống Cộng. Thảo luận với Helliwell và các nhân viên OSS khác, tôi cho rằng đứng về quan điểm của Đồng minh thì vấn đề này mang tính chất quân sự hơn là chính trị, nếu cuộc nội chiến nổ ra - và các nhân tố để gây ra đã có sẵn - thì sẽ có bắn giết và hỗn loạn, và có khả năng một số lính Nhật vũ trang nào đó sẽ tham gia. Sẽ là một tình trạng hỗn độn! Nhưng tôi cũng thống nhất với các đồng sự là chúng tôi đã làm hết cách để báo động cho các nhà đương cục và cũng không thể làm gì khác hơn.
SÀI GÒN -THEO CÁCH THUẬT LẠI CỦA NGƯỜI MỸ
Ngày 7-9, Dewey điện bản tường thuật đầu tiên của Mỹ về những việc đã xảy ra ở Sài Gòn trong ngày Lễ Độc lập. Nạn nhân người Pháp đã được rút xuống chỉ có 3 người chết và nhiều tá bị thương. Về phía Việt Nam thì khó mà tính được. Theo cảnh sát, tất cả chỉ có 19 người chết và 6 người bị đưa vào bệnh viện vì nhiều người Việt đã không đến xin thuốc, họ sợ bị nghi có tham gia cùng với các người biểu tình và sẽ bị trả thù.
Một báo cáo dễ hiểu của Dewey đã giúp giải thích cho chúng tôi nhiều hoạt động chính trị rối rắm ở miền Nam. Anh ta khẳng định việc Cédile nhảy dù xuống trong đêm 22 - 23 tháng 8, ngày 24 đã gặp một số người Pháp cánh tả lúc đó ở Sài Gòn và đến ngày 27 đã gặp Trần Văn Giàu(3).
Cũng là một sự tình cờ mà cuộc gặp gỡ đã trùng thời gian với việc Sainteny gặp Giáp và Hiền ở Hà Nội. Ở Sài Gòn, Cédile có ý định đi tới một cuộc điều đình để cùng tồn tại có thể chấp nhận được. Điều đó không thành. Cũng như ở Hà Nội, cuộc gặp gỡ ở Sài Gòn chỉ cho thấy các quan điểm của Pháp và Việt Nam về tương lai chính trị của Đông Dương hoàn toàn đối lập nhau. Cédile đã nhấn mạnh việc tương lai chính trị của Đông Dương chỉ có thể được đưa ra bàn sau khi người Pháp đã khôi phục lại được quyền hành và phải được đặt trong khuôn khổ của Bản tuyên bố ngày 24-3(4). Giàu và các cộng sự của ông giữ quan điểm là vấn đề quan hệ tương lai với nước Pháp chỉ được thảo luận với điều kiện Pháp trước hết phải công nhận nền độc lập của Việt Nam. Rõ ràng hai bên không đứng trên một lập trường chung.
Những người Troskism đã sớm biết được tin Giàu thương lượng với Cédile và ông đã không thuyết phục được người Pháp chấp nhận Việt Nam “đã độc lập trên thực tế”. Nhóm Troskism thuộc Liên đoàn Quốc tế Cộng sản(5) liền kết tội Giàu bán mình cho Pháp và tố cáo Giàu cùng đồng sự của ông ta là “phản cách mạng”. Trong những ngày tháng 8, nhóm này đã đưa ra một chương trình cách mạng xã hội trong công nhân và nông dân Nam Kỳ. Ở Sài Gòn, trật tự vẫn được duy trì cho đến ngày Chủ nhật đen tối, nhưng các vùng nông thôn thì xáo trộn mạnh mẽ hàng ngày. Nhóm Liên đoàn Quốc tế Cộng sản, kéo theo ở nhiều nơi các nhóm Cao Đài, Hoà Hảo và Bình Xuyên đã khuyến khích nông dân các vùng quê lật đổ chế độ cũ - hệ thống quan lại, chức dịch địa phương và công chức - và thay vào đó bằng các uỷ ban nhân dân. Nhiều địa chủ đã bị tước đoạt tài sản và ruộng đất được đem chia cho nông dân. Nhiều người đã bị giết.
Sự phiến động này đã bị Việt Minh phản đối, và theo Dewey thì Nguyễn Văn Tạo đã nói: “Tất cả những người nào đã xúi giục nông dân chiếm tài sản của địa chủ sẽ bị trừng trị nghiêm khắc” và “chúng tôi chưa làm cách mạng Cộng sản chủ nghĩa nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất. Chính phủ hiện nay chỉ là một chính phủ dân chủ, vì thế mà không có nhiệm vụ nói trên. Chính phủ của chúng tôi”, Tạo nhắc lại, “là một chính phủ tư sản dân chủ, mặc dù có những người Cộng sản hiện nay đang giữ chính quyền”.
Sau ngày “chủ nhật đen tối”, tờ Tranh đấu, cơ quan của nhóm Troskism, đã đăng một bài xã luận ngày 7-9, tố cáo Lâm uỷ Nam Bộ đã sai sót trong việc không có những biện pháp bảo đảm an toàn cho cuộc biểu tình, mặc dù lúc đó đã thấy có thể xảy ra một vụ hỗn loạn.
Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, một trong những người tiếp xúc đầu tiên với Dewey ở Sài Gòn, đã cho Dewey xem một bản kêu gọi dân chúng Sài Gòn - Chợ Lớn của Lâm uỷ do Giàu ký, trong lúc đó những kẻ phá trật tự và gây ra chết chóc hôm “chủ nhật đen tối” đã bị vạch mặt là bọn “khiêu khích” và còn nói thêm: “Hiện nay, những người này đã tổ chúc một cuộc mít tinh để yêu cầu vũ trang cho quần chúng”. Dewey cho rằng: nói “những người đó” là ám chỉ vào những phần tử Troskism thuộc Liên đoàn Cộng sản Quốc tế và các đảng liên kết với họ. Bản kêu gọi còn viết: “Người Nhật và các nhà chức trách Đồng minh được tin đó sợ rằng sẽ xảy ra nhiều chuyện rắc rối đổ máu mới”, và:
“Căn cứ vào sự thoả thuận quốc tế, quân đội Nhật có nhiệm vụ phải đảm bảo trật tự cho tới khi quân đội chiếm đóng Đồng minh tới và mọi người không nên quên rằng mặc dù phải đầu hàng nhưng lực lượng quân đội Nhật vẫn còn nguyên vẹn. Do đó Tổng hành dinh Nhật có thể:
1. tước vũ khí quân đội quốc gia,
2. tịch thu các súng máy và các vũ khí khác,
3. cấm chỉ các phong trào chính trị nào làm rối trật tự và an ninh,
4. cấm các cuộc biểu tình nếu không được phép trước của Tổng hành dinh Nhật, và
5. tước vũ khí quần chúng”.
Bản kêu gọi kết luận:
“Vì lợi ích của đất nước chúng ta, chúng tôi kêu gọi mọi người hãy tin cậy ở chúng tôi và đừng để bị lôi kéo bởi bọn phản bội Tổ quốc. Chỉ có như thế chúng ta mới có thể làm dễ dàng cho việc giao dịch của chúng ta với các đại diện Đồng minh”.
Ngày hôm sau, 8-9, chúng tôi được Dewey cho biết là bản kêu gọi của Giàu đã đẩy sự tranh cãi giữa Việt Minh và phái đối lập phải bật ra công khai. Nhóm Troskism, từ trước vẫn hoạt động một cách ít nhiều hoà hợp, nay ra mặt thách thức Lâm uỷ. Họ dùng cuộc mít tinh để yêu cầu cấp vũ khí cho dân chúng và kích động những người theo họ chống lại quân đội Anh(6). Các uỷ ban nhân dân ủng hộ yêu sách của họ và ở các tỉnh đã xảy ra một số xung đột giữa bộ đội Việt Minh và các đơn vị vũ trang Hoà Hảo và Cao Đài.
Cũng trong khoảng thời gian chúng tôi nhận được tin của Dewey, Quentin Roosevelt đã trao đổi với Helliwell nhiều vấn dề mà người Anh quan tâm và cũng đụng đến nhiệm vụ của chúng tôi ở Đông Dương. Một trong những vấn đề đó là bức điện của huân tước Mounbatten gửi Wedemeyer báo động việc “dân chúng An Nam gây phiến động và chuẩn bị phá rối trật tự”. Ông có ngụ ý sẵn sàng tiếp quản phần việc “trong Chiến trường Trung Quốc”.
Một tin khác có liên quan đến cuộc thương lượng giữa Anh và Pháp đang được tiến hành. đầu tháng 9. Báo chí Pháp đã tiết lộ nhiều chi tiết về cuộc điều đình này và đại sứ Mỹ Caffery đã báo cho Washington biết đó là vấn đề một “Bộ máy cai trị dân sự Pháp” được xem như là chính quyền duy nhất ở phía nam vĩ tuyến 16 của Đông Dương. Sự có mặt nhất thời của quân Anh chỉ là một vấn đề ngoại lệ chủ yếu nhằm xúc tiến việc tiếp nhận đầu hàng của Nhật và đảm bảo cho tù binh và tù thường dân Đồng minh hồi hương. Các nhà chức trách Pháp ở Trùng Khánh và Kandy hy vọng rằng điều thống nhất dã được nêu lên đó sẽ sớm thành một “việc đã rồi” vào tuần lễ đầu tháng 9. Nhưng thực ra thì đến tận ngày 9-10, điều đó chưa được hai bên thương lượng ký kết.
Những cuộc vận động mờ ám đó của người Anh đã gây ra một bất đồng nguy hiểm giữa Anh và Mỹ, một nguy cơ mà thực ra chúng tôi ở Trung Quốc, không được chuẩn bị để đối phó. Đến thời kỳ kết thúc chiến tranh, Mỹ đã tự đặt mình trên cương vị một người trung gian môi giới giữa Pháp - Trung Quốc, giữa Anh - Trung Quốc và giữa Pháp - Việt Nam. Nếu đó quả thực là vai trò của chúng tôi ở Trung Quốc thì Bộ chỉ huy Chiến trường cũng như Đại sứ quán đều đã không nhận được chỉ thị nào như thế. Vì vậy mọi nguười đều mong rằng Wedemeyer và Hurley đến dự hội nghị ở Washington dự định vào giữa tháng 9 sẽ giải quyết được bằng cách này hay cách khác các vấn đề nói trên của chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 01:05:14 PM
TÀI LIỆU CHO WEDEMEYER
Ở Côn Minh tôi đã chuẩn bị một tập hồ sơ cho “quyển sách đen” của Wedemeyer, một bản báo cáo đánh giá tổng hợp của OSS - Trung Quốc về tình hình Đông Dương khi kết thúc chiến tranh(7). Theo tôi, bản báo cáo đã nêu lên được nhiều điểm có giá trị trong khuôn khổ các sự kiện và các quyết định đã xảy ra sau đó và dẫn tới sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam…
… Sau này tôi được biết là tập hồ sơ đã được trao cho tướng Tổng tham mưu trưởng ngày 10-9 để ông đi Washington. Tôi không rõ ông có đọc hoặc dùng phần nào trong cuộc họp không, nhưng dù cho có một cấp lãnh đạo chính trị nào đã ngó tới nó thì tác dụng của nó cũng đã phải bị gạt bỏ.
KẾ HOẠCH CHO OSS SAU CHIẾN TRANH
Khi tôi còn ở Côn Minh, Heppner đã thông báo cho tôi biết về những sự thay đổi có thể có trong cơ cấu tổ chức của OSS. Từ sau hội nghị Potsdam, Donovan đã sang phía Đông để gặp Taylor ở Kandy và Heppner ở Côn Minh, báo trước cho hai thủ trưởng OSS ở Viễn Đông về kế hoạch sau chiến tranh của ngành tình báo. Donovan cho biết đã được xúc tiến báo cáo thanh toán với Uỷ ban ngân sách( 8 ) và sẽ kết thúc nhiệm vụ thời chiến vào cuối tháng 12-1945… Đề án cải tổ OSS của ông đề đạt từ 1944 đã không thực hiện được vì những xung đột chính trị ở trong nước và sự tranh chấp giữa các cơ quan tình báo quân sự và dân sự. Nhưng Donovan đã dự định cho OSS ngừng hoạt động ngay sau Ngày Chiến thắng.
Ở Chiến trường Trung Quốc, sẽ có một tổ chức giao thời là Nha Tình báo(9) bao gồm tất cả cơ sở các tổ chức OSS cũ ở Trung Quốc. Vào cuối tháng 9, cả hai tổng hành dinh OSS và Chiến trường đều chuyển về đóng ở Thượng Hải. Nhân viên còn lại ở Trùng Khánh đi theo chính phủ Tưởng về Nam Kinh, tiếp tục công tác tình báo chính trị.
Đối với tôi đó là một việc cải tổ tất nhiên và bình thường, nhưng người Pháp đã nắm lấy cơ hội đó để tung ra một chiến dịch chống Mỹ mới. Từ Hà Nội, Bernique đã điện cho tôi hay là người Pháp ở đây đã loan báo rộng rãi tin tức nói là tôi bị gọi về Washington vì tội có “hoạt động thân Việt Minh” và toàn bộ OSS ở Đông Dương cũng sắp bị rút về. Helliwell phát cáu lên, tôi nói phải trở lại Hà Nội ngay tức khắc và phải chặn đứng những điều xằng bậy đó.
Do đó, chủ nhật ngày 9-9, tôi đã trở lại Hà Nội mà vẫn chưa nhận được một sự hướng dẫn có tính chất quyết định nào về chính sách của Mỹ nhưng vẫn ấp ủ hy vọng là sự có mặt của Hurley và Wedemeyer ở Washington sẽ giúp giải quyết các nghi ngại và lo lắng của chúng tôi.
Chú thích
(1) Hai người rời Trung Khánh ngày 19-9-1945
(2) tướng Robert B. Mc Clure, tham mưu trưởng quân Mỹ ở Chiến trường Trung Quốc, kiêm Phó tư lệnh của Tổng tư lệnh Hồ Hán Dân.
(3) Trong cuộc gặp cũng có mặt Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Văn Tạo
(4) của Bộ trưởng Thuộc địa, chính phủ lâm thời Pháp, về chính sách đối với Đông Dương, ngày 24-3-1945
(5) Nhóm tả khuynh của Troskism
(6) Trung tá Cass (Anh) đã đổ bộ vào Sài Gòn ngày 6-9 cùng một đơn vị Ấn Độ thuộc sư đoàn Ấn Độ thứ 20 và đội đặc nhiệm 136 của một nhóm nhân viên SLFEO.
(7) R&A của OSS và các nhân viên sứ quán ở Trùng Khánh đã giúp chuẩn bị bản báo cáo này.
( 8 ) Cố vấn kinh tế của Sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh đã lập nhóm Kinh tế
(9) trước là Nha Mật vụ SI



Tiêu đề: Re: Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) - Archimedes Patti
Gửi bởi: ngao5 trong 13 Tháng Tám, 2008, 01:11:27 PM
Chương 30
Quân phiệt và bọn đầu cơ chính trị
NHỮNG CON TẮC KÈ TRUNG QUỐC
Còn 15 phút bay nữa thì tới Hà Nội, khi phi cơ bay dọc theo đường thuộc địa số 2, phi công gọi chúng tôi phải chú ý đến một dòng người rất dài đang hỗn độn kéo về phía Nam. Máy bay hạ xuống thấp hơn và dòng người đi hiện rõ ra trước mắt. Đó là một mớ lẫn lộn nào xe quân sự, xe đạp, xe bò kéo xen lẫn vào những đám đông người đi bộ chập chờn, khó tả. Nhiều người gánh gồng hoặc đeo những bó tướng trên lưng, lùa đi hoặc dắt theo súc vật chăn nuôi. Chúng tôi còn thấy cả lồng gà, ngỗng, các đàn lợn, trâu và nhiều con vật khác được kéo theo đi trên đường… Đó chính là đội quân chiếm đóng của Tưởng Giới Thạch…
Máy bay chúng tôi hạ xuống Gia Lâm vào sáng chủ nhật 9-9. Hôm đó cũng là ngày đánh dấu buổi đầu của một chương mới trong lịch sử Cách mạng tháng Tám, ngày mà đám quân của Lư Hán đến Hà Nội, không bị chống đối nhưng cũng chẳng được hoan nghênh. Đó là những người Trung Quốc đại diện cho các nước Đồng minh châu Âu chiến thắng, tuy chưa phải thật sự là những nước lớn. Nhưng trước mắt người Việt, họ chỉ là những tên đầy tớ của thế giới phương Tây được phái đến để kìm giữ Việt Nam trong vòng nô lệ phục dịch cho quyền lợi của ngoại quốc. Ba mươi năm sau, trong hồi ký “Những năm tháng không bao giờ quên”, Võ Nguyên Giáp vẫn còn nhắc đến mối ác cảm của nhân dân Việt Nam đối với quân đội Lư Hán lúc đó…
Ở sân bay, tôi không thấy người Trung Quốc mà chỉ thấy nhân viên phục vụ người Nhật. Khi qua cầu Doumer (Long Biên), xe tôi bắt gặp một đơn vị hậu tập của Sư đoàn 93 Vân Nam Trung Quốc. Một sĩ quan, nhận ra lá cờ Mỹ nhỏ ở đầu xe, đã ra lệnh cho lính dạt vào bên phải, nhanh nhẹn chào và vẫy tay. Ở đầu hàng quân, một số phân đội rất có kỷ luật đã chuyển từ đi thường sang đi nghiêm theo nhịp của đội quân nhạc. Vì đã quá quen với các đơn vị quân đội vô kỷ luật ở Trung Quốc, tôi khá xúc động trước sự xuất hiện của các đơn vị đặc biệt này. Họ mang quân phục màu xanh chững chạc và vác các vũ khí Mỹ của họ một cách hãnh diện.
Suốt ngày hôm đó, quân đội Trung Quốc tiếp tục đến. Và đến chiều tối, đoàn xe tải và xe Jeep của sĩ quan và nhân viên tham mưu làm một cuộc diễu binh lớn để vào thành phố. Lính Nhật đứng ở trong các ô cửa và cố gắng không để mọi người dễ thấy trong khi người Việt Nam nhìn một cách thèm muốn những vũ khí và xe cộ Mỹ ở trong tay của người Trung Hoa. Người Việt Nam như những người tò mò đứng ngoài xem, dáng tự hào mà không kiêu căng, tỏ ra quan tâm và chưa có gì chống đối hoặc dễ bảo. Còn người Âu thì vắng bóng.
MỘT SỐ NGƯỜI PHÁP TỰ DO
Khuya hôm đó, có nhiều người Pháp “tự do” không ở trong số thân cận Sainteny đã tới nhà Gauthier, mang đến cho tôi những tin tức từ Sài Gòn và về tình hình trong “Thành Mordant”, tên họ gọi một cách châm biếm phong trào kháng chiến của Pháp ở Hà Nội. Hai người trong số họ thuộc Đảng Xã hội Pháp, một người là hội viên tích cực của phong trào Cộng hoà Bình dân Thiên Chúa giáo. Họ từ Alger đến từ tháng 1-1945 để công tác cho trường đại học Hà Nội, sau khi đã tham dự vào cuộc khởi nghĩa Paris (8-1944) trong lực lượng kháng chiến nội địa Pháp. Hoạt động chống Nhật cùng với số sinh viên ở Việt Nam Học xá nhưng họ kín đáo nên đã thoát chết sau cú 9-3 và đã cộng tác với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và Tạ Quang Bửu trong việc tổ chức sinh viên Hà Nội thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Tôi và họ vẫn thường gặp nhau để trao đổi tin tức và nhận xét tình hình.
Chiều hôm đó, họ tỏ rất quan tâm đến sự có mặt “kinh khủng” của người Trung Quốc trong thành phố. Họ sợ rất có thể nổ ra cuộc xung đột tai hại giữa người Trung Quốc và Việt Nam cường các lực lượng của Pháp là còn cần thiết và nên làm, ngay cả khi xảy ra rối loạn. và sẽ là một cái cớ cho những người theo De Gaulle vin vào đó để dùng quân đội của Leclerc can thiệp. Tôi phát biểu là sau khi đã được thấy những đơn vị rất có kỷ luật của Trung Quốc, tôi không tin là việc tăng
Ông Gouin(1), đảng viên Xã hội chuyển câu chuyện sang nói về De Gaulle và nước Pháp, cho rằng trong lúc này, mặc dầu đã mất Syrie(2) nhưng Đế quốc Pháp vẫn còn nguyên vẹn. Ở Pháp, có thể trừ De Gaulle ra thì chẳng ai quan tâm nhiều đến những gì đang xảy ra ở Đông Dương. Theo Gouin, đó cũng là một điều dễ hiểu. Mùa đông 1944-1945, đời sống ở Pháp đã trở nên cực kỳ khó khăn… Nội chính hoàn toàn hỗn loạn và De Gaulle, một lãnh tụ tầm cỡ quốc tế đã phải chịu một đòn tai hại không thể tưởng được vì đã bị gạt ra ngoài cuộc hội nghị nguyên thủ các nước ở Yalta và Potsdam. Điều đó là một thử thách nghiêm trọng đối với toàn bộ “chính sách cao siêu” của De Gaulle và ông đã không chấp nhận điều sỉ nhục đó. Người ta cũng đã phải làm một ít gì đó để phục hồi lại cho nước Pháp vị trí xứng đáng trong hàng ngũ các cường quốc lớn thế giới.
Những người khác gật đầu tán thành và ông bạn Lebrun(3), phái Cộng hoà Bình dân của chúng ta đã nêu lên vai trò cứu thế mà “Charles vĩ đại” (De Gaulle) đã tự gán cho mình. Lebrun nhắc lại việc De Gaulle đã rất đau lòng khi người Mỹ vì lý do này khác đã khước từ đề nghị của ông được tham gia vào chiến tranh Thái Bình Dương. Ông cảm thấy sâu sắc rằng đó là một điểm danh dự của nước Pháp vì đã tỏ ra có đủ tư cách để yêu cầu được dự phần trong hoạt động ở Viễn Đông. Theo Lebrun, De Gaulle quan niệm cú 9-3 của Nhật ở Đông Dương lại là một điều may mắn hơn là tai hoạ cho Pháp.
Vài năm sau, khi đọc hồi ký của De Gaulle(4), tôi đã nhớ lại những lời bình luận này của Lebrun…
Các vị khách Pháp đã chất vấn tại sao người Mỹ chúng tôi đã rộng tay để cho Tưởng chiếm đóng bắc Đông Dương? Tại sao chúng tôi lại chia cắt nước này ra làm hai? Phải chăng Mỹ và Anh đã có mưu đồ chính trị, kinh tế ở Đông Nam Á và muốn gạt nước Pháp ra khỏi kế hoạch của họ? Họ có cảm tình với các hoài bão của người Việt Nam nhưng họ cũng còn là người Pháp và tin rằng Pháp có đủ khả năng thực hiện một nền công bằng xã hội. Một khi mà khối liên minh Xã hội - Thiên Chúa giáo - Cộng sản lên cầm quyền ở Pháp thì Việt Nam sẽ được công nhận như là một nước chị em trong cộng đồng các quốc gia nói tiếng Pháp.
Tôi tự nhiên cảm thấy họ có cái gì dó rất giống với Sainteny và các bạn theo De Gaulle của ông ta. Họ tỏ ra rất phẫn nộ và nói là chắc tôi đã biết rõ hơn. Tôi trả lời là đã nghe quá nhiều những lời xuyên tạc cho rằng Mỹ có trách nhiệm trong việc chia cắt Đông Dương và nói rộng ra, với hàm ý là Mỹ có những động cơ đen tối về kinh tế. Gouin đồng ý với tôi và hỏi cho biết sự thật là như thế nào? Ông thấy khó mà bảo vệ được lập trường của Đồng minh nếu như không nắm được thực chất của vấn đề.
Tôi đã trình bày một cách tỉ mỉ quyết định, trước khi có hội nghị Potsdam, của tham mưu trưởng Liên quân Mỹ nhằm điều chỉnh lại các giới tuyến chỉ huy ở Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương và giải thích sự cần thiết phải tập trung lực lượng Mỹ vào cuộc tấn công chủ yếu vào chính nước Nhật. Chính vì thế Mỹ không cần thiết và không có lợi lộc gì trong việc tiếp tục ngăn chặn hoặc đánh đuổi Nhật trong các vùng đất đai còn lại của thuộc địa Anh, Hà Lan, Pháp ở Đông Nam Á. Và sau các cuộc thảo luận trong giới lãnh đạo quân sự Đồng minh, thì chỉ đi đến một quyết định hoàn toàn quân sự; không có một cái gì khác. Sau này, người ta cũng có thể nói rằng trong khi người Mỹ chỉ chú tâm đến vấn đề quân sự thì người Anh lại lo lắng nhiều hơn đến việc bảo vệ quyền lợi thực dân của mình và họ vui mừng trước thái độ “chống thực dân” của người Mỹ.
Việc lên án Mỹ lợi dụng vấn đề điều chỉnh giới tuyến cho những mục đích kinh tế đã được bộ máy tuyên truyền của Sainteny thổi phồng lên bằng cách tung tin có một sự thoả luận “bí mật” ở Yalta nhằm “cướp đoạt” địa vị chính đáng của Pháp ở châu Á và quyết định ở Potsdam chỉ là một trong những quyết định cốt để xoa dịu Tưởng, đền bù cho việc bị mất cho người Nga những đất đai ở Trung Quốc. Mặc dù tôi đã làm hết sức mình để giải thích chống lại những điều xuyên tạc nói trên nhưng những điều đó vẫn được các cây bút Pháp, Anh và Mỹ(5) liên tục nhắc đi nhắc lại đến mức một độc giả không chuyên về lịch sử vẫn có thể chấp nhận đó là nhũng sự thật. Nhưng thực ra chúng không đúng.
MỘT ĐỘI QUÂN XÂM LƯỢC
Suốt đêm hôm đó, quân Lư Hán tràn vào thành phố, ầm ầm tiếng xe cộ đi lại, tiếng máy nổ, tiếng hô các hiệu lệnh… Nhưng chỉ sáng hôm sau, chúng tôi đã chứng kiến một cảnh tượng trái ngược hẳn. “Quân đội” Trung Quốc đã biến chất đi một cách ghê gớm!
Đội quân tinh nhuệ hôm qua đã trở thành đội quân đi cướp chiếm đất. Ra phố, tôi chỉ thấy một cảnh tượng lộn xộn không thể tả được cùng với những người Trung Quốc lang thang không mục đích…
… Không còn thấy bóng các đơn vị có kỷ luật mang quân phục màu xanh, tiến bước theo tiếng quân nhạc đâu nữa. Họ đã được phân tán vào trong góc Thành trên bãi cỏ trước dinh Toàn quyền, trong các trại cũ của Pháp và Việt. Chỉ còn thấy các đơn vị dân binh Trung Quốc quần áo rách rưới lộn xộn, đi dép cao su làm từ các lốp xe Jeep Mỹ và mang đủ các loại vũ khí linh tinh Mỹ, Pháp, Anh và Nhật.
Cái đống nhân mạng vô thừa nhận này chính là đội quân Vân Nam của Lư Hán; nó giống như một đám quân tụt hậu hỗn độn đang rút lui chứ không phải là một đội quân chiến thắng đến để giải giáp và tiếp nhận sự đầu hàng của quân thù.
Người Việt Nam, trong đó có Võ Nguyên Giáp, vẫn nghe ngóng, đón chờ và sẵn sàng trước đoàn người di trú kỳ dị này…(6).
Những ngày tiếp theo là những ngày tôi hiểu sâu thêm về phong cách cư xử phương Đông. Những người Trung Quốc mới tới, lác đác có một số cố vấn Mỹ đi cùng, đã tạo ra bầu không khí vừa có sự tha thiết vô tư, vừa gợi sự tò mò cá nhân lẫn với một sự sợ sệt cho mọi người. Sự thân thiện giữa người Việt Nam và những người mới tới chỉ ở mức tối thiểu. Chỉ có sự giao tiếp theo phép xã giao cần thiết và nhất thời và ngôn ngữ khác nhau đã làm trở ngại cho mọi sự tiếp xúc rộng rãi giữa hai nhóm người. Nhưng những đồ Mỹ sản xuất, xe cộ, điện đài và vũ khí súng ống ở trong tay người Trung Quốc chỉ làm tăng thêm sự tò mò của những người Việt Nam táo bạo. Các nhà buôn đã thay đổi mặt hàng ngay từ ban đêm. Chỉ những gì ế ẩm mới được trưng ra và với giá đã được tăng lên rất cao. Các cửa và cửa sổ hướng ra thành phố đều bị đóng khoá chặt. Ngay giữa ban ngày, không có người phụ nữ Việt Nam và Âu nào dám đi ra phố mà không có nam giới đi cùng…
Nhưng cộng đồng người Hoa ở Hà Nội là một ngoại lệ. Ban đầu họ xô ra đường để đón chào các đồng hương của họ. Nhưng sau khi đoàn hậu quân đã tới thì sự phấn khởi của dân địa phương cũng tan biến đi. Hơn nữa, vì lo cho tương lai, các nhà lãnh đạo cộng đồng người Hoa ở đây muốn được có an ninh nên đã yêu cầu phái đoàn chúng tôi chuyển cho Lư Hán bức điện sau đây:
“Hoa kiều ở Hà Nội xin gửi đến ngài những lời chào mừng nhiệt li