Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Năm, 2012, 03:37:02 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968)  (Đọc 40508 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
altus
Moderator
*
Bài viết: 1657



« Trả lời #140 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2010, 01:04:29 AM »

Tài liệu tham khảo
====
[1] Stanley Karnow, tướng Phillip Davidson, và một người viết tiểu sử Võ Nguyên Giáp cho rằng tướng Võ Nguyên Giáp là đạo diễn của cuộc Tấn công Tết. Xem Karnow, Vietnam: A History (New York: Penguin Books, 1987), 548-549; Davidson, Vietnam at War: The History 1946-1975 (New York: Oxford University Press, 1988), 441-446; và Peter Macdonald, Giap: The Victor in Vietnam (New York: W.W. Norton & Company, 1993), 262-263. Những người khác viết tiểu sử Võ Nguyên Giáp lại nhận định tướng Nguyễn Chí Thanh là người đầu tiên đưa ra kế hoạch Tấn công Tết, lúc đầu tướng Võ Nguyên Giáp phản đối ý tưởng này nhưng đã đồng ý khi Bộ Chính trị bỏ phiếu thông qua kế hoạch. Xem Cecil B. Currey, Victory at Any Cost: The Genius of Vietnam’s Gen. Vo Nguyen Giap (Virginia: Potomac Books, 2005), 261-265; và A. J. Langguth, Our Vietnam: The War 1954-1975 (New York: Simon & Schuster, 2000), 439-440. Lien Hang T. Nguyen viết về các tranh cãi về ý hệ trong “The War Politburo: North Vietnam’s Diplomatic and Political Road to the Tết Offensive,” Journal of Vietnamese Studies 1, số 1-2 (2006): 4-58. Sophie Quinn-Judge cũng có cùng chủ đề trong “The Ideological Debate in the DRV and the Significance of the Anti-Party Affair, 1967-1968,” Cold War History 5, số 4 (11/2006): 479-500. Tiến trình phát triển của kế hoạch Tấn công Tết Mậu Thân cũng tiếp tục là chủ đề trao đổi và tranh luận của các sử gia Việt Nam. Xem đại tá Hồ Kháng, “Mục tiêu chiến lược của đòn Tết Mậu Thân 1968,” Nhân Dân, 21/1/2008, www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub=130&article=114233 (truy cập 21/1/2008); và đại tá Trần Trọng Trung, phần đầu của bài báo “Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân 1968 ra đời như thế nào?”, Quân Đội Nhân Dân, 9/1/2008, www.qdnd.vn/qdnd/baongay.quocphongnghethuatquansu.27876.qdnd (truy cập 17/1/2008).

[2] “Nghị quyết của hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương Đảng”, in trong Văn kiện đảng toàn tập, Tập 24, 1963, bs. Trần Tình (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2003), 822. Cũng xem “The

Political Bureau’s Resolution on South Vietnam, November 1963,” bản dịch một tài liệu Việt Cộng do quân lực Mỹ thu được vào 29/4/1969, số hiệu 2320109002, bộ sưu tập Douglas Pike, Unit 6, Virtual Archive, The Vietnam Center and Archive, Texas Tech University, www.virtualarchive.vietnam.ttu.edu/starweb/virtual/vva/servlet.starweb?path=virtual/vva/virtual.web. Rõ ràng nghị quyết Bộ Chính trị này là tiền thân của Nghị quyết 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

[3] Trần Tình, bs., Văn kiện đảng 1963, 839.

[4] Sđd., 840.

[5] Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Victory in Vietnam: The Official History of the People’s Army of Vietnam, 1954-1975 (Lawrence: University Press of Kansas, 2002), 137-138.

[6] Hồ Sơn Đài và Trần Phán Chấn, Lịch sử Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định kháng chiến (1945-1975) (TP. Hồ Chí Minh, 1994), 391, 393.

[7] Lê Duẩn, Thư vào Nam (Hà Nội: Sự Thật, 1986), 79.

[8] Sđd., 88.

[9] Sđd., 90-91.

[10] Sđd., 95.

[11] Sđd., 115.

[12] Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000 (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2005). Theo phần 7 của cuốn sách này, các thành viên của tiểu ban Bộ Chính trị trong khoảng giữa những năm 1960 là Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, và Phạm Hùng (tiếp theo sự bổ nhiệm tướng Nguyễn Chí Thanh vào tổng hành dinh Trung ương Cục miền Nam ở miền Nam).

[13] Đại tá Trần Trọng Trung, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2006), 34 (tác giả nhấn mạnh).

[14] Đại tá Trần Trọng Trung, phỏng vấn với tác giả, 19/6/2007, Hà Nội.

[15] Để có một phân tích tuyệt vời về xung đột bên trong Bộ Chính trị, xem Nguyễn, “The War Politburo”.

[16] William J. Duiker, Ho Chi Minh: A Life (New York: Hyperion, 2000), 484-485.

[17] Sđd., 503.

[18] Hoàng Tùng, “Nghị quyết T.Ư. về giải phóng miền Nam ra đời thế nào?”, Tien Phong Online, 29/4/2007, www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=82719&ChannelID=2 (truy cập 4/5/2007).

[19] Trịnh Nhu, bs., Lịch sử biên niên xứ ủy Nam Bộ và Trung ương cục miền Nam (1954-1975) (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2002), 140.

[20] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000 (xem chú thích số 12).

[21] Sđd.

[22] Trần Tình, bs., Văn kiện đảng toàn tập Tập 28, 1967 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2003), 112, 119-120.

[23] Phạm Thị Vinh, bs., Văn kiện đảng toàn tập Tập 26, 1965 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2003), 594-595.

[24] Đại tá Hồ Kháng, “Mục tiêu chiến lược của đòn Tết Mậu Thân 1968” (xem chú thích số 1). Cũng xem Qiang Zhai, Beijing and the Vietnam Peace Talks, 1965-1968: New Evidence from Chinese Sources (Washington, DC: Cold War History International Project, Woodrow Wilson Center, 1997), 19-22.

[25] Trần Tình, bs., Văn kiện đảng 1967, 125.

[26] Sđd., 147.

[27] Sđd., 153-154.

[28] Có thể xem tóm tắt về những tranh luận giữa Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp trên báo chí trong tướng Phillip Davidson, Vietnam at War, 418-422, và Nguyễn, “The War Politburo,” 22.

[29] Tướng William Westmoreland, A Soldier Reports (New York: Dell Publishing, 1980), 298-299.

[30] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000, phần 8.

[31] Sđd.

[32] Tướng Văn Tiến Dũng, trích từ “Tạo một bước ngoặt trong kháng chiến chống Mỹ,” Quân Đội Nhân Dân, 3/12/2004, www.quandoinhandan.org.vn/sknc/?id=1108&subject=7, (truy cập 2/1/2005), hiện nay có ở http://202.151.160.173/webqdndcu/sknc/?id=1587&subject=8. Trong bài báo này Văn Tiến Dũng cho biết các mục tiêu của kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu là tiêu diệt từ ba đến năm lữ đoàn lĩnh Mỹ và từ ba đến năm sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa, giải phóng từ tám đến mười triệu người, và “tăng cường” đấu tranh chính trị tại các khu vực thành thị.

[33] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000, phần 8.

[34] Hồ Kháng, The Tet Mau Than 1968 Event in South Vietnam (Hà Nội: Thế Giới Publishers, 2001), 28-29.

[35] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000.

[36] Tiến sĩ Nguyễn Thị Bảo, “Những ngày cuối cùng của anh Nguyễn Chí Thanh,” trong Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Nhà chính trị quân sự lỗi lạc (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1997), 350-360. Nhiều báo cáo từ cả nguồn Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, một số trong đó vẫn được các tác giả ngày nay sử dụng, theo đó Nguyễn Chí Thanh bị giết ở miền Nam bởi một cuộc ném bom rải thảm B-52 rõ ràng là đã nhầm lẫn. Phiên bản bên cộng sản về cái chết của ông mới đúng và rõ ràng là không hề bị bịa ra. Rõ ràng là người cộng sản Việt Nam thích được tuyên bố Nguyễn Chí Thanh qua đời như một anh hùng ở mặt trận, bị một cuộc thả bom dã man của Mỹ giết chết, hơn là chấp nhận cái chết tầm thường không lấy gì làm cao đẹp mà họ miêu tả – một cơn nhồi máu vì stress, làm việc quá sức, và ăn uống quá độ trong những bữa tiệc khi ông quay về nhà ở Hà Nội.

[37] Tướng Chu Huy Mân và đại tá Lê Hải Triều, Thời sôi động (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2004), 463.

[38] Currey, Victory at Any Cost, 231.

[39] “Tạo một bước ngoặt trong kháng chiến chống Mỹ” (xem chú thích số 32). Mặc dù bài báo không cung cấp ngày tháng chính xác về cuộc gặp Văn Tiến Dũng-Lê Duẩn, bối cảnh và sự so sánh với thông tin từ các nguồn khác cho thấy cuộc gặp có khả năng đã diễn ra trong những ngày đầu tiên sau khi Nguyễn Chí Thanh chết. Một bài báo mới đây của Việt Nam có thể xem là đã chỉ ra rằng cuộc gặp diễn ra không lâu trước khi Nguyễn Chí Thanh chết, nhưng từ ngữ trong bài báo đó rất mơ hồ. Trong phần thứ ba của một bài báo mang tên “Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân 1968 ra đời như thế nào (Quân Đội Nhân Dân, 11/1/2008, xem chú thích số 1), đại tá Trần Trọng Trung viết rằng một cuộc gặp giữa Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã được tiến hành vào ngày 30 tháng Sáu và 1 tháng Bảy năm 1967, nó được “quyết định đưa cuộc cách mạng miền Nam tiến về phía trước tới một bước phát triển mới. Cuộc hội nghị này khẳng định khả năng giành một thắng lợi mang tính quyết định thông qua một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa. Cơ hội lớn nhất là Đông-Xuân 1967-1968, Hè 1968, hoặc sớm hơn.” Tuy nhiên, từ ngữ ở đây không rõ ràng và tương hợp với ý tưởng trong kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu về một cuộc tấn công nhằm mục đích tạo ra điều kiện cần thiết cho việc tung ra một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa vào một thời điểm còn chưa biết trong tương lai, bên cạnh các mục đích khác. Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000, phần 8 cho biết vào ngày 20 tháng Sáu năm 1967, Quân ủy Trung ương thông qua một “giải pháp chiến lược”, nói, “Chúng ta cần thực hiện những cuộc tấn công mạnh mẽ, cả về quân sự và chính trị, vào các thành phố, thị trấn, và trung tâm chính trị nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền ngụy và tạo ra các cơ hội và điều kiện để tung ra một cuộc tổng tiến công và nổi dậy” (tác giả nhấn mạnh). Cuộc họp giữa Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ngày 30 tháng Sáu và 1 tháng Bảy năm 1967 có khả năng được tổ chức để xem xét và thông qua “giải pháp chiến lược” ngày 20 tháng Sáu của Quân ủy Trung ương, rõ ràng là vẫn phản ánh kế hoạch cũ trong việc “tạo điều kiện” để tung ra một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa chứ không phải là kế hoạch mới do Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng nói tới trong cuộc họp. Tuy nhiên, một bài báo gần đây của một sử gia quân sự Việt Nam kỳ cựu, lại ủng hộ giả thuyết cho rằng ý tưởng chuyển sang một cuộc tổng công kích-tổng khởi nghĩa một mất một còn đối với các thành phố chỉ xuất hiện vào tháng Bảy năm 1967, sau khi Nguyễn Chí Thanh chết. Xem đại tá Hồ Kháng, “Mục tiêu chiến lược của đòn Tết Mậu Thân 1968” (xem chú thích số 1). Cân nhắc các dữ kiện, nhiều khả năng cuộc gặp Lê Duẩn-Văn Tiến Dũng đã diễn ra không lâu sau cái chết của Nguyễn Chí Thanh

« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười, 2010, 10:43:46 AM gửi bởi Tunguska » Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1657



« Trả lời #141 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2010, 01:04:58 AM »

[40] “Tạo một bước ngoặt trong kháng chiến chống Mỹ” (xem chú thích số 32).

[41] Để có một ý kiến ủng hộ việc ý tưởng của Văn Tiến Dũng theo đó ý tưởng chung về Cuộc Tấn công Tết Mậu Thân xuất phát từ một gợi ý của Lê Duẩn rồi được Văn Tiến Dũng phát triển, xem đại tá Nguyễn Văn Minh, bs., Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 1954-1975, Tập V: Tổng tiến công và nổi dậy 1968 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2001), 30-31.

[42] Xem H. R. McMaster, Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies that Led to Vietnam (New York: Harper Collins, 1997).

[43] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000 (tác giả nhấn mạnh). Trong phần thứ hai của bài báo mang tên “Kế hoạch tổng tiến công chiến lược ra đời như thế nào?” (xem chú thích số 1), đại tá Trần Trọng Trung cũng đưa ra cùng câu trích dẫn đó của Hồ Chí Minh nhưng lại nói rằng nó xuất hiện trong các thảo luận của Bộ Chính trị ngày 18 và 19 tháng Bảy năm 1966 (khác với ngày 18 và 19 tháng Bảy năm 1967 theo tài liệu của Cục Tác chiến). Xem xét kỹ các vấn đề, tôi tin rằng 18 và 19 tháng Bảy năm 1967 mới đúng, nhưng dù cho ngày tháng nào mới chính xác, câu trích dẫn rõ ràng đã cho thấy Hồ Chí Minh phản đối mọi kế hoạch liều lĩnh nhằm giành một chiến thắng nhanh chóng.

[44] Đại tá Trần Trọng Trung, “Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân 1968 ra đời như thế nào?” (xem chú thích số 20).

[45] Đại tá Trần Trọng Trung, phỏng vấn với tác giả, 19/6/2007, Hà Nội. Cũng xem Lưu Đoàn Huỳnh, “The Perspective of a Vietnamese Witness,” trong The War That Never Ends: New Perspectives on the Vietnam War, David L. Anderson và John Ernst bs. (Lexington: University Press of Kentucky, 2007), 91-92.

[46] Đại tá Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 29-32; Thượng tướng Trần Văn Quang bs., Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học (Lưu hành nội bộ) (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 1995), 68 và 314, các chú thích 27-28.

[47] Hoàng Đan và Hưng Đạt, Chiến dịch tiến công đường số 9-Khe Sanh xuân hè 1968 (Lưu hành nội bộ) (Hà Nội: Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam, 1987), 14. Vẫn những mục tiêu cho Tết Mậu Thân ấy đối với chiến trường B5 được tìm thấy trong Kiều Tam Nguyên, bs., Chiến trường Trị-Thiên-Huế trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước toàn thắng (Huế: Thuận Hóa, 1985), 136.

[48] Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 32.

[49] Sophie Quinn-Judge, “The Ideological Debate in the DRV,” 482; đại tá Trần Trọng Trung, trong lần phỏng vấn với tác giả, 19 tháng Sáu năm 2007 tại Hà Nội. Theo tướng Cao Phá, tướng Võ Nguyên Giáp vẫn ở Hungary cho tới cuối tháng Mười hai năm 1967. Xem Những ký ức không bao giờ quên (Hà Nội: Quân  Đội Nhân Dân, 2006), 166. Theo tướng Philip Davidson, người ta không thấy tướng Võ Nguyên Giáp ở Hà Nội từ 2 tháng Chín năm 1967 cho tới 5 tháng Hai năm 1968. Xem Davidson, Vietnam at War (New York: Oxford University Press, 1988), 563.

[50] Duiker, Hồ Chí Minh, 556.

[51] Sđd., 557.

[52] Đại tá Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 40.

[53] Đào Trọng Cảnh, bs., Văn kiện đảng toàn tập, Tập 29, 1968 (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2004), 1, 32.

[54] Lưu Đoàn Huỳnh, được trích dẫn trong Anderson và Ernst, The War That Never Ends, 92.

[55] Thượng tướng Trần Văn Quang, Tổng kết cuộc kháng chiến, 314, chú thích 28.

[56] Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến, phần 8; đại tá Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 74-75.

[57] Tướng Huỳnh Công Thân và Nguyễn Hữu Nguyên, Ở chiến trường Long An: hồi ức (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1994), 131-132; đại tá Trần Dương, bs., Lịch sử quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ-Tây Nguyên) kháng chiến chống Mỹ, 1954-1975 (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1995), 221.

[58] Nguyễn, The War Politburo, 25-26; Quinn-Judge, “The Ideological Debate in the DRV,” 481-482. Cũng xem “Alleged Coup d’Etat Plot in Hanoi: 1967,” trích dịch từ cuốn sổ tay lính cộng sản bị quân đội Mỹ thu được vào năm 1970, số hiệu 2320120032, Douglas Pike Collection, Unit 06, Virtual Archive, The Vietnam Center and Archive, Texas Tech University, www.virtualarchive.vietnam.ttu.edu/starweb/virtual/vva/servlet.starweb?path=virtual/vva/virtual.web (truy cập 10/1/2008). Để biết một trong số rất ít dẫn chiếu tới các vụ bắt bớ năm 1967 trong các ấn phẩm công khai của cộng sản Việt Nam, xem “Hoàng Minh Chính: ông là ai?”, Hà Nội Mới, 20/10/2005, http://www/hanoimoi.com.vn/41/62857 (truy cập 11/7/2007).

[59] Xem “Nghị quyết của hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của đảng ta, tháng 12 1963”, Trần Tình, bs., Văn kiện đảng 1963, 716-800.

[60] Nguyễn, “The War Politburo,” 15-19; Quinn-Judge, “The Ideological Debate in the DRV,” 483. Để có một dẫn chiếu ngắn tới sự phản đối của tướng Đặng Kim Giang trước nghị quyết 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xem một bài diễn văn đọc năm 1969 của Bộ trưởng Nội vụ Trần Quốc Hoàn: “Kết luận của đồng chí Bộ trưởng về công tác sưu tra và xác minh hiểm nghi (1969)”, trong Một số vấn đề về đấu tranh chống phản cách mạng (Tối mật: chỉ lưu hành nội bộ ngành công an) (Hà Nội: Viện Nghiên Cứu Khoa Học Công An, 1975), 352.

[61] Phạm Thị Vịnh, Văn kiện đảng 1965, 609.

[62] Sđd., 610.

[63] Viện Nghiên Cứu Khoa Học Công An, Công an nhân dân Tập II, 1954-1965 (Dự thảo: chỉ lưu hành nội bộ) (TP. Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Khoa Học Công An, 1978), 206.

[64] Sđd., 206.

[65] Nguyễn Văn Minh, Lịch sử kháng chiến, 1968, 32. Theo Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến, phần 8, tướng Nguyễn Văn Vịnh tham gia các cuộc bàn luận lên kế hoạch về Tấn công Tết cho đến tận 11/11/1967, cho nên có vẻ như là ông chưa bị bắt cho tới đợt giam giữ/bắt bớ cuối cùng vào tháng Mười hai.

[66] Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, chương 18, truy cập vào trang Đặc Trưng tại http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=8AyT%2feTR1%2fFqSJaT6QufqQ%3d%3d (truy cập 15/12/2007); đại tá Bùi Tín (dưới bút danh Thành Tín), Mặt thật: Hồi ký chính trị của Bùi Tín (Garden Grove, CA: Turpin Press, 1994), 189-190.

[67] Tướng Cao Phá, Những ký ức không bao giờ quên (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2006), 140.

[68] Ilya V. Gaiduk, The Soviet Union and the Vietnam War (Chicago: Ivan R. Dee Publishers, 1996), 67-68.

[69] Trần Quốc Hương và Nguyễn Thị Ngọc Hải, Trần Quốc Hương: Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2004), 200; tướng Trần Văn Trà, Những chặng đường lịch sử của B2 Thành Đồng, Tập I: Hòa bình hay chiến tranh (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1992), 36.

[70] Dương Trung Quốc, “Đại tướng Võ Nguyên Giáp, 7/5/2004,” Vietnam Net, 8/5/2004, www.vnn.vn/thuhanoi/2004/05/108102/ (truy cập 22/12/2007).

[71] Xem Merle Pribbenow, “North Vietnam’s Final Offensive,” Parameters 29, số 4 (mùa xuân 1999-2000): 60.

[72] Bản gỡ băng diễn văn của Lê Duẩn tại Hội nghị mười bốn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong Văn kiện đảng 1968, Đào Trọng Cảnh bs. (xem chú thích số 53), 23.

[73] Nhóm dịch Denma, The Art of War: A New Translation (Boston: Shambhala Publishing, 2001), 16.

[74] Samuel B. Griffith, d., Tôn Tử: Binh pháp (New York: Oxford University Press, 1963), 92.

 
Logged
khikho007
Thành viên
*
Bài viết: 5


« Trả lời #142 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 07:32:00 AM »

Qua hai đợt tiến công vào Sài Gon, sau này khi có điều kiện tiếp xúc, tôi được biết tình hình ở các phân khu khác cũng tương tự như ở Phân khu 3 và Phân khu 2.  Đến nay mỗi khi nhớ lại sự kiện này, tôi vẫn còn những băn khoăn, suy nghĩ.  Trước hết là về chủ trương chiến lược, tôi vẫn không hiểu vì sao lúc đó lại tiến công thành phố, khi mà tương quan lực lượng chiến lược còn quá nghiêng về phía địch và sao lại chọn cách đánh như vậy.  Thực tế sau này khi Mỹ rút hết chỉ còn quân ngụy, muốn giải phóng một quận lỵ vùng rừng núi, giáp biên giới như Lộc Ninh, ta phải mở chiến dịch của chủ lực, có xe tăng và cơ giới tham gia mới đánh chiếm được.  Dến cuối năm 1974 đầu năm 1975, đánh chiếm một tỉnh lỵ như Phước Long ta cũng phải sử dụng lực lượng và vũ khí như vậy.  Đến năm 1975, khi đánh vào Sài Gòn trong điều kiện quân địch tan tan rã mà ta phải có lực lượng tương đương nhiều quân đoàn, được tổ chức hùng mạnh, có xe tăng, pháo binh và không quân đánh chiếm thành phố.  Vậy tại sao năm 1968 ta chỉ sử dụng các tiểu đoàn địa phương, trang bị rất nhẹ phối hợp với biệt động lại đánh chiếm các mục tiêu chiến lược nằm sâu trong nội thành Sài Gòn?

Về mặt quân sự, ta có thể dùng lực lượng biệt độgn, đặc công đánh tiêu diệt một mục tiêu nào đó.  Nhưng để giữ được mục tiêu đó lại tùy thuộc vào tương quan thực tế; còn đánh tiêu diệt mục tiêu có thể chỉ tùy thuộc vào yếu tố bất ngờ.

Về mặt quân sự đơn thuần, thì không thể hạ quyết tâm chiếm Sài Gfon bằng các đánh và lực lượng như đã diễn ra mà phải kết hợp với tổng khởi nghĩa.  Nhưng vì sao mũi chính trị lại không mở ra được?  Tình hình quần chúng Sài Gòn và sinh viên, học sinh như thế nào mà lúc đó lại có nhận định: hàng triều quần chúng đang sục sôi khí thế cách mạng sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập tự do!  Khi chúng tôi vào Sài Gon, thực tế tình hình không phải như thế.  Quần chúng ghét chế độ Mỹ - Nguỵ bóp nghẹt dân sinh, dân chủ nhưng chưa đến mức "sục sôi" và chưa "sẵn sàng hy sinh tất cả" để có thể xuống đường đối đầu với súng đạn địch lật đổ nguỵe quyền trung ương Sài Gòn, thiết lập chính quyền cách mạng.  Sinh viên, học sinh là lực lượng có tổ chức nhưng lúc đó, không tập hợp được đội ngũ.  Sau tiến công đợt một, mọi vấn đề đã bộc lộ rất rõ, tổ chức lực lượng và cách đánh ấy hoàn toàn không phù hợp, không thể tiến đến các mục tiêu, thương vong của ta rất lớn.  Không hiểu vì sao khi tiến công đợt hai trong điều kiện khó khăn hơn nhiều so với đợt một, ta vẫn duy trì tổ chức, trang bị và cách đánh như cũ?

Trong cuộc đời chỉ huy chiến đấu của tôi, Tết Mậu Thân năm 1968 là giai đoạn căng thẳng nhất.  Không phải do tính chất ác liệt của các trận đánh, mà chủ yếu là do không giải quyết nổi các mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ với thực lực và biện pháp tiến hành.  Ở vào tình trạng ấy, người chỉ huy như bị bó tay, không còn hành động một các tự tin nữa.

Tết Mậu Thân năm 1968 là những ngày tháng, những kỷ niệm và những kinh nghiệm xương máu không thể nào quên được trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Long An chúng tôi.  Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Xuân Mậu Tâhn trên toàn miền Nam là hết sức to lớn, góp phần làm cho quân Mỹ và chư hầu phải rút khỏi nước ta.  Nhưng tôi cũng nghĩ như một số đồng chí khác, nếu ta biết dừng lại sau đợt một (đợt Tết Mậu Thân), đưa lực lượng về giữ các căn cứ và vùng nông thôn đồng bằng, sẽ tránh được tổn thất lớn và hậu quả nặng nề trong những năm 1969 - 1970.

Trích "Ở Chiến Trường Long An" - Thiếu Tướng Huỳnh Công Thân, nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân.
Logged
shi_mian_yivi
Thành viên
*
Bài viết: 6



« Trả lời #143 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2011, 01:12:43 PM »

Theo em, Trung ương Đảng nóng lòng kết thúc cuộc chiến nhằm chấm dứt những ngày tháng đen tối của dân tộc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Cuộc chiến càng kéo dài sẽ càng bất lợi cho cách mạng, một khi chính quyền Sài Gòn đã lớn mạnh thì việc thống nhất sẽ khó khăn hơn, nhân dân hy sinh cũng rất nhiều rồi. Đây cũng là mong ước của nhiều người. Để phục vụ chuẩn bị cho chiến cuộc Mậu Thân trên các mặt trận các trận đánh lớn nhỏ đã xảy ra liên tục, bên cạnh mục đích tiêu diệt sinh lực địch còn nhằm phân tán lực lượng địch và cuộc tổng nổi dậy sẽ thuận lợi hơn. Nổi bật như những trận đánh lớn nhỏ diễn ra tại Khe Sanh một nơi mà Mỹ và đồng minh muốn duy trì sự hiện diện ở Đông Dương. Xóa sổ cứ điểm này con đường tiếp tế Nam - Bắc sẽ dễ dàng hơn.
Logged
Hai Ruộng
Thành viên
*
Bài viết: 1176


« Trả lời #144 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2011, 08:39:45 PM »

 Không thấy Trưởng đồn đâu nữa ! Hay là múa vài chiêu lại bỏ đồn lo đi lãnh đô la rồi . Mình là dân Miền Nam đây . Trực tiếp chứng kiến những gì là chánh nghĩa của Quốc gia đây , để mình kễ tiếp cho trưởng đồn nha :
 Năm Mậu thân tại đình Chợ Củ huyện Mỹ Xuyên , trong khi cã trăm người dân tập trung chạy vào đình thần , để nhường chổ cho hai bên đánh nhau , mấy ông Việt Cộng thì không vào đình vậy mà máy bay VNCH loại mà dân ruộng chúng tôi gọi là con còng cọc (tiếng tây , tiếng u mình không rành hình như là SKYRADER gì đó ) lượn qua lượn lại rồi tương vào đình làng 2 trái bom , may mà đình thần linh thiêng hai trái đó nó không nổ . Nếu không chắc có lẽ ở Miền Nam , chiến hữu của các ông lại có thêm một vụ lu loa rằng : " Việt cộng đánh thua , vào đình tàn sát dân , phóng hỏa đốt đình để lấy khói rút chạy .
 Tôi cũng là một trong những đứa trẻ con đã từng chạy giặc , khi Việt cộng tới , gia đình tôi chỉ là người dân , nên chẳng có gì sợ Việt Cộng và Việt Cộng cũng chẵng làm gì chúng tôi , cũng chẵng cướp bóc gì của dân , kễ cã gia súc , tiền của . Nhưng chúng tôi không dám ở chung với mấy ông Việt Cộng không phải vì ghét Việt Cộng . Người dân chúng tôi chạy giặc là vì chúng tôi sợ tài bắn pháo của các ông VNCH , sợ cã máy bay của Mỹ và của mấy ông VNCH , Những thiên thần bảo vệ tự do nầy xã đạn không thương tiếc vào người dân , nếu gần đâu đó có mấy Ông Việt Cộng . Bao nhiêu bạn bè chăn trâu chúng tôi đã chết chỉ vì , mấy chiếc trực thăng tưởng lầm trẻ con chăn trậu chúng tôi là Việt Cộng , chúng bay sát đến nổi chúng tôi nhìn rỏ mặt tên xạ thủ đại liên là một tên Mỹ đen , đen như cột nhà cháy , vài đứa trẻ chúng tôi còn sống là nhờ nhảy vào hầm chuột ( dân miền tây đào cái hầm rồi rải lúa xung quanh để chuột đến ăn lúa , mê ăn , chuột trợt chân rớt xuống hầm ) , nhờ một người đàn ông nào đó ôm rơm đậy kín chúng tôi lại , khi máy bay bay qua , chúng vòng lại mấy lần nhưng không nhớ chúng tôi trốn ở đâu . Đấy chánh nghĩa Quốc Gia của trưởng đồn sang chói như thế , còn rất nhiều " tấm gương ... " Ở hải ngoại các ông không biết chứ ở Miền Nam Việt Nam thì chẳng ai lạ gì , chánh nghĩa của các ông . Các ông có còn nhớ không mỗi lần các ông hành quân vào làng truy lùng Việt Cộng , có Việt Cộng không thì chưa biết , khi các ông về đồn thì quần bốn túi của các ông nhét đầy gà vịt do các ông cươp của dân . Thôi vậy cũng tạm đủ để gặp lại ông , sợ ông bảo nói nhiều !
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười, 2011, 08:46:08 PM gửi bởi Hai Ruộng » Logged
su22 m4
Thành viên
*
Bài viết: 839



« Trả lời #145 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2011, 09:46:04 PM »

Trích dẫn
...Vậy mà máy bay VNCH loại mà dân ruộng chúng tôi gọi là con còng cọc (tiếng tây , tiếng u mình không rành hình như là SKYRADER gì đó)...

Loại máy bay này cháu không biết mấy ông VNCH gọi là gì nhưng người Mỹ gọi nó là AH - 1 Shyrader bác Hai Ruộng à.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười, 2011, 10:00:37 PM gửi bởi su22 m4 » Logged

MRK
hoangdang_hm
Thành viên
*
Bài viết: 180


« Trả lời #146 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2011, 09:48:28 PM »

Trích dẫn
...Vậy mà máy bay VNCH loại mà dân ruộng chúng tôi gọi là con còng cọc (tiếng tây , tiếng u mình không rành hình như là SKYRADER gì đó)...

Loại máy bay này cháu không biết mấy ông VNCH gọi là gì nhưng người Mỹ gọi nó là AH - 1 Shyrader bác Hai Ruộng à.
Nghe Tây với Gúc nó đồn là SkyRaider bạn ạ. Tên ấy nghe có ý nghĩa hơn Cheesy
Logged

Hãy trao cho nhau muôn ngàn yêu dấu.
Hãy trao cho nhau hạnh phúc lẫn thương đau
Trái tim cho ta nơi về nương náu.
Được quên rất nhiều ngày tháng tiêu điều!
su22 m4
Thành viên
*
Bài viết: 839



« Trả lời #147 vào lúc: 10 Tháng Mười Một, 2011, 10:40:56 PM »

Trích dẫn
...Vậy mà máy bay VNCH loại mà dân ruộng chúng tôi gọi là con còng cọc (tiếng tây , tiếng u mình không rành hình như là SKYRADER gì đó)...

Loại máy bay này cháu không biết mấy ông VNCH gọi là gì nhưng người Mỹ gọi nó là AH - 1 Shyrader bác Hai Ruộng à.
Nghe Tây với Gúc nó đồn là SkyRaider bạn ạ. Tên ấy nghe có ý nghĩa hơn Cheesy

Hầu như tất cả các loại máy bay quân sự của Mỹ đều có nickname bác ạ, Skyraider chỉ là nickname như vậy thôi. Còn Ah - 1 là tên định danh do KQM và nhà sản xuất người ta đặt cho loại máy bay này cùng tương tự như F - 22 vậy.
Logged

MRK
instant_noodle
Thành viên

Bài viết: 1


« Trả lời #148 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2011, 07:01:26 PM »

Hầu như tất cả các loại máy bay quân sự của Mỹ đều có nickname bác ạ, Skyraider chỉ là nickname như vậy thôi. Còn Ah - 1 là tên định danh do KQM và nhà sản xuất người ta đặt cho loại máy bay này cùng tương tự như F - 22 vậy.

Em có chỗ xin sửa: "nickname" của bác nói thực ra là định danh, còn "định danh" là tên gốc trên giấy tờ. AH-1 là tên gốc, SkyRaider là định danh.

Mỹ và NATO đặt tên "lóng" cho các loại phượng tiện quân sự của cả hắn lẫn nước khác để tiện cho việc thông báo cho nhau qua điện đàm ("tên lóng" là nói cho dễ hiểu, gọi văn vở là "định danh NATO" - NATO reporting name). Với các phương tiện của NATO thì em chưa rõ nó tự đặt nickname thế nào, nhưng với các nước khác thì chữ đầu của loại phương tiện sẽ là chữ đầu của nickname:
Ví dụ: Mi-8, Mi-24, Mi-28 là Helicopter (trực thăng) nên định danh NATO là Hip, Hind, Havok...; MiG-21, Su-27 là Fighter (tiêm kích) nên đặt là Fishbed, Flanker...; hay Tu-95 là Bomber (cường kích) nên định danh là Bear.

Chắc tại lính Mẽo toàn dạng chân tay phát triển tranh hết phần đầu óc, không nhớ nổi tên gốc nên phải đặt kiểu đó cho dễ hiểu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM