Ngày 29/4/2010 báo Pháp luật Việt Nam có đăng bài về Tàu không số HN, tôi xin khoe các bạn đây:
( Nhờ quản trị đổi phông chữ hộ - cảm ơn )
.
Bác TauKhongSo à ! Bài viết bác gửi dùng phần mềm tiếng Việt VietKey, phông chữ VnTime không thể đưa lên trang web này và phần lớn các trang khác. Bác hãy dùng UniCode, phông chữ Times New Roman hoặc Arial là ổn. Bài của bác tôi phải gõ lại. Xin lỗi bác có tự tiện sửa một số chỗ không chính xác. Những chỗ đó đều có mở ngoặc chú thích. Bác thông cảm nhé !
HUYỀN THOẠI TÀU KHÔNG SỐVượt qua hành trình tử thần Trước năm 1972, những con tàu không số đã tham gia vận chuyển vũ khí, đạn dược, thốuc men vào chi viện cho chiến trường miền nam. Những con tàu không số ấy cũng đã chở bộ đội đặc công, xe tăng, đạn dược tham gia giải phóng quần đảo Trường Sa, Côn Đảo, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Lịch sử đã sang trang nhưng những thành viên của hội tàu không số Hà Nội không bao giờ quên những năm tháng hào hùng nhất trong cuộc đời mình.
Những chàng sinh viên xung trận Thông thường, lính hải quân chỉ tuyển người ở các tỉnh miền biển. Ít người biết rằng, ở ngay thủ đo Hà Nội cũng có những cựu thủy thủ Tàu Không Số. Họ có khoảng 60 người, gồm hai thế hệ. Người nhiều tuổi nhất đã trên 70, người ít tuổi nhất đã 57.
Trong hội Tàu Không Số Hà Nội có không ít những thủy thủ xuất thân là những học sinh, sinh viên nhập ngũ 5/1972. Ông Tống Hồng Quân là một trong số đó. Ông Quân nhớ lại:
“
Tháng 5/1972, khi đang là sinh viên trường đaih học Kinh Tế - Kế Hoạch, tôi lên đường nhập ngũ. Thời ấy, tiếng ca hào hùng của bài hát Đường Chúng Ta Đi do ca sỹ Doãn Tần thể hiện như thúc dục chúng tôi ra mặt trận. Ngày 29/5/1972, tôi lên tàu ở ga Hàng Cỏ. Đoàn Tàu chở đầy ắp lính trẻ, lao về phía nam, hú lên những hồi còi tiễn biệt. Những mái đầu xanh chen nhau qua cửa sổ tàu, những bàn tay vẫy gọi, những tiếng thét: Tạm biệt Hà Nội ! Tạm biệt em yêu ! Tạm biệt quê hương ! Những lá thư ném từ trên tàu xuống, rải trắng đoạn đường từ Khâm Thiên đến Thường Tín. Trên bì thư nguệch ngoạc dòng chữ: Nhờ mọi người dán tem bỏ vào thùng thư giúp hoặc Đi B ngày 29/5/1972.”
Sau hai tháng huấn luyện ở Hà Trung, Thanh Hóa, tháng 7/1972 gần 200 chàng lính sinh viên hành quân ngược ra bắc về Quảng Ninh và trở thành lính thủy. Họ được phân xuống các đoàn tàu. Đoàn 171 (tàu chiến đấu), đoàn 172 (tàu phóng lôi), đoàn đặc công hải quân e126, đoàn tàu đánh cá e128. Anh sinh viên Tống Hồng Quân về tàu 649, đoàn tàu không số e125.
Tàu 649 đã chất đầy hàng chờ thời cơ lên đường vào miền nam. Nhiều lần tàu ra khơi dọc theo đường hàng hải quốc tế nhưng đều phải quay về do tàu chiến và máy bay Mỹ tuần tra, đeo bám, không thể cập bến bốc hàng được. Tháng 1 và 2/1973, tàu 649 là một trong những chiếc tàu hải quân cập cảng Cửa Việt, Quảng Trị. Để đưa được tàu cập cảng an toàn, những người lính trên tàu đã phải vượt qua biết bao khó khăn, luồng lạch mới, diễn biến tình hình địch trước ngày ngừng bắn rất phức tạp. Khi tàu vào gần cảng Cửa Việt, pháo trên bờ bắn ra ầm ầm, chặn trước mũi tàu. Trên cảng hôm trước vừa diễn ra trận đấu xe tăng khốc liệt giữa ta và địch. Xác xe tăng cháy còn nghi ngút khói.
Người dân miền nam vô cùng vui sướng, tự hào khi lần đầu tiên nhìn thấy tàu hải quân của chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam với lá cờ nửa xanh, nửa đỏ bay phần phật trên mũi tàu.
Sau ngày giải phóng, ông Tống Hồng Quân về học tại trường Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự. Ra trường, ông tiếp tục phục vụ quân đội. Đến năm 1991, ông Quân chuyển ngành sang một công ty xây dựng của bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn.
Ông Đoàn Xuân Tiến là người đã chở bộ đội đặc công ra Côn Đảo và đón tù chính trị về đất liền, trong đó có giáo sư Lê Quang Vịnh. Hiện, ông Tiến là hiệu trưởng trường Trung Học Nông Nghiệp, sở giáo dục Hà Nội.
Vợ chồng già chờ đám cưới Trọng hội Tàu Không Số Hà Nội, ông Lê văn Nhược là người nhiều tuổi nhất và cũng là thủy thủ kỳ cựu nhất. Ông Nhược sinh năm 1939, nhập ngũ 4/1964, xuống tàu không số tháng 7/1964. Ông Nhược tâm sự:
“
Vợ chồng tôi dù đã có 2 con trai, 2 con gái và 5 cháu nội ngoại, nhưng chúng tôi chưa một lần được lên xe hoa. Chúng tôi dự định tổ chức đám cưới vàng vào tuổi 80.”
Ông Nhược cho chúng tôi xem tờ giấy đăng ký kết hôn của vợ chồng ông. Tờ giấy đã ố vàng, mặt sau có ghi dòng chữ của Tổ Giải Quyết: “
Vấn đề này không phải nhiệm vụ chúng ta nhưng hoàn cảnh quá cần, ta có thể giải quyết được. Ngày 14/2/1965”. Phía dưới ghi tiếp: “
2 gói chè Hồng Đào, 10 bao Thủ Đô”.
Trước ngày nhập ngũ, anh Lê Văn Nhược công tác tại Ty Lương Thực Hà Nội. Tháng 2/1965, anh được đơn vị cho nghỉ phép tranh thủ về cưới vợ, chị Đặng Ngọc Thảo, một cô gái Hà Nội xinh đẹp làm việc ở cửa hàng lương thực số 9 Cat Linh. Ngày 13/2/1965, vợ chồng anh được chính quyền của khu Đống Đa (bấy giờ chưa gọi là quận như bác Tàu Không Số viết) tổ chức đăng ký kết hôn tập thể cùng 10 đôi vợ chồng khác. Mỗi đôi vợ chồng khi đăng ký được duyệt mua của mậu dịch Quốc doanh 5 bao thuốc lá Tam Đảo hay điện Biên gì đó(lúc đó chưa có thuốc Sông Cầu như Tàu Không Số viết, chỉ có Trường Sơn, Tam Đảo, Điện Biên bao bạc hay Thăng Long). Cầm tờ giấy đăng ký kết hôn, trong trang phục lính hải quân, anh Nhược ra bách hóa số 5 Nam Bộ mua trà thuốc để tổ chức đám cưới và được ưu tiên (không phải xếp hàng). Chưa kịp tổ chức đám cưới, ngày 14/2/1965, anh nhận được điện khẩn của đơn vị Trở về ngay đi công tác. Anh xốc ba lô nhảy tàu đi Hải phòng, bịn rịn tạm biệt người vợ trẻ ở lại phía sau.
Ngày 15/2/1965, anh Nhược xuống tàu mang số hiệu 69 đi công tác. Tàu chở 60 tấn súng đạn, thuốc men, . . . Đích tới là Cà Mau. Sau nhiều lần đi nhưng không vào được bến do tàu chiến, máy bay Mrx ngụy đeo bám, mãi đến ngày 6/11/1965, tàu mới cập bến Vàm Lũng, Cà Mau. Hàng dỡ xuống an toàn và kịp thời chi viện cho mặt trận Nam bộ. Những chuyến tàu ra khơi nối tiếp nhauđã không cho anh Nhược có điều kiện về thăm người vợ trẻ.
Chị Thảo cứ vò võ ngóng trông. Đầu năm 1969, trong một dịp thuận lợi khi tàu về bến sửa chữa, chị mới về Hải Phòng thăm anh. Mừng mừng, tủi tủi, sau gần 4 năm trời xa cách, hai anh chị chỉ nắm tay nhau mà chẳng nói nên lời.
Đơn vị hoạt động bí mật nên không có trạm tiếp đón. Anh em thủy thủ đã chặt cành phi lao, dựng tạm chiếc lều hạnh phúc ngay trên bờ đê, phía trước cảng K20 (Thủy Nguyên, Hải Phòng). Giường là những tấm phản gỗ ọp ẹp. Xung quanh lều thưng bằng lá dừa nước chặt ở cầu cảng K20. Trong chiếc lán dựng tạm, anh em thủy thủ hát hò, ngâm thơ tặng hai vợ chồng đến khuya. Có con gái đầu lòng tên Yếnlà kết quả của chuyến thăm chồng năm ấy của chị Thảo.
Sống trên biển Trong hội, ông Nhược là người có thâm niên trên tàu lâu nhất, gần 10 năm. Tàu 69 gồm 16 người, thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Ẩn, máy trưởng Nguyễn Văn tài, báo vụ Lê Văn Tâm, . . . Là hàng hải của tàu, ông Nhược là người có trọng trách quan trọng lái những chuyến tàu an toàn. Trong đêm tối mịt mù, sóng nước làm nghiêng ngả con tàu, ông phải căng mắt ra dò hải đồ để bẻ lái đi đúng hướng. Sau vụ tàu 143 bị lộ ở Vũng Rô ngày 26/2/1965, địch phong tỏa bờ biển rất kỹ. Máy bay và tàu chiến Mỹ quần đảo trên biển, trên trời để chặn tàu ngay từ nới xuất phát. Hành trình của những con Tàu Không Số vô cùng gian nan, nguy hiểm và khốc liệt. Để ngụy trang, các con tàu phải cắt hết tín hiệu, không liên lạc với tổng chỉ huy. Thắng 12/1965, địch đánh phá ác liệt. Tàu Không Số phải giả dạng tàu đánh cá, đi vào ban đêm giữa lúc sóng to gió lớn nhất để hạn chế sự tuần tra của địch. Mọi việc đều phải bí mật. Không được đi trong lộng mà phải chạy ngoài khơi. Say sóng triền miên, ăn lương khô triền miên vì sóng lớn không thể nấu cơm.
Cuộc sống nguy hiểm và gian khổ là thế nhưng tất cả mọi ngưởi trên các con Tàu Không Số đều hăng hái làm nhiệm vụ, chấp nhận mọi sự hy sinh.
Nhật Tuấn