Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Tập 2

(1/33) > >>

UyenNhi05:
Tên sách: LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM - TẬP 2:  ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP TỰ CHỦ (từ năm 179 TCN đến năm 938)
Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
Năm xuất bản: 2001
Số hoá: ptlinh, UyenNhi05



Ban chủ nhiệm:

- Đại tá, PGS,TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG
- Đại tá, TS. LÊ ĐÌNH SỸ 
- Đại tá TRẦN BÍCH

Tác giả:
 
- GS. TRẦN QUỐC VƯỢNG (Chủ biên)
- Đại tá TS. LÊ ĐÌNH SỸ



                                                                        Các Vua Hùng đã có công dựng nước
                                                                                          Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước
                                                                                                                 

                                                                                                                          HỒ CHÍ MINH

UyenNhi05:


LỜI GIỚI THIỆU

Nhân kỷ niệm 55 năm ngày toàn quốc kháng chiến (19-12 -1946 – 19 - 12-2001), 57 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân (22-12-1944 - 22-12-2001), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tập 2 của bộ Lịch sử quân sự Việt Nam mang tiêu đề Đấu tranh giành độc lập tự chủ (từ năm 179 TCN đến năm 938) do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam chủ trì biên soạn.
 
Đây là giai đoạn lịch sử đau thương, bi tráng nhất của dân tộc kéo dài tới 1.117 năm kể từ sau khi Triệu Đà xâm lược đến lúc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938; là giai đoạn Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, đồng hoá và chống đồng hoá, giao thoa văn hoá liên tục, đấu tranh giành độc lập tự chủ và giữ gìn bản sắc văn hoá để đất nước do các vua Hùng khởi nghiệp mãi mãi là của các thế hệ người Việt Nam.

Có thể xem tập sách này là kết quả của sự kế thừa và nâng lên tầm cao mới về việc nghiên cứu, trình bày tiến trình lịch sử dân tộc trong đêm trường nô lệ, mà sự kiện sớm nhất diễn ra cách đây đã 2.180 năm và gần nhất cũng đã diễn ra 1.063 năm trong hơn mười một thế kỷ đất nước rơi vào ách thống trị của ngoại bang.  Ở giai đoạn lịch sử đó, các triều đại phong kiến phương Bắc kế tiếp nhau cai trị nước Trung Hoa rộng lớn, lúc thì thống nhất, khi thì phân liệt, các thế lực tranh hùng xâu xé lẫn nhau. Khi đã xác lập được quyền thống trì, xưng vương, xưng đế là các triều đại Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tùy, Đường, Nam Hán lập tức mang quân chinh phục, bành trướng các nước láng giềng.
 
Nhiều dân tộc ở phía bắc, tây bắc và phía nam Trung Quốc đã hoặc đang trong quá trình hình thành quốc gia - dân tộc lần lượt bị xoá sổ hoặc bị Hán hoá, đặc biệt là các dân tộc Bách Việt vùng Giang Nam gần sát nước ta.

Từ thất bại của An Dương Vương năm 179 TCN trước quân xâm lược Triệu Đà, nước Âu Lạc của các Lạc tướng và Lạc dân cũng rơi vào tình thế thử thách sống còn, bị biến thành các châu quận trực thuộc các đế chế của Hán tộc Trung Hoa.
 
Trong hơn một ngàn năm đô hộ ấy, kẻ thù đã tiến hành chế độ cai trị cực kỳ tàn khốc, bòn rút, vơ vét dã man về kinh tế để thoả mãn lòng tham của đội quân cai trị và dâng hiến triều đình. Chúng tiến hành những thủ đoạn chính trị hiểm độc lúc công khai, khi giấu mặt, khi nới lỏng vỗ về, lúc thắt buộc hà khắc nhằm chia rẽ dân tộc, làm giảm sức mạnh cố kết của toàn dân ta để dễ bề cai trị và cơỡng bức đồng hoá.
 
Có thể nói trong lịch sử mấy ngàn năm oai hùng khởi nguồn từ nền văn minh sông Hồng rực rỡ, đây là giai đoạn lịch sử đau buồn, một chương bi thảm nhất - đất nước đứng trước thảm hoạ diệt vong.

Nhưng cũng trong hơn một ngàn năm thương đau ấy, ông cha ta chưa bao giờ khuất phục cam chịu làm nô lệ, đã liên tiếp nổi dậy tiến hành các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, từ quy mô vùng miền đến quy mô toàn quốc, nhiều giai đoạn ngắn đã giành được quyền tự chủ, hàng ngàn cuộc nổi dậy và chiến tranh giải phóng đã diễn ra mà cuộc nổi dậy sớm nhất sử sách còn ghi chép được là cuộc khởi nghĩa của Tây Vu Vương năm 111 TCN chống lại nhà Tây Hán và tiếp đó là các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40), Bà Triệu (248), Lý Bí - Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử (542-602), Lý Tự Tiên - Đinh Kiến (687), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766-791), Dương Thanh (819-820), Khúc Thừa Dụ (905-930), Dương Đình Nghệ (931-937)... và cuối cùng là cuộc kháng chiến của Ngô Quyền với việc đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, khôi phục đầy đủ quyền độc lập tự chủ của đất nước, mở đầu cho sự phục hưng rực rỡ của Đại Việt sau này.

Ngoài việc trình bày sáng rõ diễn trình lịch sử, khai thác triệt để các nguồn tư liệu lịch sử ít ỏi còn lưu lại trong các bộ sử và những công trình khoa học đã được khẳng định, các tác giả của tập sách đã dành nhiều tâm huyết để luận giải, đúc kết, khái quát truyền thống và nghệ thuật quân sự của cha ông ở giai đoạn lịch sử này với những hình thức chủ yếu là từ khởi nghĩa địa phương tiến lên tiến hành chiến tranh giải phóng, và khi đã giành được tự chủ ở các cấp độ khác nhau phải tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược để bảo vệ nền tự chủ.

Đối tượng tác chiến của dân tộc ta lúc này là chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, thế lực lớn mạnh nhất ở phương Đông có trình độ văn minh cao, quân đội hùng mạnh và dày dạn kinh nghiệm chiến trận trong đấu tranh giành quyền lực nội bộ và chinh phục bên ngoài. Trong điều kiện phải lấy yếu chống mạnh lấy ít địch nhiều, không còn cách nào khác ông cha ta phải dùng kế đánh lâu dài, lấy đánh du kích là phương thức tác chiến chủ yếu, bước đầu hình thành nghệ thuật tổ chức và thực hành khởi nghĩa của toàn dân, chú trọng tổ chức lực lượng và địa bàn khởi nghĩa, lợi dụng địa bàn hiểm yếu để đánh trận quyết chiến chiến lược, mở đầu cho truyền thống thủy chiến Bạch Đằng.

Là những nhà nghiên cứu am tường lịch sử cha ông từ cội nguồn, các tác giả của tập sách đã luận giải một cách tường minh vì sao dân tộc ta mất nước và chịu ách thống trị của ngoại bang lâu dài đến như vậy? Vì sao dưới sự thống trị bạo tàn và âm mưu đồng hoá hiểm độc của kẻ đô hộ mà nền văn hoá dân tộc vẫn tiếp tục trường tồn cùng lịch sử?

UyenNhi05:

Vùng Hoa Hạ, cái nôi của nền văn minh nông nghiệp trồng khô: kê - mạch - cao lương của người Hoa - Hán đã phát triển rực rỡ từ rất sớm, nhà nước tập quyền chuyên chế đã được xác lập Và ngày càng hùng mạnh. Tự cho mình là tộc người ưu tú đứng ở trung tâm thiên hạ, giai cấp thống trị quý tộc người Hoa - Hán’ mặc nhiên xem mình thay trời hành đạo, nảy sinh tư tưởng tự tôn gánh vác trách nhiệm “bình thiên hạ” của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán.

Có thể xem các triều đại của đế chế Trung Hoa là điển hình của việc chính quyền ra đời từ các cuộc chiến tranh khốc liệt.  Quân đội của họ được tổ chức chặt chẽ, lại không ngừng tiếp thu hình thức tác chiến kỵ binh vốn là sản phẩm của các tộc người du mục miền bắc, các đội thuyền chiến lớn của miền sông nước Giang Nam, lại được cổ vũ bởi các học thuyết quân sự lớn, nên rất hùng mạnh, thiện chiến và tàn bạo.
 
Một dân tộc nhỏ bé chưa vượt thoát mô hình chế độ quân chủ bộ lạc, dân số chỉ chừng một triệu người, quân ít và trang bị thô sơ khó có thể đứng vững trước kẻ thù bành trướng hùng mạnh, số dân đến 50 triệu, quân đội lúc cao nhất có tới hàng trăm vạn. Sau khi chiếm được đất nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc tiến hành nhiều hình thức cai trị ngày càng hà khắc, chính quyền của nó lúc đầu chỉ cai quản được ở châu quận, dần dần vươn tới hương, xã.

Đồng thời với việc cai trị và bòn rút của cải, kẻ thống trị tiến hành những thủ đoạn đồng hoá cưỡng bức rất thâm độc và bạo tàn, hy vọng có thể Hán hoá được toàn bộ dân tộc ta, xoá bỏ toàn bộ đất nước ta. Sau mỗi lần cha ông ta nổi dậy giành quyền tự chủ, các thế lực ngoại bang lại huy động những đội quân xâm lược lớn sang đàn áp khốc liệt hơn, thiết lập hệ thống cai trị chặt chẽ hơn. Thất bại của những cuộc khởi nghĩa trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc chính là thất bại bởi hoàn cảnh lịch sử.

Nhưng kỳ diệu thay, cha ông ta mất nước nhưng không mất làng. Chính làng xóm cổ truyền của người Việt là nơi lưu giữ sức mạnh văn hoá Việt Nam, nơi con người cố kết, đùm bọc lẫn nhau tạo ra sức mạnh bền chặt chống lại ách đô hộ, chống lại mưu đồ đồng hoá, qua đấu tranh để rèn luyện bản lĩnh và đặc tính dân tộc.
 
Chính xóm làng không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá cổ truyền mà còn mở rộng tiếp thu chọn lọc những yếu tố văn hoá ngoại sinh tiên tiến, kể cả nền văn hoá chân chính, đẹp đẽ của người Trung Hoa, là pháo đài kiên cố chống lại mưu đồ đồng hoá thâm độc của kẻ thù.
 
Nhờ sức mạnh bền chặt của nền văn hoá Việt Nam mà hạt nhân cơ bản là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần quật cường, cố kết, tương thân tương ái, vừa dũng cảm, vừa thông minh, sáng tạo đã là nhân tố quyết định làm cho dân tộc ta qua 1.117 năm bị đô hộ nhưng không hề bị đồng hoá và cuối cùng đã giành được độc lập tự chủ.
 
Ôn lại chương sử bi hùng của hơn một ngàn năm mất nước để ghi nhớ, nghĩ suy và rút ra những bài học cần thiết trong hành trình dân tộc tiến tới tương lai theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.  Do điều kiện khách quan và trình độ của người biên soạn, cuốn sách khó tránh khỏi còn những thiếu sót. Nhà xuất bản cùng các tác giả rất mong bạn đọc gần xa góp ý kiến để sửa chữa và bổ sung hoàn chỉnh hơn.

                                                                                                                   
                                                                                                                Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
                                                                                                                                      Tháng 12 năm 2001
                             
                                                                                                                         NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

UyenNhi05:

MỞ ĐẦU

Trong tiến trình lịch sử quân sự Việt Nam, sau giai đoạn dựng nước và giữ nước thời Hùng Vương - An Dương Vương là một thời kỳ dài hơn mười một thế kỷ đấu tranh giành độc lập tự chủ, thời kỳ mà sử sách nước ta gọi là thời Bắc thuộc.  Đây là một đêm trường đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam.  Đất nước bị ngoại bang đô hộ, nhân dân phải sống trong kiếp nô lệ, lầm than với biết bao đau thương tủi nhục.
 
Đất nước Văn Lang - Âu Lạc của các vua Hùng, vua Thục của người Việt lâm vào thảm hoạ diệt vong, đứng trước thử thách của sự mất còn. Nhưng không cam chịu làm nô lệ, không chịu để nước mất nhà tan, nhân dân ta thời kỳ đó đã vùng lên đấu tranh chống Bắc thuộc.
 
Trải qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, nhân dân ta đã từng bước giành thắng lợi và cuối cùng cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc đã toàn thắng. Bắt đầu là tinh thần quật khởi của nhân dân thời Hai Bà Trưng (năm 40), kết thúc là chiến thắng Bạch Đằng vào năm 938. Chiến công này như một cột mốc lịch sử quan trọng, chấm dứt thời kỳ đau thương của đất nước mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài, phục hưng rực rỡ của dân tộc.

Đã có nhiều nhà khoa học nhà sử học nghiên cứu và viết về giai đoạn lịch sử này. Trong mấy thập kỷ gần đây, giới sử học, khảo cổ học, dân tộc học văn hoá học, v.v. đã công bố những kết quả nghiên cứu của mình trên nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, về đất nước và con người Việt Nam giai đoạn Bắc thuộc.
 
Nhiều công trình khoa học được xuất bản, trong đó có những bộ Lịch sử Việt Nam, phản ánh khá sâu đậm về lịch sử dân tộc thời kỳ này. Đó là thành quả, là những cố gắng lớn của giới sử học nước nhà.
 
Tuy nhiên, lịch sử giai đoạn này còn nhiều khoảng trống chưa được nghiên cứu, và đặc biệt, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình lịch sử quân sự nào phản ánh đầy đủ các hoạt động quân sự trong diễn trình Bắc thuộc và chống Bắc thuộc.

Vì thế, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, trong bộ sách Lịch sử quân sự Việt Nam (14 tập) đã dành tập 2 viết về thời Bắc thuộc, về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta từ thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ X.

Mong muốn của Ban chỉ đạo và các tác giả của tập sách là kế thừa những thành quả nghiên cứu trước đây, tập hợp tư hếu lịch sử cổ của Việt Nam và Trung Quốc, đề xuất những ý kiến mới, nhằm phản ánh một cách hệ thống, tương đồi đầy đủ, toàn diện về lịch sử quân sự dân tộc ta trong hơn một ngàn năm đấu tranh giành độc lập tự chủ.

Lịch sử quân sự Việt Nam từ thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ X là lịch sử của các hoạt động quân sự của nhân dân ta trong cuộc trường chinh chống ách đô hộ ngoại bang.

Thời bấy giờ, làn sóng xâm lược, bành trướng Đại Hán qua nhiều triều đại như: Tần, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương. Trần, Tuỳ, Đường dồn dập tràn xuống phía nam. Nhiều quốc gia, dân tộc đã thành lập hoặc đang trong quá trình hình thành đã bị đồng hoá; bị xẻ chia và sáp nhập.
 
Duy chỉ có tộc Việt sống trên lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc xưa là trụ vững không những không bị đồng hoá mà còn sớm biết bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá cổ truyền đồng thời biết hấp thụ các nhân tố văn hoá tiến bộ khác làm phong phú cho nền văn hoá dân tộc, tăng thêm nội lực cho đất nước.
 
Cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ các di sản văn hoá cổ truyền của nhân dân ta đã thành công. Đến thế kỷ X, nhân dân ta đã giành được quyền tự chủ đất nước.
 
Thực tiễn công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong hơn mười một thế kỷ ấy đã diễn ra như thế nào? Nguyên nhân thành công và thất bại của từng cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược trong giai đoạn này là gì? Nguồn gốc sức mạnh cứu nước của dân tộc ta từ đâu? Tại sao sau hơn một ngàn năm mất nước mà nhân dân ta đã giành lại được nước? Điều kỳ diệu này của lịch sử dân tộc cần được lý giải ra sao? v.v.. Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề khoa học này cũng chính là mục đích của Ban chỉ đạo và các tác giả tham gia nghiên cứu và viết lịch sử quân sự giai đoạn này.

Thắng lợi trên lĩnh vực dấu tranh quân sự của dân tộc trong hơn một ngàn năm nói trên có ý nghĩa lớn lao trên nhiều lĩnh vực. Phong trào đấu tranh chứng tỏ sức sống mãnh liệt của nền văn hoá dân tộc, chứng tỏ sức mạnh cứu nước - giữ nước Việt Nam được xây đắp từ buổi đầu dựng nước; đồng thời cũng thể hiện quyết tâm giành độc lập, ý chí tự lực tự cường, tinh thần quật khởi và khí phách anh hùng bất khuất của nhân dân ta trong sự nghiệp chống ngoại xâm. Ý chí độc lập tự chủ và tinh thần đoàn kết thống nhất luôn luôn là cội nguồn cơ bản tạo nên sức mạnh kỳ diệu của dân  tộc ta.

Những trang sử dưới đây sẽ góp phần phản ánh thực tiễn chân thực và sinh động của cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hoá của nhân dân ta; góp phần làm sáng tỏ chân lý lịch sử: Một dân tộc dù nhỏ nhưng đã dơng nên và làm chủ đất nước mình và số phận mình, là bất khuất và bất diệt.  Nó có thể tạm thời bị thất bại, nhưng không một sức mạnh nào có thể tiêu diệt được nó. Cuộc chiến đấu chính nghĩa vì độc lập tụ chủ, cuối cùng sẽ toàn thắng.

UyenNhi05:


NƯỚC ÂU LẠC DƯỚI ÁCH ĐÔ HỘ CỦA PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC.
KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC DO HAI BÀ TRƯNG LÃNH ĐẠO
(TỪ NĂM 179 TCN ĐẾN NĂM 44)

I. NƯỚC ÂU LẠC TỪ SAU THẤT BẠI CỦA AN DƯƠNG VƯƠNG ĐẾN TRƯỚC THỜI TRƯNG VƯƠNG

1. Âu Lạc dưới ách thống trị của Nam Việt (179 -111 TCN)

Trước khi bị người phương Bắc chiếm đóng, Âu Lạc đã trải qua một thời kỳ dài dựng nước và giữ nước. Trên lãnh thổ Âu Lạc vốn đã xuất hiện một nền văn minh rực rỡ. Đó là văn minh sông Hồng mà người ta thường gọi là văn minh Đông Sơn hay văn minh Văn Lang - Âu Lạc, một nền văn minh bản địa có cơ sở từ nền kinh tế Nông nghiệp trồng lúa nước và một kết cấu xã hội kết hợp chặt chẽ giữa nhà - làng, vùng - miền và nước của cộng đồng người Việt cổ.
 
Xã hội Âu Lạc thời An Dương Vương đã phân hoá với những đặc trưng của hình thái Á châu. Tầng lớp dân tự do là thành viên của công xã Nông thôn tuy bị bóc lột nhưng vẫn bảo tồn được quan hệ bình đẳng trong kinh tế - xã hội. Tầng lớp thống trị đã vượt lên trên xã hội, nhưng chưa tách hẳn khối bình dân và mức độ bóc lột chưa gay gắt. Tầng lớp Nô tì bị bóc lột nặng nề hơn nhưng chỉ là thứ yếu trong xã hội.
 
Năm 179 TCN cuộc chiến đấu giữ nước của An Dương Vương thất bại. Từ đây cơ đồ Âu Lạc bị chìm đắm trong thảm hoạ bị người phương Bắc đô hộ, bắt đầu từ Nam Việt - Triệu Đà tiếp sau là các thế lực phong kiến Hán tộc trong nhiều triều đại khác nhau như Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ và Đường.

Sau khi chinh phục được Âu Lạc, Triệu Đà sáp nhập đất đai Âu Lạc vào lãnh thổ Nam Việt và tổ chức việc cai trị trên vùng đất này. Lãnh thổ Âu Lạc bị chia thành hai quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (Thanh Nghệ Tĩnh).

Trước đấy, năm 206 TCN, Triệu Đà chiếm lĩnh địa bàn lưu vực Tây Giang gồm các quận Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (bắc và đông Quảng Tây) và Tượng (tây Quảng Tây và nam Quý Châu), thành lập nước Nam Việt với kinh đô là Phiên Ngung (Quảng Châu).

Bằng cách chia Âu Lạc thành hai quận nói trên, Triệu Đà đã biến Âu Lạc thành những khu vực hành chính của lãnh thổ Nam Việt dưới quyền cai trị của mình. Với hơn nửa thế kỷ sinh sống ở đất Việt, Triệu Đà (gốc người nước Triệu, Hoa Bắc) đã ít nhiều Việt hoá.

Triệu Đà đặt hai viên quan sứ (đại diện của triều đình Phiên Ngung) để trông coi hai quận mới chiếm được. Sách Quảng châu ký (thế kỷ V) viết: “Nam Việt Vương Uý Đà đánh phá An Dương Vương, sai hai quan sứ trông coi hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tức là Âu Lạc vậy” (1).
 
Như thế, tổ chức chính quyền mới của Nam Việt đã bước đầu hình thành và phân chia dân cơ theo khu vực. Nhưng tất nhiên, tổ chức cũ theo huyết thống và tộc người còn tồn tại dai dẳng khá lâu ở đây không đặt thái thú cũng không có võ uý, chứng tỏ triều đình Nam Việt không trực tiếp cai trị Âu Lạc.
 
Trên thực tế, dưới cấp quận chưa có một hệ thống hành chính mới nào khác, nghĩa là chế độ “Lạc tướng cai trị Lạc dân” cơ bản vẫn như cũ. Trong hàng Lạc tướng, chúng ta vẫn thấy có các chức “vương” (Tây Vu Vương). Tây Vu là đất đai của bộ lạc cũ của họ Thục, vậy Tây Vu Vương có thể là con cháu của Thục Phán và có thể Triệu Đà vẫn để cho con cháu An Dương Vương làm chủ đất Tây Vu (Cổ Loa).
Trong các vùng (bộ hay “bộ lạc” theo Việt sử lược ) các Lạc tướng vẫn đứng đầu, cha truyền con nối, gọi là “phụ đạo” (2).

Lạc tướng vốn là các tù trưởng bộ lạc chuyển hoá mà thành. Họ có các trợ thủ và đội thân binh giúp việc cai quản và bảo vệ.


(1) Dẫn theo Tư Mã Thiên: Sử ký, q.113, T.2b.
(2). Nhà ngôn ngữ học GS,TS. Hoàng Thị châu đã cho rằng “phụ đạo , là một loại hình p’ tao , m’ tao . . . , có nghĩa hiện đại là “thủ lĩnh địa phương”. 

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page