Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Năm, 2012, 11:39:07 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trên các bờ sông Mê kông - hồi ức của đại tướng F.F.Krivda.  (Đọc 8633 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2011, 06:55:16 PM »

Hồi ức quân sự

Кrivda Fedot Filippovitch


TRÊN CÁC BỜ SÔNG MÊ KÔNG
________________________________________
Site «Военная литература»: militera.lib.ru
Tên sách: Krivda F.F. Trên các bờ sông Mê kông. Ghi chép của một cố vấn quân sự.
(Кривда Ф.Ф. На берегах Меконга. Записки военного советника).

Nội dung
Lời dẫn
Phần 1
Phần 2


Tiểu sử sơ bộ
Fedot Filippovitch Krivda (13 tháng 3 năm 1923, CHXHCN Xô Viết Ucraina -28 tháng 2 năm 1998, Моskva) — nhà chỉ huy quân sự, quân hàm đại tướng (генерал армии).


Ảnh đại tướng F.F.Krivda trên trang marshals.su.

Sinh trong gia đình nông dân. Tốt nghiệp Trường Kỹ thuật xây dựng Uman trước chiến tranh.
Tháng 7 năm 1941được gọi vào Hồng quân Công Nông ngay sau khi nổ ra chiến tranh. Chiến đấu với tư cách chiến sỹ Hồng quân trên mặt trận của Phương diện quân Nam. Tháng 9 năm 1941 được gửi đi học tập tại Trường bộ binh Ordzhonikidze. Tốt nghiệp tháng 3 năm 1942 và được giữ lại trường làm cán bộ khung, trung đội trưởng, đại đội phó rồi đại đội trưởng đại đội học viên. Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ 1944. Trở lại mặt trận của cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại chỉ vào tháng 1 năm 1945, chỉ huy đại đội súng trường tại Phương diện quân Ucraina 4. Tham gia chiến dịch Moravsk-Ostrava để giải phóng Tiệp Khắc.
Sau chiến tranh tốt nghiệp trường quân sự khóa đầy đủ, đại đội trưởng. Năm 1954 tốt nghiệp Học viện Quân sự mang tên M.V.Frunze. Từ năm 1955 phục vụ tại quân khu Viễn Đông, chỉ huy tiểu đoàn và trung đoàn.

Năm 1969 tốt nghiệp Học viện Quân sự Bộ Tổng tham mưu. Từ năm 1969 — chỉ huy sư đoàn bộ binh cơ giới, sau đó chỉ huy quân đoàn trong cụm quân Trung tâm trên lãnh thổ Tiệp Khắc. Tư lệnh tập đoàn quân binh chủng hợp thành số 39 quân khu Zabaikal, đóng quân trên lãnh thổ CHND Mông Cổ. Sau đó - Phó tư lệnh thứ nhất bộ đội quân khu Trung Á.
Từ năm 1975 - Tư lệnh cụm quân Nam trên lãnh thổ Hungary. Tháng 3 năm 1979 — Phó Tổng tư lệnh thứ nhất bộ đội vùng Viễn Đông. Từ năm 1981 - cố vấn quân sự xô viết tại Ethiopie. Từ năm 1982 - Trưởng cố vấn quân sự bên cạnh Bộ trưởng Quốc phòng CHXHCN Việt Nam, đồng thời phụ trách đoàn cố vấn quân sự tại Lào và Kampuchia. Được phong quân hàm đại tướng theo sắc lệnh của Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô ngày 31 tháng 10 năm 1984.

Từ năm 1985 — Hiệu trưởng Trường bổ túc Sỹ quan cao cấp "Vystrel" ("Phát súng") mang tên nguyên soái Liên Xô B.M.Shaposhnikov. Từ năm 1987 - đại diện Tổng tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Thống nhất các quốc gia tham gia Hiệp ước Varshava tại Hungary. Từ năm 1989 - cố vấn-thanh tra quân sự Nhóm tướng lĩnh thanh tra Bộ Quốc phòng Liên Xô. Từ năm 1992 - nghỉ hưu. Từ năm 1996 - сộng tác viên Viện Lịch sử Quân sự Bộ quốc phòng Liên bang Nga. Giáo sư.
Sống tại Моskva. Tác giả hồi ức «Trên các bờ sông Mê kông».
Đại biểu Xô viết Tối cao Liên Xô trong những năm 1979-1984.
Logged
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« Trả lời #1 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2011, 11:13:25 PM »

Lời dẫn của tác giả

Khác với cuộc sống của con người dân sự, anh ta được tự mình lập kế hoạch cho những việc mình cần làm, dù ở trong trường hợp này hay trường hợp kia, số phận của người quân nhân được quyết định phần lớn "từ trên". Theo quy định, việc quân nhân đó phục vụ ở đâu phụ thuộc vào ý định của thủ trưởng cấp trên. Trường hợp này thường là một cái cớ mà người sĩ quan đưa cho gia đình mình, khi những người ruột thịt trải qua cảm giác khó chịu sau chuyến đi.

Trong thời gian phục vụ lâu dài của mình, tôi không bao giờ từ chối bất cứ nhiệm vụ nào và những người thân của tôi cũng không bao giờ than vãn rằng tôi đã đồng ý di chuyển theo bước đường phục vụ. Tâm hồn tôi luôn bình thản.

Trước khi tôi được bổ nhiệm vào năm 1982 làm Trưởng cố vấn quân sự tại CHXHCN Việt Nam, tôi từng phục vụ trên cương vị Phó Tổng tư lệnh quân đội vùng Viễn Đông. Còn Tổng tư lệnh lúc đó là đại tướng Govorov Vladimir Leonidovitch. Công việc rất thú vị, mọi thứ diễn ra tốt đẹp, mối quan hệ với con người thông minh và chân thành đó là mối quan hệ tốt nhất, và tôi không bao giờ nghĩ rằng tôi sẽ sớm phải thay đổi vị trí phục vụ.

Vào đầu mùa xuân năm 1982 tại Đại bản doanh quân đội vùng Viễn Đông đã diễn ra cuộc bầu chọn các chỉ huy, sẽ được mời làm (cố vấn) bởi ban lãnh đạo các Quân đội nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, và tôi nhận lệnh của Tổng tư lệnh quân đội vùng Viễn Đông, chịu trách nhiệm cho nhóm này. Đã diễn ra những cuộc trao đổi trong đó nói rằng sau cuộc bầu chọn, tôi sẽ bay đến CHXHCN Việt Nam trên cương vị cố vấn quân sự cấp cao. Rõ ràng, điều này liên quan đến việc bầu chọn tiến hành rất tốt. Nhiều đồng chí Việt Nam, Lào và Campuchia đã nhận được những thông tin mới thú vị và, theo đánh giá của họ, họ rất hài lòng.

Những cuộc trao đổi về nhiệm vụ sắp tới của tôi trong vai trò Trưởng cố vấn quân sự tại CHXHCN Việt Nam không làm tôi nản lòng. Tôi tin rằng kinh nghiệm của mình tại cụm quân Trung tâm với cương vị tư lệnh một quân đoàn, tại CHND Mông Cổ ở vị trí tư lệnh tập đoàn quân số 39, tại cụm quân Phương Nam trên cương vị tư lệnh cụm quân này, kinh nghiệm phục vụ tại Ethiopia, và phục vụ trên cương vị Phó Tư lệnh thứ nhất quân khu Trung Á, nơi phải dành nhiều sự quan tâm đến các vấn đề dân tộc đã cho tôi không chỉ kinh nghiệm quân sự thực tế lớn, mà còn cho tôi học được nhiều điều trong vấn đề xây dựng mối quan hệ với cư dân địa phương.

Là một cựu chiến binh của cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, tôi đã hiểu ra khá nhiều và trong quá trình hoạt động chiến đấu ở các nước châu Âu, đặc biệt trong tiến trình thực hiện chiến dịch tấn công Moravia-Ostrava tháng Ba - tháng Năm năm 1945, nơi tôi đã gặp những người Ba Lan, Séc và Slovak trong giai đoạn chiến đấu. Cuối cùng, giúp tôi rất nhiều là nhiệm kỳ của tôi làm thư ký văn phòng đảng của tổ chức đảng thời gian học tập tại Học viện quân sự mang tên Voroshilov, bởi vì tôi phải giữ liên lạc với tất cả các nhóm học viên của các nước xã hội chủ nghĩa.

Từ những mối quan hệ trên, tôi rút ra kết luận rằng mối quan hệ tin tưởng và tôn trọng với mình từ phía những người đại diện của bất kỳ quốc gia nào chỉ có thể đạt được khi ta thật sự chân thành, không đạo đức giả, sống bằng các lợi ích của họ, tôn trọng tình cảm quốc gia, phong tục và truyền thống của họ một cách sâu sắc và chân thành. Trong vấn đề này, từ phía mình, bạn cần phải không có bất kỳ một sự giả tạo, khoe khoang nào và v.v. Hình thành nên trong bản thân mình những phẩm chất như vậy - vô cùng khó, nhưng cần thiết. Vì quân nhân phải là người có văn hóa cao và có giáo dục.

Nhà xuất bản Voenizdat đã kịp thời đề nghị tôi viết một cuốn sách hồi tưởng thời gian ở Việt Nam trên cương vị cố vấn quân sự cao cấp của CHXHCN Việt Nam. Tôi phải thừa nhận, viết cuốn sách này là rất khó khăn. Nó là một cuốn sách có những xử lý sự kiện bất thường và rất khó khăn. Nhưng mục đích cao quý của nó - chia sẻ kinh nghiệm của mình cho thế hệ các sĩ quan Nga ngày nay đã khích lệ cảm hứng cho tôi khi lao động trong công việc khó khăn này.

Tôi đã ở Việt Nam trong ba năm rưỡi, và theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyên soái Liên Xô D.F.Ustinov, phụ trách luôn các đoàn cố vấn quân sự tại Lào và Campuchia. Trong thời gian đó tôi đã thực hành ghi nhật ký. Nhật ký trên chính là cơ sở hình thành của cuốn sách "Trên các bờ sông Mekong", mà bây giờ tôi giới thiệu để độc giả phán xét.

Hơn nữa, khi sử dụng nhật ký, tôi đã có cơ hội thể hiện tính năng động trong công việc của trưởng cố vấn quân sự và đoàn cố vấn của ông ta. Nếu không có nhật ký, việc biểu thị tính năng động trong công việc của đoàn cố vấn sẽ là không thể và không thuyết phục. Trong cuốn sách mà tôi viết, hoạt động của đoàn cố vấn và trưởng cố vấn quân sự được trình bày theo kiểu tài liệu. Cuốn sách này có thể xuất bản ngay cả tại CHXHCN Việt Nam, mà không sợ rằng ai đó sẽ tranh cãi sự kiện này kia trong cuộc sống của tập thể cộng đồng chúng tôi.

Tên của cuốn sách "Trên các bờ sông Mekong" không phải là tên đặt ngẫu nhiên. Thực tế con sông Mekong liên quan đến bốn quốc gia: Trung Quốc, Lào, Kampuchia và Việt Nam (một phần giáp giới với Miến Điện và Thái Lan). Con sông gắn kết các quốc gia này với nhau trong một thực thể toàn vẹn duy nhất. Sông Mekong trong thời gian bình thường cho thông thuyền 700 km tính từ cửa sông. Trong thời gian lũ lụt - mức đó được nâng lên tới 1600 km.


Nha Trang năm 1982. Trưởng cố vấn quân sự bên cạnh Bộ trưởng Quốc phòng CHXHCN Việt Nam, thượng tướng F.F.Krivda tiếp nhận báo cáo của Hiệu trưởng trường Sỹ quan Hải quân (Nha Trang) thuộc lực lượng Hải quân CHXHCN Việt Nam (clubadmiral.ru).
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 07:38:15 AM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« Trả lời #2 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 12:54:01 AM »

(tiếp)

Phần thứ nhất

Trong cuộc sống của quân nhân, đặc biệt là sĩ quan quân đội, có rất nhiều bất ngờ và sự kiện không lường trước. Hôm nay, anh ta đang phục vụ ở nơi này, ngày mai lại có thể được phái đi một nơi hoàn toàn khác. Và anh ta không có quyền phản đối quyết định của chỉ huy cấp trên. Trong quân đội Liên Xô người ta coi việc phát biểu chống lại quyết định cấp trên của mình là không khéo. Về nguyên tắc, cách tiếp cận này là chính xác. Trong quân đội với bất kỳ mệnh lệnh nào của người chỉ huy, cấp dưới phải trả lời "Rõ" và ngay lập tức bắt tay vào thi hành. Nếu mỗi người nhận lệnh đều tìm lý do đổi lại mệnh lệnh, không có lợi cho anh ta, vì nó liên quan đến mối hiểm nguy cho cuộc sống, vì những trở ngại lớn, vậy sẽ còn ai để chiến đấu. Sự "dân chủ" như vậy trong quân đội không thể tồn tại. Như thế sẽ không còn quân đội, mà chỉ là đám đông hỗn loạn, vô kỷ luật, nửa dân sự, không chỉ huy được. Ai từng phục vụ trong Quân đội, hoặc bây giờ đang phục vụ, hiểu thấu điều kiện và môi trường phục vụ trong quân đội, anh ta sẽ hiểu tính công bằng của những từ này.

Những ký ức này được khêu gợi từ những sự kiện xảy ra vào giữa tháng Bảy năm 1982, khi tôi không có bất kỳ ý nghĩ nào về cương vị công tác mới - đột nhiên được người ta đề nghị giữ chức Trưởng cố vấn quân sự tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thời gian này, bản đồ địa lý phục vụ quân sự của tôi đã khá lớn. Nó đặt gánh nặng không nhẹ nhàng gì lên người vợ và những đứa trẻ. Đến thời điểm này, chúng tôi đã di chuyển qua 27 căn hộ gia đình. Những căn hộ nhỏ và vừa, lúc lạnh và lúc nóng, có nước và không có nước, có hệ thống nước thải cũng như không có nó, còn những đứa con của chúng tôi khi học trung học đã phải thay đổi đến tám trường học trên khắp cả nước. Bạn có thể tưởng tượng khó khăn thế nào cho chúng khi mỗi năm học lại bắt đầu tại một trường học mới, trong một tập thể mới. Chúng tôi rất biết ơn những đứa con chúng tôi - Vladimir và Lyubasha - đã vâng lời và siêng năng. Trước chuyến đi của chúng tôi đến vùng Đông Nam Á, con trai tôi đã kịp tốt nghiệp Viện thông tin liên lạc ngành kỹ thuật điện, còn con gái - Khoa Đào tạo giáo viên ngoại ngữ Trường Sư phạm, và điều đó làm trách nhiệm của chúng tôi trở nên dễ dàng hơn.

Để thu xếp và đáp tàu đến Moskva từ Ulan-Ude, chúng tôi mất một vài ngày. Trong thời gian này, chúng tôi phải thu thập tất cả các tài liệu, thông qua một cuộc kiểm tra sức khỏe tại ủy ban y tế, nhận hộ chiếu, đóng gói đồ đạc gia đình và ngày 4 tháng 08 có mặt ở Moskva, tại Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô.

Khi đến Moskva, bắt đầu quá trình chuẩn bị cho tôi đảm nhiệm cương vị mới ở Tổng cục 10 Bộ Tổng tham mưu. Trong thời hạn mười ngày chuẩn bị của tôi, thời gian được lên kế hoạch từng phút,  đã tổ chức các cuộc gặp gỡ ở BCH Trung ương Đảng, Bộ Ngoại giao Liên Xô, Ủy ban Nhà nước về liên lạc kinh tế đối ngoại, Tổng cục Chính trị, các Bộ Tham mưu các quân binh chủng lực lượng vũ trang Liên Xô và các Tổng cục chủ yếu thuộc Bộ Quốc phòng. Tại Tổng cục Chính trị tôi được A.A.Epishev và phó của ông, A.I.Sorokin tiếp, tôi còn được tiếp bởi Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Nguyên soái Liên Xô S.L.Sokolov, Tổng tham mưu trưởng Nguyên soái Liên Xô N.V.Ogarkov. Ở giai đoạn chuẩn bị cuối cùng, tiếp tôi là bộ trưởng quốc phòng, Nguyên soái Liên Xô D.F.Ustinov. Ông quan tâm đặc biệt vấn đề điều phối các hoạt động của các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam, Lào và Kampuchia, nhấn mạnh rằng các mệnh lệnh cần thiết về vấn đề này đã được đưa ra theo tuyến Ủy ban Trung ương ĐCS Liên Xô, Bộ Ngoại giao, UBNN về liên lạc kinh tế đối ngoại và Bộ Quốc phòng. Sau cùng tôi nhận ra tầm quan trọng của nó để có được sự phối hợp công tác cho các đoàn cố vấn tại các nước này.

Công việc căng thẳng diễn ra trước khi tới CHXHCNVN, giúp tôi một ý tưởng chung về mức độ hợp tác của chúng ta với CHXHCNVN, CHDCND Lào và CHND Kampuchia trong mọi lĩnh vực và đặc biệt là ở lĩnh vực quân sự.

Trong quá trình chuẩn bị chuyến đi tới CHXHCNVN tôi cảm thấy thời gian để thấu suốt tất cả mọi vấn đề rất ít. Công việc diễn ra vội vã đồng thời với việc sửa soạn cho chuyến công tác xa. Chúng tôi phải tháo rời mọi thứ, giải quyết vấn đề an ninh căn hộ, bố trí thanh toán và đặt chỗ trên đường đi. Alevtina Vasilevna đã mệt lử vì phải tìm mọi cách để kịp làm những điều đó. Nhưng vẫn còn rất nhiều việc liên quan đến chúng tôi và cháu gái Alechka. Tôi muốn trước khi bay vào chuyến công tác dài ngày phải gặp được con trai Vladimir, con gái Lyubasha, các cháu, bạn bè ở Ordzhonikidze và Moskva - Viktor Viktorovitch Kalinin và Anna Alexandrovna, sau khi đã tới Moskva được một vài ngày và gặp gỡ với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Mông Cổ, trung tướng Endonduitchir và vợ ông, vào thời gian này đang nghỉ ngơi tại khu nghỉ dưỡng Arkhangensk.

Bằng cách nào đó rồi chúng tôi đã thu xếp xong. Chuyến bay được lên kế hoạch vào ngày 16. Tiễn chúng tôi có Trung tướng Burkin Vulikh và Nina Andreyevna, Trung tướng Dmitry Pavlov và Maria Danilovna, Trung tướng Aleksandr Georghievitch Sidorov với Henriette Nikolaevna, vợ chồng nhà Kalinin, chị Vera của tôi, con trai Vladimir, con gái Lyubasha với chồng nó, Anatoly. Mọi người đến rất đông và để chú ý tới tất cả rõ ràng không đủ thời gian.

Lúc 16,00 h chúng tôi ra sân bay. Tất cả quyết định ra tận nơi tiễn chúng tôi. Tiễn chúng tôi còn cả gia đình Paleeva - Vladimir Borisovitch và Zoia Mitrofanovna. Đến tiễn còn có cả vợ chồng Endoduichir. Trong nhà ga người ta quyết định cần tổ chức bày biện một chiếc bàn lớn. Chúng tôi không biết rằng vào lúc này trong phòng đại biểu VIP đang có một thành viên Bộ Chính trị ĐCS Việt Nam cùng với vợ và đoàn tùy tùng của ông. Người sỹ quan đi cùng chúng tôi đến gần chúng tôi và báo cáo rằng Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN đồng chí Võ Chí Công muốn làm quen với tôi, đang ngồi cùng ông là E.P.Glazunov, trưởng ban đối ngoại Ủy ban Trung ương ĐCSLX. Không tiện lắm, nhưng chẳng sao. Tôi và Alevtina Vasilyevna đến chỗ ông ấy. Ông đang ngồi với vợ và con gái, đi tiễn cha mẹ mình về Hà Nội, cô con gái nói tiếng Nga rất tuyệt. Chúng tôi gặp gỡ và nói chuyện. Alevtina Vasilevna tặng hoa cho bà vợ. Đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên với các đồng chí Việt Nam. Chúng tôi bay trong cùng cabin, nhưng cả ông và tôi không thể giao tiếp vì không biết tiếng của nhau - Tôi không biết tiếng Việt, ông - không biết tiếng Nga. Tôi muốn nói chuyện, làm quen với một đại diện của đất nước anh em, nhưng làm sao được. Rào cản ngôn ngữ đã ngăn cách sự giao tiếp.

.....
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 02:00:13 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 12:31:39 PM »

(tiếp)

Chuyến bay hoàn toàn diễn ra về đêm. Lần hạ cánh đầu tiên ở Karachi thủ đô Pakistan, sau gần sáu giờ bay. Cháu gái của chúng tôi (Vợ của con trai chúng tôi đã chết. Để lại hai cô con gái nhỏ, mà chúng tôi nhận nuôi) được đặt nằm ngay ngắn trên các hộp có đóng tem ngoại giao và ngủ ngon lành. Cuối cùng, máy truyền thanh lên tiếng thông báo giảm độ cao chuẩn bị cho máy bay vào hạ cánh.

Sau 30 phút chiếc IL-62 của chúng tôi đã hạ cánh nhẹ nhàng xuống sân bay Karachi. Rõ ràng trời mới mưa cách đây không lâu, trên sân bay đã có những vũng nước bốc hơi rất mạnh. Việc ra khỏi máy bay bị cấm, nhưng với sự cho phép của phi hành đoàn có thể ra đứng ở đầu xe thang. Tại vị trí này có một chút gió thổi và ta hít thở dễ dàng hơn. Chúng tôi theo dõi hoạt động nhịp nhàng của tất cả các bộ phận dịch vụ trên sân bay. Chỉ trong vòng vài phút, các xe dịch vụ đã đậu đầy quanh máy bay của chúng tôi: xe chở dầu để tiếp nhiên liệu, xe có thùng chứa tiếp đồ ăn, xe lấy rác và v.v. Một giờ sau chúng tôi đã sẵn sàng cất cánh. Đến Bombay, nơi hạ cánh được lên lịch tiếp theo, chỉ cần nửa giờ bay. Thời gian qua đi mà dường như không ai thấy, máy bay của chúng tôi hạ cánh an toàn. Trời đang mưa. Qua một đoạn đường ống đặc biệt kết nối máy bay vào hành lang nhà ga, người ta hộ tống chúng tôi vào nhà ga hàng không, nơi có rất ít cơ hội để đi bộ. Trong gian chính có rất nhiều gian hàng với các hàng hóa khác nhau. Các cô bán hàng giới thiệu một loạt các đồ lưu niệm, nhưng không ai mua. Chúng tôi không có đô la Mỹ hoặc ngoại tệ khác. Chiếc máy bay bị trì hoãn giờ bay đến vài lần. Nhưng sau một giờ rưỡi tất cả chúng tôi được mời lên máy bay. Aletchka đã ngủ, không cảm thấy máy bay hạ cánh hoặc cất cánh.



Sông băng Tibet trên cao nguyên Tây Tạng - khởi nguồn dòng Mê kông (savetibet.ru).

Trên máy bay, khi chuyến bay kéo dài những 15-16 giờ, có đủ thời gian để suy nghĩ về nhiều vấn đề. Tôi nhớ rằng đã từng đọc về Việt Nam, đặc biệt là về con sông Mê kông. Bắt nguồn từ sông băng Tibet cách làng Chando (sườn phía nam rặng Tantchea) chừng 50 km về phía tây-bắc, sông mang dòng nước của mình băng qua lãnh thổ Trung quốc, Thái lan, Lào, Kampuchia và Việt Nam. Tại trung lưu và hạ lưu, sau khi thu vào mình nhiều nguồn nước khác, bằng dòng chảy mạnh mẽ của mình, con sông gắn kết các nước anh em đang xây dựng chủ nghĩa xã hội — Việt Nam, Lào và Kampuchia trong một thực thể toàn vẹn duy nhất khi nó chính là huyết mạch vận tải thủy quan trọng nhất đối với họ.

Bờ sông Mê kông rất trù phú, nó mang đến cho con người những mùa màng bội thu và niềm vui. Nhưng không phải lúc nào Mê kông cũng mang lại hạnh phúc. Thường khi gió mạnh nổi lên từ vịnh Thái lan, Mê kông bắt đầu chẩy trào lên, làm ngập lụt những vùng lãnh thổ rộng lớn tàn phá mùa màng vào kỳ thu hoạch cũng như các khu dân cư.

Vào năm 1300, trong thời kỳ cực thịnh của vương quốc Cambodge, nước dâng đã mang lại tai họa cho người Khmer, mà sau đó thời kỳ suy sụp của Cambodge đã tới. Các quốc gia láng giềng không bỏ qua cơ hội này, lợi dụng việc đó phát động chiến tranh chống Cambodge. Họ đã thành công trong việc đoạt lấy một phần đất đai của quốc gia Cambodge và làm suy yếu sức mạnh của nó.

Đến Hà Nội còn gần 5 giờ bay nữa. Chúng tôi bay sau các đám mây, đôi khi máy bay rung lên và đó cũng là hiện tượng bình thường. Chúng tôi đã chán ngấy chuyện bay. Và mọi người chỉ muốn nhanh chóng nhìn thấy đất nước này từ trên máy bay, nghĩ về những cuộc gặp gỡ sắp tới với các bạn Việt Nam, với Trưởng cố vấn quân sự bên cạnh Bộ trưởng Quốc phòng CHXHCNVN đại tướng Obaturov Ghennady Ivanovitch, với trung tướng Pavlov Piotr Kuzmitch và những người khác. Chúng tôi nóng lòng gặp lại trên mảnh đất Việt Nam Phó Tổng tham mưu trưởng QDNDVN Lê Ngọc Hiền và đại tá Bộ TTM đồng chí Trần Đô, những người chúng tôi đã quen biết trước đây. Trần Đô biết tiếng Nga rất giỏi và gây nên thiện cảm chung cho mọi người. Với Lê Ngọc Hiền và đại tá Trần Đô, chúng tôi đã làm quen từ hồi ở Ulan-Ude mùa xuân 1982 tại cuộc bầu chọn chung. Mối quen biết chung còn bao gồm cả các đồng chí khác đến từ CHXHCNVN, bởi lẽ đoàn đại biểu Việt Nam được Tổng tư lệnh bộ đội Viễn Đông Govorov Vladimir Leonidovitch giao phó cho tôi phụ trách đón tiếp và làm việc.

........
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 01:57:59 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 09:44:10 PM »

(tiếp)

Cuối cùng chúng tôi đã bay đến trên không phận CHXHCNVN. Chúng tôi vui mừng vì bầu trời hầu như không gợn mây. Nhìn thấy rõ những rặng núi rừng rậm bao phủ, những thung lũng, điểm dân cư, đường sá và hồ. Tôi để ý thấy trên lãnh thổ Việt Nam rất nhiều hồ. Phong cảnh thật hấp dẫn, tươi đẹp và gây cho tôi một niềm khoan khoái. Nói chung tôi không hờ hững với thiên nhiên và rất yêu thích ngắm nhìn cảnh núi non, rừng rậm, những thung lũng và mặt hồ xanh biếc. Máy bay lướt trên thung lũng châu thổ Sông Hồng rồi bắt đầu hạ độ cao. Xung quanh là những cánh đồng xanh mướt, những thửa ruộng ăm ắp nước tưới, hằng hà sa số những làng mạc chìm khuất trong một màu xanh lục và mạng lưới chằng chịt những con đường ô tô hẹp và đường mòn. Máy bay càng hạ thấp độ cao càng nhìn rõ những người nông dân đội những chiếc mũ rơm đang lao động trên cánh đồng.

Vào buổi trưa, máy bay tiếp đất trễ 30 phút. Đường băng ẩm ướt, dọc theo đường cất hạ cánh có nhiều vũng nước. Mặt trời chói chang sưởi ấm đất đai và khi ra khỏi máy bay lập tức ta cảm thấy ngay hơi nóng ẩm tươi nồng vây quanh. Thật mừng rỡ khi tôi nhận thấy ngay những người ra đón, trang phục không cà vạt, mặc những chiếc áo sơ mi trắng nhẹ bỗng bỏ ngoài quần, đầu không mũ. Nhưng những người xô viết mới ăn mặc như vậy, còn các bạn Việt Nam lại trang phục đồng phục chỉnh tề. Bên chân thang máy bay họ đã xếp thành đội ngũ một hàng ngang. Lãnh đạo cuộc đón tiếp này là một Ủy viên Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, thứ trưởng Bộ Quốc phòng CHXHCNVN trung tướng Trần Văn Quang. Đứng cạnh ông là một người làm tôi rất đỗi vui mừng, người đang thi hành chức trách thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu QDNDVN trung tướng Lê Ngọc Hiền, người quen cũ của tôi. Ra đón còn có thứ trưởng Quốc phòng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp. Chúng tôi chào mừng nhau. Khi bắt tay Lê Ngọc Hiền, không kìm được tôi hỏi đại tá Trần Đô đâu. "Đồng chí sẽ còn gặp lại anh ấy khá nhiều lần đấy", - ông đáp lại rất chân thành. Rõ ràng ông ấy rất vui vì tôi vẫn nhớ rõ Trần Đô và ông.  


Đại tướng G.I.Obaturov tại Việt Nam.

Sau đó chúng tôi được đón tiếp rất nồng nhiệt bởi đại tướng Ghennady Ivanovitch Obaturov, người mà tôi đến thay phiên trên cương vị Trưởng cố vấn quân sự tại CHXHCNVN. Tôi đã hiểu rõ ông kể từ khi cùng phục vụ chung ở quân khu PriKarpat (PrikVo) và khi ông đảm trách chức vụ Phó Tổng thanh tra quân đội Liên Xô. Sau khi nhiệt liệt cám ơn cuộc đón tiếp trọng thị, chúng tôi đi vào phòng khách nơi người ta thết chúng tôi tiệc trà. Các bạn Việt Nam rất quan tâm muốn biết chúng tôi bay thế nào, cảm thấy ra sao. Tôi trả lời rằng tất cả đều ổn, dù áo sơ mi của tôi đã thấm ướt và mồ hôi đã rỏ thành giọt. Nhưng không sờn lòng. Chúng tôi đã gặp khí hậu tương tự ở duyên hải Ethiopia trong khu vực thung lũng Danikil, nơi nóng nhất trái đất, nơi nhiệt độ không khí đến gần bảy mươi độ C, còn người ẩm ướt ngay chỉ sau 5 phút ra khỏi máy bay trực thăng. Ghennady Ivanovitch, rõ ràng quyết định tôi hãy lập tức làm quen với khí hậu nên đề nghị tôi đi xe ô tô cùng về với các đồng chí Việt Nam, còn ông sẽ bay trực thăng về Hà Nội. «Tiện dịp anh hãy xem đường và cầu qua Sông Hồng mà những tên thực dân Mỹ muốn phá hủy bằng bom đạn như thế nào». Tôi không phản đối và cũng muốn gần gũi hơn nữa với trung tướng Trần Văn Quang. Chúng tôi lên ô tô và đi về Hà Nội. Đường ô tô rất hẹp, hai bên đường có những loại cây cành thưa thớt lạ lẫm với tôi. Tôi hỏi đó là cây gì. Người phiên dịch trả lời tôi rằng đó là cây lim.

Chúng tôi đi hơn một tiếng. Tôi rất thích thú quan tâm đến cách nào người dân cấy lúa, bao nhiêu lần người dân thu hoạch mùa trong suốt một năm trời, sau khi nhấn mạnh rằng hao phí lao động của nền văn hóa này không áp dụng cơ giới hóa như ở nước chúng tôi. Khi quan sát các điểm dân cư, quần áo nông dân mặc, tôi rút ra kết luận người nông dân Việt Nam sống không dễ dàng gì, 30 năm liền họ cống hiến tất cả cho cuộc đấu tranh giành tự do. Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực tối đa về tinh thần, chủ nghĩa yêu nước cao cả của nhân dân, sự đoàn kết nhất trí xung quanh Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh va người lãnh đạo của nó là Tổng bí thư UBTU ĐCSVN Lê Duẩn. Sự nghiệp đó đòi hỏi sự động viên toàn bộ khả năng kinh tế của đất nước và tiềm lực quân sự. Người Xô Viết luôn luôn chăm chú dõi theo sự phát triển của những đất nước xã hội chủ nghĩa anh em, biết rõ thành công và khó khăn của họ, cố gắng trợ giúp họ trong sự nghiệp phát triển. Tại Moskva người ta nói nhiều cho tôi biết về sự hợp tác kinh tế đang phát triển mạnh mẽ giữa chúng ta với CHXHCNVN và cả những khó khăn mà tạm thời nhân dân Việt Nam đang chịu đựng. Giờ đây khi quan sát xung quanh, tôi mới hiểu tầm vóc những vấn đề kinh tế đặt ra trước nhân dân Việt Nam. Tự nhiên tôi nói về điều đó với đồng chí Trần Văn Quang. Đó là nhận xét còn quá sớm chưa có được nhận thức đầy đủ về hoàn cảnh đất nước này. Trên đường tới cầu qua Sông Hồng tài xế chốc chốc lại bóp còi cảnh báo vô số người đi xe đạp trên đường. Họ chuyển động trên đường như một dòng chảy dày đặc không ngừng và cần nắm vững một nghệ thuật lớn lao mới điều khiển ô tô tránh được tai nạn giao thông.

......
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 11:46:46 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« Trả lời #5 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2011, 03:29:21 PM »

(tiếp)

Chẳng bao lâu sau chúng tôi đã nhìn thấy cây cầu. Đó là một công trình kim loại cấu trúc bằng các dàn thép nhiều nhịp khác nhau. Trần Văn Quang nói với tôi rằng một nhịp dàn cầu thép đã bị phá hủy bởi máy bay Mỹ, nhưng đã nhanh chóng được phục hồi. Cây cầu xây dựng theo thiết kế của kỹ sư Eiffel nổi tiếng. Ở giữa cây cầu là đường sắt, bên phải và bên trái là làn đường cho xe ô tô, người đi xe đạp và người đi bộ. Sự di chuyển trên cầu diễn ra thành một dòng chảy liên tục theo cả hai hướng, nối liền hai bờ Sông Hồng thành một thể duy nhất. Đôi khi, để đi qua cầu ta phải mất đến gần một giờ, đặc biệt nếu một ô tô nào đó bị hỏng giữa cầu (trường hợp này lại xảy ra không ít) thì khi đó cầu sẽ tắc nghẹt. Nhìn xuống dưới dòng sông đang chảy thấy có những trụ cầu bê tông cốt thép. Tôi hỏi đồng chí Trần Văn Quang, đó là những trụ của cầu nào? Hóa ra với sự giúp đỡ của chúng ta, họ đang xây dựng một cây cầu mới, cho phép nối liền hai bờ sông một cách tin cậy và giảm bớt căng thẳng trong sự lưu thông của các phương tiện vận tải và người đi bộ. Ngồi trên xe vào thành phố, tôi vẫn quan sát thấy cảnh tượng ảnh tương tự của dòng người đi xe đạp liên tục. Có thể cho rằng toàn bộ thành phố đi lại bằng xe đạp. Rất hiếm ô tô trên đường phố.

Chẳng mấy chốc đến khách sạn Ba-Ba. Ba-ba - là tiếng Việt, 33 tức là số khách sạn. Chúng tôi được bố trí ở trong một căn hộ lớn một phòng. Nhưng chúng tôi không phải thất vọng. Trong phòng có điều hòa không khí, nhiệt độ có thể được duy trì cao hơn hoặc thấp hơn bình thường. Xếp đặt chỗ ở tại khách sạn và tắm rửa xong, chúng tôi đi ăn tối. Chiếc bàn ăn sắp xếp được tám người, nhưng chúng tôi hoàn toàn hài lòng. Chúng tôi ăn cùng gia đình sỹ quan tùy tùng, gồm vợ, con gái, và ba người chúng tôi - vợ tôi, cháu gái và tôi. Bàn ăn phủ khăn trắng, phòng ăn có điều hòa không khí. Tình hình bình thường. Người ta phục vụ món Soup, sau đó là món thứ hai và trái cây. Mọi thứ được nấu chín và thơm ngon không khác biệt gì hương vị các món ăn Nga. Chúng tôi cảm thấy hạnh phúc và nhẹ nhõm. Chuối tươi mang đến cho mọi người cảm giác ngon miệng, nhất là với trẻ em.

Đến 16,00 h chúng tôi tới văn phòng, theo thoả thuận với Gennady Ivanovich Obaturov để bàn về công việc sắp đến. Văn phòng của Trưởng cố vấn quân sự đặt tại bốn tòa nhà nhỏ hai tầng. Các tòa nhà không phù hợp cho công việc, được sửa chữa và trang bị kém. Lợi thế duy nhất của chúng là có máy điều hòa không khí, giữ cho bên trong căn nhà ở một nhiệt độ bình thường. Phòng Trưởng cố vấn quân sự trên tầng hai. Trước khi vào phòng là một phòng tiếp tân nhỏ dành cho sỹ quan tùy viên và thông dịch viên, sau đó đến phòng trưởng cố vấn quân sự và buồng vệ sinh. Nói chung, nó cũng hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu của con người. Gennady Ivanovitch trong khi chờ tôi tới đã thảo một kế hoạch kỹ lưỡng để tôi làm quen với tình hình và công việc. Sau khi nói chuyện về kế hoạch làm việc từ 17- 28 tháng 8, chúng tôi chuyển sang bàn cụ thể công việc. Chúng tôi bắt đầu công việc bằng cách nghiên cứu biên chế bộ máy đoàn cố vấn quân sự, đặc điểm trong làm việc và phẩm chất chính trị của các tướng lĩnh và sĩ quan Liên Xô. Chúng tôi mất bốn giờ đồng hồ. Biết khả năng đánh giá khách quan của Gennady Ivanovich về mọi người, tôi chăm chú lắng nghe ông và ghi chú vào nhật ký công tác. Sau đó chúng tôi bước vào nghiên cứu tình hình chính trị và quân sự trong nước và tình hình trên biên giới phía bắc của CHXHCN Việt Nam với Trung Quốc. Phải mất khoảng gần hai giờ đồng hồ nữa.

Trong quãng nghỉ giữa cuộc đàm thoại Gennady Ivanovitch giới thiệu tôi với đoàn cố vấn, đang tập trung trong một lớp học ở một trong những tòa nhà trên. Đến 20 giờ chúng tôi tới Đại sứ quán Liên Xô, nơi Tham tán Ognetov Igor Aleksandrovitch đang chờ đợi chúng tôi cùng với Bí thư Đảng bộ Đại sứ quán Solodovnikov Arkady Aleksandrovitch. Cuộc họp diễn ra thoải mái, chỉ nói về những điều phổ biến nhất mà không đụng chạm những vấn đề lớn. Nói một cách đơn giản là sau một tách trà mọi người đã trở thành quen thuộc với nhau.

Chẳng bao lâu, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại CHXHCN Việt Nam Boris Nikolaevitch Chaplin sẽ trở về từ kỳ nghỉ phép và dường như Ognetov để ngỏ cơ hội đưa tôi hòa vào tiến trình làm việc với ông ấy. Đến 22 giờ chúng tôi tạm biệt và giải tán. Tôi thích tất cả các bạn bè mà tôi vừa được gặp. Đây là những công dân bình thường đang thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở một nước anh em. Gennady Ivanovich muốn tiếp tục làm việc, nhưng tôi nhắc ông rằng trên máy bay tôi chưa kịp ngủ, và vẫn chưa biết gia đình tôi cảm thấy thế nào. "Ồ! Tôi quên mất là anh bay suốt cả đêm". Tôi không giận Gennady Ivanovich, vì biết tính cách (say mê công việc) không ngừng nghỉ của ông.

Trong những ngày tiếp theo, cho đến ngày 22 tháng 8, kể cả thứ Bảy và Chủ Nhật, chúng tôi tiếp tục làm quen với công việc. Tôi dành quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu về nhân sự, đặc biệt là khối sỹ quan, các vấn đề liên quan đến công tác huấn luyện của họ, nghiên cứu tình hình quân đội các nước Đông Nam Á, chúng tôi cũng nghiên cứu các vấn đề liên quan với sự phát triển kế hoạch năm năm của Việt Nam và kế hoạch phát triển của đất nước này trong năm 1982, mà vào thời gian này chưa được phê chuẩn và đòi hỏi sự điều chỉnh rất nghiêm trọng. Chúng tôi nói về vấn đề áp dụng chế độ một thủ trưởng, phát triển các kế hoạch điều động và hành động để cải thiện các hệ thống phòng thủ trên hướng chiến lược phía Bắc, phát triển các chương trình đào tạo cho các trường đại học (quân sự) và quân đội, làm chủ việc điều hành các chương trình đó, phát triển điều lệnh QDND Việt Nam và nhiều vấn đề khác.

Tôi phải nói rằng Gennady Ivanovitch là một bậc thầy hoàn hảo trong việc làm chủ tình hình, nhưng luôn luôn nhấn mạnh sự khó khăn của việc đưa kế hoạch vào cuộc sống. Nhiều vấn đề lớn mà Gennady Ivanovich chưa kịp có thời gian để quyết định, bây giờ đến lượt tôi phải quyết định. Tôi đã phải thuyết phục các đồng chí Việt Nam về sự cần thiết phải áp dụng vào quân đội chế độ một thủ trưởng, phát triển các kế hoạch điều động và hành động, phát triển Điều lệnh 14 điều, về sự cần thiết phải áp dụng luật về hình phạt các quân nhân phạm tội, ban hành quy định về an toàn bay, về việc phân chia chức năng giữa các cố vấn Việt Nam và Liên Xô tại Campuchia, chấn chỉnh việc đào tạo huấn luyện đội ngũ đảm bảo kỹ thuật-bay và v.v... Tất cả những câu hỏi và các vấn đề phải được giải quyết bởi bản thân các đồng chí Việt Nam với sự giúp đỡ của chúng tôi. Tôi nhận ra rằng tất cả những điều này sẽ đòi hỏi cá nhân tôi cùng đoàn cố vấn những nỗ lực vô cùng to lớn.

Gennady Ivanovitch đang lo lắng. Việc giới thiệu tôi ra mắt Bộ trưởng Quốc phòng CHXHCN Việt Nam và là Ủy viên Bộ Chính trị ĐCS Việt Nam đại tướng Văn Tiến Dũng cần được tổ chức trước ngày 22 tháng 8, còn ngày 28 tháng 8 đã thoả thuận cuộc tiếp kiến với Tổng Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng đồng chí Lê Duẩn. Do phiên họp của Ban CH Trung ương Đảng được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh mà Bộ trưởng Quốc phòng CHXHCNVN không thể tiếp Obaturov và tôi, chúng tôi quyết định bay vào thành phố Hồ Chí Minh.

7.00 h ngày 23 tháng Tám năm 1982 chúng tôi bay lên từ sân bay Hà Nôi và lấy hướng về thành phố Hồ Chí Minh. Thời tiết cho phép nhìn thấy miền duyên hải và tôi chăm chú quan sát hình dạng của nó. Sau hai tiếng bốn mươi phút chúng tôi đã ở thành phố Hồ Chí Minh và lập tức lên đường tới tư dinh đồng chí Lê Duẩn. Tư dinh tọa lạc tại ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh. Khí hậu Miền Nam Việt Nam hơi khô và khá dễ chịu đối với con người, nó có khả năng nâng cao sức khỏe cho đồng chí ấy.

Một cách tự nhiên, tôi cũng rất lo âu. Bởi đó không phải cuộc gặp gỡ với một người thường nào đó, mà đây chính là Tổng bí thư BCH Trung ương ĐCS Việt Nam, và là lần đầu tiên. Đồng chí Lê Duẩn tiếp chúng tôi tại hàng hiên ngôi biệt thự, bắt tay và mời chúng tôi ngồi xuống ghế bành quanh một chiếc bàn nhỏ. Phục vụ mang đến nước uống, rót bia đầy những chiếc cốc và rót rượu vang đỏ vào các ly nhỏ. Trên bàn bày các loại trái cây mà phần lớn tôi không quen. Chúng tôi hỏi thăm sức khỏe đồng chí Lê Duẩn. Ông trả lời vẫn bình thường. kế đến ông nói về sự hợp tác giữa hai nước chúng ta, hai đảng  và hai chính quyền trên các lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực kinh tế và quân sự. Khi nói về tình trạng kinh tế của đất nước, ông nhấn mạnh sự cần thiết sử dụng nhiều hơn, hợp lý hơn nữa đất canh tác, bởi vì chỉ tính trong hai tỉnh phương Nam đã có 4 000 000 ha đất thích hợp sản xuất ra lúa gạo và các sản vật khác, mà để hoang chưa ai khai thác sử dụng. Ông nói về sự tham gia yếu kém của cư dân nông nghiệp vào giải pháp thực hiện chương trình lương thực quốc gia. Theo tuyện bố của ông, người nông dân Miền Nam chỉ làm việc cả thẩy 100 ngày trong năm, còn ở Miền Bắc — đến 250-300 ngày.

.......
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2011, 01:19:24 AM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« Trả lời #6 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2011, 01:18:02 AM »

(tiếp)

Ông đề nghị tôi suy nghĩ về viễn cảnh quân đội tham gia giải quyết các vấn đề công nghiệp và sản xuất nông nghiệp. Cuộc nói chuyện hướng tới việc thu hút bộ đội Việt Nam ba tháng 1 lần tham gia thu hoạch mùa màng và giải quyết các nhiệm vụ khác của ngành nông nghiệp. Ông đánh giá cao sự giúp đỡ của Liên Xô trong lĩnh vực hợp tác quân sự và kinh tế. Ông nhiệt liệt cảm ơn đại tướng Оbaturov vì sự tận tụy trong công việc của trưởng cố vấn quân sự, chúc đại tướng chuyến đi may mắn về Tổ quốc, chúc sức khỏe và hạnh phúc. Ghennady Ivanovitch nồng nhiệt cám ơn đồng chí Lê Duẩn dù đang bận rộn công tác đảng và nhà nước vẫn dành thời gian tiếp chúng tôi. Ông chúc đồng chí Lê Duẩn sức khỏe và thành công trong lao động không dễ dàng gì để lãnh đạo đảng và đất nước mình.
 
Tiếp đó tôi cám ơn đồng chí Lê Duẩn vì đồng chí đã tạo cơ hội cho chúng tôi được tiếp kiến. Tôi hứa với ông rằng sẽ không tiếc sức mình trợ giúp QDNDVN, nâng cao khả năng cơ động và sẵn sàng chiến đấu của nó. Đồng chí Lê Duẩn nâng ly rượu vang đề nghị cạn chén chúc sức khỏe chúng tôi. Ông bóc vỏ một loại trái cây nào đó mà lần đầu tôi được thấy rồi đưa mời tôi. Đó là cử chỉ trân trọng đặc biệt và tôi rất cảm ơn nhận từ tay đồng chí. Phải nói rằng cử chỉ ấy đã được tôi ghi nhớ suốt đời.

Sau một tách trà chúng tôi bước lên lầu theo đồng chí Lê Duẩn và đi cùng đồng chí ấy tới các bậc cầu thang của biệt thự. Ông lần lượt ôm lấy chúng tôi và chúc thành công trong công việc. Đến lượt mình chúng tôi một lần nữa chúc ông thật khỏe mạnh và đạt những thành công lớn.  

Trong quá trình trò chuyện tôi nhận thức được sự chân thành, dễ hiểu và sức lôi cuốn của người lãnh đạo ĐCS và đất nước Việt Nam, trí tuệ sáng suốt của ông và khả năng biết đặt và khái quát trong một thời gian ngắn các vấn đề tình hình quốc tế, soi rọi cuộc sống bên trong của đất nước và các vấn đề đặt ra trước đất nước này.

Không đi đến nơi mà người ta phỏng đoán, chúng tôi đi xe ra sân bay. Theo kế hoạch sau một giờ nữa chúng tôi cần thực hiện chuyến đi tới Phnompenh, nơi các đồng chí Xô viết, Việt Nam và Campuchia đang chờ đón chúng tôi. Thời tiết tốt, dưới cánh máy bay thấy rất rõ các đồng lúa được tưới đầy nước. Ghennady Ivanovitch nhận xét rằng những cánh đồng đó mới một năm trước còn bỏ hoang chưa khai thác mấy, nay tất cả diện tích đã hoàn toàn được canh tác. Nghĩa là dân cư bắt đầu quay lại những cánh đồng đó sau khi chế độ diệt chủng Polpot sụp đổ.

Đón chúng tôi tại sân bay có Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Bu Thoong, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Soi Keo, trưởng đoàn cố vấn quân sự QDNDVN đại tá Mai Xuân Tần, thi hành nhiệm vụ cố vấn quân sự cấp cao xô viết đại tá Novozhitskii và cố vấn cho Tổng cục Chính trị (quân đội nhân dân Campuchia) phó trưởng cố vấn quân sự về lĩnh vực chính trị đại tá Smirnov. Từ sân bay chúng tôi đi thẳng về Bộ Tổng tham mưu. Ở đây Bộ trưởng Quốc phòng CHND Campuchia Bu Тhoong và các đồng chí của mình đã chờ chúng tôi.

Ghennady Ivanovitch cám ơn Bộ trưởng Quốc phòng vì sự hợp tác, giới thiệu tôi là Trưởng cố vấn quân sự mới cho QDND Việt Nam. Bu Thoong cám ơn vì sự giúp đỡ mà ông đã thể hiện, chúc Ghennady Ivanovitch trở về Tổ quốc bình an, chúc sức khỏe và hạnh phúc. Sau đó ông nồng nhiệt chào mừng tôi nhân dịp tôi đến đây trên cương vị Trưởng cố vấn quân sự và chúc gặt hái thành công trong công tác.

Sau cuộc gặp tại Bộ Quốc phòng Campuchia chúng tôi đến thăm các đồng chí Việt Nam. Đại tá Mai Xuân Tần tiếp chúng tôi. Cuộc nói chuyện mang nét chung chung. Không thảo luận bất kỳ vấn đề nghiêm túc nào, dù chúng đang tồn tại. Chính tại Campuchia đã tạo nên một số khó khăn trong thỏa thuận phối hợp hoạt động của các cố vấn xô viết và Việt Nam, và cần thảo luận vấn đề phân chia chức năng giữa các có vấn Liên Xô và Việt Nam, đồng thời không phá hủy sự hợp đồng chặt chẽ giữa họ.

Sau đó chúng tôi được Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Campuchia Bastorin Oleg Vladimirovitch tiếp.

Trẻ trung, đĩnh đạc, tác phong thuần thục, thông minh và sắc bén, anh ấy tạo cho tôi ấn tượng tốt. Ghennady Ivanovitch đã nói với tôi về khả năng đa dạng của anh trước khi gặp gỡ đại sứ. Có thể thấy được Ghennady Ivanovitch cư xử với con người này một cách trọng thị. Chúng tôi thảo luận tình hình Campuchia, trao đổi ý kiến với nhau. Nói riêng thì Ghennady Ivanovitch cùng Bastorin Oleg Vladimirovitch trao đổi ý kiến, tôi chỉ lắng nghe.

Tiếp theo là cuộc tiếp tân. Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Bu Thoong phát biểu khi chúc rượu, ông cám ơn sự giúp đỡ và cộng tác của các cố vấn Liên Xô và Việt Nam. Tiếp đến Ghennady Ivanovitch chúc rượu và phát biểu. Tại đó cuộc tiếp tân kết thúc. Trong cuộc chiêu đãi này có thể cảm thấy một sự căng thẳng, âu lo nào đó...

Chuyến bay của chúng tôi đến Lào dự định vào 7.00 h sáng 25.08.1982. Các đồng chí Liên Xô, Việt Nam và Campuchia biết điều này. Tất cả có mặt tại sân bay kịp thời, trừ các bạn Campuchia. Chúng tôi đợi họ 40 phút, nhưng không ai có mặt. Có thể đợi thêm nữa, nhưng người ta cũng đang đợi chúng tôi ở Lào, mà ở đó tất cả cũng đăng ký theo giờ. Chỉ khi máy bay bắt đầu lăn bánh để lấy đà cất cánh, ai đó trong số các bạn Campuchia mới xuất hiện trên sân bay...

..........
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2011, 02:03:41 AM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« Trả lời #7 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2011, 12:31:21 AM »

(tiếp)

Trên sân bay tại Vientiane đón chúng tôi có các đồng chí Lào, đại diện đại sứ quán chúng ta và người đang thực hiện trách nhiệm trưởng cố vấn quân sự cạnh Bộ trưởng Quốc phòng CHDCND Lào đại tá Katsirashvili Amzar Sergheevitch. Từ sân bay chúng tôi đi đến trụ sở bộ quốc phòng. Tại lối vào tòa nhà trụ sở bộ, đại tướng bộ trưởng Khăm-tày Xiphanđon nồng nhiệt đón chúng tôi. Sau đó chúng tôi vào phòng Chủ nhiệm Tổng cục chính trị trung tướng Xiphon và thứ trưởng quốc phòng CHDCND Lào tướng Sổm-sắc. Cuộc nói chuyện diễn ra rất hữu nghị. Bộ trưởng Quốc phòng Lào chân thành cám ơn đại tướng G.I.Оbаturov vì sự cộng tác chặt chẽ, sự giúp đỡ thường xuyên để giải quyết các vấn đề xây dựng QDND Lào.

Mọi người sôi nổi trò chuyện về công việc của các cố vấn quân sự chúng ta, về quan hệ tốt đẹp giữa Bộ chỉ huy QDND Lào, các đồng chí Việt Nam và chúng ta. Ghennady Ivanovitch giới thiệu tôi với lãnh đạo bộ quốc phòng. Sau cuộc tiếp đón nồng ấm chúng tôi được đại sứ Việt Nam tại Lào tiếp, tại đây có mặt cả trưởng cố vấn quân sự QDNDVN đại tá Hòa, người đã chiến đấu 22 năm trên đất nước Lào. Đó là một chiến binh xuất sắc.

Lúc 15.00 h 25.08.1982 chúng tôi bay trở về Việt Nam và 17.40 h đã hạ cánh tại sân bay Hà Nội. Sau khi về Hà Nội. chúng tôi lại nghiên cứu các vấn đề đã nói đến ở trên. Ghennady Ivanovitch phân tích cặn kẽ tình hình công việc hợp tác giữa hai phía.

Ngày hôm sau chúng tôi được mời đến dự cuộc gặp gỡ hồi 8.00 h với bộ trưởng quốc phòng CHXHCNVN đại tướng Văn Tiến Dũng. Đây là cuộc gặp thuần túy công việc. Đồng chí bộ trưởng tổng kết hoạt động của đoàn cố vấn do G.I.Obaturov lãnh đạo và vẽ ra viễn cảnh hợp tác tiếp theo. Tôi hiểu điều đó có chủ ý đặc biệt. Trong bản tổng kết ông sôi nổi nói về hoạt động của đoàn cố vấn, đồng thời nhấn mạnh không phải tất cả các vấn đề đã được giải quyết.

Buổi tối diễn ra cuộc tiếp tân nhân dịp Ghennady Ivanovitch trở về Liên Xô và tôi nhận trách nhiệm thay ông. Trước buổi tiếp tân chúng tôi tập trung tại nhà khách. Người ta cử hành lễ trao tặng Ghennady Ivanovitch các phần thưởng. Ông được trao tặng huân chương «Phục vụ Tổ quốc» hạng 1 và huy chương «Hữu nghị». Tất cả diễn ra rất trọng thể. Đồng chí Văn Tiến Dũng đọc diễn văn rất nồng nhiệt. Đại tướng Obaturov đọc lời đáp từ. Sau đó đến tiệc chiêu đãi tối. Nâng cốc chúc sức khỏe bộ trưởng quốc phòng CHXHCNVN có G.I.Obaturov, các tư lệnh quân binh chủng và tôi.. Mộ việc đều rất ổn. Tại buổi tiệc tối này, tôi và Аlevtiana Vasilevna làm quen với phu nhân của bộ trưởng quốc phòng CHXHCNVN bà Kỳ. Đó là một phụ nữ không còn trẻ, khiêm tốn, nhưng vẫn giữ được nét tươi tắn trên khuôn mặt. Bà tạo được ấn tượng rất tốt. Khi tạm biệt, bộ trưởng quốc phòng CHXHCNVN bày tỏ mong muốn gặp lại tôi bàn công việc. Tôi cám ơn vì cơ hội được định trước. Chúng tôi sẽ thảo luận những vấn đề nào, ông không nói và tôi hiểu rằng chỉ đơn giản là ông muốn tiếp xúc thân tình hơn với tôi.

Ngày 27.08.1982, buổi sáng người ta xếp lịch gặp gỡ Chủ tịch HĐBT CHXHCNVN Phạm Văn Đồng. Chúng tôi đến phủ chủ tịch lúc 10.00 giờ sáng và người ta mời chúng tôi vào gặp gỡ ngay. Trước đó đến nay tôi chưa từng thấy đồng chí Phạm Văn Đồng. Chúng tôi đi vào một gian phòng nhỏ nơi ông tiếp chúng tôi. Đầu tiên Ghennady Ivanovitch báo cáo sau đó ông giới thiệu tôi. Chủ tịch chúc mừng và mời chúng tôi ngồi. Ghennady Ivanovitch bày tỏ sự cám ơn chân thành vì sự quan tâm, sự trợ giúp trong công việc, vì những phần thưởng cao quý, chúc Phạm Văn Đồng sức khỏe tốt và nhiều thành công trong công việc. Trong khi phát biểu, ông giới thiệu tôi và bước đường phục vụ của tôi. Sau đó Phạm Văn Đồng nói. Ông nồng nhiệt ca ngợi sự cộng tác giữa hai đảng, hai đất nước chúng ta trong các lĩnh vực khác nhau, cám ơn Ghennady Ivanovitch vì công việc đã làm, chúc ông sức khỏe dồi dào và nhiều thành công. Ông chào mừng tôi trên cương vị trưởng cố vấn quân sự mới, chúc tôi nhiều thành công trong công tác, dồi dào sức khỏe và may mắn. Tôi nói vài lời sau khi cám ơn chủ tịch đã cho cơ hội được gặp gỡ, hứa không tiếc sức mình hoàn thành nghĩa vụ quốc tế, trách nhiệm đảng viên và trách nhiệm phục vụ của mình. Đồng chí Phạm Văn Đồng đề nghi chuyển tới D.F.Ustinov và chính phủ chúng tôi lời cám ơn và sự hài lòng của họ về công việc mà Ghennady Ivanovitch đã làm.

Buổi tối diễn ra lễ tiếp tân Ghennady Ivanovitch. Tại buổi lễ, đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam B.N.Chaplin phát biểu. Ông nói về sự hợp tác giữa hai đất nước và công việc mà tướng G.I.Obaturov đã hoàn thành.

Ngày hôm sau chúng tôi tiễn Ghennady Ivanovitch về Moskva. Việc bàn giao công việc và cương vị công tác đã diễn ra như vậy đấy. Bây giờ tất cả cần phân tích lại thật sâu, cân nhắc, tập trung suy nghĩ, hoàn thiện kế hoạch công tác, đề ra những chỉnh sửa cần thiết, xuất phát từ những nhiệm vụ đã được miêu tả trong quá trình các cuộc nói chuyện với G.I.Obaturov, với các đồng chí Lào và Việt Nam, và những thông tin tôi đã kịp nắm được trong thời gian ngắn ngủi trên và bắt tay vào thực hiện. Việc xác định chính xác kế hoạch làm việc đến cuối năm 1982 xem ra là một việc rất phức tạp.

Thông tin nhận được là chưa đầy đủ và tôi nhận thấy ngay khi chỉ còn mình đối diện với suy nghĩ của mình. Về mặt hành động điều đó có thể được bổ sung trong quá trình làm việc và nghe báo cáo của cố vấn bên cạnh Bộ Tổng tham mưu QDNDVN trung tướng J.K.Kereev, cố vấn bên cạnh Cục tác chiến thiếu tướng N.F.Shmal, các cố vấn bên cạnh các quân binh chủng, các tư lệnh quân khu, quân đoàn, các học viện và nhà trường quân đội, các tổng cục chính trị và hậu cần QDNDVN.
.....
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười Hai, 2011, 01:44:14 AM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« Trả lời #8 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2011, 01:12:01 PM »

(tiếp)

Để làm điều đó cần vài ngày lao động toát mồ hôi. Trong thời gian nghe báo cáo tôi quan tâm đến các vấn đề liên quan đến số liệu các cụm quân đội Trung quốc và tính chất hoạt động tác chiến của chúng trên hướng chiến lược phía Bắc, các cụm quân đội Việt Nam, đặc điểm phòng thủ và hoạt động phòng ngự của các đơn vị binh chủng hợp thành cũng như các đơn vị khác của QĐNDVN trên hướng này, tình hình quân số và phương tiện trang bị của các lực lượng phòng không và không quân, đặc điểm hoạt động tác chiến, tình trạng trang bị kỹ thuật và vũ khí, tình trạng hậu cần của QĐNDVN, thông tin liên lạc và chỉ huy, trạng thái chính trị-tư tưởng của bộ đội và tình hình kỷ luật quân sự, đặc điểm mối quan hệ giữa các đồng chí Việt Nam và chuyên gia cũng như cố vấn xô viết và v.v.

Hoàn toàn dễ hiểu là trong quá trình lắng nghe tôi đã thấy sáng tỏ nhiều vấn đề khác. Thật khó diễn giải hết nội dung các báo cáo. Tôi chỉ muốn nhận xét rằng về tuyệt đại đa số chúng rất chất lượng và trên một mức độ lớn chúng đã bổ sung cho hiểu biết của tôi bằng rất nhiều số liệu cụ thể và mở rộng cái nhìn vào tình hình hiện nay trong QĐNDVN. Nhưng tôi lo lắng bởi tuyên bố của một số cố vấn và chuyên gia quân sự rằng các đề nghị của chúng tôi không phải lúc nào các đồng chí Việt Nam cũng tiếp thu một cách tự giác và nhiều lúc họ còn gạt bỏ. Điều đó Ghennady Ivanovitch Obaturov cũng từng nói với tôi. Để cho đầy đủ phải nói rằng kế hoạch 5 năm xây dựng QĐNDVN do các cố vấn và chuyên gia quân sự xô viết soạn thảo dưới sự lãnh đạo của đại tướng Ghennady Ivanovitch Obaturov, vẫn chưa được bộ quốc phòng QĐNDVN phê chuẩn dù đã sang năm thứ 2 của kế hoạch trên.

Chúng tôi kiên quyết đề nghị các đồng chí Việt Nam cho áp dụng chế độ một thủ trưởng trong QĐNDVN theo hình mấu của quân đội xô viết chúng ta, nhưng giới lãnh đạo đất nước và lực lượng vũ trang không vội vàng áp dụng nó.

Các đồng chí xô viết còn đề nghị áp dụng đạo luật về xử phạt các quân nhân vi phạm kỷ luật quân sự, nhưng cho đến khi Ghennady Ivanovitch Obaturov ra đi, đạo luật này vẫn chưa được chấp nhận. Chưa được chấp thuận còn có vấn đề phân chia chức trách giữa các cố vấn quân sự xô viết và Việt Nam tại Campuchia và Lào, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ của họ. Và cuối cùng chưa phát triển xong kế hoạch điều động bố trí và hành động tác chiến chiến dịch, cần thiết đối với đất nước và các lực lượng vũ trang của nó.

Vấn đề nằm ở chỗ nào, đâu là nguyên nhân của thái độ như vậy? Cần xem xét kỹ lưỡng. Như thường nói, hiểu việc ấy thật quá ư dễ dàng, sự việc nằm ở chỗ tất cả các vấn đề trên được soạn thảo phát triển mà không có được sự tham gia tích cực của các đồng chí Việt Nam, không tính đến các ý kiến của họ.

Còn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết khác. Khi tính đến Quân đội Chủ lực Chính quy Việt Nam chỉ vừa mới xây dựng, nhiều vấn đề sẽ không thể giải quyết trong thời gian một sớm một chiều như thế được, và điều đó thì ngay cả tôi cũng cần phải hiểu, với tư cách trưởng cố vấn quân sự cũng như toàn thể đoàn cố vấn quân sự của chúng ta.

Tôi biết rằng ban lãnh đạo quân sự Việt Nam, đứng đầu là Ủy viên BCT ĐCSVN bộ trưởng quốc phòng đại tướng Văn Tiến Dũng đã hoàn thành soạn thảo học thuyết quân sự Việt Nam hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam vì độc lập tự do cho đất nước mà gần như không tính đến kinh nghiệm của Thế chiến 2 và kinh nghiệm của Lực lượng Vũ trang Xô Viết trong Chiến tranh vệ quốc Vĩ đại 1941- 1945. Trước tiên do những nguyên nhân lịch sử, tôi không đánh giá vấn đề này và cũng không thể nói chính xác vấn đề nào, mà hoàn cảnh buộc tôi đi đến kết luận cần nhanh chóng nghiên cứu kinh nghiệm lịch sử đấu tranh của nhân dân Việt Nam anh hùng chống bọn xâm lược Trung quốc, Mông Cổ, Pháp, Mỹ và những kẻ thù khác khi cố tình đặt ách nô lệ lên đất nước và nhân dân này.
Đồng thời tôi thấy mình được thông tin không tồi về Trung quốc và đã hình dung chính xác lịch sử, phong tục tập quán của dân tộc họ. Rồi tôi may mắn nhận được từ tay bạn tôi trung tướng Sidorov Aleksandr Gheorghievitch một cuốn sách vô cùng độc đáo của nhà nghiên cứu người Đức Ernst von Hesse-Wartegg “Trung Hoa và người Trung Hoa”.

       

Cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Nga tại Petersbourg năm 1914. Tác giả đã dành ra 25 năm nghiên cứu lịch sử, phong tục tập quán dân tộc, tâm lý và các vấn đề khác của Trung quốc. Ông đã chỉ ra các khía cạnh đa diện trong quá trình thành lập và phát triển của quốc gia Trung Hoa một cách đặc biệt tài tình và có sự tiếp nối lịch sử rất rõ ràng, tiến trình phát triển về kinh tế, văn hóa, khoa học, chế độ xã hội và sự nghiệp quân sự. Ông đã khám phá phong tục tập quán tâm lý của người trung quốc đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, đọc xong công trình này, bạn sẽ tự nói với mình rằng trước đó bạn chưa biết gì hoặc gần như chưa biết thì nay bạn biết về đất nước và dân tộc đó rất nhiều. Tôi dùng từ “tiến trình phát triển” không phải vô tình. Trung quốc là một trong những quốc gia cổ nhất trên thế giới, đã cống hiến cho nhân loại không ít các sáng kiến và phát minh vĩ đại, nhưng trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ ХХ phát triển rất chậm, bởi sự quyến luyến kỳ lạ với việc gìn giữ tất cả những gì thuộc về dân tộc, đã và đang tồn tại, đang dừng lại, đã xác lập ổn định.

Người Trung quốc, theo khẳng định của tác giả, gần như không biết gì đến những thành tựu của các quốc gia châu Âu trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa, công nghiệp cũng như nông nghiệp. Những thành tựu của người trung quốc trong sản xuất tơ lụa, trà và các loại hàng hóa khác thì cả thế giới biết tiếng, chúng nằm ngoài sự cạnh tranh về số lượng và chất lượng, nhưng khi chấu Âu bắt đầu sản xuất ra tơ lụa bằng các máy dệt năng suất cao, người trung quốc vẫn theo phương pháp không có tính cạnh tranh và Trung quốc mất ưu thế trên thị trường châu Âu và các nước khác. Khi hầu hết các nước châu Âu đã dùng kim khâu công nghiệp, người trung quốc vẫn dùng thủ công. Quân đội Trung quốc đến cuối thế kỷ XIX trên quy mô lớn vẫn vũ trang bằng cung tên, giáo mác, đao thương và những vũ khí trung cổ khác và không có khả năng đối phó lại quân đội của các quốc gia tư bản chủ nghĩa, xâm chiếm gần như toàn bộ miền duyên hải đông Trung quốc mà chẳng hề bị trừng phạt.

Tác giả tại trang 31 sách «Trung Hoa và người Trung hoa» đã viết : «Ba trăm năm trước người mãn châu đã tự chứng tỏ ưu thế quân sự : họ đã xâm chiếm thành công quốc gia khổng lồ ở châu Á này và đặt ông tướng của mình lên ngai vàng của triều đại “trung hoa” đã bị lật đổ, — họ thay đổi cái mà đã tự chứng tỏ là một tổ chức quân sự xuất sắc để làm gì cơ chứ? Thật là không sáng suốt việc họ gìn giữ sự sùng kính đấng tối cao gần như cuối cùng này. Họ cần biết rằng giáo mác cung tên của người chiến binh không thể chống cự lại người lính châu Âu, được trang bị những khẩu súng mới nhất; khi đó họ đã trang bị cho quân đội của mình các khẩu súng trường có buồng nạp đạn, các cỗ pháo Krupp, nhưng việc trang bị lại vũ khí phải kéo theo sự thay đổi tương ứng toàn bộ thể chế quân sự của quốc gia, cho đến giờ họ vẫn chưa nghĩ tới, dù cho các cuộc chiến tranh thất bại của họ với người Anh, người Pháp và cuối cùng người Nhật đã có thể dẫn họ tới ý nghĩ này».

......
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười Hai, 2011, 10:13:45 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thành viên
*
Bài viết: 1574


« Trả lời #9 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2011, 11:13:53 PM »

(tiếp)

Độc giả hãy khoan phán xét tôi, nhưng tôi thấy dường như chưa đọc cuốn sách này thật khó hình dung Trung quốc và nhân dân Trung quốc, cũng như chưa đọc sách của Galsworthy «Saga of Forsytes”, chưa thể hiểu Anh quốc và con người của nó, chưa đọc sách của L.N.Tolstoi «Chiến tranh và hòa bình», chưa thể hiểu nước Nga và dân tộc Nga, chưa đọc “Nhà thờ Đức bà Pari” của Victor Hugo, chưa thể hiểu nước Pháp và người Pháp, và v.v. Dĩ nhiên một quyển sách dù nội dung của nó thế nào cũng không thể hoàn toàn trả lời được tất cả các vấn đề mà bạn quan tâm, nhưng nó  hoàn toàn có thể cho ta sự hình dung về đất nước, dân tộc, phong tục, tập quán, tính chất của con người.

Nhưng chúng ta sẽ không đi sâu vấn đề trên nữa và trở lại với các công việc tháng Tám năm 1982. Thời gian trôi nhanh, ngày tháng hao mòn nghiệt ngã, mà các vấn đề chưa giải quyêt vẫn còn nhiều quá. Cần phải trước hết chính xác hóa kế hoạch hành động của các cố vấn quân sự đến cuối năm 1982 và soạn xong kế hoạch cá nhân. Sau khi nghe báo cáo tình hình của các tướng lĩnh và sỹ quan đoàn cố vấn quân sự chúng ta, hoàn cảnh đã được làm sáng tỏ và xuất hiện khả năng bắt tay vào công việc cụ thể.

Trước hết sẽ phải nghiên cứu đặc điểm phòng thủ trên hướng chiến lược phía Bắc, khẳng định về cá nhân tính đúng đắn trong cấu trúc xây dựng của nó: tổ chức hệ thống pháo binh và hỏa lực súng bộ binh, các công trình chướng ngại kỹ thuật, độ tin cậy của việc tổ chức hợp đồng giữa các phân đội và các đơn vị trên toàn bộ chiều sâu phòng thủ.

Khi nghiên cứu hướng chiến lược phía Bắc đòi hỏi không ít hơn 15 ngày làm việc cật lực. Công việc này phức tạp thêm vì trên nhiều đoạn tuyến, hoạt động tác chiến của các phân đội đến cấp tiểu đoàn, từ phía đối phương vẫn chưa chấm dứt. Thời gian còn gấp gáp cả trong việc nghiên cứu tình hình tại Lào và Campuchia, không phải chỉ nghiên cứu trên các báo cáo mà cái chính phải đích thân đến tận nơi xảy ra chiến sự mà quan sát.

Dường như tôi đang cố gắng không nén thời gian và đi nhanh hơn đến các giải pháp cho các vấn đề lớn, nhưng các hoạt động đã quy hoạch trước đây và đề nghị của các đồng chí Việt Nam đã tạo ra những điều chỉnh đáng kể cho các kế hoạch làm việc cá nhân của tôi. Họ muốn nhanh chóng cho tôi được làm quen với những điểm danh thắng của Hà Nội, với vô số di tích của nó, với lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn nhỏ nơi ông đã sống, và thực sự tôi cũng muốn nhìn thấy tất cả mọi thứ một cách nhanh chóng và khắc sâu ấn tượng vào tâm trí của mình.

Để thực hiện chương trình đề xuất của họ, các đồng chí Việt Nam đã quyết định sử dụng những ngày nghỉ cuối tuần khi tôi đang có mặt ở Hà Nội. Khi tham quan các di tích lịch sử, bảo tàng, công viên và các danh thắng của thủ đô, tôi đi cùng một con người nhìn xa trông rộng và cẩn thận là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN đại tướng Chu Huy Mân, người đang thực thi chức trách một sỹ quan chính trị, hiểu biết rất rõ các đối tượng và nói được tiếng Nga.

Nơi đầu tiên mà chúng tôi thăm viếng — đó là vào ngày 29 tháng Tám năm 1982 chúng tôi thăm lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi để lại cho tôi ấn tượng lớn. Các kỹ sư xô viết xây dựng nó có tính đến kinh nghiệm khai thác lăng V.I.Lenin ở Moskva và những thành tựu khoa học mới nhất. Các chuyên gia xô viết và Việt Nam bảo trì lăng Hồ Chủ tịch rất thành công. Một ngày khác chúng tôi thăm ngôi nhà sàn nơi Hồ Chủ tịch làm việc. Ngôi nhà nằm trong một công viên bên cạnh có một cái ao nhỏ có nhiều cá. Bên cầu ao có một đĩa sứ đặc biệt đựng những hạt ngô hấp để nuôi loài thủy sinh trong ao. Những chú cá rắn chắc khi nhận ra con người, liền bơi đến gần cầu ao và không hề sợ hãi, ngóc đầu lên chờ được cho ăn. Chúng hoàn toàn không sợ sự có mặt của con người và gần như đớp lấy thức ăn trong tay người.

Tại CHXHCNVN trong thực tế người ta sử dụng rất phổ biến các ao hồ nhỏ tại mỗi ngôi nhà, nơi có điều kiện cho phép, đặc biệt ở vùng nông thôn địa phương hoặc ngoại ô thành phố. Xây dựng nơi chứa nước là việc không quá phức tạp. Lớp đất sét đặc chắc không thấm nước ở chiều sâu 50-100 см và các ao hồ chứa nước đó sau khi xây dựng có thể dễ dàng chứa đầy nước mưa và thường xuyên được bổ sung thêm bằng các trận mưa có số lượng khá lớn. Trong các ao hồ này luôn luôn có cá và chúng bổ sung cho khẩu phần ăn nghèo nàn của người Việt Nam.

Sau khi ngắm bầy cá, chúng tôi đi vào ngôi nhà sàn nhỏ. Nó ở cách ao vài chục mét. Chúng tôi bước lên hàng hiên trống vươn trên mặt đất giữa các cây cối, vào một phòng chờ nhỏ, thăm các phòng ăn và phòng làm việc. Phòng ngủ, bố trí trên tầng 2 thì chúng tôi không vào. Ngôi nhà sàn nhỏ này cực kỳ khiêm tốn nhưng tiện nghi, được dùng để làm việc và nghỉ ngơi. Người đi kèm hướng dẫn cuộc tham quan của chúng tôi đã thuyết minh rất hay về các đặc điểm trong cuộc sống và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch, nhưng ngay cả không cần bình luận ta cũng có thể thấy rõ sự cực kỳ khiêm tốn của người lãnh tụ của nhân dân Việt Nam.

Trong khi đó, việc đi sâu trên cương vị của tôi đã bắt đầu với một công việc rất cụ thể và nghiêm túc – việc chuẩn bị cuộc tập trận tham mưu-chỉ huy với quân đoàn 1 đã bắt đầu. Nó được dự định là một cuộc diễn tập quân sự theo đề tài "Tiến hành chiến đấu phòng ngự đẩy lùi lực lượng vượt trội của đối phương và chuyển sang phản công". Một người hăng hái ủng hộ cuộc tập trận quy mô lớn như vậy là trung tướng Kereev Jansen Kereevitch, cố vấn của chúng tôi bên cạnh Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN thượng tướng Lê Trọng Tấn. Phó Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN trung tướng Lê Ngọc Hiền hoàn toàn chống lại quy mô cuộc tập trận này. Tổng tham mưu trưởng thượng tướng Lê Trọng Tấn không trực tiếp tham gia vào các cuộc tranh luận khi thảo luận về chủ đề diễn tập, nhưng về tổng thể rõ ràng ông ủng hộ ý kiến của người Phó thứ nhất của mình, người đã tốt nghiệp Học viện Bộ TTMQĐ Liên Xô và có khá đủ kinh nghiệm chiến đấu.

Trung tướng Lê Ngọc Hiền giải thích quan điểm của mình rằng trong QĐNDVN không có các đơn vị cấp tập đoàn quân, và đặc biệt là trong hướng chiến lược phía Bắc do sự phức tạp đặc biệt của địa hình, nên không cần thiết, rằng tổ chức đơn vị thích hợp nhất là cấp quân đoàn. Mặt khác khi lập kế hoạch các chiến dịch phòng thủ tập đoàn quân và chuyển sang tấn công, các đồng chí Việt Nam không muốn làm kế hoạch cho giai đoạn tấn công vào lãnh thổ nước ngoài, ngay cả dù chỉ trên bản đồ.

............
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Mười Hai, 2011, 12:48:42 AM gửi bởi qtdc » Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM