Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Năm, 2012, 12:56:15 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.  (Đọc 26581 lần)
0 Thành viên và 5 Khách đang xem chủ đề.
Lizzy
Moderator
*
Bài viết: 72


Phái viên của Tư lệnh


« Trả lời #40 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2008, 11:11:02 PM »

DKB = đều k biết ạ Cheesy
Logged

Who can say where the road goes
Where the day flows?
Only time...
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 790



« Trả lời #41 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2008, 11:52:27 PM »

Ví dụ.
Động cơ tên lửaMáy đẩy tên lửa. Tiếng Anh là rocket motor và [rocket engine[/i].

Ôi trời, rất nhiều người nhầm giữa máy đẩyđộng cơ. Thủa ban đầu, cái đầu tầu hỏa hơi nước nó vừa làm máy đẩy vừa làm động cơ không tính, chứ các phương tiện di chuyển, tầu xe... đều phân biệt. Cái động cơ thì còn được gọi là máy kéo, cái máy nào phát ra năng lượng cơ học cho hệ thống đều gọi là máy kéo. Chả hiểu sao các cụ lại thế. Cái máy kéo là thành phần của cái máy đẩy. Tất nhiên là dùng rời nhiều nhưng ít người ghép chung như thế vì đọc lên thấy ngang như cua, khi phải dùng chung thì hay nói máy đẩyđộng cơ.

Ví dụ, ở tầu thủy. Máy đẩy bao gồm chân vịt+trục cái+số má+động cơ. Nhưng động cơ thỉ chỉ là động cơ.

Hay như máy bay cánh quạt, máy đẩyđộng cơ+truyền động+cánh quạt.

Trên đời chỉ có động cơ tên lửa nhiên liệu rắn là đôi khi máy đẩy với động cơ là một. Trong nhiều trường hợp, nó lấy luôn khối thuốc có lỗ rỗng đang cháy làm buồng đốttuye.

Hay như máy đẩy máy bay phản lực kiểu turbofan.
Thật ra, không hoàn tòa tương đồng giữa các ngôn ngữ. Để di chuyển thì các thiết bị có động cơ nào cũng phản lực hết, kể cả ô tô thầu thủy, máy bay cánh quạt hay tên lửa... Nhưng ở ta lại chỉ dùng phản lực để chỉ máy bay có máy đẩy luồng jet engine. Còn máy bay đẩy cánh quạt ngoài thì gọi là máy bay cánh quạt. Nên phần lớn mọi người khi được hỏi máy bay cánh quạt có phả lực không, đều nói sai à không. Thật ra thì các máy đẩy máy bay chở khách thông dụng là turbofan, đều là cánh quạt, chỉ có điều cái quạt có vỏ thôi, cái quạt có vỏ thì được gọi quít sờ toọc hơn là fan, gọi quít sờ toọc hơn nữa là turbine.

Thật ra, máy bay chở khách thường được gọi là phản lực như Boeing-747, Tu-154... gọi là máy đẩy luồng Jet Engine. Đúng đắn hơn. Cánh quạt ngoài thì không có luồng như cánh quạt đặt trong ống.

Ngang nhỉ, nhưng mà thế này mới đúng.
TurboJet Engine: máy đẩy luồng tuốc bin, động cơ phản lực một luồng khí, thường dùng để chỉ loại máy đẩy không phân luồng khí như của máy bay chiến đấu. Ví dụ, R-13 của MiG-21.
http://www.grc.nasa.gov/WWW/K-12/airplane/aturba.html

TurboFan Engine: máy đẩy tuốc bin quạt có vỏ. Nghe cồng kềnh ghê nhỉ. Đây là loại máy đẩy dùng cho máy bay chở khách tấm trung xa thông dụng, tốc độ khai thác M0,7-M1,5.
http://www.grc.nasa.gov/WWW/K-12/airplane/aturbf.html

TurboProp Engine: máy đẩy tuốc bin quạt không có vỏ, nói thế cho dễ hiểu. DÙng cho máy bay tốc độ chậm hơn như các AN-12.
http://www.grc.nasa.gov/WWW/K-12/airplane/turbprp.html

Tất nhiên, máy bay chạy bằng động cơ xxx vẫn đúng vì lõi máy đẩyđộng cơ. Nhưng có nhiều động cơ và máy đẩy dùng lẫn là sai. Ví như trực thăng, nó có khi có 2-3 động cơ chung một cánh quạt, một máy đẩy có nhiều động cơ, tốt nhất là nói về cái motor của nó lên dùng động cơ hơn.

Về vật lý thì cái nào thì cũng là phản lực cả, nhưng ngôn ngữ thông thường thì cái nào là phản lực đây. Đã là thói quen thì chả cái nào đúng cả. Ông thì bảo Jet mới phản lực, ông thì bảo rocket mới phản lực, ông lại bảo tuốc bin là đủ để phản lực rồi .....

Vậy nên cẩn thận là hơn. Các động cơ trên đều dịch là máy đẩy tuốc bin cho chắc.

Máy đẩy tốc bin cánh quạt TurboProp Engine.
Máy đẩy tốc bin quạt có vỏ  TurboFan Engine Huh? nghe dễ nhầm nhỉ, mà có nhiều lá cải như con vịt fò suốt ngày nhầm cái này, máy đẩy tuốc bin phản lực phân luồng khí Huh? thì cồng kềnh quá. Thé thì cư nguyên văn TurboFan Engine chả chết ai.
Máy đẩy luồng TurboJet Engine máy đẩy luồng, Huh?? lại để nguyên văn vậy.

Mọi người dùng lẫn từ lâu nên nói đúng thì...ngang phè.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Tư, 2008, 12:03:46 AM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Krongen
Thành viên
*
Bài viết: 56



« Trả lời #42 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 05:25:51 PM »

Ak-47: Súng tự động Kalashiknov đời 1947
USP 45: Súng ngắn vũ trụ nạp đạn bằng băng
UMP 45: Súng tiểu liên vũ trụ
PSG 1: Súng trường thiện xạ chính xác
BMP-1/2/3: Xe chiến đấu của bộ binh 1/2/3
AWM : (Súng trường) chiến tranh Bắc Cực lớn
...
tô-be con-teo-nô
Logged

SỐNG HOÀ BÌNH HOẶC CHẾT KHỐC LIỆT
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3270


No sacrifice, no victory


« Trả lời #43 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2008, 11:48:30 PM »

Nhân đọc sách Tây thấy những chỗ nói về đặc công của ta (Mỹ gọi là Sapper) rất hay bị hội dịch giả chuyển thành "công binh". Ta thử bàn xem:

- Sapper nên dịch ra tiếng Việt là gì?

- Quan hệ giữa Sapper và Combat Engineer như thế nào?

Mời các bác cho ý kiến.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
Krongen
Thành viên
*
Bài viết: 56



« Trả lời #44 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2008, 04:07:19 PM »

Trích dẫn
Sapper nên dịch ra tiếng Việt là gì?
Thì cứ dịch là đặc công thôi

Trích dẫn
Quan hệ giữa Sapper và Combat Engineer như thế nào?
Sapper chủ yếu là đặt bom,chất nổ phá hủy các công sự, hoặc mìn,bẫy để chống bộ binh , xe cộ. Chủ yếu là để tấn công, phục kích,do thám giống như là biệt kích vậy.
Combat Engineer thì cũng giống như engineer nhưng lại chuyên sửa chữa, phục vụ hậu cần ngay trên chiến trường để sửa các trang thiết bị bị hỏng. Cũng gần giống như medic chuyên chữa trị tạm thời cho người lính bị thương.
Điểm chung của cả hai là thường có 1 nhóm lính hộ tống theo và đều không chiến đấu trực tiếp. Họ không được vũ trang hoặc vũ trang nhẹ để tự vệ.
 
Logged

SỐNG HOÀ BÌNH HOẶC CHẾT KHỐC LIỆT
rongcoithit
Thành viên
*
Bài viết: 125


« Trả lời #45 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2008, 04:40:34 PM »

Nhân đọc sách Tây thấy những chỗ nói về đặc công của ta (Mỹ gọi là Sapper) rất hay bị hội dịch giả chuyển thành "công binh". Ta thử bàn xem:
- Sapper nên dịch ra tiếng Việt là gì?
- Quan hệ giữa Sapper và Combat Engineer như thế nào?

Mình thấy tốt nhất là hiểu theo cách nghĩ của họ.

Nếu công binh có thể hiểu là “engineers”, như nêu trong này: http://www.imnahastamps.com/military/militaryterms.htm

Họ dùng sapper theo nghĩa của “nổ phá”, có tính phá hoại (như đối với hành động của các đội biệt động SG, dĩ nhiên với ta thì không đơn giản như vậy). Trước đây, thì mình lại nghĩ sapper là “xung kích”, nhưng không đúng, vì xung kích được họ hiểu theo nghĩa của “strike”.

Một số sách thì viết hẳn là “Dac cong”, với chú thích: tương tự special forces.

en.wikipedia có bài "Sapper", mình nghĩ bác nào đấy viết rất có lý.   

« Sửa lần cuối: 18 Tháng Tư, 2008, 04:46:53 PM gửi bởi rongcoithit » Logged
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7441


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #46 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2008, 04:50:13 PM »

Thực tế, trong KCCM đã từng có các phân đội công binh chiến đấu. Hiện nay, trong thành phần của Binh chủng Công binh cũng có các đơn vị công binh chiến đấu với chức năng chính là dùng trang bị công binh để tập kích, phục kích, phá hoại...Lưu ý: Đừng nhầm với công binh cơ động vật cản nhé! Grin
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3270


No sacrifice, no victory


« Trả lời #47 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2008, 07:40:25 PM »

Có rất nhiều cách hiểu. Cách hiểu Sapper = lính sử dụng chất nổ là của Anh. Bất cứ chú nào qua huấn luyện kĩ năng này thì được gọi là Sapper, không phân biệt binh chủng.
Trên wiki phần thảo luận về Sapper cũng có chú Sapper Anh khăng khăng nói mình không phải Combat Engineer.

Mỹ thì hiểu Sapper theo nghĩa nguyên thuỷ. Sapper không đơn thuần là lính sử dụng chất nổ mà chính là Combat Engineer, nhưng là công binh tiền tuyến.
 
Sappers are combat engineers who advance with the front-line infantry, and they have fought in every war in American history.

.....
The term Sapper can be traced back as far as 1501 to the siege of Rouen during the French Wars. Sappers, throughout time, have proven their abilities to build and repair fortifications, execute field works, and reform the countryside with demolitions and heavy equipment to weaken the enemy and lead the infantry to victory on the battlefield.


(http://www.globalsecurity.org/military/systems/ground/engineer.htm)

Nhiệm vụ chung của Sapper/Combat Engineer Mĩ:
 
Constructing trails, roads and field fortifications such as shelters, bunkers and gun emplacements
Assembling floating or prefabricated bridges
Operating various light or heavy engineer vehicles
Placing and detonating explosives
Loading, unloading and moving supplies and equipment using planes, helicopters, trucks and amphibious vehicles
Operating or serving as a crewmember on a combat engineer vehicle, armored vehicle launch bridge or an armored combat earthmover
Preparing and installing firing systems for demolition and explosives
Locating mines by visual means or by using a mine detector


(http://www.goarmy.com/JobDetail.do?id=31)

Do yêu cầu bám sát tiền tuyến nên CBCĐ phải sẵn sàng chiến đấu trực tiếp, chứ không phải là vũ trang nhẹ hay không vũ trang. Mỹ xác định nhiệm vụ thứ 2 của CBCĐ là tổ chức lại và chiến đấu như bộ binh. Ngay từ thời WW2 CBCĐ trang bị súng phun lửa đã là các đội xung kích khi vượt sông hay đánh trong thành phố. CBCĐ Mỹ hoàn toàn có thể chuyển sang làm nhiệm vụ xung kích bằng các xe chiến đấu công binh. Công binh VN thời đầu KCCP thì trang bị bazooka, theo sát bộ binh vào đồn diệt hoả điểm.


Đặc công VN ngoài đánh phá hoại bằng thuốc nổ còn đánh cả theo kiểu tập kích, đột kích chiếm giữ đầu cầu, phối hợp với bộ binh và xe tăng, tiến công quy mô lớn.... Kiểu tổ chức và lối đánh này giống hệt Commando Anh thời WW2. Không hiểu vì sao bọn Mỹ không dùng từ này mà lại đi dịch thành Sapper.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Tư, 2008, 07:46:26 PM gửi bởi Tunguska » Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
ChienV
Đại tá
*
Bài viết: 453


« Trả lời #48 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2008, 03:32:00 PM »

Ak-47: Súng tự động Kalashiknov đời 1947
USP 45: Súng ngắn vũ trụ nạp đạn bằng băng
UMP 45: Súng tiểu liên vũ trụ
PSG 1: Súng trường thiện xạ chính xác
BMP-1/2/3: Xe chiến đấu của bộ binh 1/2/3
AWM : (Súng trường) chiến tranh Bắc Cực lớn
...
tô-be con-teo-nô

hí hí, nhìn đống súng xanh đỏ kia thấy thích thế nhỉ Grin Grin Grin Grin Grin
Logged
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 790



« Trả lời #49 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 09:52:10 AM »

Edit này nói về vịt ngan cọng hành  Grin Grin Grin Grin Grin"
ở đây đã nói về bích kích pháo
http://quansuvn.net/index.php?topic=255.msg12034#msg12034

Hôm nay định viết tiếp vào pháo súng cổ cái Howitzer, HP mới đi mò mấy cái ảnh thật là đặc trưng, mò được một cái ảnh pháo Nga nhưng chỉ có một phía.
Bừn cừi nhất là vào đây:
http://vi.wiktionary.org/wiki/howitzer

Ôi trời ôi, có mỗi từ bách kích pháo ngọng mà editbức kích pháo, bích kích pháo, bùn cừi buò ra, không hỉu còn bờ kích pháo nào nữa không.

Lựu là quả lựu, có nhiều hột, đại khái tiếng ta có "trái na". Lựu là tiếng tầu chỉ "trái phá", từ lựu đạn (từ tiếng việt gọi "Lựu thủ pháo" của tầu, Tầu cũng gọi tắt). Tiếng châu Âu trái phá là Fire-Ball, tên ổ cứng đấy.

Howitzer là "lựu pháo", "lựu đạn pháo" 榴弹炮 trong tất cả các thứ tiếng tầu lớn tầu bé, Nhật, Hàn, và Vịt. Có mỗi loài Vịt lạc nó đẻ ra en nờ cái từ nghe lỏm được từ Bách Kích Pháo (cối). "Lựu pháo", "lựu đạn pháo", 榴弹炮 tức là "pháo bắn ra trái phá".
Howitzer là từ tượng thanh, tiếng đạn pháo này thời cổ kêu lâu và rít vo vo (như cối ngàt nay), thời gian bay của đạn lâu, tốc độ đạn thấp, đường đạn cong cao, đạn to nặng. Cấu tạo Howitzer và thay đổi theo thời gian thế nào thì tư từ, đang tìm ảnh. Mà pà con nào có ảnh nào đặc trưng thì send cho xin, mấy lị mách cho chỗ chứa ảnh đi, ghét cái photobucket.com rồi.

Bức, , đôi khi được viết bằng là "(giữ-ép đến)chặt", "bức bách""gần chặt", "bách" "gần". Kiểu như "đòi nợ (huy phúc) bức bách" là đòi ráo riết lắm rồi, hay "áp bức""đè chặt".

"Bách kích pháo" 迫击砲, còn được viết là "bách kích bào" 迫击炮 là từ các nước chữ vuông chỉ cối, Tầu lớn bé Nhật Hàn.

Edit vốn hay chữ, học lỏm được "Bách Kích Pháo", nhưng từ thầy đồ ngọng nào đó, truyền cho con cháu "Bích Kích Pháo""Bức Kích Pháo", bừn cừi buò ra, bờ kích pháo nào nữa đây.
 Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin
"Bức kích pháo""pháo đánh chặt chẽ"  Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin Grin.

Từ với chả điển, đúng là cái đống rác.


Đề nghị bác huyphuc_1981nb lưu ý cách dùng từ!
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Tư, 2008, 05:16:14 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM