ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 01:01:50 PM » |
|
Vi Quốc Thanh cho rằng: trong tình hình sửa chữa tốt đường sá, vẫn còn cần hai, ba năm, mà cũng chưa có căn cứ tuyệt đối. Ông nói thêm, La Quý Ba cũng đồng ý quan điểm này. Hồ Chí Minh cũng đồng tình nói, trong điều kiện nói trên, phía Việt Nam phải đánh thêm từ 3 đến 5 năm nữa mới có thể giành thắng lợi. Buổi chiều khi kết thúc hội nghị, Chu Ân Lai đã trình bầy tóm tắt cách nhìn về tình hình quốc tế. Ông chỉ ra, vấn đề Đông Dương đã quốc tế hoá, Mỹ và Liên Xô chưa bị cuốn vào cuộc chiến tranh Đông Dương, nên đều muốn cục bộ hoá vấn đề. Vấn đề Đông Dương cũng ảnh hưởng đến cả Đông Nam Á, ảnh hưởng đến tình hình châu Âu và thế giới. Hội nghị Genève có ảnh hưởng tới nội các Pháp khiến nước Pháp phải thay đổi nội các, có thể thấy có mối liên hệ giữa địa vị của nước Pháp tại châu Âu và mâu thuẫn trong nước. Vấn đề Đông Dương cũng ảnh hưởng tới nước Anh. Nước Anh có liên hệ với 7 lãnh thổ như Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanca, Malaysia, Hồng Kông, Australia và New Zealand. Vấn đề Đông Dương cũng ảnh hưởng tới Mỹ. Nước Mỹ đang đặt ra tuyến phong toả trên toàn thế giới mà Đông Dương là một khâu quan trọng. Đông Dương đã trở thành sợi dây xích nối liền 3 châu Á, Phi, Âu. Chu Ân Lai nói, chúng ta nên tranh thủ hoà bình, mở rộng lực lượng hoà bình. Phải phát triển hoà bình khiến Mỹ không thể tìm được cớ gây chiến. Phải đề phòng Mỹ can thiệp vũ trang vào ba nước Đông Dương. Ông chỉ ra, vấn đề Triều Tiên phức tạp hoá là do Mỹ tăng viện, mà tăng viện của họ nhanh như vậy là ngoài dự kiến. Nhân lúc Liên Xô không có mặt tại Hội đồng Bảo an, Liên Hiệp quốc tiến hành can thiệp. Nếu không có tăng viện của Mỹ, phía Triều Tiên đã đuổi Lý Thừa Vãn(33) xuống biển từ lâu. Bây giờ Đông Dương lại là một vấn đề như vậy. Những nhà đương cục thường bị cục bộ hạn chế. Gần đây Mỹ, Xô họp hội nghị ở Wasington, Mỹ cũng chuẩn bị hai con đường, nếu Đông Dương không hoà bình được, Mỹ sẽ tiến hành can thiệp. Từ điểm đó cho thấy, chúng ta còn chưa có khả năng ngay lập tức được cả Đông Dương. Chu Ân Lai đề xuất, nếu như tại Việt Nam lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến; Lào, Campuchia trung lập, cô lập Bảo Đại, hai năm sau do Liên Hiệp quốc giám sát bầu cử, Đảng Lao Động có khả năng thành công trong bầu cử. Làm tốt công tác, có khả năng giành được cả Việt Nam, xu thế này có thể khẳng định. Vì thế hiện nay chỉ có một nhiệm vụ, đó là tranh thủ Đông Dương hoà bình, dùng phương thức hoà bình giành được cả Việt Nam, tiến hành cạnh tranh hoà bình, khiến tình hình thế giới phát sinh thay đổi có lợi cho chúng ta. 8 giờ tối, cử hành phiên họp lần thứ ba. Chu Ân Lai đã phát biểu dài về đề tài “Vấn đề chiến tranh và hoà bình”. Tư tưởng trung tâm của bài nói là, phải toàn lực tranh thủ giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương. Nếu không làm được điểm này, cuộc chiến Đông Dương có nguy cơ mở rộng. Nếu như vậy là nguy hiểm, sẽ phải trả giá nặng nề. Ông chỉ ra, áp dụng mô hình Triều Tiên vào vấn đề Việt Nam, vạch ra một giới tuyến tạm thời, xem ra phải cắt miền Nam, miền Nam tạm thời không có lợi. Nhưng có thể chờ đợi bầu cử, và có thể giành thắng lợi trong bầu cử. Vấn đề là phải nhìn về lâu dài, nếu Mỹ tiến hành can thiệp thì có khả năng mọi cái đều mất hết. Nếu Mỹ xây căn cứ ở Xiêng Khoảng, Bảo Đại ngả vào lòng Mỹ thì miền Nam Việt Nam cũng sẽ chịu ảnh hưởng, thậm chí bị tàn phá. Cho nên phải xem xét vấn đề từ trong thay đổi và phát triển. Dù cho không thay đổi, tiếp tục đánh cũng phải 3 năm. Nếu Mỹ tiến hành can thiệp thì khu Đỏ sẽ biến thành Trắng. Kinh nghiệm của Trung Quốc về mặt này quá nhiều. Hồng quân công nông Trung Quốc khi trường chinh đã từng để lại (ở khu Xô viết Giang Tây) mấy ngàn người địa phương, sau này không còn ai. Nếu như theo phương châm của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, tranh thủ Đông Dương hoà bình vạch đường giới tuyến, đối với Việt Nam mà nói, đã có thể củng cố được địa phương, vùng giải phóng có 12, 13 triệu dân, so với Bắc Triều Tiên còn nhiều hơn, lại có cửa biển, có thể thành một cục diện ở Đông Nam Á. Tương lai khi Trung Quốc và Việt Nam sửa thông đường sắt, cho dù miền Nam Việt Nam nhất thời chưa thể tuyển cử, chúng ta vẫn có thể ảnh hưởng tới nó. Lào, Campuchia cho dù có lạc hậu một chút thì vẫn tốt hơn là biến thành căn cứ của Mỹ. Lật ngược lại vấn đề mà nói, nếu tình hình Đông Dương bước đầu không lợi, nếu Mỹ can thiệp, trước tiên Đông Dương sẽ bị tàn phá. Có khi một địa phương chậm giải phóng, nhưng lại có lợi cho toàn cục, cho nên có khi phải biết chờ đợi một chút. Phải căn cứ vào khả năng mà làm việc. Điểm này phải nói cho rõ. Trung Quốc đã có ví dụ như vậy, chúng tôi rút khỏi vùng đã chiếm, như Đại Biệt sơn, Đông Giang, Quảng Đông v.v… Chúng tôi rút đi, cách một, hai năm hoặc bốn năm, rồi chúng tôi lại trở lại. Phải nói rõ cho cán bộ, đại bộ phận cán bộ sẽ rút đi, để lại một bộ phận cán bộ, tương lai sẽ tốt. Cũng nên nói rõ với dân chúng, sau này không nên oán trách. Nên nói rõ với Uỷ viên Trung ương, cán bộ cao cấp, cán bộ trung cấp và cấp dưới, thuyết minh nếu đánh nhau nữa, về quân sự không thể giành được cả Việt Nam, mà lợi ích trước mắt cũng không thể giữ nổi. Còn nếu sử dụng phương thức hoà bình thì có khả năng giành được cả Việt Nam, nhưng cũng không phải là nói nhất định giành được, phải xem sự phát triển. Chiến dịch Điện Biên Phủ chứng minh chúng ta đang có sự thay đổi về chất, mặc dù còn chưa thể nói rằng chúng ta có thể giành được thắng lợi trên toàn Việt Nam. Thế nhưng chiến dịch này đã làm quân địch kinh hoàng tỉnh ngộ, thúc đẩy nó hạ quyết tâm can thiệp. Nhưng phương pháp can thiệp của kẻ địch có khó khăn. Kẻ địch sợ Trung Quốc “bành trướng” cho nên không muốn để một nuớc Việt Nam giành được thắng lợi qui mô lớn. Vì vậy, muốn dựa vào thắng lợi quân sự để giành được toàn Việt Nam, xét từ mặt nào cũng đều không có khả năng. Nhưng tồn tại khả năng hoà bình thì giành được toàn Việt Nam. Thế nhưng giành được vào lúc nào phải có bước đi. Đường số 9 hiện nay dường như không có vấn đề, chúng ta có thể bảo trì. Cảng Đà Nẵng có thể suy tính để cho nước Pháp một, hai năm, cũng có thể coi là một biện pháp. Vĩ tuyến 16 trở ra bắc là nơi Việt Nam hưng quốc, có 13 triệu dân, có thể xây dựng, có cảng biển lại có thể sửa chữa đường sắt, cán bộ cũng có thể ra nước ngoài huấn luyện quân sự, chí ít có thể tăng cường vũ trang đã có, tương lai lưu lại ở vùng du kích làm công tác. Vấn đề Đông Dương cần tham chiếu tình hình Triều Tiên. Bầu cử ở Triều Tiên cần hai bên hiệp thương, chế định biện pháp bầu cử. Hiệp thương hai bên Triều Tiên làm không tốt, Việt Nam cũng sẽ không thành, nói chung cần một, hai năm phát triển tình hình. Chu Ân Lai chỉ ra thêm, hoà bình có thể làm tăng thêm mâu thuẫn Pháp, Mỹ, thậm chí Mendès-France(34) cũng đã nói, nếu như không thể hoà bình chỉ có quốc tế hoá, nếu như Mendès-France thất bại, Đảng Cộng hoà Nhân dân hoặc Đảng Xã hội lên cầm quyền đều không có lợi đối với vấn đề Đông Dương. Còn về điều kiện ngừng bắn tại Việt Nam, Chu Ân Lai chỉ ra, sau khi lên cầm quyền, Mendès-France tranh lấy Hải Phòng. Trong điều kiện ngừng bắn làm tốt, cuối cùng có thể lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến. Vạn nhất còn chưa được có thể tính tới việc lấy đường Chín làm giới tuyến. Cảng Đà Nẵng, Thuận Hoá có thể coi là đặc biệt lưu lại cho Pháp một, hai năm, như thế chúng ta có thể đòi các điều kiện khác. Điều kiện ngừng bắn ở Đông Dương là: một, ngừng bắn đồng thời; hai, vạch vùng; ba, không đưa vào quân đội mới và vũ khí đạn dược. Như vậy có thể bịt chặt Mỹ. Trước khi ngừng bắn, quân đội Việt Nam còn cần bao nhiêu vũ khí, chúng tôi có thể vận chuyển trước, sau đó trong nửa năm không vận chuyển vào bất kỳ vũ khí nào. Đề nghị các đồng chí làm một kế hoạch để tiện vận chuyển vào. Có thể vận chuyển vào những thứ mà 10 sư đoàn bộ binh cần thiết. Về vấn đề bầu cử. Khi thuyết minh với cán bộ và nhân dân, không nên nói bầu cử rất dễ, vấn đề này phải trải qua đấu tranh lâu dài. Tất nhiên Đông Dương không thể chia ra mà cai trị lâu dài. Hội nghị ngày hôm ấy chia ra làm ba đoạn sáng, chiều và tối. Giữa hè nóng bức, lúc này còn chưa có điều hoà không khí, ngồi ở trong phòng mồ hôi ra như tắm. Do quá nóng bức, Hồ Chí Minh quấn khăn ướt lên đầu để giảm nhiệt, Chu Ân Lai vẫn quần áo chỉnh tề. Để họp tốt Hội nghị Liễu Châu, Phòng Giao tế Quảng Tây đã cử tới những nhân viên đắc lực. Khương Chấn Kiệt, người phụ trách các phòng đại biểu Việt Nam vốn theo Dã chiến quân thứ tư từ Đông Bắc đánh xuống Quảng Tây, sau khi vào thành phố được cử làm công tác tiếp đón. Mấy năm qua, bà đã trở thành một cán bộ đón tiếp có kinh nghiệm. Hôm đó Hồ Chí Minh đi họp, Khương Chấn Kiệt tới phòng ngủ của Hồ Chí Minh kiểm tra vệ sinh, phát hiện thấy trên nền nhà có một mảnh vải. Suy nghĩ một lúc bà cũng không biết là dùng để làm gì, hay là Hồ Chí Minh đã dùng để buộc cái gì vậy? Rồi bà thuận tay vứt vào một hộp giấy. Ai ngờ sau cuộc họp, khi về đến phòng Hồ Chí Minh lập tức tìm người phục vụ hỏi: “Cái thắt lưng của tôi đâu rồi?” Các nhân viên phục vụ đều nói không thấy, rồi báo cáo lên Khương Chấn Kiệt. Và điều này đã làm Khương Chấn Kiệt nghĩ ra, bà tới phòng Hồ Chí Minh, từ thùng giấy nhặt mảnh vải lên, hỏi Hồ Chí Minh: “Có phải mảnh vải này không ạ?” Hồ Chí Minh gật đầu nói phải, đại khái là đặt vào lưng ghế tựa rồi bị rơi xuống đất, còn nói nó là cái ông cần dùng. Khương Chấn Kiệt nói một cách cảm khái: “Hồ Chủ tịch, người thật gian khổ, giản dị vậy!”(35). Vào hạ tuần tháng 6, bốn sư đoàn chủ lực quân đội Việt Nam hoàn thành chiến dịch Điện Biên Phủ đã về tới vùng tập kết ở tây bắc Hà Nội 80 km. Văn Tiến Dũng(36), Tổng Tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam (1953-1978) chỉ huy một bộ phận nhỏ sư đoàn 320 thâm nhập vào nơi chỉ cách Hà Nội 15 km. Để cố giữ chặt đồng bằng sông Hồng, Mỹ cho máy bay vận tải chở tới một trung đoàn 2.100 quân từ Bắc Phi, đến lúc này đã lộ rõ đó chỉ là đem muối bỏ biển, chẳng được tích sự gì. Chiến trường Việt Nam tiếp tục xảy ra những thay đổi có lợi cho quân đội Việt Nam. Ngày 24 tháng 6, Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh chiếm thị xã An Khê trên đường quốc lộ 19 tại Trung bộ Việt Nam, một bộ phận Trung đoàn cơ động số 100 của Pháp rút từ An Khê về Pleiku, giữa đường bị Quân đội Nhân dân Việt Nam tập kích. Trong trận đánh này binh lực hai bên Việt, Pháp hầu như bằng nhau, binh lực của Việt Nam không nhiều hơn bao nhiêu, hai bên hoàn toàn có thể đánh nhau. Nhưng quân Pháp không còn sĩ khí, thần hồn nát thần tính, hoảng hốt sợ hãi vừa đánh đã thua, hơn 1.000 quân hầu như bị tiêu diệt toàn bộ. Qua trận đánh này quân đội Việt Nam hoàn toàn chiếm quyền chủ động trên chiến trường miền Trung Việt Nam. Từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 6, tại miền Bắc Việt Nam quân Pháp rút bỏ 5 huyện lỵ, hơn 60 cứ điểm, trong đó có thủ phủ hai tỉnh Ninh Bình và Thái Bình. Ngày 3 tháng 7 quân Pháp lại rút khỏi một thủ phủ tỉnh. Khi quân đội Pháp rút lui, quân đội Việt Nam tiến hành tấn công, quân Pháp tổn thất trên một ngàn người. Trước tình hình này, dù đang ở Liễu Châu, nhưng Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh đều rất quan tâm chú ý. Phiên họp thứ tư của Hội nghị Liễu Châu họp vào sáng ngày 4 tháng 7, do Chương Văn Tấn ghi chép. _____________ (33) Syngman Rhee (1875-1965), Tổng thống đầu tiên của Đại Hàn Dân Quốc (Nam Triều Tiên) từ năm 1948 đến khi đó. (34) Pierre Mendès-France (1907-1982) Thủ tướng Pháp trong thời gian hội nghị Genève 1954. (35) Phỏng vấn Hứa Kỳ Tình ngày 9 tháng 6 năm 2004. TG (36) (1917–2002) khi đó là Thiếu tướng. Đại tướng (1974), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1980-1986).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 01:03:46 PM » |
|
Chu Ân Lai nhấn mạnh nói về những vấn đề có liên quan tới việc Việt Nam vạch giới tuyến tạm thời để cai quản. Ông chỉ ra, căn cứ vào mức độ mà hai bên có khả năng tiếp nhận, nói chung cuối cùng đạt được hiệp nghị ở vĩ tuyến 16 mới là tốt. Một bộ phận người lãnh đạo ở nam vĩ tuyến 16 có thể rút lên phần bắc vĩ tuyến 16, nhưng những người lãnh đạo chủ yếu có liên hệ với quần chúng, nói chung phải ở lại, chuẩn bị bầu cử. Công tác công khai và bí mật đều cần người. Nếu có thể tiến hành bầu cử tất nhiên là tốt rồi, còn nếu bầu cử chậm, thậm chí không thể tiến hành vẫn có thể công tác trong quần chúng. Về việc rút khỏi phần nam vĩ tuyến 16, phải thuyết phục quần chúng. Dù có khó khăn cũng phải thuyết phục họ, làm như vậy là vì lợi ích chung. Về vấn đề Lào và Campuchia, Chu Ân Lai cho rằng, phương châm cần phải khác với Việt Nam. Việt Nam dựa vào sự phấn đấu của mình mà đi lên, mà bản chất là chủ nghĩa dân chủ mới. Nhưng Lào và Campuchia không giống thế, trước mắt chỉ cần họ được tự do, dân chủ, độc lập là tuyệt lắm rồi. Điều quan trọng là làm cho họ không ngả về phía đế quốc, bảo trì được trung lập. Nhìn lại phía sau, một lần nữa Chu Ân Lai chỉ ra, Hội nghị Genève 8 tuần lễ qua, nói chung cho rằng là có thành tích, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô cũng cho là như vậy, chủ yếu là do lực lượng 3 nước, thêm nữa là tác dụng lãnh đạo của Đoàn đại biểu Liên Xô. Đoàn đại biểu Liên Xô có nhiều kinh nghiệm, không chỉ cần họ nắm về sách lược mà kỹ thuật, văn kiện, cũng phải dựa vào họ. Tất nhiên họ cũng có một số khuyết điểm, có lúc chuẩn bị chưa được tốt, có khi nói quá nhiều, có khi lại nói ít. Từ sau ngày 20 tháng 6, Ngoại trưởng các nước rời Genève. Ba tuần lễ sau đó, công tác của chúng ta là, tuần lễ thứ nhất làm tốt không khí. Vì vậy tôi đã gặp Mendès-France, cũng gặp Đoàn đại biểu Lào, Campuchia. Tuần lễ thứ hai, cố ý kéo dài ra một chút, thế là nước Pháp đề xuất một phương án về vạch giới tuyến ở Việt Nam, thể là nắm được con bài của ông ta. Tuần lễ thứ ba, cũng tức là hiện nay, chuẩn bị giải quyết một số vấn đề. Như thế là trong tuần lễ thứ ba, cũng có thể có tuần lễ thứ tư cố sức có thể bàn xong vấn đề. Sau đó trong tháng 7 phải họp Hội nghị Ngoại trưởng thông qua vấn đề nguyên tắc và bàn vấn đề chính trị. Hy vọng là Hội nghị Genève không đứt đoạn, đợi đến cuối năm mới họp một lần nữa, như thế thì Liên Hiệp quốc không có tác dụng. Đợi sau khi đình chiến mấy tháng họp lại, đem cụ thể hoá vấn đề chính trị, đồng thời do các nước bảo đảm, thẩm tra tình hình đình chiến, cũng có thể suy tính tới việc mở rộng nước bảo đảm. Nếu như thu hút được các nước như Ấn Độ vào thì có chỗ tốt, có thể buộc chặt Mỹ. Chu Ân Lai nói rất tỉ mỉ, trình bầy ý kiến Trung Quốc hy vọng vạch đường phân giới tạm thời tại vĩ tuyến 16 vô cùng rõ ràng. Lúc này quan điểm hai bên về việc có thể đạt thành hiệp nghị tại vĩ tuyến 16 trên thực tế đã được phía Việt Nam tiếp thu. Tiếp đó đã thảo luận một số vấn đề cụ thể. Chu Ân Lai chỉ ra, về vấn đề Đảng Lao động Việt Nam bỏ một số căn cứ địa tại miền Nam, rút quân đội đi không phải là sẽ nộp vũ khí quân không chính qui. Chúng ta có thể giải thích, phàm là đơn vị quân đội đều rút đi, nhưng không rút đi tất cả vũ khí, Vũ khí, thứ nào cất giấu đươc thì cất giấu, cán bộ quân đội ai lưu lại được thì lưu. Cất giấu vũ khí phải phân tán, không được tập trung nhằm tránh rơi vào tay quân địch. Võ Nguyên Giáp nói, bước đầu chúng tôi dự tính rút khỏi miền Nam khoảng 60.000 người, trong đó 50.000 bộ đội, 10.000 là những người làm công tác chính trị, những người “đỏ” quá phải rút đi. Cũng có tính toán, lưu lại một ít trong số 60.000 người. Ví dụ từ 5.000 đến 10.000 người ở lại miền Nam, chờ thời cơ. Trong đối thoại liên tục, Chu Ân Lai nói, tình hình trước mắt có 3 khả năng, tức là cũng có 3 thượng, hạ và trung sách. Thượng sách là hoà được, trung sách là đánh rồi hoà, hạ sách là đánh tiếp. Nếu như tình hình đòi hỏi phải đánh, phương hướng chủ công của các đồng chí là ở đâu? Võ Nguyên Giáp nói, nếu chiến tranh mở rộng, chủ trương đánh trước ở đồng bằng sông Hồng, một bộ phận ở Lào và Liên khu Năm có tác dụng kiềm chế. Chiều ngày hôm đó họp hội nghị lần thứ 5, vẫn Chu Ân Lai là người nói chủ yếu, giới thiệu vấn đề kiểm soát quốc tế một khi ngừng bắn. Sau khi nói xong vấn đề đó, ông kiến nghị, văn kiện về tình hình trước mắt và phương châm chính sách liệu có thể dùng danh nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh thảo luận tại hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam hay không? Vì hiện nay thời cơ đã đến rồi, thảo luận trước tại Bộ Chính trị, rồi lại thảo luận tại hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương. Sau đó truyền đạt cho các địa phương, nhằm đạt được sự thống nhất tư tưởng chính trị trong cán bộ. Nếu không, qua bước ngoặt này không dễ. Ông chỉ ra, trong Hội nghị Genève, yêu cầu chính của chúng ta có khả năng là như thế này: tại Việt Nam lấy vĩ tuyến 16 vạch đường ranh giới. Tại Lào chúng ta yêu cầu tại Thượng, Trung, Hạ Lào mỗi nơi đều được một mảnh, cuối cùng là tranh thủ được Thượng Lào, còn có khả năng được thêm một mảnh ở Trung Lào. Tại Campuchia có thể yêu cầu vạch vùng tập kết, nhưng không thể có hy vọng tương đối lớn. Hội nghị đã tới xế chiều, lúc này Hồ Chí Minh, người từ khi hội nghị họp đến nay phát biểu không nhiều, đã phát biểu. Ông nói, trên vấn đề lớn của Hội nghị Genève chúng ta phải giúp Mendès-France một chút, đừng để ông ta bị đổ. Mendès-France đối với hội nghị vẫn là tích cực, nếu đàm phán không thành, ông ta sẽ đổ, không có lợi đối với chúng ta. Phải có quan hệ tốt với Pháp, tranh thủ hoà bình. Mặc dù Hồ Chí Minh nói không nhiều nhưng phân lượng rất nặng, thuyết minh ông đã hạ quyết tâm, tranh thủ triển vọng hoà bình tại Hội nghị Genève. Hội nghị Liễu Châu họp đến lúc này, lập trường và cách nhìn của hai bên đã điều hoà được. Tối hôm đó không sắp xếp họp tiếp. Nhưng lãnh đạo hai bên cũng không nghỉ ngơi, Chu Ân Lai báo cáo tiến trình hội nghị với Trung ương, nói rõ, ngoài nói chuyện trong hội nghị ra, còn trao đổi ý kiến riêng với Hồ Chí Minh. Hội nghị Liễu Châu vốn dự định họp hai ngày, bây giờ thấy do liên quan đến phương án giải quyết cụ thể, ngày mai phải họp thêm một ngày nữa, nên phải lùi ngày về Bắc Kinh. Nói một cách tương đối, các trợ thủ của Chu Ân Lai được thoải mái hơn một chút. Mấy hôm trước khi vừa tới Quảng Châu, đang lúc mùa vải chín, Mã Liệt ăn hơi nhiều, bị đau bụng. Sau khi đến Liễu Châu, Kiều Quán Hoa đã nói đùa với ông: “Ăn tại Quảng Châu, chết tại Liễu Châu”(37). Câu sau chỉ ở Liễu Châu có nhiều gỗ tốt có thể đóng quan tài. Tối hôm đó không có việc, hai người ra đường tìm kiếm. Kết quả chẳng thấy gì. Thì ra vật đổi sao rời, các khu rừng cổ của Liễu Châu đã bị người đời sau chặt hết, môi trường thiên nhiên rất đáng lo, nghề đóng quan tài đã mất từ lâu rồi(38). Thực ra những vấn đề Hội nghị Liễu Châu phải giải quyết vô cùng cấp bách. Đúng vào ngày hôm đó, 9 giờ sáng ngày 4 tháng 7, trên chiến trường miền Bắc Việt Nam, căn cứ vào (thoả thuận tại) Hội nghị Genève, đại biểu hai quân đội Việt, Pháp đã tiến hành hội đàm tại một địa điểm tên là Trung Giã, nằm trên đường quốc lộ số 3 cách thị xã Thái Nguyên 30 km về phía nam. Hai bên cử đoàn đại biểu mỗi bên đều gồm 5 sĩ quan,, thiếu tướng Văn Tiến Dũng đại biểu Quân đội Nhân dân Việt Nam và đại tá (Marcel) Lennuyeux, đại biểu quân đội Pháp đều phát ngôn. Hai bên quyết định, trong khuôn khổ của hiệp nghị Genève thảo luận: 1. Trong khuôn khổ hiệp nghị Genève thảo luận vấn đề tù binh. 2. Vấn đề thực hiện ngừng bắn. 3. Vấn đề điều chỉnh vùng tập kết. 4. Vấn đề hai bên thành lập Uỷ ban Liên hiệp. 5. Giải quyết những vấn đề cụ thể do Hội nghị Genève nêu ra. Ngày 5 tháng 7, hai bên đạt được vấn đề trao trả trước tù binh bị thương, bị ốm, quyết định loạt tù binh bị thương, bị ốm đầu tiên sẽ được trao trả vào ngày 14 tháng 7. Thế nhưng đàm phán trên chiến trường Việt Nam chỉ có thể tiến hành trong khuôn khổ hiệp định Genève qui định. Lúc này cuộc hội đàm Văn Tiến Dũng - Lennuyeux vừa cử hành đã phải dừng lại chờ Hội nghị Genève phát triển hơn nữa. Vì thế, giới hạn đàm phán cuối cùng của “mặt trận phương đông” phải dựa vào Hội nghị Liễu Châu để xác định. Sáng ngày 5 tháng 7 cử hành phiên họp thứ 6 Hội nghị Liễu Châu, Mã Mục Minh ghi chép. Hôm ấy, Hồ Chí Minh đề xuất với Chu Ân Lai nhiều vấn đề, bao gồm trong hiệp nghị sắp tới liệu có trình bầy lý luận hay không, xử lý nguỵ quân như thế nào v.v… Võ Nguyên Giáp cũng biểu thị với Chu Ân Lai đồng ý phương án vĩ tuyến 16, nhưng ông lại nói, hiện nay Phạm Văn Đồng đang đề xuất phương án vĩ tuyến 13 hoặc vĩ tuyến 14. Võ Nguyên Giáp cho rằng có thể lùi từng bước, nhưng đến vĩ tuyến 16 là giới hạn cuối cùng. Vì vậy yêu cầu đề xuất đối ngoại hiện nay có thể từ vĩ tuyến 13 đến vĩ tuyến 14. Chu Ân Lai đồng ý với Võ Nguyên Giáp. Hồ Chí Minh nói, nếu lấy vĩ tuyến 16 làm giới hạn thì cả Vịnh Bắc bộ thuộc về chúng ta. Võ Nguyên Giáp còn đề xuất không ít ý kiến sửa chữa đối với những soạn thảo trong dự thảo hiệp nghị, cho thấy rõ ông suy xét vấn đề chặt chẽ tỉ mỉ. Nhiều chỗ, Chu Ân Lai biểu thị đồng ý, đồng thời yêu cầu Kiều Quán Hoa căn cứ vào ý kiến nhất trí của mọi người sửa chữa phương án. Võ Nguyên Giáp còn đề xuất ý tưởng, khi rút quân khỏi miền Nam, các vùng từ cấp tỉnh trở lên, đơn vị từ cấp đại đội trở lên, đều rút; nhưng từ cấp huyện trở xuống và đội du kích thôn không rút, đem cất giấu vũ khí, để lại phục vụ cho việc tranh giành miền Nam sau này. Tại phiên họp thứ 7 buổi chiều hôm đó, Chu Ân Lai nhấn mạnh, nhất định cần phải giải thích nhiều lần cho cán bộ: “trải qua bầu cử, đạt được thống nhất”. Ở đây có hai hàm nghĩa, thứ nhất là nói, cán bộ có cố gắng công tác thì mới có thể giành được thắng lợi bầu cử. Thứ hai là nói, phải tạo thành cục diện bầu cử, tạo thành xu thế không bầu cử không được. Đặc điểm của Việt Nam là, bất kể là Anh, Pháp, Bảo Đại đều không dám phản đối thống nhất. Về phương diện này, điều kiện của Việt Nam tốt hơn so với Triều Tiên, Đức. Võ Nguyên Giáp nói, phải thống nhất tư tưởng trong Đảng. Tháng 7 có thể họp hội nghị Trung ương. Khó khăn là đại biểu miền Nam không dễ dàng đến được, mà truyền đạt cho miền Nam rất khó khăn. Chu Ân Lai nói, hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay đúng là vô cùng phức tạp, có sự khác biệt giữa vùng cũ, vùng mới, có sự khác biệt giữa thành thị, nông thôn, có sự khác biệt trong Đảng ngoài đảng, có sự khác biệt giữa miền Nam, miền Bắc, có sự khác biệt giữa 3 nước, lại còn sự khác biệt với các nước khác. Quan hệ của 6 loại khác biệt này vô cùng tế nhị. Khi đạt được hiệp nghị, nhất định phải đồng thời tuyên bố các nguyên tắc cơ bản. Những nguyên tắc này là, nước Pháp công nhận nền độc lập, thống nhất của 3 nước Đông Dương cũng như nước Pháp rút quân, tiến hành bầu cử v.v.. Vi Quốc Thanh phát biểu tiếp, biểu thị ủng hộ những ý kiến của Chu Ân Lai. Trung tâm tư tưởng của những phát biểu của Vi Quốc Thanh là nắm chắc thời cơ có lợi, chấm dứt chiến tranh vào lúc có thể chấm dứt được. “Nếu tiếp tục đánh, có thể đuổi được kẻ địch yếu (Pháp) nhưng lại đưa vào kẻ địch mạnh (Mỹ). Đó là tình hình, đòi hỏi chúng ta phải tránh né nhất.” Lúc này Chu Ân Lai nói xen vào: “Đó không phải là giả thiết mà là sự thực.” Vi Quốc Thanh còn đề xuất, nếu khi đàm phán không đạt được dự án của hiệp nghị, nếu “hoà” không đến thì vào tháng 10 sẽ chuẩn bị đánh đồng bằng sông Hồng. Vào lúc hội nghị gần kết thúc, Võ Nguyên Giáp phát biểu, nói “trước đây được nghe Hồ Chủ tịch truyền đạt, bây giờ lại được nghe Chu Thủ tướng báo cáo, càng hiểu thêm tình hình mới và nhiệm vụ mới. Vấn đề trung tâm trước mắt là tranh thủ thống nhất tư tưởng trong Đảng. Mặc dù có khó khăn, nhưng lòng tin được nâng cao. Nếu Trung ương truyền đạt chính sách này xuống dưới, lòng tin của bên dưới càng nâng cao. Ở Lào và Campuchia cũng sẽ như thế. Đợi đến lúc đàm phán có kết quả, cán bộ miền Bắc nhìn thấy thắng lợi, tâm tình sẽ thoải mái nhẹ nhõm. Còn cán bộ miền Nam có thể xuất hiện tâm tình bi quan. Campuchia và Lào cũng có thể có tình hình giống như thế. Tất nhiên, vấn đề này cần phải giải quyết". _________________ Chú thích (37) Ngạn ngữ Trung Hoa: "Sinh tại Tô Châu, ở tại Hàng Châu, ăn tại Quảng Châu, chết tại Liễu Châu". (38) Phỏng vấn Mã Liệt ngày 29 tháng 5 năm 1998. TG
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 01:05:15 PM » |
|
Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến có tính tổng kết. Ông nói: đồng chí Chu Ân Lai không chỉ phấn đấu tại Hội nghị Genève hơn nữa còn đến Liễu Châu báo cáo, nói rất thấu triệt. Chúng tôi rất cám ơn! Kể từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, 30 năm nay đều được Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và đồng chí Chu Ân Lai giúp đỡ. Trong lần hội nghị này, các đồng chí bổ sung rất tốt, tôi đồng ý, còn phải cám ơn các loại giúp đỡ của các đồng chí Quảng Tây. Hiện nay Việt Nam đang đứng trước ngã tư đường, có khả năng hoà cũng có khả năng chiến. Phương hướng chủ yếu là tranh thủ hoà chuẩn bị chiến. Tính phức tạp của công việc đòi hỏi phải có hai loại chuẩn bị. Đối với người bình thường, thậm chí là cán bộ, vấn đề này rất phức tạp. Bởi vì khẩu hiệu trước đây là “kháng chiến đến cùng” bây giờ lại muốn hoà, “rốt cuộc thì cái nào đúng đây?” Người ta có thể hỏi như vậy. Tôi đồng ý với cách nhìn của mọi người, vấn đề hàng đầu là đánh thông tư tưởng, tuy khó khăn nhiều, nhưng trước tiên phải dựa vào sự cố gắng của các đồng chí Việt Nam, ngoài ra còn phải dựa vào sự giúp đỡ của các đồng chí Trung Quốc. Công tác của Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam là phải đả thông tư tưởng của cán bộ cao cấp, còn phải đả thông tư tưởng các đồng chí Campuchia, Lào, thời gian rất khẩn trương. Vấn đề là cán bộ không nhiều mà công việc lại rất nhiều. Nếu chuẩn bị tiếp thu Hà Nội, Hải Phòng thì phải chuẩn bị một loạt cán bộ, hiện nay lo lắng nhất vẫn là cán bộ không đủ, nói những cái đó vì còn cần các đồng chí cố vấn giúp đỡ. Hồ Chí Minh nói, tôi thay mặt hội nghị lần này hỏi thăm Mao Chủ tịch và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đến đây Hội nghị Liễu Châu đạt được sự đồng thuận của cả hai bên. Cuối cùng Chu Ân Lai phát biểu, nói: "Cám ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi thăm Mao Chủ tịch. Kết luận vừa rồi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngoài phần khen ngợi ra, tôi hoàn toàn tiếp nhận. Mỗi chúng ta đều có khuyết điểm sai lầm, chủ yếu là dựa vào lực lượng tập thể". Tối ngày 5 tháng 7, cử hành phiên họp thứ 8. Thời gian tương đối eo hẹp, chủ yếu thảo luận là một khi thực hiện ngừng bắn, những tình hình mới mà quân đội Việt Nam tiếp quản thành thị sẽ phải đối mặt. Hội nghị thảo luận và sửa chữa 4 điều trong “Bố cáo yên dân khi vào thành phố” do La Quý Ba khởi thảo, cũng thảo luận và sửa chữa “Chính sách vùng tiếp quản” cũng do La Quý Ba khởi thảo. Cuối cùng Chu Ân Lai tuyên bố hội nghị kết thúc. Trong Hội nghị Liễu Châu, Chu Ân Lai trình bầy thấu triệt, kiên nhẫn giải thích vấn đề đã để lại ấn tượng sâu sắc trong những người tham dự hội nghị. Tình hữu nghị giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh cũng thường xuyên thể hiện ra. Trong tiến trình hội nghị, Chu Ân Lai phát hiện đồng hồ đeo tay của Hồ Chí Minh hỏng, ông bảo La Quý Ba tìm ngay cho Hồ Chủ tịch một chiếc đồng hồ khác. La Quý Ba làm theo, đã mang tới cho Chu Ân Lai một chiếc đồng hồ Thuỵ Sĩ rất tốt, Chu Ân Lai đã tặng chiếc đồng hồ đó cho Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh không từ chối, nói “cám ơn” rồi đeo vào tay. Theo ấn tượng của La Quý Ba, Hồ Chí Minh đã đeo chiếc đồng hồ đó trong một thời gian rất dài(39). Mã Liệt, sau này là đại sứ Trung Quốc tại Hungari(40) chỉ ra, then chốt của Hội nghị Liễu Châu lần đó là “vạch giới tuyến”, vấn đề trung tâm là phải để nước Pháp rời khỏi Đông Dương, đồng thời không để Mỹ can thiệp vào. Đó là suy nghĩ rõ ràng của Chu Ân Lai khi đến Hội nghị Liễu Châu, kết quả đã thực hiện hoàn toàn dự kiến của ông(41). Chiều ngày 6 tháng 7, Chu Ân Lai trở về Bắc Kinh. Ngày 8 tháng 8, Nhân dân Nhật báo(42) đăng “Tuyên bố về cuộc hội đàm Trung Việt” tại vị trí trang trọng đầu trang nhất, toàn văn như sau: Thủ tướng nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai và Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh đã cử hành hội đàm tại biên giới Trung Việt từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 7 năm 1954. Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao đổi ý kiến đầy đủ về vấn đề khôi phục hoà bình ở Đông Dương và các vấn đề có liên quan khác. Tham gia hội nghị còn có, Hoàng Văn Hoan, đại sứ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Trung Quốc và Kiều Quán Hoa, cố vấn Đoàn đại biểu nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại Hội nghị Genève(43). Chương 28: Lãnh tụ đã quyết thì vũ trụ cũng chẳng là cái gì(44) Trong khi Chu Ân Lai thăm Ấn Độ và Myanma thì những người đứng đầu hai nước Mỹ, Anh cũng đang bận rộn, hạ tuần tháng 6, bọn họ đã đạt được “Phương châm 7 điểm” về vấn đề Đông Dương tại Washington. Ở Bắc Kinh, Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ phê chuẩn báo cáo và quyết tâm tiếp tục tiến hành đàm phán của Chu Ân Lai. Tại Việt Nam, Hồ Chí Minh gửi cho Phạm Văn Đồng “chỉ thị 5-7” xác định rõ phương án thấp nhất trong đàm phán. Chu Ân Lai gió bụi dọc đường trở lại Genève, phát hiện sự việc vẫn còn tương đối phức tạp. Ngày 23 tháng 6, sau khi trở về nước Anh, Eden(45) đã chủ trì cuộc biện luận về chính sách ngoại giao tại Hạ nghị viện Anh, đồng thời báo cáo về tình hình nước Anh tham gia hội nghị Genève. Eden nói: “Tôi thật không thoải mái mà báo cáo rằng, trong thảo luận về vấn đề Triều Tiên, chúng tôi đã không có sự tiến triển thực sự trong việc tìm kiếm biện pháp giải quyết. Chỉ có thể nói như thế này, so với trước đây, chúng tôi có thể trình bầy rõ ràng hơn những chỗ then chốt nhất trong bất đồng nguyên tắc giữa hai bên đối địch.” Eden chỉ ra rằng: “chúng tôi không đạt thành hiệp nghị về vấn đề thống nhất Triều Tiên, nhưng kiến nghị tiếp tục tiến hành đàm phán thì vẫn còn hiệu lực.” Ông ta nhấn mạnh: “mục đích và quan điểm của chính phủ Anh vẫn là Liên Hợp Quốc không thể trông đợi có thể giải quyết được vấn đề Triều Tiên trong tình hình không được Trung Quốc và hai bên Triều Tiên đồng ý.” Eden giới thiệu ba Uỷ ban được thành lập do thảo luận vấn đề quân sự tại ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia và nói rằng bọn họ phải đề xuất báo cáo trước ngày 10 tháng 7. Eden nói: “trước khi chúng tôi rời khỏi đó, giữa chúng tôi đã có sự thông cảm, sau khi nhận được báo cáo của đoàn đại biểu quân sự, chúng tôi sẽ lập tức tiến hành trao đổi ý kiến để quyết định chúng tôi sẽ quay lại Genève hoàn thành sứ mệnh, đối với bản thân tôi mà nói, nếu tôi có thể có cống hiến gì đó cho hoà bình, tôi sẽ quay lại.” Eden đã có ý riêng khi nói tới quan hệ Anh, Trung: “một kết quả của hội nghị Genève là quan hệ Anh Trung được cải thiện, hơn nữa đã sản sinh được một số kết quả. Đó là điều mà mọi người đã nhìn thấy. Tôi rất phấn khởi vì có cơ hội gặp gỡ ngài Chu Ân Lai. Rõ ràng là những cuộc hội đàm của hai nước tại Genève là có giá trị. Đối với tôi thì những cuộc hội đàm đó đã chứng minh là có lợi cho nước ta, hơn nữa còn thực sự có lợi cho chung sống hoà bình, mà chung sống hoà bình vẫn là mục đích và tôn chỉ trong giao tiếp giữa chúng ta và mỗi nước.” Cuối cùng Eden nói, hiện nay vẫn còn hy vọng đạt được hiệp nghị trên vấn đề Đông Dương, sự tồn tại của cơ hội này dựa vào những cuộc đàm phán nhẫn nại mà lâu dài, quyết định bởi nguyện vọng của nhân dân Đông Dương đối với hoà bình, “nếu có thể đạt thành hiệp nghị sẽ cung cấp một cơ sở cho nền an ninh Đông Nam Á, tác dụng của nó không chỉ giới hạn ở đó, mà còn là một sự củng cố to lớn cho hoà bình thế giới”(46). ____________________ Chú thích (39) Phỏng vấn La Quí Ba tại Bắc kinh ngày 18 tháng 4 năm 1990, theo tư liệu La Quí Ba bảo tồn được từ Hội nghị Liễu Châu. TG (40) Giai đoạn 1983-1985. (41) Phỏng vấn Mã Liệt tại Bắc Kinh ngày 29 tháng 5 năm 1998. TG (42) Báo hàng ngày chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc (cho tới nay). (43) Xem thêm: Phạm Cao Dương, “Geneva và những kinh nghiệm chưa được rút tỉa” http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2004/07/040719_phamcaoduong.shtml(44) Xin độc giả chú ý tới cách đặt đầu đề này. Người dịch (ND) (45) Robert Anthony Eden (1897-1977), khi đó là ngoại trưởng Anh (1951-1955). (46) Eden, Sir Anthony Full Circle London Cassell& Co Ltd. 1960 p. 131.TG
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 01:06:24 PM » |
|
Trong thời gian biện luận tại Hạ viện, Attlee(47), lãnh tụ Công đảng - đảng phản đối, đã nói một cách hiếm thấy, Eden đã có những cố gắng vì việc hoà bình giải quyết vấn đề Đông Dương. Ông ta còn nói: “đặc điểm nổi bật nhất của hội nghị Genève là những người cầm quyền chân chính ở Trung Quốc lần đầu tiên tham gia hội nghị ở châu Âu, đến tận bây giờ mà vẫn không thừa nhận chính phủ hiện nay của Trung Quốc - một chính phủ của nhà nước công nhân, quả thật là một việc hoang đường”(48). Gác công việc ở Hạ viện bận mất một số thời gian lại, ngày 24 tháng 5, Churchill(49) và Eden tới Washington. Eden cho rằng mục đích của chuyến đi này là “thuyết phục Mỹ cho Pháp một cơ hội, để mấy tuần lễ nữa đạt được một hiệp nghị hoà bình tại Genève. Trước khi đạt được việc này không được triệu tập bất kỳ hội nghị quốc gia chống đảng cộng sản tại tổ chức Đông Nam Á. Đồng thời tôi muốn một lần nữa bầy tỏ rõ với nước Mỹ, trước khi hội nghị Genève đạt được thành quả nào đó, chúng tôi quyết không tham gia “hành động liên hợp”(50). 8 giờ 30 phút ngày 23 tháng 6 (giờ Washington), Smith(51) báo cáo tình hình hội nghị Genève với Eisenhower(52), John Dulles(53) và đoàn đại biểu hai đảng(54) tại quốc hội. Ông ta nói, lập trường của Mỹ về vấn đề Đông Dương và vấn đề Triều Tiên nên có sự khác nhau. Ông ta nói, trước đây đã lâu, Dulles đã nói với Bidault(55), nếu như vấn đề Đông Dương được đưa vào chương trình của hội nghị Genève thì sẽ thúc đẩy xung đột quân sự ở đây bùng nổ dữ dội hơn, hai bên đều muốn tranh thủ ưu thế trong đàm phán. Bây giờ quả nhiên là như vậy, tình hình trên chiến trường Đông Dương là khẩn cấp. Mặt khác, nước Anh đang đóng vai diễn người tạo ra hoà bình ở hội nghị Genève. Smith nói, trong thời gian hội nghị Genève, sĩ khí quân đội Bảo Đại Việt Nam xuống thấp và việc chính phủ Laniel(56) Pháp bị đổ đã buộc nước Mỹ phải điều chỉnh lại lập trường của mình về Đông Dương. Lập trường ban đầu của Mỹ là, quân đội nhân dân Việt Nam phải rút quân khỏi Lào và Campuchia. Bởi vì đó là xâm lược, cái mà họ tiến hành không phải là một cuộc nội chiến. Và cho dù cuối cùng hội nghị có đạt được biện pháp giải quyết nào đó, chúng ta đều hy vọng xây dựng được một Uỷ ban giám sát quốc tế công bằng có hiệu quả, và không thể tiến hành bầu cử nội bộ tại Việt Nam. Trên vấn đề sau, nước Anh đã đề xuất kiến nghị muốn các nước hội nghị Corumba (?) tham gia Uỷ ban giám sát, nhưng bị Liên Xô phản đối. Smith nói, mặc dù Mỹ luôn luôn kiên trì lập trường trên, nhưng rốt cuộc thì nước Mỹ không phải là người tham dự trực tiếp vào công việc của Đông Nam Á, quan điểm của Mỹ không có ảnh hưởng có tính quyết định. Smith chỉ ra, trên hội nghị Genève đã xuất hiện hai nhân tố quan trọng: một là chính phủ Pháp đã suy yếu, một là chính phủ Anh yêu cầu tránh khỏi một cách toàn diện những xung đột ở Viễn Đông, điều này đã làm mạnh thêm lập trường của các nước cộng sản. Trong tình hình đó, hai bên tại hội nghị Genève đang có khuynh hướng tiếp nhận kết cục sau: Căn cứ nguyên trạng, tiến hành phân trị tại Việt Nam. Phía cộng sản khống chế một nửa hoặc 1/3 Lào. Bên trong Campuchia không thành lập vùng khống chế của cộng sản. Thành lập cơ cấu giám sát quốc tế có hiệu quả. Trong khoảng thời gian mà cộng sản có thể tiếp nhận, sẽ quyết định tương lai của vấn đề Đông Dương. Smith cho rằng, xét tới sự thay đổi của tình hình, nước Mỹ có thể không cần phải phản đối việc xuất hiện kết quả trên, bởi vì trong tình hình đó mà đạt được bất kỳ hiệp nghị nào tại hội nghị Genève, “đều sẽ thiết lập được sự cân bằng mới giữa hai tập đoàn (khối) lớn Đông và Tây”(57). Cần phải nói là, kết luận của Smith rất có kiến giải, trực tiếp ảnh hưởng tới Eisenhower, trên thực tế cũng ảnh hưởng tới quyết tâm của Dulles. Khi Churchill và Eden tới Washington, Dulles ra sân bay đón. Một đàm đông phóng viên, nhiếp ảnh vây lấy vị Bộ trưởng Ngoại giao ốm yếu này, bọn họ vui vẻ nói đùa với nhau, phải tận mắt nhìn thấy liệu có phải Dulles đã đi tới bước không còn muốn bắt tay Eden nữa hay không. Thực tế là tháí độ của Dulles so với khi ở Genève có mềm hơn một chút. Điều này không thể tách rời việc khi trở về Washington, Smith đã làm công tác. Lúc này nước Mỹ đặc biệt cần sự hợp tác của Anh tại châu Âu trên vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia. Chính phủ Laniel đã đổ của Pháp đã từng là người ủng hộ đắc lực cho Tập đoàn tổ chức bảo vệ an ninh quốc gia châu Âu, còn Mendès-France(58) thì lại dao động. Bây giờ thời gian phê chuẩn kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia châu Âu đang tới gần, không có kế hoạch này thì cũng không có kế hoạch vũ trang lại nước Đức. Trước khi Thủ tướng và Ngoại trưởng Anh tới, Eisenhower đã nói với Dulles: “Churchill không ủng hộ vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia châu Âu, nhưng ông ta không nói ra. Do vậy ông và tôi phải vô cùng thận trọng trong vấn đề này.” Nói một cách đơn giản, nước Mỹ phải có sự nhượng bộ nào đó trên vấn đề Đông Dương. Quả nhiên, hai nước Anh, Mỹ đã có sự thoả hiệp tại Washington. Sau khi thương thảo vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia châu Âu, những người lãnh đạo Anh, Mỹ đã thảo luận vấn đề Đông Dương. Giành được nhất trí ý kiến đối với mục tiêu thấp nhất: Lào và Campuchia độc lập, Việt Minh rút quân khỏi hai nước này, Việt Nam lấy vĩ tuyến 17 làm đường giới tuyến, một chia làm hai, do Việt Minh khống chế miền Bắc. Do Hồ Chí Minh yêu cầu được cả Đông Dương, hơn nữa trước mắt ông ta là phía có ưu thế quân sự, nên nếu ông ta đồng ý chia đường giới tuyến như vậy, có thể coi là một sự nhượng bộ trọng đại của bọn họ, bởi vì trong trường hợp công khai nước Mỹ nói chung đều yêu cầu người Pháp tiếp tục đánh(59). Ngày 29 tháng 6, tại Washington Mỹ và Anh đạt được “phương châm 7 điểm” về vấn đề Đông Dương. Nội dung chủ yếu là: Bảo đảm chủ quyền và độc lập cho Lào và Campuchia, Việt Nam rút toàn bộ quân đội ra khỏi hai quốc gia này. Chí ít bảo đảm Việt Nam phải có một nửa lãnh thổ, nếu có khả năng thì bao gồm cả đồng bằng sông Hồng. Tận cùng phía nam của giới tuyến tạm thời không thể vượt quá Đồng Hới mà vị trí là ở bắc vĩ tuyến 17. Không thể cưỡng bức Lào, Campuchia, Việt Nam giải tán chính quyền khống chế phi cộng sản của họ, phải làm cho họ giữ gìn được lực lượng tự vệ của mình, 3 nước không được nhập khẩu vũ khí, không được mời cố vấn nước ngoài. Trong hiệp nghị chính trị có khả năng đạt được không thể có điều khoản dẫn tới sự thống trị của cộng sản. Phải bảo đảm khả năng sau này Đông Dương hoà bình thống nhất. Cung cấp giao thông thuận tiện, dưới sự giám sát quốc tế làm cho những dân cư quyết định di chuyển có thể đến được nơi họ muốn đến. Thiết lập hệ thống giám sát có hiệu quả. “Phương châm 7 điểm” của Anh, Mỹ đã tăng cường địa vị đàm phán của Pháp tại Genève. Trưa ngày 6 tháng 7, Chu Ân Lai về đến Bắc Kinh. Ngay tối hôm đó đã tới chỗ Mao Trạch Đông báo cáo. Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức(60), Trần Vân(61), Đặng Tiểu Bình cũng đến, Cũng trong ngày, Chu Ân Lai gửi điện cho Trương Văn Thiên(62) đã trở về Moskva, nhờ ông chuyển cho Lý Khắc Nông(63) biết: Đại biện lâm thời Liên Xô tại Trung Quốc cho biết, Molotov “định ngày 7 bay đến Genève để gặp Mendès-France, đồng thời mong tôi sớm quay lại Genève, nhằm thúc đẩy đàm phán tiến triển. Được chỉ thị của Trung ương, tôi phải ở lại Bắc Kinh hai, ba ngày rồi mới trở lại, vì vậy mong đồng chí ngày 7 cùng đi với Molotov”. Theo ý kiến của Chu Ân Lai, Trương Văn Thiên đã đến Genève trước thời hạn. Ngày hôm sau Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp hội nghị mở rộng tại Bắc Kinh, nghe báo cáo của Chu Ân Lai về việc tham gia hội nghị Genève cũng như chuyến thăm Ấn Độ, Myanma và hội đàm giữa người lãnh đạo hai nước Trung, Việt. Chu Ân Lai giới thiệu, tại hội nghị Genève, chúng ta áp dụng phương châm liên hiệp với Pháp, Anh, các nước Đông Nam Á, ba nước Đông Dương, tức đoàn kết với mọi lực lượng quốc tế có thể đoàn kết được, cô lập Mỹ, hạn chế và phá bỏ kế hoạch mở rộng bá quyền thế giới của Mỹ, trong đó vấn đề then chốt là thúc đẩy hoà bình ở Đông Dương. Căn cứ vào phương châm đã định đó, đoàn đại biểu Trung Quốc, Liên Xô và Việt Nam tại hội nghị đều muốn thực hiện ngừng bắn ở Đông Dương. Hai tháng nay hội nghị đạt được một số thành tựu, đã làm cho cục diện căng thẳng quốc tế hoà dịu được một bước, khiến kế hoạch mở rộng bá quyền thế giới của Mỹ bị cản trở. Theo xu thế hiện nay thì khả năng thực hiện ngừng bắn ở Đông Dương là lớn, là phải đạt được hiệp nghị. Nghe xong báo cáo của Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông biểu thị tán thành. Ông nói, báo cáo của Chu Ân Lai rất tốt. Đồng ý phương châm ông trình bầy và phê chuẩn hoạt động hơn hai tháng qua. Phương châm của chúng ta tham gia hội nghị là chính xác, hoạt động là có thành tích, cần nhượng bộ thì nên nhượng bộ, cần kiên trì thì phải kiên trì, sẽ đạt được việc cô lập thiểu số (Mỹ) đoàn kết đa số. Từ nay trở đi sẽ tiếp tục phương châm này, nắm chặt vấn đề, dự đoán là có thể đạt được hiệp nghị(64).
__________________ Chú thích (47) Clement Richard Attlee, (1883 –1967) Thủ tướng Anh 1945-1951. (48) “Nhân dân nhật báo” 26/5/1954, tr. 4. TG (49) Sir Winston Leonard Spencer-Churchill, (1874 –1965), khi đó là Thủ tướng Anh (lần thứ 2: 1951-1955). (50) Anthony Eden . Sđd. TG. (51) Tướng Walter Bedell "Beetle" Smith (1895 –1961) Đại sứ Mỹ tại Liên Xô (1946-1949), Giám đốc CIA (1950-1953), khi đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ (1953-1954). (52) Dwight David Eisenhower (1890 – 1969), khi đó là Tổng thống Mỹ (1953-1961). (53) John Foster Dulles (1888 – 1959) khi đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ (1953-1959). (54) Tức đảng Dân chủ và đảng Cộng hoà, Mỹ. (55) Georges-Augustin Bidault (1899 – 1983) Chính khách, khi đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp (8/1/1953 – 19/7/1954). (56) Joseph Laniel (1889 - 1975) Thủ tướng thứ 142 của Pháp (27/6/1953 – 18/6/1954) (57) Foreign relation of the United States 1952-1954, volum XVI, the Geneve Conference, Washington 1981, p.1223-1126. TG. (58) Pierre Mendès-France (1907-1982) Thủ tướng Pháp trong thời gian hội nghị Genève 1954. (59) ”Truyện Eisenhower” NXB Khoa học Xã hội Trung Quốc, 1989, tr. 209-210. TG. (60) 朱德/ Chu Đức (1886 – 1976) khi đó là Tổng Tư lệnh Hồng quân, Phó Chủ tịch Trung Quốc (1954-1959). (61) 陈 云/ Trần Vân (1905-1995) khi đó là Uỷ viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó thủ tướng/chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Tài chính. (62) 张 闻天/Zhang Wentian (1900-1976) tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc từ 1-1935 đến 3-1943. Khi đó là Uỷ viên dự khuyết Bộ chính trị kiêm thứ trưởng Ngoại giao, Đại sứ Trung Quốc tại Liên Xô. (63) 李 克农/ Li Kenong (1899-1962) Trùm Mật vụ Cộng sản Trung Quốc, biệt danh “Rồng Một Mắt”. Khi đó là Thứ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc (10/1949-10/1954). (64) “Chu Ân Lai niên Phổ 1949-1976”, NXB Văn hiến Trung ương, 1998, tr.395 và “Truyện Chu Ân Lai 1949-1976” cùng NXB trên, tr. 173-174. TG
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 01:07:48 PM » |
|
Mao Trạch Đông lại mở rộng câu chuyện, dùng kiến giải đặc biệt của mình trình bầy thế lớn trong thiên hạ. Ông nói, tình hình chung hiện nay là Mỹ tương đối cô lập. Sau khi vấn đề Đông Nam Á, Đông Dương được giải quyết, sự cô lập của Mỹ còn tiếp tục phát triển. So với trước đây toàn bộ tình hình đã chuyển biến tốt. Làm dịu cục diện căng thẳng, không cùng chế độ vẫn có thể chung sống hoà bình, những nguyên tắc do các nước xã hội chủ nhĩa đề xuất này đã từng bước được một số nước phương Tây tiếp nhận. Chủ nghĩa tư bản thế giới rất không thống nhất, chia năm xẻ bảy. Mục đích chủ yếu của Mỹ hiện nay vẫn là chỉnh đốn giải đất trung gian từ Nhật đến Anh. Những nước ở đó bị chỉnh đến mức kêu oai oái. Mao Trạch Đông đề xuất, phải lợi dụng thời cơ có lợi đó, mở rộng việc kết bạn, phải phát triển quan hệ với các nuớc không cùng loại hình. Công tác ngoại giao của chúng ta hiện nay không phải là đóng chặt cửa mà là phải lợi dụng tình hình có lợi hiện nay để “đi ra”. tiến hành công tác ngoại giao với nhiều nước, ví dụ với các nước đế quốc như Anh, Pháp, các nước thuộc địa như Ấn Độ, Myanma, thậm chí với các nước như Thái Lan. Mao Trạch Đông nói, chế độ khác nhau vẫn có thể chung sống hoà bình, phải tách rời sự bất đồng về hệ thống tư tưởng và sự hợp tác về chính trị, bất đồng về hệ thống tư tưởng không nên cản trở tới sự hợp tác về chính trị giữa nước này với nước khác(65). Lưu Thiếu Kỳ là người tổng kết cuối cùng báo cáo của Chu Ân Lai, tỏ ý hài lòng về hoạt động ngoại giao của Chu Ân Lai tại Genève. Ông nói: “nên đưa ra quyết định, phê chuẩn công tác và phương châm từ nay trở đi của đoàn đại biểu tại Genève”(66). Theo thoả thuận từ trước, ngày 8 tháng 7, Trevelyan(67), đại biện lâm thời của Anh tại Trung Quốc trình thư uỷ nhiệm của Eden lên Chu Ân Lai. Không lâu sau đó, ngày 2 tháng 9, chính phủ Trung Quốc bổ nhiệm Hoạn Hương làm đại biện lâm thời của Trung Quốc tại Anh. Từ đó hai nước Trung, Anh thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại biện. Chiều ngày 8 tháng 7, Uỷ ban toàn quốc hội nghị Chính trị hiệp thương họp hội nghị mở rộng, những nhà lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Đặng Tiểu Bình và Lý Duy Hán, Đặng Dĩnh Siêu v.v.. đã tham dự hội nghị cùng với các nhân sĩ dân chủ tham gia hội nghị như Lý Tế Thâm, Thẩm Quân Nho, Quách Mạt Nhược, Trần Thúc Thông, Vương Côn Luân, Trương Lan, Chương Bá Quần, Hoàng Viêm Bồi, Cương Nãi Khí, Mã Tự Luân, Trương Hề Nhược v.v.. nghe Chu Ân Lai báo cáo về vấn đề hội nghị Genève và chuyến thăm hai nước Ấn Độ, Myanma. Chu Ân Lai cho rằng hội nghị Genève đã xuất hiện cục diện có lợi. Ông nói: “Bề ngoài Mỹ thể hiện rất dữ, nhưng đằng sau lại rất suy yếu. Ngày 22 tháng 6, (khi diễn thuyết tại quốc hội, Eden đã từng nói, vấn đề Triều Tiên chưa bị gạt bỏ trong chương trình. Mặc dù vấn đề Triều Tiên chưa đạt được bất kỳ hiệp nghị nào, nhưng đã thấy vấn đề rất rõ, khả năng đánh lại rất nhỏ.” Chu Ân Lai báo cáo: “khôi phục hoà bình ở Đông Dương, là một khâu then chốt để làm dịu cục diện căng thẳng thế giới hiện nay.” Ngày mai quay trở lại Genève, ông sẽ tiến hành những cố gắng cuối cùng tranh thủ đạt được hiệp nghị hoà bình tại đây. Chu Ân Lai chỉ ra một cách rõ ràng: “chúng ta phải tranh thủ làm dịu tình hình căng thẳng hơn nữa. Các nước không cùng chế độ có thể chung sống hoà bình, dùng biện pháp thi đua hoà bình để chứng minh tính ưu việt của chế độ dân chủ nhân dân làm cho thế giới cũ thay đổi, chúng ta không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, phương châm này là có khả năng. Vì vậy phải tạo dựng một mặt trận thống nhất quốc tế, phải liên hiệp với nước Pháp, liên hiệp với nước Anh, liên hiệp với các nước Đông Nam Á, liên hiệp các nước Đông Dương để cô lập Mỹ, chủ yếu là cô lập phái chủ chiến Mỹ”(68). Tư tưởng mà Chu Ân Lai trình bầy lúc đó hoàn toàn nhất trí với cách nghĩ mà ông thổ lộ với Trương Dực khi trao đổi ý kiến trên thảm cỏ của biệt thự Vạn hoa Lĩnh tại Genève. Chuyến thăm Ấn Độ và Myanma là thực tiễn về hai mặt lý luận và thực tiễn của Chu Ân Lai đối với “5 nguyên tắc chung sống hoà bình”. Thực tiễn này sau khi trở về Bắc Kinh lại được lãnh tụ phê chuẩn, khiến lòng tin của ông càng lớn thêm. Chu Ân Lai tạm nghỉ 3 ngày ngắn ngủi tại Bắc Kinh, sau đó ngày 9 tháng 7 đã đáp máy bay đi Moskva, trở lại Genève. Lúc này từ một phương diện khác, Hồ Chí Minh đã có sự ủng hộ đắc lực với Chu Ân Lai, ngày 6 tháng 7 (bản tiếng Trung ghi là ngày 9) Hồ Chí Minh đã trả lời phóng viên (bản tiếng Trung bỏ không dịch mấy chữ Việt Nam thông tấn xã) về vấn đề Đông Dương(69). Toàn văn như sau: Hỏi: Thưa Chủ tịch, đối với sự tiến triển của hội nghị Genève về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương và tiền đồ của hội nghị đó, Chủ tịch nhận xét như thế nào? Trả lời: Hội nghị Genève thảo luận vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương tiến triển tuy chậm, nhưng với những vấn đề đã thoả thuận, hội nghị cũng đã mở đường cho việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. Trên cơ sở đó nếu đối phương (bản tiếng Trung viết là các mặt có liên quan) cũng thành thật muốn đàm phán như chúng ta mà cũng cố gắng để lập lại hoà bình ở Đông Dương thì hoà bình Đông Dương có thể thực hiện. Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của tổ quốc. Đồng thời chúng ta cũng phải có tinh thần cảnh giác rất cao đối với âm mưu vủa đế quốc Mỹ (bản tiếng Trung thêm mấy chữ mở rộng chiến tranh) định cản trở hai bên đi đến hiệp định đình chiến và mưu mô lập khối liên minh quân sự có tính xâm lược, chia châu Á thành những tập đoàn đối lập để dễ xâm lược và khống chế Đông Dương cùng Đông Nam Á. Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết ý nghĩa của những lời tuyên bố chung gần đây của Thủ tuớng hai nước Trung - Ấn và Thủ tướng hai nước Trung - Myanma. Trả lời: bản tuyên bố chung mà Thủ tướng hai nước Trung - Ấn và Thủ tướng hai nuớc Trung - Myanma vừa phát biểu rất quan trọng. Hai bản tuyên bố chung đó phù hợp với nguyện vọng hoà bình của nhân dân thế giới, nhất là nhân dân châu Á. 5 nguyên tắc quan trọng đề ra trong bản tuyên bố chung của Thủ tướng hai nước Trung - Ấn và Thủ tướng hai nước Trung - Myanma là: cùng tôn trọng chử quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, cùng chung sống hoà bình. Những nguyên tắc ấy (bản tiếng Trung bỏ mấy chữ những nguyên tắc ấy) cũng thích hợp cho việc giải quyết vấn đề Đông Dương. Nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh hai bản tuyên bố chung đó. Tôi tin rằng hai bản tuyên bố chung đó nhất định có lợi cho hoà bình châu Á và thế giới. Hỏi: Ngày 17-6, (bản tiếng Trung ghi là ngày 27-6) trong bài diễn văn nhận chức của Thủ tướng Pháp Mendès-France đọc trước quốc hội Pháp, khi nói đến vấn đề Đông Dương ông ta nói việc ngừng bắn ở Đông Dương phải thực hiện mau chóng. Ý kiến của Chủ tịch đối với những lời tuyên bố đó của ông Mendès-France như thế nào? Trả lời: chúng ta hoan nghênh nguyện vọng của ông Mendès-France, nhưng phải bài trừ chính sách của đế quốc Mỹ ngăn cản và phá hoại hội nghị Genève, mới có thể thực hiện nhanh chóng ngừng bắn ở Đông Dương được. Càng quan trọng hơn là, ngay trong ngày kết thúc hội nghị Liễu Châu, Hồ Chí Minh đã thân tự viết điện chỉ thị cho Phạm Văn Đồng. Chỉ thị nói, sau hội nghị Liễu Châu, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hình thành một văn kiện về phương án đàm phán thấp nhất, đã gửi cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trước, nếu không có ý kiến sẽ chuyển cho đồng chí, đề nghị đoàn đại biểu Việt Nam căn cứ vào phương châm đã định của văn kiện này để tiến hành đàm phán. Đồng thời đề nghị các đồng chí chuyển văn kiện này cho Kuznetsov(70) - đoàn đại biểu Liên Xô tại Genève. Nếu Phạm Văn Đồng có ý kiến sửa chữa hoặc bổ sung cá biệt đề nghị lần lượt báo cho Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Còn những việc cụ thể liên quan đến đàm phán như cân nhắc câu chữ, đề xuất thời gian trước sau, cũng như đề xuất vấn đề địa điểm v.v.. đều do ba đoàn đại biểu Việt, Trung, Xô thương lượng xử lý hợp tình hợp lý. Còn về tình hình cụ thể của hội nghị Liễu Châu, đề nghị Hoàng Văn Hoan và Chu Ân Lai trực tiếp nói cho biết.
Phương án đàm phán thấp nhất do Hồ Chí Minh phê chuẩn gửi cho Phạm Văn Đồng ở Genève là văn kiện vô cùng quan trọng, trong đó then chốt nhất là vấn đề thuộc về ngừng bắn và vạch giới tuyến cũng như vấn đề liên quan đến Việt Nam tiến hành tổng tuyển cử. Yêu cầu của phương án đàm phán thấp nhất là trên vấn đề ngừng bắn phải đồng thời tuyên bố ngừng bắn trong ranh giới Việt Nam, ngừng bắn tại Lào, Campuchia, đồng thời có hiệu lực với cả lục, hải, không. Thời gian và phương thức ngừng bắn, do đại biểu quân sự hai bên thương tháo quyết định tại Đông Dương. Trên vấn đề vạch giới tuyến quân sự, Phạm Văn Đồng đã từng kiên trì phương án chia giới tuyến quân sự từ vĩ tuyến 13 đến 14 bắc, bây giờ Hồ Chí Minh quyết định có thể có nhượng bộ, ông đề xuất lấy vĩ tuyến 14 hoặc 15 làm ranh giới. Nếu phía Pháp tối đa chỉ nhường đến vĩ tuyến 17 và do đó làm cho đàm phán bế tắc thì phía Việt Nam có thể nhường tới vĩ tuyến 15, tìm lý do để phản bác Pháp, ra sức đạt thành hiệp nghị tại vĩ tuyến 16. Nếu như ở vĩ tuyến 16 còn có khó khăn, phía Việt Nam có thể nhượng bộ từ ba mặt sau: 1. Đà Nẵng có thể do phía Pháp bảo lưu thêm một thời gian, ví dụ một năm. 2. Lào có thể lợi dụng đường số 9 để ra biển. 3. Cố đô Huế có thể mở cửa cho hoàng tộc, để cho họ tảo mộ. Ngoài ra, còn vạch ra khu phi quân sự ở hai bên nam bắc giới tuyến này, nó cũng kéo dài đến biển như giới tuyến tạm thời. Trên vấn đề chính trị liên quan đến tổng tuyển cử, phải yêu cầu Pháp công khai thừa nhận: Việt Nam giành được độc lập, chủ quyền lãnh thổ và thống nhất hoàn toàn. Trong 6 tháng đến một năm sau ngày ngừng bắn tiến hành tự do bầu cử trên toàn Việt Nam để khôi phục Việt Nam thống nhất. Ngoài ra mọi quân đội nước ngoài đều phải rút khỏi Việt Nam và phải hoàn thành trước bầu cử. Nhưng đối với quân đội Pháp tại số ít bến cảng có thể để cho bảo lưu thêm một thời gian. Phương án đàm phán thấp nhất còn liên quan đến vấn đề Lào và Campuchia. Phương án đàm phán thấp nhất này hoàn toàn nhất trí với ý tưởng của Chu Ân Lai, và cũng được gọi là “chỉ thị 5-7”(71). __________________ Chú thích (65) “Ghi chép về những phong vân ngoại giao của Mao Trạch Đông”, NXB Nông dân Trung nguyên, 1996, tr. 96-97. TG. (66) “Truyện Chu Ân Lai 1949-1976”, tr. 174. TG. (67) Humphrey Trevelyan, Baron Trevelyan, (1905 – 1985) Đại biện lâm thời Anh tại Bắc Kinh giai đoạn 1953-1955. Đã cùng Anthony Eden, Thủ tướng Anh, gặp Chu Ân Lai tại Geneve tháng 4.1954. (68) Bản ghi báo cáo của Chu Ân Lai ngày 8/7/1954, tại Hội nghị thường vụ, Hội nghị chính trị hiệp thương toàn quốc khoá 1, kỳ họp thứ 57. TG. (69) Chúng tôi lấy theo toàn văn bài đăng trong “Hồ Chí Minh toàn tập” 1951-1954, tập 6, NXB Sự thật, 1986 và ghi thêm chú thích những đoạn bị cắt bỏ, hay thay thế trong bản tiếng Trung. ND. (70) Василий Васильевич Кузнецов/Vasili Vasilievich Kuznetsov (1901-1990). Đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh (1953-1955) (71) Tác giả ghi chép trong buổi phỏng vấn La Quý Ba tại Bắc Kinh ngày 18/4/1990, và dẫn theo ghi chép ông còn giữ được. TG.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 01:08:46 PM » |
|
Ngày 9 tháng 7, Chu Ân Lai tới Moskva, lập tức hội kiến người lãnh đạo Liên Xô. Lúc này Khrushchev(72) đang ở bên ngoài (Moskva). Molotov đã trở lại Genève trước rồi. Malenkov(73), Voroshilov(74), Kaganovich(75) hội kiến Chu Ân Lai, trao đổi tình hình quốc tế và cách nhìn về triển vọng hội nghị Genève. Hai bên nhất trí cho rằng, Mỹ đang lôi kéo phái chủ chiến của Pháp, thi hành sức ép với Mendès-France có ý cầu hoà. Vì vậy cần phải đưa ra những điều kiện rõ ràng, đơn giản, công bằng hợp lý mà chính phủ mới của Pháp có thể tiếp nhận, nhanh chóng đạt được hiệp nghị khôi phục hoà bình ở Đông Dương. Ngay tối hôm đó, Chu Ân Lai gửi điện báo cáo Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ về tình hình hội đàm với phía Liên Xô, một lần nữa chỉ ra: “bây giờ xem xét từ tình hình các mặt thấy, lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến, cộng thêm điều kiện để cho phía Pháp tạm thời sử dụng Tourane (Đà Nẵng) và cho phép Lào ra vào trên đường 9, là về đại thể có thể đạt được hiệp nghị”(76). Trong thời gian Chu Ân Lai tham gia hội nghị Bộ Chính trị tại Bắc Kinh, thì ngày 8 tháng 7, Trương Văn Thiên trở lại Genève. Từ ngày 21 tháng 6 sau khi rời Genève về Mockva, ông đã duy trì tiếp xúc chặt chẽ với Bộ Ngoại giao Liên Xô, tiếp tục điều hoà lập trường về vấn đề hiệp nghị Genève, đồng thời chỉ thị cho Phòng Nghiên cứu chính sách Đại sứ quán Trung Quốc tại Liên Xô, nghiên cứu những vấn đề hội nghị Genève gặp phải. Ngày 4 tháng 7, Phòng này đã hoàn thành báo cáo nghiên cứu “Về cái gọi là kế hoạch Locarno (?) của Anh” do Hà Phương chấp bút. Báo cáo cho rằng: “nước Anh hy vọng cuộc chiến tranh ở đây (chỉ Đông Dương) được ngừng lại có điều kiện, thực hành phân trị tại Việt Nam, đồng thời vạch một giới tuyến, khiến lực lượng quân sự hai bên rút về sau giới tuyến; thực hiện trung lập ở Lào và Campuchia, tức là không cho có quân đội và chính quyền cách mạng ở đó, và cũng không có căn cứ quân sự của Mỹ và chịu sự khống chế của Mỹ ở đó”(77). Trương Văn Thiên tán thành những ý kiến của báo cáo này, đã gửi cho Chu Ân Lai tham khảo và duyệt. Ngay trong ngày trở lại Genève, Trương Văn Thiên và Lý Khắc Nông đã mở tiệc chiêu đãi đoàn đại biểu Pháp do Chauvel(78) đứng đầu. Trong bữa tiệc Chauvel bảo đảm với Trương và Lý, ông ta đã nhận được thông tin khẳng định từ phía Mỹ, trước mắt Mỹ không có dự định thiết lập căn cứ quân sự tại Lào và Campuchia. Chauvel nhiều lần hỏi, bao giờ Thủ tướng Chu Ân Lai có thể trở lại Genève. Ngay tối hôm đó và buổi chiều ngày 10 tháng 7, Trương Văn Thiên và Lý Khắc Nông còn trước sau gặp Molotov, Kuznetsov và Phạm Văn Đồng hai lần để trao đổi ý kiến làm thế nào quán triệt được “chỉ thị 5-7” của Hồ Chí Minh. Phía Liên Xô hoàn toàn đồng ý với ý kiến của các nhà lãnh đạo Trung, Việt, nhưng điều làm họ kinh ngạc là Phạm Văn Đồng đã thể hiện tinh thần tương đối miễn cưỡng đối với “chỉ thị 5-7”. Trong cuộc gặp gỡ ngày hôm đó Phạm Văn Đồng còn nói: “vấn đề khó khăn nhất bây giờ là vạch giới tuyến quân sự. Tôi đề xuất lý do vĩ tuyến 14 hoặc 15, nếu vạch tại vĩ tuyến 16 thì phía chúng tôi có tổn thất.” Ngày 10 tháng 7, Ngoại trưởng các nước tham gia hội nghị Genève lần lượt trở lại Genève, Đầu đề bàn luận chủ yếu của giai đoạn sau là: giới tuyến tạm thời của Việt Nam nên ở chỗ nào. Hai là liệu ba nước Đông Dương đều cần tiến hành toàn dân bầu cử hay không? Cử hành vào thời gian nào? Sau khi dừng lại một thời gian ngắn tại Moskva, chiều ngày 12 tháng 7, Chu Ân Lai trở lại Genève, và gặp ngay Trương Văn Thiên, Lý Khắc Nông, nghe họ giới thiệu tình hình xẩy ra tại đây trong thời gian Ngoại trưởng các nước rời Genève. Ghi chú của người dịch: Nhiều câu văn được tác giả lấy từ những bản ghi chép lời nói trong tư liệu, nên có chỗ không phải là văn viết. __________________ Chú thích (72) Никита Сергеевич Хрущёв /Nikita Sergeyevich Khrushchev (1894 –1971), Bí thư thứ Nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (1953-1964). (73) Георгий Максимилианович Маленков /Georgy Maximilianovich Malenkov (1902 – 1988), khi đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (1953-1955). (74) Климент Ефремович Ворошилов /Kliment Yefremovich Voroshilov (1881 – 1969), khi đó là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô-viết Tối cao Liên Xô. (75) Лазарь Моисеевич Каганович /Lazar Moiseyevich Kaganovich(1893–1991) khi đó là Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (1952-1957). (76) Chu Ân Lai niên phổ 1949-1976”, tr. 396. TG (77) "Truyện Trương Văn Thiên”, NXB đương đại, 1993, tr. 611 và theo ghi chép của tác giả trong cuộc phỏng vấn Hà Phương tại Bắc Kinh ngày 31/12/1995. TG. (78) Jean Chauvel, (1897-1979), khi đó là đại sứ Pháp ở Berne và là người trực tiếp điều đình trong phái đoàn Pháp ở Genève.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:41:47 PM » |
|
Mời các bạn tham khảo một tư liệu khác để hiểu thêm có phải Trung Quốc ép ta không? TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN GENÈVE March 08, 2004 Chính Đạo Chánh Đạo là bút hiệu của nhà văn Nguyên Vũ khi ký vào các tác phẩm có tính biên khảo. Sau khi thoát khỏi Việt nam và đến Mỹ vào năm 1975, nhà văn Nguyên Vũ ghi danh học Sử tại đại học Wisconsin. Trong thời gian theo học để đệ trình luận án tiến sĩ, ông đã sang Pháp một năm tìm kiếm trong các thư khố của Pháp những tài liệu liên quan đến sử cận đại Việt nam. ...... *** TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN GENÈVE Trong lịch sử cận đại Việt nam, hai biến cố nổi bật lên như dấu mốc hệ trọng, của khúc quanh dòng lịch sử. Đó là chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, và việc ký kết Hiệp định đình chiến Genève ngày 20, 21-7-1954 giữa Pháp và Việt Minh, chấm dứt cuộc tái xâm lăng của Pháp (1945-1956). Nhưng hai biến cố này cũng đồng thời khởi đầu việc Mỹ trực tiếp can thiệp vào Việt nam, thiết lập nên hai thực thể chính trị phía Bắc và Nam vĩ tuyến 17, dẫn đến cuộc can thiệp bằng quân sự của Mỹ từ 1965 tới 1973, thường được biết như “trận chiến ở hải ngoại dài nhất trong lịch sử Mỹ”. Đã có nhiều nghiên cứu giá trị về hai biến cố trên, bằng nhiều loại ngôn ngữ. Trong thập niên 1980-1990, do sự giải mật một số tài liệu của hai Đảng cộng sản Việt nam và Trung Hoa, cùng những tài liệu văn khố Mỹ, Anh và Pháp, các học giả đã tái dựng khá trung thực hai biến cố trên. Bài viết này, ngoài những tư liệu đã công bố, dựa theo một số tư liệu nguyên bản Việt và lưu trữ Pháp, Mỹ khác, nhằm tái dựng lại hai biến cố Điện Biên Phủ và Hiệp ước Genève trong ánh sáng khách quan lịch sử. I. Điện Biên Phủ Điện Biên Phủ còn có tên là Mường Then (mường trời, mường các thần thánh), Mường Then, hay Mường Thanh, ở về phía Tây Nam Lai Châu, cách biên giới Lào-Việt khoảng 8 cây số. Đây là vựa lúa và thuốc phiện của miền Tây Bắc. Nó cũng là điểm gặp gỡ của hệ thống đường mòn từ Hoa Nam xuống Bắc Trung bộ, và từ Lào qua Lai Châu, Sơn La. Thung lũng này dài 18 cây số, rộng từ 6 tới 8 cây số, vây quanh bằng núi rừng trùng điệp. Một con sông nhỏ, Nam Yun (Nậm Rốm), một chi nhánh của sông Mekong (sông Khung hay Cửu Long), chảy xuôi theo hướng Bắc Nam, chia thung lũng làm hai. Khí hậu chỉ có hai mùa: khô và mưa. Mùa khô từ tháng 10 tới tháng 5 nhật lịch (tức tháng chín lịch Thái). Dân Thái ở dưới đồng bằng, sống bằng nghề nông. Dân Mèo sống trên núi, trồng thuốc phiện. Năm 1886, vua Hàm Nghi phong cho Đèo Văn Chương (tức Trí), Tri phủ Điện Biên, làm Tuyên phủ sứ, vì có công kháng chiến chống Pháp. Phái đoàn Auguste Pavie Pháp đã đến đây vào năm 1887, nhưng phải tới đầu năm 1888 mới tìm cách tiếp xúc được với Đèo Văn Trí, cố thuyết phục Trí bỏ rơi phong trào kháng Pháp của Hàm Nghi. Nhưng phải tới chuyến đi thứ hai vào vùng 16 châu Thái từ tháng 3-1888 tới tháng 1-1889, Pavie mới thu phục được các tù trưởng thiểu số chấp nhận sự bảo hộ của Pháp từ năm 1890. Năm 1891, đặt vào Đạo quan binh thứ tư (4ème territoire militaire). Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đặt tại đây một viên chức hành chính, lo việc sản xuất và vận chuyển thuốc phiện. Năm 1939, một phi trường nhỏ được thiết lập. Từ 1945 tới 1947, Điện Biên Phủ nhiều lần đổi chủ. Sau chiến dịch Meigo (9, 10-3-1945), tàn quân Pháp rút về đây hy vọng phát động một cuộc chiến kháng Nhật. Nhưng chưa đầy hai tháng sau, ngày 6-5-1945, tất cả tàn quân Pháp của Sabattier và Alessandri phải rút chạy qua Vân Nam. Các tướng lãnh Nhật muốn biến Điện Biên Phủ thành một căn cứ kháng chiến chống Đồng Minh, nhưng hai quả bom nguyên tử trên đất Nhật vào thượng tuần tháng 8-1945 khiến Nhật phải đầu hàng không điều kiện. Từ tháng 9-1945, quân đội Tưởng Giới Thạch qua Đông Dương giải giới quân Nhật ở phía Bắc vĩ tuyến 16. Quan tướng của Lư Hán khó thể bỏ qua Điện Biên Phủ và số lượng thuốc phiện thô sản xuất tại đây. Mặc dù Pháp bí mật dàn xếp cho đạo quân của Marcel Le Page cùng gia đình Đèo Văn Long trở lại vùng Lai Châu (Mương La), các quan tướng Tưởng lưu lại Điện Biên Phủ cho tới hết mùa thuốc phiện 1946 mới triệt thoái. Từ mùa thu 1953, Điện Biên trở thành một vị trí quyết đấu giữa tân Tổng tư lệnh Pháp, Henri Eugène Navarre, và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các cố vấn Trung quốc. Cuộc quyết đấu này là một “tai nạn” hơn “điểm hẹn lịch sử”. A. Bối cảnh chính trị, quân sự: Thời gian này, dư luận Pháp đang mong muốn tìm lối thoát khỏi bãi lầy Đông Dương trong danh dự. Cuộc chiến đã kéo dài 8 năm. Lực lượng chính qui của Việt Minh đã tăng lên tới 6 sư đoàn, kể cả một sư đoàn pháo binh phòng không (sư đoàn 351). Các đại đơn vị này được Trung quốc huấn luyện và trang bị. Cố vấn Trung quốc do La Quí Ba và Vi Quốc Thanh cầm đầu, lên tới gần 300 người, bố trí từ quân uỷ trung ương xuống các sư đoàn. Từ năm 1951, cố vấn Trung quốc thi hành một loạt những cuộc chỉnh quân, chỉnh phong, về chính trị cũng như quân sự. Những đơn vị địa phương, du kích (dân quân) ngày một gia tăng, đặc biệt là tại miền Bắc. Do áp lực của sư đoàn 320 (Đại đoàn Đồng bằng), kế hoạch bình định của Pháp và quốc gia Việt nam bị bẻ gãy từng mảng. Các vùng lãnh thổ do Việt Minh kiểm soát gồm nhiều mật khu hầu như bất khả xâm phạm: vùng thượng du Bắc Việt, vùng Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh (Liên khu 4), vùng Quảng Ngãi-Qui Nhơn-Tuy Hoà (Liên khu 5), vùng Tây Ninh-Gia Định (chiến khu C, D), vùng Đồng Tháp Mười, vùng U Minh-Cà Mau. Việt Minh thường tuyên bố đã kiểm soát được 1/2 lãnh thổ. Pháp chỉ còn kiểm soát được các thành phố, tỉnh lỵ và quận lỵ cùng những trục lộ giao thông nối liền chúng với nhau. Phần chính phủ quốc gia Việt nam do Quốc trưởng Bảo Đại (1949-1955) cầm đầu chỉ mờ nhạt trên bối cảnh cuộc chiến ngày một gia tăng cường độ. Chẳng những Pháp không muốn trao trả độc lập thực sự mà cũng rất e dè trong việc tổ chức và huấn luyện quân đội quốc gia Việt nam. Sở dĩ Pháp còn cầm cự được là nhờ viện trợ Mỹ. Mục tiêu chiến lược của Mỹ nhằm biến Đông Dương thành một tiền đồn chống Cộng, ngăn cản sự bành trướng của Trung quốc xuống vùng Đông Nam Á - vựa lúa của Á châu, và cũng đồng thời nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên dồi dào cho thị trường thế giới. Nhưng viện trợ Mỹ có những thắt trói của nó. Mỹ áp lực Pháp phải trao trả dần độc lập thực sự cho chế độ quốc gia Việt nam cũng như quyền tự trị cho quân đội. Mục tiêu giành độc lập khỏi tay Pháp của người Việt không cộng sản được chuyển hướng dần thành cuộc “thánh chiến chống Cộng” (an anti-communist crusade) trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Liên xô. Nòng cốt của cuộc thánh chiến này là chỉ thị của Khâm sứ Antonin Drapier từ năm 1947, và nhất là Thánh lệnh của Giáo hoàng Pius XII ngày 15-7-1949. Tuy nhiên, mãi tới cuối năm 1951, Giám mục Lê Hữu Từ và hai giáo phận Bùi Chu, Phát Diệm mới chính thức “chống cộng”. Sự thay đổi lập trường này, theo De Lattre de Tassigny, là do chuyến thăm Vatican ngày 15-10-1951 của ông ta. Pius XII không chỉ ban phép lành cho quân viễn chinh Pháp, mà còn bổ nhiệm một Linh mục gốc Ireland, John Dooley, làm Khâm sứ. Nhưng Pháp - một quốc gia theo chính sách đại nghị, và có nền chính trị đa nguyên - chỉ muốn “thánh chiến chống Cộng” nếu cuộc thánh chiến ấy giúp bảo vệ quyền lợi thực dân, kinh tế và văn hoá của Pháp. Niềm tự hào quốc gia và chủng tộc khiến Pháp tiếp tục cuộc chiến, trong khi dư luận ngày một nghiêng về việc kết thúc chiến tranh. Nhiều cá nhân đã lên tiếng gọi cuộc chiến Đông Dương là cuộc chiến tranh bẩn thỉu (la sale guerre) của tư bản và quân phiệt, và hô hào đòi thương thuyết với Việt Minh. Trong khi đó, cuộc chiến Đông Dương cũng bắt đầu kích động những mầm mống chống đối bằng vũ lực ở các thuộc địa Bắc Phi, như Algérie, Maroc, v.v.. Ngay những chính khách Pháp thân Mỹ và cực hữu nhất cũng đi đến kết luận rằng thương thuyết là giải pháp duy nhất. Từ tháng 7-1953, một số người đã nghiêng về ý định dùng Trung quốc và Liên xô làm trung gian hoà giải. Ngày 29-7-1953, chẳng hạn, Tổng Ủy viên Maurice Dejean nói với Đại sứ Heath rằng có thể đạt một giải pháp chính trị cho Đông Dương qua Trung quốc. B. Kế hoạch Laniel-Navarre: Kế hoạch Navarre thoạt tiên được gọi là kế hoạch “Letourneau-Navarre”, và rồi “Laniel-Navarre”. Đại tướng Henri Eugène Navarre được cựu Thủ tướng René Mayer và Thống chế Alphonse Juin, Tổng Tham mưu trưởng, chọn làm Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp, thay thế Raoul Salan từ ngày 28-5-1953. Quan điểm chiến lược của Navarre là tập trung lực lượng viễn chinh Pháp thành những “quả đấm mạnh”, lưu động, nhằm truy kích và tiêu diệt các đơn vị chính qui Việt Minh, tạo thế chủ động chiến trường, bẻ gãy xương sống Việt Minh trong mùa khô 1954-1955. Việc lưu giữ đồn bốt và bình định sẽ được giao dần cho chính phủ và quân đội quốc gia Việt nam. Tháng 3-1953, Jean Letourneau trao cho Mỹ dự thảo đầu tiên của Navarre. Mục tiêu hàng đầu của Navarre là bình định phía Nam vĩ tuyến 18 (đèo Ngang), và tạm thời duy trì tình trạng hiện hữu ở miền Bắc, tức bảo vệ vùng châu thổ sông Hồng và Thượng Lào (trục Luang Prabang - Cánh Đồng Chum (Plaine de Jars)). Đồng thời, xây dựng lực lượng tổng trừ bị chiến lược. Navarre hy vọng rằng từ năm 1954 sẽ lấy lại thế chủ động chiến trường ở miền Bắc đèo Ngang. Kế hoạch Navarre gồm có việc tăng thêm 59.600 binh sĩ quốc gia Việt nam năm 1953, 76.000 năm 1954, và 20.000 năm 1955, và lên tới 331.650 vào tháng 1-1956. Navarre còn xin tăng viện hai hay ba sư Pháp, thành lập 27 chiến đoàn cơ động (groupement mobile), bốn sư đoàn cơ động quốc gia Việt nam cùng 84 tiểu đoàn khinh quân. Ngày 16-6-1953, sau hơn một tháng viếng thăm các chiến trường, Navarre triệu tập một phiên họp các Tư lệnh vùng tại Sài gòn để thảo luận về dự thảo kế hoạch mùa khô 1953-1954. (còn tiếp) ---------------------------------- Trích nguồn cần có biên tập, diễn đàn không chấp nhận những thông tin hiện đã bị thay bằng ... Nhắc nhở bác ngao5, còn một lần vi phạm, bác sẽ được đi nghỉ mát dài hạn!
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Một, 2008, 07:04:25 PM gửi bởi dongadoan »
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:43:03 PM » |
|
Tại Bắc Việt, từ mùa hè 1953, Navarre sẽ tạo thế chủ động bằng những cuộc hành quân biệt kích, đột nhập hậu phương của Việt Minh. Từ ngày 15-9-1953, sẽ mở những cuộc tấn công ngăn chặn các âm mưu quân sự của Việt Minh, đánh vào hậu phương và bên sườn các đơn vị chủ lực. Navarre cũng sẽ di tản các đơn vị chủ lực tại những nơi xét không cần thiết, và xúc tiến việc bình định. Lập các quân đoàn tác chiến bằng cách gom các tiểu đoàn thành trung đoàn, trung đoàn thành sư đoàn. Tuy nhiên, vẫn duy trì các đơn vị trừ bị. Ngoài ra, tiếp tục huấn luyện và tổ chức các đơn vị quốc gia liên hiệp, tập cho họ quen tác chiến và được hưởng nhiều tự trị hơn. Navarre muốn triệt thoái căn cứ Nà Sản, một cứ điểm quân sự ở phía Tây Bắc, đã bị hai sư đoàn Việt Minh vây hãm và nhiều lần tấn công trong chiến dịch mùa khô 1952-1953. Trung tướng René Cogny, Tư lệnh Bắc Việt, đề nghị lập thêm một cứ điểm ở Mương Then (Điện Biên Phủ) và dời thủ phủ của Liên bang Thái tự trị (ZANO) từ Lai Châu về đây. Tháng 6-1953, chính phủ Mayer bị đổ. Joseph Laniel (6-1953 - 6-1954) lên thay. Thời gian này, cuộc chiến Triều tiên (1950-1953) đã tạm ngưng tiếng súng; Mỹ và Trung quốc đồng ý ngồi vào bàn hội nghị Panmunjon (Bàn Môn Điếm). Ngày 27-7-1953, hai phe lâm chiến ký Hiệp ước đình chiến Panmunjon. Triều tiên tạm thời chia làm hai nước, ranh giới là vĩ tuyến 38. Dưới mắt các chiến lược gia Pháp, Bắc Kinh sẽ rảnh tay hơn trong việc trợ giúp Việt Minh. Hơn nữa, đa số chính khách đều kết luận rằng Pháp chẳng còn lối giải quyết nào hơn thương thuyết. Ngay trong nội các Laniel, một số Bộ trưởng muốn thảo luận trực tiếp với Hồ Chí Minh; một số muốn Mỹ trực tiếp tài trợ hoàn toàn cuộc chiến, đổi lấy việc Pháp tham gia cộng đồng phòng thủ châu Âu (communauté européenne de défense hay CED); một số lại muốn dùng CED để áp lực Liên xô hầu giải quyết cuộc chiến. Một số khác nữa muốn thương thuyết với Bắc Kinh, trao đổi việc chấm dứt chiến tranh bằng viện trợ kinh tế cho Trung quốc. Laniel chủ trương không bỏ rơi Đông Dương, và phải thương thuyết trên thế mạnh, sau khi Pháp giành được thế chủ động trên chiến trường. Laniel trông cậy Mỹ gia tăng viện trợ để chống lại khuynh hướng thương thuyết tức khắc, và bằng mọi giá. Ngày 3-7-1953, đúng ngày Laniel tuyên bố kiện toàn nền độc lập của quốc gia Việt nam để tạo kích xúc tâm lý, Navarre về nước, vận động cho kế hoạch quân sự 1953-1954. Ngày 24-7-1953, Navarre ra điều trần trước Hội đồng quốc phòng. Tuy nhiên, Laniel chỉ tăng viện cho Navarre được 10 tiểu đoàn tác chiến, kể cả một tiểu đoàn đang tham chiến tại Triều tiên. Ngoài ra, Laniel cũng cho Navarre biết ý định tìm cách ngưng bắn như trường hợp Triều tiên, và Navarre không cần bảo vệ Thượng Lào. Kế hoạch “Letourneau-Navarre” được cải danh thành “Laniel-Navarre” khi Laniel xin thêm 400 triệu Mỹ kim viện trợ cho năm 1954. Về quân viện Mỹ, không gặp trở ngại. Ngày 12-7-1953, ngoại trưởng Dulles chấp thuận trên nguyên tắc với Bidault. Ngày 30-7-1953, Quốc hội Mỹ biểu quyết quân viện thêm 150 tỉ francs (400 triệu USD) cho tài khoá 1953-1954 như Laniel yêu cầu. Ngày 5-8-1953, Bộ ngoại giao Mỹ biện minh cho việc thêm quân viện như sau: nội các Laniel là “chính phủ Pháp cuối cùng còn muốn tiếp tục cuộc chiến Đông Dương”, việc mất Đông Dương “rất quan trọng (critical) cho nền an ninh Mỹ”, nếu cộng sản kiểm soát Đông Dương sẽ làm nguy hiểm “nguồn cung cấp nguyên liệu thô quan trọng (vital raw material sources)” sẽ khiến các quốc gia Đông Nam Á giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của phương Tây; gây khó khăn và tốn kém cho việc phòng thủ Philippines, Đài Loan và Nhật; và khiến việc xây dựng kinh tế Nhật thêm phức tạp. “Nếu Pháp quyết định rút lui, Mỹ phải suy xét rất kỹ là có nên thay thế hay chăng (If the French actually decided to withdraw, the US would have to consider most seriously whether to take over in this area)”. Tại Đông Dương, trong tháng 7-1953, Pháp tung ra một loạt tấn công chớp nhoáng vào hậu phương của Việt Minh. Ngày 17-7-1953, ba tiểu đoàn dù nhảy xuống phía Bắc Lạng Sơn, rồi rút về hướng Đình Lập - Tiên Yên (Hành quân Hirondelle - Chim Én). Ngày 28-7-1953, tướng Le Blanc mở cuộc hành quân Camargue, truy đánh Trung đoàn 95 tại vùng Quảng Trị-Thừa Thiên. Ngày 2-8-1953, Navarre trở lại Sài gòn. Sáu ngày sau, thứ bảy, 8-8-1953, Pháp bắt đầu rút khỏi Nà Sản bằng phi cơ (cho đến ngày 13-8-1953). Không quân Pháp cũng di tản 10.000 người Thái, tức khoảng 1.800 gia đình. Việc triệt thoái bằng cầu không vận này không gặp sức phản kháng nào của Việt Minh. Mặc dù Quân uỷ trung ương Việt Minh đã chọn Nà Sản làm một trong những mục tiêu chính của chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, thời gian này các đơn vị đang trải qua giai đoạn chỉnh huấn quân sự cũng như chỉnh phong chính trị (tinh thần đấu tranh giai cấp). Trong tháng 8-1953, Navarre còn mở hai cuộc hành quân lớn ở châu thổ sông Hồng. Ngày 13-8-1953, Pháp tảo thanh vùng Tri Lễ, Ước Lễ, khoảng 17 cây số Nam tỉnh lỵ Hà Đông. Từ năm 1952, vùng này trở thành mật khu của Việt Minh, đe doạ khu Đồng Quan. Ngày thứ sáu, 28-8-1953, Pháp mở chiến dịch Claude (cho tới ngày 15-9-1953), tảo thanh vùng Tiên Lãng (10 cây số Nam Hải Phòng). Tuy nhiên, ngay sau khi quân Pháp rút lui, Việt Minh chiếm lại các căn cứ. Ngày 15-10-1953, Pháp lại mở chiến dịch Mouette (Hải Âu, cho tới ngày 6-11-1953). Sử dụng 22 tiểu đoàn đánh vùng Rịa - Nho Quan, Tây Nam tỉnh Ninh Bình. Các tiểu đoàn được kết hợp thành hai sư đoàn nhẹ, do Đại tá Christian de Castries và Vanuxem chỉ huy. Việt Minh sử dụng sư đoàn 320 chống trả. Ngày 27-10-1953, hai bên chạm súng nặng. Ngày 6-11-1953, Navarre cho lệnh chấm dứt hành quân. Cùng ngày 15-10-1953, Pháp mở cuộc hành quân Pélican (Con bồ nông) ở vùng duyên hải Thanh Hoá. Hôm sau, đổ bộ 500 quân xuống Lạch Trường, rồi rút lui. Theo tướng John W. O'Daniel, người được Navarre đích thân cho xem kế hoạch Thu Đông 1953-1954 ngày 29-6-1953, chính phủ Pháp không thực hiện đúng những gì đã ký kết với Mỹ: a) Pháp không có những kế hoạch tổng quát cho cuộc tấn công mùa thu 1953 ngoài những cuộc hành quân giới hạn nhằm khiến quân địch bất ngờ (keep the enemy off balance); b) Việc cải tổ các đơn vị thành trung đoàn và sư đoàn vẫn còn trong giai đoạn thiết kế (planning stages); c) Không khẩn trương huấn luyện các sĩ quan cao cấp Việt và tham mưu; d) Việc tổ chức Bộ chỉ huy huấn luyện đang gặp “khó khăn chính trị;” e) Việc tổ chức lực lượng thủy bộ chưa quá giai đoạn thiết kế. Do đó Đô đốc Arthur Radford, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, đề nghị phải có điều kiện cho việc tăng quân viện: Pháp cần chứng tỏ hành động ở Đông Dương, và tiếp tục chấp nhận và hành động theo cố vấn của Mỹ. Và các cấp của Pháp phải yểm trợ và nỗ lực thực hiện kế hoạch Navarre. Kế hoạch nòng cốt của Navarre trong mùa khô 1953 là mặt trận Tây Bắc Bắc Việt và Thượng Lào. Có những dấu hiệu cho thấy các đơn vị chủ lực của Việt Minh đang di chuyển về hướng Lai Châu, đặc biệt là hai Sư đoàn 316 (từ Thanh Hoá) và 308. Điều này chứng tỏ mục tiêu chiến lược của Việt Minh trong dịp Đông Xuân 1953-1954 là vùng Tây Bắc và Thượng Lào hơn vùng châu thổ Bắc Việt. C. Chiến dịch Castor Ý định tái chiếm Điện Biên làm điểm tiếp vận cho các đơn vị người Thái chống cộng đã được Raoul Salan đưa ra từ ngày 30-12-1952. Trước đó một tháng, ngày 30-11-1952, một tiểu đoàn Lào mới di tản khỏi Mường Then. Khoảng 13.000 dân cư ở lại, lọt vào vòng kiểm soát của Việt Minh. Trung đoàn 148 độc lập của Việt Minh đã có mặt trong khu vực này từ chiến dịch Đông Xuân 1952-1953. Trong tháng 11, 12-1952, Trung đoàn 148 tham gia cuộc vây hãm Nà Sản, cách Điện Biên khoảng 70 dặm (110 km) về phía Bắc. Bộ chỉ huy Trung đoàn và Tiểu đoàn 900 đang có mặt tại Điện Biên. Ngày 7-1-1953, Ban tham mưu của Salan đã thảo kế hoạch tái chiếm Điện Biên. Tuy nhiên, vì tình hình suy thoái ở miền Bắc, chưa có cơ hội thực hiện. Ngày 25-5-1953, tức ba ngày trước khi bàn giao cho Navarre, Salan vẫn nhấn mạnh vào sự cần thiết tái chiếm Điện Biên. Như đã lược nhắc, ngày 16-6-1953, chính trung tướng Cogny, Tư lệnh Bắc bộ, đề nghị tái chiếm Điện Biên làm thủ phủ Liên bang Thái tự trị. Sau khi Navarre thuyết trình trước Hội đồng quốc phòng ngày 24-7-1953, hôm sau, 25-7-1953, Ban tham mưu của Navarre soạn chỉ thị số 563 về kế hoạch chiếm Điện Biên để ngăn chặn việc quân Việt Minh tiến qua Thượng Lào. Tuy nhiên, trong tháng 8-1953 nỗ lực của Pháp tại Bắc Việt là cuộc di tản bằng hàng không khỏi Nà Sản 9.000 binh sĩ Pháp và thân nhân. Mãi tới ngày 2-11-1953, Phụ tá hành quân của Navarre mới ra chỉ thị (số 852) về hệ thống chỉ huy chiến dịch Castor, dự trù sẽ bắt đầu từ ngày 15 tới 20-11-1953, nhưng không thể chậm hơn ngày 1-12-1953. Hai ngày sau, 4-11-1953, Ban tham mưu của Cogny viết Tờ trình phản đối chỉ thị chiếm Điện Biên, vì nơi đây sẽ trở thành “máy nghiền các tiểu đoàn”. Ngày này, Cogny thư cho Navarre phản đối. Dẫu vậy, ngày 11 và 12-11-1953, Cogny vẫn chỉ thị cho các đơn vị thi hành kế hoạch hành quân Castor. Thứ bảy, 14-11-1953, Navarre ra lệnh hành quân cuối cùng về Điện Biên. Cogny và đại tá Boucher de Crèveoeur, Tư lệnh Lào, được lệnh phối hợp hành quân. Hôm sau, 15-11-1953, Ban tham mưu của Navarre báo động về sự hiện diện tại vùng Tây Bắc của Sư đoàn 316, đại đơn vị này có 2 trung đoàn 174 và 176 tuyển mộ từ các sắc tộc trong khu Thái tự trị. Hai ngày sau, 17-11-1953, khi Bộ trưởng Các quốc gia liên kết Marc Jacquet, cùng Navarre, Maurice Dejean và Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm tới thăm Hà nội, đích thân Cogny trình bày về chiến dịch Castor sắp tới. Jacquet không hề phản đối hay bận tâm báo cáo về Paris. Điều này chứng tỏ các cấp chỉ huy Pháp không ngại đương đầu với Việt Minh tại Điện Biên. Họ vững tin ở khả năng không vận của Pháp, và sự khó khăn của Việt Minh về tiếp vận cũng như hoả lực tại một trận địa cách hậu cứ trên 500 cây số rừng núi. Chiến dịch Castor bắt đầu. Thứ sáu, 20-11-1953, Chiến dịch Castor bắt đầu. Tướng Jean Gilles chỉ huy sáu tiểu đoàn dù, kể cả Tiểu đoàn 5 Dù Việt nam, nhảy xuống Điện Biên trong ba ngày 20 đến 23-11-1953. Các đơn vị truyền tin, thiết giáp, pháo binh, công binh cũng được thả dù hay không vận tới trận địa. (còn tiếp)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:44:25 PM » |
|
D. Triệt thoái Lai châu: Từ ngày 4-11-1953, Pháp quyết định bỏ Lai Châu (Mường Lay), và di tản chính phủ Thái tự trị của Đèo Văn Long xuống Điện Biên Phủ. Ngày 13-11-1953, Cogny thông báo cho Chỉ huy trưởng Lai Châu, Trung tá Trancart, biết chi tiết cuộc Hành quân “Pollux” này. Binh đoàn lưu động Thái số 1 (GMPT 1) của Đại úy Bordier lập tức di chuyển từ Lai Châu xuống Điện Biên, nhưng bị trung đoàn 148 chận đánh và khuấy nhiễu dọc đường. Ngày 22-11-1953, một cánh quân Tiểu đoàn 1 nhảy dù (II.1 RCP) phải rời Điện Biên lên đón. Hôm sau, 23-11-1953, Liên đoàn Thái lưu động 1 bắt tay được Tiểu đoàn 1 Dù (II.1 RCP) ở phía Bắc Điện Biên khoảng 7 cây số. Từ ngày này, cờ Thái tự trị, ngôi sao đỏ 16 cánh trên nền xanh da trời, trắng, xanh da trời, phất phới khắp thung lũng. Ngày thứ bảy, 28-11-1953, Navarre bay ra Hà nội. Cogny đề nghị tấn công hậu cứ Việt Minh vì các sư đoàn 304, 312 và 351 đang hướng về Tây Bắc, nhưng Navarre không chấp thuận. Hôm sau, Navarre cùng Cogny tới thị sát Điện Biên. Đại tá Christian de Castries, một sĩ quan kỵ binh từng theo Navarre nhiều năm, được chọn làm Tư lệnh cứ điểm chiến lược Tây Bắc này. Trước sự tập trung đông đảo của quân Việt Minh, ngày 30-11-1953, Cogny ra chỉ thị tổ chức phòng thủ Điện Biên lâu dài. Ba ngày sau, 3-12-1953, phần nào do lời nghị hoà của Hồ Chí Minh ngày 29-11-1953, Navarre cho lệnh de Castries giữ Điện Biên bằng mọi giá. Chiến dịch Castor cải danh thành Mặt trận Tây Bắc (GONO). E. Mặt trận Thượng Lào: Ngày thứ tư, 25-11-1953, Đại tá Boucher de Crèveoeur, Tư lệnh Lào, mở chiến dịch Ardèche, tung 6 tiểu đoàn đánh chiếm Mường Ngòi, Mường Khoa (Thượng Lào). Mục đích nhằm xây dựng một hành lang chiến lược dài theo sông Nam Ou (Nậm U) nối liền Luang Prabang với Điện Biên. Ngày 3-12-1953, Pháp cũng mở cuộc hành quân Regate từ Điện Biên xuống, và Luang Prabang lên, hợp điểm ở Sop Nao. Liên đoàn GAP 2 của Trung tá Langlais tới Sop Nao không gặp trở ngại, nhưng trên đường về, phải vượt rừng núi trở lại Điện Biên vì Trung đoàn 148 Việt Minh đang bám sát. Hành lang chiến lược nối liền với Luang Prabang, dọc theo sông Nậm U, để di tản Điện Biên khi cần thiết hầu như trở thành ảo vọng vào dịp Giáng Sinh 1953. II. Kế hoạch Đông-xuân 1953-1954 của Việt Minh: Từ tháng 8-1953, Bộ Tổng tư lệnh Việt Minh bắt đầu nghiên cứu kế hoạch hành quân Đông-Xuân (tức mùa khô) 1953-1954. Vấn đề quan trọng nhất là chọn đồng bằng Bắc Việt làm mục tiêu chiến dịch, hay tiếp tục hành quân ở miền Tây Bắc, giải phóng Lai Châu, rồi đánh thông xuống miền Trung. A. Kế hoạch Võ Nguyên Giáp bị bác Ngày 13-8-1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt nam gửi điện văn xin ý kiến Bắc Kinh về tình hình tổng quát và phương hướng chiến lược. Trong thời gian chờ quyết định của Trung quốc, ngày 18-8-1953, Bộ chính trị Đảng LĐVN, theo đề nghị của Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Việt Minh, ra Nghị quyết lấy đồng bằng làm hướng chủ yếu, và Tây Bắc làm hướng phụ. Thời gian này, Wei Guoping (Vi Quốc Thanh) đang về nước nghỉ. Luo Qibo (La Quí Ba) tham dự buổi họp và báo cáo về Bắc Kinh. Ngày 27-8-1953, và rồi 29-8-1953, Quân uỷ Trung quốc liên tiếp gửi điện văn cho La Quí Ba và BCH.TƯ Đảng LĐVN phản đối việc tấn công đồng bằng. Và đề nghị chiếm Lai Châu, đánh qua Lào, rồi xuống Miên. Tháng 9-1953, Bộ Chính trị Đảng LĐVN đồng ý đề nghị của Bắc Kinh. Ngày 1-10-1953, Võ Nguyên Giáp tới Tỉn Keo, Tuyên Quang đệ trình kế hoạch Đông-Xuân 1953-1954. Chỉ có Hồ Chí Minh, Trường Chinh, và Phạm Văn Đồng hiện diện. Nguyễn Chí Thanh và Trần Đăng Ninh vắng mặt. Ngày 10-10-1953, Đảng cộng sản Trung quốc báo cho Hồ Chí Minh biết Vi Quốc Thanh lại được chỉ định làm Cố vấn trưởng quân sự; và La Quí Ba, Cố vấn trưởng chính trị. Ngày 27-10-1953, Vi Quốc Thanh trở lại Thái Nguyên, mang theo một bản sao kế hoạch Navarre. Ngày 3-11-1953, Bộ Chính trị Đảng LĐVN chấp thuận kế hoạch hành quân Đông Xuân 1953-1954 do Vi Quốc Thanh và các cán bộ Việt nam soạn thảo: Chiến dịch mùa khô 1953-1954 sẽ là hướng Tây Bắc, với mục tiêu Lai Châu. Từ ngày 15-10-1953, Giáp đã cho lệnh Sư đoàn 316 từ Thanh Hoá tiến về hướng Tây Bắc. Thực ra, hai Trung đoàn 98 và 176/ Sư đoàn 316 vẫn có mặt tại đây. Trung đoàn 98 hoạt động từ Sầm Nưa về Sơn La. Trung đoàn 176 hoạt động dài theo sông Đà. Chỉ có Bộ Tư lệnh sư đoàn và Trung đoàn 174 về Thạch Thành, Thanh Hoá chỉnh quân sau chiến dịch Thượng Lào mùa Xuân 1953. Nay Phó Tư lệnh Vũ Lập dẫn Trung đoàn 174 và Sở chỉ huy sư đoàn rời Thanh Hoá, vượt sông Đà ngày 15-11-1953. B. Điện Biên Phủ làm mục tiêu chính Trong bốn ngày, từ 20 đến 24-11-1953, Hội nghị phổ biến kế hoạch Đông Xuân của Việt Minh diễn ra tại Đồng Đậu, Định Hoá, Thái Nguyên. Giữa thời gian này, đột ngột diễn ra việc Pháp đổ quân xuống Điện Biên, và rồi Crèveoeur mở hành lang Thượng Lào từ ngày 25-11-1953. Vì chưa hiểu rõ ý định Navarre, Giáp và Vi Quốc Thanh chưa có quyết định mới nào hơn đưa đại quân tiến vào Tây Bắc và đánh chiếm Lai Châu. Giáp cho lệnh Sư đoàn 308 của Vương Thừa Vũ (Trung đoàn 36, 88, 102) tiến về Lai Châu. Sư đoàn 316 (Trung đoàn 98, 174, 176 + đại đội 812 vũ khí nặng) được lệnh phải có mặt ở Tuần Giáo, Nam Lai Châu và Đông Bắc Điện Biên, chậm nhất là ngày 6-12-1953. Sư đoàn 304 (hai Trung đoàn 57, 345) của Hoàng Minh Thảo (và Hoàng Sâm) đang ở Thanh Hoá cũng di chuyển lên Tây Bắc làm kế nghi binh, rồi luồn đường rừng trở lại Phú Thọ, đề phòng quân Pháp tập hậu mật khu ở đây. Trong khi đó, Sư đoàn 325 của Trần Quí Hai và một Trung đoàn của 304 cũng đánh qua Trung và Hạ Lào. Liên khu 5 thì mở rộng hoạt động lên vùng cao nguyên miền Trung. Từ ngày 26-11-1953, Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu phó, cùng Mai Gia Sinh, Cố vấn tham mưu, cầm đầu Bộ chỉ huy tiền phương rời Thái Nguyên ra mặt trận. Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Đảng LĐVN và các “chuyên gia” TQ đồng ý đánh Điện Biên. Kế hoạch sơ khởi chia làm hai đợt. Đợt thứ nhất, dùng sư đoàn 316 đánh Lai Châu, kết thúc vào cuối tháng 1-1954. Sau đó cho binh sĩ nghỉ ngơi 20 ngày. Đợt 2 đánh Điện Biên. Thời gian tác chiến khoảng 45 ngày. Chiến dịch sẽ kết thúc vào đầu tháng 4-1954. Đại bộ phận sẽ rút, chỉ dùng một số đơn vị qua Lào, cùng Pathet Lào uy hiếp Luang Prabang. Ba sư đoàn 308, 312 và 316 chính thức tham chiến. Ngày N dự trù là 25-1-1954. Đây là một chiến dịch vô cùng gian nan. Vấn đề tiếp vận hầu như bất khả. Việt Minh sử dụng tới hơn 100.000 nhân công để di chuyển thực phẩm và đạn dược cho các đơn vị hành quân. Đầu tháng 12-1953, Sư đoàn 308 vượt sông Hồng, đưa Trung đoàn 36 theo đường tắt chiếm cao điểm Pom Lót, phía Nam - Tây Nam Điện Biên để chặn đường Pháp triệt thoái. Cùng lên đường với sư đoàn 308 có trung đoàn sơn pháo 75 ly 675/ Sư đoàn 351. Giáp còn tung thêm vào mặt trận Sư đoàn 312 từ Yên Bái tiến sang Tây Bắc, Sư đoàn 351 (Pháo, công binh), và Sư đoàn 304, thiếu một Trung đoàn. C. Bỏ đánh nhanh, thắng nhanh: Ngày 1-1-1954, Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh kiêm Bí thư đảng uỷ Mặt trận Tây Bắc. Bốn ngày sau, 5-1-1954, Võ Nguyên Giáp lên đường ra mặt trận. Bộ chỉ huy, ngoài Giáp, có Hoàng Văn Thái, tham mưu trưởng (đã tới Tuần Giáo từ tháng 11-1953); Lê Liêm, chính trị; Đặng Kim Giang, hậu cần; Lê Trọng Nghĩa, quân báo. Ngày 12-1-1954, Giáp tới Tuần Giáo. Trong khi thảo luận cách tấn công, mọi người chủ trương đánh nhanh, thắng nhanh (tức chiến thuật biển người). Vi Quốc Thanh, theo Giáp, nhấn mạnh phải đánh nhanh: tiếp liệu khó khăn, công sự phòng thủ của Pháp còn dã chiến. Giáp cũng đồng ý. Thời gian này, theo ước đoán của Navarre, về lượng, Việt Minh không tăng gia bao nhiêu. Về chất lượng, quân đội Việt Minh tiến bộ đáng kể. Các tiểu đoàn Việt Minh thuộc loại thiện chiến hơn các tiểu đoàn bộ binh Pháp, ngoại trừ nhảy dù. Về vũ khí, Việt Minh có thêm súng nặng như cối 80, 120, Bazoka 90. Các đơn vị pháo binh có 1 trung đoàn sơn pháo 75, 1 trung đoàn pháo dã chiến 105 (nòng ngắn) của Sư đoàn 351. Phòng không có đại liên 12,7, đại bác 20 ly, và cả đại bác 37 ly. Bởi thế, ban đêm Việt Minh có thể tập trung lực lượng úp đồn; ban ngày đương đầu Pháp ở địa thế chọn lựa sẵn. Viện trợ Trung quốc đột ngột gia tăng trong vòng mấy tuần: súng phòng không, pháo binh, lương thực, kho tiếp tế gần biên giới, xe hơi, và nhất là cố vấn quân sự. Đặc biệt là cán bộ chính trị của Việt Minh đã khiến cả nước lâm chiến; trong khi quân Pháp chỉ hành quân mà không lâm chiến (Nous faisons des opérations militaires mais nous ne faisons pas la “guerre”). 2-4-1954: Hà nội, 17h00: Chạm trán giữa Navarre và Cogny. Theo tin báo chí, Cogny bảo Navarre rằng nếu Navarre không mang 4 sao, ông ta đã tát vào mặt Navarre (Paris Match, 21-9-1963). Navarre nói không có chuyện này. 2-4-1954: Brohon, đại diện Ely, gặp Navarre tại Hà-nội. Lúc 19h00 ngày 3-4-1954, Trung đoàn 165 (sư đoàn 312) tấn công Huguette 6 (cứ điểm 105). Pháp phản công bằng chiến xa. Lúc 22h30, Việt Minh lại tấn công Huguette 6 nhưng không thành công(1). Đêm ngày 3 rạng 4-4-1954, Pháp nhận thêm 340 lính của Tiểu đoàn 1 Dù thuộc địa (II.1er RCP). 3 “sticks” không thành công vì lý do kỹ thuật (còn 192 người nữa). Lực lượng tăng viện này được đưa vào hai căn cứ tân lập Eliane 10 và D3. Trong đêm, hai căn cứ Huguette 6 và Claudine 4 tiếp tục bị “sờ sẫm (tâtés)”(2). Lúc 9h00 sáng ngày 4-4-1954, Pháp khám phá ra vị trí súng không giật của Việt Minh trí tại núi Trọc (Cháy) (le mont Chauve). Pháo binh Pháp tiêu diệt được vị trí này. Tìm thấy 200 xác Việt Minh trước căn cứ Huguette 6. Không có phi cơ lên vùng(3). Tối đó, lúc 22h00, chạm súng ở Huguette 6 và Claudine 5. Vì thời tiết xấu, chuyến thả dù đêm Tiểu đoàn 1 Dù phải đình hoãn. (còn tiếp) ______________________ Chú thích (1) Giáp, Điện Biên Phủ, 2001: 276-277. (2) EMIFT Fiche số 162 ngày 4-4-1954, & 163 ngày 3-4-1954; 10H 179. (3) EMIFT Fiche số 164 ngày 4-4-1954, & 165 ngày 4-4-1954; 10H 179.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Thành viên

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:46:44 PM » |
|
Ngày 5-4-1954, lúc 0h30, Huguette 1, 2 và 5 bị “sờ sẫm (tâtés)”. Trung đoàn 165 (sư đoàn 312) tấn công Huguette 6. Trận đánh kéo dài đến 2h40. Tăng viện Pháp bắt tay được lực lượng phòng thủ. Khoảng 1000 tử thi Việt Minh để lại mặt trận. Phần đông còn rất trẻ. Pháp cũng thiệt hại nặng vì pháo binh(4). Thời gian này, Pháp còn các cứ điểm: Epervier: khu chỉ huy; Eliane ở phía Đông; Tây Bắc là Huguette (6 đồn): H6 ở đầu sân bay, H1 ở giữa, H2 và H9 ở phía Nam. H5 và H4 ở Tây Nam. Mất hai đồn trong đợt tấn công thứ hai. Tây Nam là Claudine và Junon, kế sát Bộ Tư lệnh. Claudine gồm 5 căn cứ, sau chia làm hai: Claudine (311B) và Lilie (311A). Junon có 3 cứ điểm. Ngày 6-4-1954, Giáp họp hội nghị sơ kết đợt tấn công đợt 2. Nguyễn Hữu An bị phê bình nghiêm khắc một cách oan uổng: tấn công chậm không vì lỗi Nguyễn Hữu An(5)! Giáp quyết định xiết chặt vòng vây, đóng cửa phi trường. Sư đoàn 308 có nhiệm vụ đánh các cứ điểm Huguette 1 (206), Lilie (311A), Claudine (311B). Chia cắt các cứ điểm Huguette 6 (105), Huguette 1 (206), Huguette 2 (208). Phối hợp với 312 làm giao thông hào cắt ngang sân bay phía Nam Huguette 1 (206). Sư đoàn 312 phòng ngự đồi E và D, chuẩn bị tiêu diệt các cứ điểm Huguette 6 (5?)(105) ở Bắc sân bay, các vị trí 203, 204 và khu Tiểu đoàn 2 Thái (Huguette 2), phối hợp 308 đào giao thông hào cắt ngang sân bay Mường Thanh. Sư đoàn 316 củng cố tuyến phía Đông, chuẩn bị tiêu diệt Eliane 2 (A1) và C2. Trung đoàn 57 vây hãm Isabelle do đại tá Lalande chỉ huy. Cứ điểm này gồm 5 căn cứ. Ngày 8-4-1954, Giáp cho phổ biến lệnh tác chiến mới. Giáp xin tăng viện thêm 25.000 tân binh và cố vấn Trung quốc xin thêm một trung đoàn đoàn phòng không với 67 đại bác 37 ly(6). Tại mặt trận phía Đông, lúc 16h45, Trung đoàn 174 di tản triền Đông của Eliane 2 (A1). Từ ngày thứ tư, 7-4-1954, Việt Minh đã tăng cường đào giao thông hào phía Tây Isabelle và phía Tây phi trường(7). Ngày này, lúc 10h00, Đại đội 12/3 Thái tại Huguette 2 đào ngũ. Việc rã ngũ này tạo nên tinh thần nghi kỵ giữa các sĩ quan chỉ huy Pháp và các quân nhân Việt trong các tiểu đoàn dù, đặc biệt là Tiểu đoàn 5 Dù Việt nam. Hai đại đội Tiểu đoàn 5 Dù đã bị giải khí giới, sử dụng như cu-li. Lý do là tất cả các sĩ quan bản xứ yêu cầu Đại úy Botella cho hạ súng, ngưng chiến đấu. Một trung úy bị mất tích, và tìm thấy trong nhà ăn hạ sĩ quan, ngụy trang làm bếp. Những người cai quản họ trong việc thu nhặt thực phẩm tiếp tế được lệnh bắn ngay nếu có dấu vết nhỏ kháng cự hay bất tuân lệnh. Tiểu đoàn 6 Dù, một Trung đội trưởng cho lệnh binh sĩ rút lui trước cuộc tấn công của Việt Minh. Ngày 10-4-1954, hiện tượng tương tự xảy ra tại Tiểu đoàn 1 Dù. Một binh sĩ Dù tung lựu đạn giết chết Trung sĩ nhất Laire và một số hạ sĩ quan khác trong hầm vì bị hành hung và trừng trị vì tội trễ nải khi phản công Việt Minh. Từ đầu tháng 3, lính Bắc Phi cũng đã suy giảm tinh thần chiến đấu. Rút về phía sau không chiến đấu. Kỷ luật lỏng lẻo(  . Thứ năm, 8-4-1954, 60 Việt Minh thuộc Trung đoàn 57 bị giết ở phía Tây Isabelle(9). Ngày 7-4-1954, Tiểu đoàn 2 Dù Lê dương (2è BEP) nhảy xuống tăng viện. Thứ sáu, 9-4-1954, Pháp đề nghị trao đổi tù binh bị thương. Hôm sau, Việt Minh đồng ý, nhưng đề nghị hai điểm trao đổi. De Castries đề nghị tại một vị trí. Cogny đồng ý. Thứ bảy, 10-4-1954, Pháp định tái chiếm Eliane 1. Giao tranh ác liệt. Tiểu đoàn 1/2 Dù lên thay Tiểu đoàn 6 Dù(10). Chủ nhật, 11-4-1954, lúc 0h45, Việt Minh phản công ở Eliane 1. Hai tiểu đoàn 215 và 349/ Sư đoàn 98 giao chiến xáp lá cà với binh sĩ Tiểu đoàn 6 Dù Pháp. Trận đánh kéo dài tới sáng mà bất phân thắng bại. Vũ Lăng phải cho ngừng tấn công, tái tổ chức trận địa. Ngày 12-4-1954, Pháp tiếp tục thả tăng viện xuống Điện Biên được 222 quân nhân. Nhưng số thương vong tại E1 và các mặt trận khác lên tới gần 200 người. Số quân nhân thực sự tham chiến hầu như không thay đổi. Ngoài ra, việc truyền tin nội bộ cũng gặp khó khăn. Việt Minh bắt được các máy truyền tin do Mỹ sản xuất, nên có thể theo dõi việc điều quân hoặc xen vào các băng tần số. Tại phía Nam, Trung tá Lalande phải dùng cả Anh ngữ để tránh Việt Minh theo dõi các cuộc điện đàm. Thứ tư, 14-4-1954, phi đạo bị cắt làm ba vì địa đạo(11). Huguette 1 và 6 bị cô lập với khu trung tâm. Ngày 15-4, tình trạng thương bệnh binh Pháp đã đến mức tệ hại. Không còn ai được di tản. Số bị thương được phân loại như sau: 405 ngồi, 286 nằm(12). Thứ năm, 22-4-1954, căn cứ Huguette 1 (206), do Lê dương phòng thủ, bị Việt Minh chiếm. Số phận Điện Biên coi như chấm dứt. Chính phủ Laniel lại thêm một lần yêu cầu Mỹ tăng viện và can thiệp. Dulles, Bidault và Eden gặp nhau trong ba ngày 22-24-4-1954, nhưng chẳng đi đến kết qủa nào. Ngoại trưởng Anh, Anthony Eden, nói Anh không thể có hành động nào trước khi Hội nghị Genève kết thúc. Sau buổi họp, Eden về London tham khảo ý kiến thay vì sang Genève. Theo Bidault, trong buổi họp ngày 23-4-1954, Dulles đề nghị dùng bom nguyên tử trong kế hoạch Vautour, nhưng Bidault không chấp thuận. Ngày 24-4-1954, Pháp yêu cầu không lực Mỹ can thiệp vào Điện Biên Phủ. Hôm sau, 25-4-1954, Mỹ chính thức từ chối. Từ ngày 12-4-1954, Navarre cũng đã bắt đầu nghiên cứu kế hoạch Condor (Chim Ưng) để triệt thoái khỏi Điện Biên Phủ bằng đường bộ. Ba ngày sau, 15-4-1954, Navarre cho đại tá Castries lên cấp thiếu tướng. Chủ nhật, 18-4, Ely chấp thuận cho Navarre tiếp xúc mật với Việt Minh, không cần thông báo cho Maurice Dejean. Ngày 19-4-1954, Navarre cho Ely biết sẽ có tin tức của Việt Minh trong khoảng một tuần. Ngày 6-4-1954, Ely điện tín cho Navarre báo tin về kế hoạch Vautour. Kế hoạch này dự trù sử dụng 98 oanh tạc cơ B-29 và khoảng 450 phi cơ chiến đấu. Ngày 16-4, Navarre gửi công điện cho Ely, xin thực hiện kế hoạch Vautour trước ngày 20-4-1954 (1K 233, carton 40). 1-5-1954: 43 tình nguyện nhảy xuống Điện Biên. (Fall, 1968: 349) Thời gian này, mặt trận Điện Biên Phủ đã gây chấn động thế giới. Ai nấy đều cho rằng Điện Biên sẽ là trận đánh quyết định số phận Pháp tại Đông Dương. Ngày 3-4-1954, Mao Trạch Đông viết thư cho Bành Đức Hoài, Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương, thường vụ, cựu Tư lệnh Triều tiên, nói Việt Minh cần lập thêm 4 trung đoàn pháo binh và hai trung đoàn công binh, phải hoàn tất huấn luyện trong vòng 6 tháng. Nếu không đủ, lấy pháo từ các đơn vị Trung quốc. Cũng phải lựa chọn cố vấn có kinh nghiệm Triều tiên. Việt Minh cần gọi nhập ngũ thêm 5.000-8.000 người và chuẩn bị đánh chiếm Hà nội vào đầu năm 1955(13). Ngày 9-4-1954, Quân uỷ trung ương Trung quốc hai lần gửi điện văn cho Vi Quốc Thanh hứa sẽ cung cấp đầy đủ đạn dược cho Việt Minh. Chỉ thị cho Vi Quốc Thanh chiến thuật đánh ở Điện Biên Phủ: cắt đứt tuyến địa đầu địch bằng cách tấn công ở giữa; phá hủy hầm phòng thủ của địch bằng cách tập trung hoả lực; củng cố vị trí ngay sau khi chiếm được một vị trí nào của địcch, như thế tiếp tục xiết chặt vòng vây; dùng thiện xạ bắn tỉa (snipers), và dùng tuyên truyền. Bắc Kinh gửi qua Điện Biên một toán “chuyên gia” về địa đạo có kinh nghiệm ở Triều tiên qua huấn luyện cho Việt Minh. Ngày 28-4-1954, Mao thư cho Bành Đức Hoài, nêu lên mối nguy hiểm Pháp có thể thả nhảy dù chặn đường tiếp vận. Ngày 30-4-1954, Quân uỷ trung ương Trung quốc chỉ thị Vi Quốc Thanh phải bảo vệ trục tiếp vận. Ngày 3-5-1954, tướng Su Yu, Tham mưu trưởng Trung quốc, do chỉ thị của Mao Trạch Đông, nhắc nhủ Vi Quốc Thanh về nguy hiểm Pháp thả dù cắt trục tiếp vận. Trong khi đó, từ ngày 3-4-4-1954, chính phủ Pháp liên tiếp yêu cầu Mỹ cho biết quyết định về kế hoạch Vautour. Tình hình Điện Biên đã sa lún. Tuy nhiên, ngoại trưởng Dulles trả lời sợ Quốc hội không chấp thuận. Nhưng ngày chủ nhật, 4-4-1954, Tổng thống Eisenhower quyết định không can thiệp vào Đông Dương. Paris, Lúc 23h00 ngày 4-4-1954, đại sứ Dillon được mời dự khẩn cấp phiên họp giới hạn của chính phủ Laniel. Bidault và rồi Laniel nói tình hình Điện Biên Phủ nguy kịch; nếu không có tăng viện, số phận đã định. Chỉ cần chiến hạm Mỹ tiếp tay, như Radford đã hứa với Ely, có thể đảo ngược tình hình. Hiện nay, Trung quốc đã công khai yểm trợ Việt Minh, cố vấn kỹ thuật và ở cấp Sư đoàn. Ngay tại Bộ Tư lệnh của Giáp có Tướng Ly chen-hou (?). Liên lạc điện thoại do cố vấn Trung quốc thực hiện. 40 phòng không 37 ly, điều khiển bằng radar, do binh sĩ Trung quốc điều khiển, đã xuất hiện ở Điện Biên Phủ. Khoảng 1.000 lái xe vận tải là lính Trung quốc; và 500 xe mới tăng cường từ ngày 1-3-1954. Trung quốc còn trợ giúp nhiều loại quân trang, đạn dược, v.. v... Ngày 5-4-1954, Dulles cho biết Mỹ không thể đơn phương hành động; cần liên minh hành động với Anh, và đang thảo luận với London. Bidault nói với Đại sứ Dillon rằng dù Pháp đơn độc một mình, vẫn tiếp tục chiến đấu. Từ 11 tới 14-4-1954, Dulles thăm London (gặp Anthony Eden và Churchill) và Paris (gặp Bidault). Ba nước đồng ý “liên minh hành động” (united action). Chủ nhật, 18-4-1954, đại sứ Anh Roger Markins thông báo rằng London không thể tham dự Hội nghị 10 nước phòng thủ Á Châu về vấn đề “liên minh hành động” tại Đông Dương. Để gỡ sĩ diện, Dulles phải triệu tập một phiên họp gồm 16 quốc gia, kể cả ba nước Đông Dương. Ngày 22-4-1954, Huguette 1 (206), do Lê dương phòng thủ, bị Việt Minh chiếm. Thứ sáu, 23-4-1954, báo Le Figaro đăng một bản tin về Việt nam, tựa đề “Liệu 100 phi cơ có đủ cứu Điện Biên Phủ?” Theo tác giả Pháp không đủ nhân viên phi hành cũng như phi cơ để tiếp tế cho Điện Biên Phủ. Chắc Mỹ cũng không giúp(14). Thứ sáu, 30-4-1954 - ngày lễ thành lập binh chủng Lê Dương Camerone - Việt Minh pháo kích dữ dội Isabelle suốt một tiếng đồng hồ. Hàng không mẫu hạm Belleau Wood thay hàng không mẫu hạm Arromanches. Mang theo phi cơ F14 (Corsair). (còn tiếp) ______________________ Chú thích (4) EMIFT Fiche số 166 ngày 4-4-1954, & 167 ngày 5-4-1954; 10H 179. (5) Giáp, Điện Biên Phủ, 2001:276-277. (6) Fall, Hell, 1968:223. (7) EMIFT Fiche số 179 ngày 7-4-1954, & 180 ngày 7-4-1954; 10H 179. (  “Critiques des organisations et activités Amies;” 10H 179. (9 trang)) Xem thêm Fall, Hell, 1968:286-288. (9) EMIFT Fiche số 184 ngày 8-4-1954; 10H 179. (10) EMIFT Fiche số 195, 196 ngày 10-4-1954; 10H 179. (11) EMIFT Fiche số 222 ngày 14-4-1954; 10H 179. (12) EMIFT Fiche số 233, ngày 15-4-1954; 10H 179. (13) Jian 1993:102-103. (14) Fall, 1968: 345.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|