Lại bàn về Danh tướng Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người? (phần 1/2)
Mặc dù không là nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử, nhưng từ lâu tôi rất quan tâm đến vấn đề đồng nhất Phạm Tu-Lý Phục Man (gọi tắt là vấn đề đồng nhất) mà nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã nhận định: đây là vấn đề sử học nêu ra đã lâu nhưng chưa được giải quyết.
Mới đây, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 235 (tháng 7-2011), trang 72-74, có đăng bài “Danh tướng Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người?” của PGS.TS Lê Đình Sỹ (LĐS). “Trân trọng” ý kiến chứng minh không thể đồng nhất hai nhân vật và cho là họ “suy đoán”, tác giả bài viết đưa ra 4 chứng cứ cho rằng “quan niệm Phạm Tu và Lý Phục Man là cùng một nhân vật lịch sử thì hợp lý hơn”. Đã có sự quan tâm tìm hiểu về vấn đề đồng nhất hai nhân vật này, tôi muốn có một số ý kiến trao đổi với tác giả LĐS về những chứng cứ đã nêu.
Trước đây, tác giả LĐS cũng đã biên soạn hai cuốn sách có liên quan đến vấn đề đồng nhất:
Thứ nhất, cuốn “Lịch sử quân sự Việt Nam” tập 2 của Nxb Chính trị Quốc gia in năm 2001, do GS Trần Quốc Vượng và LĐS chủ biên đã không khẳng định việc có thể đồng nhất hai nhân vật: “Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người và quan hệ với nhau như thế nào, đấy là một vấn đề được đặt ra từ rất lâu, nhưng chưa đủ cứ liệu khoa học để kết luận”(1). Tuy viết như vậy nhưng chính trong cuốn sách này lại có nhiều chỗ dùng thông tin về Lý Phục Man ở Yên Sở rồi thay tên Phạm Tu. Đơn cử như câu: “Năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu” (xem phần sau có trích Đại Việt sử ký toàn thư để thấy sự thiếu chính xác của câu này vì trong chính sử viết về Lý Phục Man và không liên quan đến Phạm Tu). Trong tất cả các bài viết, GS Trần Quốc Vượng không đồng nhất 2 nhân vật, nêu rõ ràng và thống nhất: Phạm Tu là lão tướng quê ở Thanh Liệt. Không rõ tại sao trong cuốn sách mà ông chủ biên cùng tác giả LĐS lại có sai sót không đáng có như vậy?
Thứ hai, trong cuốn “Thăng Long-Hà Nội những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm” được Nxb Hà Nội ấn hành nhân dịp đại lễ 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Trang 48, 49 cuốn sách này có viết về Phạm Tu như sau: ông là lão tướng; người làng Cổ Sở; khi hy sinh thi hài của ông được đưa về bến Hồ Mã và năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu. Theo biên bản họp nghiệm thu bản thảo cuốn sách này có ghi ý kiến nhận xét của PGS. TS Nguyễn Văn Nhật-Viện trưởng Viện Sử học là: Một số khái niệm cần thống nhất: Lý Phục Man và Phạm Tu là một người hay 2 người,… Đặc biệt, ý kiến kết luận của GS Phan Huy Lê: “Quan điểm về Phạm Tu và Lý Phục Man là 1 người hay 2 người hiện nay chưa thống nhất, tác giả không nên khẳng định.” Vậy nhưng sự bất hợp lý vẫn tồn tại trong cuốn sách đã in.
Để thấy được tính chính xác nội dung tư liệu mà tác giả LĐS khai thác, trong đó phải kể đến chính sử và chúng tôi xin trích các nội dung liên quan cho dễ đối chiếu và tạo thuận lợi khi trình bày các nội dung phân tích tiếp theo:
Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi: “Quý Hợi, năm thứ 3 (543) (Lương Đại Đồng năm thứ 9). Mùa hạ, tháng 4, vua Lâm ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở Cửu Đức.”(2)… Và “Giáp Tý, Thiên Đức năm thứ 1 (544) (Lương Đại Đồng năm thứ 10). Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn tướng võ”(3).
Đó là ghi chép về Phạm Tu ở giữa thế kỷ thứ VI. Danh tướng Phạm Tu là nhân vật lịch sử xuất hiện trong sự kiện cụ thể (có không gian, thời gian và địa điểm) với vị trí chỉ huy rõ ràng là đứng đầu quân đội.
Còn về sự xuất hiện của thần Lý Phục Man: trong giấc mộng của Lý Thái Tổ vào năm 1016 cũng được ghi rất cẩn thận ở Đại Việt sử ký toàn thư. Thông tin có thể đã lấy theo ghi chép của quan Ngự sử Lương Văn Nhậm cùng đi với Lý Thái Tổ và được nhà vua kể lại ngay sau giấc mộng: “Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man, làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn Di Lão không dám xâm phạm biên giới, một phương yên bình. Đến khi chết, Thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ. Cho nên phàm giặc Man Di đến cướp đều chống giữ được cả. Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”. Rồi đó thung dung nói: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”. Vua thức dậy nói việc ấy với Ngự sử đại phu Lương Văn Nhậm rằng: “Đó là ý thần muốn tạc tượng.” (4)
Từ trong chính sử chúng ta thấy chỉ có điểm chung giữa hai nhân vật này: là võ tướng thời Lý Nam Đế.
Chúng ta cùng tìm hiểu lần lượt các chứng cứ mà tác giả LĐS đã đưa ra trong bài báo nêu trên.
Chứng cứ thứ nhất: Chính sử khi viết về khởi nghĩa Lý Bí không chép về Lý Phục Man mà chỉ chép Phạm Tu được Lý Bôn (Lý Bí) cử đi đánh và phá tan được giặc Lâm Ấp ở Cửu Đức. Còn theo dã sử Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV), văn bia ở Quán Giá soạn năm Bảo Thái thứ 9 (1728) và nhiều truyền thuyết cho rằng chiến công đánh tan quân Lâm Ấp thuộc về Lý Phục Man. Thời Lý Bí chỉ có một lần đánh Lâm Ấp do đó Phạm Tu chính là Lý Phục Man.
Xem qua chứng cứ này thì thấy rất hợp lý, nhưng xét kỹ để thấy sự chính xác phụ thuộc độ tin cậy của nguồn tư liệu dùng trong chứng cứ đầu tiên.
Trước hết, tài liệu đồng nhất Phạm Tu-Lý Phục Man đáng tin cậy được dựa vào là cuốn dã sử Việt điện u linh, cách nay đã 7 thế kỷ, đã có bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh. Có thể nhận ra có nhiều nội dung bản tiếng Việt được người đời sau thêm vào như cuốn Việt điện u linh tập (do dịch giả Lê Hữu Mục toàn biên và viết dẫn nhập tại Huế năm 1959, Khai Trí, Sài Gòn, 1961) có phần đầu viết theo Sử ký của Đỗ Thiên, phần sau có Tiếm bình (nói đến nhân vật Lê Anh Tuấn người làng Thanh Mai, đỗ Tiến sĩ năm Giáp Tuất-1694) và Phụ lục là Sự tích đền thờ thần xã An Sở.
Phần đầu theo Sử ký không nói đến việc Lý Nam Đế cử Lý Phục Man đi đánh Lâm Ấp, việc đánh Lâm Ấp được kể trong Phụ lục, nội dung này được chép theo Đại Việt ngoại sử đối chiếu với văn bia ở Quán Giá năm Bảo Thái thứ 9 khá giống nhau.
Như vậy, các tư liệu dã sử, truyền thuyết về việc Lý Phục Man được cử đánh Lâm Ấp thống nhất theo văn bia năm Bảo Thái thứ 9 có xuất xứ rõ ràng và nay vẫn còn tồn tại. Chúng ta cùng tìm cách trả lời câu hỏi: Có thể đồng nhất nhờ thông tin từ văn bia Quán Giá không?
Theo văn bia Quán Giá
Tư liệu rất quan trọng ở đền thờ của Lý Phục Man là 5 văn bia: Bia thời Vĩnh Tộ (năm 1620), bia thời Cảnh Trị (năm 1670), bia thời Bảo Thái (năm 1728), bia thời Gia Long (năm 1803), bia thời Tự Đức (năm 1855)(5). Không thể tìm ra một chữ nào ở 5 văn bia nêu trên viết về Phạm Tu. PGS. TS Trương Sỹ Hùng đã viết trong Thông báo Hán Nôm năm 2009: “còn năm bài văn khắc Hán Nôm trên bia đá ở Yên Sở và phần lớn các thần tích chỉ nói đến đại từ chung là đại vương hoặc cặp từ vinh danh thần”.
Qua cuốn Văn bia Quán Giá của Nguyễn Bá Hân in năm 1995 ghi nguyên văn và bản dịch văn bia thời Bảo Thái (năm 1728) cho thấy: Trang 173 có đoạn dịch từ đoạn chữ Nho ở trang 152: Nãi tuyên chế sử Tổng Soái chư tướng vãng ngự chi Toại đại phá Lâm Ấp vu Cửu Đức, với nội dung liên quan: “Thần quyền Thống lĩnh các chư tướng đem quân đi đánh. Thần đã đại phá quân Lâm Ấp ở Cửu Đức”(6)
Xem cuối trang 173, đầu trang 174 (dịch từ đoạn chữ Nho ở trang 153: Nãi dĩ kỳ đa phục man di chi công Tứ danh Phục Man Tứ tính Lý Thị Thượng công chúa Siêu thăng Thiếu úy tham nghị mộ phủ Nghị thị bách liêu) có đoạn: … “Vì tướng công đã quét sạch được quân rợ nên nhà vua bèn cho tước hiệu là Phục Man (tức người dẹp yên quân man rợ) cho thần được đổi họ theo nhà vua là họ Lý; lại gả công chúa cho thần và phong làm Thiếu úy tham nghị việc triều chính, đứng đầu các quan…”(7)
Đọc phần dịch nghĩa bia năm Bảo Thái thứ 9 (1728) xuất hiện chú thích đáng lưu ý của ông Nguyễn Bá Hân ở hai trang 173, 174. Qua hai chú thích này có thể thấy ông Nguyễn Bá Hân đã đồng nhất theo quan điểm chủ yếu dựa vào việc Sự tích ghi trên văn bia Quán Giá cho là Lý Phục Man thống lĩnh chư tướng đánh Lâm Ấp, được phong Thái úy, đứng đầu các quan; coi đó là vị trí người đứng đầu Ban Võ như của Phạm Tu đã ghi trong chính sử nên đồng nhất Phạm Tu-Lý Phục Man. Đây cũng là quan điểm đồng nhất của tác giả LĐS trong chứng cứ thứ nhất và thứ hai. Vậy ta phân tích vấn đề này dựa theo chính sử:
Dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư, xét nội dung theo văn bia Quán Giá: Lý Phục Man thống lĩnh chư tướng đánh Lâm Ấp, được phong Thái úy.
Qua lời Thần xưng với Lý Thái Tổ: “làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm”, chúng ta thấy chức vụ cao nhất của Thần khi còn sống là tướng giữ vùng biên cảnh phía Tây (như Tư lệnh quân khu sát biên giới ngày nay) điều này lại được khẳng định: “Đến khi chết, thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ”. Như đã ghi trong chính sử, hoàn toàn không nói đến việc Thần đã làm tướng đánh Lâm Ấp và không đứng đầu quân đội như thống lĩnh chư tướng, không là Thái úy.
Như vậy cả Lý Nam Đế và Thượng đế đều giao cho Tướng quân “trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm”. Bản thân Lý Thái Tổ cũng giao cho Thần vị trí này và được viết rất khéo: “Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi.”
Phạm Tu khi hy sinh (8/545) chắc chắn vẫn là người đứng đầu hàng Võ (phong 2/544) của nhà nước Vạn Xuân. Nếu Lý Phục Man là vị Tướng quân trưởng đứng đầu ban Võ, Tả tướng mà đến cuối lại đi trông coi một vùng biên cảnh phía Tây thì đúng là Tướng quân bị giáng chức. Điều này là phi lý cao độ bởi Thần khi sống “có tiếng là người trung liệt”, thác được “Thượng đế khen là trung trực” không có lý do gì để giáng chức. Ngay cả Lý Thái Tổ cũng vẫn chỉ cho Thần giữ lại chức bị giáng? Như vậy, thì có thể khẳng định khi mất Lý Phục Man hoàn toàn không đứng đầu trăm quan. Không nên ép Lý Phục Man là Phạm Tu nếu không Thần bị “vu khống” một trọng tội với Thượng đế, với Lý Nam Đế và với cả Lý Thái Tổ vì đã giấu diếm tên họ và chức vụ trong khi tứ thơ Ngài đọc rành mạch: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”. Dễ mắc tội khi quân lắm lắm! Như vậy theo giấc mộng của Lý Thái Tổ ghi trong chính sử, Lý Phục Man là tướng dưới quyền Phạm Tu.
Lịch sử Việt Nam có Phạm Cự Lượng (944-?) là người đầu tiên được phong Thái úy vào năm 986 dưới triều Tiền Lê. Ngay triều trước-thời Đinh Tiên Hoàng, người có vị trí đứng đầu quân đội là Lê Hoàn được gọi là Thập đạo tướng quân.
Như vậy, từ Đại Việt ngoại sử và văn bia Quán Giá không thể lấy việc viết Lý Phục Man đem quân đánh Lâm Ấp được phong Thái úy (có chỗ ghi là Thiếu úy) mà đồng nhất vị tướng này với Phạm Tu. Đồng thời phân tích này cũng làm rõ sự thiếu khoa học ở chứng cứ thứ hai của tác giả LĐS cho rằng theo Việt điện u linh, Lý Phục Man được phong Thái úy, đứng đầu các quan nên đồng nhất với Phạm Tu đứng đầu Ban Võ (Người được ghi trong chính sử).
(còn tiếp)
Phạm Chí Nhân
Thiếu tá, TS, Khoa Kỹ thuật hàng không, Học viện Phòng không-Không quân.
(1) Bộ Quốc phòng-Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 2: Đấu tranh giành độc lập tự chủ (từ năm 179 TCN đến năm 938), Nxb CTQG, H, 2001, tr.149
(2), (3), (4) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tập 1, Nxb VHTT, H, 2000, tr.252; 252; 366.
(5) Với thời gian khoảng nửa thế kỷ lập ra một văn bia. Có 3 văn bia đầu cùng nói về thân thế sự nghiệp của Lý Phục Man, trong đó văn bia năm 1728 là văn bia quan trọng nhất cơ bản giống với hai văn bia trước, sau đó không còn văn bia nào viết tiếp nội dung Sự tích. Văn bia năm 1728 là văn bản đã tổng hợp từ các văn bia và tư liệu liên quan về Lý Phục Man. Văn bản này là kết luận rất thống nhất của các nhà trí thức xưa (các nhà Nho trong đó có nhiều người con làng Giá) về Lý Phục Man.
(6), (7) Nguyễn Bá Hân, Văn bia Quán Giá, Nxb Thế giới, H, 1995, tr.173; 174.
(

Theo tiêu đề bài viết về Lý Phục Man của Nguyễn Khắc Đạm trong cuốn Danh nhân quê hương, Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình xuất bản năm 1976
Theo Tạp chí Lịch sử quân sự số 237 (9/2011) tr. 64-69