Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Một, 2018, 05:56:47 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những hình ảnh chưa từng công bố về Hải quân Nhật 1942 (tiếng Việt)  (Đọc 15139 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #20 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2013, 03:06:38 PM »

kamikaze - phi công cảm tử của thiên hoàng nhật



http://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=CTP6gu3O0CA

http://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=3Vzz_QUl-7Y


http://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=SRRjG9V4t1k


http://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=yxss-MGLDPk

http://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=P6ClLyVHF6g



« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2013, 03:12:49 PM gửi bởi vietkieu_cuuquocquan » Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 133


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #21 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2014, 10:59:52 PM »

Khu trục Nhật: Đại thế lực trên Thái Bình Dương

(vietnamdefence.com)

Hải quân Phòng vệ Nhật Bản (JMSDF) là hạm đội đứng thứ hai về tầm quan trọng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Một hệ thống chiến đấu được suy tính tỷ mỉ đến từng chi tiết, nơi mà các công nghệ tối tân đan xen mật thiết với các truyền thống võ sĩ đạo Samurai cổ xưa. Hạm đội Nhật Bản từ lâu đã không còn là một tổ chức “khôi hài” tồn tại chỉ để làm vui mắt chính người Nhật và thực hiện các nhiệm vụ bổ trợ lặt vặt trong khuôn khổ đa quốc gia của Hải quân Mỹ.

Bất chấp tính chất phòng thủ rõ nét, các thủy binh Nhật Bản hiện đại có khả năng độc lập tiến hành tác chiến và bảo vệ các lợi ích của Nihon Koku (Nhật Bản) trên các vùng biển mênh mông của Thái Bình Dương.

Lực lượng hàng đầu của Hải quân Phòng vệ Nhật Bản theo truyền thống vẫn là các tàu khu trục. Việc dựa vào tàu khu trục thật dễ hiểu: lớp tàu này kết hợp tốt trong mình tính đa năng và giá cả vừa phải. Hiện tại, trong biên chế hạm đội Nhật Bản có 44 tàu lớp này, được đóng trong các giai đoạn khác nhau theo 10 thiết kế khác nhau.

Tàu khu trục tên lửa Kongo trang bị hệ thống Aegis phóng tên lửa phòng không SM-3, năm 2007

Mặc dù có vẻ thiếu thống nhất và chuẩn hóa, điều sẽ gây khó khăn cho công tác bảo dưỡng và làm tăng chi phí khai thác một lực lượng đa dạng chủng loại như vậy, lực lượng tàu khu trục của Hải quân Nhật Bản được chia rành mạch theo chức năng thành 3 nhóm lớn:

- Các tàu khu trục trang bị hệ thống Aegis để bảo đảm phòng không/phòng thủ tên lửa khu vực;

- Các tàu khu trục chở trực thăng - một tên gọi đặc hữu của hạm đội Nhật dùng để chỉ các tàu sân bay trực thăng, phần lớn dùng để thực hiện các nhiệm vụ của tàu tìm cứu và chống ngầm;

- Các tàu khu trục “thông thường” mà trong số các nhiệm vụ của chúng có bảo đảm an ninh cho biên đội tàu chống các mối đe dọa từ trên và dưới mặt biển. Chúng cũng là phương tiện mang để bố trí các phương tiện phòng không điểm.

Sự đa dạng tưởng tượng của các thiết kế trên thực tế là sự kết hợp của mấy thiết kế giống nhau với các phần thượng tầng khác nhau và thành phần biên chế vũ khí đổi mới. Hải quân Phòng vệ đang tiến hóa nhanh chóng khi hàng năm Nhật Bản chi tiền đóng 1-2 tàu khu trục mới. Điều đó cho phép nhanh chóng đưa những thay đổi vào các thiết kế tàu cho phù hợp với các điều kiện bên ngoài thay đổi và khả năng tiếp cận các công nghệ mới. Đặc điểm chính là người Nhật Bản hiện thực hóa được những ý tưởng đó không chỉ trên giấy mà cả bằng sắt thép.

Tàu khu trục JDS Hamakaze (DDG-171) trong cuộc tập trận quốc tế năm 2011

Nếu bỏ không xem xét các tàu khu trục đã lạc hậu đóng trong thập kỷ 1980 và đang chuẩn bị loại bỏ trong thời gian tới thì biên chế lực lượng tàu chiến mặt nước của Hải quân Phòng vệ sẽ là như sau: 10 tàu khu trục hiện đại thuộc các lớp Kongo, Atago, Akizuki và Hyuga được nhận vào biên chế chiến đấu của JMSDF trong thời kỳ từ năm 1993-2013.

Ngoài ra, trong biên chế hạm đội Nhật còn có 14 tàu khu trục vạn năng thuộc các lớp Murasame và Takanami được nhận vào biên chế chiến đấu của hạm đội trong những năm 1996-2006. Các tàu chiến này là những biến thể rẻ tiền của các tàu khu trục Aegis, là những thiết kế “quá độ” để kiểm nghiệm các công nghệ mới mà trong tương lai đã được áp dụng cho các tàu lớp Akizuki.

Tàu khu trục Atago trang bị hệ thống Aegis và tàu khu trục đa năng lớp Murasame

Dưới đây, chúng ta tìm hiểu sự tiến hóa của các tàu khu trục Nhật Bản. Đây là đề tài không đơn giản, nhưng việc tìm hiểu nó tạo ra nhiều lý do để tranh cãi. Liệu người Nhật có đúng đắn không khi trông cậy vào các tàu khu trục?
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Mười, 2014, 11:33:58 AM gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 133


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #22 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2014, 11:22:31 PM »

Tàu khu trục lớp Murasame

JS Akebono (DD-108) lớp Murasame

Với điều kiện địa lý 4 bên là biển nên Nhật Bản rất chú trọng vào đầu tư cho hải quân. Đặc biệt với đường bờ biển rất dài nên nhiệm vụ chống tàu ngầm xâm nhập vào vùng biển là một nhiệm vụ rất nặng nề với hải quân nước này.

Nhằm giải tỏa gánh nặng chống ngầm cho lực lượng hải quân, Nhật Bản đã đầu tư phát triển một thế hệ tàu khu trục chuyên dụng cho nhiệm vụ chống ngầm. Tàu khu trục Murasame được đánh giá là một đỉnh cao trong công nghệ chiến tranh chống ngầm của Nhật Bản cũng như của thế giới.

Các tàu khu trục lớp Murasame thăm Trân Châu Cảng. Murasame là loại tàu khu trục chống ngầm cực đỉnh của Nhật Bản với 9 chiếc đang hoạt động.

Tàu khu trục Murasame được phát triển từ tàu khu trục Asagiri. Các tàu này là sự phát triển của các thiết kế khu trục hạm nội địa kết hợp với các công nghệ của Arleigh Burke của Mỹ. Biến thể tàu khu trục đa năng rẻ tiền mà trong các nhiệm vụ chính của nó có phòng thủ chống ngầm và tác chiến chống tàu nổi đối phương và phòng không. Chiếc đầu tiên của dự án được đưa vào hoạt động từ năm 1996. Đến năm 1999, trong thành phần lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản đã có 4 tàu khu trục thuộc lớp này (Murasame, Harusame, Yudachi và Kirisame. Vào năm 2000, thêm 2 tàu nữa được khởi công (Inazuma và Samidare). Năm 2002, Nhật Bản tiếp tục đóng thêm 3 tàu nữa. Hiện tại có tất cả 9 chiếc tàu khu trục Murasame đang hoạt động trong biên chế lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản và đây cũng là lớp tàu khu trục được sử dụng nhiều nhất của Nhật Bản. Ban đầu, Nhật dự định đóng 14 tàu khu trục theo thiết kế Murasame, nhưng trong quá trình đóng, phát hiện ra là thiết kế của tàu có khả năng để tiếp tục phát triển. Kết quả là 5 tàu cuối cùng đã được đóng hoàn thiện theo thiết kế Takanami.

Nhìn bề ngoài, Murasame không giống với tàu nào mà Nhật Bản từng đóng. Thân tàu được thiết kế với khả năng tàng hình nhẹ, cột buồm được thiết kế thẳng đứng để phù hợp với điều kiện thời tiết khắc nghiệt của Nhật Bản. Tàu có chiều dài 151 mét, rộng 17,4 mét, mớn nước 5,2 mét, lượng giãn nước tiêu chuẩn 4.500 tấn, đầy tải 6.100 tấn.

Với nhiệm vụ chủ yếu là chống ngầm nên tàu khu trục Murasame được trang bị hệ thống điện tử chuyên dụng cho nhiệm vụ đặc biệt này. Tàu được trang bị hệ thống định hướng chiến đấu OYQ-9 và hệ thống kiểm soát tác chiến chống ngầm OYQ-13 ASW với cảm biến chính là hệ thống định vị thủy âm OQS-5.

Các hệ thống này được trang bị máy tính điều khiển AN/UYK-43, AN/UYK-44 và máy trạm AN/UYQ-21. Hệ thống máy tính này cung cấp khả năng tính toán siêu tốc cho phép tàu khu trục Murasame đối phó hiệu quả với các mục tiêu, đặc biệt là các mục tiêu dưới nước.

Cận cảnh radar quét mạng pha điện tử chủ động AESA OPS-24 trên tàu khu trục Murasame.

Hệ thống chiến tranh chống ngầm này được đánh giá tương đương với hệ thống AN/SQQ-89 ASWCS của Mỹ được đánh giá là hệ thống chiến tranh chống ngầm hàng đầu thế giới hiện nay. Mặc dù thiên về nhiệm vụ chống ngầm nhưng tàu khu trục Murasame vẫn được trang bị radar tìm kiếm mục tiêu rất tối tân.

Tàu được trang bị radar quét mạng pha điện tử chủ động AESA OPS-24 do Nhật tự thiết kế. Radar OPS-24 được lắp trên một bệ ở phần trước cột tàu, radar này có khả năng phát hiện 50-60 mục tiêu cùng lúc, phạm vi phát hiện mục tiêu 200km. Bên cạnh đó, tàu còn được trang bị radar tìm kiếm mục tiêu mặt nước OPS-28. Hệ thống chiến tranh điện tử tích hợp NOLQ-3.

Hệ thống vũ khí trên tàu bao gồm 16 hệ thống phóng thẳng đứng Mk41 sử dụng tên lửa chống ngầm RUM-139 VL ASROC. Đây là một tên lửa chống ngầm nhiên liệu rắn 2 giai đoạn, tên lửa được dẫn hướng bằng quán tính đến khu vực có mục tiêu tàu ngầm.

Tên lửa chống ngầm RUM-139 sát thủ tiêu diệt mọi loại tàu ngầm.

Điểm mạnh của tên lửa này là sử dụng tốc độ cao của tên lửa để nhanh chóng tiêu diệt tàu ngầm khi nó bị phát hiện. Do hoạt động dưới áp lực cao của nước nên tàu ngầm rất dễ bị tổn thương, ngay cả khi tên lửa hay ngư lôi nổ gần tàu. RUM-139 VL ASROC có tầm bắn 22km, nó thường sử dụng cơ chế bắn loạt nhiều tên lửa về phía khu vực có tàu ngầm nên xác suất tiêu diệt mục tiêu rất cao.

Ngoài tên lửa chống ngầm, tàu khu trục Murasame còn được trang bị 2 cụm phóng ngư lôi với 3 ống phóng/cụm sử dụng ngư lôi Mk46. Đây là một loại ngư lôi dẫn hướng âm thanh thụ động có tầm bắn 11km, tốc độ 74km/h, ngư lôi có độ sâu hoạt động 365 mét.

Để đối phó với các mục tiêu đường không, tàu được trang bị 16 hệ thống phóng thẳng đứng Mk48 trang bị tên lửa hải đối không RIM-162 ESSM. Tên lửa được dẫn hướng kết hợp quán tính, cập nhật dữ liệu bằng datalink ở pha giữa, pha cuối tên lửa được dẫn hướng bằng radar bán chủ động. RIM-162 ESSM có tầm bắn 50km mang theo đầu đạn phân mảnh nặng 39kg.

Cận cảnh hệ thống phòng không RIM-162 trên tàu khu trục chống ngầm Murasame.

Tàu khu trục Murasame còn được trang bị 8 tên lửa chống hạm Type-90 SSM-1B tầm bắn 200km. Tàu được vũ trang một pháo hạm đa năng Oto Melara 76mm, pháo có tầm bắn tối đa khoảng 15km. Về phòng thủ cực gần, tàu được trang bị 2 hệ thống đánh chặn Phalanx CIWS 20mm.

Đuôi tàu có sàn đáp và nhà chứa cho 1 trực thăng chống ngầm SH-60J. Tàu được trang bị 4 động cơ tuabin khí với tổng công suất 60.000 mã lực, tốc độ tối đa của tàu khoảng 30 hải lý/h (56km/h), thủy thủ đoàn 165 người.

Tàu khu trục Murasame có hệ thống chống ngầm đến 2 lớp, gồm hệ thống định vị thủy âm gắn trên tàu và hệ thống phát hiện tàu ngầm trên trực thăng SH-60J. Với hệ thống vũ khí chống ngầm hiện đại, Murasame thực sự là cơn ác mộng đối với mọi tàu ngầm.

Thông số kỹ thuật :

- Lượng giãn nước đầy đủ: 6.100 tấn. Thủy thủ đoàn: 165 người.
- Hệ thống động lực chính turbine khí (kết hợp các động cơ turbine khí sản xuất theo giấy phép LM2500 và Rolls-Royce Spey SM1C) công suất 60.000 mã lực.
- Tốc độ tối đa: 30 hải lý/h.
- Cự ly hành trình: 4.500 hải lý ở tốc độ tiết kiệm 18 hải lý/h.
- Vũ khí:
           16 bệ phóng thẳng đứng Mk.48 (32 tên lửa phòng không ESSM);
           16 bệ phóng thẳng đứng Mk.41 (16 tên lửa ngư lôi chống ngầm ASROC-VL)
            8 tên lửa chống hạm Type 90  (SSM-1B);
            1 pháo hạm 76 mm OTO Melara;
            2 pháo phòng không tự động Phalanx;
           các ngư lôi chống ngầm cỡ nhỏ;
            1 trực thăng chống ngầm Mitsubishi SH-60J/K (biến thể sản xuất theo giấy phép của SH-60 Sea Hawk của Sikorsky).
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Mười, 2014, 11:20:17 AM gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 133


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #23 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2014, 12:00:13 AM »

Tàu khu trục cỡ nhỏ lớp Asagiri


Tàu khu trục cỡ nhỏ lớp Asagiri (lấy lại tên của tàu khu trục Hải quân Đế quốc Nhật Bản thời chiến tranh thế giới II) gồm tất cả 8 tàu mang số hiệu từ DD-151 đến DD-158, được đóng trong giai đoạn từ 1986 - 1989 và được đưa và biên chế lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản trong những năm từ 1988 – 1991. Các tàu trong lớp Asagiri theo kích thước và lượng choán nước tương đương với các tàu khu trục Type 42 của Anh, mặc dù chúng được đóng muộn hơn. Hiện tại, 2 tàu DD-151 Asagiri và DD-152 Yamagiri đã được hoán cải thành tàu huấn luyện và đổi số hiệu thành TV-3516 và TV-3515.

Asagiri là phiên bản mở rộng của lớp tàu khu trục Hatsuyuki thế hệ trước với nhiệm vụ chủ yếu là chống tàu nổi và chống ngầm. Những cải tiến chủ yếu bao gồm: thay thế hệ thống động cơ turbine khí kết hợp Kawasaki-Rolls-Royce Spey SM1A công suất cao hơn; trang bị radar tìm kiếm bề mặt OPS-28 (tương tự radar tìm kiếm Mk-32 của Mỹ) có năng lực tốt hơn. Các tàu về sau còn được trang bị radar tìm kiếm trên không 3 tham số OPS-24 - loại radar mảng pha quét điện tử đầu tiên trang bị cho tàu chiến và tích hợp hệ thống quản lý tác chiến OYQ-7 với OYQ-101, hệ thống C4I và hệ thống định vị vệ tinh tiên tiến hơn. Ống khói của tàu khu trục lớp Asagiri được bố trí gần mạn phải và trái của tàu, còn cột buồm phân bố gần mạn bên trái. Điều này giúp giảm sự xuất hiện có hại của các khí thải nóng lên anten của đài radar định vị và các trang thiết bị điện tử khác.

Vũ khí của Asagiri gồm 1 pháo Otobreda 76mm, 8 tên lửa hành trình chống hạm Harpoon, 2 hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx và 1 bệ phóng Mk-29 để bắn tên lửa đối không tầm ngắn Sea Sparrow. Năng lực chống ngầm của tàu khu trục lớp Asagiri rất đáng nể nhờ được trang bị sonar OQS-4A kết hợp với sonar kéo OQR-1 cùng rocket chống ngầm Mk-16 ASROC, 2 cụm 3 ống phóng ngư lôi 324mm HOS-302A.

Nhà chứa của tàu cho phép mang theo 2 trực thăng nhưng thực tế thường chỉ mang được 1 trực thăng chống ngầm trong các chuyến hải trình. Ban đầu, trên các tàu được bố trí 1 trực thăng Sea King, nhưng hiện nay loại trực thăng này đã bị rút khỏi biên chế và loại trực thăng đang được sử dụng là SH-60J Sea Hawk được sản xuất tại Nhật theo giấy phép.

Thông số cơ bản: Lượng giãn nước tiêu chuẩn 3.500 tấn, đầy tải 4.900 tấn; dài 137m; rộng 14,6m, mớn nước 4,5m. Hệ thống động lực gồm 4 động cơ turbine khí công suất 54.000 mã lực cho tốc độ tối đa 30 hải lý/h (56 km/h); tầm hoạt động 8.030 hải lý (14.870 km) khi chạy với tốc độ 14 hải lý/h (26 km/h); thủy thủ đoàn 220 người.

Tàu khu trục cỡ nhỏ lớp Hatsuyuki


Hatsuyuki thuộc thế hệ khu trục hạm thứ 3 của Hải quân Nhật với vai trò chính là chống ngầm giống như người tiền nhiệm của nó - tàu khu trục lớp Yamagumo. Có tất cả 12 tàu lớp Hatsuyuki đã được đóng trong giai đoạn từ 1979 - 1986, đến nay chỉ còn 6 tàu lớp này còn hoạt động. Mặc dù gọi là khu trục nhưng kích thước cũng như chức năng của Hatsuyuki chỉ được thế giới xếp vào hạng frigate. Đảm nhận việc thiết kế và chế tạo các tàu lớp Hatsuyuki là tập đoàn Hitachi Zosen và các tổ hợp tập đoàn, nhà máy đóng tàu như Sumitomo Heavy Industries, Mitsubishi Heavy Industries, Mitsui Engineering & Shipbuilding

Hatsuyuki là lớp tàu chiến đầu tiên của Nhật được trang bị tên lửa phòng không Sea Sparrow và tên lửa chống hạm Harpoon, đồng thời đây cũng là lớp tàu khu trục đa dụng đầu tiên của Nhật được giới thiệu với năng lực vận hành trực thăng chống ngầm Sikorsky HSS-2B Sea King. Hatsuyuki là lớp khu trục đầu tiên sử dụng tuốc bin khí hoặc kết hợp khí (COGOG) và hệ thống động cơ đẩy giúp chiến hạm có thể hoạt động ở tốc độ cao.

Vào năm 1982 và 1990, Hải quân Nhật quyết định thí điểm triển khai bổ sung hệ thống CIWS Phalanx và sonar kéo trên 2 tàu Matsuyuki DD-130 và Hatsuyuki DD-122 sau đó mới nhân rộng cho các tàu khác. Từ chiếc DD-129 Yamayuki trở đi vật liệu nhôm đã được sử dụng để thay thế thép trong các bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng.

Hatsuyuki được trang bị hệ thống thiết bị quân sự hiện đại như hệ thống cảm biến và xử lý OYQ-5 TDP (w/Link -14); radar tìm kiếm OPS-14 Air; radar tìm kiếm bề mặt OPS- 18; hệ thống sonar OQS trang bị 4 thân tàu; OQR-1 TACTASS; hệ thống chiến đấu tự động như ESM NOLR-6C; Hệ thống OLT-3 ECM; đánh dấu mục tiêu 36 SRBOC.

Vũ khí trang bị của các khu trục hạm lớp Hatsuyuki sau khi bổ sung và nâng cấp gồm: 1 pháo Otobreda 76mm, 8 tên lửa hành trình đối hạm Harpoon, 2 hệ thống CIWS Phalanx 20mm, 1 bệ phóng Mk-29 để phóng tên lửa đối không RIM-7 Sea Sparrow, rocket chống ngầm ASROC và 2 cụm 3 ống phóng ngư lôi 324mm HOS-301. Ngoài ra, khu trục này còn mang theo 1 máy bay trực thăng chống ngầm SH- 60J (K) giúp tăng cường khả năng hoạt động trên biển của chiến hạm này.

Hatsuyuki và Shirayuki - 2 tàu đầu tiên của lớp lấy lại tên của những khu trục hạm Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới II. Vào năm 2013, chính phủ Nhật đã thông qua kế hoạch chuyển đổi 4 tàu khu trục nhỏ lớp Hatsuyuki cho lực lượng tuần duyên, trước khi chuyển giao chúng sẽ được tháo bỏ toàn bộ hệ thống vũ khí (ví dụ như tên lửa Harpoon) và đổi phân lớp thành tàu tuần tra cỡ lớn mang trực thăng (PLH - Patrol Vessel Large With Helicopter).

Thông số cơ bản: Lượng giãn nước tiêu chuẩn 3.050 tấn, đầy tải 4.000 tấn; dài 130m; rộng 13,6m, mớn nước 4,2 - 4,4m. Tàu được trang bị kết hợp 2 động cơ turbine khí cỡ lớn Kawasaki-Rolls-Royce Olympus TM3B công suất 45.000 mã lực (34 MW) với 2 động cơ turbine khí cỡ nhỏ RR Type Kawasaki RM1C công suất 9.900 mã lực (7,4 MW) cho phép chạy với tốc độ tối đa 30 hải lý/h (56 km/h); thủy thủ đoàn 220 người.

Tàu khu trục hạm hộ vệ lớp Abukuma


Tàu khu trục hạm hộ vệ đa dụng lớp Abukuma của Hải quân Nhật Bản được phát triển từ lớp Yubari thế hệ trước với nhiều cải tiến như: áp dụng công nghệ tàng hình, nâng cấp thiết bị điện tử và sửa đổi hệ thống vũ khí. Ban đầu Hải quân Nhật lên kế hoạch đóng 11 tàu lớp Abukuma nhưng cuối cùng chỉ có 6 chiếc hoàn thành. Chiếc đầu tiên của lớp, DE-229 Abukuma hạ thủy ngày 17/3/1988, vào biên chế ngày 12/12/1989 trong khi chiếc cuối cùng DE-234 hạ thủy ngày 8/2/1991 và chính thức biên chế ngày 8/2/1993. Cả 6 chiếc của lớp đều lấy lại tên những tuần dương hạm Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới II và hiện tất cả vẫn còn đang hoạt động.

Abukuma được trang bị radar tìm kiếm bề mặt OPS-28 tương tự như khu trục hạm Asagiri đi kèm với radar trinh sát đường không OPS-14 (chức năng tương tự radar AN/SPS-49 của Mỹ). Vũ khí trang bị của Abukuma gồm 1 pháo Otobreda 76mm, 8 tên lửa đối hạm Harpoon, rocket chống ngầm RUR-5 ASROC và 2 cụm 6 ống phóng ngư lôi 324mm HOS-301.

Bên cạnh hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx, hệ thống tên lửa phòng không tầm ngắn RIM-116 Rolling Airframe cũng đã được lên kế hoạch trang bị nhưng chưa triển khai. Năng lực chống ngầm của Abukuma không mạnh như 2 lớp tàu khu trục trước đó khi chỉ được trang bị sonar OQS-8, đã có dự án bổ sung thêm sonar kéo cho tàu nhưng giống như RIM-116, công việc vẫn chưa được triển khai.

Thông số cơ bản: Lượng giãn nước tiêu chuẩn 2.000 tấn, đầy tải 2.500 tấn; dài 109m; rộng 13m, mớn nước 3,7m. Hệ thống động lực kết hợp gồm 2 động cơ turbine khí Kawasaki-RR SM1A công suất 26.650 mã lực (19,9 MW) và 2 động cơ diesel Mitsubishi S12U MTK 6.000 mã lực (4,4 MW, tốc độ tối đa 27 hải lý/h (50 km/h); thủy thủ đoàn 120 người.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Mười, 2014, 01:09:28 AM gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 133


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #24 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2014, 03:31:34 PM »

Tàu khu trục lớp Takanami

JS Onami (DD-111) lớp Takanami

Takanami là lớp tàu khu trục thế hệ thứ tư được phát triển bởi công nghiệp quốc phòng Nhật Bản kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Tàu được phát triển trên cơ sở tàu khu trục chống ngầm lớp Murasame với nhiều thay đổi về vũ khí và hệ thống điện tử, chính nó lại là tiền đề để phát triển tàu khu trục lớp Akizuki. Mặc dù là quốc gia có tiềm lực kinh tế rất hùng mạnh nhưng Nhật Bản thường sử dụng lại các thiết kế tàu chiến trước. Ngoài vấn đề chi phí thì một lợi ích rõ ràng đó là hoàn thiện năng lực tác chiến từ những thiếu rót của thế hệ vũ khí trước. Chương trình tàu khu trục Takanami được đưa vào sử dụng trong Hải quân Nhật Bản từ năm 2004, có tất cả 5 tàu đã được đóng trong giai đoạn 2000-2006.

Tàu khu trục lớp Takanami có thiết kế thủy động lực học tương tự như tàu khu trục chống ngầm lớp Murasame với một số cải tiến ở cột buồm và hệ thống vũ khí. Lượng giãn nước của tàu cũng vì thế mà tăng thêm khoảng 200 tấn so với trước.

Chương trình tàu khu trục lớp Takanami được thực hiện tại nhà máy đóng tàu Nagasaki của tập đoàn Mitsubishi Heavy Industries. Tàu có chiều dài 151 mét, rộng 17,4 mét, mớn nước 5,3 mét, lượng giãn nước toàn tải 6.300 tấn.

Điểm nhấn của tàu khu trục lớp Takanami là được trang bị hệ thống phòng không tiên tiến RIM-162 ESSM bố trí trong 32 hệ thống phóng thẳng đứng Mk41 giúp tàu đối phó hiệu quả hơn với các máy bay của đối phương có ý định tập kích từ trên không. RIM-162 ESSM là biến thể nâng cấp của tên lửa hải đối không RIM-7 Sea Sparrow.

Tàu khu trục lớp Takanami phóng tên lửa RIM-162 ESSM trong một cuộc tập trận.

Tên lửa được thiết kế để bảo vệ tàu chiến trước mối đe dọa từ máy bay và tên lửa chống hạm. RIM-162 được trang bị động cơ mới mạnh mẽ hơn cũng một số cải tiến về khí động học giúp nó trở nên nhanh nhẹn hơn cho phép nó đối phó hiệu quả với các tên lửa chống hạm siêu âm.

RIM-162 được dẫn hướng kết hợp quán tính, cập nhật dữ liệu bằng datalink ở pha giữa, pha cuối tên lửa được dẫn hướng bằng radar bán chủ động. Tên lửa có tầm bắn 50km mang theo đầu đạn phân mãnh nặng 39kg với ngòi nổ cận đích có khả năng bao quát 360 độ.

Pháo hạm 76mm trên tàu khu trục Murasame được thay thế bằng pháo hạm Oto Melara 127mm. Pháo này có tốc độ bắn tối đa 40 viên/phút, tầm bắn 30km, nếu sử dụng đạn pháo có điều khiển Volcano tầm bắn tối đa có thể lên đến 100km.

Vũ khí uy lực nhất của tàu khu trục Takanami là 8 tên lửa chống hạm Type-90 SSM-1B tầm bắn khoảng 200km mang theo đầu đạn nặng 225kg. Bên cạnh đó tàu khu trục Takanami còn được trang bị 2 hệ thống phòng thủ tầm cực gần cùng 2 cụm phóng ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ 324mm. Đuôi tàu có sàn đáp và nhà chứa cho trực thăng chống ngầm SH-60J.

Hệ thống điện tử trên tàu bao gồm radar quét mạng pha điện tử chủ động AESA OPS-25B cho nhiệm vụ tìm kiếm mục tiêu đường không, radar tìm kiếm mục tiêu mặt nước OPS-28D, radar hàng hải OPS-20. Thông số kỹ thuật của các radar này vẫn chưa được công bố.  Hệ thống điện tử của tàu khu trục lớp Takanami đều do Nhật Bản sản xuất nên khả năng đồng bộ hóa rất cao.

Nhiệm vụ săn tìm tàu ngầm đối phương được thực hiện bởi 2 hệ thống định vị thủy âm tiên tiến OQS-5 gắn ở thân tàu và hệ thống định vị thủy âm kéo theo URQ-2. Bên cạnh đó nhiệm vụ chống ngầm còn được hỗ trợ bởi trực thăng săn ngầm mang theo.
Logged

Trang: « 1 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM