Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Năm, 2012, 06:27:24 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số kiến thức cơ bản ban đầu về tàu ngầm  (Đọc 8732 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #20 vào lúc: 16 Tháng Một, 2012, 06:02:51 PM »

7. Kiến thức căn bản về tính nổi và tính ổn định của tàu ngầm
   
Bộ môn lí thuyết tàu ngầm (Теория подводной лодки) nghiên cứu về các tính năng hàng hải của tàu ngầm. Nó xem xét các qui luật chi phối của các tính năng này và qua đó xây dựng các phương pháp nhằm xác định các tiêu chí đánh giá chúng. Việc nắm vững các qui luật chi phối tính năng hàng hải của tàu ngầm cho phép dự liệu hành vi của chỉ huy tàu ngầm trong các tình huống khác nhau và kịp thời đưa ra các biện pháp phòng ngừa được sự cố hay thậm chí là thảm họa trong 1 số trường hợp. 


Các tính năng hàng hải của tàu ngầm gồm:
- Tính nổi (Плавучесть)
- Tính ổn định (Остойчивость)
- Tính chống chìm khi nổi (Надводная непотопляемость)
- Tính chống chìm khi lặn ngầm (Подводная непотопляемость)
- Tính động lực (Ходкость)
- Tính điều khiển (Управляемость)
- Tính lắc (Поведение на качке)

Chuyên đề lí thuyết nghiên cứu về trạng thái cân bằng tĩnh của tàu ngầm trong tư thế nổi được gọi là Tĩnh học tàu ngầm (Статика подводной лодки): 3 mục đầu tiên trong số các tính năng hàng hải của tàu ngầm.

Chuyên đề lí thuyết nghiên cứu các tính năng hàng hải đi kèm với sự di chuyển của tàu ngầm (các mục còn lại) được gọi là Động học tàu ngầm (Динамика подводной лодки). 

(hết phần 7)
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Một, 2012, 11:58:32 PM »

8. Các điều kiện và phương trình cân bằng của tàu ngầm
 
Tính nổi là khả năng nổi ở vị trí cân bằng của tàu ngầm mà không phụ thuộc vào việc chìm 1 phần hay toàn bộ trong nước. Tính nổi là tính năng cơ bản và quan trọng nhất trong số các tính năng hàng hải của tàu ngầm.

Khi nghiên cứu tính nổi (cũng như tính ổn định và tính chống chìm khi nổi), người ta chỉ xem xét trạng thái cân bằng tĩnh của tàu ngầm khi ở bất động dưới nước. Việc xác định vị trí các cấu phần của tàu ngầm trong không gian 3 chiều và các điểm chịu tác động của các lực lên các cấu phần đó được thực hiện trong hệ toạ độ vuông góc Oxyz do 3 mặt phẳng vuông góc giao cắt với nhau tạo thành gồm: mặt phẳng dọc tâm, mặt phẳng giữa tàu và mặt phẳng cơ bản.

Hệ toạ độ cơ bản của tàu ngầm

Mặt phẳng dọc tâm (Диаметральная плоскость) là mặt phẳng thẳng đứng đi qua trục đối xứng của tàu ngầm. Mặt phẳng dọc tâm do vậy còn được gọi là mặt phẳng xuyên tâm hay mặt phẳng đối xứng của tàu ngầm.  

Mặt phẳng giữa tàu (Плоскость мидель-шпангоута) là mặt phẳng ngang đi qua điểm giữa chiều dài phần vỏ kín nước của tàu ngầm (thường ở khoảng giữa nhóm các két dằn chính phía mũi và lái tàu) và vuông góc với mặt phẳng dọc tâm.

Mặt phẳng cơ bản (Основная плоскость) là mặt phẳng thẳng đứng vuông góc với các mặt phẳng dọc tâm, mặt phẳng giữa tàu và đi qua điểm thấp nhất của vỏ bao lí thuyết (теоретическая поверхность), tức là mặt trong lớp tôn vỏ thân tàu ngầm.

Đường giao cắt giữa mặt phẳng dọc tâm với mặt phẳng cơ bản được gọi là trục Ox, với chiều dương theo hướng mũi tàu ngầm; đường giao cắt giữa mặt phẳng giữa tàu với mặt phẳng cơ bản được gọi là trục Oy, với chiều dương tính theo mạn phải tàu; đường giao cắt giữa mặt phẳng giữa tàu với mặt phẳng dọc tâm được gọi là trục Oz, với chiều dương tính theo phần boong thượng tầng. Như vậy, mặt phẳng dọc tâm được gọi là mặt phẳng xOz, mặt phẳng giữa tàu được gọi là mặt phẳng yOz, mặt phẳng cơ bản được gọi là mặt phẳng xOy, còn vị trí của các điểm bất kì trên tàu ngầm sẽ được xác định trong hệ 3 toạ độ: x, y và z.      

Theo chiều dương của các trục toạ độ, ta xác định được dấu của góc và mô men nghiêng hay chúi của tàu ngầm. Các góc dương có nghĩa tàu ngầm đang ngóc mũi trồi lên và nghiêng mạn sang phải, đồng thời có mô men trồi lên phía mũi và mô men nghiêng ở bên mạn phải.  

(còn nữa)
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Một, 2012, 07:17:07 PM gửi bởi huyphongssi » Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #22 vào lúc: 26 Tháng Một, 2012, 04:58:32 PM »

8. Các điều kiện và phương trình cân bằng của tàu ngầm (tiếp)
 
Có 2 nhóm lực tác động tới tính nổi của tàu ngầm khi ở bất động dưới nước:

- Nhóm lực trọng trường (theo khối lượng)
- Nhóm lực bề mặt của áp lực thuỷ tĩnh

Nhóm lực trọng trường của mỗi cấu phần của tàu ngầm và tải mang trên cấu phần đó góp phần vào hợp lực P - lực trọng trường tàu ngầm (như minh hoạ trên hình). Lực trọng trường luôn có phương hướng thẳng xuống dưới và khiến cho tàu ngầm chìm xuống. Điểm chịu tác động của lực này nằm ở trọng tâm của tàu ngầm như được kí hiệu chữ G trong hình. Muốn tàu ngầm duy trì tư thế nổi xuôi (không bị nghiêng) thì trọng tâm của tàu phải luôn nằm trên mặt phẳng dọc tâm. Trọng tâm của tàu ngầm sẽ bị dịch chuyển sang vị trí mới rồi lại được bù hụt cùng với chuyển động của tàu ngầm. Khi tàu ngầm bị nghiêng nhưng không dịch chuyển, thì trọng tâm của tàu vẫn được giữ nguyên và vị trí của nó sẽ không thay đổi trong hệ toạ độ tham chiếu.  

Các lực tác động lên thân tàu ngầm trong tư thế nổi và lặn ngầm (hình dưới)


Áp lực thuỷ tĩnh tác động lên phần thân chìm của tàu ngầm với phương vuông góc với bề mặt vỏ tàu và cường độ tương ứng với độ sâu phần chìm. Hợp lực của nhóm lực này có phương hướng thẳng lên trên và có cường độ tương ứng với khối lượng nước trong thể tích bị phần chìm của tàu chiếm chỗ. Hợp lực của áp lực thuỷ tĩnh lên phần thân chìm của tàu ngầm được gọi là yV, trong đó V là thể tích phần thân chìm của tàu ngầm và có đơn vị là m3; y là khối lượng riêng của nước và có đơn vị là tc/m3. Dưới sự tác động của hợp lực yV, tàu ngầm sẽ nổi lên, vì thế mà nó được gọi là lực đẩy nổi (сила плавучести) hay lực hỗ trợ (сила поддержания). Điểm chịu tác động của lực đẩy nổi là trọng tâm thể tích phần thân chìm của tàu ngầm và được gọi là tâm nổi (центр величины), viết tắt là chữ C. Vị trí của tâm nổi phụ thuộc vào kích cỡ và hình dáng phần thân chìm của tàu ngầm. Khi tàu ở tư thế xuôi, tâm nổi của tàu ngầm được đặt trên mặt phẳng dọc tâm, còn khi tàu nghiêng thì tâm nổi dịch chuyển trên mặt phẳng nghiêng theo hướng nghiêng của phần thân chìm.

Trọng tâm và tâm nổi của tàu ngầm được xác định trong hệ toạ độ vuông góc Oxyz: toạ độ của trọng tâm Gxg, ygzg, còn toạ độ tâm nổi Cxc, yczc. Trọng tâm của tàu ngầm khi hải hành luôn ở vị trí cao hơn tâm nổi (zg>zc), còn khi lặn ngầm thì vị trí trọng tâm luôn nằm dưới vị trí tâm nổi (zg<zc).      

(còn nữa)
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Một, 2012, 07:19:15 PM gửi bởi huyphongssi » Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #23 vào lúc: 27 Tháng Một, 2012, 09:42:21 PM »

8. Các điều kiện và phương trình cân bằng của tàu ngầm (tiếp)
 
Thể tích V của phần thân chìm được gọi là thể tích choán nước (объемное водоизмещение) của tàu ngầm và có đơn vị là m3. Khối lượng nước trong thể tích phần thân chìm D=yV được gọi là khối lượng choán nước (массовое водоизмещение) của tàu ngầm và có đơn vị đo là tấn lực tf (тонна-сила = тс).

Biết được khối lượng, thể tích choán nước, toạ độ trọng tâm và tâm nổi của tàu ngầm, ta có thể giải được các bài toán liên quan tới tính nổi, tính ổn định và tính chống chìm khi lặn của tàu ngầm.

Tàu ngầm sẽ đạt trạng thái cân bằng khi các lực tác động lên nó là PyV tương đương nhau cả về cường độ và phương tác động của lực trên cùng 1 trục thẳng đứng. Vì thế, trạng thái cân bằng của tàu ngầm được xác định theo 2 điều kiện sau:

- Lực đẩy nổi phải tương ứng với khối lượng của tàu ngầm
- Trọng tâm và tâm nổi của tàu ngầm phải ở trên cùng 1 trục thẳng đứng.   

Sự cân bằng tính nổi của tàu ngầm với góc nghiêng (trên) và góc chúi (dưới)



Các điều kiện nêu trên áp dụng cho cả tàu ngầm đang nổi cũng như đang lặn ngầm. 

Điều kiện cân bằng đầu tiên dùng cho trạng thái nổi bất kì so với mặt biển của tàu ngầm được thể hiện qua phương trình duy nhất gọi là phương trình cơ sở của tính nổi:
P = yV

Điều kiện cân bằng thứ hai dùng cho trạng thái nổi phổ quát của tàu ngầm được thể hiện qua cặp phương trình:
xc - xg = (zg - zc) tgφ     
yc – yg = (zg - zc) tgθ

Cặp phương trình vừa nêu được thể hiện như trong cặp đồ thị minh họa ở trên.

(còn nữa)
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #24 vào lúc: 29 Tháng Một, 2012, 09:21:14 PM »

8. Các điều kiện và phương trình cân bằng của tàu ngầm (tiếp)

Trong một số trường hợp đặc thù, phương trình của các điều kiện cân bằng thứ 2 có thể được viết như sau:

- Khi giữ cho tàu ngầm nổi xuôi và sống tàu cân bằng (φ = 0; θ = 0)   
xc = xg
yc = yg = 0


- Khi giữ cho tàu ngầm nổi xuôi nhưng có ngóc mũi (φ = 0; θ ≠ 0)
xc - xg = (zg - zc) tgφ
yc = yg = 0


- Khi giữ cho sống tàu ngầm cân bằng nhưng có nghiêng mạn (φ = 0; θ ≠ 0)
xc = xg
yc – yg = (zg - zc) tgθ


Do trọng tâm của tàu ngầm trong tư thế lặn ngầm nằm thấp hơn tâm nổi (zg < zc), nên các phương trình cân bằng dùng cho tàu ngầm trong tư thế lặn ngầm được viết như sau:
xg - xc = (zc - zg) tgφ
yg - yc = (zc - zg) tgθ


Nếu vi phạm điều kiện cân bằng thứ 2, thì tàu ngầm sẽ bị nghiêng chúi khiến trọng tâm và tâm nổi của nó không còn nằm trên cùng 1 trục thẳng đứng nữa.


Muốn tàu ngầm khi hải hành không bị chúi thì cần bảo đảm sự cân bằng hoành độ của trọng tâm và tâm nổi của nó qua việc sắp xếp tải mang theo dọc chiều dài thân tàu 1 cách phù hợp. Muốn tàu ngầm không lệch mạn thì cần phải bố trí tải mang theo cân đối qua mặt phẳng dọc tâm và khi lặn ngầm phải cho vào nước các két dằn chính 1 cách đồng bộ.

Các điều kiện và phương trình cân bằng được ứng dụng để giải các bài toán liên quan tới trạng thái cân bằng của tàu ngầm và các vấn đề liên quan tới tải mang theo. Với phương trình cơ sở của tính nổi, việc tính toán khối lượng của tàu ngầm bằng cách cân nó gần như là không thể. Muốn xác định khối lượng của tàu ngầm thì chỉ cần làm rõ lực đẩy nổi P của nó tương ứng với thể tích choán nước V và khối lượng choán nước y là đủ.   

(hết phần 8)
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #25 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2012, 08:26:40 PM »

9. Dự trữ nổi của tàu ngầm
 
Một trong những đặc trưng cơ bản của tính nổi tàu ngầm là dự trữ nổi. Dự trữ nổi (Запас плавучести) là toàn bộ phần thể tích kín nước của tàu ngầm W nằm phía trên đường nước, bao gồm phần thể tích phía trong lớp vỏ áp lực, thể tích buồng áp lực trên tháp chỉ huy, thể tích các két dằn chính và các két phụ khác nằm bên trên đường nước. Các phần thể tích không kín nước trên thân tàu như tháp chỉ huy (ограждение рубки), phần thượng tầng (надстройка) và phần chóp mũi (носовая оконечность), phần chóp lái (кормовая оконечность) không thuộc dự trữ nổi của tàu ngầm.     

Sơ đồ mặt cắt tàu ngầm 2 lớp vỏ (liveinternet.ru)
1 - lớp vỏ áp lực (прочный корпус); 2 - lớp vỏ nhẹ (лёгкий корпус); 3 - buồng áp lực trên tháp chỉ huy (прочная рубка); 4 – tháp chỉ huy (верхний стрингер ЛК)

Các thể tích thuộc dự trữ nổi (phần tô các màu không phải màu xám) và không thuộc dự trữ nổi (phần tô màu xám) trong tàu ngầm

Dự trữ nổi thay đổi theo mức độ thay đổi trạng thái nổi của tàu ngầm và bằng 0 khi tàu ngầm lặn hoàn toàn dưới nước. Do đó dự trữ nổi quyết định mức tải mang theo cần phải đáp ứng cho tàu ngầm trước khi nó lặn xuống.

Dự trữ nổi của tàu ngầm

Vì tàu ngầm chuyển từ trạng thái đi nổi sang trạng thái lặn ngầm qua việc cho vào nước hệ thống két dằn chính, nên dự trữ nổi trong trạng thái đi nổi của tàu phải bằng thể tích của hệ thống két dằn chính. Nếu thể tích hệ thống két dằn chính này không tương ứng với dự trữ nổi, thì tàu ngầm chỉ có thể lặn được khi thể tích các két dằn chính nhỏ hơn dự trữ nổi (Vцгб <W), hoặc chỉ ngoi được lên sau khi lặn khi có dư nổi âm (Vцгб >W)

(còn nữa)
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #26 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2012, 09:21:30 PM »

9. Dự trữ nổi của tàu ngầm
 
Để bảo đảm cho quá trình lặn xuống của tàu ngầm không bị nghiêng chúi, thì tâm nổi của các phần thể tích kín nước phải ở phía trên đường nước hành trình (dự trữ nổi), còn tâm nổi của phần thể tích cụm két dằn chính phải nằm trên cùng 1 trục thẳng đứng theo cặp phương trình: хWкр= хцгбуWкр= уцгб= 0   

Đường nước hành trình được tô màu đen (shipslib.com)

Phần thể tích của cụm két dằn chính nằm ở trên đường nước trong cùng thời điểm vừa phục vụ như 1 phần của dự trữ nổi, vừa thực hiện chức năng thành phần của cụm két dằn chính, được gọi là Dự trữ nổi thụ động (Пассивный запас плавучести). Dự trữ nổi dù không tác động tới độ ngập mớn trong tư thế nổi chờ lặn ngay của tàu ngầm cũng như xét về khía cạnh nào đó tới số đo thể tích của cụm két dằn chính của tàu, nhưng nó lại có ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm tính ổn định và tính chống chìm của tàu ngầm.     

Dự trữ nổi cân bằng sự khác nhau giữa lượng choán nước khi nổi với lượng choán nước khi lặn ngầm của tàu ngầm theo phương trình W = Vп – V, trong đó Vп là lượng choán nước khi lặn ngầm (thể tích thân trong vỏ kín nước của tàu ngầm) tính theo m3, V là lượng choán nước khi nổi theo đường nước thiết kế (thể tích thân chìm dưới mặt nước) tính theo m3.

Dự trữ nổi cũng có thể được thể hiện theo đơn vị tấn lực tf: yW = yVn – yV; hay theo tỉ lệ lượng choán nước khi nổi (chủ yếu trong tư thế nổi chờ lặn ngay) Vкр:


(còn nữa)
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #27 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2012, 09:36:21 PM »

9. Dự trữ nổi của tàu ngầm
 
Dự trữ nổi là 1 trong các yếu tố chủ chốt bảo đảm tính chống chìm và tính năng hàng hải trong tư thế nổi của tàu ngầm. Việc tăng cường dự trữ nổi là nhằm cải thiện những tính năng này của tàu ngầm. Muốn tàu ngầm duy trì được khả năng nổi khi bị ngập nước 1 trong các khoang của phần vỏ áp lực và cả 2 két dằn chính ở 2 bên mạn của khoang này, thì theo qui phạm về tính chống chìm của tàu ngầm, hệ số dự trữ nổi tối thiểu phải đạt từ 25% tới 30% lượng choán nước khi nổi theo đường nước thiết kế của tàu ngầm. Thế nhưng việc tăng dự trữ nổi tới giới hạn nêu trên là không khả thi vì nó làm tăng kích cỡ của tàu ngầm, dẫn tới suy giảm các tính năng điều động và tính ăn lái khi lặn ngầm, đồng thời gia tăng thời gian lặn xuống khẩn cấp của tàu ngầm.  

Mô hình phân khoang tàu ngầm điện điêzen Đề án 641B của Liên xô (spox.ru)

Việc xác định hệ số dự trữ nổi đóng một vai trò đáng kể trong việc bố trí hợp lí phần thân vỏ áp lực của tàu ngầm thành các khoang được ngăn cách với nhau bằng các vách ngăn kín nước. Hệ số dự trữ nổi của các khoang trong phần vỏ áp lực càng lớn thì tính chống chìm của tàu ngầm càng cao. Một ý nghĩa quan trọng nữa của dự trữ nổi là nó giúp phân bố hợp lí các khoang của vỏ áp lực cùng các két dằn chính dọc theo chiều dài thân tàu. Cách hợp lí nhất là bố trí các khoang có thể tích lớn ở phần thân giữa tàu ngầm rồi kế đến là các khoang có thể tích giảm dần về phía mũi và lái tàu. Khi phân bố dự trữ nổi, phương án phù hợp nhất là dồn chúng về phía mũi và lái tàu. Mục đích của việc bảo đảm sự phân bố hợp lí các khoang trong vỏ áp lực và các két dằn chính của tàu ngầm là nhằm giữ nguyên mức độ chống chìm trong khi thu nhỏ hệ số dự trữ nổi của nó.

(hết phần 9)
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #28 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 12:05:37 AM »

10. Sức nổi dư của tàu ngầm
 
Phương trình cơ bản về tính nổi của tàu ngầm khi nổi trên mặt nước luôn được duy trì khi có bất kì sự biến đổi nào liên quan tới tải mang theo và mật độ nước. Vì thế sự gia tăng trọng lượng của tàu ngầm P sẽ dẫn tới việc tăng mức mớn nước và thể tích phần thân chìm của tàu tới 1 điểm đáp ứng được tính cân bằng của phương trình P = yV. Khi giảm trọng lượng của tàu xuống 1 mức nào đó sẽ đưa tới việc giảm lực đẩy nổi tác động tới tàu ở 1 mức tương ứng cùng với việc giảm mức mớn nước và thể tích phần thân chìm của tàu. Sự thay đổi mật độ nước khi giữ trọng lượng tàu không đổi cũng làm thay đổi mức mớn nước và thể tích phần thân chìm sao cho lực đẩy nổi cân bằng với trọng lượng của tàu ngầm. Do vậy, khi tàu ngầm nổi trên mặt nước, phương trình cơ bản về tính nổi sẽ bị phần thân vỏ nổi trên mặt nước của tàu ngầm chi phối, qua đó việc tăng hay giảm thể tích phần thân chìm sẽ khiến lực đẩy nổi tăng giảm tương ứng.  

Các lực thuỷ động và thuỷ tĩnh tác động tới tàu ngầm khi chuyển động trong tư thế lặn ngầm (flot.com)

Khi lặn ngầm, việc thiếu phần thân nổi của tàu ngầm khiến quá trình cân bằng tự động phương trình P = yV hầu như không thể đạt được do các biến số của nó biến đổi theo các hàm khác nhau. Vì thế mà trong khi lặn ngầm luôn tồn tại một sức nổi dư được cấu thành từ sự chênh lệch giữa lực đẩy nổi với trọng lượng của tàu ngầm theo đẳng thức sau: q = yVп – Pп

Trong đó, yVп là lực đẩy nổi trong tư thế lặn ngầm do thể tích phần vỏ kín nước đã tính cả thể tích các két dằn chính của tàu và có đơn vị đo là tấn lực tf;

Pп là trọng lượng của tàu ngầm đã tính cả trọng lượng nước trong các két dằn chính và có đơn vị đo là tấn lực tf.

Sức nổi dư có thể là dương khi yVп > Pп hay âm khi yVп < Pп, và trong cả 2 trường hợp vừa nêu nó đều làm mất tính cân bằng tĩnh của tàu ngầm. Khi tàu ngầm chuyển động ở tốc độ phù hợp, sức nổi dư sẽ quay về trạng thái cân bằng nhờ sự tác động của các lực thuỷ động lên vỏ và các cánh lái của tàu ngầm. Khi tàu ngầm ngừng chuyển động hoặc chuyển động ở tốc độ thấp lúc đang lặn ngầm, thì sự xuất hiện của sức nổi dư sẽ gây trở ngại cho việc điều động tàu. Bởi thế cần phải nắm rõ các nguyên nhân chính làm xuất hiện sức nổi dư để từ đó kịp thời cắt giảm nó.    

(còn nữa)
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1070



« Trả lời #29 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 12:55:00 AM »

10. Sức nổi dư của tàu ngầm (tiếp)
 
Việc xuất hiện sức nổi dư là do sự thay đổi ở trọng lượng tàu ngầm Pп, thể tích choán nước Vп và mật độ nước y.

Các nguyên nhân thường gặp nhất làm thay đổi trọng lượng của tàu ngầm gồm:
- Do tiêu thụ lượng nhiên liệu, vật tư tiêu hao
- Do tiếp nhận nước ngọt hoặc nước cấp cho quá trình vận hành nồi hơi của tàu ngầm nguyên tử
- Do nước biển tràn vào các khoang của tàu ngầm khi hệ thống tiêu dẫn nước biển ngoại khoang bị hỏng hoặc trong trường hợp tàu gặp tai nạn
- Do hình thành bọt nước trong các két dằn chính khi hệ thống cấp khí nén bị rò rỉ

Trọng lượng của tàu ngầm có thể biến động do sự thay đổi trọng lượng nước trong các két dằn chính khi có sự thay đổi của mật độ nước biển.

Các công việc cần thực hiện nhằm duy trì trọng lượng tàu ngầm ổn định gồm:
- Bù lượng nhiên liệu và vật tư tiêu hao đã tiêu thụ bằng việc cho nước biển vào các két dằn phụ và két chuyên dụng
- Thường xuyên giám sát tình trạng các khoang trong lớp vỏ áp lực và các hệ thống ngoại khoang, hệ thống tiêu nước trong hầm la canh của tàu
- Định kì xả van thông khí của các két dằn chính để loại trừ lớp bọt khí lưu cữu bên trong

Tiếp tế khẩn cấp trên biển cho tàu ngầm điện điêzen hạng trung Đề án 613 của Liên xô (warships.ru)

Thể tích choán nước của tàu ngầm có thể biến động  theo nhiệt độ và áp suất nước biển. Một điều cần lưu ý là sự biến dạng nhiệt của phần vỏ tàu thường không đáng kể và thể tích choán nước của tàu chỉ biến động lớn do tác động của áp suất nước biển khi tàu lặn xuống độ sâu lớn. Tuy nhiên cũng cần tính tới sự xuất hiện của sức dư nổi âm do vỏ tàu bị áp suất lớp nước dưới sâu ép lại trong quá trình tàu lặn xuống và hiện tượng ngược lại là sức dư nổi dương trong quá trình tàu ngoi lên.

Sự thay đổi mật độ nước là do những biến động về nhiệt độ, độ mặn và áp suất của nước biển. Tác động của áp suất tới mật độ nước là không đáng kể, theo đó cứ xuống sâu thêm 10 mét nước thì trọng lượng nước tăng ở mức trung bình bằng 0,00005 tấn lực/m3. Do vậy xét ở khía cạnh mở nhất thì mật độ nước do nhiệt độ và độ mặn của nó quyết định.

(còn nữa)
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM