Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 10:52:00 PM » |
|
Tháng 7, Nguyễn Văn Huệ chết; con là Quang Toản nối ngôi, ngụy hiệu là Cảnh Thạnh năm thứ 1 Toản còn nhỏ tuổi, công việc giao cho Bùi Đắc Tuyên, từ đó thế giặc suy lần.
Năm Quý Sửu thứ XIV (1793), tháng 3, ngày Giáp Dần, lập HoàngTử Cảnh làm Đông cung (14 tuổi), ban ấn Đông Cung, phong chức Nguyên Soái, lãnh Tả quân dinh; dinh ở gọi là "Soái phủ", giấy tờ đưa xuống gọi là "giáo", Ngài nghĩa Đông cung tuổi còn trẻ, muốn kiếm kẻ hiền sư phó để giúp Đông cung, bèn làm nhà Thái Học, đặt một quan Phụ đạo, hai quan Thị giảng, cho Hàn lâm chế cáo là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định làm chứ Đông cung Thị giảng.
Ngài ra đánh Quy Nhơn, giao Đông cung giữ thành Gia Định. Sai Tôn Thất Hội đem các đạo quân bộ đánh Phan Rí; Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hoàng Đức cũng đi theo; thuyền ngự ra cửa biển Cần Thơ, sai Nguyễn Văn Trương đem quân thủy ra trước, Võ Tánh hộ giá.
Tháng 5, thuyền ngự đến cửa Phan Rang, sai Đô đốc Nguyễn Kế Nhuận đánh đồn Mai Lang, giặc trông chừng chạy trốn, quan quân tới đóng ở cửa Nha Trang, lấy lại phủ Diên Khánh.
Thuyền ngự tới đóng vụng Hòn Khói, giặc theo bỏ chạy, đến cửa quân đầu hàng; thâu phục phủ Bình Khương.
Tôn Thất Hội đem quân bộ đánh lấy phủ Bình Thuận. Ngài sai người đi dục Hội tấn binh cho mau để hội với quân thủy.
Thuyền ngự đến cửa Xuân Đài, sai Võ Tánh đánh đồn La Hai, Tham đốc giặc là Phạm Văn Điềm thua chạy; thâu phục phủ Phú Yên.
Thuyền ngự đóng tại cửa Thi Nại. Nguyễn Văn Nhạc sai con là Văn Bửu (ngụy xưng Tiểu triều) đem binh và voi ra đánh; gặp bọn Tôn Thất Hội đem lính bộ đi xuyên trên núi Hà Nhao, đèo Cù Mông, chia ra hai ngã giáp lại. Bửu làm thêm đồn ải từ núi Thỏ cho đến núi Đô để kháng cự quan quân; Ngài mật dụ Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Thành phải đi đêm qua núi Kỳ Sơn hội với Võ Tánh mà đánh sau lưng đồn giặc, binh tượng giặc giẫm đạp nhau mà chết, Văn Bửu và Đào Văn Hổ chạy về Quy Nhơn. Từ đó quan quân thủy bộ đều được thông cả.
Quan quân và dân Quảng Nghĩa dâng biểu xin theo đánh giặc. Ngài dụ rằng: "Đời nào cũng có người trung nghĩa, chúng mầy chán người Mảng, nhớ họ Lưu (1), lòng ấy đáng khen; bây giờ vương sự vào thẳng Quy Nhơn, đất ấy đã lược binh rồi, bốn mặt thành bọc rồi; Nhạc ở trong thành cũng như hồ Côn Dương nước ngập, Vương Mảng còn ngồi trông sao Đẩu; ta sẽ sai đem một toán quân, tới cứu phủ mầy, để bớt thế giặc mà thỏa lòng dân. Chúng mầy phải đồng tâm giúp sức, nghe quân Võ Tánh đến, ra mà đi theo. Quan quân thời trở giáo mà đánh mặt sau, dân thời đốn cây mà làm binh khí; một là đền ơn cho đất nước, hai là rửa giận cho cha anh; dõng mà có nghĩa, ắt cũng thành công, chúng mầy phải gắng!".
Sai Tôn Thất Hội, Võ Tánh, Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Văn Thành đem các đạo binh tới ngoài thành Quy Nhơn, làm rào lũy mà vây thành.
Ngài muốn dùng phép Thái Tây thả diều đốt lửa, đốt thành Quy Nhơn; nhưng Ngài lại nghĩ rằng: nhơn dân bị hiếp theo giặc phần nhiều, đốt thành vạ lây đến dân, không nỡ làm như vậy. Ngài sắc cho quân không được đốt lửa gấp, để cho dân ra.
Tháng 8, quân ta bọc thành Quy Nhơn đã lâu, Nhạc khuẩn bức quá, sai người ra Phú Xuân cáo cấp với Nguyễn Quang Toản đem quân vào cứu.
Ngài sai Nguyễn Văn Thành thống lãnh các vệ, Nguyễn Kế Nhuận, Nguyễn Công Thái đều theo Thành sai bát. Dụ rằng: "Công việc đánh và giữ trong Quảng Nghĩa, giao quyền cho ngươi, phải làm sao mà ngoài thời ngăn quân giặc, trong thời yên nhơn dân, mới xứng trách đại tướng mà ta đã ủy thác cho ngươi". Lại dụ rằng: "Hàng tướng cũng nhiều, chỉ có Nguyễn Công Thái là người trọng hậu, thạo giỏi việc binh, phải đãi tử tế, không nên coi như người thường".
------------------------------- (1) Vương Mãng là giặc nhà Hán, chán Mảng nhớ Lưu nghĩa là bỏ Vương Mảng mà theo vua Quang Võ; ví cũng như bây giờ dân bỏ Tây Sơn mà nhớ Hoàng Triều.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 10:55:01 PM » |
|
Tháng 9, Ngài nghĩ quân ta vây thành Quy Nhơn, mà hai mặt đều là giặc, lại gặp mùa mưa, liền sai các tướng rút quân về. Ngài ngự về Diên Khánh. Ngài xét đồn Hoa Bông là chỗ đất hình thắng, đánh hay là giữ cũng được, bèn khiến đắp thành; vừa một tháng đắp gọi là thành Diên Khánh (tức là tỉnh Khánh Hòa).
Nguyễn Văn Nhạc chết.
Tháng 10, đòi Nguyễn Văn Thành về giữ thành Diên Khánh, Nguyễn Hoàng Đức giữ dinh Bình Khương; Ngài đem quân về Gia Định.
Tháng 11, cho Thái giám Lê Văn Duyệt làm chức thuộc nội vệ úy. Duyệt người huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Nghĩa, sanh ra là người giám; lúc làm chức Thái giám, có đem binh đánh giặc, người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh, nên phong cho chức ấy.
Sai Chánh đội Quang Nói Ve, Đội trưởng Ba Đờ Chê (đều người Đại Pháp) qua thành Cô Á và Ma La Kha để mua binh khí.
Sai Đông cung Nguyên Soái Cảnh quận công giữ Diên Khánh, cho ông Bách Đa Lộc và các quan Thị học theo hầu, khiến phó tướng Phạm Văn Nhơn, Giám quân Tống Phúc Khê đều theo sai bát.
Năm Giáp Dần thứ XV (1749), tháng 2, sửa lại Văn Miếu dinhTrấn Biên. Lúc trước đức Hiếu Minh Hoàng Đế làm ra, bây giờ sai Lễ bộ Nguyễn Đô coi việc ấy; ở giữa thời đền Đại Thành, cửa Đại Thành phía tây có Dục Thánh Từ, tả có cửa Kim Thanh; hữu có cửa Ngọc Chấn; phía trước thời làm các Khuê Văn để treo chuông trống; đặt 50 tên lễ sanh, 50 tên miếu phụ.
Thống lãnh Thanh Hoá thượng đạo là Hà Công Thái dâng biểu xin theo, Ngài khiến chiêu tập quân nghĩa dõng để ứng theo Vương Sư.
Tháng 3, Quang Toản sai tướng là bọn Nguyễn Văn Hưng đem lính thủy, lính bộ vào Quy Nhơn. Nguyễn Văn Hưng đem 40.000 quân bộ vào lấy Phú Yên. Trần Quang Diệu đem quân thủy vào cửa Nha Trang vây thành Diên Khánh, Đông cung chia quân chống giữ, để chờ quân cứu viện. Ngài đem quân thủy đi đánh, thuyền đến cửa Diên Uùc, giặc nghe đại binh đã đến, giải vây thành Diên Khánh, quân thủy chạy về Quy Nhơn, quân bộ lui ra Phú Yên. Ngài nghe tin, dụ Nguyễn Văn Thành giao quân cho Đông cung để chống cự với giặc, còn Thành phải giữ thành Diên Khánh.
Tháng 5, thuyền ngự đến cửa Thi Nại, Tôn Thất Hội đánh lấy được đồn Tiều Cơ, đồn Mai Hương; Nguyễn Đình Đắc đuổi giặc đến núi Tam Tòa, bắt quân giặc được hơn 800 người.
Tháng 6, Ngài nghĩ rằng: thủy binh giặc còn giữ chổ hiểm, chưa có thể phá được, mà lại gió mạnh sóng lớn, thuyền không đậu được, sai Tôn Thất Hội đem thuyền về đậu cửa Xuân Đài, mật dụ Đông cung rút quân về ở đồn Tân Thị chờ ngự giá, Nguyễn Văn Thành đem quân đóng đồn La Hai để phòng giặc.
Tháng 8, Ngài nghĩ rằng: Đông cung ở ngoài đã lâu, sai ông đem tướng sĩ Dinh Tả quân về Gia Định. Tháng 9, Ngài kéo quân về Gia Định, để Hậu quân Võ Tánh giữ thành Diên Khánh.
Cho Đặng Trần Thường làm quan Tham Tri Bộ Lại. Thường người huyện Chương Đức (nay về Hà Nội), tỉnh Sơn Nam Thương, đậu sanh đồ nhà Lê, gặp loạn nên phải giấu tài, Thường có chí lớn, cùng với người huyện Thanh Oai là Nguyễn Bá Xuyên theo Nguyễn Đình Đắc vào cửa Cần Thơ. Đắc đem bài biểu của Thường dâng lên, Ngài khen lắm, dục vào yết kiến; Ngài hỏi sự thể ngoài Bắc Hà, Thường tâu việc chi cũng xứng chỉ cả; trận đánh ở cửa Thi Nại, Thường cũng tùng quân bày mưu chước, đến đây cho làm chức ấy. Nguyễn Bá Xuyên cũng được làm Chánh Đội, phụng chỉ ra Bắc Hà chiêu dụ mấy người hào kiệt.
Năm Ất Mão (1795), tháng giêng, Trần Quang Diệu đánh thành Diên Khánh.
Ngài mật dụ Võ Tánh rằng: "Năm ngoái ta đem quân về Diên Khánh, sửa đồn bảo, trữ lương hướng ngươi đã biết trước rằng đến tiết gió bấu, giặc hẳn kéo quân vào đánh, mà ngươi xin giữ một mặt, nên ta giao thành ấy cho ngươi; bây giờ quả thiệt như vậy, nay quân thủy quân bộ đã định ngày ra đi, người nên khuyến khích tướng sĩ đồng tâm giúp sức, chờ khi nào quân thủy đến cửa Cù Huân sẽ lừa thế đánh, một trận chắc chắn thành công được".
Tháng 3, Ngài đem thuyền binh ra cứu thành Diên Khánh, lưu Đông cung Cảnh giữ thành Gia Định. Tháng 5, đang lúc ban đêm, Võ Tánh đem quân mở cửa thành, đốt bốn sở tại giặc, quân giặc bỏ chạy, bao nhiêu đồ khí giới bị quân ta lấy hết. Tánh chia quân chiếm đất ấy lập đồn phòng giữ.
Ngài nghe Tư Khấu giặc là Võ Văn Dõng giết cha con Thái sư Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở, Ngài dạy các tướng rằng: "giặc chém giết nhau, có thể thừa cơ được".
Tháng 6, Ngài khiến các quân lập đồn điền liên tiếp nhau, giặc không dám phạm; từ đó quân giặc đầu hàng nhiều lắm, Trần Quang Diệu thế cô, mật báo Lê Trung Mưu chạy thoát. Ngài dụ bọn Trương Phúc Luật phải giữ cho kỹ.
Ngài dục Tôn Thất Hội lập tức đem quân hội tiễu.
Tháng 7, quân giặc chiếm giữ núi Kho, quân ta đêm qua sông Ngư Tường, phóng hỏa đốt trại; Ngài đem đại binh tiếp đến, tiếng quân reo ầm trời, gió thổi lửa cháy, đốt hết 12 cái đồn giặc, Trần Quang Diệu giải vây chạy trốn; Ngài khiến Nguyễn Văn Thành đem quân đuổi theo. Ngài đem thuyền quân tới Chữ Châu, Trần Quang Diệu chạy vào Quy Nhơn.
Võ Văn Dũng đã giết Bùi Đắc Tuyên, lại nghĩ Trần Quang Diệu, Lê Trung đều là bè đảng với Tuyên, Dõng sai Nguyễn Văn Huân vào Quy Nhơn giết Diệu, việc làm không xong, chạy về Thuận Hóa; Diệu cũng đem quân đuổi theo. Đi đến nơi, Nguyễn Quang Toản giải hòa, cho Diệu làm Thiếu Phó, Huấn làm Thiếu Bảo, Dõng làm Tư đồ, Nguyễn Văn Danh làm Tư Mã; gọi là tứ trụ. Từ đó bọn giặc thường giết nhau, Quang Toản không kiềm chế được.
Tháng 8, tu bổ thành Diên Khánh, làm thêm kho lúc; dụ các tướng rút quân về, giao Tôn Thất Hội giữ thành ấy.
Tháng 9, Ngài ngư về Gia Định, ban yến cho tướng sĩ, tùy theo công trạng phong thưởng.
Năm Bính Thìn thứ XVIII (1796), tháng giêng, cho Nguyễn Tấn Lượng, Nguyễn Văn Thụy làm Chanh phó sứ sang Xiêm. Truyền bắt trạm đệ trà và bánh ra Diên Khánh; và dụ Tôn Thất Hội rằng: "ấy là lòng thành ta ban cho quân lính, người phải phân phát cho tướng sĩ, để cho ai cũng đội ơn vua".
Tháng 6, chở tiền gạo ở Gia Định, Bình Thuận, ra trữ tại Diên Khánh.
Đòi Tôn Thất Hội về, sai Nguyễn Hoàng Đức giữ thành Diên Khánh, phó tướng Nguyễn Văn Lượng đem binh đi theo, Tán lý Đặng Trần Thường hiệp tán việc quân.
Tháng 11, cho Tống Hữu Xuân làm Khâm sai chiêu thảo sứ, sai ra mật thám Quy Nhơn, Thuận Hóa và mộ nghĩa binh đánh giặc. Tháng 12, làm Thái miếu (1) Ngài thân ngự bái yết.
Đúc tiền "Gia Hưng thông bửu".
Các đội Tiểu sai, Tiểu hầu thường sai lính ra ngoài dân lường gạt kiếm tiền, Đông cung dâng sớ tâu hết tình lệ, Ngài sai xét việc ấy mà nghiêm trị.
Năm Đinh Tỵ thứ XVIII (1797), tháng giêng, nhơn tiết Vạn thọ, ban áo cho các quan.
Ngài thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt, Duyệt nhơn nói: "Nguyễn Văn Thành có mưu mà ít dõng cảm, Tống Viết Phúc dõng cảm mà ít mưu; chỉ có Tôn Thất Hội đủ cả trí dõng, thiệt là tướng giỏi, Ngài cho là phải".
---------------------------------- (1) Thái miếu là miếu thờ đức Thái Tổ trở xuống.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 10:58:22 PM » |
|
Tháng 4, Ngài sai đem thuyền binh đánh Quy Nhơn, Đông cung Cảnh đi theo, sai Tôn Thất Hội giữ thành Gia Định.
Thuyền ngự đến cửa biển Cù Huân, đòi Hữu quan Nguyễn Hoàng Đức theo Ngài đi đánh, giao phó tướng Nguyễn Văn Khánh giữ Diên Khánh.
Ngài nghĩ rằng thành Quy Nhơn hiện có trọng binh ở đó, thế chưa đánh được; Ngài đem hơn 100 chiếc thuyền chiến ra cửa Đà Nẵng (ở tỉnh Quảng Nam), sai Đông cung đem binh Tả quân vào cửa biển Đại Chiêm đánh lấy Chiêm dinh (tức là dinh Quảng Nam), đòi Võ Tánh ở Phú Yên đem quân ra hội chiến. Đông cung đến Chiêm dinh, Võ Tánh đóng ở Hà Thân, thanh thế mạnh lắm.
Tháng 6, cho Võ Nguyên Lượng làm Khâm sai chiêu thảo sứ. Lượng người huyện Đông Thành tỉnh Nghệ An, lúc vào Gia Định làm chức Nạp Ngôn; bây giờ làm Khâm sai để chiêu dụ mấy người hào kiệt ngoài Hà Bắc; giặc thám dò được, bắt Lương giết ngay, vợ là Hoàng Thị Hân xin về để xem tình thế giặc, cũng bị hại.
Tháng 7, Ngài nghĩ rằng: đại binh xông vào đất hiểm, đồ quân nhu không đủ; liền truyền dụ các tướng rút quân về, lưu Nguyễn Văn Thành giữ Diên Khánh, Đặng Trần Thường cũng ở đó bàn định việc quân.
Tháng 9, sai Trần Phúc Chất đem quốc thơ sang Xiêm để báo việc binh; lại nói với Xiêm rằng: "Có nghe nước Diến Điện thuê binh thủy Hồng Mao để đánh Xiêm, quả như vậy, ta sẽ đem quân thủy đón đàng mà đánh". Người Xiêm phúc thơ cảm tạ, dâng 100.000 cân diêm; trong tờ nói rằng: "như ngày sau đi đánh giặc, binh khí có thiếu cái gì, thời Xiêm xin giúp. Lại xin phái người nào quen việc, hội với lính bộ nước Xiêm, theo đàng thượng đạo đi băng qua nước Vạn Tượng để lấy tỉnh Nghệ An, một là ngăn đón quân ở ngoài Hà Bắc vào, hai là đánh mặt sau Thuận Hóa; quân nhu đã có các mọi cung cấp, mình không phải lo". Ngài vẫn muốn giao thông với Vạn Tường, bây giờ được thơ Xiêm, Ngài mừng lắm.
Tháng 12, lập nhà thờ Tinh Trung trên núi Hà La ở thành Diên Khánh (tế 250 người tướng sĩ chết trận, núi ấy ở phía bắc cửa Cù Huân).
Năm Mậu Ngọ thứ XIX (1798), tháng 12, Diến Điện đánh Xiêm, Xiêm sai sứ sang xin quân cứu viện, Ngài sai Hữu quân Nguyễn Hoàng Đức, Chưởng cơ Nguyễn Văn Trương đem 7.000 lính thủy 100 chiếc thuyền chiến sang cứu, quân đi tới Côn Lôn, thời Xiêm đã đánh được Diến Điện rồi, liền rút quân về.
Tháng 4, cho Lễ bộ Ngô Tùng Châu và Nguyễn Thái Nguyên phụ đạo Đông cung. Tùng Châu học hành thuần chánh, hết lòng can răn, Đông cung lễ trọng lắm.
Tháng 5, Diên Khánh lưu trấn là Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường dâng sớ tâu rằng: "Đánh những người giao hiếu với giặc (1) mà cầu cứu với nước khác, là chước vạn toàn; từ lúc Tàu thua Tây Sơn đến bây giờ, hờn giận lắm, còn đương chờ dịp trả thù. Nay vua Gia Khánh nước Tàu mới nối ngôi, công việc sắp đặt, không phải như đời Kiền Long; quân ta từ khi thắng trận tại cửa Đà Nẵng đến giờ, bắt sống giặc Tàu Ô cũng nhiều, chúng tôi muốn nhơn việc ấy tính việc khác, dâng biểu tâu với vua Tàu và nạp vài chiếc thuyền Tàu Ô, để làm mồi hiến khoản (2) cho Tàu, chắc là vua Tàu ưng nhận. Như được vào yết kiến vua Tàu, sẽ tùy nghi mà cải lẽ; một lẽ làm cho Tàu ghét mà kết oán với Tây Sơn, một lẽ thời hỏi thăm vua nhà Lê, để tiềm thông tin tức, xin với vua Tàu, có lẽ nào vua Tàu làm thinh mà không hỏi. Nhưng chức sứ thần ít người làm được, tôi xin cử Đông cung Thị Học là Ngô Nhơn Tĩnh, Vĩnh Trấn Ký Lục là Phạm Thuận đều có trì thủ, có học vấn, không đến nỗi làm nhục mạng vua". Ngài cho là phải.
Tháng 6, cho Ngô Nhơn Tĩnh làm Binh Bộ Tham Tri, đem quốc thơ sang Quảng Đông, hỏi thăm tin tức nhà Lê, Tĩnh đến thời vua Lê đã mất rồi, lập tức trở về.
------------------------ (1) Tôn Tử nói rằng: phép dùng binh phải đánh người giao hiếu với giặc. (2) Hiến khoản là tỏ lòng thành.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:01:06 PM » |
|
Tháng 10, đòi Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường về, sai Đông cung giữ Diên Khánh; cho ông Bách Đa Lộc, Tống Viết Phúc, Nguyễn Công Thái theo hầu Đông cung.
Cho Hàn Lâm Đặng Đức Siêu làm Trung Quân Tham Mưu, ông Siêu văn học uyên súc, nhơn loạn ở ẩn, Tây Sơn đòi không đến; Ngài nghĩ Siêu là cựu thần, mật sai đòi, đến bây giờ lén vào Gia Định, bày mưu chước đánh Tây Sơn; Ngài khen, liền phong cho chức ấy.
Tiểu Triều Nguyễn Văn Bửu dâng biểu xin đầu hàng, quân ta chưa đến, Quang Toản bắt giết Tiểu Triều. Tánh Quang Toản hay nghi, lại giết Thiếu Bảo Nguyễn Văn Huấn; lúc âý các tướng ai cũng có ý bỏ Tây Sơn mà về theo Ngài.
Tháng 11, Bình Tây Đại Tướng Quân là Tôn Thất Hội mất. Ông Hội hai lần hộ giá, công trạng nhiều, tánh nghiêm trang, giữ gìn phép tắc, các tướng ai cũng kính sợ; ông mất, Ngài thương tiếc lắm, tặng chức Nguyên Phụ Công Thần, Đặc Tấn Thượng Trụ Quốc chưởng Dinh (Minh Mạng thứ 5, cho tùng tự Thái Miếu, năm thứ 42, phong Lượng Giang Quận Công).
Năm Kỷ Vị thứ XX (1799), tháng 2, sai Nguyễn Văn Thụy, Lưu Phúc Tường sung chức Chánh Phó Sứ, đem quốc thơ sang nước Xiêm, nói với Xiêm đem quân lính Chơn Lạp, Vạn Tường đi xuyên đàng thượng đạo xuống tỉnh Nghệ An để trợ thanh thế cho mình. Vua Xiêm bằng lòng.
Tháng 3, ban 30 điều quân chánh, rồi định lại bốn điều.
Ngài ra đánh Quy Nhơn, lưu Hoàng Tử Hy giữ thành Gia Định, bọn Nguyễn Văn Nhơn ở hầu, giữ gìn thành quách, sai quân chở lương, chẳng hề thiếu thốn.
Tháng 4, thuyền ngự vào thẳng cửa Thi Nại, sai Hậu Quân Võ Tánh, Hữu quân Nguyễn Hoàng Đức đem quân đóng ở Phú Trung; lại sai các vệ thần sách qua sông Kiền Dương đánh giặc tại đồn cũ, hai trận đánh đều được cả, quân ta thừa thắng tới đóng ở làng Trúc Khê.
Đại Đô Đốc giặc là Lê Chất đầu hàng. Chất người huyện Phù Ly, tỉnh Bình Định, trong đảng giặc Chất thời đánh giỏi hơn hết. Ngài phủ ủy thâu dùng, cho theo Võ Tánh sai phái; bọn tướng giặc là Võ Đình Giai, Nguyễn Văn Điểm cũng ra đầu hàng, Ngài khiến bọn hàng tướng chiêu tập lính cũ để đi đánh giặc.
Nguyễn Văn Thành đánh phá đồn Hội An, Tham đốc Phạm Văn Điềm đầu hàng; thâu phục dinh Phú Yên; báo tin đến, Ngài dục tấn binh ứng tiếp với Võ Tánh.
Tháng 5, quân ta đến gần thành Quy Nhơn; Trần Quang Diệu, Võ Văn Dõng đi đến tỉnh Quảng Nghĩa, nghe quân ta giữ tại xứ Tân Quan, đều bỏ thuyền lên bộ, kéo đi hơn 20.000 quân, Diệu ở ngoài đèo Bến Đá giả làm thanh thế, Dõng đem quân đi xuống Chung Xá mưu lên đánh quân ta; ban đêm đi qua khe, có một con nai trong rừng nhảy ra, quân đạo tiền ngó thấy la lên: "Nai ! Nai!" quân sau vội vàng cũng la rằng" "đồng nai" (1) giặc sợ bỏ chạy, sập xuống hầm hố nhiều lắm; Tống Viết Phúc biết giặc kinh sợ, đem vài trăm quân ra đuổi, giặc thua chạy, bắt được quân giặc và khí giới nhiều lắm; báo tin thắng trận, Ngài khen, thưởng 3.000 quan tiền.
Võ Tánh đánh phá quan Thái Phủ giặc là Lê Văn Ưng( đón đàng mà đánh ở xứ Kha Đáo lấy hết binh tượng).
Quân ta lấy lại thành Quy Nhơn, Văn Ưng đã thua, trong thành hết lương, Tổng quản là bọn Lê Văn Thanh đầu hàng, Ngài đổi tên là thành Bình Định.
Tháng 7, Ngài đóng ở Bình Định, sai sứ sang Xiêm báo tiệp.
Nguyễn Quang Toản đem lính Thuận Hoá vào cứu. đóng tại sông Trà Khúc, thường dục các tướng tới xâm. Trần Viết Kiết nói rằng: "bây giờ trái gió, đánh t2hủy không đươc"; bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dõng xin Quang Toản về Thuận Hóa, Quang Toản trở về, Diệu, Dõng cũng về Quảng Nam, giao Nguyễn Văn Giáp giữ Trà Khúc.
----------------------- (1) Nghĩa là giặc tưởng quân ở Đồng Nai.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 06:08:23 AM gửi bởi Midaxudavo »
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:02:17 PM » |
|
Tháng 9, Ngài ngự về, giao Võ Tánh, Ngô Tùng Châu giữ Bình Định.
Ông Bách Đa Lộc mất; ông tham dự việc quan, đem Đông cung sang Đại Pháp, hết lòng bảo hộ, Ngài khiến Đông cung đãi ông như Quan sư; lúc ấy ông theo đánh Quy Nhơn, rồi mất tại cửa Thi Nại, tặng chức Thái Tử Thái Phó Bi Nhu Quận Công, thụy hiệu là Trung Ý, đem về táng tại Gia Định.
Ngài ngự về Gia Định, đi ngang qua tỉnh Phú Yên, tha thuế thiếu cho dân. Cho Nguyễn Văn Tánh, Đặng Trần Thường lưu trấn thành Diên Khánh. Tháng 10, ngự đến Gia Định, cho lính về nhà nghỉ. Tháng 11, giặc toan vào lấy Bình Định, Trần Quang Diệu đem quân bộ, Võ Văn Dõng đem quân thủy, định tháng 12 kéo quân vào Bình Định.
Ngài nghĩ Diên Khánh là chỗ xung yếu, dụ lưu trấn Nguyễn Văn Tánh, Đặngg Trần Thường phải phòng giữ cho nghiêm; lại sai Nguyễn Văn Trương đem thuyền binh ở Thi Nại trở vào cửa Cù Huân, để hiệp sức mà giữ thành Diên Khánh.
Năm Canh Thân thứ XXI (1800), tháng giêng, Diệu và Dõng đem quân đến gần thành, thường ghẹo đánh, ông Tánh đóng cửa thành không cho quân ra, Diệu nói với Dõng rằng: "Tánh không ưng đánh, muốn làm cho Nguyễn Văn Tánh mỏi mệt"; rồi đắp lũy chung quanh thành để vây bọc quân Nguyễn Văn Tánh và giữ gìn cho lâu.
Ngài nghĩ nước Hồng Mao quen nghề thủy chiến, khiến thuyền trưởng Chánh đội là Ba La Gi nhóm các thuyền buôn, sắm sửa đồ khí giới để theo Ngài sai phái.
Sai Chánh Đội Nguyễn Văn Chấn coi chiếc tàu Phụng Phi, Nguyễn Văn Thắng coi tàu Long Phi, Lê Văn Lăng coi tàu Bằng Phi, theo đạo Trung quân sai phái đánh giặc.
Thượng Đạo Tướng Quân Nguyễn Văn Thụy ở Vạn Tượng về mật tâu việc binh; Ngài sai đi hội với Vạn Tượng đánh lấy tỉnh Nghệ.
Tháng 4, Phiên Thần tỉnh Thanh Hóa là Chánh Thống Lãnh Hà Công Thái dâng biểu xin củ hiệp thổ tù các mán theo Nguyễn Văn Thụy đi đánh giặc.
Ngài đem quân cứu Bình Định, lưu Đông cung giữ Gia Định.
Tháng 4 nhuận, thuyền ngự đến cửa Cù Huân, sai Hoàng Tử Hy lưu trấn Diên Khánh, thân dụ tướng sĩ các dinh thủy bộ.
Tháng 5, Nguyễn Văn Thành kéo quân đến cửa Xuân Đài, khiến Lê Chất, Nguyễn Đình Đắc, Trương Tấn Bửu chia làm ba đạo đều kéo tới một lần, đánh phá giặc, lấy đồn Hội An.
Tháng 6, Tướng quân Nguyễn Văn Thụy, Điển quân Lưu Phúc Tường đem quân mình và quân Vạn Tượng đánh đảng giặc ở Nghệ An. Quân Thượng đạo ở Thanh Hóa là Hà Công Thái, thổ ty ở Hưng Hóa là Phan Bá Phụng đều khởi binh, các xứ Bắc Hà cũng đều khởi quân theo cả, khi ấy quân giặc chống cự rất là mỏi mệt.
Thuyền ngự đóng tại cửa Cù Mông, chia lập đồn trại, đối lũy với giặc.
Tháng 7, Phó thống lãnh giặc là tên Thụy đem 150 chiếc thuyền lương ở Bắc Hà, Thuận Hóa, Quảng Nam vào đậu cửa Đề Gi (Bình Định), quân Nguyễn Văn Tánh dò biết; Ngài đem thuyền binh giữ cửa Thi Nại, lại sai Nguyễn Văn Trương, Tống Phúc Lương đem thuyền binh đón đánh, Thụy bỏ thuyền lên bộ mà chạy, quân Nguyễn Văn Tánh bắt được hơn 30.000 vuông gạo và thuốc, đạn, binh khí cũng nhiều.
Tháng 9, Ngài đóng tại Hòn Nần (trong cửa Cù Mông).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:04:06 PM » |
|
Tháng 10, Võ Tánh sai người dâng biểu ở chỗ Hành tại (1). Ngài lại sai người lén vào thành hỏi thăm, quân lính đều cảm kích, xin ra sức đánh giặc.
Tháng 11, Nguyễn Văn Thành bắt người mường đem đàng, biêt rằng đi đàng tắt phía Tây Nam thời đánh mặt sau đồn giặc, liền vẽ địa hình dâng biểu xin thêm binh; Ngài xem biểu, mừng nói rằng: "Giặc ở trong con mắt ta thấy rõ rồi". Sai Tống Viết Phúc, Lê Văn Duyệt đem quân đến Gò Thị theo tiết chế ông Thành; Thành sai Duyệt giữ đồn làm chánh binh, còn mình đem quân các đạo làm kỳ binh (2), đêm đi đàng tắt, qua núi Bột Khê, nhơn lúc trời mưa đi quanh ra sau đồn giặc, bỏ lửa đốt đồn, ước với ông Duyệt hai đầu đánh lại, giặc thua bỏ chạy, Đô đốc Thu đem quân đầu hàng; quân ta lấy được voi, ngựa, súng và binh khí nhiều lắm. Báo tiệp, Ngài khen lắm. Trận ấy ông Thành, ông Duyệt đều cầm cờ tướng chỉ biểu quân lính, Thành hay uống rượu, lúc gần ra trận, cầm hồ rót rượu, rót cho Duyệt một chén mà nói rằng: "uống rượu để thêm sức mạnh". Ông Duyệt nói: "Ai tánh hay sợ mới uống rượu để cho thêm sức mạnh, còn như tôi thời trước mắt coi không trận dữ, cần chi phải uống rượu". Thành có ý thẹn, từ đó giận Duyệt.
Năm Tân Dậu thứ XXII (1801), tháng giêng, quân thủy ta đánh giặc ở cửa Thi Nại. Nguyên trước khi Võ Văn Dõng đem hai chiếc thuyền hiệu Định Quốc và hơn 100 chiếc thuyền chiến, đậu ngang cửa biển; lại lập hai đồn bên cửa biển: bên tả tại Nhạn Châu, bên hữu tại núi Tam Tòa; hai đồn ấy đều đặt súng lớn để chống cự quân ta. Đến bây giờ các đạo quân ta đều sắm đồ hỏa công đủ hết; canh ba đêm 16, Ngài sai Nguyễn Văn Trương chèo thuyền nhỏ lén vào nơi Hổ Cơ đốt đồn thủy giặc; Võ Di Nguy đem mấy chiếc thuyền lớn xông tới, Văn Duyệt theo sau; Nguy bị đạn chết, Duyệt không ngó đến, càng gắng sức đánh, từ giờ Dần đến giờ Thân đốt phá hết thuyền giặc; ai cũng khen trận ấy là "Võ công đệ nhất".(Di Nguy người huyện Phú Vang; Minh Mạng năm đầu được tùng sự Thế Miếu; năm thứ 12, được phong Bình Giang quận công).
Ngài trú tất tại cửa Thi Nại, sai báo tiệp cho Gia Định, Phú Yên, Bình Khương, Bình Thuận đều biết; lại sai quan trấn Gia Định làm thơ báo với nước Xiêm, nước Lạp.
Tháng 2, lựa thêm lính Gia Định, thúc thành đội ngũ, đem đi quân thứ đánh giặc; sai Nguyễn Văn Trương đem lính thủy ra đánh Quảng Nam, Quảng Nghĩa.
Đông cung Nguyên Soái Quận Công Cảnh mất. Lúc Đông cung ở Đại Pháp về, thường đi theo đánh giặc; bây giờ giữ thành Gia Định, lên đậu mà mất, mới 22 tuổi; Ngài thương tiếc lắm (năm Gia Long thứ 4, truy thụy là Anh Duệ Hoàng Thái Tử, lập tẩm viện ở xã Vỹ Dạ).
Tháng 3, Nguyễn Văn Trương lấy lại dinh Quảng Nam. Tháng 4, Hoàng Tử Hy mất, đem về táng tại Gia Định. Quân ta giữ thành Bình Định gần hết lương; bọn Diệu, Dõng vây càng nghiêm ngặt. Ngài truyền các tướng rằng: "thà là mất thành Bình Định, không thà mất tướng giỏi ta!". Liền sai người lặn nước đưa thơ dụ Võ Tánh bỏ thành chạy ra hội với đại quân; Tánh xin chịu chết giữ thành, tâu rằng: "lúc nầy binh tướng giỏi Tây Sơn đều ở Bình Định, Phú Xuân chắc là bỏ trống, nên thừa hư ra đánh lấy Phú Xuân, được Phú Xuân cũng đủ thường một mạng tôi!". Ngài than thở hồi lâu, rồi sai Thành đem các đạo binh kháng cự với Diệu, Dõng; mà Ngài đem thuyền binh ra Phú Xuân.
Tháng 5, ngày Bính Tý, đại binh vào cửa Tư Hiền, Lê Văn Duyệt, Lê Chất đánh phá giặc ở núi Quy Sơn (tức là núi Linh Thái).
Ngày Đinh Sửu, Ngài đốc các đạo quân tới sông Trừng Hà, Lê Văn Duyệt bắt được Nguyễn Văn Tri và đô đốc Phan Văn Sách, giặc đầu hàng hơn 500 người; đại binh kéo thẳng vào cửa Duyên Hải.
Ngày Mậu Dần, thâu phục Kinh Đô. Giặc nghe đại binh đến, bỏ chạy cả, lấy được hết thảy thuyền và khí giới; đại binh kéo thẳng vào Phú Xuân, Quang Toản đem đồ quý báu bỏ thành chạy ra Bắc; Ngài
--------------------- (1) Hành tại là nơi vua đóng quân ở đó. (2) Chánh binh là quân ra trước trận cho giặc thấy; kỳ binh thời đi lén đàng khác, hoặc núp đánh đàng sau không cho giặc biết.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2009, 06:09:11 AM gửi bởi Midaxudavo »
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:06:19 PM » |
|
ngự vào thành coi khắp các cung khuyết, lấy được 13 cái ngụy ấn, 33 bản ngụy sách; niêm phong kho tàng, tịch biên tiền của, cấm quân không được nhiễu hại, để cho yên dân.
Sai Lê Chất đem binh bộ đuổi Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Văn Trương đem lính thủy ra sông Gianh để đón đàng giặc chạy. Phạm Văn Nhơn giữ cửa biển Duyên Hải (1), Phan Văn Triệu, Tống Phúc Châu giữ Tả Trạch nguyên và tam ải.
Sai Điển quân Lưu Phúc Tường đem bộ hạ đi đàng Cam, đưa thơ cho Vạn Tượng và các mường, bảo chúng nó giữ chỗ hiểm yếu, phòng quân giặc chạy trốn.
Thanh Hóa Thống Lãnh Hà Công Thái sai người dâng biểu tâu việc binh, Ngài dụ rằng: "ta nay thu phục Kinh đô, đã sai Lưu Phúc Tường hội với Vạn Tượng đánh Nghệ An; mầy nên đem bộ hạ đánh Thanh Hóa; chờ ta sắp đặt xong việc, sẽ ra lấy Bắc Hà để thống nhất thiên hạ, mầy phải gắng đó".
Sai Trương Công Vỹ chiêu dụ hào kiệt ngoài Bắc. Phó Vệ Úy Nguyễn Đình Hoằng cũng xin tới tỉnh Thanh, tỉnh Nghệ chiêu tập nghĩa binh; Ngài bằng lòng cho.
Nội hầu giặc là Lê Văn Lợi, Thượng thơ giặc là Hồ Văn Diệu đều xin hàng, Ngài cho theo sai phái. Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường mật tâu rằng: "từ Tây Sơn khởi loạn đến giờ, bọn ấy nhờ đó mà được giàu sang, mấy người trung nghĩa ở Thuận Hóa, Bắc Hà phải khuất thân làm lính, để cho bọn ấy sai khiến, thường có ý trông vương sư đến, để đổi lối cũ. Bây giờ lại cho bọn ấy coi quân, nghiễm nhiên làm quan ở trên người ta, e thiên hạ mất lòng trông cậy; nếu sợ đánh giặc còn nhiều, không dung bọn ấy e những đứa khác ngờ không dám tới, thời xin tha bọn ấy đừng giết cũng được, không nên cho giữ binh quyền". Cho xử sĩ Nghệ An là Nguyễn Thiếp về nhà. Thiếp người làng Nguyệt Úc, huyện La Sơn, đậu hương cống (là cử nhơn) làm tri huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà; lúc nhà Lê mất, Quang Toản mời ra ở Phú Xuân. Bây giờ vào bái yết xin về, Ngài dụ rằng: "Tuổi ngươi đã nhiều, lại có đức độ, người ta vẫn kính phục lắm; từ rày người về nhà, nên dạy cho được nhiều học trò giỏi để giúp nhà nước, thế mới không phụ lòng ta trọng người hiền"; rồi sai quan đưa về.
Sai Lê Văn Duyệt đem quân bộ vào Quảng Nam, Tống Viết Phúc đem quân thủy, chia đàng vô cứu Bình Định; Lê Chất đem quân tả đồn và lính hai vệ Chấn Võ, Tề Võ, theo tiết chế ông Duyệt. Ngài lại truyền Nguyễn Văn Thành sắm sửa binh mã để đợi.
Lê Văn Duyệt và Lê Chất đánh viện binh giặc tại Cao Đồi, bắt được bọn Đô đốc Lê Văn An, báo tin thắng trận. Ngài sai giải mấy tên bắt được về Kinh, chỉ có tên nào là người Thuận Hóa và người Bắc Hà thời cho nhập vào đội ngũ vào Quảng Nam đánh giặc.
Thành Bình Định lương hết; Đại tướng quân Quận Công Võ Tánh, Lễ Bộ Ngô Tùng Châu đều tuẫn tiết. Khi quân giặc vây thành, ông Tánh tùy thế chống cự, nhờ tướng sĩ hết lòng đánh giặc, lớn nhỏ hơn mười trận, không hề thua. Đến bây giờ lương hết, quân lính phải làm thịt voi ngựa mà ăn, cũng không có ý làm phản. Ông Tánh lo rằng: nếu thành bị phá, quân lính không khỏi bị hại, liền sai quân kiếm củi khô chất đầy dưới lầu bát giác, toan đốt mình tự tử. Sáng sớm mai Tùng Châu tới hỏi Tánh định mưu kế gì, Tánh chỉ lầu bát giác nói rằng; "kế tôi ở đó". Tùng Châu nói: "Tướng quân hay liều mình với nước, tôi lại không hay hết trung với vua sao?". Tùng Châu uống thuốc độc chết, Tánh liệm táng cực kỳ tử tế; rồi để thuốc súng dưới lầu, mặc Triều phục lên lầu ngồi, gảy tàn thuốc xuống, mình đốt lấy mình, Chánh Cơ Nguyễn Tấn Huyên cũng nhảy vào lửa mà chết. Giặc kéo quân vào thành, cũng không làm hại đến các tướng sĩ trong thành; rồi các tướng sĩ ta đều lén trở về, không ai theo giặc (Nền Bát giác lầu ở trong thành, khi nhà nước đại định rồi, lập đền thờ hai ông ở đó; năm Gia Long thứ 5, hai ông được tùng tự Thái Miếu; năm Minh Mạng thứ 5 đổi qua tùng tự Thế Miếu; năm thứ 12, ông Tánh được phong Hoài Quốc Công, Tùng Châu được phong Ninh Hòa Quận Công).
Ngài nghe Võ Tánh và Tùng Châu tử tiết, khóc mãi không thôi, Ngài nói rằng: "Hoàn tiết như vậy, dẫu Trương Tuần, Hứa Viễn nhà Đàng cũng không hơn được". Truyền sắc trấn Gia Định châu cấp gia quyến, lại nghĩ Nguyễn Tấn Huyên cũng đồng tử tiết, cũng sai quan tỉnh Quảng Nghĩa hỏi thăm mẹ và vợ con, ban cấp rất hậu.
------------------ (1) Năm Gia Long thứ 12 đổi tên là cửa Thuận An
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:07:22 PM » |
|
Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc thành, đổi niên hiệu là Bửu Hưng, sai người sang Tàu xin viện binh, Tàu không cho, Diệu, Dõng đã giữ thành Bình Định, toan đắp lũy ngang ở Vân Thê để đón đàng quân ta chở lương qua cửa Thi Nại, nó lại sai Tham đốc Phạm Văn Điềm giữ tỉnh Phú Yên để ngăn trở quân ta. Nguyễn Văn Thành dâng sớ xin phái Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Đức Xuyên đánh phá Phú Yên, để thông với Tam Lãnh; Ngài sai Tống Phúc Lương đi thuyền chiến ra biển vào Tam Lãnh hội với Nguyễn Văn Tánh đánh giặc. Quân Tống Viết Phúc, Lê Văn Duyệt, Lê Chất đến Quảng Nghĩa đánh giặc ở đồn Trà Khúc, bắt sống quân giặc hơn 3.000 người, tâu việc thắng trận. Ngài truyền giải tướng giặc là Nguyễn Khôn, Hồ Tự về Kinh, còn lính giặc thời nhập vào các vệ để thêm số lính cho nhiều.
Đòi các hậu vệ quân về Kinh, lưu Nguyễn Văn Tồn ở quân thứ đánh giặc. Lúc trước thành Bình Định hãm, Tồn bị giặc bắt, Tồn giả đò hết sức giúp giặc đánh mình, quân mình kêu mà Tồn không ngó, giặc lấy làm tin; đến bây giờ lén trốn về. Có người hỏi Tồn rằng: "khi đi theo giặc sao mà đánh dữ thế?". Tồn nói: "như không làm cho quân ta bị thương, thời giặc không tin; nó đã không tin làm sao đem hết quân lính mà về được?". Ai cũng phục là có trí.
Cho Giám quân Nguyễn Văn Trương làm Khâm sai Chưởng Trung Quân Đại Tướng Quận Công. Tánh ông ấy rất trọng hậu, chẳng hay giết người. Khi trước có một trận quân ta bị thua, lội qua sông mà chạy, giặc xúm nhau đâm quân ta; lúc ấy Trương còn làm tướng giặc, không cho giặc giết quân ta, nói rằng; "nhơn khi nguy cấp mà giết người, ấy là bất nhơn". Giặc trở lui; Ngài khen rằng; "làm tướng có nhơn như Trương là ít lắm". Khi về theo Ngài, lập nên công lớn, ai cũng khen là phúc tướng.
Đổng Lý giặc là Nguyễn Văn Thận đem lính giữ dinh Hà Trung; Nguyễn Văn Trương dâng sớ xin thừa cơ ra đánh, Ngài dụ rằng: "Tướng quân là trụ thạch lão thần, Nhà nước ỷ trọng lắm; ngày nào đem quân ra đánh, phải chia thủy bộ hai đạo, kéo qua Thanh, Nghệ, hội với binh thượng đạo, để bắt cho hết đảng giặc; nay mai bắt được Diệu, Dõng, ta sẽ sai các tướng ra lấy Thăng Long để yên định Hà Bắc". Ngài lại nghĩa rằng: Tham tán phải có quan văn, phải cần người nào thuộc tất địa thế và dân tình ngoài Bắc mới làm chức Tham tán được; liền đòi Đặng Trần Thường, Nguyễn Trí Hòa về Kinh hầu chỉ.
Huyện thừa ở Nghệ An là Hoàng Thạch Phỏng, sanh đồ là Phạm Kiến Tích xin đi đánh giặc, Ngài cho Phỏng làm Chánh Cơ, Tích làm Chánh đội, khiến đem lính Hưng Nghĩa theo Nguyễn Văn Trương sai phái.
Sai Giám thành Nguyễn Văn Yên đo lũy Trấn Ninh (tức là lũy Đồng Hới) từ núi Đâu Mâu đến cửa Nhật Lệ, xem xét tình thế, rồi vẽ địa đồ dâng lên Ngài xem. Lũy ấy dài 1120 trượng.
Tháng 7, phong cho Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai Chưởng Tiền quân, Bình Tây Đại Tướng Quân, điều bát chư đạo bộ binh Quận Công; cho Lê Văn Duyệt làm Thần Sách quân chưởng tả dinh đô thống chế, Quận Công. Ngài dụ rằng: "Ngươi với Duyệt nên ở cùng nhau cho có đạo nghĩa, có thành thiệt, không nên lấy khí thế, tài danh làm cao thấp, đồng tâm lo việc, để cho thành công; mới gọi là tôi của Xã tắc, báu của nước nhà; ngươi phải nghĩ cho kỹ".
Cho Ngô Đức Toản làm chức Hà Bắc Chiêu Phủ Sứ, sai đem đạo quân mình đi với Chánh Vệ Nguyễn Đình Hiệu vượt biển ra đến Biện Sơn, Phó vệ Nguyễn Đình Hoằng, Thống binh Hoàng Văn Quý và mấy người hào mục ra theo cũng nhiều. Rồi chiêu tập nghĩa binh và quân Tàu Ô, ước chừng hơn 400 người, 20 chiếc thuyền, đánh lấy được hơn 300 người. Nghe báo tiệp, Ngài dụ lập đồn trại cho kiên cố để chờ vương sự. Đắp đàng quan từ Phú Xuân đến Đồng Hới.
Tháng 8, sai Thị Thơ Viện làm sách Cương Mục Chánh Biên Tiền Biên để tấn lãm. Ngài ưng xem sách, tuy ở trong quân, thường lấy sách vở làm vui, thường đòi văn thần vào giảng sách, nửa đêm mới thôi.
Tán Lý Đặng Trần Thường đến Kinh, đòi vào yết kiến, rồi sai ra đồn Đồng Hới hiệp với Nguyễn Văn Trương tham tán việc quân.
Ngày Đinh Hợi nước sông Hương Giang trong. Từ khi loạn năm Giáp Ngọ, nước sông đục luôn; đến bây giờ thâu phục Kinh Đô, nước lại trong hơn khi trước; ai cũng cho là triệu thái bình.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:08:58 PM » |
|
Tháng 10, Nguyễn Văn Trương và Phạm Như Đăng dâng sớ tâu: "lính Nam chưa thuộc đàng biển ngoài Bắc, xin mộ thêm mấy đội lính thuyền ở Lý Hòa, lập thành đội Hòa Hải, để phòng sai bát". Ngài cho.
Ngài dụ bọn Nguyễn Văn Trương rằng: "Cách dùng binh phải dự phòng trước. Nay quân đóng ở Thi Nại, lính giỏi lương nhiều, lại được Nguyễn Văn Thành đêm ngày chăm lo, làm việc chắc là vạn toàn, không nghi ngại gì; quân thứ ở núi Thanh Hảo, thời có Lê Văn Duyệt và Lê Chất giữ gìn nghiêm nhặt, nếu giặc muốn đánh đàng trước hoặc đàng sau, cũng không làm chi được; ta chỉ lo việc ngoài Bắc Hà mà thôi. Ngươi phải phủ ủy tướng sĩ, việc gì cũng nên chỉnh bị, để giữ vững phía Bắc cho ta".
Nguyễn Văn Thành đánh đồn Chỉ Lư, đuổi giặc đến sông Tân An, phá luôn hơn 20 đồn. Lê Văn Duyệt, Lê Chất đánh phá giặc tại núi Phong Yêu. Ngài sợ các tướng ra trận giết bậy, truyền dụ rằng: "phủ Quy Nhơn là dân cũ của ta, từ Tây Sơn tụ hội ở đó, hiếp dân phải theo, nhưng dân còn giữ được bổn tánh, chưa mất lương tâm; kịp khi ta duyệt binh năm Quý Sửu, vây thành năm Aát Vị, dân đều hết sức theo ta, khiến giữ trong thành đã hơn một năm, trải nếm đủ mùi cay đắng; chim lồng cá chậu, không đàng bay nhảy cho thoát. Bây giờ Tây Sơn lại thải người già, lựa người mạnh, bắt lương dân theo vòng tên đạn, thế dân không biết làm sao được, tình rất nên thương. Từ rày về sau gặp quân giặc, mà chư tướng giết tại trận thời không kể; như bắt sống giữa trận, không cần phải tra xét gì, hễ người Quãng Nghĩa trở ra thời cho lưu dụng; người Quy Nhơn trở vào thời cấp tiền gạo cho về; ấy là nghĩa phải đánh mà nhơn nên thương vậy. Nếu ai cố ý giết càn, sẽ theo phép quân trị tội".
Nguyễn Quang Toản đem quân thủy quân bộ hơn 30.000 người vào xâm, để làm thanh thế cho Diệu, Dõng ở Quy Nhơn; vợ Diệu là Bùi Thị Xuân cũng đem 5.000 quân theo Quang Toản đến dinh Hà Trung. Ngài bàn định việc thân chinh (1), ngày Ất Vị, Ngự giá từ Kinh sư ra đi, ngày Nhâm Dần trú tất ở Đồng Hới, sắc chư tướng giữ các đồn cho nghiêm.
Tháng 12, Tống Phúc Lương đem binh thuyền đến cửa Nhật Lệ.
Năm Nhâm Tuất thứ XXIII (1802), tháng giêng (tháng 5 năm ấy về sau, là Gia Long nguyên niên), Ngài trú tất ở Đồng Hới; tỉnh Quảng Nam dâng trái Nam Trân, Ngài ban cấp cho các tướng sĩ.
Nguyễn Quang Toản sai Nguyễn Quang Thùy và Tổng quản Siêu xâm lũy Trấn Ninh, Tư Lệ Đinh Công Tuyết, Đô đốc Nguyễn Văn Kiên xâm núi Đâu Mâu, thiếu úy Đặng Văn Đằng và Đô đốc tên Lực kết đảng với 100 chiếc Tàu Ô, bày thủy trận ngoài cửa Nhật Lệ.
Ngài sai Nguyễn Văn Trương đem thủy binh ra biển kháng ngự, Phạm Văn Nhơn và Đặng Trần Thường đem bộ binh chia đàng chống cự, quân giặc kéo đến hết núi Đâu Mâu, trèo lên như kiến; vợ Diệu là Bùi Thị Xuân cỡi voi cầm quân liều đánh, từ sớm đến trưa, chưa chịu lui quân; nhờ có gió đông bắc, Nguyễn Văn Trương đốc thủy binh phá tan thuyền giặc ngoài biển, lấy được 20 chiếc thuyền; bộ binh giặc nghe tin, sợ bỏ chạy, Quang Toản chạy ra Đông Cao (thuộc huyện Bố Trạch), Nguyễn Văn Kiên đem quân tới hàng.
Ngài biết thuyền lương giặc đậu ở sông Gianh, sai Tống Phúc Lương, Nguyễn Văn Vân đón đánh, lấy hết thuyền lương, đuổi giặc đến hang Tiên Cốc, bắt được Thượng thơ Nguyễn Thế Trực, Đô đốc Trần Văn Mô.
Ngài sai các đạo biên số binh mã và binh khí mà lấy được của giặc, dâng lên Ngài biết. Trận nầy giặc bị phá tan hết thảy; Hoàng triều khôi phục giang sơn, thế dễ như chẻ tre.
Ngài ngự về, sai Tống Phúc Lương, Đặng Trần Thường giữ sông Gianh, Nguyễn Văn Trương giữ xứ Đồng Hới, Hoàng Văn Điểm giữ cửa Ròn. Lại sai Lê Văn Duyệt đánh thành Bình Định, Duyệt phá tan giặc ở núi Lộ Bôi, bắt được Đô Đốc Châu Hữu My đem về Kinh sư.
------------------- (1) Thân chinh là vua tự đem quân ra đánh giặc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 604
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 11:09:59 PM » |
|
Ngài sai giải bọn Trần Văn Mô ra nơi quân thứ cho giặc biết, giặc trông thấy mất hồn.
Tháng 3, quân ta thâu phục thành Bình Định. Lúc ấy ba đạo quân ta xông vào, thế cấp quá, bọn Diệu, Dõng kéo quân bỏ thành chạy trốn. Nghe báo tiệp, Ngài mừng lắm; truyền Quảng Nam và Cam Lộ đều phải phái binh phòng giữ chổ nguyên đấu để đón đàng giặc chạy; lại đưa thơ cho Xiêm La và Vạn Tượng biết.
Lê Văn Duyệt bắt Đô Đốc Trần Đại Cựu đem về Kinh. Ngài truyền tha, rồi đòi hỏi rằng: "đảng Diệu còn nhiều, tại sao không đánh mà chạy?" - tâu rằng: "binh Diệu ngoài còn mạnh mà trong yếu, nên phải bỏ đồn mà chạy trốn, chỉ cầu cho sống mà thôi, không có mưu kế chi đâu". Ngài cho là phải, ban cho một cái áo. Lúc ấy bắt sống được tướng giặc, đều tha tội cả, nhưng sai hàng tướng Lê Đình Chính giám quản; rồi bổ làm quân túc trực, đêm ngày chầu hầu chung quanh; mấy người có lòng nghi sợ, bây giờ mới an tâm.
Đúc 5 cái Quốc Bửu; một cái khắc chữ "thảo tội an dân chi bửu", một cái khắc "sắc chính vạn dân bửu"; một cái khắc chữ "mạng đức chi bửu"; một cái khắc chữ "chế cáo chi bửu"; một cái khắc chữ "quốc gia tính bửu". Lại đúc "công đồng chi ấn", "chư quân chi ấn".
Truyền sắc rút quân thủy, quân bộ ở Bình Định về, giao Nguyễn Văn Thành giữ thành ấy để phủ tập cư dân, kiềm chế đảng giặc.
Cải phủ Gia Định làm trấn; sai Hoàng Viết Tỏn rước đức Quốc mẫu về Kinh. Lúc Ngài đương đi đánh giặc, đức Quốc mẫu ở lại Gia Định; nay thâu phục Bình Định rồi, sai người rước về.
Giảm sưu thế cho trấn Gia Định. Dụ rằng: "Từ khi Quốc vận trung vi, Tây Sơn dấy loạn, ta phụng Quốc mẫu ở Gia Định, thần dân xứ ấy ai cũng đồng tâm tôn kính; nay rước Từ giá về Kinh, vậy nên suy ơn cho thoả lòng dân; từ năm Quý Hợi về sau, các hạng sưu thế cho trong ba phần giảm một".
Tháng 4, đắp Hoàng thành.
Các quan dâng biểu xin Ngài lên ngôi Hoàng đế, cải niên hiệu. Dụ rằng: "Lúc mới thâu phục Gia Định, đã lên ngôi vương, nhơn tâm tôn ta đã lâu. Nay tuy rằng khôi phục Kinh đô cũ, mà quốc tặc chưa từ, thời việc đăng tôn1 chưa nên bàn vội. Nhưng vương giả đổi họ chịu mạng trời làm vua, phải nên đổi cũ theo mới, có năm phải có hiệu, đổi niên hiệu là phải; các ngươi nên bàn mà làm".
Lục các công thần tử trận hơn 500 người, đều truy phong tước khác nhau.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|