Chiến tranh thế giới lần thứ II ở Châu Âu giống một vở bi kịch Hy Lạp, trong đó, các yếu tố của thảm họa hiện hữu từ trước khi nó bắt đầu được diễn, và tấn thảm kịch này rõ ràng là lớn hơn (Chiến tranh thế giới lần thứ I - ND) vì nó không thể tránh khỏi thảm họa. Câu chuyện về cuộc chiến, được kể qua những bản đồ của Richard Natkiel trong cuốn sách này là những mốc chỉ đường cho những sự điên rồ trong lịch sử. Cuối cùng, Đức và Ý bị tiêu diệt và gần như cả Châu Âu cũng chịu chung số phận. Cùng với sự tàn phá, sự sụp đổ đến một cách hiển nhiên của cả Đế Chế Anh đang bị bần cùng và những thế kỷ châu Âu làm bá chủ thế giới. Một cái nhìn rộng hơn từ thập kỷ 80 sẽ chỉ ra một sự mỉa mai hơn nữa. Mặc dù Đức mất đi phần lãnh thổ của Ba Lan, Nga và bị chia làm 2 quốc gia, không đề cập đến sự tách rời của Áo khỏi đế chế và sự chiếm đóng tạm thời tại Berlin, sự phát triển của nền kinh tế Đức chỉ bị đình trệ, chứ không bị dừng lại. Ngày nay (tức thập niên 80 - ND), Cộng Hòa Liên Bang Đức rõ ràng là một nền kinh tế mạnh nhất Tây Âu và mạnh thứ 4 thế giới. Cộng Hòa Dân Chủ Đức, đứng hạng 12. Cùng với nhau, hai nền kinh tế này mạnh mẽ như của Liên Xô, và sự thống nhất chính trị của họ bây giờ là một giấc mơ, một thực tế mà người Đức trên cả hai mặt của Bức Màn Sắt đang phấn đấu. Một ngày nào đó, có lẽ trong 2 thập kỷ tới, khi 2 nửa nước Đức thống nhất lại, sức mạnh của Đức trên toàn lục địa châu Âu sẽ lớn hơn bao giờ hết. Không lạ lùng gì khi LIên Xô và nhiều nước phương Tây khác theo dõi điều này với sự sợ hãi và hoài nghi. Mục đích của các cuộc chiến tranh thế giới là gì ? Vì lý tưởng gì mà hàng chục triệu người đã đổ máu. Sự mỉa mai của Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II trở nên rõ ràng hơn khi nhìn nửa thứ 2 của cuộc chiến, cuộc chiến của Mỹ và Nhật để kiểm soát Thái Bình Dương. Câu hỏi mà các tổng thống từ Theodore Roosevelt đến Franklin Roosevelt phải đối mặt là: Liệu Mỹ có thể duy trì an ninh và thương mại trên Thái Bình Dương khi đối mặt với sự phát triển về sức mạnh của hải quân Nhật và kinh tế Nhật ? Trong vài thập kỷ, câu hỏi chỉ là sự nghi ngờ, cho đến khi Nhật tự đưa vấn đề vào tay mình tại Trân Châu Cảng, Philippines, Vietnam, và Malaya năm 1941. Bi kịch không thể tránh khỏi ở Thái Bình Dương cũng giống như nửa cuộc chiến ở châu Âu, đã trở thành hiển nhiên gần như ngay từ đầu. Hàng triệu người đã chết vô ích, chính Nhật Bản bị tàn phá bởi lửa và bom nguyên tử, và cuối cùng thừa nhận thất bại. Trong 40 năm, người ta vẫn chưa đưa ra được quan điểm của cuộc chiến Thái Bình Dương là gì. Nhật có nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới, và lớn nhất châu Á tính đến hiện nay (thập niên 80 - ND). Trong vài năm gần đây, Mỹ đã thực sự khuyến khích Nhật phô diễn sức mạnh chính trị, tăng cường vũ trang và giúp Mỹ làm sen đầm khu vực Tây Thái Bình Dương. Có vẻ như cuộc chiến này cũng là một bi kịch vô ích như cuộc nội chiến châu Âu.
Thảm họa lớn nhất lịch sử loài người được ghi nhận đến nay là Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II . Cuốn Atlas này là một tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai cảm thấy nó đáng nhớ. Rõ ràng, trong trường hợp này, bài học về cuộc chiến rõ ràng là rất khó diễn tả với những người đã từng tham gia chiến đấu, những ai nhớ về nó, cũng như những thế hệ được sinh ra từ hậu quả nó và bị cuốn hút bởi những thước phim khủng khiếp về nó. Các bản đồ đặc biệt của Richard Natkiel của tờ The Economist được sử dụng trong cuốn sách này chỉ cung cấp những phác thảo về cuộc chiến, chúng không thể đưa ra hay cung cấp những bài học cho người đọc. Có vẻ như, nếu có gì hữu ích trong cuốn sách này, được bắt nguồn từ việc nghiên cứu Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 thì đó là: Tránh một cuộc chiến tương tự bằng mọi giá. Không một quốc gia nào hưởng lợi từ nó. Điều này rõ ràng là trở nên thật hơn ngày hôm nay so nếu đem so với việc được viết năm 1945. Sự phát triển của khoa học đã làm những cuộc chiến tương lai trở nên kém ngon lành cho những người vẫn còn điên loạn muốn chứng kiến một cuộc chiến như Cuộc chiến tranh thế giớ lần thứ II.
Có lẽ sự thăng trầm của thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21 cũng sẽ giống 40 năm qua, đụng độ nhỏ, chiến tranh giới hạn, chính sách bên miệng hố chiến tranh, chạy đua vũ trang, sự căng thẳng toàn cầu – câu trả lời là có xảy ra; nhưng với chiến tranh tổng lực –thì là không. Nếu tương lai của chúng ta diễn ra như vậy, Chiến tranh thế giới lần thứ 2 có lẽ sẽ được các nhà sử học thế kỷ 21 xem như là một thời điểm giống với các cuộc chiến của Napoleon, cuộc chiến làm thế giới thịnh vượng hơn, mà như nó đã xảy ra với một vài quốc gia kể từ 1945, gặp nhiều khủng hoảng, mà không cần dốc toàn lực cho chiến tranh. Nếu tương lai của chúng ta giống như quá khứ gần đây, bài học về Chiến tranh thế giới lần thứ 2 sẽ hữu ích hơn. Thế giới sẽ được chuẩn bị tâm lý để tránh một cuộc xung đột toàn cầu bằng mọi giá. Trong trường hợp đó, vì một lợi ích tương đối ổn định, một “nền hòa bình lạnh” ngày càng vững chắc, cuộc chiến 1939-1945 sẽ không vô ích. Nếu chiến tranh là giá cho một nền hòa bình đẫm máu, thì người hưởng lợi sẽ là chúng ta và các thế hệ tương lai.
S.L Mayer