Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Năm, 2012, 07:27:10 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 11  (Đọc 29031 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #10 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 10:28:55 PM »

Từ đầu năm 1955, Mỹ - Diệm thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”. Bước đầu tiên, chúng mở một số chiến dịch thí điểm ở Khu V để rút kinh nghiệm. Đó là các chiến dịch Phan Châu Trinh (2-1955) đánh phá các tỉnh Trung Bộ mà Quảng Nam là trọng điểm.

Chiến dịch Giải phóng (4-1955) đánh phá Quảng Ngãi và bắc Bình Định. Chiến dịch Trịnh Minh Thế (5-1955) đánh toàn bộ các tỉnh Khu V.  Sau bước đầu thí điểm, từ giữa năm 1955, Mỹ - Diệm chính thức phát động “tố cộng, diệt cộng” giai đoạn 1 trên toàn miền Nam.

Ý định của địch là đánh trên diện rộng trước, sau đó đánh vào chiều sâu, tập trung vào nơi có phong trào cách mạng phát triển, đánh cả người hoạt động cách mạng và dân thường, lấy đánh vào Đảng Cộng sản làm mục tiêu quyết định nhất, vừa tiêu diệt được con người, vừa khủng bố tinh thần làm cho người cộng sản, người có cảm tình với cộng sản hoặc khuất phục chúng, hoặc bị tiêu diệt, còn dân thường thì căm thù cộng sản mà đứng về phía Chính phủ quốc gia.

Để đạt mục tiêu trên, Mỹ - Diệm tổ chức bộ máy chỉ đạo tố cộng rất chặt chẽ và thống nhất từ trên xuống dưới. Cao nhất là Hội. đồng chỉ đạo tố cộng bao gồm tất cả các bộ trưởng trong Chính phủ do Diệm trực tiếp làm Chủ tịch. Dưới Hội đồng chỉ đạo tố cộng là Uỷ ban tố cộng Trung ương với các ban thường trực gồm đại diện Bộ Công an, Thông tin, Quốc phòng... Nhiệm vụ của Uỷ ban tố cộng Trung ương là trực tiếp chỉ đạo phong trào tố cộng ở các tỉnh các cơ quan và đào tạo cán bộ làm công tác tố cộng ở cấp trung ương. Giúp việc cho uỷ ban này có các Ban Tuyên huấn, Học tập, Kiểm thảo, Khai thác . . .

Ở cấp tỉnh có Uỷ ban tố cộng tỉnh. Mỗi bộ lại có một uỷ ban chỉ đạo theo ngành dọc xuống các cơ quan trực thuộc bộ mình. Huyện, xã có Uỷ ban chỉ đạo tố cộng của huyện, xã.  Thậm chí, liên gia cũng có bộ phận làm công tác tố cộng cấp liên gia.

Tố cộng giai đoạn 1 của địch được tiến hành qua ba đợt.  Đợt 1 từ ngày 15-5 đến cuối tháng 8-1955, trọng điểm là các tỉnh miền Trung. Đợt 2 từ tháng 9 đến tháng 11-1955, trọng điểm là nội bộ cơ quan nguỵ quyền. Đợt 3 từ tháng 11-1955 đến tháng 5- 1956, làm rộng rãi ở các tỉnh. Trong mỗi đợt, chúng lại chia ra làm nhiều bước, sau mỗi bước lại có điều chỉnh, rút kinh nghiệm.

Thông thường, mỗi đợt chúng thực hiện các bước cơ bản sau:

Bước một: Phân loại nhân dân. Tuỳ theo mức độ thân sơ của người dân với cách mạng mà chúng xếp: Loại A gồm cán bộ, đảng viên và những người kháng chiến cũ. Loại B gồm những gia đình có người đi tập kết hoặc có quan hệ mật thiết với những người kháng chiến cũ. Loại C gồm những người không có dính dáng gì đến cách mạng.

Bước 2: Trên cơ sở phân loại nhân dân, chúng mở các lớp học tập với những nội dung phù hợp với từng đối tượng kết hợp tuyên truyền xuyên tạc sự thật, nói xấu cách mạng, gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân.

Bước 3: Chúng tổ chức các buổi tố cộng, bắt mọi người phải tố giác cộng sản (kể cả người thân trong gia đình), xé cờ Đảng, đốt ảnh Bác Hồ, tuyên bố ly khai Đảng. Ai không làm, chúng cho là phản quốc.

Kết thúc giai đoạn 1 tố cộng, Mỹ - Diệm đạt được một phần ý đồ của chúng là gây hoang mang, lo sợ trong dân chúng, tạo nên mối nghi ngờ về lòng tin của nhân dân với cách mạng. Đồng thời qua đây chúng thanh lọc được những người không ăn cánh với chúng, sát hại, bắt giam một số cán bộ, đảng viên của ta. Chỉ tính từ tháng 7-1955 đến tháng 2-1956, Mỹ - Diệm đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên và những người yêu nước.

Các chiến dịch tố cộng, diệt cộng ác liệt của Mỹ - Diệm đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động, mất lòng tin, không giữ vững được khí tiết người cộng sản đã ra đầu hàng, tự thú với địch.

Sau thành công bước đầu của giai đoạn 1, từ giữa năm 1956, Mỹ - Diệm triển khai tiếp giai đoạn 2, trọng điểm là các tỉnh Nam Bộ; đồng thời Ngô Đình Diệm ngang nhiên tuyên bố không thi hành Hiệp định Giơnevơ, không hiệp thương với miền Bắc, không tổng tuyển cử.

Từ đây, Mỹ - Diệm tăng cường đánh phá với quy mô lớn và rất tàn bạo đối với nhân dân miền Nam. Chúng công khai đưa vào hiến pháp những điều khoản phủ nhận chủ nghĩa cộng sản, “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”. Những kinh nghiệm của tố cộng giai đoạn 1 được Mỹ - Diệm tận dụng triệt để trong giai đoạn 2. Tất cả những điểm trên làm cho tố cộng, diệt cộng giai đoạn 2 của Mỹ - Diệm trở nên rất khốc liệt.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #11 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 10:57:35 PM »


Bắt đầu từ ngày 24-6-1956 đến ngày 24-2-1957, địch sử dụng 2 sư đoàn bộ binh (Sư 11 và Sư 13), 6 trung đoàn độc lập 4 hải đoàn xung phong kết hợp với các đoàn tố cộng và bộ máy kìm kẹp ở cơ sở mở cuộc hành quân mang tên Thoại Ngọc Hầu càn quét, đánh phá các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Mục tiêu cuộc hành quân này là tiêu diệt cơ sở cách mạng, thanh toán lực lượng vũ trang của ta và tàn quân của Hoà Hảo, củng cố, phát triển chính quyền nguỵ.

Đồng thời, chúng sử dụng 1 sư đoàn bộ binh, 2 trung đoàn độc lập, 1 hải đoàn xung phong cùng với lực lượng bảo an mở cuộc hành quân Trương Tấn Bửu (từ ngày 10-7-1956 đến ngày 24-2-1957), càn quét các tỉnh miền Đông Nam Bộ (kể cả Sài Gòn - Chợ Lớn) nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng và tàn quân Bình Xuyên, Cao Đài, kiểm soát chặt chẽ vùng biên giới, tái lập an ninh nông thôn, hỗ trợ cho các đoàn tố cộng, thực hiện chiến dịch tố cộng, diệt cộng ở vùng này. 

Từ ngày 1-10 -1957 đến tháng 12-1957, Mỹ - Diệm lại mở tiếp cuộc hành quân mùa Thu với lực lượng 1 sư đoàn tăng cường, 1 trung đoàn độc lập, 1 thiết đoàn tăng, thiết giáp, 4 hải đoàn xung phong cùng lực lượng bảo an, dân vệ đánh miền Tây Nam Bộ lần thứ hai nhằm củng cố kết quả tố cộng ở đây và ngăn trở hoạt động của ta, bảo vệ vựa lúa của chúng ở đồng bằng sông Cửu Long.

Trong năm 1958, ở miền Đông Nam Bộ, đích mở hai cuộc hành quân lớn là cuộc hành quân Nguyễn Trãi (từ ngày 20-4 đến ngày 20- 11-1958) đánh lại cả 8 tỉnh miền Đông và cuộc hành quân Hồng Châu (trong cùng thời gian) càn quét ngoại ô Sài Gòn.

Với thủ đoạn đánh phá vô cùng thâm hiểm như chà đi, xát lại nhiều lần, phân vùng, chia ô để đánh, đánh cả ngày lẫn đêm, dùng biệt kích, thám báo, thụp bắt bất ngờ cơ sở ta, sử dụng bọn đầu hàng, tự thú chỉ điểm, dùng hình thức chiến tranh tâm lý để khủng bố, uy hiếp, lung lạc tinh thần cán bộ, nhân dân . . . địch đã gây cho ta những tổn thất nặng nề.

Chỉ tính riêng miền Tây và Trung Nam Bộ, trong 6 tháng đầu năm 1958 đã có 16 chi bộ tan vỡ, 1.457 cán bộ, đảng viên bị địch bắt và sát hại. Toàn miền Nam, đến cuối năm 1958, Mỹ - Diệm đã giết hại khoảng 68.000 cán bộ, đảng viên, bắt giam 466.000 người và tra tấn thành thương tật 680.000 người. 

Mặc dù che giấu sự thật tàn ác của Mỹ - Diệm trong các chiến dịch tố cộng, Bộ Quốc phòng Mỹ cũng phải thừa nhận: “Chiến dịch tố cộng bắt đầu từ mùa Hè năm 1955, có từ 50.000 đến 100.000 người bị bắt giam vào các trại tập trung, nhiều người bị giam giữ chẳng phải là cộng sản” 1

Ở Quảng Nam, Sài Gòn - Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh, Mỹ Tho là những nơi cách mạng bị thiệt hại nhiều nhất trong các đợt tố cộng, diệt cộng của Diệm. Nhiều đảng bộ, chi bộ cơ sở, số đảng viên bị địch bắt và giết gần hết, có chi bộ phải “lột xác” tới ba, bốn lần mới duy trì được hạt nhân lãnh đạo. Tư tưởng cán bộ, đảng viên diễn biến phức tạp, một số đồng chí bi quan, dao động. Đấu tranh chính trị đơn thuần không thể hạn chế được hành động đánh phá dã man của địch, không thể bảo vệ được cơ sở, không thể duy trì được phong trào, nhưng đấu tranh vũ trang tự vệ thì sợ sai với chủ trương của Đảng, v.v. .

Trong tình hình đó, đầu năm 1957, Liên khu uỷ V chủ trương chuyển một bộ phận đảng viên, cán bộ hoạt động bí mật ra đống hợp pháp để tổ chức hệ thống lãnh đạo hợp pháp trong lòng địch, kết hợp với hệ thống lãnh đạo không hợp pháp bên ngoài, lãnh đạo nhân dân đấu tranh. Việc ra công khai sống, hoạt động hợp pháp của cán bộ, đảng viên sẽ làm từng bước từ xã đến huyện, tỉnh, liên tỉnh.

Hầu hết cán bộ, đảng viên đều thấy chủ trương này khó thực hiện, nhưng vì chủ trương của Khu uỷ, nên phải miền cưỡng chấp hành.  Tỉnh Bình Thuận chuyển gần 500 cán bộ, đảng viên ra hợp pháp; Khánh Hoà chuyển 300 cán bộ ra hoạt động hợp pháp đều bị địch bắt và hy sinh. Bình Thuận số cán bộ hy sinh nhiều do tên Nguyễn Xuân Viên, Thường vụ Tỉnh uỷ ăn cắp vàng, tiền của cách mạng rồi chạy sang hàng ngũ địch khai báo.

Đây là một chủ trương sai lầm. Do đó, mới thực hiện trong thời gian ngắn đã bị tổn thất lớn: hơn 70% cấp uỷ xã, 60% huyện uỷ viên, 40% tỉnh uỷ viên các tỉnh đồng bằng hy sinh và bị bắt. Nhiều xã, huyện không còn cán bộ, đảng viên lãnh đạo. Việc chuyển cán bộ ra hợp pháp mãi đến năm 1958 mới có lệnh chấm dứt, nhưng đã bị thiệt hại lớn rồi, phải sửa sai, làm lại từ đầu để gây dựng phong trào.


_______________________
1. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Tlđd, t.1 , tr.74.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #12 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 10:59:25 PM »


Giữa lúc ta đang gặp khó khăn, sai lầm trong chủ trương đấu tranh thì Mỹ - Diệm đẩy mạnh các chiến dịch tố cộng, diệt cộng với những biện pháp nham hiểm, phát xít hơn.  Ngày 23-3-1959, Ngô Đình Diệm đưa ra Luật 10/59, công khai lê máy chém đi khắp nơi. Với luật này, chúng lập các toà án quân sự đặc biệt lưu động để xét xử, buộc tội những người yêu nước chỉ với hai hình thức tử hình và khổ sai chung thân.

Trong năm 1959, trên toàn miền Nam, chúng mở 279 cuộc hành quân, trong đó có 156 cuộc cấp từ tiểu đoàn đến sư đoàn. Năm 1960, chúng mở tới 2.185 cuộc hành quân (tăng gấp 8 lần so với năm 1959). Trọng điểm càn quét của địch tập trung chủ yếu vào các tỉnh thuộc miền Trung và Tây Nam Bộ như Bến Tre, Trà Vinh, Định Tường, Rạch Giá, Cà Mau và các vùng chiến khu của ta ở miền Đông Nam Bộ như chiến khu D, Dương Minh Châu, Long Nguyên, một số tỉnh xung quanh Sài Gòn, vùng giáp ranh giữa Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Chính sách tố cộng, diệt cộng tàn ác và những cuộc càn quét khủng bố đẫm máu của Mỹ - Diệm chỉ gây thêm căm thù trong nhân dân đối với chế độ. Đây là một trong những nguyên nhân chính nổ ra cơn bão táp cách mạng vào cuối năm 1959 đầu năm 1960.

Nằm trong chính sách xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ, bên cạnh việc xây dựng nguỵ quân, củng cố nguỵ quyền và thực hiện tố cộng, diệt cộng đánh phá phong trào cách mạng miền Nam, Mỹ thực thi một số chương trình cải cách về kinh tế nhằm làm cho kinh tế miền Nam phát triển ngày càng lệ thuộc vào Mỹ.

Điểm mấu chốt để thực hiện chính sách kinh tế là sử dụng viện trợ kinh tế làm đòn bẩy, tạo nên điểm tựa cho chủ nghĩa thực dân mới Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Nhưng Mỹ không viện trợ bằng đô la mà bằng hàng hoá, nói cách khác, đó là viện trợ thương mại hoá. Đây là cách làm cho hàng hoá Mỹ tràn ngập thị trường miền Nam, trong số đó, có cả hàng hoá vốn ế thừa ở Mỹ từ lâu không tiêu thụ được.

Trên danh nghĩa là hàng viện trợ của Mỹ cho Việt Nam, nên nhiều thứ hàng hoá được nhập tự do mà không phải đóng một loại thuế nội địa nào. Chính loại hàng này đã bóp chết một số ngành sản xuất hàng hoá ở trong nước, làm cho kinh tế miền Nam chẳng những không phát triển được mà còn mất cân đối nghiêm trọng. Tệ hại hơn, phần lớn hàng nhập vào miền Nam là hàng tiêu dùng, là nông sản phẩm - những thứ mà lẽ ra ở miền Nam có thể làm ra được để xuất khẩu.

Bằng viện trợ thương mại hoá, Mỹ làm cho kinh tế miền Nam ngày càng phụ thuộc vào Mỹ. Tờ Thời báo Việt Nam xuất bản ở Sài Gòn lúc đó đã đánh giá: “Viện trợ Mỹ không tới chúng ta dưới hình thức tài chính . . . chúng ta không nhận được đô la . . .  chúng ta nhận được hàng tiêu dùng. . . qua chương trình viện trợ thương mại hoá. Điều này đang làm cho chúng ta vĩnh viễn phụ thuộc vào viện trợ Mỹ” 1 .

Không chỉ sử dụng con bài viện trợ kinh tế làm đòn bẩy, nhằm tư bản hoá hình thức bóc lột ở nông thôn làm cơ sở tồn tại cho chủ nghĩa thực dân mới và tạo điều kiện thuận lợi để bình định nông thôn miền Nam, Mỹ - Diệm tiến hành chương trình cải cách điền địa. Chương trình này bắt đầu từ năm 1955 với Dụ số 2 (8-1-1955) và Dụ số 7 (3-2-1955). Cả hai dụ này đều xác định mối quan hệ giữa tá điền và chủ điền. Dụ số 2, nêu rõ tá điền phải nộp 15 đến 25% hoa lợi cho chủ điền, còn Dụ số 7, nêu quyền của điền chủ: “Có thể trở lại bất cứ lúc nào để tiếp tục thi hành khế ước” .

Ngày 22-10-1956, Diệm lại ra Dụ số 57, dụ này quy định mỗi địa chủ được giữ lại 100 ha ruộng đất. Số còn lại chính quyền Diệm sẽ “truất hữu” bằng cách mua lại để bán cho tá điền, phân chia “giúp tá điền trở thành điền chủ2.
 
Đây thực chất là một trò lừa bịp vì trong kháng chiến chống Pháp, nông dân miền Nam được cách mạng chia một phần rất lớn ruộng đất của địa chủ đã chạy vào vùng định tạm chiếm. Theo số liệu thống kê, chỉ tính Liên khu V, nông dân đã được cách mạng chia và tạm giao trên 750.000 ha ruộng các loại.

Việc phân phối lại ruộng đất như Diệm làm chẳng qua là nhằm xoá bỏ thành quả mà cách mạng đã đem lại cho nông dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, buộc người nông dân phải thừa nhận về mặt pháp lý quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ qua việc lập lại “khế ước tá điền”.


____________________________
1. Thời báo Việt Nam, số ra ngày 24-9-1960. 
2. Lâm Quang Huyên: Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1958, tr.34.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #13 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 11:00:52 PM »


Thâm hiểm hơn, Mỹ còn dùng viện trợ kinh tế thành lập Ngân hàng phát triển nông thôn, cho nông dân vay tiền sản xuất, tổ chức ra nông hội, các hợp tác xã mua bán nhằm ràng buộc nông dân vào chính quyền cơ sở, thông qua đó mua chuộc, lừa mị, lôi kéo nông dân, cô lập cách mạng. Đây là một thủ đoạn hết sức thâm hiểm của Mỹ - Diệm, bộc lộ bản chất phản động “giấu mặt trá hình” của chính sách thực dân mới ở nông thôn Việt Nam. 

Đồng thời với việc thực hiện chương trình cải cách điền địa, tháng 4- 1957, Mỹ - Diệm cho ra đời cái gọi là chính sách tái định cư và cứu tế dân di cư, bằng việc xây dựng các khu dinh điền. Núp dưới danh nghĩa là một tổ chức sản xuất nông nghiệp để giải quyết đời sống cho dân nghèo, đặc biệt là dân di cư từ miền Bắc vào, các dinh điền được thiết lập trên các vùng cao nguyên hẻo lánh và xung yếu dọc biên giới nhằm mục tiêu chủ yếu là xây dựng tuyến ngăn chặn từ xa, từng bước bao vây, cô lập cách mạng.

Chính Diệm - Nhu đã xác định : “Khu dinh điền là biện pháp xẻ đường đưa dân vào chiến khu, mật khu Việt cộng, dùng dân để đẩy cộng sản ra khỏi vùng đó, và dinh điền là nơi cung cấp tin tình báo, nơi xuất phát để hành quân ngăn chặn xâm nhập” 1.   

Còn Brâu – Trưởng Phái đoàn viện trợ kinh tế Mỹ thì tuyên bố. Phải làm cho các khu dinh điền trở thành những cứ điểm bao vây bọn Việt cộng. Với ý đồ như vậy, Mỹ - Diệm tổ chức bộ máy chỉ đạo để thực hiện chương trình này rất chặt chẽ và thống nhất từ trung ương đến địa phương. Tổng uỷ phủ di cư bị giải thể, thay vào đó là Tổng uỷ phủ dinh điền, đứng đầu là tổng uỷ trưởng (ngang bộ trưởng) . Tổng uỷ phủ có các nha: kỹ thuật, Tài chính, Định cư. . . và các ban An ninh, Thanh tra, Công chính... chịu trách nhiệm điều hành và vạch kế hoạch hành động.

Để dồn dân vào các khu dinh điền, Mỹ - Diệm một mặt ra sức tuyền truyền, mua chuộc, lừa mị nhân dân, mặt khác, chúng tăng cường khủng bố, cưỡng ép. Thậm chí chúng còn vin vào lý do quy hoạch, sắp xếp nhà cửa ở thành phố, thị xã để đẩy hàng trăm gia đình lên các dinh điền. 

Với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, sau gần hai năm thực hiện (từ tháng 4-1957 đến đầu năm 1959), trên toàn miền Nam, Mỹ - Diệm đã dồn được 128.374 người, trong đó có 90.436 người là dân di cư từ miền Bắc vào 84 khu dinh điền, khai phá 12.322 ha đất canh tác. Riêng Nam Bộ, chúng xây dựng được 7 khu gồm 47 điểm ở Phước Long, Kiến Phong, Kiến Tường, có cả những khu dành cho các gia đình binh sĩ nguỵ ở dọc biên giới huyện Mộc Hoá (Long An), Tân Uyên, Bời Lời (Thủ Dầu Một) . . .

Phần lớn dân chúng bị dồn ép, cưỡng bức vào các khu dinh điền, không chịu nổi cuộc sống khắc nghiệt, bị o ép mọi bề ở nơi rừng thiêng, nước độc này, nên cuối năm 1958, số bỏ trốn ngày càng tăng. Trước tình hình đó, Diệm đã từng bước thay thế mô hình khu dinh điền bằng khu trù mật, vận dụng rộng rãi ở cả vùng cao nguyên và đồng bằng. Mục tiêu đặt ra cho việc xây dựng các khu trù mật là nhằm bình định, khống chế dân, cô lập phong trào cách mạng ngay ở địa bàn cơ sở. 

Biện pháp chủ yếu để thực hiện chương trình xây dựng khu trù mật là dùng bạo lực đàn áp để dồn dân vào từng khu vực lớn, xung quanh có hàng rào, hệ thống hầm hào công sự, tháp canh để kiểm soát dân ra vào.

Tháng 3-1959, khu trù mật đầu tiên được Diệm làm thí điểm ở Vị Thanh - Hoà Lựu (Cần Thơ). Sau đó, chúng cho triển khai rộng ra các vùng. Mỗi khu trù mật tập trung 2.000 đến 3.000 dân, được tổ chức thành ba khu vực: Khu tập trung dân, khu công thương và khu hành chính, đặt dưới quyền quản lý của một liên cơ quan gồm cán bộ hành chính địa phương, chuyên viên kiến thiết và đại biểu quân sự. 

Tuy không bị đày ải tới những vùng rừng núi hoang vu như khu dinh điền, song dân trong các khu trù mật lại bị bộ máy chính quyền ở đây kiểm soát chặt chẽ, gắt gao. Đời sống của nhân dân trong các khu trù mật cơ cực không kém gì khu dinh điền. Nỗi bất bình của người dân đối với chế độ ngày một tăng. Chính vì vậy, khi phong trào đồng khởi nổ ra, các khu trù mật cũng bị phá hàng loạt.


____________________________
1. Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ - ngụy trên chiến trường B2, Sđd, tr.67.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #14 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 11:03:24 PM »


Như vậy, có thể nói chương trình cải cách kinh tế nói chung, cải cách điền địa nói riêng của Mỹ - Diệm thực chất chỉ là một trò lừa bịp, mị dân, một sự thay đổi về hình thức bóc lột. Nó chẳng những không làm cho kinh tế miền Nam phát triển, không mang lại quyền lợi gì cho đại bộ phận nông dân miền Nam, những người lao động chân chính, mà chỉ làm cho kinh tế miền Nam ngày càng lệ thuộc vào đế quốc Mỹ. Đây chính là mặt trái của chủ nghĩa thực dân mới về kinh tế.

Bộ Quốc phòng Mỹ đã thừa nhận: “Chương trình cải cách điền địa của Mỹ - Diệm không phải là phân chia ruộng đất cho người nghèo mà rút cuộc chỉ lấy lại những thứ Việt Minh đã chia để trả về cho địa chủ. Năm 1960, 75% đất đai vẫn nằm trong tay 15% dân số” 1.

Cùng với áp đặt chủ nghĩa thực dân mới về chính trị, quân sự kinh tế, Mỹ luôn coi văn hoá là một trong những công cụ quan trọng để xâm lược và nô dịch. Văn hoá thực dân mới được Mỹ tìm cách đưa vào Nam Việt Nam ngay trước khi Mỹ thế chân Pháp.

Bản tuyên bố về chính sách năm 1952 của Mỹ về các mục tiêu ở Đông Nam Á đã xác định: “Đối với các nước Đông Nam Á, nước Mỹ phải tăng cường các hoạt động tuyên truyền về văn hoá cho thích hợp với khu vực đó để thúc đẩy nhân dân ngày càng đến với thế giới tự do” 2.

Khi Mỹ đã trực tiếp nhảy vào Nam Việt Nam thì văn hoá Mỹ tràn ngập, khiến các báo chí xuất bản ở Sài Gòn hồi đó đã kêu lên: “Có thể trông thấy rất rõ tại miền Nam Việt Nam sự tràn ngập của phim ảnh, báo chí, ti vi Mỹ, sản phẩm Mỹ, sự mua chuộc các nhà trí thức, văn nghệ sĩ, ký giả . . . Sự xâm nhập vào các cơ quan giáo dục dưới hình thức cố vấn cũng là một hình thức xâm lăng văn hoá thô bạo của người Mỹ ở đây3

Để chỉ đạo và điều hành các hoạt động văn hoá ở miền Nam, ngay sau khi dựng lên chính quyền tay sai thực dân mới ở Sài Gòn, Mỹ đã đưa vào miền Nam nhiều đoàn cố vấn để giúp chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng hệ thống tổ chức và điều hành bộ máy thống trị văn hoá. 

Không chỉ làm cố vấn, Mỹ còn trực tiếp xuất bản một số tạp chí bằng tiếng Việt để tuyên truyền cho văn hoá Mỹ như Diễn đàn Mỹ, Đối thoại, Triển vọng, Hương quê, Thế giới tự do..., hoặc mua chuộc chủ bút của một số tờ báo, tạp chí tiếng Việt như Sáng tạo, Hiện đại, Thế kỷ XX, Gia đình, Nghiên cứu chính trị . . . để các báo này tuyên truyền tư tưởng văn hoá độc hại trong các tầng lớp nhân dân lao động ở miền Nam.

Các tổ chức văn hoá như Mặt trận bảo vệ tự do văn hoá, Hội Việt Nam văn hoá châu á , Hội văn hoá Việt Nam, Hội văn hoá Duy linh, Trung tâm văn hoá Việt Nam . . . cũng được chính quyền Sài Gòn cho phép thành lập. Mục đích không có gì khác là cổ suý cho văn minh, văn hoá Âu - Mỹ, chà đạp lên bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc.

Có thể nói, với hệ thống tổ chức hoạt động văn hoá khá chặt chẽ và những thủ đoạn lừa bịp, Mỹ - Diệm đã thực hiện một thứ văn hoá thực dân mới vô cùng độc hại ở miền Nam, lấy tư tưởng chống cộng làm mục tiêu chủ yếu. Với việc làm này, Mỹ -Diệm nhằm đánh vào truyền thống và bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta, đánh vào sức mạnh đoàn kết, thống nhất của nhân dân ta.

Là một bộ phận của văn hoá, giáo dục dưới chế độ của Mỹ - Diệm cũng được chúng biến thành công cụ để thống trị của chủ nghĩa thực dân mới. Nhiệm vụ của nền giáo dục mà Mỹ áp đặt ở miền Nam là: “Vũ trang cho thanh niên một tinh thần quốc gia mãnh liệt, một ý chí bền bỉ đấu tranh cho tự do, dân chủ4, nhằm hướng họ vào con đường chống cộng làm tay sai cho Mỹ.


____________________________
1. Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ, Sđd, tr.40.
2. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Tlđd, tr.74.
3. Lịch sử Việt Nam 1954-1955, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr.170.
4. Văn hoá nguyệt san - Sài Gòn, q. 3 - 4, tháng 4-1965, tr.438.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #15 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2009, 12:24:07 AM »


Khác giáo dục dưới thời chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp chỉ chú trọng việc đào tạo quan lại, viên chức, sĩ   quan. . . làm trung gian giữa bộ máy cai trị thuộc địa của Pháp với dân bản xứ, chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ đào tạo nhiều loại cán bộ tay sai cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát riêng. âm mưu của Mỹ muốn gạt bỏ tất cả ảnh hưởng của Pháp, nên đã từng bước xây dựng nền giáo dục mới theo kiểu Mỹ, đào tạo ra những con người trung thành với Mỹ, lệ thuộc vào Mỹ.

Đến đây, đế quốc Mỹ đã hoàn thành bước đầu việc áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới đối với nhân dân miền Nam, khác hẳn với chế độ thực dân cũ mà Pháp đã xây dựng trước đó: Chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm - một sản phẩm tất yếu của chế độ thực dân mới, đó là chính quyền phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá và ngoại giao. Chính quyền đó là cộng sự đắc lực của đế quốc Mỹ để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực hiện chia cắt lâu dài đất nước ta.

Với việc áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới, đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm đã vi phạm toàn bộ các điều khoản của Hiệp đinh Giơnevơ và Bản tuyên bô’ cuối cùng của 9 nước thành viên tham gia hội nghị, trong đó có Hoa Kỳ, tước mất quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân miền Nam Việt Nam, dồn họ vào bước đường cùng. Muốn sống, nhân dân miền Nam buộc phải đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai để tự giải phóng khỏi xiềng xích của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ. “Tức nước” ắt “vỡ bờ”, nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên đấu tranh chính trị, tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tự vệ và đồng khởi đánh thắng hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới thời Aixenhao.


II- ĐẤU TRANH ĐÒI ĐỊCH THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ,
GIỮ VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG


Ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương được ký kết. Các nước tham gia hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia.

Theo hiệp định, quân đội Pháp phải rút khỏi các nước Đông Dương. Tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức ở từng nước để thống nhất đất nước. ở Việt Nam, thời hạn để tổ chức tổng tuyển cử là tháng 7- 1956.  Hiệp định Giơnevơ đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam. Từ đây cuộc đấu tranh của nhân dân ta chuyển sang một giai đoạn mới với những đặc điểm mới. 

Một là, từ chiến tranh chuyển sang hoà bình. Nếu trước đây toàn bộ cuộc đấu tranh, toàn bộ công tác của ta đều tiến hành trong hoàn cảnh chiến tranh, thì nay: “Chúng ta công tác và phấn đấu trong hoà bình. Đó là một sự biến đổi rất lớn, ảnh hưởng tới toàn bộ công tác của chúng ta” 1

Hai là, Bắc, Nam tạm thời chia làm hai miền. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng thuộc về ta. Miền Nam từ chỗ có chính quyền, quân đội cách mạng, nay quân đội, cán bộ tập kết ra Bắc, chính quyền giải tán, phần đất từ nam vĩ tuyến 17 trở vào tạm thời do đối phương kiểm soát. Đất nước không còn trong tình trạng chiến tranh đối chọi nhau mà chuyển sang  đấu tranh hoà bình để thống nhất Tổ quốc. Đây cũng là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp.

Ba là, từ nông thôn chuyển vào thành thị, từ phân tán chuyển sang tập trung, miền Bắc có điều kiện cần thiết để kiến thiết một quốc gia hoàn chỉnh. Điều này đòi hỏi lãnh đạo phải tập trung, thống nhất. Đó “là một biến đổi lớn, đồng thời cũng là một cuộc đấu tranh gian khổ” . 

Bốn là, quan hệ giữa ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia cũng có những thay đổi. Tuy tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hữu nghỉ giữa ba nước vẫn không ngừng được tăng cường và củng cố, nhưng tình hình không phân biệt ranh giới trong chiến tranh không còn nữa, mối quan hệ ba nước phải đặt trên cơ sở mới.

Năm là, thế chân Pháp, đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm nhất của dân tộc ta. Đây là một tên đế quốc đầu sỏ có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn, nhất định chúng sẽ gây cho ta nhiều khó khăn gian khổ, hy sinh trên con đường đi tới thắng lợi cuối cùng.


_______________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.  Chính trì quốc gia, Hà Nội, 2001, t.15, tr.284-285.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #16 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2009, 12:29:53 AM »

Trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, từ ngày 15 đến ngày 17-7-1954, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhận định: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương” và “đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương” 1

Hội nghị đã sớm đề ra phương châm, sách lược đấu tranh của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn trước mắt là: “Chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện  hoà bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, củng cố hoà bình và thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc” 2 .

Hội nghị cũng lưu ý toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta:

“Đấu tranh để giành lấy và củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc là một quá trình đấu tranh gian khổ và phức tạp. Chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo trước mọi âm mưu của đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và phe lũ. Chúng ta phải ra sức đấu tranh đến cùng, luôn luôn bồi dưỡng và nâng cao tinh thần phấn đấu, nắm vững ngọn cờ hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang trong giai đoạn trước mắt” 3

Sau Hội nghị Giơnevơ, trước sự chuyển biến của tình hình, từ ngày 5 đến ngày 7-9-1954, Bộ Chính trị đã họp và ra nghị quyết: Về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng.

Trên cơ sở phân tích những đặc điểm và tình hình mới của cách mạng Việt Nam, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ của cách mạng nước ta là: “Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến. . . để củng cố hoà bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, đặng củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc” 4

Đối với miền Nam, Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn hiện tại là: “Lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến, củng cố hoà bình, thực hiện tự do, dân chủ (tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do đi lại...), cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập. Đồng thời phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống những hành động khủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng cách mạng, chống những hành động tiến công của địch, giữ lấy quyền lợi quần chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến, nhất là ở những vùng căn cứ địa và vùng du kích cũ của ta” 5.

Bộ Chính trị cũng chỉ rõ phương châm của ta lúc này là:

“Tranh thủ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp, kết hợp công tác hợp pháp với công tác không hợp pháp. Đối với các tổ chức quần chúng và tổ chức đảng thì cố tranh thủ cho được tồn tại hợp pháp và hoạt động hợp pháp. Hình thức đấu tranh kịch liệt (như khởi nghĩa và chiến tranh du kích) cần đình chỉ ngay; những hình thức như biểu tình, đình công, bãi khoá, bãi thị, v.v., cũng cần sử dụng một cách thận trọng và phải tiến hành trên nguyên tắc có lý, có lợi, có mức, đừng để bọn phản động khiêu khích và tạo cơ hội cho bọn thực dân Pháp phá hoại đình chiến và nguỵ quyền khủng bố” 6.

Trước yêu cầu phát triển mau lẹ của tình hình, Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1954 đã kịp thời chỉ ra phương hướng hành động cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta nói chung, ở miền Nam nói riêng. Nó thể hiện quyết tâm của toàn thể dân tộc ta trong cuộc đấu tranh để thống nhất Tổ quốc. Nhưng đây cũng là một nghị quyết có biểu hiện tư  tưởng hữu khuynh trong đấu tranh (phải “đình chỉ ngay” những cuộc đấu tranh du kích, khởi nghĩa) có tác động tiêu cực hạn chế các phong trào đấu tranh của nhân dân. 

Để phù hợp với tình hình mới, kịp thời chỉ đạo cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam, Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam, thành lập Xứ uỷ Nam Bộ và Liên khu uỷ Khu V trực thuộc Trung ương Đảng. Riêng hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị tạm thời giao cho Liên khu uỷ Khu V phụ trách.


_______________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 15, tr.225.
2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.227, 287.
5, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 15, tr.308, 310.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #17 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2009, 11:26:12 PM »


Tháng 10-1954, tại căn cứ Chắc Băng (Cà Mau), Hội nghị thành lập Xứ uỷ Nam Bộ được tổ chức. Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hữu Lầu, Hoàng Dư Hưởng, Phan Văn Đáng, Lê Toàn Thư, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Văn Linh, Phạm Thái Bướng, Nguyễn Minh Đường, Phạm Văn Xô, Phan Đức, Văn Viên được cử lành uỷ viên chính thức. Các đồng chí uỷ viên dự khuyết là Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt, Võ Văn Khánh. 

Tại hội nghị, đồng chí Lê Duẩn được cử làm Bí thư và Phạm Hữu Lầu, Phó Bí thư Xứ uỷ. Sau hội nghị, Nam Bộ được tổ chức thành ba liên tỉnh uỷ và Khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn.  Liên tỉnh uỷ miền Đông Nam Bộ do đồng chí Phan Đức (Hai Đức) làm Bí thư. Liên tỉnh uỷ miền Trung Nam Bộ do đồng chí Nguyễn Minh Đường (Sáu Đường) làm Bí thư. Liên tỉnh uỷ miền Tây Nam Bộ do đồng chí Phạm Thái Bướng (Ba Bướng) làm Bí thư. Khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư. Đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến được phân công phụ trách công tác quân sự ở Nam Bộ. 

Những tháng đầu năm 1955, đế quốc Mỹ ráo riết thực hiện mưu đồ thế chân Pháp, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam. Chính quyền Diệm, theo lệnh Mỹ ra sức phá hoại Hiệp đinh Giơnevơ, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử.  Trước tình hình đó, tháng 3-1955, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ bảy. Đây là hội nghị trung ương đầu tiên kể từ khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết.

Hội nghị nhấn mạnh: “Đế quốc Mỹ đang trực tiếp can thiệp vào miền Nam ngày càng sâu, đẩy dần thực dân Pháp xuống địa vị phụ thuộc. Chúng cấu kết với phái thực dân Pháp phản hiệp định và dựa vào bọn địa chủ phong kiến và tư sản mại bản phản động nhất ở nước ta do Ngô Đình Diệm đứng đầu, hòng phá hoại hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của nước ta, cụ thể là phá hoại kết quả của hiệp định đình chiến, phá hoại thống nhất của Việt Nam, chuẩn bị gây lại chiến tranh chống Đông D ương” 1 .

Hội nghị chỉ rõ: “Sách lược của ta hiện nay là: chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ; triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa Mỹ và Pháp, giữa bọn thân Mỹ và bọn thân Pháp, giữa phái thực dân Pháp thân Mỹ và những phần tử thực dân Pháp chống Mỹ; đoàn kết bất cứ người nào mà ta có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào mà ta có thể tranh thủ được trung lập bất cứ người nào mà ta có thể trung lập được, cốt nhằm phân hoá kẻ thù đến cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiếm thêm nhiều bạn cả trong nước và ngoài nước”2.

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy đề ra những công tác cụ thể cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải thực hiện trong năm 1955 là:

1. Tiếp tục đấu tranh để thi hành hiệp định đình chiến, củng cố hoà bình và tiến tới thực hiện thống nhất nước nhà bằng tổng tuyển cử tự do.

2. Củng cố miền Bắc về mọi mặt.

3. Giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam.

4. Thực hiện mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trong toàn quốc.

5. Đẩy mạnh công tác ngoại giao, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước bạn và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.

Năm tháng sau Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, tháng 8-1955, nhận thấy tình hình có những phát triển mới, Ban Chấp hành Trung ương triệu tập họp Hội nghị lần thứ tám.  Xem xét, phân tích những diễn biến ở miền Nam, một lần nữa Trung ương khẳng định:

“Kẻ thù cụ thể trước mắt của chúng ta hiện nay là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng. . .  Đế quốc Mỹ là kẻ thù đầu sỏ nguy hại nhất” 4. Nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của nhân dân ta lúc này là: “Đấu tranh kiên quyết và bền bỉ để thực hiện thống nhất nước nhà, đồng thời để củng cố hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh trở lại ở Đông Dương” 5.


______________________________
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 16, tr.206, 207.
3, 4. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Sđd, t. 16, tr.207, 571, 572.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #18 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2009, 11:28:11 PM »


Về vấn đề thống nhất đất nước, hội nghị chủ trương thực hiện thống nhất Việt Nam trên cơ sở độc lập và dân chủ và bằng phương pháp hoà bình. Đây là cuộc đấu tranh rất gian khổ và phức tạp nên Trung ương xác định thống nhất dần từng bước, nhưng cần nhận rõ “mỗi bước là một quá trình đấu tranh gay go” . Muốn giành được thắng lợi “cần phải mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trong toàn quốc, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình từ Bắc đến Nam” 1 .

Hội nghị thông qua cương lĩnh của Mật trận dân tộc thống nhất nhằm “Tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, giành thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” 2.

Hội nghị nhấn mạnh, muốn thống nhất nước nhà, “điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời phải giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam” 3.

Đường lối để củng cố miền Bắc là: “Củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội . . . Củng cố miền Bắc phải luôn luôn chiếu cố miền Nam . Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách rời” 4.

Trung ương đặc biệt lưu ý, mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, đoàn thể và quần chúng nhân dân phải khắc phục tư tưởng sai lầm cho rằng: “Để chiếu cố miền Nam nên hạ thấp yêu cầu củng cố miền Bắc. Đồng thời cũng đề phòng tư tưởng chỉ đơn thuần củng cố miền Bắc, không chú ý đến chiếu cố miền Nam một cách thích đáng” 5.

Cũng do Nghị quyết Trung ương đề ra “chiếu cố miền Nam” mà nhiều cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội thắc mắc, hoài nghi. Một câu hỏi đặt ra là cách mạng ở miền Nam là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước, tại sao lại “chiếu cố”? 

Trong khi đó cuộc chỉnh đốn tổ chức, sắp xếp biên chế trong quân đội năm 1958, ta giảm 8 vạn quân, trong đó bộ đội miền Nam ở Khu V, Nam Bộ tập kết nhiều trung đoàn, tiểu đoàn đánh giỏi, có uy tín trong nhân dân, quen thuộc địa hình chiến trường bị đưa về các nông trường quân đội làm kinh tế trong khi miền Nam đang cần họ.

Đây là chủ trương phù hợp với tình hình lúc bấy giờ nhưng còn những nhược điểm, hạn chế huy động sức mạnh cho miền Nam. Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống Mỹ - Diệm trong hoàn cảnh các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc đang thi hành chính sách chung sống hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau, đế quốc Mỹ giàu mạnh và ngoan cố quyết biến miền Nam nước ta thành một quốc gia riêng biệt chống cộng, lại có pháp lý của Hiệp đinh Giơnevơ ràng buộc trong chừng mực nhất định, nếu miền Bắc công khai ra mặt đấu tranh trực diện thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng.

Do vậy “chiếu cố miền Nam” là “sách lược của Đảng”, bảo đảm cho miền Bắc tham gia đấu tranh một cách bí mật, tránh kích thích địch gia tăng hành động quân sự quá sớm khi ta thưa chuẩn bị đầy đủ. Tuy nhiên, chiếu cố miền Nam đã hạn chế một phần sự chi viện cho miền Nam những năm đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ và chống địch tố cộng, diệt cộng, đến khi cách mạng miền Nam yêu cầu đưa đấu tranh vũ trang lên, thì ta không có đủ lực lượng tại chỗ, nên bỏ lỡ một số cơ hội giành thắng lợi lớn.

Mặc dù vậy, các nghị quyết Hội nghị Trung ương bảy và tám, Hội nghị Bộ Chính trị về cơ bản đã vạch ra đúng đường lối và chiến lược cách mạng Việt Nam nói chung, miền Nam nói riêng.

Dưới ánh sáng của đường lối cách mạng đó, nhân dân ta ở miền Nam ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết đã bước vào thời kỳ đấu tranh mới đói quyền dân sinh, dân chủ và hoà bình, đòi đối phương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ. Mở đầu cho phong trào đấu tranh này là những cuộc mít tinh, biểu tình có tính chất biểu dương lực lượng, hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ được ký kết, rầm rộ nổ ra ở khắp nơi trên toàn miền Nam.


____________________________
1, 2, 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 16, tr.573, 574, 576, 577.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Thành viên
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #19 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2009, 11:29:05 PM »


Ngày 1-8-1954, nhân ngày ngừng bắn ở Nam Bộ, 50.000 đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn mít tinh mừng hoà bình. Đây là cuộc mít tinh lớn đầu tiên nổ ra ở trung tâm chính trị lớn nhất miền Nam. Đó là tiếng sấm báo hiệu cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn mới: giai đoạn đấu tranh chính trị đòi địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ. 

Cùng với Sài Gòn - Chợ Lớn, tại các thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng trong ngày 1-8-1954, mít tinh, biểu tình cũng diễn ra sôi nổi. Ở Đà Nẵng, cuộc biểu tình lôi kéo tới 25.000 người tham gia, còn ở Huế, số người tham gia lên đến 15.000. 

Cũng trong ngày 1-8-1954, tại Sài Gòn, dưới sự chỉ đạo của Khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn, các đại biểu trí thức và lao động đã tập hợp nhau lại, lập ra tổ chức Phong trào bảo vệ hoà bình Sài Gòn - Chợ Lớn. Mục đích của phong trào, như lời hiệu triệu đã nêu rõ là nhằm làm cho hoà bình ở Đông Dương được củng cố, quyền tự do, dân chủ được bảo đảm, sự thống nhất nước Việt Nam được thực hiện bằng tổng tuyển cử tự do.


Phong trào đã thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp trí thức yêu nước và tiến bộ. Những trí thức nổi tiếng và có uy tín như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Giáo sư Phạm Huy Thông, Giáo sư Trần Kim Quang, Luật sơ Trịnh Đình Thảo, Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng. . . được cử vào Đoàn Chủ tịch của phong trào.

Không chi có trí thức, mà đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động thuộc các cơ sở sản xuất, các đoàn thể tiến bộ, các tổ chức quần chúng. . . cũng tham gia phong trào. Phong trào lan nhanh từ Sài Gòn ra Huế và các tỉnh khác ở miền Nam.  Phong trào còn có quan hệ với cả Uỷ ban quốc tế giám sát và kiểm soát đình chiến.

Trước sự phát triển mạnh mẽ và mau lẹ của phong trào, chính quyền Diệm hoảng sợ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, bắt giữ một số lãnh tụ của phong trào như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Giáo sư Phạm Huy Thông, Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng. . . Mặc dù vậy, nhân dân ta ở cả miền Nam và miền Bắc kiên quyết đấu tranh đòi Diệm phải trả tự do cho những người bị bắt. Dư luận thế giới cũng ủng hộ, lên án hành động khủng bố của Diệm.

Vì vậy, đã bốn lần Mỹ - Diệm đưa các chiến sĩ của Phong trào bảo vệ hoà bình Sài Gòn - Chợ Lớn ra toà, nhưng cả bốn lần chúng đều không dám công khai tuyên án. Chỉ tính trong tháng 12-1954 đã có 3.000 trí thức, 4.000 công, thương gia, 10.000 sinh viên ký kiến nghi đòi trả tự do cho những người trong Phong trào bảo vệ hoà bình bị bắt. Cùng với sự ra đời và hoạt động của Phong trào bảo vệ hoà bình, phong trào đấu tranh chống địch khủng bố, tàn sát những người kháng chiến cũ cũng diễn ra hết sức quyết liệt. 

Tại Bến Tre, ngày 13-9-1954, hơn 1 vạn nông dân của 6 xã thuộc huyện Mỏ Cày biểu tình chống chính quyền Diệm khủng bố. Địch xả súng bắn vào đoàn biểu tình làm 1 1 người chết, 36 người bị thương. Chúng bắt đi 200 người. Căm phẫn trước hành động dã man của kẻ thù, hàng vạn đồng bào huyện Mỏ Cày, Bình Đại xuống đường biểu tình hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ - Diệm khủng bố nhân dân”, “Mỹ - Diệm phải tôn trọng Hiệp định Giơnevơ”. Quân của Diệm bắn chết 5 người, làm bị thương 17 người, bắt đi 30 người.  Không khí đấu tranh càng thêm sôi sục. Cuộc đấu tranh lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả Nam Bộ.

Ở Khu V, ngày 15-9- 1954, 5.000 đồng bào Kinh, Thượng - huyện An Khê biểu tình chống địch khủng bố, đàn áp. Tại các tỉnh Trung Bộ, đấu tranh chống Mỹ - Diệm khủng bố diễn ra khắp nơi. Ngày 21-1 1-1954, nhân dân xã Tịnh Thiện, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi lợi dụng mâu thuẫn giữa các nhóm tay sai ở địa phương đã bao vây, bí mật thủ tiêu 8 tên cảnh sát nguỵ từ quận Sơn Tịnh kéo xuống xã khủng bố nhân dân.

Bên cạnh phong trào bảo vệ hoà bình và đấu tranh chống định khủng bố, một số phong trào đấu tranh khác nổi lên ở nhiều nơi, tập hợp được đông đảo quần chúng tham gia như: phong trào đoàn kết giúp đỡ chống đói và đấu tranh đòi chính quyền Diệm cứu đói của nhân dân Quảng Trị - Thừa Thiên; phong trào cứu tế nạn nhân bị tai nạn do Diệm gây ra trong các cuộc xung đột với giáo phái ở Sài Gòn; phong trào chống cướp đất đuổi nhà; phong trào chống các trò hề “trưng cầu dân ý”, “bầu cử quốc hội”; phong trào đấu tranh của công nhân lao động đòi quyền dân sinh, dân chủ, đòi cải thiện đời sống và tôn trọng tự do nghiệp đoàn . . .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM