UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 12:30:55 AM » |
|
Tên sách: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 11: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975.Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia Năm xuất bản: 2005 Số hoá: ptlinh, UyenNhi05 Ban chủ nhiệm: Thiếu tướng PGS TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG Đại tá TS. LÊ ĐÌNH SỸ Đại tá TRẦN BÍCH
Chủ biên: Trung tướng GS, TS. HOÀNG PHƯƠNG Đại tá NGUYỄN VĂN MINH
Phân công biên soạn: Đại tá NGUYỄN VĂN MINH: Chương IV, Mở đầu và Kết luận Đại tá TS. HỒ KHANG: Chương II Thượng tá Ths. NGUYỄN XUÂN NĂNG: Chương I và Chương III CHÚ DẪN CỦA NHÀ XUẤT BẢN Nhân kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc (30-4-1975 - 30-4-2005). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản tập 11 trong bộ sử lớn Lịch sử quân sự Việt Nam với tiêu đề Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Bằng phương pháp lịch sử và lôgíc, các tác giả đã cố gắng tái hiện các sự kiện lịch sử chính yếu cuộc chiến đấu của dân tộc ta trong 21 năm ròng rã chống lại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vừa khái quát vừa tương đối đầy đủ trong bốn chương của cuốn sách. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 3 năm 2005 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #1 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 12:33:53 AM » |
|
MỞ ĐẦU Việt Nam nằm ở gần giữa khu vực châu Á, uốn hình chữ S hoa, phần cong hướng ra biển, trải dài từ chòm Lũng Cú ở phía bắc đến tận mũi Cà Mau ở phía nam. Diện tích đất liền tính số tròn 330.000 km2. Dân số những năm đầu thế kỷ XX xấp xỉ 30 triệu người, gồm 54 dân tộc trong cộng đồng người Việt chung sống hoà thuận, sát cánh bên nhau chống thiên tai và giặc ngoại xâm xây đắp nên non nước Việt Nam thống nhất toàn vẹn. Việt Nam đất không rộng, người không đông, nhưng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên trên lãnh thổ nước ta thực vật và động vật vô cùng phong phú, đa dạng về chủng loại và giống loài. Trong lòng đất và thềm lục địa có nhiều khoáng sản, nhiều loài san hô quý hiếm và hàng trăm loài cua, tôm, cá, đồi mồi sinh sống đem lại nguồn lợi lớn cho đất nước, nhất là những nguyên liệu chiến lược, cần thiết cho công nghiệp như thiếc, ăngtimoan, tungxten. . . là những kim loại quý. Nằm trên đường hàng hải chiến lược và đường không trực tiếp nối liền ấn Độ Dương và Thái Bình Dương với các quần đảo của châu Đại Dương, Việt Nam giữ vị trí xung yếu trên ngã tơ đường biển quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Lợi thế địa - chính trị ấy cũng đồng thời là những thách thức gay gắt đối với bản lĩnh dân tộc. Chi tính từ thế kỷ thứ X (sau công nguyên) đến những thập niên của đầu thế kỷ XX, nhân dân ta đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống xâm lược để bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc, bảo vệ nòi giống Lạc Hồng. Từ trong nhũng cuộc chiến đấu chính nghĩa ấy của nhân dân ta đã hun dúe nên truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng Việt Nam. Đặc biệt, đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí linh - người anh hùng dân tộc vĩ đại đã lãnh đạo toàn dân Việt Nam làm cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Người đã cùng Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo quân và dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong hoàn cảnh so sánh lực lượng ta yếu hơn địch và cuối cùng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp đinh Giơnevơ, rút quân khỏi Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Đây là “lần đầu tiên trong lịch sử một nước thuộc địa nhỏ, yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi vẻ vang của các lực lượng hoà bình dân chủ và chủ nghĩa xã hội toàn thế giới” 1. Đây cũng là lần đầu tiên về mặt pháp lý quốc tế, thế giới công nhận một nước Việt Nam độc lập, có chu quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không thể chia cắt. Song. do tình hình chính trì thế giới phức tạp, tuy ta chiến thắng, nhưng so sánh lực lượng trên bình diện chiến lược cũng như trên chiến trường ta chưa mạnh hơn hẳn địch trong khi đó đế quốc Mỹ đang tìm cách can thiệp xâm lược Việt Nam, các nước lớn trong phe ta lại có sự thoả hiệp ép ta ký Hiệp đinh Giơnevơ, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới chia đôi đất nước. Tuy hiệp định quy định vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời, không được coi là ranh giới chính trị hay lãnh thổ, nhưng đế quốc Mỹ đã lợi dụng sự suy yếu của Pháp phá hoại Hiệp đinh Giơnevơ, xâm lược miền Nam Việt Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Cuộc “chiến tranh đơn phương” do Mỹ tiến hành bắt đầu diễn ra rất quyết liệt ở phần phía nam của Tổ quốc. Hoà bình chưa được vãn hồi. Nỗi đau chia cắt lại trùm lên cả dân tộc. Sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước của nhân dân ta chưa hoàn thành. Cuộc đấu tranh còn phải tiếp tục. Lúc này, nhân dân Việt Nam vừa phải lo hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, đưa miền Bắc bước vào chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa đấu tranh giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. thực hiện hoà bình, thống nhất nước nhà. Dưới mắt của đế quốc Mỹ, một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa là trở lực lớn của chung trên con đường bành trướng xuống khu vực Đông Nam châu Á giàu tài nguyên thiên nhiên. Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp kết thúc mà phần thắng thuộc về nhân dân Việt Nam. Đế quốc Mỹ bàng hoàng lo sợ “cộng sản kiểm soát toàn bộ vùng Đông Nam Á sẽ làm cho vị trí của Mỹ ở cái mắt xích gồm các đảo ngoài khơi Thái Bình Dương trở nên mong manh và sẽ phá hoại nghiêm trọng lợi ích an ninh cơ bản của Mỹ ở Viễn Đông” 2. Đó là lời lẽ nguỵ biện lộ rõ bản chất xâm lược của một tên sen đầm quốc tế. Âm mưu của đế quốc Mỹ là bằng mọi giá phải chiến cho được miền Nam Việt Nam làm căn cứ quân sự, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tràn xuống Đông Nam Á, giữ các nước còn lại trong quỹ đạo của Mỹ. _____________________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 10, tr. 12.2. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, VNTTX dịch, phát hành tháng 8-1971, t.1, tr. 39.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Sáu, 2009, 12:43:39 AM gửi bởi UyenNhi05 »
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #2 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 12:35:49 AM » |
|
Cuộc vũ trang xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, xét về quy mô tập trung lực lượng, vũ khí, phương tiện kỹ thuật chiến tranh, về tính chất hiện đại và ác liệt tăng theo thời gian 21 năm với năm chiến lược quân sự, là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất trong thế kỷ XX. Đế quốc Mỹ còn vận động 34 nước đồng minh của Mỹ tham gia đóng góp lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, trang bị kỹ thuật, huấn luyện, cho Mỹ sử dụng lãnh thổ làm căn cứ tiến hành chiến tranh xâm lược; và năm nước đưa quân chiến đấu sang Việt Nam: Nam Triều Tiên, Ôtxtrâylia (Úc), Thái Lan, Philíppin, Niu Dilân (Tân Tây Lan), Tây Ban Nha và Đài Loan cũng đưa sang Việt Nam 43 cố vấn, chuyên gia giúp Mỹ. Do đó, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và đồng minh của Mỹ lúc đầu là cuộc chiến đấu không cân sức.
Quá trình xâm lược Việt Nam, những thành tựu khoa học kỹ thuật quân sự nước Mỹ đạt được trong thế kỷ XX đều được đế quốc Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt Nam (trừ vũ khí nguyên tử) theo hướng cuộc chiến tranh tăng cường tư bản 1. Vì thế, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc chiến đấu dài ngày nhất. gian khổ, ác liệt nhất, phức tạp nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Chống lại đế quốc Mỹ, một tên đế quốc đầu sỏ giàu mạnh nhất thế giới, hung hãn, liều lĩnh và bịp bợm, xảo quyệt, cầm đầu phe đế quốc là chuyện “động trời”, khiến cho cả loài người tiến bộ hồi hộp, lo âu!
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta lại diễn ra trong bối cảnh ba dòng tháp cách mạng thế giới đang ở thế tiến công, nhưng phe xã hội chủ nghĩa lại xuất hiện những bất hoà, dẫn đến mâu thuẫn về đường lối ngày càng sâu sắc - nhất là hai nước lớn Liên Xô, Trung Quốc. Tuy Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đều thống nhất chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam nhưng đường lối đấu tranh, phương pháp cách mạng của Liên Xô - Trung Quốc và một số nước xã hội chủ nghĩa khác không thống nhất đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng ta. Các đảng và các nước anh em - nhất là hai nước lớn - muốn giữ cách mạng trong thế thủ để duy trì đường lối chung sống hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau.
Tình hình đó đã tác động không nhỏ đến cuộc kháng chiến của nhân dân ta, làm cho ta vừa có thuận lợi lại vừa có khó khăn lớn. Mỹ là đế quốc giàu mạnh nhất thế giới, rất ngoan cố xảo quyệt, quyết chiếm bằng được miền Nam nước ta, trong khi ta chưa đủ mạnh, phải vừa đánh, vừa xây dựng lực lượng, tích luỹ kinh nghiệm, vừa tranh thủ sự ủng hộ của các nước anh em để tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh thắng địch từng bước, tiến lên đánh thắng địch hoàn toàn. Vì vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta diễn ra liên tục trong 21 năm và được phân chia thành năm thời kỳ (périod Time):
- Thời kỳ thứ nhất, từ tháng 7-1954 đến hết năm 1960: Đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam thông qua bộ máy cai trị độe tài phát xít Ngô Đình Diệm. Nhân dân ta vừa đấu tranh đòi địch phải thi hành Hiệp đinh Giơnevơ 1954, vừa giữ gìn và tích trữ lực lượng, tạo thời cơ, tiến lên cao trào đồng khởi giành chính quyền ở nông thôn.
- Thời kỳ thứ hai, từ năm 1961 đến giữa năm 1965: Đế quốc Mỹ phát động cuộc chiến tranh đặc biệt quyết tiêu diệt lực lượng cách mạng và bình định miền Nam Việt Nam. Nhân dân ta tiến hành chiến tranh cách mạng, đánh thắng chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ.
- Thời kỳ thứ ba, từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968: Đế quốc Mỹ thực hành chiến lược chiến tranh cục bộ, đưa quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam, mở các cuộc phản công chiến lược hòng giành lại thế chủ động chiến trường và cứu ngụy quân, ngụy quyền khỏi sụp đổ, đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa. Quân - và dân ta đẩy mạnh chiến tranh nhân dân đánh thắng cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, buộc đế quốc Mỹ phai xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán với ta tại Pa ri.
- Thời kỳ thứ tư, từ đầu năm 1969 đến tháng 1-1973: Đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào. Quân và dân ta cùng với bạn đánh thắng địch trên chiến trường Đông Dương và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ hai của đế quốc Mỹ, đặc biệt là đánh thắng cuộc tập kích đường không vào Hà Nội, Hải phòng bằng máy bay B52 trong 12 ngày đêm tháng 12-1972, buộc Mỹ phải ký Hiệp đinh Pari, chấm dứt chiến tranh. lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ta giành dược tháng lợi quyết định.
- Thời kỳ thứ năm, từ tháng 1-1973 đến tháng 4-1975: Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược Việt Nam hóa, ủng hộ chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pa ri. Ta đấu tranh buộc địch thi hành hiệp định, đánh thắng các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định của quân đội Sài Gòn, tạo thế, tạo lực mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy, giành toàn thắng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
___________________________ 1. Chiến tranh tăng cường tư bản: Khi các máy móc, phương tiện kỹ thuật hiện đại, vũ khí công nghệ cao được sử dụng nhiều hơn sức lao động của người lính ở chiến trường thì gọi là tăng cường tư bản. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ là cuộc chiến tranh tăng cường tư bản.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Sáu, 2009, 12:43:10 AM gửi bởi UyenNhi05 »
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #3 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 12:37:32 AM » |
|
Cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vô cùng phức tạp và ác liệt. Thời kỳ sau tính chất phức tạp, ác liệt hơn. tinh vi hơn thời kỳ trước trên nhiều bình diện. Vì “thua keo này” đế quốc Mỹ “bày keo khác” xảo quyệt hơn cường độ chiến tranh tăng lên gấp bội, vì chúng quyết tâm giành thắng lợi trên thế mạnh, áp đặt ý muốn của chúng cho nhân dân Việt Nam.
Song, sự xảo quyệt và ngoan cố của Mỹ không làm lay chuyển ý chí của nhân dân Việt Nam được giác ngộ lý tưởng cách mạng cao, có tinh thần yêu nước nồng nàn và tinh thần cảnh giác cách mạng thường trực, không phút lơi là. Trong từng thời kỳ chiến tranh, đế quốc Mỹ dù đã cố gắng tối đa nhưng vẫn bị thất bại nặng nề, chúng luôn luôn ở thế bị động chống đỡ. Càng lao sâu vào cuộc chiến tranh, càng cố tăng quân, tăng phương tiện kỹ thuật hiện đại, đế quốc Mỹ càng mắc kẹt vào thế trận của chiến tranh nhân dân Việt Nam, nên chúng không đảo ngược được chiều hướng đang thua của chúng.
Kết quả là mùa Xuân năm 1973 “Mỹ cút”, mùa Xuân năm 1975 “ngụy nhào”. Miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Nước Việt Nam độc lập hoà bình. một năm sau thì thống nhất nước nhà về mặt nhà nước; không có cuộc “tắm máu” như Mỹ tuyên truyền. Sự kiện lịch sử này làm chấn động địa cầu, làm thế giới kinh ngạc.
Thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn cửa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thiên anh hùng ca bất diệt của nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” 1.
Vì thế, cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam trở thành một đề tài lịch sử lớn, nghiên cứu tái hiện được như nó có là vô cùng quan trọng và cần thiết không chỉ cho hôm nay, mà cả cho ngày mai vì sự trường tồn của Tổ quốc và dân tộc.
Những vấn đề về nguyên nhân chiến tranh; về cuộc đấu trí, đấu lực giữa Việt Nam và Hoa Kỳ; về những nhân tố đưa đến thành công hoặc thất bại của mỗi bên tham chiến; về nguyên nhân thắng lợi của người Việt Nam và tác động của kết quả cuộc chiến tranh đối với thế giới đương đại, v.v. vẫn còn là những đề tài hấp dẫn, thu hút nhiều nhà khoa học chính trị quân sự tiếp tục nghiên cứu.
Trên tinh thần tôn trọng sự thật, khách quan, khoa học và vì trách nhiệm đối với lịch sử, với đồng đội, đồng chí và đồng bào đã ngã xuống cho cuộc kháng chiến thắng lợi, các tác giả nghiên cứu, tái hiện một cánh khái quát, hệ thống 21 năm chiến đấu anh hùng, mưu trí và đầy sáng tạo của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời cố gắng phân tích, lí giải, làm rõ những nhân tố cơ bản góp phần tạo nên sức mạnh kháng chiến thắng lợi trong tập 1 1 và tập 12, của bộ Lịch sử quân sự Việt Nam.
Tập 11 viết diễn biến cụ thể và khái quát cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 21 năm, được chia làm bốn chương, mỗi chương gói trọn các sự kiện của một thời kỳ lịch sử. Riêng Chương II gồm cả hai thời kỳ từ khi Mỹ phát động cuộc chiến tranh đặc biệt rồi leo thang thành cuộc chiến tranh cục bộ ở đỉnh cao, bị đánh bại, chúng buộc phải xuống thang chiến tranh.
Trong hai thời kỳ này, quân dân Việt Nam thực hiện phương châm thắng địch từng bước, đánh thắng từng hình thức chiến thuật, chiến lược của địch, tiến lên giành thắng lợi quyết định. Cả hai hình thức chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến lược chiến tranh cục bộ hợp thành một chiến lược chung - chiến lược chiến tranh chông nổi dậy, một trong hai bộ phận hợp thành chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt của đế quốc Mỹ thời Kennơđi và Giônxơn.
Tập thể tác giả đã cố gắng tiếp cận đến chân lý khách quan của lịch sử để mong góp phần cùng bạn đọc quan tâm đến lịch sử đi sâu nghiên cứu “cuộc đụng đầu lịch sử” không tuyên bố giữa Việt Nam với đế quốc Mỹ xâm lược cùng bè lũ tay sai để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm hữu ích.
________________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật. Hà Nội, 1977, tr. 5-6.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Sáu, 2009, 12:39:47 AM gửi bởi UyenNhi05 »
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #4 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 10:06:07 PM » |
|
Chương I
ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ PHÁ HOẠI HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ, ÁP ĐẶT CHỦ NGHĨA THỰC DÂN MỚI, TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI I- ĐẾ QUỐC MỸ PHÁ HOẠI HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ, XÂM LƯỢC MIỀN NAM BẰNG CHỦ NGHĨA THỰC DÂN MỚINhững năm 50 của thế kỷ XX, đế quốc Mỹ đã toan tính nhảy vào Việt Nam nhưng vì lúc đó thực dân Pháp - đồng minh của Mỹ đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương lần thứ nhất. Bởi vậy, Mỹ đành can thiệp bằng cách viện trợ tiền của, vũ khí, kỹ thuật quân sự cho Pháp. Tính ra viện trợ của Mỹ chiếm 78,2o/o tổng chi phí chiến tranh Đông Dương của Pháp. Bằng viện trợ, đế quốc Mỹ hy vọng Pháp sẽ kéo dài cuộc chiến tranh tạo cho Mỹ cơ hội tốt nhất để thay chân Pháp. Điều này được thê hiện trong Bị vong lục về Đông Nam Á của Mỹ: 1. Chính sách của Mỹ là không chấp nhận điều gì khác ngoài thắng lợi về quân sự ở Đông Dương. 2 . Lập trường của Mỹ là tranh thủ sự ủng hộ của Pháp đối với lập trường này nếu không được như vậy thì Mỹ sẽ kiên quyết phản đối mọi thương lượng về Đông Dương tại Giơnevơ. 3. Trong trường hợp không thực hiện được điều hai nói trên thì Mỹ sẽ đề ra các biện pháp cấp bách với chính phủ các nước liên kết nhằm tiếp tục cuộc chiến tranh ở Đông Dương mà không có sự ủng hộ của Pháp, nếu cần thiết 1. Mỹ chưa kịp hành động theo lập trường trên đây thì Điện Biên Phủ thất thủ, 16.000 sĩ quan, binh lính Pháp và Âu - Phi bị chết, bi thương và bị bắt làm tù binh, rồi Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương được ký kết. Chiến thắng của Việt Nam đã dội về nước Mỹ như một tin sét đánh, làm cho cả Nhà Trắng và Lầu Năm Góc bàng hoàng, sửng sốt. Những người cầm đầu nước Mỹ lúc đó lo sợ: “ Mất Đông Dương sẽ gây nguy hiểm cho nền an ninh của Hoa Kỳ. Quyền kiểm soát của cộng sản ở Đông Dương sẽ đe doạ các nguồn nguyên hếu thiết yếu, làm yếu lòng tin của các quốc gia Đông Nam Á” 2. Lời lẽ trên đây của Mỹ là sự lừa bịp trắng trợn, thể hiện bản chất phản động, xâm lược của tên sen đầm quốc tế tự cho mình cái quyền áp đặt ý muốn của họ cho các dân tộc trên thế giới. Việt Nam và Đông Dương độc lập, hoà bình, thống nhất không bao giờ là mối đe doạ nền an ninh nước Mỹ cách nủa vòng trái đất. Chính trong thời điểm này, chiến lược quân sự của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương đang chuyển trọng tâm từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam á mà tiêu điểm là Việt Nam và Đông Dương. Nghị quyết của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ NSC-124/2 ngày 25-6-1952 đã xác định Đông Dương là khu vực có tầm quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Mỹ phải bảo vệ Đông Nam Á bằng cách ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản từ Việt Nam, Đông Dương tràn xuống. Để thực hiện âm mưu xâm lược và chính sách bành trướng của Mỹ trên đây, trước 13 ngày Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam và Đông Dương được ký kết, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về Nam Việt Nam làm thủ tướng bù nhìn thay Bửu Lộc, coi như việc đã rồi. Vậy mà ngày 27-7-1954 để lừa bịp dư luận trong nước và thế giới, ông Biđôn Mít (Walter Bedell Smith), Trưởng phái đoàn Mỹ tại Hội nghị Giơnevơ tuyên bố lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ là ghi nhận các thoả hiệp quân sự và Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị ngày 21-7-1954 và hứa: Sẽ không dùng đến vũ lực để làm tổn hại đến các văn kiện ấy 3. ____________________________ 1. Xem: Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mv về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, t.1, tr. 46-47.2. Văn kiện 15 Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, ngày 5-8-1953. Tài liệu mật Lầu Năm Góc Mỹ, Trung tâm Thông tin Khoa học kỹ thuật - Bộ Quốc phòng dịch . 3. Xem: Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ..., Sđd, t. 1, tr.60.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #5 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 10:08:15 PM » |
|
Cùng lúc đó ở Oasinhtơn, Tổng thống Mỹ Aixenhao lại tuyên bố với báo chí rằng: Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Giơnevơ và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy. Rõ ràng những tuyên bố của Hoa Kỳ hoàn toàn trái ngược nhau, nhằm để che đậy việc làm phi nghĩa của họ.
Trong khi nhân dân ta ở miền Bắc cũng như miền Nam tích cực thực hiện những quy định của Hiệp định Giơnevơ và Tuyên bố cuối cùng của hội nghị, như chuyển quân tập kết, tiếp quản những vùng quân Pháp rút đi và bàn giao những vùng cách mạng quản lý trong kháng chiến cho quân đội liên hiệp Pháp, thì đế quốc Mỹ tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ, từng bước ép Pháp rũ bỏ trách nhiệm một bên thi hành hiệp định, nhảy vào miền Nam thay Pháp, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới Mỹ, thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.
Việc phá hoại Hiệp đinh Giơnevơ đầu tiên của Mỹ là tiếp sau vụ dựng Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng bù nhìn, chúng lập ra “Uỷ ban di cư Bắc Việt” để vận động và cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam và dùng biệt kích, gián điệp phá hoại các công trình công cộng, gây rối loạn trật tự an ninh miền Bắc.
Lợi dụng Pháp bị suy yếu vì cuộc chiến tranh Việt Nam và đang mắc kẹt trong cuộc chiến tranh Angiêri, nền kinh tế kiệt quệ, đế quốc Mỹ ép Pháp phải thực hiện các điều khoản mà Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ đưa ra ngày 8-8-1954:
1. Mỹ trực tiếp viện trợ cho Ngô Đình Diệm không qua tay Pháp.
2 . Mỹ trực tiếp chỉ huy và huấn luyện quân đội nguỵ miền Nam.
3. Buộc Pháp phải rút hết quân khỏi Nam Việt Nam.
4. Loại bỏ Bảo Đại và những ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam.
Sau khi Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ đưa ra bốn chính sách lớn này đúng một tháng, Mỹ lôi kéo các nước đồng minh ký Hiệp ước Manila (Philíppin) lập ra tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO)1 và đặt Việt Nam, Lào, Campuchia dưới sự bảo hộ của tổ chức này. Thực chất, đây là một liên minh chống cộng khu vực mà Mỹ dựng lên làm chỗ dựa cho chúng xâm lược Việt Nam.
Ngày 17- 11- 1954, Côlin, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ được cử sang Sài Gòn làm đại sứ, thực thi chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, Cô lin đề ra kế hoạch sáu điểm:
1. Bảo trợ chính quyền Diệm, viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài Gòn không qua tay Pháp.
2. Xây dựng lại “Quân đội quốc gia” Việt Nam 15 vạn quân do Mỹ huấn luyện, trang bị.
3. Bầu cử Quốc hội Việt Nam để hợp pháp hoá chính quyền Sài Gòn.
4. Định cư cho số công giáo miền Bắc di cư và vạch kế hoạch cải cách điền địa.
5. Thay đổi chế độ thuế khoá, dành ưu tiên cho hàng hoá Mỹ vào miền Nam Việt Nam.
6. Đào tạo cán bộ hành chính cho Diệm.
Tháng 12- 1954, tướng Êly, Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp thay mặt Chính phủ Pháp đã ký với Cô lin, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn thoả hiệp cam kết cùng lo việc huấn luyện cho quân nguỵ, song trên thực tế, việc này hoàn toàn do tướng Ô Đanien, Trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) đảm nhiệm thực hiện.
Tháng 1- 1955, Ngô Đình Diệm gửi công hàm cho Cô lin, yêu cầu từ nay, Hoa Kỳ đảm trách hoàn toàn vấn đề tổ chức và huấn luyện quân đội, chỉ có tướng Ô Đanien là người chịu trách nhiệm huấn luyện cho các lực lượng quân đội.
____________________________ 1. Khối SEATO gồm các nước Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Thái Lan, Philíppin, Pakitstan, do Mỹ cầm đầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #6 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 10:10:25 PM » |
|
Ngày 25-4-1956, Bộ Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương phải giải tán. Quân đội liên hiệp Pháp rút dần khỏi Nam Việt Nam, rũ bỏ trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954, mà Pháp là một bên đã ký kết. Đến cuối tháng 6-1956, toàn bộ quân viễn chinh Pháp rút hết, chấm dứt vĩnh viễn vai trò của Pháp ở Việt Nam .
Cùng với việc gạt Pháp, Mỹ tìm mọi cách tiêu diệt các thế lực thân Pháp nhằm xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của Pháp, xây dựng cơ cấu chính trị, quân sự trung thành với Mỹ. Để làm việc này, Mỹ không từ một thủ đoạn thâm hiểm nào, từ dùng địa vị, vật chất để mua chuộc, lôi kéo đến dùng sức ép chính trị để gạt bỏ, dùng sức mạnh quân dội để tiêu diệt. . .
Đối với bộ máy nguỵ quân, nguy quyền cũ, khi Pháp bị gạt bỏ thì không còn cơ sở để tồn tại. Lúc này, lực lượng nguỵ quân thân Pháp tập hợp xung quanh Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham mưu trưởng quân nguỵ ra sức chống Diệm. Trong hai tháng 10 và tháng 11-1954, lực lượng này đã ba lần mưu toan lật đổ Diệm nhưng không thành.
Trước tình hình đó, Mỹ ép Pháp thông qua Bảo Đại buộc tướng Nguyễn Văn Hinh phải rời ghế Tổng Tham mưu trưởng để sang Pháp cư trú chính trì. Tháng 10-1955, Mỹ lại bày trò trưng cầu dân ý phế truất Bảo Đại, đưa Diệm lên làm Tổng thống chính quyền Sài Gòn.
Bên cạnh lực lượng nguy quân, một đối thủ khá lợi hại của Mỹ - Diệm trong những năm đầu tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam là lực lượng vũ trang của các giáo phái thân Pháp. Lực lượng này bao gồm quân Bình Xuyên (5.000 - 8.000 cảnh sát, 2.500 binh lính vũ trang) đang khống chế Sài Gòn và các vùng phụ cận; tín đồ Cao Đài có vũ trang (15.000 - 20.000) chiếm các vùng tây bắc Sài Gòn; lực lượng vũ trang Hoà Hảo (10.000 - 15.000) kiểm soát một số khu vực ở đồng bằng sông Cửu Long.
Đây là lực lượng được Pháp nuôi dưỡng và cho hưởng đặc quyền cát cứ ở một số địa phương. Quyền lợi của họ gắn liền với Pháp. Lúc đầu, Mỹ chủ trương dùng biện pháp mềm dẻo, vừa mua chuộc, dụ dỗ, vừa đe doạ để phân hoá, lung lạc, lôi kéo lực lượng Bình Xuyên, Cao Đài, Hoà Hảo đứng về phía Diệm. Kết quả, nhóm Cao Đài liên minh của Trịnh Minh Thế đầu hàng Diệm. Còn phái Bình Xuyên của Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) và nhóm Hoà Hảo của Ba Cụt (Lê Quang Vinh) chống lại.
Tháng 4 - 1955, Mỹ - Diệm huy động lực lượng lớn quân nguỵ ở Nam Bộ liên tục mở các cuộc hành quân dài ngày với quy mô từ 1 đến 2 sư đoàn để tiêu diệt lực lượng vũ trang giáo phái. Mở đầu là chiến dịch Hoàng Diệu (từ tháng 4 đến tháng 10- 1955) đánh vào rừng Sác diệt lực lượng của Bình Xuyên. Tiếp đó, từ tháng 5 đến tháng 12-1955, chiến dịch Đinh Tiên Hoàng ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mà trọng điểm là vùng Đồng Tháp Mười, Ô Môn, Thốt Nốt diệt lực lượng Hoà Hảo của Năm Lửa (Trần Văn Soái), Ba Cụt. Cuối cùng, từ tháng 2 đến tháng 6, chúng mở chiến dịch Nguyễn Huệ trên hướng Tây Ninh thuộc miền Đông Nam Bộ tiêu diệt lực lượng còn lại của Cao Đài.
Như vậy, trong vòng hơn một năm (từ tháng 4-1955 đến tháng 6-1956) Mỹ - Diệm đã thanh toán xong lực lượng vũ trang giáo phái. Theo số liệu của Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hoà thì “Hoà Hảo và cao Đài có 600 bị giết và bị thương, 1.100 bị bắt, 7.758 ra hàng. Nếu kể cả Bình Xuyên, tổng số ra hàng là 5 trung đoàn và 1 tiểu đoàn được cho gia nhập vào quân đội Diệm theo cách xen kẽ” 1..
Đồng thời với việc thanh toán lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ, trên địa bàn Khu V, Trị - Thiên, Mỹ - Diệm dùng lực lượng quân sự để tiêu diệt lực lượng các đảng phái tay chân của Pháp như Đại Việt, Quốc dân Đảng... nhằm loại bỏ tận gốc ảnh hưởng của Pháp, trừ hậu hoạ sau này. Vừa tìm mọi cách để gạt bỏ Pháp và các thế lực thân Pháp, Mỹ gấp rút xây dựng chính quyền tay sai, tiến hành cải tổ nguỵ quân làm công cụ thực hiện chính sách xâm lược thực dân kiểu mới.
Về xây dựng chính quyền tay sai, quan điểm của Mỹ là:
Phải có một chính quyền mạnh, có hiệu quả và trung thành. Điều này được thể hiện rõ trong Bị vong lục của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quàn Mỹ gửi Bộ Quốc phòng ngày 4-8-1954: “Điều tuyệt đối cần thiết là phải có một chính phủ dân sự mạnh và ổn định nắm chính quyền” 2 .
____________________________ 1. Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ - nguỵ trên chiến trường B2, Ban Tổng kết chiến tranh B2 xuất bản, 1984, tr.48. 2. Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Tlđd, t. 1 , tr. 17.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #7 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 10:13:01 PM » |
|
Đ lét, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Mỹ trong tuyên bố ngày 11- 11-1954 cũng nói rõ: “Miền Nam Việt Nam cần có một chính phủ đủ sức tiễu trừ các phần tử nổi loạn”. Để xây dựng chính quyền này, Mỹ đã sử dụng con bài Ngô Đình Diệm - một tín đồ - Thiên chúa giáo có dòng dõi quan lại từ thời Pháp, nhưng lại có đầu óc bài Pháp. Diệm đã được Xpenman (Spellman) - Hồng y giáo chủ Mỹ nuôi dưỡng và đào tạo từ năm 1948.
Tháng 6 - 1954, dưới sức ép của Mỹ, Bảo Đại phải bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng bù nhìn. Thời gian đầu, khi chính quyền tay sai còn mong manh, lại có quá nhiều thế lực chống đối, nên chính quyền Diệm luôn chao đảo, không vững vàng. Diệm là một kẻ độc tài gia đình trị nên càng lắm kẻ thù. Vì vậy, cuối năm 1954, Cô lin, Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã đưa ra giải pháp thay thế Diệm. Song thực tế lúc đó, Mỹ không tìm được ai hơn Diệm nên vẫn phải ủng hộ ông ta.
Chính Ngoại trưởng Mỹ, Đa lét đã tuyên bố. “Đầu tư ở miền Nam Việt Nam là chính đáng. Không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục ủng hộ ông Diệm. Chúng ta không cần biết một người lãnh đạo xứng đáng nào khác” 1. Nhằm hợp thức hoá chính quyền tay sai, tháng 10-1955, Mỹ - Diệm tổ chức cuộc “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại, đưa Diệm lên làm Tổng thống, tuyên bố thành lập chính thể Việt Nam Cộng hoà.
Tháng 3-1956, dưới sự bảo trợ của Mỹ, Diệm tổ chức tuyển cử, bầu ra Quốc hội. Tháng 10-1956, Diệm ban hành hiến pháp của “nền Đệ nhất Cộng hoà”. Đến đây, Mỹ đã hoàn thành một bước cơ bản việc áp đặt chủ nghĩa thực dân mới bằng xây dựng được một chính quyền tay sai “hợp hiến, hợp pháp” giả hiệu.
Vốn là một chính phủ bù nhìn do Mỹ dựng lên bằng viện trợ đô la và vũ khí, không có cơ sở chính trị, xã hội. Để tạo chỗ dựa cho chính quyền, tháng 8 - 1954, Diệm thành lập Đảng Cần lao nhân vị do Ngô Đình Nhu, em ruột của Diệm cầm đầu Đảng lấy học thuyết “Duy linh” làm hệ tư tưởng.
Theo một số tướng lĩnh trong chính quyền Sài Gòn thì “Thuyết nhân vị của ông Ngô Đình Nhu là một thứ pha trộn mình Ngô đầu Sở, chắp vá một mớ tư tưởng hổ lốn, góp nhặt mỗi thứ một ít, từ giáo lý Thiên chúa giáo đến chủ nghĩa nhân vị của Maniê, pha thêm thuyết nhân ái của Khổng Tử, cộng thêm vài nét của chủ nghĩa tư bản lẫn lộn với chủ nghĩa duy linh chống cộng” 2.
Đảng Cần lao nhân vị thu hút tới 7 vạn đảng viên, chủ yếu là các cha cố, tín đồ công giáo, công chức và sĩ quan trung, cao cấp. Đảng được tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới. Theo linh mục Cao Văn Luận - nguyên Viện trưởng Viện đại học Huế, một nhân vật thân tín với Diệm thì “Trong hầu hết các trường hợp, viên chức cao cấp nhất của chính quyền, tại một địa phương hay một cơ quan nào đồng thời cũng là lãnh tụ địa phương của Đảng Cần lao” 3. Đảng được coi là nòng cốt của chế độ Diệm cả về phương diện chính trị tinh thần cũng như thực lực lãnh đạo.
Bên cạnh Đảng Cần lao nhân vị, Diệm còn tổ chức ra Phong trào cách mạng quốc gia (10-1954) mà nòng cốt là giới công chức và nhân viên chính quyền Sài Gòn do Trần Chánh Thành đứng đầu, hoạt động với khẩu hiệu “Chống cộng sản, chống phong kiến, chống thực dân”, nhưng thực chất là chống cách mạng, chống nhân dân, đi theo Mỹ, tôn thờ Diệm. Tổ chức này phát triển cả ở nông thôn và thành thị, thu hút khá đông lực lượng, hình thành một số liên đoàn như Liên đoàn phụ nữ, Liên đoàn thanh niên. . .
Ngoài Đảng Cần lao nhân vị và Phong trào cách mạng quốc gia, Diệm còn cho phép thành lập một số tổ chức thuộc tầng lớp trên như Tập đoàn công dân của Trần Văn Lắm (cuối năm 1954); Phong trào tranh thủ tự do của Bùi Văn Thinh. Các tổ chức này đều tích cực ủng hộ chính quyền Diệm về mọi mặt, nhất là về tài chính.
Một số các tổ chức chính trị phản động khác do Ngô Đình Diệm dựng lên ở miền Nam vào thời gian này là Tổng liên đoàn lao động của Trần Quốc Bửu, Thanh niên cộng hoà, Phụ nữ liên đới... nhằm phục vụ cho chế độ độc tài gia đình trị của ông ta.
____________________________ 1. Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Tlđd, t.1, tr. 17. 2. Hoàng Linh - Đỗ Mậu: Tâm sự tướng lưu vong, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1991, tr.179. 3. Cao Văn Luận: Bên dòng lịch sử, Nxb. Trí Đăng, Sài Gòn, 1972, tr.315.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #8 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 10:15:37 PM » |
|
Về mặt hành chính, Mỹ - Diệm xây dựng một bộ máy cai trị từ trung ương đến tận thôn, xã. Ở trung ương, ngoài Quốc hội là cơ quan lập pháp, có Tổng thống và kèm theo đó là Phủ Tổng thống với các Bộ Quốc phòng, Ngoại giao, Nội vụ, Kinh tế, Tư pháp, Y tế, Công dân vụ, Lao động, Giáo dục, Công chánh giao thông, Cải tiến nông thôn, Tài chính . . . Tổng thống vừa là quốc trưởng, vừa là thủ tướng, có quyền lực tuyệt đối về mọi linh vực chính trì, quân sự, ngoại giao. . .
Giúp việc Tổng thống có Phủ Tổng thống. Dưới Phủ Tổng thống có các cơ quan trực thuộc như Nha Tổng giám đốc công vụ, Nha Tổng giám đốc kế hoạch, Nha Tổng giám đốc ngân sách và ngoại viện, Nha Tổng thư ký thường trực quốc phòng, Học viện Quốc gia hành chính...
Bên cạnh đó, để cho có vẻ dân chủ, Mỹ - Diệm cũng tổ chức các cơ quan kiểm soát hoạt động của bộ máy hành chính như: cơ quan thanh tra tổng quát và thanh tra chuyên môn. ở địa phương, bộ máy hành chính của Diệm có các cấp: phần, tỉnh, đô thành, quận, xã. ở các phần, Diệm thiết lập chế độ đại biểu chính phủ làm nhiệm vụ trung gian giữa trung ương và các tỉnh trưởng. Cấp tỉnh, đô thành, thành phố, có các tỉnh trưởng, đô trưởng. Cấp quận có các quận trưởng. Tất cả đều do tổng thống bổ nhiệm trực tiếp (các quận thuộc đô thành Sài Gòn) hoặc theo đề nghị của tỉnh trưởng. Ở cấp xã, Diệm lập hội đồng xã. Để nắm chắc bộ máy hành chính cấp này, Diệm không thực hiện chế độ bầu cử hội đồng mà chỉ định những phần tử tin tưởng, gắn bó với chính quyền Diệm vào bộ máy đó.
Về vấn đề này, Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ đã viết:
“Ông Diệm đã bãi bỏ các hội đồng hương chính cổ truyền do dân cử vì sợ cộng sản có thể giành được quyền bính trong các hội đồng đó. Sau đó ông thay thế cơ quan dân cử đó bằng những người được chỉ định từ bên ngoài tới, đám di cư và những người công giáo trung thành với ông” 1 .
Cơ chế của chính quyền Diệm ngay từ đầu đã lộ rõ là một chính quyền độc tài, phát xít không có dân chủ. Mọi quyền bính đều thuộc quyền Diệm - Nhu và gia đình ông ta, nên đã gây ra sự bất bình với chế độ trong nhân dân miền Nam. Mặc dù buổi đầu Mỹ - Diệm đã xây dựng được bộ máy chính quyền tay sai độc tài khá hoàn chỉnh với bộ mặt “hợp hiến”, “hợp pháp” giả hiệu, song về bản chất đây chỉ là một sản phẩm ngoại lai do Mỹ dựng lên, hoạt động chủ yếu theo sự điều khiển của Mỹ, bằng nguồn viện trợ của Mỹ để thực hiện âm mưu áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ vào miền Nam Việt Nam.
Chính Lầu Năm Góc Mỹ đã thú nhận:
“Không có sự giúp đỡ của Mỹ, hầu như chắc chắn là Diệm không thể củng cố được chỗ đứng của mình ở Việt Nam trong thời gian từ 1955 - 1956. Không có viện trợ của Mỹ trong những năm sau đó, chế độ của Diệm và hầu như chắc chắn là một Nam Việt Nam độc lập không thể nào sống sót được… Nam Việt Nam cơ bản là sản phẩm của Mỹ” 2.
Đồng thời với việc xây dựng chính quyền tay sai, Mỹ gấp rút cải tổ quân nguỵ do Pháp để lại và từng bước nâng cao chất lượng nguỵ quân làm công cụ thực hiện chính sách xâm lược thực dân kiểu mới.
Sau Hiệp đinh Giơneuơ, tổng số quân nguỵ do Pháp để lại có 216.997 tên, bao gồm 179.997 quân chính quy và 37.000 quân phụ lực, biên chế cao nhất mới đến cấp chiến đoàn lưu động, còn phổ biến là tiểu đoàn (tổng số 179 tiểu đoàn, trong đó có 98 tiểu đoàn chủ lực và 81 tiểu đoàn khinh quân trang bị gọn nhẹ) 3.
Tháng 8-1954, Mỹ có kế hoạch cải tổ quân nguỵ thành quân đội quốc gia do Mỹ trực tiếp huấn luyện và trang bị. Để làm việc này, Mỹ tăng cường viện trợ và giành một khoản ngân sách đáng kể vào việc xây dựng quân đội Sài Gòn. Năm 1955, tổng số viện trợ của Mỹ cho chính quyền Sài Gòn là 320.300.000 đô la, trong đó Mỹ dành đến 234.800.000 đô la cho viện trợ quân sự. Tính bình quân hàng năm, viện trợ quân sự chiếm tới 70 % tổng số viện trợ của Mỹ cho Nam Việt Nam.
____________________________ 1, 2. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Tlđd, t. 1, tr. 74, 35. 3. Xem: Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ - ngụy trên chiến trường B2, Sđd, tr.51.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Thành viên

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #9 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2009, 10:27:54 PM » |
|
Cũng từ năm 1955, Phái bộ Huấn luyện quân sự hỗn hợp Pháp - Mỹ (TRIM) trước đây, được Mỹ đổi thành Phái bộ Huấn luyện tác chiến lục quân (CATO) và Phái bộ Trang bị và cung cấp (TERM). Các tổ chức này đều do Phái bộ viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) chỉ huy, chuyên lo việc huấn luyện, tác chiến và trang bị cho quân đội Sài Gòn.
Cùng với sự ra đời của các tổ chức này, một hệ thống cố vấn quân sự Mỹ được hình thành từ Bộ Quốc phòng xuống đến các quân khu, quân đoàn, sơ đoàn, trung đoàn và các trung tâm huấn luyện quân đội nguỵ. Thậm chí, các tiểu đoàn ở gần giới tuyến, Mỹ cũng cắm cố vấn trực tiếp.
Tháng 7- 1955, Mỹ - Diệm đề ra kế hoạch xây dựng quân đội chính quy gồm 155.000 tên. Gần một năm ráo riết bắt lính, đến tháng 6-1956, quân số địch là 147.462 tên, trong đó lục quân 140.000 tên được tổ chức thành 10 sư đoàn (4 sư đoàn dã chiến và 6 sư đoàn khinh chiến 1, 13 trung đoàn độc lập và lực lượng tổng dự bị gồm 1 liên đoàn dù (5 tiểu đoàn), 1 liên đoàn lính thuỷ đánh bộ (2 tiểu đoàn), 4 tiểu đoàn kỵ binh thiết giáp và 11 tiểu đoàn pháo. Không quân có 3.462 tên. Hải quân 4.000 tên 2. Đó là chưa kể lực lượng bảo an (47.517 tên), dân vệ và cảnh sát thuộc Bộ Nội vụ.
Sau hai năm cải tổ, quân đội nguỵ đã có những biến đổi căn bản. Từ những đơn vị nhỏ lẻ (cấp chiến đoàn là cao nhất), nay được tổ chức thành trung đoàn, sư đoàn với đủ các binh chủng hải, lục, không quân. Nội dung và chương trình huấn luyện tuy vẫn dựa theo kế hoạch cũ của Pháp nhưng phương pháp huấn luyện do Mỹ trực tiếp thực hiện nên có nhiều cải tiến.
Từ năm 1957, sau khi cải tổ một bước quân đội nguy, dẹp xong lực lượng vũ trang giáo phái, Mỹ - Diệm bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm xây dựng quân đội. Phương pháp, mục tiêu của kế hoạch này là chú trọng chất lượng hơn số lượng, lấy lục quân làm chủ yếu, tổ chức tương đối chính quy và hiện đại, có thể tác chiến trên mọi địa hình.
Về quân số, định vẫn duy trì ở mức trên dưới 150.000, song về tổ chức bỏ hình thức sư đoàn dã chiến và khinh chiến, thống nhất tên gọi là sư đoàn bộ binh. Từ 10 sư đoàn, định chấn chỉnh còn 7 sư đoàn. Ba sư đoàn khinh chiến (Sư đoàn 12 ở Kon Tum, Sư đoàn 13 ở Tây Ninh và Sư đoàn 16 ở Quảng Trị) được bổ sung cho 7 sư đoàn.
Các cơ quan chỉ đạo chiến lược, chiến thuật. Bộ Tư lệnh Hải quân, các bộ tư lệnh quân đoàn lần lượt được tổ chức. Không quân, hải quân cũng từng bước được kiện toàn. Bên cạnh đó, để xây dựng đội quân tay sai trung thành với Mỹ, Diệm đã gửi nhiều sĩ quan đi học ở các trường quân sự ở các nước tư bản, nhất là ở Mỹ. Từ năm 1954 đến năm 1959 đã có 3.500 sĩ quan Sài Gòn sang học tập tại Mỹ.
Điều 9 trong Bản tuyên bô’ cuối cùng của các nước tham dự Hội nghị Giơnevơ ghi rõ: Những nhà đương cục có thẩm quyền ở vùng Bắc và vùng Nam Việt Nam cũng như ở Lào, Campuchia không được dung thứ những hành động báo thù cá nhân hoặc tập thể đối với những người đã hợp tác bất cứ dưới hình thức nào về một trong hai bên trong thời gian chiến tranh hoặc đối với gia đình những người đó.
Mặc dù quy định như vậy, nhưng Mỹ và Ngô Đình Diệm bất chấp pháp lý quốc tế, chúng đã tiến hành khủng bố, trả thù dã man những người yêu nước, người kháng chiến cũ ở miền Nam. Tiêu biểu là các vụ tàn sát đẫm máu ở Kim Đôi (2-8-1954) làm 17 người chết, 67 người bị thương. Vụ Hà Lam - Chợ Được ở Quảng Nam (9-1954) làm 31 người chết, 36 người bị thương. Vụ Ngân Sơn, Chí Thạnh ở Phú Yên (7-9-1954) làm 64 người chết, 76 người bị thương. Vụ Mỏ Cày ở Bến Tre (13-9-l954) làm 17 người chết, 500 người bị thương. Vụ Chiêu Đàn (23-9-1954), Cây Cốc (1-10- 1954) thuộc Quảng Nam làm 105 người chết, 186 người bị thương. Vụ thảm sát Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (12-11- 1954) có 33 người bị chết, 9 người khác bị thương. Tháng 1-1955, Mỹ - Diệm lạl dìm xuống đập Vĩnh Trinh (Quảng Nam) 22 người. Tháng 7- 1955, lực lượng Quốc dân Đảng theo Diệm càn vào huyện Hướng Điền (Quảng Trị) giết chết 92 đồng bào ta. Mỹ - Diệm đã vi phạm nghiêm trọng các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ về cấm trả thù những người đã từng hoạt động kháng chiến.
__________________________________ 1. Sư đoàn dã chiến là những sư đoàn có biên chế, trang bị mạnh, được huấn luyện tác chiến chính quy để đảm đương nhiệm vụ chủ yếu là ngăn chặn quân chủ lực của miền Bắc vào. Sư đoàn khinh chiến là sư đoàn được tổ chức biên chế, trang bị gọn nhẹ hơn, đảm nhận nhiệm vụ chủ yếu là bảo đảm an ninh nội địa, kết hợp tiếp sức chi viện cho các sư đoàn dã chiến khi cần. 2. Xem: Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ - ngụy trên chiến trường B2, Sđd, tr.51.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
|