Cơ cấu và thuật ngữ cấp đơn vị quân đội được ta vay mượn từ nước ngoài nên phải xét theo bối cảnh mới được
Hiện nay, cấp đơn vị quân đội ta gồm có quân chủng (liên binh đoàn bộ đội chuyên môn), binh chủng (liên binh đoàn bộ đội chuyên môn), quân khu (liên binh đoàn phòng thủ địa bàn), quân đoàn (liên binh đoàn cơ động), binh đoàn (liên binh đoàn dự bị chiến lược), sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trung đội và tiểu đội. Cơ cấu và tên gọi quy gọn lại theo 3 bậc: quân - đoàn - đội. Vì ta không có cấp đơn vị quân đội lớn hơn "quân" nên thuật ngữ tương ứng còn thiếu và không thống nhất.
Khi trước ta mượn và cải biến thuật ngữ cấp đơn vị quân đội TQ vốn có nguồn gốc từ Cách mạng Quân - lực lượng quân sự của Tưởng Giới Thạch. Thời Tưởng, các cấp đơn vị quân đội được tổ chức từ trên xuống dưới như sau:
- Chiến khu: cấp đơn vị phòng thủ địa bàn hướng chiến lược, chỉ huy một Binh đoàn hoặc Tập đoàn quân và nhiều quân khu. Chiến khu tương đương Phương diện quân hay Front.
- Binh đoàn: cấp lớn hơn và có thể gồm nhiều Tập đoàn quân và các đơn vị độc lập cấp thấp hơn, là đơn vị cơ động cấp chiến lược trên địa bàn tác chiến Chiến khu. Binh đoàn có thể tương đương Phương diện quân hay Front
- Tập đoàn quân: cấp nhỏ hơn Binh đoàn và cũng là đơn vị cơ động cấp chiến lược trên địa bàn tác chiến của một Chiến khu. Tập đoàn quân tương đương với Army Group
- Lộ quân: cấp đơn vị cơ động cấp chiến dịch chiến lược theo hướng, được giao quản lý và chỉ huy từ hai quân đoàn và một số sư đoàn trở lên. Cấp này sau được chuyển đổi lên Tập đoàn quân hoặc xuống Quân. Bát lộ quân là Lộ quân thứ 8 của Cách mạng quân. Lộ quân tương đương với Field Army
- Quân: cấp đơn vị cơ động cấp chiến dịch chiến lược trên địa bàn một số quân khu, được giao quản lý và chỉ huy hai quân đoàn và các sư đoàn độc lập. Quân tương đương với Army
- Quân khu
- Quân đoàn
- Sư: sư đoàn
- Lữ: lữ đoàn
- Đoàn: trung đoàn
- Doanh: tiểu đoàn
- Liên: đại đội
- Bài: trung đội
- Ban: tiểu đội