Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Quyết tử cho Tổ quốc... => Tác giả chủ đề:: menthuong trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:45:46 PM



Tiêu đề: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:45:46 PM
 
1- Những ngày chiến đấu giữa vòng vây:


Nhân loại vừa bước qua một cuộc chiến kéo dài, thiệt hại lớn nhất: Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945). Từ đó "Trật tự hai cực Ianta" đã được thiết lập và từng bước phát triển. Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế của tất cả các nước có chủ quyền, được thành lập từ 26/6/1945 đã có những vai trò nhất định. Tuy nhiên, do lập trường , bản chất giai cấp của nhà nước khác nhau nên có sự khác biệt giữa "cực" Liên Xô và "cực" Mĩ, dần hình thành sự đối đầu gay gắt giữa hai "cực", dẫn đến sự đối đầu giữa hai khối Đông-Tây, hình thành cuộc "Chiến tranh lạnh" và cuốn hút từng quốc gia, từng khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc đối đầu này.

"Cực" Liên Xô luôn làm hậu thuẫn, là chỗ dựa  cho phong trào Cách mạng, cho hòa bình thế giới. "Cực" Mĩ luôn ra sức cấu kết, giúp đỡ các thế lực phản động chống phá Cách mạng, âm mưu vươn lên vị trí "thống trị" thế giới. Đế quốc Mĩ, âm mưu "đảm nhiệm sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do", "chống lại "sự đe dọa" của chủ nghĩa cộng sản", vươn lên ngôi vị bá chủ thế giới, đã ra sức giúp đỡ bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc, Lý Thừa Vãn ở Hàn Quốc, Bảo Đại ở Việt Nam; đồng thời giúp Anh đánh Mã Lai, giúp Pháp tái xâm lược Việt Nam. Sự đối đầu 2 cực đã chi phối hoạt động chính trường thế giới và ít nhiều đã ảnh hưởng đến Việt Nam chúng ta.

Tại Trung Quốc, tuy đã có Hiệp định Song Thập Quốc - Cộng kí 10/10/1945 nhưng do dựa vào Mĩ, ngày 20/7/1946 Tưởng đã phát động cuộc tấn công quy mô lớn vào các vùng giải phóng do Đảng Cộng sản lãnh đạo làm bùng nổ cuộc nội chiến. Như vậy, vào lúc này chưa có quốc gia nào, kể cả Liên Xô và Đông Âu, công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta. Do đó có thể nói khi đó  chúng ta vẫn ở tình trạng "Chiến đấu trong vòng vây" , chưa liên hệ, chưa nhận được sự chi viện giúp đỡ của Cách mạng và nhân dân tiến bộ thế giới .  Đến tháng 4/1947 ta mới đặt Cơ quan đại diện của Chính phủ tại nước ngoài đầu tiên ở Băng Cốc (TháI Lan) và đến tháng 1,2/1950 Trung Quốc,Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân công nhận Chính phủ VNDCCH ta mới phá được thế bao vây,cuọc kháng chiến được đẩy lên mọt bước..

Những vấn đề quốc tế và khu vực nêu trên đều có ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến cuộc kháng chiến, đến định hướng xây dựng lực lượng của ta.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:46:46 PM
2- Tuổi mười sáu Đảng vào bí mật:


Sau khi giành chính quyền vào 19/8 và tuyên bố Độc lập vào ngày 02/9/1945, trong điều kiện trứng nước, chúng ta đứng trước bao khó khăn thách thức, phải đối phó với rất nhiều loại kẻ thù. Để tranh thủ thời gian chuẩn bị, để gạt mũi nhọn tiến công của kẻ thù vào Đảng, ngày 11/11/1945, Đảng ta tuyên bố tự giải tán. Do đó mọi danh xưng về Đảng thời gian này đều không được nói rõ, cần thiết chỉ gọi là "đoàn thể".

Về mặt chính quyền, sau khi được bầu ra tại cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946, Quốc hội đã họp Kì thứ Nhất ngày 02/3 thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến với 10 bộ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch với nhiều thành viên là những nhân sĩ, 4 ghế Bộ trưởng dành cho bọn “Việt Quốc”, “Việt Cách”.

Nhưng sự thật là Đảng không giải tán mà rút vào hoạt động bí mật. Bộ phận công khai của Đảng được xuất hiện với danh hiệu Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Thực hiện sách lược “bôi trắng cái đầu”, Bộ trưởng Quốc phòng giao cho Luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Nội vụ giao cho nhà trí sĩ Huỳnh Thúc Kháng. Về thực chất, Đảng vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo chính quyền và nhân dân, đặc biệt là lực lượng quân đội, công an. Tháng 01/1946 Trung ương Quân uỷ được thành lập do đ/c Võ Nguyên Giáp làm Bí thư có nhiệm vụ giúp Trung ương Đảng lãnh đạo và tổ chức quân đội thì mọi hoạt động của Quân đội đều do Quân ủy quyết định; các công tác lớn của Công an vẫn do đ/c Võ Nguyên Giáp, đ/c Trường Chinh và Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:48:05 PM
3- Nền cộng hòa  vừa mới khai sinh:

Tổng khởi nghĩa thành công, giành thắng lợi trên cả nước. Nhưng Uỷ ban dân tộc giải phóng được Đại hội quốc dân thành lập trong phiên họp ngày 16, 17/8 tại Tân Trào (Tuyên Quang) chưa về Hà Nội đủ và đó cũng chưa phải là Chính phủ, chưa ra mắt quốc dân đồng bào và thế giới. Vấn đề lập Chính phủ và tuyên cáo về nền Độc lập là cần kíp lúc bấy giờ. Ngày 28/8 Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập trên cơ sở cải tổ Uỷ ban dân tộc giải phóng. Sau khi Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập (28/8/1945) rồi Quốc hội bầu ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến (02/3/1946), nước Việt Nam mới đã có chính quyền thống nhất trên cả nước. Nhưng chính quyền non trẻ đứng trước bao khó khăn thử thách. Khi quân Nhật  đầu hàng Đồng minh, bọn Pháp lẩn trốn sau 9/3 từ Vịnh Hạ Long, từ Vân Nam quay về, số bị Nhật bắt giam ra trại, số nằm im từ ngày đó cũng ngóc đầu dậy. Đó là mối đe dọa từ khi ta vừa khởi nghĩa thành công, sau đó là mối hiểm nguy đến từ sự kiện Đồng minh vào áp giải quân Nhật.

Dưới danh nghĩa quân Đồng minh và được Mĩ bảo trợ, quân đội của Tưởng, Anh ngay lập tức lũ lượt kéo vào nước ta. ở miền Bắc 20 vạn quân Tưởng gồm 4 Quân đoàn "Hoa quân nhập Việt" của tướng Lư Hán ồ ạt vào Hà Nội và hầu hết các tỉnh. Danh nghĩa là "giải giáp quân đội Nhật" nhưng chúng nuôi dã tâm: tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền tay sai phản động. Nhiệm vụ ấy được đích thân Tưởng Giới Thạch giao cho tên tướng quân phiệt của tập đoàn Quảng Tây là Tiêu Văn đảm trách. Theo chân quân Tưởng, bọn Việt Quốc, Việt Cách kéo về nước thực hiện các vụ bắt cóc, tống tiền, ám sátẶ gây rối loạn trật tự, trị an và mưu toan cướp chính quyền. Lợi dụng tình hình đó, bọn Tưởng vu cáo ta, đe doạ lật đổ chính quyền nhưng vẫn đòi ta cung cấp lương thực, thực phẩm…

ở miền Nam, quân đội của đế quốc Anh do Tướng Goraxay chỉ huy cũng kéo vào "giải giáp quân đội Nhật", bám theo là những đơn vị bộ binh và xe bọc thép của quân đội viễn chinh Pháp, dọn đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương. Lợi dụng tình hình trên, bọn phản động trong nước (Đại Việt, Phục quốc, Trotkis. . . ) cũng ráo riết hoạt động chống phá Cách mạng. Thêm vào đó, số quân Nhật còn lại đã thực hiện hiệu lệnh của quân Anh dùng súng chống lại LLVT của ta.

 Trong khi ấy, tiềm lực mọi mặt của nhà nước  non trẻ chưa được củng cố. Mặt khác, do ảnh hưởng của chiến tranh tàn phá, ảnh hưởng của chế độ cũ nên sản xuất đình đốn, nạn đói đe doạ, ngân sách trống rỗng, tệ nạn xã hội còn phổ biến.
Những vấn đề đó đặt nước Việt Nam mới trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc".


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:49:13 PM
4- Cuộc chiến đấu bắt đầu quyết liệt :

Để tập trung lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, ta thực hiện "Hoa-Việt thân thiện", chủ trương hoà hoãn, nhân nhượng, đẩy lùi từng bước âm mưu chính trị, quân sự của quân đội Tưởng và tay sai. Đồng thời Pháp cũng cố công tìm một giải pháp chính trị thích hợp là: thương lượng với Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh, điều đình với Chính phủ ta để đưa quân ra Bắc. Về sự kiện này, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã nhận định: "Trước sau Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp miễn là Pháp nhượng cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng". Trong bối cảnh đó, Hiệp ước Hoa - Pháp  được ký kết ngày 28/02/1946 tại Trùng Khánh. Đây là sự chà đạp thô bạo chủ quyền độc lập tự do của Việt Nam. Trước tình thế và căn cứ vào so sánh lực lượng khi ấy, BTV TW họp ngày 03/3/1946 đã chọn giải pháp "hoà để tiến". Thực hiện chủ trương đó và để có thời gian củng cố chính quyền non trẻ, xây dựng đất nước, củng cố lực lượng ta buộc phải kí với Pháp Hiệp định sơ bộ 06/3  và sau đó là Tạm ước 14/9 .

 Tận dụng thời cơ đó chúng ta đã tranh thủ mở rộng khối đại đoàn kết; xây dựng hệ thống chính quyền nhân dân và pháp luật; xây dựng LLVT; khắc phục nạn đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Nhưng không bao lâu, kẻ địch đã bội ước, lấn tới. Ngay từ tháng 4/1946 Pháp đã tấn công phòng tuyến của ta ở Nam Bộ rồi chúng lập ra cái gọi là “Chính phủ Nam Kì tự trị” (01/6/1946), ngang nhiên nắm quyền kiểm soát thuế quan ở Hải Phòng.

Cuối năm 1946 chúng tiến công đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng, Hải Dương, tiến hành khiêu khích tại Hà Nội. Ngọn lửa chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp sắp đến giờ bùng cháy trên toàn quốc.

Quân dân ta khẩn trương chuẩn bị nhưng vẫn bình tĩnh chịu đựng, xây dựng củng cố thành quả vừa mới vào bước sơ khai. Để từ ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, toàn dân, toàn quân ta bước vào thời kì mới, thời kì kháng chiến toàn dân, toàn diện. Tận dụng thời gian để chuyển hoá sức mạnh là chiến thuật khôn khéo, tài tình của Đảng và Hồ Chủ tịch. Sự chuẩn bị đó là điều kiện đảm bảo cuộc kháng chiến giành thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:52:15 PM
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch

Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946

Hồ Chí Minh

(Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)


Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%9Di_k%C3%AAu_g%E1%BB%8Di_to%C3%A0n_qu%E1%BB%91c_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 05:06:35 PM
Lào Cai trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến


LCĐT - Trước ý đồ của thực dân Pháp muốn xâm lược nước ta một lần nữa, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Trong lúc đó, do điều kiện lịch sử nên Lào Cai vẫn còn nhiều khó khăn...

Sau cách mạng Tháng Tám 1945 không lâu, bọn Quốc dân đảng phản động theo chân quân Tưởng tràn vào chiếm đóng phần lớn tỉnh Lào Cai (trừ Mường Khương, Pha Long và Phong Thổ còn do các thổ ty kiểm soát). Những tháng cuối năm 1946, quân chủ lực của ta phối hợp với các địa phương tấn công bọn Quốc dân đảng và lần lượt giải phóng: Phố Lu (28/10), Sa Pa (8/11), thị xã Lào Cai (12/12), Bát Xát (30/12)...

Giữa bao bộn bề, gian khó của một tỉnh miền núi, vùng cao vừa thoát khỏi ách chiếm đóng của Quốc dân đảng, dưới sự lãnh đạo của Ban Cán sự Đảng, tỉnh Lào Cai tập trung giải quyết những khó khăn, tích cực chuẩn bị lực lượng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc chống thực dân Pháp. Công việc cấp bách là Ban Cán sự Đảng chỉ đạo việc thành lập chính quyền cách mạng các cấp. Tháng 12/1946, Ủy ban nhân dân cách mạng mang tính chất quân quản cấp tỉnh và huyện được thành lập, trực tiếp đứng ra giải quyết những công việc: ổn định đời sống nhân dân, giữ trật tự an ninh địa phương, khắc phục nạn mù chữ, nạn đói, tuyên truyền chính sách của Mặt trận Việt Minh và đường lối kháng chiến trường kỳ của Đảng.

Ngày 5/3/1947 Đảng bộ tỉnh Lào Cai họp hội nghị bầu Ban Chấp hành chính thức và đề ra nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhằm tăng cường lực lượng toàn dân tham gia cách mạng, Tỉnh uỷ chủ trương đưa các thổ ty có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân tham gia vào chính quyền các cấp. Tuy nhiên, do hiểu rõ bản chất của thổ ty nên để đảm bảo cho chính quyền thực sự là cách mạng, Tỉnh ủy Lào Cai bàn rất kỹ và theo đề nghị của tỉnh, Trung ương và Khu ủy cho phép Lào Cai thực hiện chế độ đặc phái viên bên cạnh chính quyền các cấp. Tháng 4/1947, chính quyền quân quản được bãi bỏ, Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến của tỉnh và các huyện được thành lập. Tỉnh ủy chọn những cán bộ giỏi, có năng lực, kinh nghiệm vận động quần chúng giữ cương vị đặc phái viên trong chính quyền các cấp với danh nghĩa là đặc phái viên liên Bộ Nội vụ - Quốc phòng của Chính phủ. Tranh thủ điều kiện thuận lợi, cán bộ tuyên truyền, giáo dục giác ngộ cách mạng cho quần chúng và đã xây dựng được một số cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào các dân tộc. Trong thời gian này, tỉnh cho huỷ bỏ tất cả các thứ thuế, phu phen, tạp dịch do Pháp, Nhật và Quốc dân đảng đặt ra. Đồng thời tiến hành công tác cứu đói, bán muối, vải giá rẻ cho nhân dân đến tận các thôn bản. Từ đó nâng cao được uy tín mạnh mẽ trong nhân dân, được nhân dân quý mến, ủng hộ.

Trước tình hình quân Pháp mở rộng xâm chiếm tới vùng núi, Tỉnh ủy Lào Cai chỉ đạo tổ chức cho cán bộ, nhân dân quán triệt sâu sắc đường lối, nhiệm vụ kháng chiến: Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Trung ương Đảng, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch, tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh.

Cuối tháng 6, đầu tháng 7/1947, thực dân Pháp hình thành thế bao vây và nổ súng thăm dò chuẩn bị tiến đánh Lào Cai. Thấy Pháp tấn công Lào Cai, các thổ ty trong tỉnh tụ tập tại Mường Khương bàn kế hoạch phối hợp với quân Pháp tấn công cách mạng. Đảng bộ Lào Cai xác định không thể tiếp tục thực hiện kế hoạch lôi kéo thổ ty. Đảng bộ tuyên truyền, vận động nhân dân trong tỉnh chính thức bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ cùng nhân dân cả nước. Cán bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh góp sức người, sức của cùng làm nên chiến thắng 1/11/1950 giải phóng Lào Cai và chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5/1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nguồn: Hải Xuyên (báo Lào Cai) 


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 05:40:11 PM
Thế cuối cùng thì câu trả lời là vì sao? ::)
Đọc đi đọc lại mà không thấy có gì sáng tỏ thêm cả :P


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 19 Tháng Mười Hai, 2009, 09:00:35 AM
Bài viết sau của Vương Liêm sẽ là một phần lý giải:

Với âm mưu thôn tính nước ta lần thứ hai, sau khi Chính phủ Việt Nam DCCH ra đời ngày 2/9/1945, quân Anh và Tưởng Giới Thạch lợi dụng nghị quyết của hội nghị Posdam (Đức) của các nước lớn Đồng Minh là Anh, Mỹ, Trung Quốc đưa quân vào Việt Nam để giải giới quân Nhật, Trưởng phái bộ Anh và Tưởng Giới Thạch đều ngầm cho thực dân Pháp ngóc đầu dậy nên đã lấy vũ khí của quân Nhật giao cho quân Pháp gây áp lực nhiều nơi.

Ngày 8 và 10/9/1945, phái bộ Anh buộc ta phải thả những tên Pháp gây rối bị ta bắt trong ngày mít tinh mừng Quốc khánh đầu tiên 2/9 bị giam giữ ở khám Lớn Sài Gòn (nay là Thư viện Khoa học tổng hợp đường Lý Tự Trọng Q.1, TP. Hồ Chí Minh) và gởi thư yêu cầu UBND Nam Bộ giao lại trụ sở cho họ (dinh Thống đốc Nam Kỳ cũ, nay là Bảo tàng cách mạng thành phố gần với Thư viện). Tức nhiên phía Cách mạng không thể theo lệnh chúng. Sang ngày 11/9/1945, tướng Gracy tới Sài Gòn với 2.500 quân Anh và hai tiểu đoàn biệt kích của Pháp. Rõ ràng hơn, Anh lại cho quân Pháp thay thế quân Nhật canh gác một số nơi trọng yếu trong thành phố. Trước tình hình nghiêm trọng này, Đảng bộ, Chính quyền và Mặt trận Việt Minh chuẩn bị ráo riết các biện pháp để đối phó cuộc chiến xảy ra. Ban đầu, ta và Anh cố gắng dàn xếp để tránh đổ máu nhưng ngày càng cho thấy Anh tạo điều kiện cho Phap lấn chiếm thành phố và tăng cường quân lực. Táo tợn hơn, ngày 20/9/1945 phái bộ Anh tuyên bố giữ quyền kiểm soát thành phố, thả hết bọn lính Pháp ra và buộc lực lượng vũ trang của ta phải ra khỏi thành phố. Chiều ngày 22/9/1945, phái đoàn Pháp “lịch sự” mời ông Phạm Ngọc Thạch (đại diện UBHC Sài Gòn) và ông Trần Văn Giàu (đại diện UBHC Nam Bộ) đến dự “bữa tiệc công tác” (un diner de travail). Bên ta hoà hoãn nhận lời nhưng không tới dự.

Trước 0 giờ ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm trụ sở UBND Nam Bộ (nay là trụ sở UBND TP Hồ Chí Minh), Sở Cảnh sát, trại Cộng hoà Vệ binh, ngân hàng, khám Lớn v.v… Như vậy, trong vòng ba tuần lễ sau ngày Độc lập 2/9, Anh và Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai. Chính quyền cách mạng và nhân dân thành phố phản kháng và quyết chiến đấu để bảo vệ độc lập đất nước. Một hội nghị ở Chợ Lớn với sự có mặt của ông Hoàng Quốc Việt thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh, UBND Nam Bộ đứng đầu là ông Trần Văn Giàu đã đi tới quyết định một mặt gởi điện báo cáo gấp ra Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh xin chỉ thị, một mặt phát động nhân dân kháng chiến. Sau đó, một hội nghị kế tiếp ở Chợ Đệm (nay thuộc huyện Bình Chánh) của Uỷ ban Kháng chiến Nam Bộ do ông Trần Văn Giàu chủ trì để bàn việc củng cố, thống nhất các lực lượng vũ trang, thành lập bốn mặt trận “Tiền tuyến vòng ngoài” và xây dựng các đơn vị chiến đấu bao chặt Sài Gòn - Chợ Lớn.

Trên bốn mặt trận, nhiều trí thức đã tham gia chiến đấu, trong đó Mặt trận số 1 miền Đông nam Bộ (Mặt trận tuyến Sài Gòn - Gia Định) có giáo sư Nguyễn Đình Thâu và lực lượng bộ đội của luật sư Thái Văn Lung ở khu vực Thủ Đức tiếp ứng, Mặt trận số 2 là Mặt trận tuyến phía Bắc (Mặt trận Tham Lương) do Nguyễn Văn Tư - một trí thức làm việc ở xưởng Ba Son và là Chủ tịch UBKC Sài Gòn - Chợ Lớn chỉ huy, Mặt trận số 3 là mặt trận tiền tuyến phía Tây (Mặt trận Phú Lâm - Chợ Đệm) có Nguyễn Lưu - một trí thức của Tổng Công đoàn tham gia và Chủ tịch UBKC Nam Bộ Trần Văn Giàu làm chỉ huy trưởng, Mặt trận số 4 là mặt trận tuyến Sài Gòn - Chợ Lớn (Mặt trận nội thành hay Mặt trận phía Nam) do Nguyễn Văn Trân chỉ huy.

Tại mặt trận phía Đông (cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu) trạm y tế dã chiến được lập tại nhà thương Bà Chiểu (nay bệnh viện Nhân dân Gia Định) do Bác sĩ Trần Văn Quá phụ trách, tập hợp nhiều xe hồng thập tự đi các nới cứu cấp. Tại mặt trận Phú Lâm bác sĩ Nguyễn Văn Hoa tổ chức có các học sinh sinh viên làm tình nguyện viên cứu thương. Ở mặt trận cầu Tham Lương (nay quận 12) trạm cứu thương đặt ở Bà Quẹo có nhiều bác sĩ, dược sĩ và y tá tham gia. Mặt trận phía Nam, trạm y tế của lực lượng Bình xuyên được thành lập có nhiều y, bác sĩ.

Khắp các đường dẫn ra ngoại thành, tại các cầu, đường chính đều bị lực lượng của ta chốt chặn chặt chẽ với sự tham gia tích cực, nhiệt tình của nhiều nhà trí thức thuộc nhiều ngành bên cạnh lực lượng dân quân hùng hậu dù chỉ với vũ khí thô sơ nhưng đã tạo nên thế trận địa võng làm khốn đốn và khiếp đảm cho quân Pháp, Anh nhiều ngày. Trong thời gian này, có một chi tiết khá quan trọng, quân Pháp, Anh ngang nhiên vào bệnh viện Chợ Rẫy tịch thu khối Radium là chất phóng xạ nguyên tử của phòng xạ trị. Bác sĩ Phan Tấn Thiệt và một số sinh viên tổ chức phái đoàn gặp đại diện Pháp, Anh đòi lại. Sau đó, Bác sĩ Ngô Quang Lý giao khối Radium ấy cho ông Huỳnh Văn Tiểng chuyển ra Bắc cho Bộ Y tế ta. (Theo “Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954”, trang 92).

Vương Liêm (Nguyệt san Đại đoàn kết)


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 19 Tháng Mười Hai, 2009, 09:05:16 AM
Để chặn bước tiến của quân thù, phá âm mưu của Pháp lôi kéo đồng bào ta vào vùng địch buôn bán ta quyết định tấn công thị trấn Cái Răng thuộc Châu Thành, Cần Thơ (bị Pháp tái chiếm ngày 02/10/1945).

 Đội cảm tử của Quốc gia tự vệ cuộc Cần thơ gồm 7 đ/c do Trưởng ty Lê Bình trực tiếp chỉ huy, ngày 12/11/1945 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đã tiêu diệt và làm bị thương 47 tên giặc. Bên ta 5 chiến sĩ trong Đội cảm tử và 3 du kích hy sinh, trong đó có người Trưởng ty tài ba và quả cảm.

Vì ý nghĩa to lớn của trận mật tập này, sự hy sinh dũng cảm, cách đánh táo bạo của các chiến sĩ nên ngày 20/11, trong phiên họp Chính phủ Hồ Chủ tịch đã đề nghị ra Sắc lệnh truy tặng công danh cho 5 liệt sĩ. Đó là những Liệt sĩ CAND đầu tiên, những liệt sĩ đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp đồng thời họ cũng là những liệt sĩ được đích thân Hồ Chủ tịch đề nghị, Chính phủ truy tặng công danh sớm nhất.
Nguồn: Lịch sử CAND


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 19 Tháng Mười Hai, 2009, 02:01:06 PM
Thế cuối cùng thì câu trả lời là vì sao? ::)
Đọc đi đọc lại mà không thấy có gì sáng tỏ thêm cả :P
Câu trả lời có rải rác trong các bài viết và đặc biệt đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch
...
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
...
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh
(Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%9Di_k%C3%AAu_g%E1%BB%8Di_to%C3%A0n_qu%E1%BB%91c_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: lonesome trong 20 Tháng Mười Hai, 2009, 12:20:19 AM

Câu trả lời có rải rác trong các bài viết và đặc biệt đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch
...
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
...
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh
(Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%9Di_k%C3%AAu_g%E1%BB%8Di_to%C3%A0n_qu%E1%BB%91c_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn


"Lời kêu gọi Toàn Quốc Kháng Chiến" là câu trả lời rõ nhất cho câu hỏi của chủ đề. Các bài khác cứ như là tiếng phèng la đệm vào trong bản hòa tấu của dàn nhạc giao hưởng vậy.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2009, 09:27:14 AM
Các bài của bác menthuong chủ yếu nói về diễn tiến các sự kiện quân sự thời gian Pháp bắt đầu tiến hành cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai, những việc được thực hiện theo mưu đồ chính trị sẵn rồi. Để trả lời câu hỏi "Vì sao có cuộc chiến ba ngàn ngày không nghỉ" này, em nghĩ nên hướng vào hậu trường nhiều hơn, chẳng hạn như mưu đồ ấy của Pháp hình thành như thế nào? Có sự khác nhau nào trong mưu đồ của phe chủ trương xâm lược ở chính quốc và thuộc địa? Những phương án, dự định của Pháp định tiến hành mưu đồ ấy và những nỗ lực của ta để ngăn cản chiến tranh oổ ra hoặc kiên quyết tiến hành kháng chiến (cả về ngoại giao và quân sự)?

Trong các bài bác menthuong gửi cũng có vài chi tiết như vậy, nhưng còn lẻ tẻ quá.

Hoặc có thể đặt ra một số giả thuyết để "xoay ngang, lật ngược" vấn đề (kiểu như nếu bức điện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho thủ tướng Pháp Lêông Blum không bị các chỉ huy Pháp ở Đông Dương trì hoãn thì liệu có tránh được việc nổ súng ngày 19-12; cái này thì cũng đã có nhiều bài phân tích rồi), thì có thể tạo ra hướng thảo luận sôi nổi hơn.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 20 Tháng Mười Hai, 2009, 04:33:14 PM
Cám ơn các bác về những gợi ý, chỉ giáo. Xin phép được mở ngoặc chút: mấy bận trước đưa thẳng vấn đề ra liền bị “chụp mũ” liền nên nay “nhà cháu” phải cân nhắc chút! Nay xin bày tỏ mấy bức xúc như vầy:

1.   Thực ra cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam được bắt đầu từ khi Pháp đặt chân lên mảnh đất hình chữ S này, tức là từ 1858, khi Hải quân Pháp nổ súng tấn công vào cảng Đà Nẵng song bây giờ khi viết lý lịch và khi nói đến “kháng chiến chống Pháp” thường được hiểu là cuộc chiến sau 1945. Như vậy việc kháng Pháp của các cụ trước đây tính như thế nào ?. (Mặc dù các cuộc khởi nghĩa và phong trào chống Pháp do vua, quan, văn thân hoặc nông dân tổ chức trước đó đều bị thất bại nhưng vẫn là “Kháng chiến chống Pháp” chứ!)

2.   Mặt khác cuộc chiến sau 1945 chính thức bắt đầu từ 12/1946 và kết thúc 7/1954 như vậy chưa đầy 8 năm mà sách vở đều nói: Kháng chiến chín năm, 9 năm kháng chiến trường kỳ, Thời 9 năm, Hồi 9 năm…. Có ai và tư liệu nào lý giải vấn đề này không?

3.   Theo thiển ý, giả sử:

- Phía Pháp đáp ứng yêu cầu rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11 như yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ngày 06/12/1946;
- Léon Brum, Thủ tướng mới của Pháp kiên trì thực hiện ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam;
- Valluy và d'Argenlieu không khiêu khích Hà Nội nhằm tạo xung đột và đưa Paris vào sự đã rồi;
- Ngày 18/12/1946 chính phủ VNDCCH chấp nhận đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố như yêu cầu của Pháp;
- Sáng 19/12 Sainteny gặp và bàn với Hoàng Minh Giám để "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". ..

thì do lập trường 2 bên khác biệt nhau nên cuộc chiến vẫn xẩy ra, có điều ở một thời điểm khác và kết hậu khác. Không rõ ý các bác thế nào?

4. Còn “hậu trường” cuộc chiến thì với kiến thức, tư liệu lịch sử cỡ “phổ thông trung học” như tôi thì khó mà có được để lạm bàn. Cần sự góp mặt, tham gia của các bậc có nội lực thâm hậu hơn!


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: lonesome trong 21 Tháng Mười Hai, 2009, 10:19:27 AM
Cám ơn các bác về những gợi ý, chỉ giáo. Xin phép được mở ngoặc chút: mấy bận trước đưa thẳng vấn đề ra liền bị “chụp mũ” liền nên nay “nhà cháu” phải cân nhắc chút! Nay xin bày tỏ mấy bức xúc như vầy:

1.   Thực ra cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam được bắt đầu từ khi Pháp đặt chân lên mảnh đất hình chữ S này, tức là từ 1858, khi Hải quân Pháp nổ súng tấn công vào cảng Đà Nẵng song bây giờ khi viết lý lịch và khi nói đến “kháng chiến chống Pháp” thường được hiểu là cuộc chiến sau 1945. Như vậy việc kháng Pháp của các cụ trước đây tính như thế nào ?. (Mặc dù các cuộc khởi nghĩa và phong trào chống Pháp do vua, quan, văn thân hoặc nông dân tổ chức trước đó đều bị thất bại nhưng vẫn là “Kháng chiến chống Pháp” chứ!)
Có lẽ:
- Về mặt chính thức thì nhà Nguyễn đã kí các văn bẳn, hiệp ước đầu hàng Pháp.
- Các cuộc khởi nghĩa đều mang tính địa phương cục bộ, không tạo thành 1 phong trào có liên kết. Ngay như các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng Dụ/Hịch Cần Vương cũng tản mát, không có chủ soái và cương lĩnh thống nhất
...
Trích dẫn

2.   Mặt khác cuộc chiến sau 1945 chính thức bắt đầu từ 12/1946 và kết thúc 7/1954 như vậy chưa đầy 8 năm mà sách vở đều nói: Kháng chiến chín năm, 9 năm kháng chiến trường kỳ, Thời 9 năm, Hồi 9 năm…. Có ai và tư liệu nào lý giải vấn đề này không?
Nếu tính từ "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" thì đúng là chỉ có gần 8 năm nhưng thực chất thì tiếng súng chống Pháp quay lại xâm lược đã nổ từ ngày 23/9/1945 (Ngày Nam Bộ Kháng Chiến). Vì thế, nói "9 năm" là chính xác.

Trích dẫn
3.   Theo thiển ý, giả sử:

- Phía Pháp đáp ứng yêu cầu rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11 như yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ngày 06/12/1946;
- Léon Brum, Thủ tướng mới của Pháp kiên trì thực hiện ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam;
- Valluy và d'Argenlieu không khiêu khích Hà Nội nhằm tạo xung đột và đưa Paris vào sự đã rồi;
- Ngày 18/12/1946 chính phủ VNDCCH chấp nhận đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố như yêu cầu của Pháp;
- Sáng 19/12 Sainteny gặp và bàn với Hoàng Minh Giám để "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". ..

thì do lập trường 2 bên khác biệt nhau nên cuộc chiến vẫn xẩy ra, có điều ở một thời điểm khác và kết hậu khác. Không rõ ý các bác thế nào?
Có kéo dài hòa hoãn cũng chỉ thêm được 1-2 tuần thôi. Kết cực thì cũng vẫn như đã xảy ra, không có gì  khác.

Trích dẫn
4. Còn “hậu trường” cuộc chiến thì với kiến thức, tư liệu lịch sử cỡ “phổ thông trung học” như tôi thì khó mà có được để lạm bàn. Cần sự góp mặt, tham gia của các bậc có nội lực thâm hậu hơn!


Bác có thể tham khảo Hội nghị Yalta và Hội nghị Teheran - nơi các nước Đồng Minh chia chác quyền lợi sau khi thắng Đức.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: _new trong 21 Tháng Mười Hai, 2009, 11:24:52 AM
Bác menthuong cũng có thể tham khảo thêm nội dung Hội nghị Trùng Khánh về vấn đề giải giáp quân tại Đông Dưỡng nữa.  :)


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 17 Tháng Sáu, 2011, 11:18:49 AM
Vừa đọc xong Vietnam 1946: How the War Began (http://www.mediafire.com/?n99jt1t9sun5oac) của Stein Tonnesson. Trong cuốn này tác giả có nêu ra 1 số giả thuyết liên quan đến việc kháng chiến toàn quốc bùng nổ đêm 19/12/1946:

- Việc phát động chiến tranh là trái với ý định của Hồ Chủ tịch. 1 số thông tin của tình báo Pháp có quan điểm là trong nội bộ CP VN tồn tại 2 phái ôn hòa "moderate" (Hồ Chí Minh, Hoàng Hữu Nam, Hoàng Minh Giám) và phái cực đoan "extremist" (Võ Nguyên Giáp).

- Vụ nổ súng đêm 19/12/1946 có thể do người của Việt Quốc, Việt Cách xâm nhập vào hàng ngũ tự vệ gây ra để phá hoại cuộc đàm phán hòa bình giữa CP VN và Pháp.

- Tướng Giáp đã định hủy bỏ cuộc tấn công và truyền lệnh này xuống các đơn vị VQĐ. Tuy nhiên lực lượng tự vệ - hoặc vì không nhận được lệnh, hoặc vì không chịu chấp hành - vẫn nổ súng.

- Cuối cùng, nhận định của tác giả là tướng Giáp (và CP VN) đã rơi vào bẫy khiêu khích của phái diều hâu trong BCH Pháp ở Đông Dương.

Một số luận điểm của tác giả:

- CP Pháp đã cử Bộ trưởng Bộ hải ngoại Moutet sang Đông Dương để tiếp xúc trực tiếp với CP VN (điều mà BCH Pháp không muốn). Thông tin này được phía Pháp thông báo lúc 14h00 ngày 19/12/1946 cho sĩ quan ta trong ủy ban liên kiểm (giữa lúc TW đang họp ở làng Vạn Phúc). Việc phát động kháng chiến đã làm lỡ một cơ hội tốt để đàm phán và giúp cho BCH Pháp có cớ "ép" CP Pháp vào việc mở rộng chiến tranh (trước đó việc quân đội Pháp nổ súng trước không được chính quốc bật đèn xanh).

- Theo tác giả, các yêu cầu của tướng Morliere nêu ra cho Thứ trưởng Nội vụ Hoàng Minh Giám (1) triệt phá các chiến lũy và ngừng xung đột; (2) giải giáp lực lượng tự vệ "vô kỷ luật và vô trách nhiệm"; (3) thả các công dân Pháp bị bắt; (4) ngừng tuyên truyền thù địch; (5) phối hợp duy trì trật tự không mang ý nghĩa  đe dọa sử dụng vũ lực. Trên thực tế đêm 19/12/1946 quân Pháp ở trong tư thế không sẵn sàng chiến đấu: binh sĩ không được triển khai để chiến đấu và chỉ mới cấm trại trở lại vài tiếng, Sainteny và đại tá Lami - phó của tướng Morliere vẫn dự tiệc ở nhà riêng thay vì chỉ huy sở, theo lãnh sự Mỹ Sullivan sau khi nổ súng lính thiết giáp Pháp phản ứng khá lúng túng và lộn xộn... Tuy nhiên phía VN có thể đã hiểu sai ý nghĩa của "tối hậu thư" này, do trước đó phía Pháp tuyên bố sẽ đảm nhiệm trị an vào ngày 20 nếu công an VN không hoàn thành nhiệm vụ. Sau kinh nghiệm từ sự kiện Hải Phòng (trong đó ta thu được tài liệu về phương án "đảo chính" của quân Pháp), khi 17h00 ngày 19/12 lính Pháp bị cấm trại đột ngột trở lại và lúc 18h30 ngày 19/12/1946 công an của ta báo cáo thiết giáp Pháp xuất hiện tại 5 trục đường quan trọng dẫn vào thành phố, phía VN tưởng rằng quân Pháp chuẩn bị tấn công (và đã rơi vào bẫy khiêu khích).

- Lệnh về ngày giờ nổ súng đã được truyền đi lúc 09h30 ngày 19/12, tuy nhiên đến 20h00 chỉ có tự vệ Hà Nội khởi sự đánh vào các ổ chiến đấu của Pháp kiều mà không có sự tham gia của VQĐ. Phải đến sau nửa đêm các đơn vị VQĐ ở xung quanh Hà Nội và những đô thị có quân Pháp đóng mới bắt đầu nổ súng. Hồi ký của Ngô Văn Chiêu cho biết lúc 16h45 ngày 19/12 đơn vị VQĐ của ông này nhận được lệnh hủy bỏ tấn công. Sau này quân Pháp có thu được chỉ thị của tướng Giáp cho các đơn vị yêu cầu tiêu hủy mọi mệnh lệnh ngày 19/12/1946.

- Nhiều cơ quan của CP VN vẫn ở trạng thái hoạt động bình thường. Quân Pháp thu được bản thảo báo Cứu quốc cho ngày 20/12 kêu gọi nhân dân bình tĩnh và chuẩn bị chiến đấu, ở Bắc Bộ phủ thu được nhiều tài liệu quan trọng chưa tiêu hủy, nhiều tài liệu ghi lại thời điểm làm việc là 18h00 ngày 19/12. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến cũng không được phát ngay trong đêm 19/12 mà phải đợi đến sáng 20/12 (theo hồi ký tướng Giáp) hoặc 21/12 (theo một số nhân chứng Pháp) mặc dù đài phát thanh nằm sát sở chỉ huy của tướng Giáp ở làng Tây Mỗ.

Mời các bác cho ý kiến.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2011, 10:35:59 AM
Những thông tin trên với tôi thực sự là mới và sốc vì điều này là rất khác so với các tài liệu ta công bố trước đây. Có lẽ phải sục rất kỹ và tỉ mỉ ở các Viện bảo tàng may ra mới có thể thấy 1 cái gì đó về vấn đề này.

"- Lệnh về ngày giờ nổ súng đã được truyền đi lúc 09h30 ngày 19/12, tuy nhiên đến 20h00 chỉ có tự vệ Hà Nội khởi sự đánh vào các ổ chiến đấu của Pháp kiều mà không có sự tham gia của VQĐ. Phải đến sau nửa đêm các đơn vị VQĐ ở xung quanh Hà Nội và những đô thị có quân Pháp đóng mới bắt đầu nổ súng. Hồi ký của Ngô Văn Chiêu cho biết lúc 16h45 ngày 19/12 đơn vị VQĐ của ông này nhận được lệnh hủy bỏ tấn công. Sau này quân Pháp có thu được chỉ thị của tướng Giáp cho các đơn vị yêu cầu tiêu hủy mọi mệnh lệnh ngày 19/12/1946.

- Nhiều cơ quan của CP VN vẫn ở trạng thái hoạt động bình thường. Quân Pháp thu được bản thảo báo Cứu quốc cho ngày 20/12 kêu gọi nhân dân bình tĩnh và chuẩn bị chiến đấu, ở Bắc Bộ phủ thu được nhiều tài liệu quan trọng chưa tiêu hủy, nhiều tài liệu ghi lại thời điểm làm việc là 18h00 ngày 19/12. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến cũng không được phát ngay trong đêm 19/12 mà phải đợi đến sáng 20/12 (theo hồi ký tướng Giáp) hoặc 21/12 (theo một số nhân chứng Pháp) mặc dù đài phát thanh nằm sát sở chỉ huy của tướng Giáp ở làng Tây Mỗ."


Điều này có thể có 1 cách giải thích đơn giản : lệnh nổ súng là tuyệt mật nên không được phổ biến rộng rãi (hoặc nghi binh như báo Cứu quốc ?) do đó  mới có hiện tượng như trên.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 12 Tháng Mười Một, 2011, 12:40:41 PM
Đúng là có nhiều cái sốc và có thể đảo ngược hoàn toàn cách hiểu từ xưa đến giờ. Lúc nào có thời gian em sẽ trích cụ thể một số thông tin của Tonnesson. Ông này là 1 trong số rất ít sử gia nghiên cứu về giai đoạn 1945-1946, phong cách làm việc khá nghiêm túc, tham khảo tài liệu của cả 2 bên và từng nhiều lần phỏng vấn tướng Giáp.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Mười Hai, 2011, 11:50:34 PM
Lược dịch Chương 6 Vietnam 1946: How the War Began - Stein Tonnesson.

AI ĐÃ TẮT NGỌN ĐÈN


Tháng 1-1947, quân Pháp bắt được một bản mệnh lệnh của Võ Nguyên Giáp gửi tới tất cả các đơn vị Việt Nam yêu cầu "tiêu hủy mệnh lệnh ngày 19-12 cùng với mọi phụ lục ngay lập tức".  Điều gì đã không xảy ra đúng vào ngày hôm đó. Những sự kiện của ngày 19-12-1946 vẫn nằm trong khoảng tối của lịch sử. Không chỉ người Việt Nam, mà phía Pháp cũng che giấu điều gì đó.

Lúc 20h03 hay 20h04 - điều này thì chúng ta biết - điện và nước toàn thành phố bị cắt. Vài phút sau, các đơn vị xung kích Việt Nam tấn công thường dân Pháp trong nhà của họ và bắt đi khoảng 200 người. Nhiều người được Surete (mật vụ Pháp) vũ trang và một số đã cố chống trả. Từ 20-30 người Pháp bị giết, một số bị thiêu hay cắt xẻo một cách rùng rợn. Điều này sau đó đã được tuyên truyền Pháp khai thác tối đa, vẽ ra việc Hồ và Giáp phải chịu trách nhiệm trực tiếp cho việc sát hại công dân Pháp. Sự đổ máu ở Hà Nội đã tiếp dầu cho huyền thoại lưu truyền trong người Pháp về truyền thống tàn bạo với người ngoại quốc ở Viễn Đông, vốn đã thể hiện trong lần quân Nhật hành quyết toàn bộ những người Pháp sống sót sau trận đánh ở Lạng Sơn ngày 11-3-1945, vụ bạo lực ở Cite Heraud tại Sài Gòn ngày 24-9-1945 trong đó 120 người Pháp bị giết, và giờ đến Hà Nội. Một số đặt ra khái niệm "Vespers Bắc Kỳ" khi nhắc tới sự kiện 19-12, ám chỉ tới "Vespers Sicily" ở Palermo vào ngày thứ Hai và thứ Ba trong lễ Phục sinh, 30 và 31-3-1282 khi giới quý tộc địa phương phát động cuộc bạo loạn chống lại sự chiếm đóng của hoàng tử Pháp Charles of Anjou. Trong tiếng hò hét "Giết bọn Pháp", cuộc bạo động lan ra toàn hòn đảo và trên 4.000 người Pháp bị tàn sát. Cũng như Charles đã học được cách không tin bất cứ quý tộc Sicily nào, số phận hãi hùng của người Pháp ở Hà Nội đã tạo nên sự phản đối quyết liệt chống lại bất cứ ý định nào về đàm phán với Việt Minh.

Trong một tiếng rưỡi đầu tiên, tự vệ giữ thế chủ động, nổ súng từ nhiều nơi trong khi tù nhân Pháp bị dẫn giải ra khỏi Hà Nội. Một đầu tàu hỏa được đưa vào vị trí để cản cơ giới Pháp di chuyển và các con đường bị đặt mìn. Xe hơi của Jean Sainteny vấp mìn và ông bị thương nặng. Bộ đội chủ lực của Giáp đóng ở ngoại ô đã không bao giờ tiến vào Hà Nội tham gia chiến đấu. Dường như nhiệm vụ của họ là bảo vệ trung ương và làm dự bị. Khoảng 21h30 quân Pháp đã sẵn sàng phản công. Đến tối hôm sau, sau 24 giờ giao tranh đầu tiên, quân Pháp đã giành quyền kiểm soát khu phố Tây. Đến 4h chiều những người bảo vệ Dinh Chủ tịch đã bị tiêu diệt và lá cờ tam tài được kéo lên trên văn phòng của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên cả vị chủ tịch lẫn các lãnh đạo cấp cao đều không bị bắt. Khi cuộc chiến nổ ra họ không ở trong thành phố.

Trong đêm 19 rạng 20-12, các điểm đồn trú khác của quân Pháp trên miền Bắc cũng bị tấn công. Càng xa Hà Nội, nó xảy ra càng muộn. Chỉ ở Hải Dương và Vinh, nơi những đơn vị Pháp nhỏ đã có kế hoạch di tản bất ngờ ngày 21-12 là những người tấn công tiêu diệt được quân Pháp và bắt số còn lại làm tù binh. Đêm 20-12 và sáng sớm 21-12, phát thanh viên trên đài đọc lời hiệu triệu mà Hồ Chí Minh đã chuẩn bị trong đêm 18-19/12: "Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm...". Tại khu phố Hoa-Việt ở Hà Nội, chiến sự tiếp diễn qua tháng 1 và 2. Quân Pháp không dám sử dụng pháo binh theo cách của Đại tá Debes nên người Việt Nam có thể tiếp tục chiến đấu trong 2 tháng trước khi thấy tình hình không thể duy trì và rút số quân còn lại qua sông Hồng. 8 năm trôi qua trước khi thỏa thuận hòa bình đạt được ở Geneva, cho phép Hồ và Giáp trở lại thủ đô của họ. Đơn vị đầu tiên tiến vào ngày 9-10-1954 là Trung đoàn Thủ đô được thành lập từ những người đã chiến đấu với quân Pháp ở Hà Nội từ tháng 12-1946 đến tháng 2-1947.

Niên biểu chung đã rõ ràng, nhưng vẫn còn lại vài dấu hỏi. Vì sao người Việt Nam quyết định chiến tranh? Điều gì có thể giải thích sự trái ngược giữa cuộc tấn công bất ngờ lúc 8h tối 19-12 với 2 bức thư hòa giải được gửi cho phía Pháp trước đó? Vì sao cuộc tấn công lại được thực hiện theo cách lộn xộn như vậy? Vì sao số quân xung quanh Hà Nội không tham gia? Vì sao lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh không được phát đi khi cuộc tấn công bắt đầu mà để rất lâu sau đó? Và sự chậm trễ không giải thích được đối với cuộc tấn công ở các nơi khác là thế nào?



Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Mười Hai, 2011, 11:51:05 PM
NHỮNG SỰ DIỄN GIẢI

Lời giải thích chính thức đầu tiên của phía Việt Nam đã được chuẩn bị từ trước. Trong một bích chương thiết quân luật, năm, tháng, ngày, giờ (20h00) được điền bằng tay. Nó được dán ở Hà Nội tối hôm đó và được mở đầu bằng tuyên bố "Công-lệnh Đồng bào Thủ đô! Quân Pháp đã khởi hấn ở Hà Nội". Ngày 20-12 trước bình minh, một bích chương phản pháo của Pháp đã sẵn sàng, đưa ra giải thích chính thức của phía Pháp sẽ chi phối toàn bộ truyền thông phương Tây: "Tuyên cáo: Việt Minh đã phản bội và khởi hấn theo chiến thuật của quân Nhật trong vụ đảo chính 9-3-1945. Chính phủ Việt Minh đã tháo chạy. Nhà chức trách Pháp buộc phải chịu trách nhiệm khôi phục trật tự...". Đáng chú ý rằng chính phủ Việt Nam đã bị hạ tầng thành chính phủ Việt Minh.

Tướng Morliere cảm thấy chắc chắn rằng cuộc tấn công được tiến hành theo "kế hoạch định sẵn" được quân đội Việt Nam chuẩn bị theo lệnh của chính phủ. Ông ta thậm chí còn tuyên bố rằng các cuộc tấn công nhằm vào các điểm đóng quân của Pháp diễn ra đồng thời. Cao ủy Sainteny trong bệnh viện tuyên bố "đất nước Việt Nam xinh đẹp đã trở thành mồi cho lũ kẻ cướp, những kẻ rốt cuộc trong lúc ta chờ đợi đã lột bỏ mặt nạ và bộc lộ sự tàn bạo". Leon Pignon không hài lòng với cụm từ "chờ đợi" và yêu cầu không công khai bản tuyên bố này. Một phát biểu khác của Sainteny được đánh giá cao hơn, "Tôi là một trong những người đầu tiên trúng đòn từ sự phản bội không thể bào chữa này, mặc dù tôi mang đến Việt Nam không gì ngoài sự trung thành". Nó được chuyển ngay về Paris và Sài Gòn đề nghị gieo tuyên truyền thêm trong cộng đồng quốc tế cụm từ "lời của người ký hiệp ước 6-3".

Cao ủy lâm thời Valluy ngày 21-12 khẳng định với Paris rằng cuộc xung đột bắt đầu bằng cuộc tấn công bất ngờ theo lệnh của nhà chức trách Việt Nam. Ông ta cũng lặp lại thông tin sai lệch của Morliere về tính "đồng thời" và dùng nó làm bằng chứng cho sự chuẩn bị từ trước. Phó lãnh sự Mỹ O'Sullivan cảm thấy chắc chắn rằng cuộc tấn công được chính phủ Việt Nam lên kế hoạch. Bức điện của ông này gửi Washington không mã hóa đã được Sài Gòn thu, dịch và gửi cho Paris nhằm thuyết phục chính phủ Pháp rằng Hà Nội không phải là một Hải Phòng mới.

Một báo cáo Pignon viết hôm 23-12 liên quan chặt chẽ tới những gì sẽ trở thành phiên bản chính thức của Pháp. Sau khi chỉ ra rằng cuộc tấn công được dựa trên kế hoạch có sẵn, theo kiểu cuộc đảo chính của quân Nhật hôm 9-3-1945, ông ta bổ sung 4 điểm quan trọng. Thứ nhất, nó được dạo đầu bằng một loạt âm mưu nhằm khiến người Pháp tin rằng quan hệ đang có tiến triển, bao gồm cả những bức thư thân thiện của Hồ Chí Minh gửi Sainteny và Hoàng Hữu Nam gửi Morliere, cũng như nỗ lực của các sĩ quan liên kiểm Việt Nam nhằm khiến chỉ huy Pháp cho xả trại số lính Pháp đang bị cấm trại và cho phép họ vào thành phố. Thứ hai, mục đích của âm mưu trên là đảm bảo bất ngờ hoàn toàn: người Việt Nam dự định sẽ tiêu diệt lính Pháp khi họ đang phân tán trong các nhà hàng và rạp chiếu bóng. Thứ ba, ban đầu âm mưu đó thành công, và bộ chỉ huy Pháp trên thực tế đã quyết định cho binh sĩ xả trại vào buổi tối, nhưng sau cảnh báo của một điệp viên, Morliere đã vội vã triệu hồi binh lính, cứu họ thoát khỏi số phận như của thường dân Pháp. Thứ tư, âm mưu này cho thấy toàn bộ chính phủ Việt Nam, bao gồm cả Hồ Chí Minh và Hoàng Hữu Nam muốn tiêu diệt quân đồn trú Pháp: nước Pháp đang phải đối diện với một khối thống nhất quyết tâm xóa bỏ sự hiện diện của Pháp ở Đông Dương. Pignon hy vọng điều này sẽ làm sáng tỏ cho nước Pháp và dư luận quốc tế về bản chất thật của Việt Minh. Dẫn giải của Pignon sẽ trở thành cơ sở cho phiên bản tiêu chuẩn của phương Tây về sự bắt đầu chiến tranh. Trong nhiều năm, nó dập tắt mọi giải thích đối nghịch. Sự đơn giản, cấu trúc logic và hình ảnh lôi cuốn về một điệp viên đơn độc đã cứu sinh mạng của hàng trăm chàng trai Pháp giúp bức tranh của Pignon sống sót bất chấp những bằng chứng mà nó không giải thích được.

Thật trớ trêu, những tài liệu của phía Việt Nam về ngày 19-12 lại có xu hướng xác nhận lời của Pignon. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra lời giải thích công khai đầu tiên trong bài phát biểu trên đài ngày 25-12, quy cho phía Pháp trách nhiệm gây ra bùng phát xung đột. Họ đã đưa ra "tối hậu thư" ngày 19-12, yêu cầu kiểm soát công an. Khi người Việt Nam từ chối, "chiến sự bùng nổ", Hồ nói. Nếu AP dịch chính xác bài phát biểu này, những lời Hồ nói khá là đáng ngạc nhiên. Chuyện buộc tội đối phương nổ súng trước là bình thường. Khi nói chiến sự "nổ ra", thực tế Hồ đã thừa nhận phía của ông giành thế chủ độ. Ông không nói cụ thể hơn trong một bản bị vong lục ký ngày 31-12 nhằm chứng minh phía Pháp chịu trách nhiệm gây ra chiến tranh. Ông nhắc đến 3 "tối hậu thư", 2 trong ngày 18-12 và một trong ngày 19-12 nhưng mô tả cuộc tấn công mà không có quy kết cụ thể: "Cuộc tấn công chúng khởi đầu đột ngột trong tối 19-12, và đến nửa đêm, những sự chuẩn bị cuối cùng đã gần như hoàn tất [lantombée de la nuit, presque les derniers préparatifs sont accomplis].” Ngay cả trong bức bị vong lục được chuẩn bị kỹ càng và tương đối tin cậy này - một nguồn quý của cuốn sách này, Hồ cũng không đi xa hơn việc nói chung chung rằng người Pháp đã "bắt đầu và muốn" có chiến tranh (déclenché et voulu par les colonialistes français). Đảng cộng sản Pháp sau này sẽ liên tục đặt câu hỏi cho những đồng chí Việt Nam của họ về sự thật của ngày 19-12, nhưng chỉ nhận được những câu trả lời tránh né.

Năm 1948, phái đoàn chính thức của Việt Nam ở Pháp xuất bản một cuốn sách nhỏ bằng tiếng Anh, kết tội trực tiếp người Pháp, "Xung đột nổ ra đêm 19-12 không phải do phía Việt Nam bắt đầu, mà do quân Pháp dưới cái cớ phía Việt Nam sẽ tấn công họ". Các tài liệu lịch sử chính thống của Việt Nam sau này tuyên bố rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận ra không thể tránh khỏi chiến tranh đã phát tín hiệu đồng ý cho toàn dân kháng chiến. Trong cuốn Việt Nam: A Long History đã được xuất bản nhiều lần ở Hà Nội, Nguyễn Khắc Viện cho rằng Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến đêm 19-12. Ông trích dẫn lời kêu gọi và kết luận, "Cuộc kháng chiến đến thời điểm đó mới chỉ giới hạn ở Nam Bộ đã lan rộng ra toàn quốc". Vấn đề là lời kêu gọi của Hồ trên thực tế không được phát đi cho đến ngày hôm sau.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Mười Hai, 2011, 11:51:32 PM
Vương Thừa Vũ, tư lệnh khu đặc biệt Hà Nội tháng 12-1946 viết một bài báo 3 năm sau đó dưới tựa đề hứa hẹn "Sự thật về ngày 19-12 ở Hà Nội". Ông dành 7 trang rưỡi về bối cảnh quân sự, 6 trang cho cuộc chiến đấu anh dũng trong 2 tháng sau đó và nửa trang về sự kiện nổ súng. Nửa trang này viết rằng tự vệ tập trung ở tòa thị chính để tuyên bố sẵn sàng. Sau đó, lúc 20h03, quân Pháp gây hấn và chiếm đóng các công sở, buộc quân Việt Nam phải tự vệ. Tư liệu không chính xác này chỉ làm tăng thêm độ tin cậy của bức tranh do người Pháp vẽ ra, được hỗ trợ bởi bài phát biểu trên đài tháng 12-1949 của người lãnh đạo cuộc cách mạng tháng 8-1945 ở Sài Gòn và sau này là nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam Trần Văn Giàu, người dường như đã nói rằng phía Việt Nam bắt đầu cuộc chiến tranh 3 năm trước. Một thời gian ngắn ngay sau bài phát biểu - được phía Pháp theo dõi và sử dụng để tuyên truyền, ông mất chức bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Người Việt Nam hẳn phải có lý do để không đi sâu vào vụ nổ súng 19-12. Điều này có thể có nghĩa là người Pháp đúng. Tuy nhiên, nếu như lãnh đạo đảng, gồm cả Hồ Chí Minh nhất trí quyết định tấn công, vì sao họ phải đợi nhiều năm như vậy trước khi thừa nhận? Người ta có thể trông đợi họ sẽ tự hào kể rằng đảng đã lên kế hoạch và thực thi quyết định. Và nếu cuộc tấn công là kết quả của một quyết định được tính toán kỹ, một tuyên bố giải thích công khai chắc chắn phải được chuẩn bị trước và được tuyên truyền Việt Nam sử dụng ngay sau đó. Phải có điều gì đó mà người Việt Nam muốn giấu, điều gì đó còn đáng xấu hổ hơn một sự dối trá quanh co. Tiến trình của các sự kiện cho thấy điều gì đó đã diễn ra không đúng bên phía Việt Nam trong cái ngày định mệnh ấy.

Giải thích của Pignon được chấp thuận và phát lại bởi hầu hết giới thông tấn Pháp. Chỉ có 2 nhà báo Pháp tìm kiếm sự giải thích khác. Leon Boutbien của Franc-Tireur và Philippe Devillers của Le Monde. Boutbien phản bác quan điểm rằng nước Pháp đang đối diện với một khối thống nhất và tuyên bố giới lãnh đạo Việt Nam có sự chia rẽ. Võ Nguyên Giáp đứng đầu phái cực đoan đã ra lệnh tàn sát dân thường Pháp. Hoàng Hữu Nam và Hoàng Minh Giám thuộc phái ôn hòa và Hồ Chí Minh là một "nhân vật bí ẩn". Ở vài thời điểm, phái cực đoan đã đạt được quyền lực sau hậu trường. Chính phủ không thể rút lui và Hồ Chí Minh đã chấp nhận bị lôi kéo theo để không bị mất quyền. Philippe Devillers, người trở lại Pháp trước khi chiến tranh bắt đầu, sau 11 tháng ở cùng với bộ tham mưu của Leclerc và Valluy cũng chỉ ra những bất đồng nội bộ trong giới lãnh đạo Việt Nam, nhưng không xem Giáp là người cực đoan. Giáp trong một thời gian dài đã dàn xếp để duy trì không khí dễ chịu ở Bắc Bộ giữa người Pháp và người Việt Nam, nhưng ông đã chịu sức ép từ những thành phần cực đoan hơn. Chính sách Nam Bộ thuộc Pháp và việc từ chối nhượng bộ Hà Nội bất cứ điều gì đã tăng thêm sức mạnh cho phái cực đoan. Tháng 12, những hành động của Pháp đã làm người Việt Nam nổi giận đến mức phải cực đoan lên được vị trí cao nhất. Dưới góc nhìn của Devillers, đánh giá Việt Minh là một khối thống nhất - gộp chung những người Việt Minh ôn hòa và cực đoan thành kẻ thù của Pháp là một sai lầm nghiêm trọng.

Cả Boutbien lẫn Devillers đều không ở vị thế có thể đặt câu hỏi chi tiết về phiên bản do Pignon đưa ra, nhưng năm 1947, nhà báo Pháp Jean Bidault (không liên quan gì đến thủ tướng) xuất bản nặc danh một cuốn sách mỏng chống Việt Minh, có lẽ dựa trên những thông tin nội bộ từ một trong những cơ quan tình báo Pháp. Ông ta khác tuyên bố chính thức của Pháp ở một điểm quan trọng: khi Morliere cấm trại binh sĩ trong chiều 19-12, kế hoạch của Giáp đổ bể. Ý định của phía Việt Nam là tấn công toàn diện khi 1.200 lính Pháp đang phân tán ở các nhà hàng và quán cafe của Hà Nội. Khi Morliere triệu tập binh sĩ về doanh trại và (có lẽ) bố trí xe bọc thép tại các đầu mối mà quân Việt Nam phải đi qua để vào thành phố, Giáp không còn trông mong được vào tính chất bất ngờ. Ông sau đó cố gắng hủy bỏ chiến dịch, nhưng mệnh lệnh không đến được hết các đơn vị tự vệ và lúc 20h00, họ tiến hành theo phương án của mình. Điều này có thể giải thích vì sao các đơn vị quân đội Việt Nam tương đối kỷ luật xung quanh Hà Nội không tham chiến khi tự vệ nổ súng, và vì sao các điểm đồn trú khác chỉ bị tấn công sau đó khá lâu. Năm 1952, khi Devillers xuất bản cuốn Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, ông đưa quan điểm của Jean Bidault vào nhưng bổ sung thêm rằng có thể lực lượng tự vệ đã chủ tâm phớt lờ lệnh hủy bỏ tấn công.

Sự xem xét của Jean Bidault khá quan trọng, nhưng quan điểm rằng Hồ Chí Minh và Hoàng Hữu Nam viết thư hòa giải trong buổi sáng hôm đó nhằm mục đích đánh lừa người Pháp thì vẫn không bị bác bỏ. Khi Tướng Yves Gras xuất bản cuốn Histoire de la guerre d’Indochine năm 1979, ông để ngỏ câu hỏi liệu có "sự phản bội của Hồ Chí Minh và Giáp" hay họ không thể ngăn cản "bộ máy thù địch đã được thiết lập quá tốt". Liệu có phải những bức thư của Nam và Hồ là nỗ lực thông minh nhằm giảm căng thẳng, với mục đích hoãn cuộc tấn công của Giáp đến khi Hồ có tin từ Blum? Liệu có phải thông tin lính Pháp bị gọi về trại và số xe bọc thép bố trí ở những điểm chiến lược khiến cho người Việt Nam đi tới quyết định bất kể thế nào cũng đã đến lúc phải đánh? Quyết định hai bức thư hòa giải đó là trò lừa đảo, hay đó là nỗ lực chân thành cuối cùng nhằm ngăn chặn xung đột đòi hỏi phải có thông tin từng giờ của cái ngày mà mọi thứ như Devillers nói, "kỳ quái, phi lý và thậm chí đáng ngờ".


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 15 Tháng Mười Hai, 2011, 10:49:38 PM
TRÒ LỪA HAY HY VỌNG

Lúc bình minh, báo chí Việt Minh ra lò lần cuối từ nhà in ở Hà Nội trong 8 năm. Báo Cứu Quốc phản kháng "trước sự thật là đại diện Pháp ở Việt Nam đã chủ tâm chuẩn bị cho cuộc tấn công của chúng ở Hà Nội nhằm mở rộng xung đột trong khi thủ tướng Pháp Leon Blum và ngài Moutet ủng hộ sự hợp tác Pháp-Việt". Tờ Dân Thanh kêu gọi tân thủ tướng Leon Blum "chấm dứt âm mưu của bọn thực dân, những kẻ đang sắp hoàn tất nỗ lực nhằm kéo hai dân tộc vào chỗ chết. Nhưng ông ta cần hành động nhanh chóng nếu muốn tới đây đúng lúc".  

Sáng sớm hôm đó, các đơn vị quân đội Việt Nam xung quanh Hà Nội được đặt trong tình trạng báo động, các tư lệnh ở đây cũng như các chiến khu khác nhận được mật lệnh mà sau này sẽ bị tiêu hủy theo chỉ thị của Giáp nhưng đã xuất hiện trong bộ hồi ức mới và hoàn chỉnh hơn được Giáp xuất bản khi đã gần 90 tuổi. Mệnh lệnh này gồm 3 phần. Đầu tiên, chỉ thị sau được gửi đi lúc 09h00: "Bọn xâm lược Pháp đã đưa ra tối hậu thư yêu cầu tước vũ khí bộ đội, tự vệ và công an. Chính phủ đã bác bỏ tối hậu thư này. Vì vậy trong vòng 24 giờ tới quân Pháp nhất định sẽ nổ súng. Chỉ thị Trung ương: Tất cả hãy sẵn sàng!".

Nó được tiếp nối bởi mệnh lệnh do chính Giáp ký:

"Tổ quốc lâm nguy!
Giờ chiến đấu đã đến!
Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Quốc phòng-Tổng chỉ huy, tôi hạ lệnh cho toàn thể bộ đội Vệ quốc quân và dân quân tự vệ Trung-Nam-Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước.
Hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng!
Tiêu diệt bọn thực dân Pháp!
Quyết chiến!"

Phần thứ ba là điện khẩn được gửi đi đầu buổi chiều. Nó không được gửi cho miền Nam nhưng được chuyển đến mọi chiến khu trên miền Bắc có quân Pháp đồn trú: 1 (Lạng Sơn), 2 (Sơn Tây, Yên Bái, Lào Cai), 3 (Hải Phòng, Hải Dương, Móng Cái), 4 (Vinh) và 11 (Hà Nội) và thành phố Đà Nẵng, nơi quân Pháp đóng một lực lượng mạnh. Người nhận được yêu cầu đảm bảo lệnh đến tay các chỉ huy chiến khu và mặt trận trước 09h30 ngày 19-12: "Chuyến hàng sẽ đến lúc 18h00 ngày 21-12. Hàng mang mã hiệu A+2 và B-2. Chú ý và nhận hàng đúng giờ". "Chuyến hàng" là cuộc tấn công nhằm vào quân Pháp. Theo quy ước ở hội nghị quân sự ngày 13-12, người nhận sẽ cộng thêm 2 tiếng (A+2) và trừ 2 ngày (B-2). Nghĩa là nổ súng lúc 20h00 ngày 19-12. Như vậy vào sáng 19-12 tất cả các đơn vị Việt Nam đã nhận được lệnh để thực hiện điều mà họ sẽ không làm, nhưng người Pháp lại tuyên bố đã làm, đó là đồng loạt tấn công lúc 20h00.

Lúc 11h00, một số đơn vị chính quy của Giáp đã vào vị trí giữa sông Hồng và hồ Tây ở Hà Nội, từ đây họ có thể tấn công thành Hà Nội, nơi tập trung phần lớn quân Pháp. Chỉ huy các đội cảm tử trong thành phố được lệnh chuẩn bị làm nhiệm vụ. Trong một mệnh lệnh do chính ủy Lê Hồng ký, họ được yêu cầu kiểm điểm số thương binh, tử sĩ và quân số sau chiến đấu và báo về sở chỉ huy ở làng Gia Quất Hạ, phía đông sông Hồng. Theo lệnh này, tín hiệu tấn công sẽ được phát theo một cách phức tạp khó tin: "tín hiệu chuẩn bị: các pháo hiệu xanh; tín hiệu tấn công: pháo hiệu đỏ tiếp nối bằng 3 tiếng nổ lựu đạn; tín hiệu sẽ được phát vào tối nay (19-12-1946) lúc 18h45". Kỷ luật quân đội được củng cố cứng rắn bằng hành quyết: "rút lui: xử tử; diễn giải sai lệnh: xử tử; tiết lộ bí mật: xử tử". Mặc dù dường như 3 hình phạt trên là hợp lý, cái thứ hai mang một ấn tượng ớn lạnh hơn số còn lại vì ngay cả sau này nhìn lại cũng không hề dễ dàng trong việc diễn giải lệnh của Lê Hồng. Ông tuyên bố sẽ có 2 tín hiệu, 1 xanh và 1 đỏ. Sau đó ông cho thời gian chính xác mà không nói là của tín hiệu nào. Giờ, tất nhiên đội cảm tử có thể đợi đến 18h45 để xem liệu có nhiều tín hiệu xanh hay chỉ một tín hiệu đỏ. Đối với các nhà sử học, những người (may mắn là) không có cơ hội diễn lại các sự kiện đó, nó còn khó khăn hơn, nhưng vì ta biết rằng Giáp đã ra lệnh tấn công lúc 20h00, ta có thể phỏng đoán tín hiệu mà Lê Hồng dự định gửi lúc 18h45 là xanh (trừ khi ông dùng 18h45 làm mật hiệu cho 20h00).

Trong khi các đơn vị chuẩn bị làm nhiệm vụ, các toán được phân công đặc biệt đang sẵn sàng tấn công các nhà người Pháp, chiếm vũ khí đạn dược và giải họ ra ngoài Hà Nội. trong khi ấy, tình hình trên đường phố đang được cải thiện. Công an Việt Nam đột nhiên xuất hiện khắp nơi, bận rộn thể hiện rằng họ có khả năng duy trì an ninh và trật tự. Công nhân Việt Nam trong Thành trở lại làm việc sau khi đình công, và các đội tuần tra Pháp-Việt tiếp tục làm nhiệm vụ. Sainteny tại văn phòng của mình đã được biết về sự chuẩn bị của phía Việt Nam nhờ một báo cáo của SEHAN (Ban nghiên cứu lịch sử Hà Nội, cơ quan tình báo do Leclerc lập ra) cho biết nội dung một mệnh lệnh của phía Việt Nam ngày 17-12 gửi tới các ủy ban, chỉ thị họ tiến hành những chuẩn bị cuối cùng cho chiến tranh và đảm bảo toàn dân “sẵn sàng chiến đấu khi Chủ tịch Hồ Chí Minh hạ lệnh”.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 15 Tháng Mười Hai, 2011, 10:50:08 PM
Lúc 09h30, theo chỉ thị mà Hồ Chí Minh cử thư ký Vũ Kỳ mang tới, Hoàng Minh Giám đề nghị gặp Sainteny vào buổi chiều, nhưng Sainteny từ chối gặp cho đến sáng hôm sau. Hồ đã yêu cầu Giám gửi một bức thư ngắn mà giờ đây ông cử một người đưa tin mang đi. Bức thư hòa giải này hoặc là một mưu mẹo nhằm đảm bảo tính bất ngờ của cuộc tấn công, hoặc là một nỗ lực phút chót nhằm đạt được sự thỏa hiệp, qua đó cuộc tấn công có thể hoãn lại trong khi Hồ chờ đợi câu trả lời của Blum cho rất nhiều đề nghị của ông: “Ngài cao ủy, bạn kính mến. Tình hình đã trở nên căng thẳng trong mấy ngày gần đây. Điều này thực sự là đáng tiếc. Trong khi chờ quyết định của Paris, tôi trông chờ ngài và ông Giám sẽ tìm ra giải pháp cải thiện tình hình. Sainteny không trả lời. Thay vào đó ông gửi một bức thư lạnh nhạt tới Hồ, cảnh báo rằng nếu những kẻ sát hại dân Pháp không bị bắt và bỏ tù trong vòng 48 giờ, ông ta sẽ tự mình điều tra và làm những gì cần thiết để những tội ác đó không tái diễn trong tương lai. Có vẻ bức thư này đã không tới tay Hồ.

Sáng hôm đó Morliere viết cho Nam, lặp lại 5 yêu cầu mà ông ta đã nói miệng vào cuối ngày hôm trước: (1) triệt phá các chiến lũy và chấm dứt các hành động thù địch; (2) tước vũ khí lực lượng tự vệ “vô kỷ luật và vô trách nhiệm”; (3) thả tất cả những công dân Pháp bị bắt; (4) ngừng “chiến dịch tuyên truyền kích động” và (5) mọi cơ quan cùng hợp tác chặt chẽ để duy trì trật tự. Nếu Morliere đã nêu những yêu cầu này vào hôm trước, điều đó có thể lý giải việc trong mật lệnh của Giáp gửi các chiến khu lúc 8h sáng đã đề cập tới “tối hậu thư” của Morliere và yêu cầu giải giáp tự vệ của nó. Sau này người Việt Nam sẽ gọi bức thư của Morliere là “tối hậu thư thứ ba”.

Giờ, nói cho chính xác thì cả 3 “tối hậu thư” trên đều không phải tối hậu thư. Một tối hậu thư đặt ra thời hạn chấp nhận một số yêu cầu nhất định và đe dọa dùng vũ lực nếu nó không được thực hiện. Nếu một bên đưa ra tối hậu thư và không được chấp nhận, việc thực hiện lời đe dọa sau khi thời hạn trôi qua là rất quan trọng. Nếu hết thời gian mà không có gì xảy ra, nó sẽ mất đi sự tin cậy. Tối hậu thư của Debes ngày 23-11 là một ví dụ. Nó gồm một số yêu cầu đặc biệt – mặc dù là rất phi thực tế và Debes còn hơn cả sẵn sàng tiến hành lời đe dọa. Điều này khiến những đe dọa của Pháp trở nên đặc biệt đáng tin đến mức có thể người Việt Nam đã nghiêm trọng hóa những bức thư mà sau này họ nhận được ở Hà Nội. Bức “tối hậu thư thứ nhất” ngày 18-12 yêu cầu phá bỏ các chiến lũy và đe dọa rằng người Pháp sẽ tự làm nếu người Việt Nam không tiến hành, nhưng nó không có thời hạn nào lời đe dọa có hiệu lực được đặt ra. Bức “tối hậu thư thứ hai” do sĩ quan liên kiểm Fonde ký đặt ra thời hạn cho công an Việt Nam quay lại làm nhiệm vụ và duy trì an ninh trật tự. Nếu điều này không được thực hiện, quân Pháp sẽ nhận trách nhiệm duy trì an ninh trật tự ở Hà Nội muộn nhất là ngày 20-12. “Thời hạn” này dường như đã gây một ấn tượng mạnh cho người Việt Nam, và có thể nó đã góp phần vào quyết định mang tính định mệnh của họ. Morliere không đặt ra thời hạn chính xác nào trong “tối hậu thư thứ ba” và cũng không đề ra đe dọa nào. Thay vào đó, Morliere kết thúc bức thư khá hòa nhã: “Nhà chức trách Pháp đang chuẩn bị mở một cuộc điều tra chung khẩn cấp để thi hành những biện pháp cần thiết để tránh có thêm những sự cố và sẽ tạo điều kiện cho sự hợp tác chân thành và tin cậy”. Ai đó có thể cảm thấy sự đe dọa trong cụm từ “những biện pháp cần thiết để tránh có thêm những sự cố” và chắc chắn phía Việt Nam đã làm như vậy. Nhưng đe dọa của Morliere không rõ rang và cũng không gắn với thời hạn nào. Tất nhiên, các lãnh đạo Việt Nam không thể biết là chính phủ Pháp đã báo cho phái viên của d’Argenlieu và Valluy là Le Puloch một cách rõ rang là họ sẽ không khoan dung cho việc để lặp lại ở Hà Nội những gì đã xảy ra ở Hải Phòng. Nếu chiến sự xảy ra, nó phải khởi đầu từ phía Việt Nam. Vì vậy giới chức Pháp ở Đông Dương không thể đưa ra bức tối hậu thư thực sự nào. Những gì họ có thể làm là liên tục gia tăng sức ép với hy vọng buộc chính phủ Việt Nam phải hành động.

Nếu những bức thư của Sainteny và Morliere là phản hồi duy nhất của phía Pháp cho những đề nghị của Việt Nam, sẽ rất khó cho người nào bên phía Việt Nam tranh luận là nên tiếp tục hoãn cuộc tấn công. Có lẽ Giáp đã bước cả 2 chân vào trong cái bẫy mà người Pháp giăng ra, và chiến tranh có lẽ sẽ bắt đầu với một cuộc tấn công theo kế hoạch của Việt Nam. Giáp không thể chỉ ngồi nhìn một cách thụ động khi quân Pháp bắt đầu tước vũ khí tự vệ. Tuy vậy, người Pháp cũng đã gửi hai tín hiệu hòa giải trong ngày hôm đó. Cũng như đã làm trong buổi sáng hôm trước, các sĩ quan liên kiểm Việt Nam thăm dò bằng cách hỏi các đồng sự Pháp xem liệu lính Pháp có bị cấm trại tối hôm đó không. Cho lính Pháp vào thành phố sẽ có nhiều nguy cơ. Nhưng tín hiệu đi cả 2 chiều. Cho lính Pháp xả trại là một cách chắc chắn để cho phía Việt Nam thấy người Pháp không ở trong thế chuẩn bị tấn công. Vì vậy khi Sainteny và Morliere quyết định cho 1.200 binh sĩ nghỉ vào tối đó và thông báo cho phía Việt Nam quyết định này, lãnh đạo Việt Nam có thể thấy đây là dấu hiệu cho thấy họ vẫn còn thời gian để chờ đợi và xem chính phủ Blum có thể làm gì. Trong hồi ký Sainteny giải thích rằng cho binh lính xả trại là một "nước cờ" nhằm hai mục đích, giảm bớt căng thẳng và buộc Việt Minh "lộ mặt".


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 15 Tháng Mười Hai, 2011, 10:50:40 PM
Các lãnh đạo Việt Nam đã ở đâu? Giáp viết trong hồi ức gần đây rằng tổng hành dinh được đặt tại làng Vạn Phúc ở Hà Đông, cách Hà Nội 11km. Ngay trước khi phía Việt Nam tấn công lúc 20h00, Sainteny cho biết Hồ đã trở lại thủ đô sau vài ngày vắng mặt. Tình báo Pháp sau này báo cáo rằng Hồ, Giáp và các thành viên chính phủ đã rời Hà Nội lần nữa trong buổi chiều, vài tiếng trước khi nổ súng, nhưng Hồ viết trong bức thư gửi Blum ngày 23-12 rằng ông vẫn ở trong dinh khi quân Pháp tấn công và chỉ thoát được nhờ phép màu. Đây rõ ràng là điều không đúng. Sự thật là Hồ không trở về Hà Nội mà ở lại Vạn Phúc. Sáng 19-12, ông viết thêm một lá thư gửi Blum và một lá khác cho Vincent Auriol, phát ngôn viên Quốc hội Pháp. Hồ nói với hai thành viên đảng xã hội Pháp rằng ông đã yêu cầu đồng bào mình giữ bình tĩnh bất chấp sự khiêu khích. Ông làm điều này vì tình cảm với nước Pháp và sự tin cậy đối với Blum và Auriol: "Nhưng tôi sẽ còn phải chịu đựng việc trông thấy đồng bào tôi bị giết ngay trước mắt bao lâu nữa? Tôi khẩn thiết đề nghị với ngài một lần nữa. Vì lợi ích cao nhất của cả hai quốc gia, tôi đề nghị ngài cho chấm dứt ngay sự khiêu khích và đổ máu". Vũ Kỳ được giao mang thư này tới Hà Nội, cùng với bức thư ngắn của Hồ gửi Sainteny. Sau khi giao thư và gặp Hoàng Minh Giám, Vũ Kỳ quay về Vạn Phúc lúc 12h30 và thông báo cho Hồ Chủ tịch biết Sainteny từ chối gặp Giám. Hồ đi lại một lúc, cau mày, sau đó bước tới chiếc bàn nơi để bản thảo lời hiệu triệu, và theo như nhật ký của Vũ Kỳ được xuất bản sau này, ông nói rành mạch: "Hừ! Thì đánh!". Nếu đúng, điều này dường như cho thấy đầu tiên là mệnh lệnh mà Giáp gửi đi sáng hôm đó không mang theo quyết định rõ ràng cho việc nổ súng. Hồ vẫn chưa hạ bài. Thứ hai, tuy nhiên, câu của Hồ cho thấy giờ ông đã quyết định ngửa bài. Chúng ta không biết liệu Hồ và Giáp có thể liên lạc vào 12h30, nhưng theo người viết tiểu sử của Giáp Trần Trọng Trung thì chính là lúc này, sau khi Sainteny từ chối gặp Giám, Giáp đưa ra mệnh lệnh thứ hai với mật mã nổ súng lúc 20h00.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Hoàng Hữu Nam trả lời "bức tối hậu thư thứ ba" của Morliere với tư cách phái viên Bộ trưởng Quốc phòng: "Tôi đã chuyển vấn đề cho bộ trưởng quốc phòng. Ông ấy giao cho tôi trả lời rằng ông sẽ đưa các đề nghị của ngài ra cuộc họp định kỳ hàng tuần của chính phủ diễn ra vào ngày mai, thứ Sáu, 20-12-1946. Trong thời gian ấy, ông đã đưa ra các mệnh lệnh nhằm tránh mọi sự hiểu nhầm. Ông hy vọng rằng về phía các ngài cũng sẽ đưa ra những mệnh lệnh cần thiết để không làm trầm trọng thêm tình hình", trong khi mệnh lệnh mà Giáp gửi đi vào đầu giờ chiều tới các tư lệnh và chính ủy trên thực tế là sẵn sàng tấn công lúc 20h00.

Hai tiếng rưỡi sau, lúc 14h30, theo Vũ Kỳ, 4 thành viên Thường vụ Trung ương Đảng - Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp - họp ở Vạn Phúc. Những yêu cầu mới của Morliere và việc Sainteny từ chối gặp Giám hẳn đã được đem ra tranh luận để ủng hộ tiến hành cuộc tấn công được lên kế hoạch từ trước. Việc Morliere đình chỉ cấm trại lính Pháp tạo ra thêm thuận lợi. Họ có thể truy lùng lính Pháp và tiêu diệt từng cá nhân hoặc nhóm nhỏ. Mặt khác, thực tế là 1.200 lính Pháp sẽ tỏa ra khắp các quán bar và nhà hàng cũng cho thấy phía Pháp không ở trong thế chuẩn bị tấn công - tấn nhiên trừ khi đây là mồi nhử.

Trong khi những vấn đề trên có lẽ đang được thảo luận ở Vạn Phúc, một tin tức đến có thể chuyển cán cân sang duy trì hòa bình. Lúc 14h00, Sở thông tin Pháp biết được qua Radio Saigon rằng nội các Blum đã quyết định cử Moutet sang Đông Dương trong một sứ mệnh đặc biệt, tin này lập tức được báo cho phía Việt Nam. Phụ tá thứ hai Minh hết ức bất ngờ, đã đảm bảo rằng ông ta sẽ lập tức báo cho chính phủ. Chúng ta không biết liệu tin này có đến được với những người ở Vạn Phúc mà theo Vũ Kỳ đã tán thành việc giữ quyết định phát động toàn quốc kháng chiến tối hôm đó. Sau khi bổ sung thêm 5 từ do Lê Đức Thọ gợi ý, cuộc họp phê chuẩn lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh, yêu cầu Trường Chinh hoàn tất các chỉ thị liên quan tới tiến hành chiến lược kháng chiến toàn quốc và giao cho Giáp thẩm quyền tiến hành cuộc tấn công. Ở Hà Nội, tín hiệu sẽ là cắt điện ở nhà máy Yên Phụ. Và tín hiệu chung cho toàn quốc là lời kêu gọi của chủ tịch nước trên đài phát thanh quốc gia.

Câu hỏi ở đây là liệu quyết định của Thường vụ có phải là không thể thay đổi, hay Giáp vẫn còn thẩm quyền để hủy bỏ cuộc tấn công nếu có bằng chứng mới về ý định của chính phủ Pháp. Sau 15h15, khi cuộc họp kết thúc, Hồ Chủ tịch trở về nhà của cơ sở và bắt đầu chuẩn bị chuyển tới nơi khác. Tư liệu của Vũ Kỳ về ngày 19-12 kết thúc với việc Hồ chỉ thị cho ông giúp chuyển tới nơi trú ẩn mới ở Xuân Dưỡng. Tư liệu của Vũ Kỳ có vẻ khá đáng tin, vì nó dựa trên nhật ký cá nhân viết từng ngày của ông. Tuy nhiên bản gốc của nhật ký không được đưa vào thư viện của Bảo tàng Hồ Chí Minh khi Vũ Kỳ mất năm 2005. Thay vào đó, dường như nó đã được cất vào tàng thư của đảng, đồng nghĩa với các nhà nghiên cứu không thể tiếp cận.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:03:51 PM
Dựa trên thông tin của tình báo Pháp, Devillers viết rằng Giáp triệu tập các chỉ huy quân sự quan trọng nhất ở Bạch Mai, ngay ngoại ô Hà Nội lúc 16h00, sau khi cuộc họp Thường vụ ở Vạn Phúc kết thúc. Điều này được chính Giáp và người viết tiểu sử của ông xác nhận. Họp ở Bạch Mai có người đứng đầu cơ quan tình báo Trần Quốc Hoàn, đại diện đảng; Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, người chịu trách nhiệm cho các liên lạc mã hóa và tư lệnh chiến khu 11 Nguyễn Văn Trân. Theo nhà viết tiểu sử gần đây nhất của Giáp và hồi ký của ông, Giáp dành thời gian còn lại của buổi chiều để kiểm tra lực lượng trong thủ đô và di chuyển về hướng Hà Đông trước giờ nổ súng. Trong toàn bộ thời gian, ông rất bình tĩnh và có vẻ yên tâm.

Tuy nhiên có ít nhất một nguồn tin đi ngược lại với bức tranh chung về nhất quán trong chỉ huy chuẩn bị chiến đấu. Lúc 16h45, đơn vị của tác giả cuốn nhật ký - Ngô Văn Chiêu nhận được lệnh hủy bỏ cuộc tấn công mà họ đã được phân công. Chiêu viết rằng sẽ không được tấn công "dưới bất cứ lý do nào" trừ khi có lệnh viết tay hoặc truyền đạt từ bản thân Giáp hoặc 2 phụ tá trực tiếp của ông. Trong bất kỳ tình huống nào họ cũng không được khiêu khích số lính Pháp đang được xả trại trong thành phố. Điều này có vẻ lạ lùng, vì nó trái với quyết định mà theo Vũ Kỳ đã được đặt ra ở Vạn Phúc chỉ 2 giờ trước.

Tại sở chỉ huy Pháp, khi Morliere nhận được bức thư của Nam liên quan đến lệnh "tránh mọi sự hiểu nhầm", ông ta chỉ vừa mới thay đổi quyết định liên quan đến việc cho lính Pháp nghỉ. Ở một thời điểm nào đó trong buổi chiều, bộ chỉ huy Pháp nhận được thông tin quân đội Việt Nam đang tập trung ở ngoại ô Hà Nội và có kế hoạch tấn công vào buổi tối. Một trong những báo cáo này đến từ điệp viên Âu lai Á có tên Pháp là Charles Eugene Fernand Petit. Theo Jean Bidault, vào buổi sáng Petit được cho biết là sẽ nổ súng vào tối hôm đó, mặc dù anh ta không biêys là mấy giờ. Petit đã chuyển được tin này cho Surete ngay trước 18h00. Nó được xác nhận bởi tuyên bố mà Petit đưa ra khi tuyên thệ trước tòa án Pháp tháng 2-1947, khi anh ta tự giới thiệu là một "thanh tra của Surete" trong một đơn vị phản gián. Với thư giới thiệu của lãnh đạo Việt Minh sống ở Pháp, anh ta đã xâm nhập được vào đơn vị tự vệ của khu phố. Đầu tiên Petit được bảo rằng cuộc tấn công sẽ diễn ra vào đêm Noel, nhưng vào sáng 19-12 anh ta nghe các tự vệ nói rằng sẽ là "đêm nay". Vì lý do an ninh, Petit đợi đến khi trời tối mới chuyển tin cho Surete, nhưng làm vậy ngay trước 18h00. Khi trở về đơn vị, chỉ huy tự vệ ra lệnh cho Petit: "Hãy chuẩn bị. Chúng ta tấn công bọn Pháp lúc 20h00 tối nay. Vào vị trí chiến đấu!". Đầu tiên anh ta về nhà gặp người vợ Việt Nam và cho biết mình ra đi vì đất nước (part pour la patrie). Trước tòa, anh ta nhấn mạnh rằng khi nói đến đất nước, anh ta có ý nói là nước Pháp. Sau đó Petit trở lại đơn vị tự vệ và kiếm cớ xin vắng mặt vài phút. Người chỉ huy nói rằng nếu không quay lại, vợ con anh ta sẽ phải chịu hậu quả (và sau này đúng vậy). Petit đi thẳng tới gặp Đại tá Lami, chỉ huy phó của Morliere. Do lúc này đã sát 20h00, Lami khuyên anh ta ở lại cùng mình thay vì trở lại đơn vị tự vệ. Và như thế Petit đã tham gia bảo vệ dinh thự của Lami chống lại các đồng đội tự vệ của mình.

Có 2 điều kỳ lạ trong câu chuyện này. Thứ nhất, liệu Lami có chọn ở nhà nếu ông ta dự kiến trước một cuộc tấn công lúc 20h00. Không phải ông ta sẽ cần ở sở chỉ huy sao? Hoặc ông không coi cảnh báo của Petit là nghiêm trọng hoặc Petit đến quá trễ khiến Lami không có thời gian tiến hành các biện pháp đề phòng. Điều lạ thứ hai là thời gian. Nếu Petit nói đúng, vậy thì cả 2 lần báo cáo của anh ta đều không thể có tác động tới quyết định triệu hồi binh sĩ của Morliere diễn ra trước 17h00. Trong báo cáo đầu tiên ngay trước 18h00, Petit không biết thời gian nổ súng, nhưng rõ ràng người Pháp đã nhận được thông tin chỉ ra rằng nó có thể là 19h00. Có dấu hiệu cho thấy có thể SEHAN của Trocard, không phải Surete của Moret (mà Petit phục vụ) đã cùng cấp cho Morliere thông tin khiến ông ra lệnh gọi binh lính về doanh trai. Nhưng SEHAN có thể đã đoán cuộc tấn công diễn ra sớm hơn 20h00. Khi không có chuyện gì xảy ra lúc 17h00, 18h00 hay 19h00, người Pháp có thể đã kết luận không phải là đêm nay, vì đã từng có nhiều cảnh báo sai trong những tuần trước. Trong trường hợp này, có lẽ Đại tá Lami và Cao ủy Sainteny về nhà ăn tối không phải là vô trách nhiệm. Sau đó Petit đến gặp Lami, sau 19h00 và theo lời kể của anh ta - báo cho viên đại tá biết tự vệ sẽ nổ súng lúc 20h00.

Petit không bao giờ đề cập đến lệnh hủy bỏ nào. Điều này có nghĩa là cuộc tấn công không bao giờ bị hủy bỏ hoặc Giáp chỉ hủy bỏ sự tham gia của bộ đội chính quy. Có thể, khi phát hiện ra xe bọc thép Pháp đã khống chế những ngả đường quan trọng, ông quyết định không liều lĩnh cho chủ lực của mình tham chiến, nhưng vẫn để tự vệ nổ súng theo kế hoạch. Điều này giải thích vì sao đơn vị chủ lực của Ngô Văn Chiêu nhận được lệnh hủy bỏ còn tự vệ của Petit thì không. Tuy nhiên cũng có thể Giáp đã không thành công trong việc ngăn tự vệ nổ súng. Jean Bidault ghi công cho Petit đã cứu sống hàng trăm lính Pháp, nhưng rõ ràng đây chỉ là huyền thoại. Morliere triệu hồi binh sĩ một giờ trước khi Petit đưa ra báo cáo đầu tiên. Câu chuyện về Petit đã làm tròn sứ mệnh là huyền thoại trong cộng đồng tình báo Pháp, "chứng minh" rằng đôi khi mật vụ là một công cụ hữu hiệu.

Tin lính Pháp bị cấm trại trở lại có thể đã đến với sở chỉ huy Việt Nam ngay khi những nỗ lực giải thích cho tự vệ và các đơn vị quân đội rằng cuộc tấn công sẽ bị hoãn lại. Giáp và tự vệ sẽ phản ứng thế nào? Còn Hồ thì sao? Liệu có phải tất cả bọn họ cảm thấy đang bị đánh lừa? Có phải Morliere đã lừa họ khi nói ông ta sẽ cho lính xả trại? Họ có thể đã lo ngại rằng cuộc tấn công của quân Pháp đang đến. Sau này Giáp sẽ viết trong hồi ức: "Hoàng hôn xuống rất nhanh… Có tin báo cáo về, ở các tiệm ăn uống, giải khát và trên khắp các đường phố đều không còn bóng một tên lính Pháp. Những xe bọc thép của địch đã tiến ra đứng chặn ở một số ngả đường".


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:59:06 PM
CHỐNG ĐỐI HAY SAI LẦM?

Chúng ta đã giả định rằng thư hòa giải do Nam và Hồ viết cũng như việc phía Việt Nam đề nghị được biết quân Pháp có bị cấm trại không có thể đến từ một hy vọng thực sự nhằm liên lạc với chính phủ mới của Blum trước khi điều gì đó không thể cứu vãn được thực hiện. Không nhất thiết phải nghi ngờ Hồ và Nam như Pignon và Jean Bidault làm. Câu hỏi tiếp theo là vì sao phía Việt Nam lại tấn công lúc 20h00, nếu như các lãnh đạo Việt Nam muốn Blum có cơ hội can thiệp. Đó là do tự vệ đã chống đối, hay Giáp đã phạm phải sai lầm lớn nhất trong đời?

Khi chúng ta tới gần thời điểm 20h00, các diễn biến quá phức tạp đến mức đầu tiên cần khảo sát chúng từ phía Pháp, sau đó là từ phía Việt Nam. Triệu hồi binh sĩ về trại như đã quyết định lúc 17h00 chưa phải là một biện pháp triệt để nếu nhìn nhận có dấu hiệu sắp có một cuộc tấn công định trước. Morliere có thực sự tin rằng phía Việt Nam sẽ nổ súng, và ông có chuẩn bị để chiến đấu? Về mặt này, các nguồn tin có sự trái ngược. Hồ Chí Minh đính kèm một phụ lục trong bản bị vong lục ngày 31-12 thông tin từ một sĩ quan liên kiểm Việt Nam cho biết lúc 18h30 công an Việt Nam báo cáo xe bọc thép Pháp xuất hiện ở 5 điểm quan trọng. Jean Bidault cũng đưa ra thông tin đó và bổ sung rằng số xe này khống chế các trục đường mà quân đội Việt Nam ở ngoài Hà Nội sẽ phải đi qua nếu muốn tiến vào thành phố. d’Argenlieu bác bỏ, tuyên bố lý lẽ của Hồ Chí Minh là "hiển nhiên sai lầm". Chỉ có 2 xe bọc thép trong thành phố tối hôm đó, theo kế hoạch tuần tra hỗn hợp từ trước. Mục đích của báo cáo của d’Argenlieu là vừa buộc tội Hồ Chí Minh, vừa cho thấy sự bất tài của Morliere và mục đích đôi này đã ảnh hưởng tới diễn giải của ông ta, mặc dù công an Việt Nam có thể đã quan sát cùng 2 chiếc xe đó di chuyển qua 5 điểm khác nhau. Một phụ lục trong báo cáo của d’Argenlieu kết luận dứt khoát rằng quân Pháp ở Hà Nội bị bất ngờ, và binh lính ở trong doanh trại thay vì các vị trí báo động theo quy định. Và đây không phải nguồn duy nhất. Báo cáo của Phó lãnh sự Mỹ O'Sullivan và bản sao một trong những báo cáo đầu tiên được Hà Nội gửi Sài Gòn sau cuộc tấn công đầu tiên ủng hộ d'Argenlieu. O'Sullivan cho biết bộ phận đầu tiên của quân Pháp - chủ yếu là xe bọc thép, halftrack và xe jeep - bắt đầu tiến vào thành phố từ nhiều khu đóng quân khác nhau lúc 20h20, 17 phút sau khi cắt điện. Những "binh lính thiếu kinh nghiệm trên xe bổ sung thêm cho sự hỗn loạn bằng cách nổ súng gần như bừa bãi vào bất cứ thứ gì di chuyển", O'Sullivan viết. Điều này phù hợp với một báo cáo Hà Nội gửi Sài Gòn đêm đó nói quân Pháp bắt đầu can thiệp lúc 20h20. Cho đến 21h30, đường phố vẫn tương đối yên ổn nhưng sau đó chiến sự bắt đầu và nhanh chóng trở nên ác liệt. Điều này có nghĩa là cuộc phản công của quân Pháp không diễn ra cho đến 1 tiếng rưỡi sau khi phía Việt Nam nổ súng. Tờ Le Firago hôm 1-2-1947 cũng viết là lính Pháp không sẵn sàng và cũng không được bố trí để chiến đấu.

Với những thông tin trái ngược như vậy, rất khó để đánh giá mức độ chuẩn bị của quân Pháp. Thông tin chi tiết của công an Việt Nam về xe bọc thép Pháp bố trí ở 5 điểm chiến lược được Jean Bidault xác thực có vẻ đáng thuyết phục. Thiết giáp Pháp có lẽ đang khống chế các ngả chính vào thành phố nhưng bộ chỉ huy Pháp vẫn bị bất ngờ lúc 20h00. Liệu có phải người Pháp sự kiến cuộc tấn công sẽ diễn ra sớm hơn? Có thể họ tiến hành các biện pháp đề phòng vào buổi chiều, khi binh lính được gọi về trại nhưng sau đó hạ cấp khi có vẻ không có gì sẽ xảy ra. Có lẽ số xe bọc thép trên có mặt lúc 18h30 chứ không phải 20h00. Như vậy Hồ Chí Minh, Jean Bidault và d'Argenlieu có thể đều nói đúng. Morliere có vô trách nhiệm không khi bãi bỏ một số biện pháp an ninh sau 19h00? Không nếu ông và Sainteny nhận được thông tin đáng tin cậy rằng Giáp đã hủy bỏ cuộc tấn công. Sau 20h00, thực tế là bộ đội chủ lực của Giáp không tham gia chiến đấu có thể làm người Pháp bối rối. Chỉ huy Pháp biết đối phương có nhiều tiểu đoàn ở ngoại ô, và trong giai đoạn chiến đấu đầu tiên có thể họ ưu tiên phòng ngự trước một cuộc tấn công lớn - điều không bao giờ đến. Có lẽ Morliere cần thêm chút thời gian để hiểu rằng quân chủ lực Việt Nam sẽ không tham gia. Lúc đó ông tiến hành kế hoạch tấn công của mình. Như vậy chiến sự chỉ thực sự bắt đầu lúc 21h30. Nó đánh dấu sự mở màn cuộc "đảo chính" của Pháp được lên kế hoạch từ khá lâu. Trong không đầy 24 giờ, quân Pháp chiếm toàn bộ các công sở và điểm chiến lược trong thành phố, bao vây khu phố Hoa-Việt. Trong những tuần sau, tự vệ sẽ thực sự cần đến số nước họ đã dự trữ.

Nếu như Morliere bị bất ngờ lúc 20h00, thì chắc chắn Sainteny cũng vậy. Trong điện tín gửi từ Hà Nội lúc 17h00, ông nhấn mạnh sự "hòa nhã đặc biệt" trong bức thư của Hồ và chỉ đề cập qua loa rằng "thông tin khác" cảnh báo về một cuộc tấn công lớn tối hôm đó. Khi các nhà báo và sử gia thiếu kinh nghiệm thấy những nhà hoạch định nhận được cảnh báo trước về những sự kiện lớn như cuộc tấn công Trân Châu cảng hay Chiến dịch Barbarossa, họ thường lên án những nhà lãnh đạo vì đã không nghe theo cảnh báo. Dễ dàng quên mất việc trong đời thực, hầu hết các cảnh báo đều là về những sự kiện không bao giờ diễn ra. Hiển nhiên đối với một lãnh đạo thực sẽ khó khăn hơn nhiều so với một sử gia sau này trong việc xác định cảnh báo nào là đúng. Điện Sainteny gửi Sài Gòn vào giữa 18h00 đến 19h30 ngày 19-12 không hề có cảnh báo. Một bức về lá thư lịch thiệp của Hồ. Bức thứ hai thể hiện mong muốn mà Sainteny chia sẻ với d'Argenlieu rằng Cao ủy Cộng hòa nên trở lại trong Phủ toàn quyền càng sớm càng tốt trong "điều kiện cực kỳ thuận lợi". Sainteny đề nghị Vally khẩn cấp xem xét mệnh lệnh của ông ta trong việc trì hoãn hành động mang tính biểu tượng này vì nhiều lý do: dinh thự ông ta đang ở hiện rất lộ liễu; sự bất tiện trong việc đi lại ở một thành phố phức tạp; sự hữu ích trong việc tiến hành trước khi Đô đốc d'Argenlieu trở lại, như vậy ông ta sẽ xem như vô can trong việc này; hiệu quả tuyệt vời trong việc chiếm đóng Nha tài chính gần đây đối với tâm lý của dân chúng Việt Nam; và tránh scandal cho Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet khi ông ta tới đây. Sẽ không có thời điểm nào tốt hơn, và sẽ không có phản ứng nào nghiêm trọng. Như vậy, ngay trước 20h00, Sainteny đề nghị được phép đặt cửa nhiều hơn trong những ngày tới.

Khi điện và nước bị cắt lúc 20h00, Sainteny đang ở nhà hoặc trên đường về. Trong hồi ký, ông tuyên bố đã nghe thấy đồng hồ ở Viện Yersin điểm 8 tiếng khi rời trụ sở. Ngay khi ngồi vào xe, "chính xác" lúc 20h04, ông nghe thấy tiếng nổ và ánh đèn tắt phụt. Các nguồn tin không thống nhất về thời điểm chính xác điện bị cắt. Một bức điện của Pháp từ Hà Nội nói là 19h55, trong khi các tài liệu Việt Nam sau này nói: "Đúng 20h03 ngày 19-12-1946, đèn điện toàn Hà Nội phụt tắt". Bất chấp bóng đêm, rõ ràng Sainteny đã lái xe về nhà vì nửa giờ sau Morliere điều một xe bọc thép đến đón ông ta ở nhà riêng. Khoảng 21h00 chiếc xe vấp mìn. Sainteny bị thương và đau đớn trước hỏa lực của quân Việt Nam trong khi chờ đợi được cứu bởi một chiếc halftrack. Sự lúng túng của quân Pháp trong 1 tiếng rưỡi sau 20h00 và việc Sainteny lái xe về nhà thay vì ở lại trụ sở cùng chỉ ra một điều: bất chấp mọi cảnh báo, người Pháp không dự kiến một cuộc tấn công lúc 20h00. Như bằng chứng về sự bất tài của Morliere, Debes thông báo trực tiếp cho Valluy 2 ngày sau đó: "Thông tin được kiểm chứng cho thấy quân đồn trú ở Hà Nội hoàn toàn bị bất ngờ vào đêm 19".


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:00:51 PM
Những gì diễn ra ở phía bên kia còn gây bối rối hơn. Mặc dù trong hồi ức Giáp trình bày lý luận về chiến lược công phu để khẳng định những gì mà quân đội của ông thực hiện hôm 19-12 và trong những ngày và tuần tiếp theo chính xác với kế hoạch, có vẻ là chỉ một phần của kế hoạch được thực hiện. Và những hoạt động đó được tiến hành một cách lộn xộn. Hoạt động duy nhất có hiệu quả lúc 20h00 là cuộc tấn công vào các nhà người Pháp của tự vệ (bao gồm cả một số tù được thả), bắt giữ 200 người và giết khoảng 20-30 người chống cự. Những hoạt động khác của tự vệ thuần túy là phá hoại: cắt điện nước, bịt các ngã tư bằng xe điện và một trục đường bằng tàu hỏa, đặt mìn trên đường phố và bắn súng cối và súng phòng không bừa bãi. Không có nỗ lực nào nhằm tấn công các đồn trại Pháp, và những nỗ lực nửa vời nhằm phá hủy cây cầu Long Biên quan trọng và tấn công sân bay Gia Lâm đều thất bại.

Liệu có phải đó là vỏ bọc cho việc bắt con tin? Vì sao các tiểu đoàn ở ngoại ô không tiến vào thành phố? Có phải lãnh đạo Việt Nam đã dao động trong thời khắc cuối cùng? Giáp cung cấp vài câu trả lời trong hồi ức của mình. Ông viết rằng bộ đội chính quy bên ngoài thành phố có nhiệm vụ bảo vệ chính phủ và cho các hoạt động sau này. Một đội quân yếu kém về vũ khí trang bị không thể thắng trận đánh trong thành phố. Vì vậy tốt hơn cả là chỉ để một tiểu đoàn trong Hà Nội để bảo vệ khu phố người bản xứ càng lâu càng tốt, cầm chân quân địch và tạo một tấm gương về sự dũng cảm và sáng tạo cho toàn quốc noi theo. Đây là những gì Giáp nói, và chúng có vẻ thuyết phục. Nhưng Giáp không thừa nhận bất cứ sự lúng túng nào đã có bằng chứng từ những nguồn khác, và ông hầu như không nói là cuộc tấn công đã diễn ra vào thời điểm tệ hại. Khai chiến và thực hiện những tội ác với dân thường đêm 19-12-1946 ở Hà Nội, ngay khi Blum vừa nhậm chức ở Paris và Moutet đang chuẩn bị tới Hà Nội là một sai lầm chiến lược ghê gớm, có lẽ là sai lầm chính trị và ngoại giao lớn nhất trong đời Hồ và Giáp. Đây là món quà tuyệt nhất mà họ cho giới diều hâu Pháp ở Sài Gòn: cái cớ tốt nhất để cắt đứt với VNDCCH một lần và mãi mãi, với cái giá phải trả chỉ là vài thất bại quân sự của Pháp. Câu hỏi lớn là: Giáp và Hồ đã phạm sai lầm? Hay ai đó dưới quyền họ đã can thiệp?

Vì Giáp đã ra lệnh cho mọi đơn vị tiêu hủy mệnh lệnh ngày 19-12 cùng tất cả phụ lục ngay sau khi chiến tranh bắt đầu, đi sâu vào chi tiết của ngày 19-12 gần như là điều cấm kỵ ở Việt Nam. Vai trò cá nhân của Giáp là gì? Có phải ông quyết định tấn công vì cảm thấy cuộc đảo chính của quân Pháp sắp đến? Có phải ông đã cố hủy bỏ chiến dịch khi nhận ra quân Pháp sẽ không tấn công? Có phải ông đã không ngăn được lực lượng tự vệ? Có phải họ đã phớt lờ lệnh hủy bỏ vì sợ chính phủ sẽ chấp thuận yêu cầu giải giáp của phía Pháp? Có phải thành phần quốc gia không cộng sản thâm nhập vào bên trong đã kích động tự vệ khởi chiến, có thể là với sự thông đồng của gián điệp Pháp? Trước khi nghiên cứu những khả năng trên, chúng ta hãy điểm qua hệ thống phân tầng quyết định của Việt Nam:

Cấp 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh với thư ký Vũ Kỳ làm trợ lý.

Cấp 2a: Tổ chức đảng: Tổng bí thư Trường Chinh và Lê Đức Thọ.

Cấp 2b: Quân đội: Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, liên hệ mật thiết với người đứng đầu cơ quan tình báo Trần Quốc Hoàn, và Hoàng Văn Thái. Khi liên lạc với người Pháp, Hoàng Hữu Nam, Trưởng ban liên kiểm Việt Nam đóng vai trò phái viên đặc biệt của Giáp.

Cấp 3: Chiến khu Hà Nội dưới sự chỉ huy của người mới được bổ nhiệm Vương Thừa Vũ, dưới quyền Ủy ban kháng chiến Hà Nội gồm Nguyễn Văn Trân (chủ tịch), Vương Thừa Vũ (phó chủ tịch), Trần Độ (chính ủy), Trần Quốc Hoàn, Khuất Duy Tiến, Đặng Việt Châu, Trần Duy Hưng và Lê Quang Đạo.

Dưới cấp này là các đơn vị quân sự: vệ quốc đoàn, dân quân tự vệ và công an.

Nếu những ấn bản gần đây của Việt Nam là đáng tin cậy thì thẩm quyền cao nhất là Thường vụ Trung ương Đảng do Trường Chinh đứng đầu và cuộc họp ở Vạn Phúc từ 14h30 đến 15h15 là then chốt. Như đã nói, tình báo Pháp dường như không nắm được về Thường vụ. Họ cho rằng cơ quan đứng đầu là Tổng bộ Việt Minh và có vẻ Trường Chinh cùng Lê Đức THọ không trong tầm ngắm của họ. Một báo cáo của SEHAN cho biết Giáp và Hồ không hề tách rời trong những ngày quan trọng tháng 12 để đảm bảo sự phối hợp đầy đủ về chính trị, quân sự, ngoại giao. Điều này không đúng. Như ta đã thấy, Giáp có mặt ở Hà Nội nhiều lần, đáng chú ý nhất là sau cuộc họp ở Vạn Phúc ngày 19-12, trong khi Hồ Chí Minh ở lại nhà cơ sở, và sở chỉ huy của Giáp nằm ở một nơi khác.

Ngay trước ngày 19-12, SEHAN nhận được báo cáo về xung đột bên trong Quân đội Việt Nam, giữa các sĩ quan thuộc quân đội thuộc địa được Pháp đào tạo và các sĩ quan trẻ được Giáp huấn luyện. Số sau thường là con của các lãnh tụ kỳ cựu của đảng được đào tạo ở các trường quân sự mới lập. Một nghiên cứu của Giáp vào tháng 4-1947 với tựa "Cuộc chiến tranh giải phóng của chúng ta - chiến lược và chiến thuật" lên án "một số cá nhân" chống lại chiến lược chiến tranh du kích trường kỳ với lý do Việt Minh chưa có một lực lượng chủ lực để duy trì chiến tranh du kích, và rằng Việt Nam nhỏ hơn Trung Quốc nhiều nên trong trường hợp nào cũng rất khó áp dụng chiến lược của Mao vào Việt Nam, nơi quân địch có thể kiểm soát toàn bộ các thành thị và đường giao thông, từ đó làm tê liệt sự đề kháng. Hơn thế, những "cá nhân" trên cho rằng với tầm hoạt động của địch và sự lạc hậu của kinh tế Việt Nam, sẽ rất khó thành lập một quân đội quốc gia ở cấp chiến thuật. Tổng bí thư Trường Chinh cũng đang đối phó với những vấn đề tương tự trong một chỉ thị của Đảng cộng sản Đông Dương ngày 22-12-1946. Nó kêu gọi chiến tranh du kích trường kỳ trên toàn quốc chống lại thực dân Pháp xâm lược, và đoàn kết với nhân dân Lào và Campuchia và các dân tộc bị áp bức trong khối Liên hiệp Pháp. Đảng phải bảo vệ và tuyên truyền thu hút nhân dân. Mục tiêu là khiến kẻ địch đói, khát, què quặt, mù lòa, câm điếc, mệt mỏi và chán nản. Cuộc kháng chiến sẽ gồm 3 giai đoạn, phòng ngự trong đó các đô thị lớn sẽ phải bỏ sau khi đã kháng cự quyết liệt, sau đó là cầm cự, khi đối phương sẽ liên tục chịu tổn thất và cuối cùng là phản công. Người ta có thể hình dung là tháng 12-1946, những sĩ quan được đào tạo bài bản sẽ muốn tham chiến một trận thật sự ở Hà Nội, trong khi Giáp và Trường Chinh muốn giữ họ làm dự bị cho cuộc chiến lâu dài. Trong chỉ thị của mình, Trường Chinh phân tích các giai đoạn và nói về giai đoạn một: "Giai đoạn phòng ngự: có thể vạn bất đắc dĩ phải tạm thời bỏ những thành thị lớn sau khi kháng chiến quyết liệt ở đó [Chú ý: Phải luôn luôn quấy nhiễu những nơi tạm bỏ]). Trận đánh quyết định - liệu có phải Giáp đã cân nhắc nghiêm túc khả năng sử dụng nhiều chủ lực hơn trong trận đánh Hà Nội?


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:01:24 PM
Lực lượng quân sự Việt Nam ở Hà Nội bao gồm:

-   Ít nhất 4 tiểu đoàn chính quy bố trí xung quanh Hà Nội và 1 tiểu đoàn bên trong thành phố, bảo vệ các công sở và trên hết là Dinh chủ tịch. Đơn vị bảo vệ văn phòng của Hồ đã chiến đấu dũng cảm trong đêm 19 rạng 20-12-1946 và tất cả đều hy sinh.

-   Các đội cảm tử với nhiệm vụ đặc biệt như phá xe bọc thép, có lẽ do Lê Hồng làm chính ủy và có thể báo cáo cho Trần Quốc Hoàn. Họ đóng vai trò tích cực trong các hoạt động lúc 20h00. Một nhân chứng Pháp đã nhìn thấy pháo hiệu đỏ.

-   Lực lượng tự vệ do Ủy ban hành chính trung ương đứng đầu, gồm khoảng 3.500 người chia thành các đội trong mỗi khu của thành phố. Họ làm nhiệm vụ phá hoạt và tham gia những trận đọ súng phi hiệu quả trong đêm 19-12. Một số tự vệ được những quân nhân Nhật bỏ ngũ đào tạo và có thể họ chịu trách nhiệm cho việc bắt giữ người Pháp. Theo Giáp, chỉ huy tự vệ là Lê Trung Toản.

Giờ chúng ta có thể quay lại câu hỏi then chốt: quyết định cuối cùng được đưa ra ở cấp nào? Giáp tấn công vì đánh giá nhầm ý định của người Pháp, hay tự vệ đã chống lệnh hủy bỏ? Trước tiên hãy thử khảo sát các lý lẽ ủng hộ cho giả thuyết rằng lãnh đạo Việt Nam đã cố gắng hủy bỏ cuộc tấn công khi biết tin Blum cử Moutet đến trong sứ mệnh hòa bình nhưng không thành.

Đầu tiên, lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến của Giáp và Hồ được đưa ra sau khi chiến sự bắt đầu, không phải như tín hiệu tấn công mà hội nghị Vạn Phúc đã quyết định. Do vậy các nơi quân Pháp đồn trú trên miền Bắc chỉ bị tấn công sau này, vì thế yếu tố bất ngờ đã mất. Nếu Giáp luôn luôn kiên định trong việc tấn công lúc 20h00, có lẽ ông đã có thể khiến các chỉ huy của mình nổ súng đồng thời - theo như mệnh lệnh của ông sáng hôm đó. Việc quân đội Việt Nam không làm quân Pháp bất ngờ ở nơi nào khác trừ Hà Nội cho thấy lệnh họ nhận được dường như khá mơ hồ. Giáp đưa ra một mệnh lệnh chiến đấu công khai cho tất cả các đơn vị ở mọi mặt trận, nhưng nó chỉ được công bố sau 20h00. Devillers nói rằng 21h30, ngay khi quân Pháp bắt đầu phản kích ở Hà Nội. Và vì sao lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh đã được thông qua ở hội nghị Vạn Phúc không được đài phát thanh Bạch Mai công bố cho đến tận hôm sau?

Chúng ta nên xem kỹ lời hiệu triệu của HCM và bối cảnh của nó. Có 3 điều lạ: thứ nhất là về chính lời lẽ của nó, nói về mong muốn hòa bình, thay vì ngay lập tức kêu gọi nhân dân chiến đấu.

Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

Vì sao Hồ cho thêm 3 đoạn đầu thay vì bắt đầu đơn giản với " Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!"? Như thể là ông đang tranh luận với chính mình, hay tìm cách biện hộ cho hành động của mình. Đây là điều lạ thứ nhất. Thứ hai là Hồ không bao giờ ký lời hiệu triệu. Toàn bộ bản thảo do ông viết tay, nhưng 5 từ được Lê Đức Thọ góp ý ở hội nghị Vạn Phúc được Trường Chinh bổ sung bằng tay, nhưng ông cũng bổ sung luôn cả chữ ký của Hồ. Theo các chuyên gia ở Hà Nội, rõ ràng chữ ký Hồ Chí Minh là do Trường Chinh viết. Điều lạ thứ ba là lời hiệu triệu không được công bố trên đài tới ngày hôm sau. Do vậy nó được đề ngày 20-12 trong Toàn tập của Hồ. Các nguồn khác nhau không thống nhất về thời điểm nó được phát. Devillers tuyên bố là tận 21-12. Tuy nhiên phía Pháp báo cáo cho Paris ngày 21-12 là đài phát thanh Bạch Mai đã im tiếng trong 24 giờ, từ 19-12 đến 20-12 và lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh được phát tối 20-12 và một lần nữa vào sáng 21-12. Người viết tiểu sử của Giáp Trần Trọng Trung cho biết Giáp nghe lời kêu gọi của Hồ trên đài vào sáng 20-12 ở làng Tây Mỗ. Đài phát thanh quốc gia của Việt Nam đặt ở Bạch Mai, cùng địa điểm với sở chỉ huy của Giáp. Vì sao nó không được phát lúc 20h00 19-12-1946 như là tín hiệu tấn công đồng loạt ở mọi nơi như hội nghị Vạn Phúc đã quyết định? Vấn đề kỹ thuật, các sử gia của Hà Nội nói.

Có thể.

Cần nói thêm rằng tờ báo chính của Việt Minh, Cứu Quốc ngày 19-12 vẫn tỏ ra là sẽ xuất bản như thường lệ vào hôm sau. Quân Pháp sau này phát hiện một bản báo Cứu Quốc đề ngày 20-12 với lời tuyên bố của Ủy ban Việt Minh ở Hà Nội chỉ đề cập tới chuẩn bị kháng chiến: "Thời khắc quan trọng đã đến. Mặt trận Việt Minh ở Hà Nội kêu gọi đồng bào bình tĩnh và đoàn kết tối đa, chuẩn bị sẵn sàng để đứng lên khi có lệnh của chính phủ".

Vấn đề phức tạp tiếp theo là hành động của bộ đội chính quy. Một tiểu đoàn trong thành phố bảo vệ các công sở và chuẩn bị cùng tự vệ cố thủ lâu dài khu phố Việt-Hoa. Vì sao bộ đội chính quy ở ngoại ô không tham chiến lúc 20h00? Bản mệnh lệnh nghiêm khắc mà đơn vị Ngô Văn Chiêu nhận được yêu cầu chỉ thực thi lệnh của bản thân Giáp hay hai trợ tá của ông cho thấy Giáp không hoàn toàn tin tưởng thuộc cấp. Có lẽ hành động của bộ đội vốn có kỷ luật hơn phản ánh ý định của Giáp chính xác hơn là hành động của tự vệ. Bộ đội làm gì trong và ngoài Hà Nội sau 20h00? Báo cáo đầu tiên của Pháp gửi Sài Gòn chỉ nói rằng điện cắt và "hoạt động của Việt Minh" bắt đầu. Trong bức điện tiếp theo, điện bị cắt và hỏa lực súng cối và súng máy của quân Việt Nam "bắt đầu đồng thời ở mọi nơi". Một bức điện ngày 21-12 bổ sung rằng đơn vị bộ đội đóng trong tòa nhà công ty Vân Nam (trong nội thành Hà Nội) đã nổ súng vào Văn phòng liên kiểm trung ương lúc 20h05. Nếu đúng, điều đó có nghĩa là có ít nhất một đơn vị bộ đội đã nổ súng trước khi quân Pháp phản kích, nhưng một cuộc tấn công như vậy có thể bắt nguồn từ sự tự phát. Ngô Văn Chiêu viết trong nhật ký rằng khoảng 50 thanh niên đi ngang qua đơn vị lúc 18h30 và một trong số đó hô: "Sớm thôi các đồng chí. Chúng ta sẽ thắng. Hồ Chủ tịch muôn năm!". Ngay sau đó Ngô Văn Chiêu thấy tự vệ rời nhà với vũ trang bằng súng săn, một người khác bằng một thanh gươm lớn. Anh lo ngại rằng họ có thể chống lệnh và hỏi trung đoàn trưởng nên làm gì. Câu trả lời là: "Anh muốn làm gì? Bắn họ à?". Lúc 19h20 chỉ huy đơn vị bên cạnh cho Chiêu biết rằng quân Pháp đã được gọi về trại và anh ta nghĩ "sẽ là tối nay". Như vậy 40 phút trước khi điện cắt, ít nhất vài đơn vị bộ đội không nhận được lệnh nào khác kể từ lệnh hủy bỏ tấn công. Đơn vị Ngô Văn Chiêu nhận được lệnh mới lúc 19h50. Họ được lệnh đi vòng qua thành phố và chiếm lĩnh vị trí trên trục đường tới Hải Phòng.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:02:33 PM
Thứ ba, tự vệ được tổ chức lộn xộn. Họ là kết quả của việc hợp nhất các đội tự vệ của Việt Minh và VNQDĐ do Giáp áp đặt từ tháng 8. Một báo cáo không rõ ngày tháng của Việt Nam bị quân Pháp thu được sau ngày 19-12 kết luận rằng tự vệ Hà Nội là một "tổ chức phức tạp, vô kỷ luật, không kiểm soát được và rất khó tổ chức lại. Nhưng với sự hỗ trợ của các nhóm Việt Minh, ta có thể hy vọng tập hợp họ dưới mục tiêu của chúng ta". Phần lớn tự vệ không được huấn luyện quân sự. Các tiểu đội trưởng và trung đội trưởng được học qua 2 khóa dài 2 ngày và 3 ngày. Một cuộc họp của Ủy ban kháng chiến Hà Nội ngày 18-10 quyết định nâng cao chất lượng đào tạo. Hà Nội được chia thành 7 khu, mỗi khu chọn 3 người đi học một khóa cơ bản. Sau đó họ được kỳ vọng sẽ đào tạo cho 100 đồng đội. Nhiệm vụ chính của tự vệ là bảo vệ khu phố của mình. Do vậy vai trò chủ yếu của họ là phòng ngự, nhưng mỗi khu cũng dự kiến tuyển đủ người để lập ra một đội cảm tử, và họ sẽ được huấn luyện các kỹ thuật du kích và một số hoạt động tấn công khác, đáng chú ý nhất là phá hủy xe bọc thép. Trong một tài liệu đưa ra ở cuộc họp Việt Minh địa phương ngày 24-10-1946, chỉ có 217 tự vệ là thành viên Việt Minh. Trong một thông tri gửi các chỉ huy tự vệ ngày 12-12, họ được yêu cầu báo cáo về tinh thần, lý tưởng và nguyện vọng những người dưới quyền, và ai trong số đó là "phản động" - thành viên của các nhóm chống đối thân Tàu.

Vài người trong số "phản động" ấy cho rằng xung đột Pháp-Việt là cách duy nhất để loại bỏ Việt Minh và hy vọng sự can thiệp của Trung Quốc và Mỹ sẽ đồng thời loại bỏ cả Pháp và cộng sản cùng lúc. Moret, trùm Surete ở Hà Nội ngày 9-12 viết rằng giới thượng lưu "trong khi suy tính về viễn cảnh chiến tranh ở Hà Nội với sự khiếp hãi, đã đi đến hy vọng là nó sẽ đến ngay lập tức, vì đó là con đường sống duy nhất của họ". Trong những tuần trước 19-12, người Pháp bắt liên lạc được với nhiều phần tử chống cộng ở Hà Nội và Huế. Theo một báo cáo sau này từ Sainteny, họ gồm 2 thành phần: "VNQDĐ và Đại Việt có xu hướng dân tộc chủ nghĩa hạn hẹp rất khó tiếp cận và giới Công giáo-bảo hoàng có xu hướng dân tộc chủ nghĩa khôn ngoan hơn". Nhóm sau này được chia thành thành phần cánh tả (Nguyễn Mạnh Hà), thành phần truyền thống, bảo hoàng và tương đối thân Pháp (Nguyễn Đệ, Trần Văn Lý) và thành phần dân tộc cực đoan mà nếu thoát khỏi sự kiểm soát của Pháp "sẽ quay ra chống lại chúng ta" (Ngô Đình Diệm). Sainteny nói rằng Ngô Đình Diệm tự đặt mình vào giao điểm của mọi xu hướng chống Việt Minh, và ông ta đặt cho Diệm một "mật danh" (Jacob), giễu cợt với ý tưởng rằng Diệm sẽ đóng một vai trò nào đó ở một Hà Nội không có Việt Minh, cho rằng "gần như mọi mưu đồ đều đến từ ông ta hoặc chuyển qua ông ta".

Xu hướng của VNQDĐ-Đại Việt đang suy tàn. Các lãnh đạo Đại Việt, những người từng cộng tác với Nhật như Trần Văn Lai, Đào Trọng Kim, Phạm Khắc Hòe và Hoàng Xuân Hãn đã bị Pháp quản chế sau ngày 19-12. Các lãnh đạo VNQDĐ, như Vũ Hồng Khanh, người ký hiệp ước 6-3 cùng Hồ Chí Minh và Sainteny và cựu bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam đã tị nạn ở Trung Quốc, Khanh từ tháng 7, nhưng có vẻ Tam từ tháng 11. Nhưng vài phần tử VNQDĐ vẫn ở Hà Nội. Thiếu vắng người lãnh đạo, họ "xem chúng ta như hy vọng cuối cùng", Sainteny nói. Đầu tháng 10, hai đại diện VNQDĐ (Trần Trọng Dung, Phạm Gia Đô) đã "tìm đường tới Cao ủy Cộng hòa". Còn có một nhân vật quan trọng ở Hà Nội: Nghiêm Kế Tổ, người từng làm thứ trưởng ngoại giao thời kỳ Nguyễn Tường Tam làm bộ trưởng. Từ tháng 3 đến tháng 7-1946, Tam và Tổ điều hành đường lối ngoại giao của VNDCCH. Vào tháng 4, dưới sự phê chuẩn của Hồ Chủ tịch, họ cử cựu hoàng Bảo Đại tới Trung Quốc trong một sứ mệnh thất bại nhằm thuyết phục Tưởng Giới Thạch duy trì một số quân ở Việt Nam. Khi Trung Hoa rút hết quân, Tổ ở lại. Vào tháng 10, sau khi thoát chết trong gang tấc, ông ta ẩn mình với hộ chiếu Trung Quốc mang tên Ly Hai Kwang. Hồ sơ của Pháp không nói ông ta liên lạc được với Nguyễn Tường Tam ở Nam Kinh khi nào. Ngày 19-12, ngay tức thì sau khi chiến sự nổ ra, Nghiêm Kế Tổ bị bắt giữ bởi Surete, những người đã theo dõi ông ta một thời gian dài, nhưng Tổ từ chối đóng bất cứ vai trò chính trị gì trong vùng chiếm đóng của Pháp. Sainteny phàn nàn trong tháng 1 rằng Tổ chỉ muốn làm một công dân Trung Hoa bình thường. Dù vậy, sau này Nghiêm Kế Tổ sẽ xuất hiện với tư cách đảng trưởng VNQDĐ đã bị thu nhỏ nhiều.

Pignon có thể đã nghĩ đến Nghiêm Kế Tổ khi khẳng định hôm 17-12 rằng VNQDĐ đang hoạt động bí mật ở Hà Nội, và đang xâm nhập hàng ngũ tự vệ với ý đồ đẩy họ xung đột với Pháp "nhằm gây khó khăn cho các lãnh đạo Việt Minh". Ngay sau đó Sainteny và Morliere phát động một chiến dịch tuyên truyền nhằm chia rẽ Quân đội Việt Nam chính quy và tự vệ mà Morliere tiếp nối hôm 19-12 với yêu cầu giải giáp tự vệ. Câu trả lời của Hoàng Hữu Nam cho Morliere hứa điều này sẽ được chính phủ Việt Nam thảo luận vào ngày hôm sau. Liệu có khả năng tự vệ lo ngại bị chính phủ của mình lừa dối? Sáng hôm đó các chỉ huy tự vệ đã được biết qua lệnh của Giáp rằng chính phủ đã bác bỏ yêu cầu giải giáp tự vệ. Trong lệnh Giáp viết rằng có thể quân Pháp sẽ bắt đầu tước vũ khí tự vệ trong vòng 24 giờ tới. Các chỉ huy tự vệ sẽ nghĩ gì khi được tin Hồ và Giáp sẵn sàng thảo luận về các yêu cầu của Pháp? Liệu có thể họ quyết định chống lại lệnh hủy bỏ tấn công từ Giáp?

Một thực tế đau đầu dường như chỉ ra rằng cuộc tấn công không tuân theo kế hoạch định trước: ngày 19-12, các nhân viên văn phòng chính phủ ở Hà Nội (Bắc Bộ phủ) vẫn tiếp tục công việc của mình, đóng dấu các tài liệu cho đến 18h00 và thậm chí không nghĩ đến tiêu hủy những tài liệu khá nhạy cảm (mà do đó ngày nay có thể tra cứu ở lưu trữ thuộc địa Pháp tại Aix-en-Provence).

Ai ra lệnh cắt điện và nước đêm 19-12? Ngô Văn Chiêu viết trong nhật ký rằng lúc 20h00 tự vệ gác nhà máy điện "báo động". Liệu có thể kẻ nào đó đã trà trộn vào tự vệ nhà máy điện? Tự vệ đã bị xâm nhập bởi VNQDĐ, được tổ chức yếu kém và đang bị đe dọa tước vũ khí. Ba yếu tố trên có thể khiến họ khó khăn trong việc tuân thủ lệnh hoãn tấn công theo kế hoạch. Dù vậy nó vẫn có vẻ hơi gượng gạo khi hình dung ra một mạng lưới những kẻ xâm nhập, có hoặc không có sự hỗ trợ của Pháp có thể tự ý ra tín hiệu "báo động" tất cả những sự nổ súng, đặt mìn, giết chóc và bắt bớ diễn ra ngay lập tức sau 20h00.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:06:02 PM
Đến lúc này chúng ta đã xem xét hết những lý lẽ ủng hộ giả thuyết Giáp cố hủy bỏ cuộc tấn công nhưng không thành. Có rất nhiều thực tế đau đầu nhưng đều không thể tính là bằng chứng trước toà. Hãy quay về với bằng chứng chỉ ra rằng cuộc tấn công đến từ một quyết định tỉnh táo của những lãnh đạo cao nhất Việt Nam (Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Đức THọ, Võ Nguyên Giáp) sau hội nghị Vạn Phúc chiều hôm đó. Giả thuyết này có nghĩa là Giáp không cố gắng hủy bỏ cuộc tấn công, mà nghiêm chỉnh thực thi quyết định của cuộc họp Vạn Phúc bất chấp tin Blum đã cử Moutet tới Hà Nội.

Đầu tiên, đây chính là điều các sử gia Việt Nam ngày nay tuyên bố và chính Giáp công nhận trong hồi ức. Phiên bản của ông được chấp nhận gần như trong toàn bộ các ấn bản hiện tại, cả ở Việt Nam và nước ngoài. Tuy nhiên chúng ta không thể lấy đó để cho rằng Giáp cùng các sử gia của quân đội và đảng đang nói thật và chỉ sự thật. Có vẻ đó là chuyện bình thường khi lời kể ưa thích của họ là lãnh đạo đảng và quân đội luôn kiểm soát được mọi thứ, tất cả đều đồng lòng và làm mọi thứ theo kế hoạch.

Thứ hai, bưu điện Hà Nội lúc 7 giờ tối biết cuộc tấn công sẽ diễn ra. Trong một lá thư nội bộ của Việt Nam đề ngày 23-12, "chính trị viên" ở bưu điện trung ương Hà Nội (có nhiệm vụ báo động những nơi khác bằng điện tín khi chiến sự bắt đầu) nói rằng ngay trước 7 giờ tối anh ta được chính trị viên đơn vị vệ quốc đoàn ở đó thông báo về cuộc tấn công. Nếu người chính trị viên vệ quốc đoàn này làm theo lệnh Giáp, nó có nghĩa Giáp chưa bao giờ dao động hoặc ông đã đổi ý nhiều lần.

Thứ ba, những hành động của phía Pháp vào cuối buổi chiều gợi đến nguy cơ của một cuộc tấn công. Bắt đầu từ khoảng 5 giờ chiều, binh lính và sĩ quan Pháp vốn đã được cho vào thành phố nghỉ một lẫn nữa biến mất khỏi đường phố. Khi biết tin này, có thể Giáp đã nghĩ rằng Morilere lừa dối khi nói với Hoàng Hữu Nam lính Pháp sẽ được xả trại. Và có thể ông đã nhận tin này khi đang cố thuyết phục thuộc cấp rằng cần kiên nhẫn hơn, Bác Hồ cần thêm thời gian để xem tân thủ tướng của Pháp sẽ làm gì. Giáp không phải người có thể bị hoảng loạn, nhưng ông có thể lo ngại rằng người Pháp đang cố đánh lừa mình. Không lâu sau khi lính Pháp bị triệu hồi về trại, Giáp nhận được báo cáo phát hiện xe bọc thép của Pháp ở 5 điểm chiến lược, và một nhóm người Pháp trong Khách sạn Metropole trước đó đã được các nữ phục vụ phòng báo là giấu súng dưới gầm giường đang chiếm vị trí trong một nhà hàng đối diện dinh thự của Hồ. Thông tin hay tin đồn này có thể đã khiến ông nghĩ rằng quân Pháp đang chuẩn bị hành động để tước vũ khí tự vệ hoặc bắt giữ các lãnh đạo Việt Nam. Nếu Giáp đã tự thuyết phục bản thân ở thời điểm nào đó giữa 18h30 và 20h03 rằng quân Pháp chuẩn bị tấn công, ông có thể đã quyết định cho nổ súng để không mất thế chủ động, cho dù là với cái giá phải mở một cuộc tấn công thiếu sự phối hợp. Có thể đơn giản là ông quyết định đi cùng với cái có vẻ là dòng chảy của lịch sử thay vì nỗ lực vô ích để thay đổi nó. Như vậy có thể Giáp đã đổi ý hai lần: trong buổi sáng và đầu buổi chiều ông có kế hoạch tấn công; vào cuối buổi chiều (sau khi biết Blum cử Moutet và Morliere hứa cho lính Pháp nghỉ tối hôm đó), ông do dự; và vào buổi tối (khi lính Pháp bị gọi về trại và xe bọc thép Pháp chiếm lĩnh các vị trí chiến lược), một lần nữa ông quyết định tấn công. Bất kể Giáp có do dự hay không, dường như ông đang nói sự thật trong hồi ức khi nhận trách nhiệm cho quyết định lịch sử này:

Hiệu lệnh nổ súng ở Hà Nội là đèn điện tắt, đại bác của pháo đài Láng bắn những phát đầu tiên. Chúng ta cần bóng tối để trợ lực khi khởi sự. Làm được việc này không dễ. Trung tâm phát điện là nhà máy điện Yên Phụ do một lực lượng hỗn hợp Việt, Pháp cùng canh gác. Cần bí mật đưa vào nhà máy một lượng thuốc nổ đặt vào nơi cần thiết sát giờ nổ súng. Nếu địch phát hiện, quân Pháp có cớ chiếm ngay nhà máy và tiến công trước vào bộ đội trên toàn thành phố.

Tuy nhiên ở đây, nhà sử học Giáp đã không đánh giá đúng đối thủ cũ cũng như viên tư lệnh Giáp đã hiểu sai ý đồ của người Pháp hôm 19-12. Người Pháp cần một cái cớ tốt hơn nhiều nếu muốn mở một cuộc tấn công toàn diện. Họ không thể dùng một phát hiện nhỏ nhặt về ý đồ đưa thuốc nổ vào nhà máy điện làm cái cớ, vì chính phủ Pháp đã cấm họ chủ động chiến sự. Họ cần Giáp ra tay trước.

Nhà máy điện và nhà máy nước đóng vai trò chủ chốt trong khởi đầu tấn công, đặc biệt là nhà máy điện Yên Phụ; bóng tối đột ngột lúc 20h03 được tất cả lưu ý đến. Ở những chương trước ta biết rằng tình báo Pháp từ trước 19-12 khá lâu đã có trong tay bản kế hoạch của phía Việt Nam nói rằng cuộc tấn công tổng lực sẽ được kích hoạt bởi cắt điện và nước. Chúng ta cũng biết rằng các sĩ quan tham mưu của Valluy đã có kế hoạch cắt các đường dây điện thoại ở Hà Nội trong giai đoạn mở màn cuộc đảo chính mà họ chuẩn bị, hoặc bằng cắt dây, hoặc bằng cắt điện (dù phương pháp sau sẽ để lại thiệt hại). Cả nhà máy điện và nhà máy nước Yên Phụ đều nằm giữa hồ Trúc Bạch và sông Hồng, phía bắc Thành Hà Nội. Đây là khu vực mà quân Pháp tiến hành hoạt động phá chiến lũy mạnh nhất trong những ngày trước 19-12.

Một báo cáo của Surete cung cấp mô tả chính xác về những gì diễn ra khi chiến tranh bùng nổ: "19-12-1946. Lúc 20h00, Việt Minh cho nổ turbine ở nhà máy điện và cắt nguồn cung cấp nước cho toàn thành phố". Surete bổ sung nhiều chi tiết hơn trong một báo cáo khác: ba quả bom hay bộc phá nổ trong nhà máy điện "sau khi người Việt Nam phá các máy dự phòng bằng cách đổ a xít". Làm cách nào Việt Minh lọt vào nhà máy và tìm ra phương thức phá hoại?

Nhà máy điện được điều hành chung bởi một giám đốc người Pháp và Việt và từ lâu đã được bảo vệ bởi đội gác hỗn hợp Pháp-Việt. Sáng 17-12, một sự cố nghiêm trọng xảy ra khi lính gác Pháp bắn chết người lính Việt Nam. Công nhân nhà máy đình công để phản đối nhưng sau đó quay lại làm việc sau khi chính phủ Việt Nam thuyết phục. Theo hồi ký của Giáp, đêm 19-12 công nhân nhà máy, thành viên của đội tự vệ ở đây dưới sự chỉ huy của một người tên Giang đã "hoàn thành xuất sắc việc phá máy đúng thời gian".

Sau ngày 19-12, viên giám đốc người Việt của nhà máy Hoàng Văn Ngọc đã bị quân cảnh Pháp bắt giữ sau khi bị viên giám đốc Pháp Cavalin tố cáo. Không may, chúng ta không biết lời cáo buộc là gì nhưng Moret, sếp của Surete đã can thiệp đòi thả Hoàng Văn Ngọc, chỉ ra thái độ "chống Việt Minh" và ca ngợi ông ta đã có cống hiến quý giá cho Surete. Để tăng thêm sức nặng, Moret - theo đề xuất của Pignon sau này đã nhận được thăng cấp đặc biệt cho "sự cảnh giác" của ông ta hồi tháng 12-1946 - bổ sung: "Ngài Pignon biết việc này". Cavalin, viên giám đốc người Pháp không vui trước việc người đồng nghiệp Việt Nam không bị trừng phạt và ông ta quyết định tự mình ra tay. Hôm 23-12 ông ta đi cùng một nhân viên Pháp tới nhà viên giám đốc Việt và bắn vào cổ Hoàng Văn Ngọc, làm bị thương ông này. Đây có thể chỉ là mâu thuẫn cá nhân, nhưng nó có vẻ đáng ngờ trong vai trò quan trọng mà nhà máy điện đã đóng 4 ngày trước đó. Người ta có thể tự hỏi liệu có phải tội của viên giám đốc Việt chống Việt Minh là nhắm mắt làm ngơ, câu kết với Surete và cho phép người của Giáp mang thuốc nổ vào. Nếu ông ta cho phép nhà máy bị phá hoại, có thể viên giám đốc chống cộng này đã phục vụ xuất sắc cho cả Giáp lẫn Pignon cùng lúc. Đồng thời việc đó cũng làm vừa lòng những người quốc gia chống cộng, những người muốn Pháp và Việt Minh đánh lẫn nhau để mở đường cho chủ nghĩa quốc gia không cộng sản.

Tuy nhiên, cuối cùng cộng sản là người chiến thắng. Tám năm sau, khi trở về Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Geneva, một trong những nơi đầu tiên Giáp đến thăm ở thủ đô là nhà máy điện Yên Phụ: "Tôi siết chặt tay những người thợ áo quần đầy muội than đã phá máy làm tắt nguồn điện của Hà Nội, thay hiệu lệnh tiến công đêm 19-12".


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: menthuong trong 19 Tháng Mười Hai, 2011, 04:15:45 PM
Phải nói bác Chiềng Sơn có nhiều tư liệu!


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 20 Tháng Mười Hai, 2011, 12:25:41 PM
SỰ ĐÃ RỒI

Ngay cả đến bây giờ chúng ta vẫn không có bằng chứng tin cậy để đưa ra kết luận cuối cùng rằng cuộc tấn công được thực hiện từ sự chống đối lệnh cấp trên hay Tướng Giáp và Hồ Chủ tịch, hoặc chỉ riêng Giáp đã tìm cách hủy bỏ cuộc tấn công ở một thời điểm nào đó sau 16h00, rồi đổi ý và lại ra lệnh tấn công lúc 17h00. Rõ ràng Giáp và Hồ đều chịu sức ép từ phía dưới. Trong giới thanh niên Việt Nam lan truyền lời kêu gọi đánh Pháp, trả thù và giải phóng quê hương. Bí ẩn về những gì đã diễn ra bên phía Việt Nam từ 17h00 đến 20h00 có lẽ sẽ không bao giờ được giải đáp.

Nếu người chịu trách nhiệm cho quyết định cuối cùng vẫn nằm trong bóng tối, thì điều hiển nhiên là toàn bộ ban lãnh đạo đều biết cuộc tấn công đang được chuẩn bị. Giáp kể lại trong hồi ức rằng những phương án chiến đấu khác đã được cân nhắc. Một cố vấn Nhật đề nghị cho một đội biệt kích đột nhập Thành và đánh thẳng vào sở chỉ huy của Morliere. Nó bị loại trừ vì quá phiêu lưu, và Giáp không có những đơn vị được huấn luyện thích hợp cho những nhiệm vụ đặc biệt mạo hiểm như vậy. Phương án rút khỏi thành phố mà không chiến đấu và tổ chức phản công từ các căn cứ trong nội địa đã được những người đứng đầu Việt Nam lựa chọn mỗi khi quân Trung Quốc xâm lược tới Thăng Long (Hà Nội). Phương án này cũng được xem xét nghiêm túc, nhưng nó đồng nghĩa với mất đi cơ hội tạo một tấm gương anh hùng cho nhân dân. Trong hồi ký Giáp nói rằng ông đánh giá việc Hà Nội mở đầu toàn quốc kháng chiến rất quan trọng. Dù không có khả năng thắng một trận ở Hà Nội, nơi quân Pháp đã tập trung lực lượng mạnh và trang bị tốt, nhưng với việc giành thế chủ động và sau đó cố thủ khu phố Hoa-Việt càng lâu càng tốt, lực lượng vũ trang Việt Nam ở Hà Nội có thể tạo nên một tấm gương anh hùng cho thế hệ trẻ. Nó sẽ tạo điều kiện cho việc xây dựng quân đội ở hậu phương. Chiến đấu ở chính thủ đô cũng sẽ nâng cao vị thế hợp pháp của VNDCCH và sẽ thêm hổ thẹn cho “những kẻ phản bội” khi lập ra một chính phủ cộng tác với Pháp. Phía Pháp cũng có thể đã xem một cuộc rút lui phòng ngự là sự tự nguyện từ bỏ và sẽ tìm kiếm và điều đình những đại diện địa phương dễ bảo hơn. Đó là vài lý do Giáp đưa ra cho lựa chọn mà ông đã xem xét trước khi đưa ra lệnh chiến đấu sáng 19-12. Bằng cách này, vị anh hùng trận mạc muốn chứng minh những gì mình làm khi còn trẻ là đúng đắn. Theo hồi ức của ông, tất cả mọi thứ dường như đều đi theo kế hoạch, và hầu như ông không đả động tới cuộc đấu tranh ngoại giao vì độc lập dân tộc. Chính phủ Việt Nam tháng 12-1946 không có nhiều lựa chọn. Họ đã bị dồn vào góc tường sau khi quân Pháp chiếm đóng Hải Phòng và Lạng Sơn cùng sức ép của Sainteny và Morliere. Nhưng có một lựa chọn mà bộ óc quân sự của Giáp dường như không tính đến. Chính phủ có thể ở nguyên tại Hà Nội, chờ thêm chút ít cho đến khi Blum công bố đường lối, đón tiếp Moutet ở Hà Nội và cho ông ta những lý do tốt để thay thế  d’Argenlieu ở vị trí cao ủy.

Có lẽ Hồ Chí Minh hiểu cơ hội này, và Hoàng Hữu Nam cùng Hoàng Minh Giám cũng vậy. Cho đến 19-12, Hồ chống lại áp lực sử dụng quân đội, không để mình rơi vào bẫy. Hôm 19-12, ông đã mất kiểm soát bản than hoặc mất kiểm soát người của mình, và sẩy chân.

Người Pháp ở Đông Dương đang đùa với lửa. Họ liên tục gây sức ép lên Hồ Chí Minh, trong khi đó kích động dân chúng Việt Nam qua tuyên truyền, khiêu khích và xung đột trên đường phố. Mục đích là để buộc Hồ phải cắt đứt hoặc châm ngòi cho sự chia rẽ giữa “phải ôn hòa” và “phái cực đoan”. Pignon và d’Argenlieu chọn phương án đầu và thắng. Với sự động viên từ Valluy, Sainteny đặt cửa cho lựa chọn thứ hai, hy vọng giữ người bạn Hồ của mình cho nước Pháp. Sainteny là miếng mồi trong cái bẫy của người Pháp và mồi đã bị ăn. Nhưng những kẻ đặt bẫy ở Sài Gòn không chỉ muốn chống lại người Việt Nam, họ còn muốn đặt bẫy cả chính phủ của mình ở Paris. Đây là một cuộc chạy đua với thời gian, để ngăn tân thủ tướng Pháp can thiệp vào tiến trình đi tới chiến tranh. Khi đèn tắt ở Hà Nội, một thông điệp cá nhân gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh mang chữ ký của Thủ tướng Leon Blum đang nằm trên bàn làm việc của Valluy ở Sài Gòn. Valluy để mặc nó ở đấy thay vì thực thi nhiệm vụ và chuyển nó tới người nhận. Sáng 20-12 Valluy cho Paris biết ông ta đang chuẩn bị chuyển thư của Blum cho chủ tịch nước Việt Nam thì nhận được tin bi kịch từ Hà Nội. Ông ta sẽ “tuy vậy trong bất cứ trường hợp nào, bất cứ tình huống nào” cố gắng tìm người nhận. Hồ nhận được thư từ một người đưa tin vượt qua chiến tuyến và lập tức viết trả lời. Tuy nhiên, Sainteny không thấy thư trả lời này đáng để chuyển cho thủ tướng Pháp và gợi ý nên cho Hồ biết.

Blum gặp d’Argenlieu trong văn phòng ở Paris sáng 19-12 trước khi viên đô đốc lên đường tới Tunis và Cairo trên hành trình trở lại Sài Gòn. Đảng viên xã hội kỳ cựu này trình bày cho viên đô đốc theo phái Gaullist triết lý nhân bản của mình liên quan tới vận mệnh khối Liên hiệp Pháp. Viên cao ủy được chống lưng bởi de Gaulle 2 ngày trước và không lay chuyển bởi những ý tưởng của Blum, đảm bảo với ông ta sự đồng ý hoàn toàn của mình. Ít nhất đó là những gì Blum nói với báo giới sau này. Paris chỉ được tin về sự kiện Hà Nội khoảng trưa 20-12, 24 giờ sau đó (tính cả 7 tiếng chênh lệch múi giờ). Blum lập tức thấy có mùi, và khẩn cấp lệnh cho Valluy đàm phán ngừng xung đột “nếu có thể mà không ảnh hưởng tới vị thế quân đội và thường dân Pháp”. Ông ta cho lệnh ký bởi Tham mưu trưởng Alphonse Juin. Ông cũng cho Valluy biết Moutet sẽ sớm tới nơi nhằm “cố gắng và ngăn chặn xung đột dứt khoát sẽ bùng nổ”. Juin yêu cầu thông tin chính xác từ Valluy về những gì đã xảy ra và điều gì bắt nguồn cho việc quân Pháp chiếm đóng các công sở ngày 18-12. Cùng lúc đó, Valluy được yêu cầu chuyển tiếp một bức điện mới do cả Blum và Moutet ký cho Hồ, thuyết phục vị chủ tịch cho chấm dứt xung đột bên phía ông. Blum và Moutet khẳng định với Hồ Chí Minh nguyện vọng của họ là muốn duy trì hòa bình và thực hiện các thỏa thuận trong quá khứ, chỉ nếu như nó được thực hiện công bằng. Nhưng không sự vi phạm nào được chấp nhận.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 20 Tháng Mười Hai, 2011, 12:26:32 PM
Trong khi lệnh cho Valluy và thông điệp cho Hồ đang được gửi tới Sài Gòn, Moutet tuyên bố trước Quốc hội rằng chính phủ sẽ bảo vệ quyền lợi nước Pháp theo cách hòa bình nếu có thể, nhưng sẽ không để ai áp đặt điều gì lên nó bằng bạo lực. Vincent Auriol, Phát ngôn viên Quốc hội, người sẽ sớm được bầu làm tổng thống đầu tiên của nền Đệ tứ Cộng hòa đọc một thông điệp đồng cảm với các chiến binh Pháp mà người đại diện Phong trào Bình dân Cộng hòa đề nghị. Blum can thiệp để nói rằng ông ta không chống lại bức thông điệp, việc thiếu thông tin chính xác từ Hà Nội để lại hy vọng là mọi việc có thể không nghiêm trọng như lo ngại. Ông không nhắc đến lệnh cho Valluy về đàm phán đình chiến hay bức điện gửi Hồ Chí Minh. Không một đảng viên cộng sản hay xã hội nào bỏ phiếu chống lại thông điệp đồng cảm với những người Pháp đang chiến đấu chống lại Việt NamDCCH – được nhất trí đánh giá là ví dụ đáng chú ý về tư tưởng dân tộc chủ nghĩa đang lên.

Trước khi Valluy nhận được lệnh từ Blum, viên tướng này đã làm điều ngược lại. Ông ta chỉ thị Morliere tiến hành các “hành động tích cực” chống lại quân Việt Nam, khai thông lại đường Hà Nội-Hải Phòng và kiểm soát hoàn toàn mọi giao thông giữa hai thành phố. Chống lại chỉ thị quân sự mà d’Argenlieu nhận được từ chính phủ Pháp hôm 10-12, giờ Valluy giảm quân ở nam Đông Dương bằng việc gửi thêm viện binh ra Hải Phòng, đồng thời yêu cầu khẩn cấp gửi thêm 10 tiểu đoàn từ Pháp. Khi nhận được lệnh của chính phủ, ông ta quyết định phớt lờ nó và giải thích với Paris:

Tôi thật lòng không thấy làm cách nào có thể đình chiến. Chúng tôi đã mất liên lạc với chính phủ Việt Nam mà không nghi ngờ gì trong mắt tất cả những người Pháp và quan sát viên nước ngoài [mất một từ] gây hấn. Có vẻ là vì uy tín của nước Pháp, yêu cầu đình chiến nên đến từ chính phủ đó… dù vậy nếu Tướng Morliere có thể liên lạc được với Chủ tịch Hồ, tôi đang chuẩn bị để chuyển thông điệp từ “ngài Thủ tướng Blum” qua Radio Saigon. Tuy nhiên tôi cảm thấy bắt buộc phải nêu sự chú ý của chính phủ tới hậu quả hết sức nghiêm trọng sẽ xảy ra với tinh thần binh lính đang chiến đấu gian khổ và tất cả những thường dân Pháp bị ảnh hưởng lớn từ những vụ mưu sát tàn bạo các đồng bào của họ và sự phản bội sẽ bị gán cho ngài ở đâu đó. Tôi muốn bổ sung thêm rằng ngay cả công luận ở bản xứ cũng sẽ không hiểu được.

Nó được tiếp nổi bởi một loạt thông điệp nhằm chứng minh cuộc tấn công “đã có mưu đồ từ trước”. Lúc này Blum từ bỏ bản thân; chiều 23-12, Juin khẳng định với Valluy rằng những chỉ thị trước đó là do thiếu thông tin. Cùng trong buổi tối hôm đó, Blum đưa ra tuyên bố mới trước Quốc hội, nói rằng ông ta thất vọng trước hy vọng có thêm những tin tốt hơn. Giờ ông nhấn mạnh là “các mệnh lệnh cần thiết đã được đưa ra không do dự và không chậm trễ”, nghĩa là lệnh do Valluy chứ không phải ông. Blum xác nhận là nước Pháp buộc phải đối diện với xung đột và đảm bảo rằng người Pháp ở Đông Dương và “người dân thân thiện” có thể tin tưởng vào sự cảnh giác và giải pháp từ chính phủ. Sau đó ông ta một lần nữa nêu lại đề tài mà ông đã nhấn mạnh trong cuộc đối thoại với d’Argenlieu, tập trung vào nguyên tắc từ bỏ chủ nghĩa thuộc địa: việc chiếm hữu thuộc địa chỉ có thể chính đáng nếu nó chấm dứt. Sự thú nhận này không gây ra bất ngờ gì trong Quốc hội hay báo giới. Quan điểm của Blum đã được biết rõ. Điểm chính bây giờ là ông ta trung thành với nước Pháp trong cuộc xung đột đang tới.

Tối muộn 23-12, Quốc hội – gồm cả các đảng viên cộng sản và xã hội – nhất trí cho phép chính phủ điều chuyển ngân sách quốc phòng để gửi thêm viện binh sang Đông Dương. Báo chí đồng loạt tung hô Blum. Trên tờ báo ngôn luận của đảng cộng sản L’Humanitem Pierre Courtade nói rằng tuyên bố của Blum là “hoàn toàn hợp lý”. Thủ tướng đã chỉ ra rằng “giải pháp duy nhất: đàm phán ngay khi hòa bình và trật tự được vãn hồi”. Franc-Tireur đánh giá cao tuyên bố chống chủ nghĩa thực dân của Blum, trong khi Robert Verdier trên tờ Le Populaire gợi lên “số phận bất công” đã đặt chính phủ mới của Blum trước những trọng trách nặng nề. Mối quan tâm tương tự cho số phận bất công đối với đảng viên xã hội kỳ cựu đó là động lực cho bình luận của Alain Guichard trên L’Aube: “Ngay cả nếu không thể đồng ý với mọi điều người đứng đầu chính phủ khẳng định, sự chân thành và giằng xé bên trong ông giữa thực tại khắc nghiệt và ước mơ hòa bình của ông cho ta lý do để thông cảm”.

Giữa những người Pháp ở Sài Gòn, có sự thở phào nhẹ nhõm. Đã có kế hoạch đặt ra để đưa Moutet đi một vòng Liên bang Đông Dương, dừng chân ở Vientiane và Phnom Penh, và xóa đi mọi ý muốn ông ta có thể có về việc gặp Hồ Chí Minh. Trong khi đó, đã gần hồi phục từ những vết thương trong bệnh viện ở Hà Nội, Sainteny vẫn không thể hoàn toàn quên sự thông cảm mà ông đã đi tới đối với chủ tịch Việt Nam. Một tuần sau khi bị thương, ông viết thư cho người bạn ở Sài Gòn về mong muốn được biết vì sao các lãnh đạo Việt Minh lại đột ngột đưa ra quyết định tự sát như vậy. Ai muốn điều đó và ai chống lại điều đó? Hồ Chí Minh có tự do hành động hay không? Có thể họ bỗng nhiên nhận ra thời gian đã hết, ông nghĩ, vì mọi bước đi sai lầm có thể làm lợi cho người Pháp. Sainteny cảm thấy khó mà tin được là Hồ đồng tình với một hành động điên rồ như vậy, và ông cảm thấy chắc chắn rằng vị chủ tịch đã chịu sức ép căng thẳng. Ông tự hỏi liệu có thể tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Sainteny sẽ gặp lại Hồ với tư cách đại diện đầu tiên của nước Pháp tới Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau ngày Điện Biên Phủ sụp đổ và hiệp định Geneva được ký năm 1954. Ông cũng sẽ đóng vai trò chủ nhà cho những cuộc tiếp xúc bí mật đầu tiên giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ ở Paris ngày 6-8-1969, ba tuần trước khi Hồ Chí Minh mất hôm 2-9-1969, ngày Quốc khánh Việt Nam. Khi bản thân Sainteny qua đời năm 1978, ba năm sau ngày Việt Nam thống nhất, ông vẫn chưa tìm ra được điều gì đã diễn ra vào cái ngày Giáp bị cắn câu.



Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 21 Tháng Mười Hai, 2011, 09:37:41 PM
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/301/302/302/170624/Default.aspx

SỰ THẬT VỀ CHẶNG ĐƯỜNG DẪN ĐẾN NGÀY 19-12-1946 (Kỳ 1)

Trần Trọng Trung

QĐND - Thứ Tư, 21/12/2011, 19:9 (GMT+7)

QĐND - Nguồn gốc sâu xa và nguyên nhân trực tiếp của sự kiện 19-12-1946 ở Việt Nam không những đã được các nhà nghiên cứu lịch sử trong nư­ớc mà còn rất nhiều ngư­ời trong giới sử học nước ngoài kết luận từ rất lâu. Vậy mà hai năm gần đây (14-7-2010 và 26-8-2011), thông qua một hãng thông tấn nước ngoài, một vị giáo sư sử học­ người Việt ở Ca-li-phoóc-ni-a - Hoa Kỳ nói rằng cuộc chiến Việt-Pháp nổ ra là do phía Việt Nam hiếu chiến. Bỏ qua rất nhiều điều kết luận sai trái của vị giáo sư­ này về giai đoạn lịch sử 1945-1946 của Việt Nam, bài viết sau đây chỉ nhằm ghi lại những sự kiện dẫn đến ngày 19-12-1946.

Nước cờ tính sai của Đờ-gôn (De Gaulle). Thiện chí hòa giải của Cụ Hồ

Một điều có thể khẳng định, đó là khi nổ ra cuộc đảo chính của Nhật (lật đổ chế độ cai trị của Pháp ở Đông Dương – ngày 9-3-1945), tổng thống Cộng hòa Pháp Sác-lơ Đờ-gôn (Charles de Gaulle) không hiểu gì về phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam đang sôi sục chuyển sang thời kỳ tiền khởi nghĩa. Chẳng thế mà chỉ nửa tháng sau cuộc đảo chính, ngày 24-3, ông ta tung ra bản tuyên bố về vấn đề Đông Dương. Nội dung chủ yếu của bản tuyên bố phản ánh tham vọng lập lại ách thống trị thực dân trên toàn lãnh thổ Đông Dương, với tư tưởng chỉ đạo "chiến tiền nguyên trạng". Theo bản tuyên bố thì Đông Dương vẫn gồm 5 xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên), hợp thành chính phủ Liên bang, do một viên toàn quyền đứng đầu, chịu trách nhiệm trước Chính phủ Pháp.

Bàn về việc làm trên đây, trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952, sử gia Pháp Phi-líp Đờ-vi-le (Philippe Devillers) đánh giá rằng, bản tuyên bố của Đờ-gôn (De Gaulle) lạc hậu ít nhất 15 năm. Vậy mà nó vẫn trở thành sợi chỉ xuyên suốt mọi chủ trương chính sách của giới cầm quyền phản động Pháp đối với 3 nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia cho đến mùa hè năm 1954.

Dù chưa được đọc bản tuyên bố của Đờ-gôn, nhưng căn cứ vào tin tức về cuộc hội nghị giữa các nước lớn bàn về những vấn đề hậu chiến, lại sớm dự kiến tình hình sẽ phức tạp do âm mưu của phản động quốc tế, nhất là của giới cầm quyền Pháp, Cụ Hồ đã chủ động đi những nước cờ hòa giải. Qua đài vô tuyến điện của nhóm sĩ quan tình báo Mỹ OSS đang phối hợp hoạt động với ta ở Việt Bắc, Cụ đã nhân danh Mặt trận Việt Minh nhờ Bộ tư lệnh Mỹ ở Hoa Nam (AGAS) báo cho Pa-ri biết rằng, Việt Minh sẵn sàng cử đại diện cùng Pháp “nói chuyện”, hoặc ở Côn Minh (Trung Quốc) hoặc ở một địa điểm nào đó thuộc Bắc Kỳ, nhằm giải quyết mối quan hệ Việt - Pháp trong tình hình mới. Sau đó, liên tiếp trong những ngày 25-7 và 18-8-1945 (khi cách mạng Việt Nam đang trong cao trào Tổng khởi nghĩa), Cụ Hồ lại gửi cho Đờ-gôn hai bản đề nghị mà nội dung chủ yếu là: 1) Chính phủ Pháp công nhận Chính phủ Việt Minh; 2) Việt Minh công nhận quyền của Pháp ở Việt Nam trong vòng từ 5 đến 10 năm, sau đó Chính phủ Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam; 3) Trong 5 – 10 năm đó, Việt Nam hưởng quyền tự trị đối nội…

Theo Pa-ty (A.Patti) - tác giả cuốn "Vì sao Việt Nam?" và Sáp-phen (R.Shaphen) - tác giả cuốn "Điều bí ẩn của Hồ Chí Minh", thì đại diện của Pháp ở Côn Minh hồi đó là Lê-ông Pi-nhông (Léon Pignon) và Giăng Xanh-tơ-ni (Jean Sainteny) đã nhận và chuyển hai bản đề nghị về Pháp, nhưng sở dĩ không có hồi âm vì những đề nghị của Hồ Chí Minh không phù hợp với những điều suy nghĩ của Đờ-gôn về tương lai Đông Dương. Giới cầm quyền Pháp đang trù tính việc khác. Vậy việc khác đó là gì?

Những năm sau này chúng ta mới biết rằng, trong cao trào Tổng khởi nghĩa, ngày 16-8-1945, khi ông Võ Nguyên Giáp vâng lệnh Cụ Hồ xuất quân từ Tân Trào về giải phóng Thái Nguyên cũng đúng là ngày Tổng thống Pháp Đờ-gôn giao cho tướng 4 sao Phi-líp Lơ-cơ-le (Philippe Leclerc) đưa quân sang Viễn Đông nhằm “hoàn thành nốt chặng đường giải phóng” (?!) mà mục tiêu đầu tiên là Sài Gòn.

Một sự trùng hợp kỳ lạ, nhưng có điều, hai người cầm quân với hai nhiệm vụ mang ý nghĩa chính trị hoàn toàn trái ngược nhau - giải phóng dân tộc và viễn chinh xâm lược.

Đờ-gôn vội vã vì “chậm chân”. Cụ Hồ chìa bàn tay hữu nghị


Khi nhân dân Hà Nội vừa giành được chính quyền và giữa lúc cuộc Tổng khởi nghĩa còn đang tiếp diễn, ngày 22 tháng 8, Cụ Hồ rời Tân Trào về Hà Nội. Chính trong ngày đó và chỉ trong một ngày 22 tháng 8 đó thôi, hàng loạt sự kiện đã dồn dập diễn ra chứng tỏ Tổng thống Đờ-gôn đang rất vội vã vì sợ bị chậm chân trong mưu đồ “trở lại” Đông Dương (1), đồng thời cũng chứng tỏ phán đoán của Cụ Hồ về âm mưu tái chiếm Đông Dương của thực dân phản động Pháp đang biến thành hiện thực. Chỉ xin dẫn lại mấy việc điển hình cùng diễn ra trong ngày 22-8-1945 khó quên đó: 1) Đờ-gôn bay sang Oa-sinh-tơn (Washington) vận động Tổng thống Ha-ry Tơ-ru-man (Harry Truman) “hãy làm ngơ” trước việc quân Pháp “trở lại thuộc địa cũ”; 2) Trên đường đưa quân sang Viễn Đông, khi qua Ca-ra-chi (Karachi) - Pa-ki-xtan (Pakistan), tướng Lơ-cơ-le (Leclerc) đề nghị và được Đô đốc hải quân Hoàng gia Anh Mao-bớt-ten (Mounbatten) hứa sẽ tạo mọi điều kiện cho quân Pháp núp dưới cờ Anh để vào Sài Gòn; 3) Từ Côn Minh (Hoa Nam), Thiếu tá tình báo Pháp Giăng Xanh-tơ-ni “bám càng” máy bay của Thiếu tá tình báo Mỹ L.A. Pa-ty (Patti) sang hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm – Hà Nội; 4) Không quân Hoàng gia Anh chở mấy “quan cai trị” Pháp và thả dù xuống 3 miền của nước Việt Nam: Mét-xme (P.Messmer) xuống Phúc Yên, Ca-xê-na (G.Casténa) xuống Thừa Thiên, Xê-di-lơ (J.Cédile) xuống Tây Ninh. Tất cả đều mang theo “giấy ủy nhiệm” được cử làm Ủy viên Cộng hòa Pháp ở mỗi miền của Việt Nam.

Trước ý đồ tái xâm lược đã quá rõ ràng của Pháp, trong bản Tuyên ngôn Độc lập đọc trong ngày lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhân danh Chính phủ lâm thời nói rõ lập trường của ta, đó là "Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp".

Với tầm nhìn xa và thiện chí hòa bình hợp tác với “nước Pháp mới”, Cụ Hồ đã chủ động chỉ đạo việc tiếp xúc với phía Pháp, nhằm thăm dò lập trường và thái độ của các phái viên đầu tiên của Pa-ri: Ở Sài Gòn, Trần Văn Giàu gặp Giăng Xê-di-lơ, ở Hà Nội Võ Nguyên Giáp gặp Giăng Xanh-tơ-ni. Sau đó, chính Cụ cũng trực tiếp gặp Lê-ông Pi-nhông và tướng A-let-xăng-đơ-ri khi họ đến Hà Nội.

Mặc dù những cuộc tiếp xúc đầu tiên đã cho thấy tim đen của những người đại diện của Pa-ri, nhưng theo đường lối hòa giải của Cụ Hồ, cuộc thương thuyết Việt-Pháp vẫn tiếp tục diễn ra ở Hà Nội ngay từ cuối tháng 9 năm 1945, lúc đầu còn trong vòng bí mật. Trong các cuộc gặp khi đứt, khi nối suốt mấy tháng cuối năm 1945 - đầu năm 1946, cuộc tranh cãi chung quanh từ "độc lập" kéo dài từ buổi này sang buổi khác. Ta không chấp nhận chế độ “tự trị”, trong khi Pháp không công nhận nền độc lập của Việt Nam.

Khoảng cuối năm 1945, trong một lần trả lời phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với ký giả Pháp Ăng-đơ-rê Bơ-lăng-sê (André Blanchet) rằng, nếu nước Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam thì Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ cử một đoàn đại biểu sang thăm hữu nghị và cảm ơn nước Pháp. Như vậy, Chính phủ Pháp không hề “mất thể diện” vì công nhận Việt Nam độc lập mà trái lại, việc đó càng làm cho uy tín của nước Pháp được đề cao trên trường quốc tế. Khi nhà báo hỏi: “Thưa Chủ tịch, phải chăng như vậy có nghĩa là phía Việt Nam muốn đòi được tất cả mà không nhân nhượng chút gì?”, Cụ Hồ giải thích rằng, Việt Nam sẵn sàng nhân nhượng, nhất là về kinh tế. “Nhân dân Việt Nam muốn tiếp đón những giáo viên chứ không tiếp đón những ông chủ. Chúng tôi muốn là những người cộng tác, thậm chí là những người học trò, nhưng quyết không muốn trở lại là những người nô lệ. Việt Nam rất cần những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, nhưng không cần những viên quan cai trị”.

Hăng-ri A-dô (Henri Azeau), tác giả cuốn "Hồ Chí Minh - dịp may cuối cùng" viết: “Đáp lại những lời kêu gọi đầy tinh thần hòa giải đó, đáng lẽ phải thấy thiện chí của phía Việt Nam, thì ở Pa-ri, người ta vẫn cứ khư khư ôm lấy bản tuyên bố 24-3 được Đờ-gôn nặn ra trên cơ sở một giả thuyết ảo tưởng về lòng trung thành không hề lay chuyển của Đông Dương đối với nước Pháp”. Trong khi đó thì ở Việt Nam, vẫn theo Hăng-ri A-dô, những phần tử chủ chiến thuộc phe Đờ-gôn (mà báo chí Pháp thường gọi là “gô-lít”), từ A-lét-xăng-đơ-ri và Lê-ông Pi-nhông lúc đầu, tiếp đến là Xanh-tơ-ni và Xa-lăng, vẫn tỏ ra hết sức ngoan cố trên những vấn đề mang tính nguyên tắc.

Trong cuộc gặp gỡ ngày 8-2-1946, khi phía Pháp muốn đưa vấn đề “quân Pháp đang chuẩn bị đổ bộ lên đất Bắc Kỳ” để hòng gây sức ép với ta, đại diện Chính phủ ta rất ôn tồn nhưng thẳng thắn: “Chúng tôi muốn giữ mối quan hệ hữu nghị và bình đẳng với nước Pháp, nhưng cũng quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành được. Chúng tôi sẽ quyết không lùi bước nếu các ông muốn dùng vũ lực, vì chúng tôi không chấp nhận trở lại cuộc sống nô lệ. Pháp là một nước lớn, có nhiều quân, trang bị đầy đủ, hiện đại. Chúng tôi có ít tay súng nhưng chúng tôi có sức mạnh của cả một dân tộc. Nếu Pháp đánh bại Việt Nam thì chiến thắng đó chẳng có gì đáng kể, ngược lại, nếu Việt Nam đánh bại Pháp thì đó sẽ là một chiến công rất vĩ đại. Các ông sắp đổ bộ ư? Chúng tôi không thể ngăn cản các ông làm việc đó, nhưng rồi máu sẽ đổ và đó là điều không hay ho gì, chúng tôi không muốn để xảy ra. Nếu Pháp coi mình là một nước tự do thì “nước Pháp mới” phải để cho chúng tôi cũng có quyền hưởng tự do.

Cứ như thế, trải qua 6 tháng, cuộc thương lượng vẫn không ra khỏi bế tắc. Mãi đến đầu tháng 3 năm 1946, do chủ động đề xuất của phía Việt Nam, hai bên mới đạt được những điểm đồng thuận nêu trong Hiệp định sơ bộ, ký ngày 6-3-1946 tại Hà Nội. Ta tạm gác từ "độc lập" và chấp nhận Việt Nam là một quốc gia tự do… là thành viên trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp, đồng thời đồng ý để cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc giải giáp quân đội Nhật. Số quân này phải rút hết sau một thời gian không quá 5 năm. Hai bên đình chỉ chiến sự và mở ngay cuộc đàm phán chính thức…

Sự nhân nhượng quan trọng đầu tiên trong cuộc đàm phán đã kéo dài hơn nửa năm này chính là nhằm tạo điều kiện pháp lý đẩy nhanh quân Tưởng về nước và buộc Pháp phải mở đường cho cuộc đàm phán chính thức trên đất Pháp.

Từ Đà Lạt đến Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau). Những luồng gió ngược chiều

Phản ứng quyết liệt sự ra đời của Hiệp định sơ bộ, các phần tử “gô-lít” ở Pháp cũng như ở Đông Dương lên án gay gắt Lơ-cơ-le và Xanh-tơ-ni “đã bán đứng Đông Dương cho cộng sản”, đã khờ dại chấp nhận điều khoản nói về cuộc đàm phán chính thức. Đờ-gôn đặt vấn đề: “Vì sao người ta đã không đọc kỹ bản tuyên bố của tôi? Nếu cứ như thế này thì chẳng bao lâu nước Pháp sẽ không còn đế quốc của nó nữa”. Đô đốc Đác-giăng-li-ơ (khi đó đang ở Pa-ri) họp báo nêu câu hỏi: “Chúng ta có một đội quân viễn chinh tốt mã nhường ấy, vậy mà có những người Pháp ở Đông Dương (ám chỉ Tướng Lơ-cơ-le) chỉ nghĩ đến chuyện đàm phán!”. A-lếc-xăng-đơ-rơ Va-ren-nơ (Alexandre Varenne) thì than phiền: “Nền cộng hòa đã sáng tạo được ở bên kia đại dương một sự nghiệp tráng lệ làm hiển vinh cho anh tài Pháp. Vậy mà, liệu chúng ta có sắp từ bỏ và phá hoại sự nghiệp đó hay không?”. Sau khi trở lại Sài Gòn, ngày 12 tháng 3, Đô đốc Đác-giăng-li-ơ cùng với Xê-di-lơ ra bản tuyên bố xuyên tạc rằng bản Hiệp định sơ bộ chỉ là “một bản hiệp định cục bộ giữa chính quyền Hà Nội với Ủy viên Cộng hòa Pháp tại miền Bắc” (tức là không có giá trị gì đối với Nam vĩ tuyến 16). Họ tiết lộ: Sắp tới, Nam Kỳ cũng sẽ lập một Chính phủ riêng, có quân đội và tài chính riêng…

Đác-giăng-li-ơ tìm mọi thủ đoạn trì hoãn cuộc đàm phán chính thức trên đất Pháp. Trong cuộc hội đàm với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vịnh Hạ Long ngày 24-3-1946, viên đô đốc đề nghị mở cuộc họp trù bị ở Đà Lạt nhằm “san phẳng mọi vấn đề bất đồng”. Đây là vấn đề chưa được đặt ra và thỏa thuận từ trước, nhưng Cụ Hồ vẫn chấp nhận để có thêm điều kiện trực tiếp tìm hiểu lập trường của Pa-ri.

(còn nữa)
______________
(1). Chữ “trở lại” (retour) là chữ Đờ-gôn dựng trong hai tập Hồi ký chiến tranh (Mémoires de guerre) và Hồi ký hy vọng (Memoires d’espoir) xuất bản những năm 1954 – 1959.




Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 22 Tháng Mười Hai, 2011, 10:54:07 AM
http://qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/301/302/302/170626/Default.aspx

SỰ THẬT VỀ CHẶNG ĐƯỜNG DẪN ĐẾN NGÀY 19-12-1946 (Kỳ 2)

Trần Trọng Trung

QĐND - Thứ Tư, 21/12/2011, 22:16 (GMT+7)

QĐND - Sau này, qua sách báo của Pháp ta được biết: Phái đoàn Pa-ri sang Đà Lạt với một “chỉ thị rất nghiêm ngặt” (đề ngày 14 tháng 4 năm 1946) của ngoại trưởng Gioóc-giơ Bi-đôn (Georges Bidault), nói rằng: Không những phải làm sao cho hội nghị trù bị thất bại mà điều quan trọng là còn phải lái dư luận tin rằng, nguyên nhân đàm phán sơ bộ tan vỡ là “do phía cộng sản gây nên”. Cụ thể là phải khước từ ngừng bắn ở miền Nam; không được bàn về bất kỳ vấn đề gì thuộc phía Nam vĩ tuyến 16; phải tách Tây Nguyên ra thành “xứ Tây Kỳ tự trị”; phải đòi quân đội Việt Minh đặt dưới quyền Bộ chỉ huy Liên bang Đông Dương v.v.. Trong khi đó thì Phái đoàn Việt Nam nhận chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đấu tranh để cụ thể hóa mấy nội dung chủ yếu của Hiệp định Sơ bộ:

- Quốc gia tự do (Etat libre): Phải nói rõ nội dung và mức độ tự do, nhất là về lãnh thổ, phải thống nhất hoàn chỉnh.

- Liên bang (Fédération indochinoise): Liên bang Đông Dương chỉ thể hiện về mặt kinh tế, nhất định không chấp nhận Chính phủ Liên bang.

- Liên hiệp Pháp (Union francaise): Nhận tự do liên hiệp với Pháp nhưng quyền hạn và nhiệm vụ của Việt Nam phải định rõ: Việt Nam phải được quyền thảo luận và biểu quyết những vấn đề của Liên hiệp có liên quan đến Việt Nam; ta phải có ngoại giao tối thiểu (với Anh, Mỹ, Nga, Hoa) và các nước láng giềng; Pháp phải giới thiệu Việt Nam vào Liên hợp quốc; về tài chính, ta phải có ngân hàng, tiền tệ riêng; về kinh tế, chủ quyền kinh tế của Việt Nam phải thuộc Nhà nước Việt Nam; về quân sự, ta không chấp nhận tổ chức quân sự liên bang, phải định rõ quân số, địa điểm và thời gian đóng quân của Pháp trên đất nước ta…

Thật không có gì là khó hiểu vì sao ngay từ buổi họp đầu tiên, lập trường hai bên đã xung khắc như nước với lửa. Ta sớm thấy lập trường của Pháp gói gọn trong ba điểm chính: 1) Việt Nam không chỉ gồm ba “Kỳ” mà thành phần của nó (nhiều “Kỳ” hay ít) là do trưng cầu dân ý quyết định; 2) Cuộc trưng cầu dân ý (do Pháp tổ chức) chỉ diễn ra ở Nam vĩ tuyến 16; Chính phủ Việt Nam không được tham dự vào các vấn đề chính trị của phần lãnh thổ phía Nam trước khi có kết quả trưng cầu dân ý; 3) Hội nghị trù bị sẽ không bàn đến nội trị các xứ Nam Kỳ và “Tây Kỳ”. Trong khi đó, bên ngoài hội nghị, phía Pháp có những hành động hết sức ngang ngược khiến cho hội nghị càng thêm căng thẳng. Ví dụ: Đòi trục xuất ông Tạ Quang Bửu ra khỏi Đà Lạt, ngang nhiên bắt ông Phạm Ngọc Thạch đưa về Sài Gòn, đòi ta phải “xin phép” mới được dùng điện đài (của ta) để liên lạc với Hà Nội v.v..

23 ngày (19-4 đến 11-5-1946) căng thẳng nặng nề trôi đi, hội nghị kết thúc mà không đạt kết quả gì tích cực. Tuy nhiên, theo chỉ thị của Cụ Hồ, phái đoàn ta không chủ trương “cắt cầu”. Tại Đà Lạt, trả lời phóng viên nước ngoài, ông Giáp nói rằng, hội nghị chỉ phản ánh một sự bất đồng hữu nghị. Phía Pháp không có lý do gì để khước từ cuộc đàm phán chính thức trên đất Pháp như đã quy định trong Hiệp định Sơ bộ.

Một ngày sau khi hội nghị Đà Lạt kết thúc, tờ Lăng-tăng-tơ (L’Entente) của Pháp xuất bản ở Hà Nội viết: “Thực chất thất bại của hội nghị trù bị là kết quả điều hành của Phó trưởng đoàn Việt Nam Võ Nguyên Giáp - một bộ trưởng cộng sản”. Tờ báo đã phản ánh đúng chỉ thị của Pa-ri: Đàm phán để phá hoại đàm phán rồi đổ thừa cho phía những người đối thoại.

Gần hai tháng sau, hầu như những gì đã diễn ra ở Đà Lạt lại được tái diễn ở Phông-ten-nơ-blô. Ngoài phần lớn các thành viên đã từng có mặt trong hội nghị trù bị, người ta thấy có thêm đô đốc Bác-giô (Barjot), người mà báo chí Pháp gọi là “đại diện riêng và giấu mặt” của Đờ-gôn đến để “giám sát” hội nghị. Lần này, Gioóc-giơ Bi-đôn (là thủ tướng kiêm ngoại trưởng của Chính phủ mới được thành lập ngày 19-6-1946) cũng có chỉ thị rõ ràng hơn, cụ thể hơn về phương châm “đàm phán để phá hoại đàm phán”. Chỉ thị viết: “Vì lý do chống nguy cơ cộng sản, phải làm sao đạt được sự bảo đảm không để nước Việt Nam trở thành một con cờ mới trên bàn cờ Xô-viết, một vệ tinh mới của Mạc-tư-khoa".

Sau khi nghe phổ biến chỉ thị của Bi-đôn (Bidault) và biết mưu đồ của giới cầm quyền Pháp quyết làm cho hội nghị thất bại, một thành viên của phái đoàn Pháp là giáo sư Pôn Ri-vê (Paul Rivet) đã tuyên bố tẩy chay không tham gia phái đoàn. Trong thư đề ngày 5-7-1946 gửi bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Ma-ri-uýt Mu-tê (Marius Moutet), giáo sư viết: “Tôi cự tuyệt không tham gia các cuộc thảo luận ở Phông-ten-nơ-blô vì tôi không muốn biến mình thành một kẻ bị lừa gạt, một kẻ đồng lõa…”.

Ý đồ của giới chính quyền Bi-đôn đủ lý giải vì sao sau hơn hai tháng (từ ngày 6-7 đến 8-9-1946), hội nghị chính thức Phông-ten-nơ-blô cũng chịu chung số phận như hội nghị trù bị Đà Lạt.

Điều cần nói thêm là trải qua gần ba tháng có mặt ở thủ đô Pa-ri, với danh nghĩa khách mời của Chính phủ Pháp, không trực tiếp tham dự cuộc thương thuyết nhưng Cụ Hồ đã hoạt động không mệt mỏi nhằm góp phần xây dựng mối quan hệ bình đẳng và hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Pháp, đề cao vị thế của Việt Nam, tranh thủ cảm tình của nhân dân Pháp và thế giới.

Suốt 86 ngày ở Pa-ri, Cụ Hồ tiếp xúc với các ký giả Pháp hoặc nước ngoài gần 60 lần - một kỷ lục hiếm thấy trong hoạt động báo chí của một nguyên thủ quốc gia trên đất khách. Cuộc họp báo đầu tiên thu hút hàng trăm ký giả Pháp và nước ngoài. Chủ đề được Cụ luôn khẳng định là nhân dân Việt Nam không muốn chiến tranh, nguyện vọng nóng bỏng của người Việt Nam là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Đó chính là nền tảng đường lối đối ngoại hợp tác thật thà và thân thiện trong hòa bình và hữu nghị với Chính phủ và nhân dân nước Pháp mới.

Ngày 2 tháng 7, Thủ tướng Pháp chính thức tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo sứ giả Hăng-ri A-rô thì hôm đó, trong bài diễn văn của mình, Gioóc-giơ Bi-đôn “nói toàn những lời vô vị, trống rỗng và bóng gió”, trong khi đó thì vị khách châu Á chủ động đi thẳng vào vấn đề nhằm ngăn chặn ý đồ thôn tính và chia cắt của phía Pháp. Cụ nói: “Trước khi chính thức chào mừng Chính phủ Pháp, tôi đã có dịp thăm xứ Ba-xcơ (Basque). Sự tiếp xúc của tôi với xứ đó đã cho tôi nhiều bài học. Tuy họ giữ màu sắc riêng, ngôn ngữ và phong tục riêng, như­­ng dân Ba-xcơ vẫn là dân Pháp. N­­ước Pháp tuy có nhiều vùng miền khác nhau, như­ng vẫn là một n­ư­ớc thống nhất và không thể chia sẻ… Chúng ta đều đ­ư­ợc kích thích bởi một tinh thần: Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dư­­ơng một nguyên tắc đạo đức: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”.

Ngoài giới báo chí, các chính khách và tướng lĩnh Pháp là đối tượng mà Cụ Hồ tiếp xúc nhiều lần. Cụ đã nói với họ những lời rất chân thành về nguyện vọng giữ cho mối quan hệ Việt-Pháp "không có tiếng súng". Có người vì thiện chí mà sốt sắng và công khai ủng hộ nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam nhưng cũng có những người đến lúc đó vẫn chưa thay đổi nếp suy nghĩ thực dân thâm căn cố đế. Đó là các cựu toàn quyền Đông Dương A-lét-xăng-đơ-rơ và An-be Xa-rô, những người đã từng ra lệnh truy nã Nguyễn Ái Quốc mấy thập kỷ trước. Giờ đây, ngay những ngày Cụ Hồ có mặt ở Pa-ri, trên tờ Rạng Đông (Aurore-số ra ngày 6-8-1946), Va-re-nơ còn viết những câu nặng mùi thực dân, với khẩu khí “rất xưa” của một quan toàn quyền Đông Dương. Cuộc gặp gỡ Hồ Chí Minh - Va-re-nơ được giới báo chí coi là một cuộc đối thoại khá đặc biệt giữa hai chính khách chênh nhau 20 tuổi. Với phong cách rất riêng, Cụ Hồ đã chủ động tạo nên không khí hòa giải để nói với người đối thoại về thiện chí đàm phán và nguyện vọng độc lập của Việt Nam trong mối quan hệ hữu nghị với nước Pháp mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành nhiều thời gian trực tiếp nói chuyện với các thành viên trong phái đoàn đàm phán của Pháp. Mỗi lần tiếp xúc với họ là một cuộc đấu tranh không khoan nhượng.

Giới kinh doanh cũng là những người sớm đến tiếp kiến Cụ Hồ để tìm hiểu lập trường của Chính phủ Việt Nam đối với quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương. Với các vị khách này, Cụ Hồ thường nói lên điều mong mỏi hội nghị Phông-ten-nơ-blô đạt kết quả tích cực để khai thông mối quan hệ kinh tế giữa hai nước. Cụ không giấu diếm mà nói Việt Nam rất cần những người thầy, những kỹ sư, những chuyên gia về kinh tế. Người Việt Nam “sẵn sàng làm học trò” về mặt này.

Một tuần sau khi Hội nghị Phông-ten-nơ-blô khai mạc, cuộc họp báo ngày 12 tháng 7 được các ký giả coi là rất quan trọng và bổ ích. Cụ Hồ đã nói đầy đủ về lập trường thương thuyết của Việt Nam đang được đặt trên bàn thương thuyết: 1) Việt Nam đòi quyền độc lập. Độc lập không có nghĩa là tuyệt giao với Pháp mà ở trong Khối Liên hiệp Pháp; 2) Việt Nam không chịu có Chính phủ Liên bang; 3) Nam Bộ là một bộ phận của Việt Nam. Không ai, không lực lượng nào có thể chia cắt; 4) Việt Nam sẽ bảo vệ tài sản của người Pháp, nhưng phía Pháp phải tuân theo luật lao động của Việt Nam và Việt Nam giữ quyền mua lại những tài sản có quan hệ tới quốc phòng; 5) Nếu dùng đến cố vấn thì Việt Nam sẽ ưu tiên dùng người Pháp; 6) Việt Nam có quyền phái đại sứ và lãnh sự đi các nước.

Một tháng sau, trong bối cảnh cuộc đàm phán đang giậm chân tại chỗ, trong cuộc họp báo ngày 13 tháng 8, trả lời ông Rông-sắc (Báo Pháp Phrăng-ti-rơ (Franc-tireur), Cụ Hồ nói:

- "Tôi sang đây để hòa giải. Tôi không muốn về Hà Nội với hai bàn tay trắng mà với những kết quả cụ thể, một sự khẳng định tương lai hợp tác mà chúng tôi mong đợi… Tinh thần thiện chí của Việt Nam khi ký hiệp ­ước còn giá trị hơn mọi văn bản và lời nói, vì chúng tôi kiên quyết bảo đảm những lợi ích tinh thần, văn hóa và vật chất của Pháp và ngược lại, Pháp phải bảo đảm nền độc lập của chúng tôi. Tôi xin nhắc lại: Một từ “độc lập” là đủ để đư­a lại một sự tín nhiệm đang cần được khẳng định…

Được hỏi về vấn đề Nam Bộ mà phía Pháp vẫn chủ trương tách khỏi Việt Nam, Cụ Hồ nói: "Về mặt dân tộc và lịch sử, Nam Bộ là đất của Việt Nam, đó là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu chúng tôi. Như­­ các vùng Bretagne và Basque là những bộ phận không thể tách rời của nư­­ớc Pháp… Xin nhớ rằng, trước khi đảo Coóc-xơ (Corse) thuộc về nước Pháp thì Nam Bộ đã là của Việt Nam rồi…".

Trải qua nhiều phen đứt nối, cuộc đàm phán đã đứng tr­­ước nguy cơ tan vỡ. Nhờ sự vận động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 9, hai phái đoàn tiếp tục các cuộc “họp hẹp” như­­ng cũng chỉ trải qua ba buổi, cuộc gặp gỡ ngày 7 tháng 9 đ­ư­ợc coi là cuộc họp cuối cùng. Tr­­ước tình thế khả năng hòa hoãn ngày càng giảm, khả năng nổ ra xung đột quy mô toàn cục ngày càng tăng, để dành thời gian cần thiết cho công cuộc chuẩn bị kháng chiến, đêm 14 rạng 15 tháng 9, Cụ Hồ ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Tạm ư­­ớc.

Báo chí trong nước đánh giá: Đây là bước nhân nhượng cuối cùng, nhân nhượng thêm nữa sẽ vi phạm quyền lợi tối trọng của dân tộc.

Ta càng nhân nhượng - địch càng lấn tới. Tức nước vỡ bờ

Mặc dù hai bên Việt-Pháp đã lần lượt ký Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước, nhưng những phần tử “gô-lít” vẫn chủ trương dùng vũ lực, vẫn tìm mọi thủ đoạn để lấn tới.

Ngày 1 tháng 6, khi phái đoàn ta vừa lên đường sang Pháp thì tại Sài Gòn, Đô dốc Đác-giăng-li-ơ chính thức cho ra đời cái gọi là "Chính phủ lâm thời cộng hòa Nam Kỳ". Ngày 8-6, đến Cai-rô (Ai Cập) và nhận đư­­ợc tin này, Cụ Hồ nói với tư­­ớng Ra-un Xa-lăng (tháp tùng chuyến đi) rằng: "Tôi vừa quay lưng đi, người ta đã nặn ra cái chính phủ Nam Kỳ"! Phía Pháp cố tình kéo dài cuộc hành trình bằng máy bay của phái đoàn ta từ Hà Nội sang Bi-a-rit-dơ, một thị trấn ở Tây Nam nước Pháp. Báo chí Pháp hồi đó đã hài hước gọi chuyến đi 11 ngày này là “chặng đường bí ẩn”.

Ngay từ những ngày đầu Cụ Hồ đặt chân lên đất Pháp, những người Pháp ở Đông Dương đã liên tiếp đặt Chính phủ ta trước hàng loạt “việc đã rồi”. Họ tập hợp một số tay sai ở Đông Bắc chuẩn bị lập "xứ Nùng tự trị", mở cuộc hành quân đánh chiếm một số địa bàn trọng yếu ở Tây Nguyên (ngày 21-6) để chuẩn bị lập "xứ Tây Kỳ tự trị", triệu tập bọn tay sai ba nước họp "hội nghị Liên bang Đông Dương" ở Đà Lạt… Ngay tại Hà Nội, cùng với việc cho quân chiếm đóng trái phép Phủ toàn quyền cũ (ngày 23-6), họ tập hợp một số tên phản động trong các đảng Việt quốc - Việt cách (thân Tưởng trước đây, nay đã thay thầy đổi chủ) chuẩn bị làm đảo chính hòng lật đổ chính quyền cách mạng.

(còn nữa)






Tiêu đề: Re: Những câu chuyện về Hà Nội 60 ngày đêm
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 23 Tháng Mười Hai, 2011, 09:27:50 PM
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/301/302/302/170730/Default.aspx

SỰ THẬT VỀ CHẶNG ĐƯỜNG DẪN ĐẾN NGÀY 19-12-1946 (Tiếp theo và hết)

Trần Trọng Trung

QĐND - Thứ Năm, 22/12/2011, 20:28 (GMT+7)

QĐND - Không phải ngẫu nhiên mà đúng vào dịp này, Pa-ri thay tướng cầm đầu quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Giữa tháng 7, tướng Phi-líp Lơ-cơ-le bị triệu hồi vì đã công khai thừa nhận rằng, sức mạnh Việt Nam là "sức mạnh của cả một dân tộc". Quyền tổng chỉ huy chuyển sang tay tướng Ê-chiên-nơVa-luy, tay chân thân tín của tập đoàn chủ chiến Bi-đôn Đác-giăng-li-ơ. Trong những ngày cuộc thương thuyết ở Phông-ten-nơ-blô đang bế tắc, viên tướng này đã nhiều lần điện về Pa-ri yêu cầu “cho đánh ngay”, phản đối mọi cuộc thương lượng nhùng nhằng".

Trong bối cảnh đó, hội nghị quân sự toàn quốc họp tại Hà Nội ngày 19-10, Thường vụ Trung ương Đảng đã kết luận: "Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp. Theo tinh thần và tư tưởng chỉ đạo đó, công việc chuẩn bị kháng chiến toàn quốc của quân và dân ta tiếp tục được triển khai ngày càng khẩn trương, thiết thực, cụ thể, để đất nước tránh lâm vào thế bị động khi kẻ thù buộc nhân dân ta phải đứng lên cầm súng chiến đấu.

Từ ngày Cụ Hồ về nước, những yêu sách ngang ngược của phía Pháp cùng với những “việc đã rồi" vẫn tiếp diễn. Bắt đầu là bức thư ngày 7-11 của Đô đốc Đác-giăng-li-ơ đòi giải tán Ủy ban hành chính Nam Bộ, đòi LLVT của ta ở miền Nam phải ngừng hoạt động. Ở ngoài Bắc, từ chỗ đơn phương tổ chức Phòng thuế và kiểm soát ngoại thương ở Hải Phòng, ngày 20-11, quân Pháp gây hấn rồi đánh chiếm Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn, hòng bịt đường giao lưu của ta với nước ngoài cả trên bộ và trên biển. Đây được coi là một bước ngoặt trong âm mưu xâm lược của địch. Như sau này tướng Moóc-li-e (chỉ huy quân Pháp ở miền Bắc) nhận xét: "Việc đánh chiếm thành phố cảng có nghĩa là Hiệp định 6 tháng 3 và Tạm ước 14 tháng 9 tan vỡ hoàn toàn… Sự kiện Hải Phòng chứng tỏ một cách cụ thể rằng, nước Pháp đã chọn chính sách dùng bạo lực".

Trước không khí ngày càng nóng lên trong quan hệ Việt-Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì gửi thư cho Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Bi-đôn và nhân dân Pháp, cố gắng tìm kiếm những khả năng hòa hoãn nhỏ nhất, dù lúc này đã rất mong manh. Trong thư gửi tổng chỉ huy Va-luy và tướng Moóc-li-e, Cụ phản đối việc quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, đòi quân Pháp phải rút về vị trí trước ngày 20-11; đòi đẩy mạnh hoạt động của Ủy ban Liên kiểm Việt-Pháp để thực thi Tạm ước. Bức thư ngày 6-12 gửi Quốc hội và Chính phủ Pháp, cuộc nói chuyện ngày 7 với ông Mô-pha (Moffard), Giám đốc Vụ châu Á, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, công hàm ngày 13 gửi Chính phủ Pháp và Đô đốc Đác-giăng-li-ơ, thông điệp ngày 15 gửi thủ tướng Pháp v.v.. tất cả đều biểu thị thiện chí muốn cùng phía Pháp tìm một giải pháp thỏa đáng để cứu vãn tình thế. Ngày 7-12, trả lời phỏng vấn của phóng viên Béc-na Đơ-ran-be của tờ Pa-ri-Sài Gòn, một lần nữa Cụ Hồ khẳng định: "Đồng bào tôi và tôi thành thực mong muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn và nhân dân Pháp cũng không muốn chiến tranh… Chúng tôi muốn ngăn chặn cuộc chiến tranh này bằng mọi giá. Chúng tôi tha thiết độc lập, độc lập trong Khối Liên hiệp Pháp… Nỗ lực khôi phục của nước Việt Nam cũng như của nước Pháp không cho phép để xảy ra cuộc tàn sát và những đau khổ này… Nếu chúng tôi buộc phải chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu. Chúng tôi biết rõ những gì đang chờ đợi chúng tôi. Nước Pháp có đủ những phương tiện ghê gớm. Cuộc chiến đấu sẽ khốc liệt, nhưng nhân dân Việt Nam sẵn sàng chịu đựng tất cả chứ không chịu mất tự do. Tuy nhiên, tôi hy vọng và thiết tha mong rằng chúng ta không phải chấp nhận giải pháp này…".(1)

Từ trung tuần tháng 12, trước tình hình quan hệ Việt-Pháp đã trở nên nóng bỏng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn liên tiếp gửi thông điệp cho Chính phủ Pháp và cho thủ tướng mới của Pháp là Lê-ông Blom nhằm cùng nhau cứu vãn tình thế. Do điều kiện thông tin lúc đó, ta chưa thể chuyển thẳng thông điệp sang Pa-ri mà phải gửi qua đài của Pháp ở Sài Gòn và những người Pháp ở Đông Dương đã lợi dụng thực tế đó để cố tình trì hoãn việc chuyển những thông điệp của ta nhằm tiếp tục đặt Chính phủ mới của Pa-ri trước những "việc đã rồi". Thông điệp ngày 15-12 chỉ được Xanh-tơ-ni chuyển vào Sài Gòn ngày 16 và ngày 18-12 Va-luy mới chuyển về Pháp, kèm theo những lời nhận xét thiếu xây dựng. Ngày 18-12, Bộ chỉ huy Pháp gửi tối hậu thư đòi được quyền quản lý thủ đô Hà Nội, đòi ta giải giáp tự vệ chiến đấu thành phố, nếu không họ sẽ tự cho quyền chuyển sang hành động vào ngày 20-12-1946.

Rõ ràng là khả năng hòa hoãn không còn, phía Pháp đã công khai tuyên chiến. Ngày 18-12, tại Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương họp mở rộng quyết định phát động kháng chiến toàn quốc. Tuy vậy, với tinh thần đến phút chót vẫn cố gạn chắt khả năng hòa hoãn cuối cùng, sáng 19-12, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn viết thư giao cho ông Hoàng Minh Giám đi gặp Xanh-tơ-ni, nhưng ông ta kêu mệt hẹn đến hôm sau mới tiếp phái viên của Chính phủ ta. Hôm sau, tức ngày 20-12, là thời điểm mà quân Pháp sẽ hành động như Bộ chỉ huy Pháp đã “cảnh báo” trong tối hậu thư. Theo hồi ký "Thư ký của Bác Hồ kể chuyện" thì sau khi nghe báo cáo phía Pháp khước từ không tiếp phái viên Chính phủ, mọi người "thoáng thấy Bác hơi cau mày, rồi nói khẽ như buột miệng: Hừ thì đánh!". Như cách diễn đạt của sử gia Phi-líp Đơ-vi-le sau này, khi mà guồng máy chiến tranh của Pháp đã bắt đầu quay, quay một cách tàn nhẫn, khi mà sợi dây mong manh cuối cùng giằng níu chiếc cầu hòa hoãn đã bị phía Pháp chặt đứt, thì tiếng "Hừ" trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới là quyết định cuối cùng. Câu nói như buột miệng đó của Cụ đã đi vào lịch sử.

Chiều 19-12, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được tập thể Thường vụ thông qua lần cuối cùng để phát đi toàn quốc.

Đêm hôm đó, để giành chủ động, quân ta được lệnh nổ súng trước trên khắp các mặt trận. Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu.

Đúng như lời Tổng bí thư Trư­ờng Chinh nhận định, 20 giờ đêm hôm đó là thời điểm nín nhịn đã nung nấu trong lòng dân tộc ta biết bao uất hận, nổ thành một sức mạnh xung thiên.

Tính chi li ra, từ ngày 23-9-1945, ngày quân Pháp bắt đầu gây hấn ở Sài Gòn, cho đến khi số phận của quân viễn chinh Pháp đ­ược quyết định trên cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954), cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp đã trải qua 8 năm 8 tháng. Dưới sự chèo chống của 20 đời thủ tướng Pháp, bằng mọi mưu đồ và kế hoạch chiến lược của 7 vị tổng chỉ huy quân viễn chinh và với sự viện trợ không ngừng tăng của Mỹ, giấc mộng giành lại “bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa thuộc địa” của Đờ-gôn và giới thực dân phản động Pháp vẫn tan thành mây khói. Phải 12 năm sau sự kiện Điện Biên Phủ, trong thư đề ngày 8-2-1966 gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, cựu Tổng thống Đờ-gôn mới tỏ sự nuối tiếc rằng: Giá mà, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, giữa Pháp và Việt Nam có sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn(?!) thì đã tránh được thảm họa đang giằng xé đất nước Ngài hôm nay. Như vậy là Xác-lơ Đờ-gôn đã "thấy vấn đề". Nhưng đáng tiếc thay, đó chỉ là một sự nuối tiếc quá muộn màng. Muộn màng hai thập kỷ.

Không ai nghĩ rằng, câu chuyện cũ sẽ được nhắc lại một cách khéo léo, tế nhị, hơn 10 năm sau đó. Chẳng là, tháng 4-1977, hãng thông tấn Pháp AFP đã dẫn lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói với Tổng thống Va-lơ-ri Git-xca Đéc-xtanh nhân chuyến sang thăm Pháp, rằng: Trong quan hệ lâu dài với Việt Nam, nước Pháp thường tính sai nhiều nước cờ.
_______________
(1) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Tập 3, Nxb CTQG 1993, trang 350



Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2012, 05:22:18 PM
Hê! Rất cám ơn các bác cho thông tin. Nhưng những gì "chính sử" đã nói thì hầu hết mọi người có thể đã nghe giảng. Cái mà có lẽ mọi người cần là những dữ liệu có thể chứng minh hoặc bác bỏ các bài của chiangshan cơ. Thí dụ như chỉ ra những mâu thuẫn (những chứng cứ) để bác bỏ hoặc những chứng cứ ủng hộ bài viết đó. Còn những dữ kiện chung chung để ủng hộ dòng thông tin chính thống thì tôi nghĩ chúng ta được (bị) nghe nhiều rồi !  


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Một, 2012, 11:56:24 PM
Một số dữ kiện liên quan:

- Về hoạt động của các lực lượng vũ trang ta: theo tài liệu ta thì phần lớn 5 tiểu đoàn chính quy đóng rải rác trong thành phố và đều tham gia tấn công chứ không phải án binh bất động như tác giả nhận định. Tuy nhiên thời gian nổ súng chính xác của các đơn vị này không rõ.

Một số đơn vị vệ quốc đoàn không hề nhận được lệnh và hoàn toàn bị bất ngờ: trung đội gác chung với quân Pháp ở đầu cầu Long Biên phía Gia Lâm bị tấn công trước phải bỏ vị trí rút lui. Trung đội đóng ở sở liên kiểm của ta cũng bị tấn công khi không phòng bị, phần lớn hy sinh và bị bắt. 2 tiểu đội cùng đi tuần tra chung bằng xe của Pháp, khi súng nổ địch cho xe chạy thẳng vào Thành, chiến sĩ ta bị động nhảy xuống bị bắn theo, hầu hết hy sinh.

Lệnh phổ biến cho tự vệ thì khá tốt, có những nhóm chỉ 1 tiểu đội có nhiệm vụ đánh 1 nhà Pháp kiều cũng được biết và chuẩn bị trước.

Tài liệu của ta cũng cho rằng ngay từ 20h30 đã có những mũi quân Pháp từ trong Thành tiến ra phản kích (tài liệu Pháp là 21h30, 1 tiếng rưỡi sau khi ta nổ súng).

- Tại sao đài phát thanh Bạch Mai không phát Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: theo tài liệu ta, đài đã được sơ tán và phần còn lại được tự vệ phá hủy bằng mìn theo kế hoạch. Tất nhiên ở đây sẽ đặt ra câu hỏi là vì sao không phát trước rồi phá hủy sau, điều này thì ta không trả lời được.

Thời điểm lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến được phát cũng không thống nhất: sáng 20/12 (hồi ký tướng Giáp), đêm 20/12 và sáng 21/12 (tài liệu Pháp) hoặc đêm 19/12 (hồi ký của trung tướng Trần Quý Hai viết là ông nghe lời hiệu triệu của Hồ Chủ tịch lúc nửa đêm, sau đó Huế bắt đầu nổ súng).

- Các đô thị khác nổ súng muộn: nguyên nhân được lý giải là do tổ chức thông tin của ta kém. Theo hồi ký của 1 cán bộ thông tin ở Huế, sở bưu điện (nơi đầu tiên nhận được lệnh) sơ tán khỏi thành phố nên tới 20h00 cán bộ bưu điện mới chuyển được lệnh tới ông này, và sau đó còn phải qua nhiều nấc nữa nên gần nửa đêm mới đến được chỉ huy mặt trận.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: danviet trong 10 Tháng Một, 2012, 01:38:33 AM
Hê! Rất cám ơn các bác cho thông tin. Nhưng những gì "chính sử" đã nói thì hầu hết mọi người có thể đã nghe giảng. Cái mà có lẽ mọi người cần là những dữ liệu có thể chứng minh hoặc bác bỏ các bài của chiangshan cơ. Thí dụ như chỉ ra những mâu thuẫn (những chứng cứ) để bác bỏ hoặc những chứng cứ ủng hộ bài viết đó. Còn những dữ kiện chung chung để ủng hộ dòng thông tin chính thống thì tôi nghĩ chúng ta được (bị) nghe nhiều rồi !  

Vì thế bác loại "chính sử" ra khỏi cơ sở tranh luận?

Em hiểu ý bác muốn nói, nhưng vì không phải hiểu biết của tất cả mọi người đọc đều toàn diện như nhau, có cái nhìn từ nhiều hướng cũng tránh được khỏi những lệch lạc.
Về tài liệu mà bác Chiangshian đã đưa, thú thực em không có ý định tìm hiểu sâu, nhưng chứng minh nó đúng hẳn hay sai hẳn thì cũng khó, vì nó có vẻ "vô thưởng vô phạt" dựa trên một loạt các giả thiết với cơ sở không chắc chắn. Liệu có chắc rằng có "phe cụ Hồ", "phe tướng Giáp" hay chỉ là võ đoán? Liệu rằng chính phủ mới của Pháp thực lòng có thiện ý. Và khi họ có thiện ý, liệu rằng họ đã thống nhất được quyền lực để ra tiếng nói quyết định khi mà thực tế cho thấy thời gian cầm quyền của họ trong giai đoạn này cũng như giai đoạn 1936 đều rất ngắn? Liệu Pháp có dám hy sinh một mắt xích quan trọng có thể gây hệ quả đối với chuỗi thuộc địa đang lung lay của họ để dẫn đến những hệ lụy về sau? Liệu cụ Hồ có nên thưởng thức món "bánh vẽ" để khi "được vạ thì má đã sưng"? Mà chắc gì đã "được vạ"?

Em thì em tin rằng "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng có dã tâm cướp nước ta một lần nữa." Lại là chính sử phải không ạ?


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: danviet trong 10 Tháng Một, 2012, 02:01:07 AM

- Tại sao đài phát thanh Bạch Mai không phát Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: theo tài liệu ta, đài đã được sơ tán và phần còn lại được tự vệ phá hủy bằng mìn theo kế hoạch. Tất nhiên ở đây sẽ đặt ra câu hỏi là vì sao không phát trước rồi phá hủy sau, điều này thì ta không trả lời được.


Trả lời câu hỏi này cũng không quá khó bác chiangshan ạ. Chuyển nhà mình thôi cũng đã phải mất cả ngày. Bản tin vừa phát ra, Pháp tập trung quân đánh vào đấy thì coi như mất hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: chiangshan trong 10 Tháng Ba, 2012, 11:06:05 PM

- Tại sao đài phát thanh Bạch Mai không phát Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: theo tài liệu ta, đài đã được sơ tán và phần còn lại được tự vệ phá hủy bằng mìn theo kế hoạch. Tất nhiên ở đây sẽ đặt ra câu hỏi là vì sao không phát trước rồi phá hủy sau, điều này thì ta không trả lời được.


Trả lời câu hỏi này cũng không quá khó bác chiangshan ạ. Chuyển nhà mình thôi cũng đã phải mất cả ngày. Bản tin vừa phát ra, Pháp tập trung quân đánh vào đấy thì coi như mất hoàn toàn.


Hôm nay em tình cờ đọc được thêm đoạn này cũng có vài thông tin, mức độ chính xác chưa rõ:

Chủ trương toàn quốc kháng chiến của Trung ương Đảng và Chính phủ đã được quán triệt từ trước. Khắp các tỉnh trong cả nước, các Uỷ ban kháng chiến đều đã được thành lập và tổ chức lực lượng chuẩn bị đánh giặc. Trước giờ nổ súng toàn quốc kháng chiến 20 phút tại "Bưu điện Trung ương" Bờ Hồ (Hà Nội ) cùng một lúc tất cả các máy đều phát tín hiệu chuyển mệnh lệnh của Bộ quốc phòng - Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp gửi toàn quân. Toàn văn bức điện như sau: "Tổ quốc lâm nguy! Giờ chiến đấu đã đến! Theo chỉ thị của Hồ Chủ Tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Bộ quốc phòng - Tổng chỉ huy, tôi ra lệnh cho toàn thể bộ đội vệ quốc quân, dân quân tự vệ  Trung - Nam - Bắc phải nhất tề đứng dậy. Phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước". Tại nhiều thành phố, thị xã trong cả nước ngay sau khi nhận được điện báo mệnh lệnh nổ súng của Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, các điện báo viên đã kịp thời báo cáo lên cấp chỉ huy cao nhất. Lệnh tấn công quân Pháp  được triển  khai kịp thời. Lực lượng tại chỗ của ta đồng loạt nổ súng  đánh địch ngay trong đêm 19-12-1946. ở Bưu điện Bờ Hồ, Hà Nội ngay khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ, điện thành phố tắt, súng địch xối xả bắn vào nhà bưu điện. Ngay lập tức các điện thoại, điện báo viên cắt toàn bộ đường liên lạc bằng điện thoại của Pháp. Đồng thời tiếp tục chuyển hết tất cả những công điện khẩn của Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng ngay trong đêm 19-12. ở Đài tiếng nói Việt Nam ngay khi điện thành phố bị cắt, Đài đã dùng nguồn điện riêng tiếp tục buổi phát thanh tối với bản tin thời sự đặc biệt về tình hình chiến sự nổ ra tại Hà Nội. Ngay sau đó cơ sở đài phát thanh cũng được đặt mìn phá nổ theo kế hoạch tác chiến.

http://www.mattran.org.vn/home/thongtinCTMT/so54/vbhd1.htm#7


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Ba, 2012, 11:17:05 PM
Theo hồi ký của đại tá Nguyễn Dân thì chúng ta có chủ trương đấy. Bài đó in trong cuốn "Hai lần được tháp tùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp" do Trần Đương biên soạn, nhà xuất bản Thanh Niên 2011.


Tiêu đề: Chiến tranh Pháp - Việt bùng nổ vì đâu? (PGS.TS Vũ Như Khôi)
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Tám, 2012, 10:20:24 AM
Chiến tranh Pháp - Việt bùng nổ vì đâu?

Cuộc chiến tranh Pháp - Việt (1945 - 1954) là một cuộc chiến tranh lớn kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Qua 9 năm chiến tranh ác liệt, về phía Việt Nam, đất nước đã bị tàn phá nặng nề, hàng chục vạn quân nhân và dân thường bị thương vong, hậu quả nặng nề về kinh tế, văn hoá, xã hội còn kéo dài nhiều năm sau. Về phía nước Pháp, 561.900 binh sĩ bị chết và bị bắt, trong đó có 142.900 binh sĩ Âu Phi. Đáng kể là hai viên tướng Tổng Tư lệnh quân Pháp ở Việt Nam là Lơcléc và Đờlát Đờ Tátxinhi, mỗi người đều có một con trai chết trận trên chiến trường Việt Nam. Nước Pháp đã tiêu tốn 2.938,7 tỉ Phrăng chiến phí, trong đó có 1.154 tỉ Phrăng viện trợ Mỹ. Vết thương của một cuộc chiến bại còn để lại di chứng cho nhiều thế hệ người Pháp.

Vậy ai là người chịu trách nhiệm làm bùng nổ cuộc chiến tranh đó?


Trước kia, bọn thực dân gây chiến cùng những kẻ bồi bút cho chủ nghĩa thực dân cố tình xuyên tạc sự thật, đổ trách nhiệm cho phía Việt Nam là  “bội ước tấn công trước”.

Ngày nay, mấy kẻ phản động người Việt ở nước ngòai mạo danh “vì quốc gia, dân tộc” cũng lớn tiếng vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam theo đường lối “tả khuynh” của Quốc tế Cộng sản và của những người lãnh đạo các nước cộng sản lớn, đưa đất nước vào cuộc chiến 30 năm (cả chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ), khiến cho đất nước lụn bại, hàng triệu người chết (cả hai phía), dân tộc phân ly…(!)

Lịch sử với sự thật vốn có, luôn phán xử công minh.

Sau thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đảng ta và nhân dân ta chỉ mong muốn có cuộc sống hòa bình để xây dựng đất nước, chăm lo đời sống. Nhưng hòan cảnh nước ta lúc đó lại vô cùng phức tạp, gần 30 vạn quân của nhiều nước đế quốc, dưới danh nghĩa Đồng minh vào tước vũ khí quân phát xít Nhật, rải ra chiếm đóng các thành phố, thị xã, kể cả Thủ đô Hà Nội, các đường giao thông huyết mạch, các vị trí trọng yếu về chính trị, quân sự, kinh tế ở hầu khắp nước ta. Bọn đế quốc có ý đồ và hành động khác nhau, nhưng đều chung một dã tâm lật đổ chính quyền Việt Nam độc lập, đưa dân tộc ta trở lại cuộc sống nô lệ.

Trong các nước đế quốc thì thực dân Pháp có lực lượng và điều kiện hơn cả, quyết tâm xâm lược lại nước ta, đặt lại nền cai trị trên “đóa hoa đẹp nhất” trong vườn hoa thuộc địa của Pháp trước đây.

Ngày 2 - 9 - 1945, giữa lúc nhân dân Sài Gòn mít tinh chào mừng ngày Độc lập thì một số tên lính Pháp còn ẩn náu trong Thành phố, đã xả đạn vào đồng bào ta, làm hàng chục người chết và bị thương. Hai mươi ngày sau, 0 giờ ngày 23 - 9, được quân Anh và quân Nhật hỗ trợ, quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược lại nước ta. Quân và dân Nam Bộ được cả nước chi viện, đã chặn đánh quyết liệt, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại và làm phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của chúng.

Lúc này, nhân dân cả nước sôi sục căm thù quân xâm lược và hăm hở chuẩn bị sẵn sàng đánh trả quân Pháp nếu chúng mở rộng chiến tranh. Với trọng trách trước vận mệnh đất nước, trước sự sống còn của cách mạng, Đảng phải sáng suốt, cân nhắc lợi, hại để lãnh đạo tòan dân vượt qua khó khăn, thử thách, đưa cách mạng tiến lên. Trong Chỉ thị Tình hình và chủ trương ngày 3 - 3 - 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ rõ:

“Vấn đề lúc này không phải là muốn đánh hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình biết người, nhận định một cách khách quan những điều kiện lợi hại trong nước và ngòai nước mà chủ trương cho đúng”[1].

Vào lúc này, tình thế đất nước vô cùng hiểm nghèo. Chính quyền Tưởng Giới Thạch theo lệnh Mỹ, đã ký kết thỏa thuận cho quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân Trung Hoa (lúc này thường gọi là quân Tưởng). Như thế, quân Pháp đương nhiên sẽ đổ bộ vào miền Bắc nước ta. Nếu ta đánh quân Pháp, chúng sẽ vu cáo ta chống lại Đồng minh. Quân Tưởng sẽ có cớ để dùng vũ lực lật đổ chính quyền ta, lập chính quyền tay sai, cài cắm lực lượng phục vụ cho âm mưu bành trướng sau này và gây sức ép buộc Pháp phải nhân nhượng thêm quyền lợi. Quân Pháp sẽ trắng trợn tiến đánh quân ta. Về phía ta, chính quyền còn non trẻ, mặt trận dân tộc thống nhất chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn ít ỏi và non yếu về nhiều mặt. Sức ta chưa thể cùng lúc dùng lực lượng vũ trang đánh lại cả hai kẻ thù.

Đảng ta, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp để sớm đuổi quân Tưởng về nước, loại bỏ một kẻ thù nguy hiểm; đồng thời tranh thủ khả năng giải quyết quan hệ với kẻ thù chính là thực dân Pháp bằng con đường hòa bình, chí ít cũng làm cho cuộc chiến tranh chậm nổ ra, giành được thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến tranh lâu dài. Trong tình thế so sánh lực lượng bất lợi và để đạt được hòa hoãn, ta phải mềm dẻo nhân nhượng, chấp nhận phải đi đường vòng, đi từng bước một, nhưng bảo đảm chắc chắn tới đích cuối cùng.

Về phía Pháp, vào đầu năm 1946, nước Pháp đang còn khó khăn bề bộn do hậu quả chiến tranh thế giới; lực lượng quân viễn chinh ở Việt Nam chưa đủ khả năng mở rộng chiến tranh ra cả nước. Nhiều người trong chính giới Pháp, kể cả Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương Lơcléc và Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Đông Dương Xanhtơny cũng đề xuất dùng biện pháp đàm phán hòa bình để từng bước thôn tính Việt Nam - điều mà biện pháp vũ lực không thể đạt được.

Đó là bối cảnh lịch sử dẫn đến những cuộc hòa đàm Việt  - Pháp.

Ngày 6 - 3 - 1946, Hiệp định sơ bộ được ký kết tại Hà Nội giữa đại diện Chính phủ Việt Nam và đại diện Chính phủ Pháp. Những Điều khỏan chính của Hiệp định gồm: Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, tài chính riêng và là một thành viên trong Liên bang Đông Dương và trong Khối Liên hiệp Pháp; việc thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam sẽ được quyết định thông qua một cuộc trưng cầu ý dân. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện đón quân đội Pháp vào thay thế quân đội Trung Hoa ở miền Bắc Việt Nam. Số quân Pháp giới hạn là 15.000 người và sẽ rút hết trong 5 năm, mỗi năm rút 1/5 quân số.

Hiệp định sơ bộ ghi nhận sự nhân nhượng của hai bên. Mục tiêu trước sau như một của tòan Đảng, tòan dân ta là độc lập, thống nhất hòan tòan, nhưng hòan cảnh cụ thể chưa cho phép ta đạt ngay tới mục tiêu đó. Chúng ta phải chấp nhận một nền độc lập hạn chế và một nền thống nhất có điều kiện. Trong tình thế đất nước như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, sự mất, còn của vận mệnh dân tộc chỉ là một khỏang cách mong manh, hòa thì còn mà đánh thì rất có thể mất, thực hiện sách lược hòa hoãn ngay với kẻ thù xâm lược là một quyết sách cần thiết, đúng đắn và mưu lược.

Tiếp sau Hiệp định sơ bộ, cuộc đàm phán chính thức diễn ra qua Hội nghị trù bị Đà Lạt và Hội nghị Phôngtennơblô. Tại các cuộc đàm phán, lập trường chính nghĩa mềm dẻo của ta là độc lập, thống nhất quốc gia và hợp tác với Pháp trên cơ sở bình đẳng. Trái lại, lập trường của Pháp hết sức ngoan cố phản động. Giới cầm quyền nước Pháp, đại diện quyền lợi tầng lớp tư bản phản động vẫn đòi Việt Nam phải nằm trong vòng cai trị của Pháp, vẫn tách Nam Bộ khỏi nước Việt Nam thống nhất. Lập trường thực dân của Pháp dẫn đến cuộc thương thuyết chính thức tan vỡ. Cánh cửa hòa bình như đã đóng chặt, quan hệ hai nước rất căng thẳng. Cuộc chiến tranh trên cả nước Việt Nam có thể xảy ra một sớm một chiều.

Để cứu vãn tình thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết tâm tiếp tục vận động cho một giải pháp hòa bình, dù là tạm thời và mong manh. Ngày 14 - 9 - 1946, đại diện cho Chính phủ Việt Nam, Người đã ký với Mutê - đại diện Chính phủ Pháp - bản Tạm ước thỏa thuận hai bên đình chỉ xung đột về quân sự, ghi nhận cuộc thương thuyết vẫn còn được tiếp tục. Trong cuộc họp báo ở Pari giải thích việc ký Tạm ước 14 - 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Bản Tạm ước này đối với tôi có phải đã thỏa mãn không? Có và không. Được rất ít nhưng có còn hơn không. Ký Tạm ước này, chúng tôi muốn tỏ cho nhân dân Pháp biết chúng tôi mong muốn một tinh thần rộng mở trong sự hòa giải”[2].

Trong những hòan cảnh cụ thể, thực dân Pháp phải ký nhận sự hòa hoãn để đạt được một số mục tiêu mà chúng không thể đạt được bằng tiến công quân sự như đưa được một số quân ra miền Bắc Việt Nam, nhưng âm mưu trước sau như một của chúng là dùng vũ lực xâm lược lại đất nước ta. Cho nên, quân Pháp luôn vi phạm các điều khỏan đã ký kết, thường xuyên gây sự, xâm phạm chủ quyền nước ta.


------------------------------------------------------------------------
[1] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng 1945 - 1954, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, H. 1978, t 1, tr 39
[2] . Nguyễn Thành: Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp, Tạp chí Thông tin lý luận, H. 1988, tr 204


Tiêu đề: Re: Chiến tranh Pháp - Việt bùng nổ vì đâu? (PGS.TS Vũ Như Khôi)
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Tám, 2012, 10:28:11 AM
Diễn biến chính trị nước Pháp ngày càng phức tạp, bọn thực dân hiếu chiến ra sức phản đối hòa hoãn, các chính phủ thay nhau lên nắm quyền ngày càng thiên hữu. Cuối năm 1946, sau khi quân đội Trung Hoa đã rút về nước và quân viễn chinh Pháp đã được tăng cường đáng kể, thực dân Pháp quyết phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Giữa tháng 11 - 1946, quân Pháp đánh chiếm thành phố Hải Phòng, tiếp đó đánh chiếm nhiều công sở và tàn sát dã man đồng bào ta ở Lạng Sơn. Tướng Moóclie - Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở miền Bắc Đông Dương - đã nhận định rằng với các hành động đó, Hiệp định sơ bộTạm ước đã tan vỡ hòan tòan, chắc chắn chiến cuộc sẽ lan rộng khắp Bắc Kỳ, và như thế chứng tỏ nước Pháp đã chọn chính sách dùng vũ lực.

Chính phủ ta cố gắng dàn xếp để chấm dứt cuộc xung đột, nhưng quân Pháp càng ngang ngược, yêu sách những điều xâm hại đến độc lập chủ quyền của nước ta. Trước tình hình nghiêm trọng này, Đảng ta khẳng định:

“Sự thật đã chứng minh rằng: thực dân Pháp ngang nhiên khiêu hấn. Chúng định dùng vũ lực bắt ta phải nhượng bộ. Nhưng không khi nào ta chịu. Tạm ước 14 tháng 9 là một bước nhân nhượng cuối cùng. Nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân tộc”[3].

 Ngày 17 - 12 - 1946, quân Pháp bắn vào trụ sở tự vệ ta và thảm sát dã man đồng bào ta ở Hà Nội. Ngày 18 - 12, quân Pháp đánh chiếm Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Chúng ta vẫn kiềm chế, cử người đến gặp chỉ huy quân Pháp nhằm ngăn chặn hành động chiến tranh của chúng. Chính Xanhtơny trong bức điện từ Hà Nội gửi về Sài Gòn cũng phải thừa nhận:

“Dẫu sao, cái quyết tâm (của Chính phủ Việt Nam - VNK) không phát động một cuộc đổ vỡ hòan tòan vẫn được ghi nhận cho tới hôm nay”[4]. Trong ngày 18 - 12, Pháp chuyển cho Chính phủ ta hai bức thư đòi ta phá hủy những chướng ngại trên đường phố để quân Pháp tự do đi lại, đòi để cho quân Pháp đảm nhiệm việc trị an thành phố Hà Nội, đòi để cho quân Pháp chiếm đóng nhiều vị trí quan trọng trong thành phố... Những điều trên chúng ra điều kiện phải thực hiện trong ngày 19 - 12. Thực sự, đây là tối hậu thư đòi ta hạ vũ khí đầu hàng. Thực dân Pháp đã có kế hoạch đánh úp các cơ quan Chính phủ và quân chủ lực ta ở Thủ đô Hà nội vào ngày 20 - 12 - 1946.

Ngay ngày 18 - 12, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc, tỉnh Hà Đông (nay là phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Hội nghị nhận định khả năng hòa hoãn đã hết và quyết định phát động Toàn quốc kháng chiến. 9 giờ 30 phút đêm 19 - 12 - 1946, Thủ đô Hà Nội nổ súng, mở đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến.

Ngay trong đêm 19 - 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Tòan quốc kháng chiến[5]. Mở đầu Lời kêu gọi, Người nêu rõ thiện chí hòa bình của ta và dã tâm cướp nước ta của thực dân Pháp: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”. Người khẳng định ý chí sắt đá của tòan Đảng, tòan quân, tòan dân ta: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Sự thật lịch sử, nhất là những sự kiện diễn ra trong quan hệ Pháp - Việt từ 23 - 9 - 1945 đến 19 - 12 - 1946 đã bác bỏ hòan tòan luận điệu xuyên tạc, “gắp lửa bỏ tay người” của bọn thực dân và những kẻ bồi bút tay sai chúng. Lịch sử cũng minh chứng rõ ràng nguyên nhân của cuộc chiến tranh Pháp - Việt (1945 - 1954) là do thực dân Pháp cố tình gây chiến, định dùng sức mạnh quân sự cướp nước ta một lần nữa. Nhân dân Việt Nam buộc phải cầm vũ khí chiến đấu để bảo vệ quyền độc lập, thống nhất thiêng liêng của dân tộc, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi người.

Những ai hiểu biết về cuộc chiến tranh, những người có lương tri trên thế giới, đều đứng về phía Việt Nam. Nhà sử học Pháp Philíp Đờvile đã nhận định có lý rằng: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược, thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”[6]. Sau này Tổng thống Pháp Ph. Mittơrăng, trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam tháng 2 - 1993, đã trả lời các nhà báo rằng: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại, nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh bị đẩy vào cuộc chiến tranh”[7].

Đáp lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc ta nhất tề đứng lên chiến đấu với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”. Trải qua 9 năm chiến đấu gian khổ, hy sinh, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Thực dân Pháp, kẻ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận độc lập, chủ quyền, tòan vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Đội quân nhà nghề hùng mạnh của nước Pháp đã bại trận, phải cuốn cờ rút về nước.

Diễn biến và kết cục cuộc chiến tranh Pháp - Việt (1945 - 1954) để lại bài học tổng quát chung: Bọn xâm lược cuồng chiến dù có lực lượng hùng mạnh cũng không thể đè bẹp được một dân tộc dù là nhỏ yếu, dám đứng lên chiến đấu vì mục tiêu chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, thống nhất quốc gia và có đường lối đúng đắn, có sức mạnh đòan kết tòan dân.

Ngày nay, Tổ quốc ta đã độc lập, thống nhất hoàn toàn, đang hòa bình xây dựng đất nước, nhưng chúng ta vẫn đang đứng trước sự đe dọa từ âm mưu xâm lược, can thiệp của các thế lực bên ngoài. Dân tộc ta với truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt, với thế và lực mới, chắc chắn trong bất cứ tình huống nào cũng có đủ tinh thần và lực lượng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược dù chúng lớn mạnh đến đâu và từ đâu tới./.

PGS, TS Vũ Như Khôi
Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng

-----------------------------------------------------------------------
[3] . Báo Sự thật ngày 29 - 11 - 1946
[4] . Ph. Đờvile: Pari - Sài Gòn -Hà Nội, Pari, 1988, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr 129
[5] . Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t 4, tr 480 - 481
[6] . Philíp Đờvile: Cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Tạp chí Quốc tế, Pari, tháng 2 – 1949, tr 37, 38
[7] . Tạp chí Xưa và nay, số 2, tháng 5 - 1994, tr 9


Tiêu đề: Re: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2012, 04:18:03 PM
Chiến thắng Thượng Lào qua bình luận của các nhà quân sự và sách báo nước ngoài

Sau chiến thắng Tây Bắc tháng 10-1952, Cách mạng Việt Nam có điều kiện phù hợp với Cách mạng Lào hơn. Phân tích tình hình mọi mặt, Tổng Quân ủy Việt Nam đã đề nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho phối hợp với quân và dân Lào mở chiến dịch tiến công địch ở Sầm Nưa (Thượng Lào) nhằm tiêu diệt, làm tan rã quân địch, củng cố vùng giải phóng và khu căn cứ địa cách mạng nước bạn.

Chiến dịch Thượng Lào diễn ra từ ngày 8-4 đến ngày 3-5-1953. Kể từ đó đến nay đã gần 60 năm trôi qua, nhiều tướng lĩnh, chính khách Pháp - Mỹ, nhiều học giả và ký giả trong thế giới tư bản đã viết rất nhiều cuốn sách, bài báo về chiến dịch Thượng Lào. Có người viết là để thanh minh cho mình và để trút trách nhiệm lên đầu người khác. Có người viết nhằm thỏa mãn tính hiếu kỳ của độc giả. Và có người tỏ ra nghiêm túc, khách quan trong khi nghiên cứu, trình bày, tuy căn bản vẫn chưa vượt ra khỏi cách nhìn tư bản.

Mặc dù còn nhiều vấn đề cần được trao đổi, bàn luận thêm, nhưng với cách nhìn, cách nghĩ của những vị tướng trực tiếp chỉ huy, chỉ đạo và điều hành trước, trong và sau khi chiến dịch diễn ra đã có những lời rất thẳng thắn về nội tình của binh sĩ; về nguyên nhân thất bại cũng như thắng lợi từ hai phía trong chiến dịch.

Trước khi Chiến dịch Thượng Lào diễn ra, tại Pháp, trong các cuộc họp của Quốc hội và Chính phủ bàn về tình hình chính trị, xã hội Pháp lúc bấy giờ, các nghị sĩ chất vấn Thủ tướng Rơnê Mayê về vấn đề Đông Dương và tỏ ra lo lắng, thất vọng. Bộ trưởng Chiến tranh Pháp nghiêm túc cảnh báo khả năng có thể chỉ trong một thời gian ngắn nữa, sẽ có nhiều nguy cơ đe dọa đến an ninh của Pháp ở Hà Nội. Báo chí Pháp, kể cả báo chí phái hữu, đều kịch liệt phản đối chính sách theo đuổi chiến tranh mù quáng của Chính phủ Pháp và chỉ ra những tác hại của nó. Tờ Người quan sát số ra ngày 10-2-1953 viết: “ …binh lính Pháp không thể chiến đấu được nữa, họ đã bị kiệt sức trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Đó là một sự thật” và lời lẽ của tờ Combat (Chiến đấu) ngày 14-1-1953 còn quyết liệt hơn: “Chính phủ Rơnê Mayê phải lựa chọn trước tình hình chính trị tại Pháp và Đông Dương. Đó chính là một sự đầu hàng”. Tình hình chính trị tại Pháp như vậy rất bất lợi cho Tổng Chỉ huy Sa Lăng, người đang trực tiếp điều hành cuộc chiến tại Đông Dương.

Từ đầu năm 1953, Bộ Chỉ huy Pháp càng nhận rõ nguy cơ có thể mất Thượng Lào. Vì vậy, tướng Sa Lăng quyết định đặt Thượng Lào dưới quyền chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Bộ nhằm sử dụng lực lượng cơ động của toàn Bắc Bộ ứng cứu bằng đường không khi bị chủ lực của ta tiến công. Chiến trường Thượng Lào được Pháp chia ra làm hai khu là Mê Công và Trấn Ninh (gồm cao nguyên Cánh Đồng Chum). Khu Mê Công có hai phân khu Viêng Chăn và Luông Pha Băng; còn khu Trấn Ninh có phân khu Sầm Nưa và Xiêng Khoảng.

Với ý đồ chọn thị xã Sầm Nưa làm khu vực phòng giữ chủ yếu, Bộ Chỉ huy Pháp đã tập trung lực lượng, phương tiện, xây dựng những công sự, điểm tựa kiên cố nhằm biến Sầm Nưa thành một cứ điểm mạnh “kiểu Nà Sản” trên đất Lào. Mặc dù được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt như vậy, song, những người trực tiếp chỉ huy và giới quân sự tại Pháp đều thực sự lo ngại. Qua nghiên cứu tình hình, tướng Sa Lăng phán đoán: đứng trước một đối thủ lớn mạnh và điêu luyện, ba tiểu đoàn Pháp và ngụy Lào sẽ khó tránh khỏi bị tiêu diệt hoặc tan rã, nếu đối phương nhằm hướng Sầm Nưa để mở chiến dịch tiến công. Cùng quan điểm với tướng Sa Lăng, tướng Đờ Gioăng nhận định rằng: “Mất Thượng Lào sẽ có những tác hại không thể tính hết được về mặt chính trị”[1]. Và rồi tướng Sa Lăng đã vội vã xin Chính phủ và Quốc hội Pháp viện trợ khẩn cấp về tài chính, lực lượng và trang bị, nhưng không được đáp ứng.

Về phía liên quân Việt - Lào, theo đúng kế hoạch, chiến dịch diễn ra ngày 8-4-1953. Trên cơ sở phương án tác chiến, các đơn vị Việt Nam và Lào tham gia được giao nhiệm vụ tiến quân theo hướng chủ yếu đánh vào tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa (Thượng Lào). Chỉ sau đó 3 ngày, thấy không thể chống đỡ được với liên quân Việt - Lào, sau khi nhận được tin báo khẩn cấp của viên trung tá Manpơlát, Chỉ huy Phân khu Sầm Nưa, tướng Sa Lăng thấy rằng, nếu để ba tiểu đoàn cố thủ Sầm Nưa bằng mọi giá trước ưu thế áp đảo của đối phương thì chẳng khác nào lấy trứng chọi với đá, và thất bại là không tránh khỏi. Vì vậy, ngay trong đêm 12-4, tướng Sa Lăng quyết định rút quân khỏi Sầm Nưa về phía Nam. Khi trả lời phỏng vấn ông Giăng Pharăng (Tổng Biên tập tờ Paris Match), tướng Sa Lăng nhìn nhận rằng: trong một vài điểm, Việt Minh bắt chúng ta phải rút lui đến hàng trăm kilômét và đã cùng với quân Pathet Lào kiểm soát được Thượng Lào.

Trong quá trình diễn ra chiến dịch, nhiều báo, tạp chí đã không ngớt lời ca ngợi tinh thần chiến đấu của liên quân Việt - Lào và chỉ trích quân Pháp. Tờ Thế giới số ra ngày 14-5-1953 viết: “Với phần đông các vị chỉ huy và phần lớn quân đội, tinh thần binh lính rất rệu rã. Điều đó đã dẫn đến thất bại trong từng ngày”. Sau này, tướng Nava trong cuốn Hồi ký: “Thời điểm của những sự thật”, đã viết những lời bi đát vào thời điểm khi liên quân Việt - Lào tiến công: “Thất bại chiến tranh đã đến tình trạng hoặc là chúng ta thua cuộc sau một đại bại về quân sự, hoặc là chúng ta rã rời, “bị xé tả tơi’, điều mà thống chế Đờ Gioăng lo ngại nhất”[2].

Đến đây, tình huống chiến dịch đã thay đổi. Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận định: tinh thần địch mệt mỏi, sút kém, đường rút lui dài trên 200 kilômét, quân Pháp lại thoát ly khỏi công sự nên ta có điều kiện đánh tiêu diệt. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm lúc này là phải truy kích thật nhanh, thật mạnh. Bộ Chỉ huy ra lệnh tổ chức những đơn vị gọn, nhẹ, nhanh chóng đuổi kịp tiêu diệt địch, không cho chúng chạy thoát về Cánh Đồng Chum.

Tin tức của chiến dịch được các phóng viên kịp thời chuyển tải về Pháp, Mỹ và các nước phương Tây. Phóng viên người Pháp Luyxiêng Bôda gửi một bức điện cho báo Nước Pháp Buổi chiều tháng 5-1953 bình luận: “Chúng ta phòng ngự đơn thuần sẽ khiến cho đối phương tràn khắp rừng núi, từ sông Hồng đến Mê Công. Tình trạng này khiến chúng ta còn bị hao người, tốn của trong khi rút lui. Những thiệt hại này so với những trận đánh lớn có kém gì đâu”.

Tất thảy những diễn biến tư tưởng của những người đang đứng bên kia chiến tuyến đều đặt hy vọng vào Sầm Nưa. Bởi, giá trị của Sầm Nưa không chỉ đơn thuần là ở địa thế chiến lược đối với Pháp. Nhưng, cũng chẳng thể giữ nổi nên đến ngày 15-4-1953, trước sức tiến công mạnh mẽ của liên quân Việt - Lào, địch chống cự yếu ớt và nhanh chóng tan rã.

Lúc này, Bộ Chỉ huy Pháp ở Hà Nội mất liên lạc với Manpơlát, viên trung tá chỉ huy Phân khu Sầm Nưa, họ chỉ còn cách theo dõi bằng máy bay, đội hình đang rút chạy về phía Cánh Đồng Chum. Trước thất bại diễn ra quá nhanh chóng và bất ngờ, tướng Sa Lăng vội vã gửi Bộ trưởng Quan hệ với các Quốc gia liên hiệp bức thư biện minh rằng: “ Những sự kiện tháng 4, tháng 5 vừa qua chỉ rõ sự cấp bách của giải pháp này mà sự yếu kém về vận tải bằng không lực đã ngăn cản việc thực hiện, trước sự tấn công vừa rồi của Việt Minh”.[3]

Không phải Chính phủ Pháp và giới quân sự không có kế hoạch bảo vệ Thượng Lào, bởi họ đã xác định: “Không bảo vệ Thượng Lào tức là chấp nhận một thảm họa chung trong vòng vài tháng tới”“Xét về mặt chính trị, quyết định không bảo vệ Thượng Lào cũng là một điều rất nghiêm trọng”. Nhưng rồi thực tế thiếu quân, khan hiếm về tài chính, trang bị, sự thay thế chỉ huy liên tiếp, tinh thần binh lính mệt mỏi, mất sức chiến đấu đã làm cho đối phương không còn thiết gì đến việc tiến công nữa.

Đến ngày 3-5-1953, Chiến dịch Thượng Lào kết thúc đã làm hệ thống bố trí quân Pháp - Việt (ngụy) co lại một cách nguy hiểm. Trên chiến trường Bắc Đông Dương, lực lượng cơ động của Pháp bị căng mỏng và phân tán, buộc địch phải làm nhiệm vụ đóng giữ những vị trí chiến lược. Kế hoạch nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược của viên chỉ huy Đờ Lát, được tướng Sa Lăng dốc sức thực hiện, đến đây coi như đã thất bại. Khi trở về Pháp, tướng Sa Lăng đã trả lời phỏng vấn một số báo Pháp, Mỹ và phải thú nhận: “Sau chiến dịch mùa Xuân năm 1953, Việt Minh đã kiểm soát gần hết, trừ vùng kế quân chủ lực của họ lại càng mạnh mẽ, đầy khí thế hơn bao giờ hết vì chiến dịch vừa qua chưa làm họ sứt mẻ gì nhiều”.

Sau khi Chiến dịch Thượng Lào kết thúc, các nhà quân sự, sách báo Pháp và phương Tây đưa ra nhiều bình luận về nguyên nhân dẫn đến thất bại. Nguyên nhân thứ nhất được đưa ra là việc nắm tin tức tình báo của đối phương rất hạn chế. Bởi vậy, khi chiến dịch bắt đầu, đối phương gần như bất ngờ hoàn toàn. Báo cáo của Bộ Chỉ huy Pháp ở Đông Dương số 675/FO/TS tháng 5-1953 nêu rõ: “Ta không có điều kiện đánh giá đúng đắn lực lượng quân địch. Tình trạng thiếu tin tức tình báo về địch ngược lại hẳn với tình trạng tiết lộ bí mật phổ biến trong chúng ta là một trong những nhân tố tai hại nhất của cuộc chiến tranh này. Kẻ địch nắm rất chắc mọi ý đồ của chúng ta và giữ bí mật gần như tuyệt đối về các ý đồ của họ”. Chỉ đến khi chiến dịch đã diễn ra, phía Pháp mới phần nào có được những thông tin ít ỏi về các cuộc chuyển quân của chủ lực Việt Minh… có được những tin tức ấy là hầu như duy nhất là do giải được một số mật mã của đối phương. Đúng như tướng Nava sau này đã khẳng định: “Chỉ cần Việt Minh thay đổi mật mã là chúng ta thiếu tin tức, ít nhất cũng một thời gian”[4].

Nguyên nhân thứ hai mà giới quân sự của Pháp ở Đông Dương cũng như chính quốc đều có nhận xét rằng, Việt Minh có một bộ máy chỉ đạo chiến tranh hoàn chỉnh: “Về tổ chức cơ quan quân sự, ông Giáp có một Bộ Tham mưu đúng với chức năng của nó”. Trong cuốn “Lời thú nhận muộn mằn”, tác giả Marcel Bigeard, tướng 3 sao của quân đội Pháp, người nhiều năm tham chiến trên chiến trường Đông Dương với cương vị chỉ huy Tiểu đoàn dù số 6 đã viết: “Tướng Giáp vẫn cứ vững vàng ở vị trí của ông ta, sắp sửa tiếp tục đánh bại các vị tướng của chúng tôi trước khi có trận truy kích”[5].

Bên cạnh Bộ Chỉ huy ấy, là sự lớn mạnh nhanh chóng của liên quân Việt - Lào. Vị Tổng Chỉ huy Sa Lăng với những bản báo cáo của ông gửi Bộ Quốc phòng và Chính phủ Pháp ở thời điểm này đã có nhiều trang đánh giá về lực lượng của đối phương. Trong cuốn Hồi ký “Việt Minh - địch thủ của tôi”, Sa Lăng mô tả “ Đối thủ đã tăng gấp ba lần sức mạnh hỏa lực và số lượng các đơn vị chính quy”“Quân đội Việt Minh là một bộ đội lục quân tuyệt vời… một công cụ chiến đấu không có gì có thể so sánh được… một đối thủ đáng sợ”. Còn tướng Cônhi thì ca ngợi tinh thần chiến đấu của quân đội đối phương: Tôi thấy những người lính Việt Minh, những người lính Pathét Lào không chỉ sử dụng thành thạo vũ khí được trang bị mà họ còn có một tinh thần chiến đấu rất dũng cảm, bất kể trong thời tiết xấu đến mức nào.

Tướng Sa Lăng, tướng Đờ Gioăng và Bộ Tham mưu Pháp cùng có nhận định giống nhau. Sau khi chiến dịch thất bại họ đổ lỗi cho nhau và đưa ra nguyên nhân vì quân số không được bổ sung, binh lính chỉ được huấn luyện ở vùng đồng bằng chứ không có kinh nghiệm chiến đấu ở vùng rừng núi.

Nguyên nhân thứ ba đưa đến thất bại của Pháp tại Thượng Lào là do phía Pháp không có Bộ Chỉ huy thống nhất, quân số ít, trang bị thiếu, tinh thần binh lính mệt mỏi. Trong báo cáo gửi Chính phủ Pháp ngày 25-2-1953, tướng Sa Lăng đã thể hiện sự thật đáng lo ngại: “Tổng số quân Pháp làm nòng cốt bị giảm, khối quân cơ động không hề thay đổi. Vì vậy, khoảng cách giữa hai bên ngày càng rõ rệt và ta ở vào thế ngày càng yếu kém hơn”[6].

Ngoài Hồi ký của các tướng lĩnh, các tài liệu mật thì các báo của Pháp và phương Tây cũng tập trung bình luận về nguyên nhân thất bại của chiến dịch Thượng Lào. Báo Lơphigarô, báo Nhân đạo, ra tháng 4 và tháng 5-1953 còn nhấn mạnh rằng: Quân, dân Việt Nam và Quân đội Pathét Lào có mục đích chiến đấu  rõ ràng, đường lối kháng chiến nhất quán và tinh thần chiến đấu cao. Điều đó dẫn đến những bất lợi về quân sự cho Pháp, và cũng là một nguyên nhân dẫn đến thất bại thảm hại trong chiến dịch Thượng Lào.

Báo Thế giới, báo Mỹ Diễn đàn thông tin quốc tế, Báo Pháp tờ Paress được đăng tải trong các ngày 14, 15, 16-5-1953 có chung nhận định rằng: Trong lúc đối phương đang trên đà phát triển không ngừng thì quân viễn chinh Pháp không được tăng cường với nhịp độ mà các vị Tổng tư lệnh đã đề nghị. Chính quốc không thỏa mãn yêu cầu của các vị đó, trước hết vì lý do tài chính. Và rồi họ thốt ra rằng: Chúng ta có sức mạnh hơn hẳn địch là máy bay, pháo binh và cơ giới nhưng các binh chủng này cũng có nhược điểm là nặng nề, không phù hợp với chiến trường Đông Dương. Bộ binh Pháp đã có một thời kỳ chế ngự hẳn đối phương song hiện nay thì rõ ràng kém họ. Bởi vậy, thất bại của quân đội Pháp đã được chính các tướng lĩnh của họ nhận định từ khi chiến dịch sắp xảy ra.

Chiến thắng Thượng Lào đã lùi xa hơn nửa thế kỷ và đã có biết bao sách, báo đề cập đến trên những bình diện và góc độ khác nhau, trong đó có không ít tác phẩm được viết ra từ chính những nhân vật chóp bu trong Chính phủ và quân đội Pháp đã từng chỉ đạo, chỉ huy cuộc chiến ở Đông Dương. Lời thú nhận của họ tuy có muộn mằn song nó đã giúp cho chúng ta có cái nhìn ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn về ý nghĩa, tầm vóc cũng như nguyên nhân thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào./.

Trung tá, TS. Trương Mai Hương
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

------------------------------------------------------------------------
[1] Tài liệu Mật Bộ Quốc phòng Pháp từ 1952 - 1954, Lưu Thông tấn xã Việt Nam

[2] Hen ri Nava rre, Thời điểm của những sự thật (Le temps Des Vé rités), Nguyễn Huy Cầu dịch, Nxb CAND, Hà Nội,  2004, tr. 410, 411

Hen ri Nava rre, Thời điểm của những sự thật (Le temps Des Vé rités), Nguyễn Huy Cầu dịch, Nxb CAND, Hà Nội,  2004, tr. 49

[3] Jules Roy, Trận Điện Biên Phủ, Bùi Đình Kế dịch, VLSQSVN xuất bản, Hà Nội, 1994, tr.12

[4] Hen ri Nava rre, Thời điểm của những sự thật (Le temps Des Vé rités), Nguyễn Huy Cầu dịch, Nxb CAND, Hà Nội,  2004, tr.62, 63

[5] Marcel Bigeard, Lời thú nhận muộn mằn, Ngô Bình Lâm và Phạm Xuân Phương dịch, Nxb Hà Nội, 2004, tr.159

[6] Tư liệu mật Bộ Quốc phòng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ - Văn phòng Trung ương Đảng Việt Nam