(Nguồn: flot.com, podlodka.info và một số nguồn khác)
Đề nghị: - do khối lượng tài liệu chuyên môn cũng không nhỏ, các bác và các bạn có hứng thú với đề tài hãy tham gia biên dịch cùng tôi và bạn huyphongssi cho tốc độ post nhanh hơn và chất lượng tốt hơn.
- theo ý kiến trao đổi với bạn huyphongssi, tôi post trước đề cương và lời tựa.
- nguồn chính yếu từ tập bài viết trên forum "Hạm đội tàu ngầm Nga" của tác giả Aleksandr Korol tại
đây.
- các bác và các bạn nhất là những người có kiến thức và kinh nghiệm về vấn đề này hãy cho ý kiến đóng góp trước khi post vào phần nội dung.
Đào tạo thủy thủ tàu ngầm, thợ lặn và hoa tiêu tàu ngầm
Mục lục:
• Thiên văn học
• Đấu tranh sinh tồn trên tàu ngầm
• Cơ sở lý thuyết của tàu ngầm
• Cơ động (Bàn đạc Sh-26B)
• Phân tích và xử lý toán học các thông tin đạo hàng
• Đạo hàng và bản đồ hoa tiêu
• Tổ chức công tác lặn
• Tổ chức quản lý tàu
• Các khái niệm cơ bản về điều khiển tàu ngầm
• Đạo hàng thực hành
• Bệnh nghề nghiệp của thủy thủ tàu ngầm và thợ lặn
• Chiến thuật Hải quân
• Phương tiện kỹ thuật đạo hàng của tàu ngầm
• Những sự cố tại hạm đội Hải quân
Phần dự định trình bày trước sẽ là
Cơ sở lý thuyết của tàu ngầmMục lục:
1. Tính không chìm của tàu ngầm
2. Tính không chìm trong tư thế nổi và độ ổn định theo phương trục dọc của tàu ngầm
3. Xác định trạng thái khẩn cấp của tàu ngầm khi đấu tranh sinh tồn trong tư thế nổi của tàu ngầm
4. Tập hợp các tài liệu hướng dẫn hành động trên tàu về tính không chìm trong tư thế nổi và sử dụng nó trong trường hợp khẩn cấp
5. Các cơ sở lý thuyết về tính không chìm của tàu ngầm
6. Tính hiệu quả trong sử dụng các phương tiện đấu tranh cho tính không chìm của tàu ngầm
7. Những kiến thức cơ bản về tính nổi và tính ổn định của tàu ngầm
8. Điều kiện cân bằng và phương trình trạng thái cân bằng của tàu ngầm
9. Dự trữ nổi của tàu ngầm
10. Sức nổi dư của tàu ngầm
11. Ảnh hưởng của sức nổi trên khả năng đi biển của tàu ngầm
12. Kiểm toán và kiểm soát tải trọng của tàu ngầm
13. Cân tải và phân bố lại tải trọng dằn của tàu ngầm
14. Tính toán độ chênh mớn của tàu ngầm
15. Các kết luận về độ chênh mớn của tàu ngầm
16. Các khái niệm tổng quát về sự ổn định của tàu ngầm
17. Ổn định ngang ban đầu của tàu ngầm
18. Ổn định dọc ban đầu của tàu ngầm
19. Sự ổn định của tàu ngầm khi lặn và khi chuyển từ tư thế ngầm sang tư thế nổi
20. Kết luận về sự ổn định của tàu ngầm
21. Thay đổi sự ổn định ban đầu của tàu ngầm khi chuyển dời tải trọng mang
22. Thay đổi sự ổn định ban đầu của tàu ngầm khi tiếp nhận (hoặc tiêu hao) tải trọng mang
23. Ảnh hưởng đến ổn định của tàu ngầm của các chất lỏng tràn
24. Kết luận về ảnh hưởng của sự chuyển dời tải trọng mang trên tàu ngầm
25. Sự ổn định của tàu ngầm khi đặt trên lồng đốc
26.Thay đổi sự ổn định của tàu ngầm khi nằm trên bãi cạn
27. Sự ổn định của tàu ngầm dưới băng và khi nằm trên nền đất
28. Độ ổn định tĩnh học theo phương ngang của tàu ngầm khi góc nghiêng ngang lớn
29. Ổn định dọc của tàu ngầm khi góc chênh mớn dọc lớn
30. Ổn định động của tàu ngầm
31. Tạo cho tàu ngầm độ nghiêng ngang và độ chênh mớn dọc lớn
32. Kết luận về độ nghiêng ngang và độ chênh mớn dọc của tàu ngầm
33. Khả năng tăng tốc độ và khả năng điều khiển được của tàu ngầm
34. Khái niệm cơ bản về khả năng tăng tốc độ của tàu ngầm
35. Lực cản đối với chuyển động của tàu ngầm
36. Khái niệm về khả năng điều khiển được của tàu ngầm
37. Phương tiện đảm bảo khả năng điều khiển được của tàu ngầm
38. Các lực và mô men tác động lên chuyển động của tàu ngầm trong tư thế lặn
39. Sự chuyển động của tàu ngầm trong mặt phẳng thẳng đứng khi vận hành dịch chuyển bánh lái ngang
40. Tính ổn định của chuyển động và khả năng cơ động
41. Tính ổn định về hướng và khả năng xoay hướng
42. Độ chênh mớn dọc và độ nghiêng khi lượn vòng
43. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng điều khiển được tàu ngầm trong mặt phẳng ngang
44. Khả năng điều khiển khi tàu chuyển động tiến và lùi
Tàu ngầm là gì?Tàu ngầm thuộc về một lớp tàu chiến đặc biệt, có khả năng bơi dưới nước, vận động theo hướng và chiều sâu. Với tư cách một đối tượng vật lý, nó tuân theo định luật Archimedes: một vật thể chìm trong chất lỏng sẽ chịu một lực hướng lên trên và bằng với trọng lượng của chất lỏng bị vật thể đó chiếm chỗ. "Lực nâng" này có thể điều khiển được bằng cách thay đổi trọng lượng của con tàu. Để lặn, tàu ngầm hút nước biển từ ngoài thân tàu vào trong các sitec balat (sitec dằn) của nó. Để tàu nổi lên - nó dùng khí nén thổi nước thoát ra (khỏi các sitec balat). Vì vậy đối với các loại tàu ngầm, người ta phân biệt hai loại độ choán nước - độ choán nước (tư thế) nổi (tiêu chuẩn) và độ choán nước (tư thế) ngầm.


Mô hình tàu ngầm U-47 của Đức thời Thế Chiến 2 (U-Boot-Klasse VII). Mặt cắt dọc và mặt bằng. Tàu ngầm diesel-điện Anh lớp "Victoria" của thập kỷ 80-90 thế kỷ 20.(ru.viki).Tại độ sâu đáng kể tàu phải chịu áp lực (nước) rất lớn. Thân (trong) của tàu bao gồm các khối tích để ở và bố trí các cơ cấu máy cơ bản có dạng hình trụ, được làm bằng thép phẩm chất cao độ dày lớn hoặc hợp kim titan và có các sườn khung cứng. Nó được gọi là vỏ bền (прочный корпус - hoặc gọi là vỏ nặng). Để cải thiện khả năng đi biển của tàu, phía trên bên ngoài vỏ bền được "khoác" lớp vỏ nhẹ (легкий корпус). Ở khoảng giữa hai vỏ thường là các sitec dằn và chứa nhiên liệu. Tàu có kết cấu như vậy gọi là tàu có kết cấu (thân) vỏ kép. Nếu vỏ nhẹ không hoàn toàn bao bọc quanh vỏ bền - con tàu đó thuộc loại tàu có kết cấu thân rưỡi(полуторакорпусный). Có cả loại tàu có kết cấu thân (vỏ) đơn. Để nâng cao khả năng sinh tồn của tàu ngầm, thân bền của nó được chia ra thành nhiều khoang độc lập (từ 3 đến 10) bằng các vách ngăn ngang kín nước.
Sơ đồ cắt ngang tàu ngầm kết cấu thân hai vỏ. 2-Vỏ nhẹ; 6-Dải tôn mép boong trên (stringger - sống mạn); 7-Sống tàu dạng tấm.
Sơ đồ cắt ngang tàu ngầm kết cấu thân vỏ đơn. 1-Vỏ bền (đường đậm nét); 2-Sitec dằn chủ; 3-Buồng bền; 4-Kết cấu ngăn buồng lái; 5-Boong thượng.
Sơ đồ cắt ngang tàu ngầm kết cấu thân vỏ rưỡi. 7-Sống tàu dạng hộp.Tàu ngầm ở dưới nước trong trạng thái treo. Chuyển động lên xuống của nó được điều khiển bởi (sự vận hành) các bánh lái theo phương ngang bố trí ở đằng mũi tàu và đuôi tàu. Khi cạnh trước của tấm bánh lái ở vị trí cao hơn cạnh sau, dòng chảy của nước sẽ tạo ra lực nâng. Nếu trái lại, dòng chảy hướng đến sẽ tạo áp lực lên mặt phẳng làm việc của tấm bánh lái theo phương từ trên xuống dưới. Con tàu bất động sẽ không có khả năng điều khiển được, và hoặc là phải nổi lên, hoặc phải lấy thêm (tải trọng) dằn, nằm trên nền đất. Chuyển động tiến hay lùi của tàu ngầm, như bất kỳ con tàu nào, phụ thuộc vào chân vịt quay theo hướng nào (theo chiều kim đồng hồ). Tàu ngầm rẽ trái - phải bằng cách thay đổi vị trí của bánh lái phương đứng ở phía đuôi. Tàu ngầm cũng được phân loại thành tàu ngầm diesel-điện và tàu ngầm hạt nhân. Khuyết điểm của loại tàu ngầm thứ nhất - thời gian ở dưới nước bị hạn chế. Động cơ chính của nó - động cơ diesel chạy bằng nhiên liệu diesel, cần có dòng oxy liên tục. Vì vậy, nó thường chỉ được dùng khi hành trình trong tư thế nổi.
Tàu ngầm di chuyển dưới nước bằng các động cơ điện, nguồn điện do ắc quy cung cấp. Dung lượng ắc quy không lớn, và định kỳ tàu ngầm phải nổi lên để sạc bằng máy phát diesel. Từ thời Chiến tranh Thế giới thứ 2, đã có thiết bị để cho động cơ diesel làm việc dưới nước tại chiều sâu nhỏ - ống thở (tiếng Đức: Schnorchel ; tiếng Anh: Snorkel, tiếng Nga: Шно́ркель).
Mặt bên tháp chỉ huy tàu ngầm Đức U-3008 chiến lợi phẩm của quân đội Mỹ trong Thế Chiến 2 và được đưa vào biên chế hải quân Mỹ như là tàu dùng cho mục đích thử nghiệm. Hình cho thấy kính tiềm vọng, ống thu khí trời từ bên ngoài (snorkel) đang giương cao, cùng ăng ten trên tháp chỉ huy. Ảnh chụp tại xưởng đóng tàu hải quân Portsmouth Naval Shipyard, Kittery, bang Maine tháng 8 năm 1946 (de.wiki). Шно́ркель - устройство для работы дизелей подводное (РДП), устройство для компрессоров (УДК) - thiết bị trên tàu ngầm thu khí trời cần cho hoạt động của động cơ đốt trong dưới nước, cũng như bổ sung dự trữ khí nén áp suất cao (ВВД) và thông gió cho các khoang)
Trong khoang diesel tàu ngầm HMS Ocelo tại viện bảo tàng tàu ngầm (submarinemuseum ship in Chatham Dockyard) ở Anh, các dieselmotor sẽ nạp điện cho cụm ắc quy, giúp đẩy tàu đi một cách lặng lẽ.Nói cho đơn giản đó là một đường ống giương lên khỏi mặt nước để thu không khí vào. Nó có van ngăn nước xâm nhập vào hệ thống. Ống thở (snorkel) không kín là nguyên nhân cái chết của không phải chỉ một tàu ngầm. Một lò phản ứng hạt nhân có thể cung cấp năng lượng liên tục trong nhiều năm mà không cần bổ sung uranium. Nhiệt của lò phản ứng sẽ biến nước thành hơi nước làm quay tuabin hơi. Đến lượt mình, tuabin hơi sẽ dẫn động cho tàu ngầm và sản sinh dòng điện thông qua máy phát điện tua-bin. Sử dụng nguồn tài nguyên năng lượng to lớn của năng lượng hạt nhân, từ nước biển ta dễ dàng có được không khí, luôn luôn là của hiếm trên các tàu ngầm. Việc điều khiển tàu ngầm tập trung ở buồng trung tâm nằm ở phần giữa thân tàu phía dưới cabin tác chiến. Các thiết bị kéo xếp di động (выдвижные устройства) đi xuyên qua hoặc đi bên cạnh cabin này. Quan trọng nhất trong số các thiết bị kéo xếp trên là kính tiềm vọng, cho phép từ dưới nước quan sát tình hình trên biển. Khi kính tiềm vọng giương lên, phần đầu kính có vật kính nhô khỏi mặt nước. Thông qua một hệ thống các thấu kính và lăng kính, hình ảnh được truyền vào bên trong tàu ngầm. Kính tiềm vọng không vượt quá độ sâu vài mét. Con tàu, khi ở sâu hơn, chỉ có thể được dẫn hướng nhờ phương tiện thủy âm. Hình dạng thân các tàu ngầm cho đến kế nửa sau của thế kỷ hai mươi, phù hợp cho việc bơi trên mặt nước hơn, bởi vì chúng lặn trong thời gian tương đối ngắn. Tàu ngầm hiện đại thì ngược lại, trước hết (phải) thích nghi với thủy động lực học dưới nước. Thiên nhiên thân thuộc của chúng - thế giới của im lặng.
PS:"Bác có tài liệu tiếng Anh thì đưa lên, có thể em giúp được chút ít Grin"Bạn QuangHieu thân mến, rất cám ơn bạn và có đây, ví dụ -
http://www.history.navy.mil/library/online/onipubno23.htmĐó là tài liệu về chiến thuật tấn công đoàn công voa Thế Chiến 1 và nên post vào mục Chiến thuật tàu ngầm từ xưa đến nay, tôi nghĩ như vậy. Còn nhiều lắm, vấn đề là sắp xếp thành một chuyên mục nào đó phù hợp và tập trung. Chuyên mục này dự định chỉ đi ABC thôi.
......