Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Năm, 2012, 12:22:51 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Atlas về Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ II  (Đọc 1634 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2706


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« vào lúc: 23 Tháng Một, 2012, 05:04:14 PM »

Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2706


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #1 vào lúc: 23 Tháng Một, 2012, 05:05:22 PM »

Giới thiệu


      Người ta thường nói rằng Chiến tranh thế giới lần thứ II là một phần của cuộc nội chiến Châu Âu bắt đầu năm 1914 – năm bắt đầu của Chiến tranh thế giới lần thứ I. Điều này có phần đúng. Tại Châu Âu, ít nhất, 2 lần Thế chiến đều là 2 nửa đáng ghê tởm của cuộc tranh chấp Anh – Đức, luôn nằm ở trung tâm của cả 2 cuộc xung đột. Câu hỏi được nêu ra là: Liệu nước Anh có thể hay sẽ tiếp tục duy trì đế chế rộng lớn của mình trước sự bá chủ của Đức trên lục địa Châu Âu ? Câu trả lời sẽ không bao giờ có. Nước Anh, trong khi tìm kiếm cách để ngăn chặn các lợi ích của Đức trên toàn bộ Lục địa, cuối cùng bị mất toàn bộ Đế chế của mình - một đế chế nằm giữa các cuộc chiến tranh bao phủ ¼ bề mặt của trái đất với một tỷ lệ tương đương về dân số. Đặt bối cảnh đó, cả 2 cuộc Chiến tranh đều quá nguy hiểm cho Đế chế Anh, nó gây nguy hiểm cho sự tồn tại của đế chế và chắc chắn sẽ làm suy yếu mẫu quốc, làm nó không thể giữ vững vị trí của mình trên thế giới khi chiến tranh kết thúc. Từ bối cảnh của người Đức, 2 cuộc chiến không chỉ quá nguy hiểm khi nó phá hủy tất cả làng mạc và thành phố, tàn phá các vùng nông thôn, chia cắt đất nước, dù chúng không hề thích đáng. Năm 1890, nước Đức ở một vị thế mà từ đó, chỉ trong 1 thế hệ, nền kinh tế của nó sẽ chiếm ưu thế trên toàn bộ Châu Âu. Chắc chắn, với sự bá chủ về kinh tế, sự bá chủ về chính trị sẽ sớm đi theo, hay không muốn nói là sẽ đi trước cả kinh tế. Vào năm 1910, sự tôi luyện vẫn diễn ra tốt đẹp, nếu không có ai ngăn cản, giấc mộng của Hoàng đế lẽ ra sẽ đạt được vào giữa thập niên 20 mà không cần chiến tranh. Sự sụp đổ của Đế Quốc Đức năm 1918, kéo theo sự chiếm đóng tạm thời, sự ô nhục quốc gia đã kéo nước Đức lùi lại vài năm. Mặc cho những thảm họa của Chiến tranh thế giới lần thứ I và hậu quả của nó, Đức nhanh chóng giành lại được vị trí cũ của mình như năm 1910 khi Hitler lên nắm quyền vào năm 1933. Năm 1938, sức mạnh của Đức tại châu Âu lớn hơn bao giờ hết, và Anh lại phải đối diện với câu hỏi cũ. Liệu nó có thể làm ngơ cho sự thống trị về chính trị của Đức trên toàn lục địa Châu Âu. Năm 1938, một vài nhân vật thủ cựu như Chamberlain và Halifax, nhận ra được nguy cơ và ngầm giữ Đế chế im lặng, làm ngơ cho Hitler. Một vài thành viên Đảng Bảo Thủ khác như Churchill và các Đảng lao Động, Đảng Tự Do lại muốn thách thức nước Đức lần nữa. Nếu Hitler kín đáo và ít vội vã hơn, bớt khoa trương và bài Do Thái một cách hiểm độc, chính sách của Chamberlain có lẽ đã thành công. Đức đã có thể bành trướng thế lực khắp châu Âu và Đế chế Anh đã có thể tồn tại. Nhưng đó là điều không thể khi đòi hỏi Hitler trở thành người giỏi hơn hắn. Kết quả là, vì nhân phẩm của chính sách của Đế chế Anh khi Tiệp Khắc bị xâm chiếm tháng 8 năm 1939 đã buộc cả Chamberlain và vũ đài lịch sử bắt đầu vòng 2 của cuộc nội chiến Châu Âu.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2706


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #2 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 12:06:41 AM »

Chiến tranh thế giới lần thứ II ở Châu Âu giống một vở bi kịch Hy Lạp, trong đó, các yếu tố của thảm họa hiện hữu từ trước khi nó bắt đầu được diễn, và tấn thảm kịch này rõ ràng là lớn hơn (Chiến tranh thế giới lần thứ I - ND) vì nó không thể tránh khỏi thảm họa. Câu chuyện về cuộc chiến, được kể qua những bản đồ của Richard Natkiel trong cuốn sách này là những mốc chỉ đường cho những sự điên rồ trong lịch sử. Cuối cùng, Đức và Ý bị tiêu diệt và gần như cả Châu Âu cũng chịu chung số phận. Cùng với sự tàn phá, sự sụp đổ  đến một cách hiển nhiên của cả Đế Chế Anh đang bị bần cùng và những thế kỷ châu Âu làm bá chủ thế giới. Một cái nhìn rộng hơn từ thập kỷ 80 sẽ chỉ ra một sự mỉa mai hơn nữa. Mặc dù Đức mất đi phần lãnh thổ của Ba Lan, Nga và bị chia làm 2 quốc gia, không đề cập đến sự tách rời của Áo khỏi đế chế và sự chiếm đóng tạm thời tại Berlin, sự phát triển của nền kinh tế Đức chỉ bị đình trệ, chứ không bị dừng lại. Ngày nay (tức thập niên 80 - ND), Cộng Hòa Liên Bang Đức rõ ràng là một nền kinh tế mạnh nhất Tây Âu và mạnh thứ 4 thế giới. Cộng Hòa Dân Chủ Đức, đứng hạng 12. Cùng với nhau, hai nền kinh tế này mạnh mẽ như của Liên Xô, và sự thống nhất chính trị của họ bây giờ là một giấc mơ, một thực tế mà người Đức trên cả hai mặt của Bức Màn Sắt đang phấn đấu. Một ngày nào đó, có lẽ trong 2 thập kỷ tới, khi 2 nửa nước Đức thống nhất lại, sức mạnh của Đức trên toàn lục địa châu Âu sẽ lớn hơn bao giờ hết. Không lạ lùng gì khi LIên Xô và nhiều nước phương Tây khác theo dõi điều này với sự sợ hãi và hoài nghi. Mục đích của các cuộc chiến tranh thế giới là gì ? Vì lý tưởng gì mà hàng chục triệu người đã đổ máu. Sự mỉa mai của Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II trở nên rõ ràng hơn khi nhìn nửa thứ 2 của cuộc chiến, cuộc chiến của Mỹ và Nhật để kiểm soát Thái Bình Dương. Câu hỏi mà các tổng thống từ Theodore Roosevelt đến Franklin Roosevelt phải đối mặt là: Liệu Mỹ có thể duy trì an ninh và thương mại trên Thái Bình Dương khi đối mặt với sự phát triển về sức mạnh của hải quân Nhật và kinh tế Nhật ?  Trong vài thập kỷ, câu hỏi chỉ là sự nghi ngờ, cho đến khi Nhật tự đưa vấn đề vào tay mình tại Trân Châu Cảng, Philippines, Vietnam, và Malaya năm 1941. Bi kịch không thể tránh khỏi ở Thái Bình Dương cũng giống như nửa cuộc chiến ở châu Âu, đã trở thành hiển nhiên gần như ngay từ đầu. Hàng triệu người đã chết vô ích, chính Nhật Bản bị tàn phá bởi lửa và bom nguyên tử, và cuối cùng thừa nhận thất bại. Trong 40 năm, người ta vẫn chưa đưa ra được quan điểm của cuộc chiến Thái Bình Dương là gì. Nhật có nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới, và lớn nhất châu Á tính đến hiện nay (thập niên 80 - ND). Trong vài năm gần đây, Mỹ đã thực sự khuyến khích Nhật phô diễn sức mạnh chính trị, tăng cường vũ trang và giúp Mỹ làm sen đầm khu vực Tây Thái Bình Dương. Có vẻ như cuộc chiến này cũng là một bi kịch vô ích như cuộc nội chiến châu Âu.

Thảm họa lớn nhất lịch sử loài người được ghi nhận đến nay là Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II . Cuốn Atlas này là một tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai cảm thấy nó đáng nhớ. Rõ ràng, trong trường hợp này, bài học về cuộc chiến rõ ràng là rất khó diễn tả với những người đã từng tham gia chiến đấu, những ai nhớ về nó, cũng như những thế hệ được sinh ra từ hậu quả nó và bị cuốn hút bởi những thước phim khủng khiếp về nó. Các bản đồ đặc biệt của Richard Natkiel của tờ The Economist được sử dụng trong cuốn sách này chỉ cung cấp những phác thảo về cuộc chiến, chúng không thể đưa ra hay cung cấp những bài học cho người đọc. Có vẻ như, nếu có gì hữu ích trong cuốn sách này, được bắt nguồn từ việc nghiên cứu Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 thì đó là: Tránh một cuộc chiến tương tự bằng mọi giá. Không một quốc gia nào hưởng lợi từ nó. Điều này rõ ràng là trở nên thật hơn ngày hôm nay so nếu đem so với việc được viết năm 1945. Sự phát triển của khoa học đã làm những cuộc chiến tương lai trở nên kém ngon lành cho những người vẫn còn điên loạn muốn chứng kiến một cuộc chiến như Cuộc chiến tranh thế giớ lần thứ II.

Có lẽ sự thăng trầm của thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21 cũng sẽ giống 40 năm qua, đụng độ nhỏ, chiến tranh giới hạn, chính sách bên miệng hố chiến tranh, chạy đua vũ trang, sự căng thẳng toàn cầu – câu trả lời là có xảy ra; nhưng với chiến tranh tổng lực –thì là không. Nếu tương lai của chúng ta diễn ra như vậy, Chiến tranh thế giới lần thứ 2 có lẽ sẽ được các nhà sử học thế kỷ 21 xem như là một thời điểm giống với các cuộc chiến của Napoleon, cuộc chiến làm thế giới thịnh vượng hơn, mà như nó đã xảy ra với một vài quốc gia kể từ 1945, gặp nhiều khủng hoảng, mà không cần dốc toàn lực cho chiến tranh. Nếu tương lai của chúng ta giống như quá khứ gần đây, bài học về Chiến tranh thế giới lần thứ 2 sẽ hữu ích hơn. Thế giới sẽ được chuẩn bị tâm lý để tránh một cuộc xung đột toàn cầu bằng mọi giá. Trong trường hợp đó, vì một lợi ích tương đối ổn định, một “nền hòa bình lạnh” ngày càng vững chắc, cuộc chiến 1939-1945 sẽ không vô ích. Nếu chiến tranh là giá cho một nền hòa bình đẫm máu, thì người hưởng lợi sẽ là chúng ta và các thế hệ tương lai.


S.L Mayer
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Hai, 2012, 12:12:29 AM gửi bởi selene0802 » Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2706


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #3 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 12:15:09 AM »

Dunkirk, quang cảnh cuộc rút lui nhục nhã của quân Đồng Minh báo hiệu sự sụp đổ của Pháp

Xe tăng Nhật đi qua một xe cứu thương hỏng của Anh tại Burma, 1942
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Hai, 2012, 01:26:35 PM gửi bởi selene0802 » Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2706


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #4 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2012, 01:03:24 PM »

Đỉnh cao của Chữ Thập Ngoặc

Sự nhục nhã của nước Đức sau hội nghị Versailles đã được Hitler và đảng Quốc Xã lợi dụng một cách khéo léo khi chúng lên nắm quyền năm 1933 dựa trên làn sóng giận dữ trên toàn quốc mà chúng đã chuyển sang làm mục đích cho mình. Sự mất mát lãnh thổ, khó khăn kinh tế và sự lăng mạ vào niềm tự hào Đức trong hội nghị Versailes là tiền đề chính cho cuộc xung đột leo thang thành Chiến tranh thế giới lần thứ II. Thống chế Foch đã tiên đoán khi một nước Đức kiệt quệ bị buộc phải kí hiệp ước: Đây không phải là hòa bình, đây là sự đình chiến kéo dài trong 20 năm.

Sự nghiệp đầy sóng gió của Hitler đạt được đỉnh cao khi hắn nắm quyền trong chính phủ Đức tháng 3 năm 1933. Khi bắt đầu, Hitler thực thi chính sách xây dựng quân đội bất chấp hiệp ước Versailes giới hạn quân đội Đức chỉ 100.000 quân và một lực lượng hải quân nhỏ, không có thiết giáp hay không quân hỗ trợ. Nền tảng cho việc xây dựng quân đội bằng việc cưỡng bức tòng quân và huấn luyện chuyên nghiệp của tướng Hans Vonseeckt. Xe tăng và máy bay được bí mật phát triển, rất nhiều ở Liên Xô, và các phi công tương lai cũng đã được huấn luyện. Trong khi đó, Đảng Quốc xã tiếp tục đưa người Do Thái và các dân tộc thiểu số khác giơ đầu chịu báng cho các vấn đề quốc gia, chúng thành lập trại tập trung đầu tiên tại Dachau cùng năm chúng lên nắm quyền.

Đức rút lui khỏi phe Liên Minh, và năm 1935 Hitler có thể tuyên bố hủy ước hiệp định Versailles. Hắn tuyên bố với cả thế giới rằng Không quân Đức đã được tái lập, và quân đội đã được tăng cường đến 300.000 lính thông qua chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Chính sách của Phương Tây, mà chính xác là của Anh và Pháp đã thất bại trong việc phản đối hiệu quả, một điểm yếu đã khuyến khích tham vọng của Hitler đưa Đức trở lại vị trí của nó – quốc gia mạnh nhất châu Âu.

Bước đi công khai đầu tiên của Đức Quốc Xã ra khỏi biên giới là khi tiến vào vùng sông Rhine, vùng này được giành lại vào năm 1936. Sực việc táo bạo này thành công thông qua sự can đảm hơn là bằng sức mạnh vượt trội. Tướng lĩnh của Hitler đã phản đối việc này vì kích thước tương đối lớn của quân đội Pháp, nhưng vụ việc rõ rang là đã thành công. Bước tiếp theo là đưa những người Đức đang ở ngoài đế chế vào một nước Đức vĩ đại hơn. Áo được sát nhập vào Đức tháng 3 năm 1938, chỉ có sự phản đối từ phía Anh và Pháp. Xấu xa hơn nữa, Hitler đòi Tiệp Khắc dời biên giới phía Tây của mình, vùng đất Sudeten (các vùng phía Bắc, phía Tây Nam và phía Tây của Tiệp Khắc, nơi dân tộc Đức sinh sống là chủ yếu, đặc biệt là  khu vực biên giới giáp với Bohemia, Moravia, và các vùng của Silesia nằm sâu trong Tiệp Khắc - ND), nơi có 3 triệu người nói tiếng Đức đang bị áp bức. Quốc xã đòi sát nhập vùng này vào Đức, chính Phủ Tiệp Khắc đã chuẩn bị lực lượng vũ trang mạnh để chống lại. Thủ tướng Anh Nevile Chamberlain đã bay đến Munich để hội đàm với Hitler.

Chamberlain duy lý rằng vấn đề chỉ ảnh hưởng đến vùng Trung Âu, và bày tỏ sự miễn cưỡng về nguy cơ xảy ra chiến tranh của “một đất nước xa xôi mà chúng ta ít biết đến”. Pháp phải đi theo đồng minh của mình là Anh, và Tiệp Khắc bị cô lập trong biển nước của chủ nghĩa bành trướng Đức. Vùng Sudeten, với những phòng tuyến hiểm yếu đã bị trao tay. Đi xa hơn việc gìn giữ “hòa bình trong thời đại của chúng ta” như Chamberlain đã hứa sau hội đàm Munich, sự nhượng bộ này đã mở cánh cửa cho Quốc Xã xâm chiếm toàn bộ Tiệp Khắc tháng 3 năm 1939.

Chỉ đến lúc này, các nước phương Tây mới nắm được mục tiêu thật sự trong tham vọng của Hitler. Một cách muộn màng, họ tái vũ trang sau nhiều năm chiến tranh mệt mỏi. Ngay thời điểm ấy, lực lượng của Hitler đã ngang bằng với họ, và Quốc trưởng đang nhắm về phía Đông, hành lang Danzig của Ba Lan, nằm chắn giữa hắn và Đông Phổ, cái nôi của chủ nghĩa quân phiệt Đức.

« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2012, 12:16:15 AM gửi bởi selene0802 » Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM