Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Năm, 2012, 06:21:42 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm  (Đọc 14471 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #150 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 07:43:43 PM »

*

Một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của quân thủy thời này, đó là sự trưởng thành của ý thức và thực thi chủ quyền vùng biển. Trong các chương trước rải rác đã đề cập tới vấn đề này, cho thấy: cũng như nhiều nước phương Đông khác, các triều đại phong kiến nước ta không có xu hướng mở rộng phạm vi hoạt động ngoài biển khơi. Nhưng do nước ta có một bờ biển dài, lại nhiều đảo nhỏ, mật độ cư dân ven biển rất cao, trong đó một bộ phận đáng kể sống bằng các loại nghề biển, như vận tải, đánh cả và khai thác các nguồn lợi biển khác, nên từ rất sớm nhà nước đã quan tâm đến việc quản lý và khai thác vùng biển của mình, thông qua các hình thức lao dịch, thuế đối với cư dân làm nghề biển đó. Thậm chí, trong một số trường hợp cá biệt, còn lập những “trường” có tính chất nhà nước để khai thác. Nhà Lý đã từng lập bản đồ chép sản vật ngoài biển và trên các đảo, lập trang Vân Đồn rồi nhà Trần nâng thành Trấn vừa quản lý biển, vừa thu thuế ngoại thương.

Trong quan niệm của nhà nước cũng như của dân gian, nước ta bao giờ cũng có một vùng biển với những ranh giới riêng của nó, mà phạm vi tùy thuộc vào khả năng vươn tới của nhân dân ta trong quá trình làm ăn trên biển. Chính vì thế, từ thời Tiền Lê, Lý ở phía nam đã có tên Nam Giới, không phải chỉ để đánh mốc đất phía nam mà chủ yếu vạch đường chia biển. Ở phía bắc, chẳng phải vô cớ mà khi người Tống cử sứ sang nước ta, họ đã phải đứng ở cửa Thái Bình (Liêm Châu) chờ thuyền đón sứ của Lê Hoàn tới, mà sử Tống cũng từng giải thích vì đó là ranh giới quốc gia. Chúng ta cũng thấy lời giải thích tương tự, nhưng cặn kẽ hơn của Chu Khứ Phi, một viên quan Tống được phải xuống cai quản vùng “khê động” Lưỡng Quảng, về “hải giới” phân chia biển của “thiên triều” vói Giao Chỉ, nơi cửa vịnh Khâm165.

Khi luật pháp quốc tế về các vấn đề biên giới chưa được đặt ra, thì chính hoạt động “kiếm cúi, đánh cá” của dân gian đã hoạch định đường hải giới đó và nhà nước có trách nhiệm bảo vệ, thực thi chủ quyền đó. Lý Kế Nguyên đã đem quân thủy lên chặn giặc tận Vĩnh An, quân thủy lộ Đông Hải đầu thời Trần đã đi tuần tận núi Ô Lôi (cửa vịnh Khâm), Trần Khánh Dư và sau đó quân Bình Hải chốt giữ ở Vân Đồn để “phòng giặc Bắc”, cả khi nước ta đã mất vào tay giặc Minh và đường trạm biển nối Khâm, Liêm với Hải Đông đã hình thành, thì vùng biển phía Bắc chi chít đảo vẫn là căn cứ lợi hại của nghĩa quân Trần Quý Khoáng.

Lịch sử để lại cho chúng ta nhiều bằng chứng sinh động về các cuộc đấu tranh ngoại giao, bằng những biện pháp cứng rắn nhất như những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hoặc bằng những biện pháp mềm mỏng nhất như chịu triều cống kẻ thù, nhưng mục đích cuối cùng bao giờ cũng để bảo tồn từng tấc đất của dân tộc. Những cuộc đấu tranh ngoại giao vì sự tranh chấp chủ quyền vùng biển còn hiếm thấy, nhưng lịch sử đã chứng tỏ các triều đại phong kiến Việt Nam trước thế kỷ XV đã có ý thức bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển của mình. Điều đó tạo cơ sở cho lời dặn dò nổi tiếng của Lê Thánh Tôn năm 1473 với Lê Cảnh Huy rằng: “Một thước đất, một tấc nước của ta không nên vứt bỏ, người nên cố cãi, chớ để họ lấn dần… Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di”166.
-----------------------------
165 Lĩnh ngoại đại đáp

166 Toàn thư, t. III, tr. 250.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #151 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 07:49:34 PM »

Lịch sử nước ta từ thế kỷ XV trở về sau đặt ra một loạt vấn đề mới mẻ về chủ quyền vùng biển, xu hướng tích cực nói chung là nhà nước phong kiến có những chủ trương khuyến khích nhân dân quản lý, khai thác nguồn lợi biển, đồng thời có những biện pháp cụ thể bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển. Ngay từ những ngày còn bao vây Đồng Quan, Lê Lợi đã ra lệnh lập tuần kiểm ở các cửa biển để kiểm soát người qua lại. Sau đó Lê Thánh Tôn tiếp tục công việc của triều Lý, nhưng rộng và kỹ hơn nhiều, xem xét lại tất cả sản vật, hình thế núi non, sông biển để xây dựng bộ bản đồ Hồng Đức nổi tiếng…


Bản đồ Hồng Đức (1774)

Sự kiện nổi bật của giai đoạn lịch sử này có liên quan đến vấn đề chủ quyền vùng biển là những hoạt động thương mại và quân sự đang ngày càng sôi động trên vùng biển nước ta cũng như các nước phương Đông nói chung.

Vốn dĩ xưa nay vùng biển nước ta đã có một vị trí đặc biệt quan trọng trong mối giao thông Đông – Tây, từ thời những người Ả Rập, Ấn Độ còn là hạt nhân của cuộc giao thương đó. Như đã nói ở trên, từ thế kỷ XVI, những thuyền buôn châu Âu đầu tiên đã xuất hiện, bắt đầu một thời kỳ sôi động các hoạt động trên biển: không chỉ thương mại, cướp biển, mà còn cả can thiệp vũ trang, ngoại giao pháo thuyền và xâm lược.

Tình hình đó một mặt tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước và khả năng thu nhập lớn nhờ mối lợi thương mại, thuế má, nhưng mặt khác đặt trước các nhà chức trách Việt Nam đương thời nguy cơ chủ quyền vùng biển bị xâm phạm. Các tập đoàn phong kiến nước ta lúc ấy vì quyền lợi của dân tộc, mà trong đó trước hết là quyền lợi của chính giai cấp mình, đã tỏ ra có nhiều cố gắng tìm cách giải quyết mâu thuẫn trên. Nhưng phải thừa nhận rằng, chế độ phong kiến lúc bấy giờ đang trên con đường suy tàn đã tỏ ra lúng túng trong cách giải quyết: lúc thì đóng cửa vì sợ mất chủ quyền, lúc lại mở toang cửa liên minh quân sự… Tuy nhiên, trong sự lúng túng đó, cuối cùng nhà nước phong kiến đương thời cũng phải đi tới hai vấn đề: tăng cường sức mạnh của quân thủy và lập ra những bộ phận chuyên trách để bảo vệ, thực thi chủ quyền vùng biển.

Chúng ta sẽ xem xét tỉ mỉ vấn đề tăng cường sức mạnh quân thủy trong một phần riêng về quân thủy Trịnh – Nguyễn cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, với tư cách là cái nền vật chất cho cuộc nhảy vọt về những bộ phận chuyên trách mà bộ máy chính quyền phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài đã đặt ra để gắng bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #152 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 07:55:27 PM »

Quan niệm về vùng biển và chủ quyền vùng biển thời này ở các nước phong kiến phương Đông nói chung không rộng rãi và chặt chẽ như quan niệm hiện nay cả chúng ta. Chủ quyền vùng biển thời đó thực tế chỉ đặt ra đối với những hòn đảo, quần đảo và dải bờ biển nơi nhân dân đang sinh sống hoặc khai thác. Chủ quyền vùng biển cũng đặt ra với vùng nước bao quanh các nơi đó và đường giao thông giữa các nơi đó với nhau, hoặc nối với các vùng thuộc quốc gia khác có liên quan, như một môi trường hoạt động trực tiếp và thường xuyên của cư dân nước đó. Bảo vệ chủ quyền vùng biển thường do lực lượng quân thủy đảm nhiệm. Loại trừ việc chống trả các cuộc hành quân xâm lược đi theo đường biển, thông thường chỉ tồn tại những đội quân thủy đi tuần và những đơn vị thường trực nhỏ, chốt trên những vị trí quan trọng: các cửa sông hoặc đảo, làm nhiệm vụ của các đồn biên phòng trên biển. Trong giai đoạn đầu, các bộ phận đó đồng thời làm luôn nhiệm vụ kiểm soát buôn bán và thu thuế đối với cả thuyền buôn trong lẫn ngoài nước. Ở nước ta thời Trần, có hai dẫn chứng khá tiêu biểu về các đơn vị nói trên. Đó là quân thủy tuần biển thuộc lộ Hải Đông và quân Bình Hải ở trấn Vân Đồn. Sang thời Lê sơ, mặc dầu cả một phần lớn vùng biển miền Trung đã thuộc quyền quản lý, nhưng nhà Lê cũng chỉ mới khai thác một cách dè dặt. Hoạt động chủ yếu trong thời này để thực thi chủ quyền vùng biển vẫn chỉ là việc lập ra những đồn, bảo trấn giữ và tuần kiểm ở các cửa sông.

  Năm 1426, Lê Lợi đặt “tuần kiểm ở các xứ cửa biển”, năm 1467 Tham nghị thừa tuyên sứ ty châu Hóa là Đặng Thiếp dâng sớ xin “lập bảo để giữ cửa biển Tư Dung”167.

Từ khi họ Nguyễn chính thức biến Đàng Trong thành một quốc gia riêng, nhà nước ra sức khai thác vùng này một cách toàn diện, cả nguồn lợi của rừng núi, đồng bằng và vươn dài tay ra biển cả. Trong một thời gian ngắn, Thuận – Quảng trở thành một trong những trung tâm kinh tế phồn vinh của Đông – Nam Á, với các hải cảng thương mại nổi tiếng, như Hội An. Thời kỳ Đàng Trong phát triển lực lượng lại đúng là lúc hoạt động thương mại quốc tế ở biển Đông đang sôi động nhất, vì vậy chúa Nguyễn có thêm một nguồn lợi lớn nữa nhờ đánh thuế và nhận lễ của các tàu buôn nước ngoài. Nguồn lợi do biển mang lại cho Đàng Trong mới mẻ, thiết thực và gần gũi hơn nhiều so với Đàng Ngoài, song chủ quyền vùng biển cũng có nguy cơ dễ bị xâm phạm hơn. Do đó, chúa Nguyễn đã có nhiều biện pháp cụ thể, tương đối có hệ thống để bảo vệ và thực thi quyền làm chủ vùng biển của mình.

Ngoài một cuộc tranh chấp về chủ quyền ở một hòn đảo nào đó với Đàng Ngoài mà J.B, Ta-véc-ni-ê đã viết trong sách của mình, còn lại, hoạt động của chúa Nguyễn tập trung vào bốn hướng sau: 1. Tổ chức khai thác biển một cách tương đối có hệ thống; 2. Tổ chức tuần phòng trên biển; 3. Tổ chức phòng thủ bờ biển; 4. Tổ chức thu thuế và buôn bán với tàu thuyền nước ngoài, giải quyết các vụ đắm tàu, hỏng tàu của người nước ngoài trên vùng biển nước ta.

Thực ra, một nội dung như vậy cũng được tiến hành ở Đàng Ngoài, nhưng chúa Trịnh đã thực hiện một cách không có hệ thống và không nổi nét bằng chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
-------------------------------
167 Toàn thư, t. III, tr. 213.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #153 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 08:03:53 PM »

Bờ biển miền Trung dài, khá bằng phẳng, cư dân sống dọc theo sát bờ biển, trong đó một số đông sống chủ yếu dựa vào biển. Dọc theo bờ biển vùng này cũng có nhiều đảo nhỏ, từ lâu đã được cư dân sống ở đây khai thác. Nhà Nguyễn bắt tay vào khai thác biển chủ yếu dựa vào thuế và cống phẩm lấy từ các cư dân làm nghề biển đó. Nhưng đối với những vùng biển xa hoặc một số nguồn lợi đặc biệt thì nhà Nguyễn đã chủ động đứng ra, dựa vào truyền thống làm ăn của nhân dân ven biển, tổ chức khai thác một cách có hệ thống các nguồn lợi đó với tư cách là một người chủ. Ngoài vài ba “trường” đào mỏ vàng thất bại, nhà Nguyễn chủ yếu dựa vào những xã ven biển có nghề thu nhặt, khai thác sản vật trên các đảo hoang ở xa ngoài khơi, tập hợp họ thành các đội chuyên nghiệp do nhà nước trực tiếp quản lý.

  Ví dụ như đội Thanh Châu chuyên khai thác tổ yến trên các cù lao ở cửa biển Tân Quan, Thời Phù, Nước Ngọt, Nước Mặn; đội Hải Môn chuyên lấy tổ yến ở đảo Côn Lôn vùng biển Bình Thuận và thu nhặt các đồ vật của tàu đắm ở đảo Khoai phía ngoài Côn Lôn; đội Hoàng Sa chuyên thu lượm đồ vật tàu đắm và các loại hải sản quý lạ khác ở quần đảo Hoàng Sa nhưng hoạt động ở một vùng đảo xa khác về phía nam Hoàng Sa (trong đó bao gồm cả quần đảo Trường Sa ngày nay)…

  Về cách tổ chức và phương thức hoạt động của các đội này có thể dẫn ra ở đây một đoạn trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn: “Trước, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 xuất, lấy người xã An Vĩnh xung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai thì nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày, ba đêm thì đến đảo ấy (Theo Thiên nam tứ chi lộ đồ thư, sách thế kỷ XVII, có lúc đội Hoàng Sa có tới 18 thuyền). Ở đấy thì tha hồ bắt chim, cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, ốc vân rất nhiều. Đến kỷ tháng tám thì về, vào cửa Eo đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về”168.



Bản đồ thời Nguyễn với chú thích về Hoàng Sa và Trường Sa


Hoạt động của các đội này bề ngoài thì mang tính chất đơn thuần kinh tế cũng như trước đây ông cha họ đã làm. Nhưng việc chúa Nguyễn chính thức biến họ thành những tổ chức của nhà nước thì đó còn là biện pháp cụ thể khẳng định và thực thi quyền làm chủ của mình với các vùng đảo, vùng biển đó. Chính vì vậy, mặc dầu trong những thế kỷ XVII, XVIII hầu như chưa hề có nguy cơ tranh chấp, nhưng các tài liệu sử sách đương thời, đặc biệt là các bản đồ, đã mô tả và biên vẽ về những vùng đó như một phần lãnh thổ gắn liền với bộ phận Đàng Trong của nước ta, bất kỳ đó là tài liệu Việt Nam hay nước ngoài. Có thể nói, chính những người dân chài nước ta, trong quá trình lăn lộn kiếm ăn trên biển đã khai phá và mở rộng dần vùng lãnh hải của Tổ quốc tới những hòn đảo hoang vu giữa biển khơi, tạo ra cơ sở thực tiễn để nhà nước phong kiến đương thời có những biện pháp cụ thể thực thi quyền làm chủ của mình. Hoàn toàn không phải vô cớ mà sau này Tây Sơn, rồi nhà Nguyễn, thực dân Pháp đều tiếp tục sử dụng, khai thác và đặt mốc chủ quyền của nước ta trên các vùng đảo đó169.
------------------------------
168 Phủ biên tạp lục, tr. 123.

169 Về vấn đề này, có thể xem sách “Chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa”, 9-1979, của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sách Hoàng Sa – Quần đảo Việt Nam, Hà Nội, 1979 của Văn Trọng.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #154 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 08:12:06 PM »

Để đảm bảo an toàn cho nhân dân làm ăn và cho cả tàu buôn nước ngoài vào ra, chúa Nguyễn tổ chức những đội thuyền tuần phòng khá thường xuyên trên biển. những đơn vị này có nhiệm vụ đánh bắt cướp biển đủ loại Tây, Tàu, Mã Lai, Xiêm… Đã nhiều lần quân tuần biển nhà Nguyễn đánh tan được cướp biển Tây Ban Nha và bắt được một số cướp biển Xiêm ở vùng biển Bình Thuận. Quân tuần biển còn có nhiệm vụ phát hiện, đánh đuổi các tàu nước ngoài do thám, can thiệp.

Ngày 10-2-1634, các đơn vị tuần biển đã phát hiện 3 tàu chiến Hà Lan đang mất liên lạc với quân Trịnh ở ngoài khơi cửa Eo, kịp thời báo cho Nguyễn Phúc Tần đem hơn 50 thuyền chiến từ bờ ra đánh đuổi tan nát. Tháng 8 năm sau, 1644, tàu Hà Lan do thuyền trưởng Phla-vô-ê (Flavoer) chỉ huy, được lệnh của Ba-ta-vi-a đánh phá bờ biển Đàng Trong cũng lại bị quân tuần phòng Nguyễn đánh phải bỏ chạy.

  Theo Lam Giang (Sử địa, số 29, Sài Gòn, 1975, tr.48, 49), dẫn nhật ký của một thủy thủ Hà Lan có tham gia và chết hụt trong trận này, tên là Joan Goby thì ngay từ đầu chiếc tàu chỉ huy đã bị trúng đạn, bốc cháy, chiếc thứ hai bỏ chạy va phải đá ngầm chìm nốt, chiếc còn lại chạy thoát về đảo Perles (?). Điều này phù hợp với hồi ký của cha Vachet đến Đàng Trong sau đó 30 năm: “… Các tàu Hà Lan bị tiến công bởi 50 hoặc 60 tàu Đàng Trong ở cửa Song Giang (?) dưới sự chỉ huy của thái tử Đàng Trong. Vì không có gió, Hà Lan gặp bất hạnh, tàu lớn nhất cháy, nổ tung; chiếc thứ hai tự vỡ vì va vào đá. Chỉ có chiếc nhỏ nhất là chạy thoát”170.

  Về trận này trong sử của ta cũng có một số sách chép. Theo Phủ biên tạp lục, có một trận đánh tàu Hà Lan vào năm Phúc Thái thứ nhất, tháng tư âm lịch (tức 5-1643) và số tàu Hà Lan là 10 chiếc. Đại Nam thực lục lại chép một trận cũng do Phúc Tần chỉ huy xảy ra năm Phúc Thái thứ 2, tàu Hà Lan bỏ chạy, để lại một tàu lớn bị bắn cháy và tự đốt. Cả hai sách đều chép việc xảy ra ở cửa Eo (Phủ biên tạp lục chép là Nhuyễn hoặc còn có cách đọc nữa là Noãn, nhóm dịch sách này đã đối chiếu với Toàn thư mà sửa thành Eo. Thực ra theo Đại Nam nhất thống chí, t. I, tr. 55, thì cửa này có hai cách gọi: Noãn và Eo, dân gian quen gọi là Eo). Toàn thư là cuốn sách được nhóm Lê Hy bổ sung gần thời điểm xảy ra sự việc này nhất (1697), đáng tiếc không chép gì đến sự kiện này. Đại Nam thực lục chép khá chi tiết: “Bấy giờ giặc Ô Lan (tức Hà Lan – T.G.) dấu thuyền ngoài biển, cướp bóc lái buôn, quân tuần biển báo tin, chúa đương bàn kế đánh dẹp. Thế tử tức thì mật báo với chưởng cơ Tôn Thất Trung ước đưa thủy quân ra đánh. Trung lấy cớ chưa bẩm mệnh, ngần ngại chưa quyết. Thế tử đốc xuất chiến thuyền của mình tiến thẳng ra. Trung bất đắc dĩ cũng đốc xuất binh thuyền theo đi, đến cửa biển thì thế tử đã ra ngoài khơi. Trung lấy cờ vẫy lại, nhưng thế tử không quay lại. Trung bèn giục binh thuyền tiến theo. Chiến thuyền trước sau lướt nhanh như bay. Giặc trông thấy cả sợ, nhìn thẳng phía đông bỏ chạy, bỏ rơi lại một chiếc thuyền lớn. Thế tử đốc quân vây bắn. Tướng giặc thế cùng phóng hỏa tự đốt chết, thế tử bèn thu quân về”. Các nguồn tài liệu trên cho thấy có thể có nhiều trận quân thủy Nguyễn đánh tàu Hà Lan, chứ không phải chỉ một.


Theo Lê Quý Đôn, những đơn vị tuần biển này thường tách ra từ những đơn vị chốt giữ ở các cửa biển, chứ chưa hình thành một lực lượng độc lập, chuyên trách.

Các đội khai thác biển của chúa Nguyễn, như Hoàng Sa, Bắc Hải… đồng thời còn có vai trò như những đơn vị tuần tiễu ngoài khơi xa, kịp thời thông báo hoạt động của các tàu thuyền lạ trên vùng biển xa của nước ta.

  Đô đốc Đe-xtanh (D’ Estaing) chỉ huy hạm đội Pháp hoạt động ở vùng biển phương Đông trong những năm giữa thế kỷ 18 đã nhận xét: “Khó khăn càng tăng khi chúng tôi muốn vượt qua quần đảo Hoàng Sa… Khu vực ấy luôn có các tàu của nước đó (tức Đàng Trong – T.G.) đi lại; chúng có thể thông báo sự có mặt của chúng tôi”171.
-------------------------
170 G. Taboulet, La geste française en Indochine, Paris, 1955, tr. 68.

171 Nhãn quan của đô đốc De-xtanh (D’Estaing) trong BSEI, t. 17, 1942. Theo Văn Trọng, Sách đã dẫn, tr. 33.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #155 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 08:24:54 PM »

Lực lượng chủ công để bảo vệ chủ quyền vùng biển của chúa Nguyễn là các đơn vị chốt giữ các vị trí quan trọng trên bờ biển, các tấn, bảo, cửa quan. Khác với phân bố lực lượng của quân thủy Trịnh, quân thủy Nguyễn hầu như dàn hết ở các cửa biển, vụng biển, hải đảo… gần các trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng hoặc những vị trí then chốt trong hệ thống phòng thủ bờ biển. Chính vì vậy, tính chất “hải quân” trong quân thủy Nguyễn đậm hơn Trịnh nhiều. Nhiệm vụ của các đơn vị này là cùng với quân bộ bảo vệ các vị trí chiến lược đó, đồng thời cùng với các bộ phận tuần biển của mình bảo vệ chủ quyền vùng biển nơi mình đóng, là chỗ dựa về mặt quân sự cho tàu Ty thực thi quyền lực với các tàu buôn nước ngoài. Đơn vị quân thủy của Nguyễn Phúc Tần đánh tàu Hà Lan chính thuộc loại quân này, bấy giờ đang đóng ở Phú Xuân.

Biên chế các đơn vị này ở từng nơi có nhiều ít khác nhau. Ví dụ như ở Phú Xuân, kinh đô Đàng Trong đương thời có 50 thuyền của binh Nội Thủy với 6.410 quân; 20 thuyền của bốn cơ thủy với 1.140 quân; 20 thuyền của bốn đội thủy với 1.132 quân… Riêng ở cửa Eo có một thuyền Tân súng cơ động với 24 lính đi tuần. Ở dinh Quảng Bình, quân thủy có 9 thuyền với 606 quân, trong đó cũng có riêng một đội thuyền Bình Thủy, có 1 thuyền với 57 lính tuần biển. Quân thủy dinh Quảng Nam có 21 thuyền, trong đó có 3 thuyền chuyên tuần giữ cửa Đà Nẵng, 3 thuyền tuần giữ cửa Đại Chiêm… Trên một số đảo, như cù lao Chàm chẳng hạn đôi khi chúa Nguyễn cũng đặt quân thủy trấn giữ, để bảo vệ bờ biển từ xa.

 Hỗ trợ cho quân thủy, ở một số vị trí quan trọng trên bờ, chúa Nguyễn còn cho xây dựng những pháo đài hướng nòng ra bờ biển. Một bức tranh của người Nhật vẽ về bố phòng ở cảng Hội An thời đó cho ta những hình ảnh rất sinh động về các đơn vị pháo bờ biển này. Ở đây, trước cửa công đường là những hàng pháo nằm trên các ụ đất, khuất bên rặng tre, được che đậy cẩn thận, nòng ghếch thẳng ra cửa biển, nơi đó có ba chiếc thuyền con đang kéo một tàu buôn lớn vào cảng và hình ảnh những lái buôn Tây, Tàu quỳ chờ ở cửa172.


...những hàng pháo nằm trên các ụ đất, khuất bên rặng tre, được che đậy cẩn thận, nòng ghếch thẳng ra cửa biển...

  Thích Đại Sán, khi đến Phú Xuân thế kỷ XVII, cũng mô tả tương tự: “ Sắp đến Vương phủ, mênh mông không có thành quách, chung quanh trồng tra gai làm rào, trong hàng tre cất một dãy trại lợp cỏ tranh, mỗi trại đều có đặt súng đồng, nặng từ vài trăm đến vài nghìn cân, đúc rất tinh xảo… Sau trại súng lại có hàng rào gai tre, phía trong có vòng tường thấp, rộng chừng một, hai dặm”173.
--------------------------
172 N. Peri, Essai sur les relations du Japon et de l’ Indochine aux XVII siècles, BEFEO, 1923, p.136.

173 Hải ngoại ký sự, tr.34
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #156 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 08:34:46 PM »

Hệ thống phòng thủ bờ biển của chúa Nguyễn phản ánh một cố gắng lớn nhằm bảo vệ chủ quyền vùng biển của mình. Điều đó phản ánh rất rõ trong câu nói của Nguyễn Phúc Lan năm 1644, khi được tin Phúc Tần đánh tan hạm đội Hà Lan: “Trước kia tiên quân ta đã từng đánh phá giặc biển, nay con ta cũng lại như thế. Ta không lo gì nữa”174.

Những cố gắng đó cũng góp phần làm chùn lại một số mưu đồ dùng chính sách pháo thuyền uy hiếp, can thiệp nước ta của phương Tây. Trước mắt chúng, “sức mạnh của dân tộc này (Đàng Trong – T.G.) là một đội quân thủy và thương thuyền với những đội ngũ được huấn luyện theo một tôn ti trật tự quân sự, được trả lương hai lần hàng tháng theo âm lịch và thường xuyên tập luyện trước cung vua”175.

Hoạt động nổi nét khác của chúa Nguyễn để thực thi chủ quyền vùng biển của mình là việc lập ra cơ quan chuyên trách quan hệ với tàu thuyền nước ngoài, đó là Ty tàu, có nhiệm vụ thu thế, kiểm soát việc buôn bán và giải quyết các vụ việc rắc rối của tàu thuyền nước ngoài trên vùng biển nước ta. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta có một tổ chức chuyên trách lớn như vậy. Các triều đại trước cũng như Đàng Ngoài đã từng có những hoạt động tương tự, nhưng hoặc chỉ là một bộ phận chức việc của quan trấn thủ địa phương (như trấn Vân Đồn), hoặc chỉ là những công việc của các tuần kiềm, tấn sở kiêm nhiệm (như tấn cửa Liêu, tức Đại An, của Lê – Trịnh).

  Lê Quý Đôn cho biết khá chi tiết tổ chức và hoạt động của cơ quan này: “Khi họ Nguyễn cát cứ, thu được thuế thuyền rất nhiều. Đặt cai tàu, tri tàu mỗi chức một viên, cai bạ tàu, tri bạ tàu, cai phủ tàu, ký lục tàu, mỗi chức hai viên, cai phòng 6 người, lệnh sử 30 người, toàn súng binh 50 người, lính tàu 4 đội gồm 70 người, thông sự 7 người. Các xã Minh Hương, Hội An, cù lao Chiêm, Cẩm Tú, Làng Câu thì giữ việc thám báo. Hễ tàu đến xứ Quảng Nam vào các xứ cửa Đại Chiêm (tục gọi cửa Chàm), phố Hội An, cửa Đà Nẵng (tục gọi cửa Hàn), Vụng Lãm để buôn bán, thì phải nộp các hạng thuế vật, còn thuế đến thuế đi thì định lệ theo thứ bậc. Tính suất cả năm được bao nhiêu thì lấy 6 phần nộp cho thuế cảng, còn 4 phần thì quan lại quân dân đều chiếu nhiều ít chia nhau. Nếu có tàu bị gió bão dạt đến, không có hàng hóa không thể chịu thuế lệ thì người trưởng tàu làm đơn trình, liền truyền cho tuần nha giữ cửa biển cùng đồn thú xem qua, cho mua củi gạo, ở hai ba hôm thì đuổi ra biển, không cho vào biển để khỏi sinh sự…

  Lệ tàu vụ của họ Nguyễn, hằng năm cứ tháng giêng thì các viên cai bạ, tri bạ, lệnh sử, cai phủ, ký lục của Tàu ty đều vào phố Hội An xứ Quảng Nam, chia sai những người thuộc quân thông hiểu tiếng nước ngoài đi canh giữ cù lao Chiêm và cửa Đà Nẵng, thấy có tàu buôn các nước đến đấy thì phải hỏi xét tất cả. Quả là tàu buôn bán chịu thuế thì đem thuyền trưởng và tài phó tàu ấy vào Hội An, trình quan cai bạ xét thực khải lên và trình quan cai tàu để truyền cho các tuần ty đem dân phụ lũy đến hộ tống tàu ấy vào cửa đậu ở sở tuần. Lệnh sử và các nha đến xem. Thuyền trưởng và tài phú kê khai số khách, điểm mục xong mới cho qua sở tuần mà lên phố để đậu”176.


Theo Thích Đại Sán, tàu nước ngoài đến, thoạt đầu không được vào ngay trong cảng, phải bắn súng báo hiệu ở ngoài khơi để trong bờ Tàu ty cử thuyền ra xét hỏi, sau đó mới dẫn vào. Khi vào trong cảng, có ba thuyền con dùng dây dẫn thuyền lớn vào bến. Trừ tàu Bồ Đào Nha, Đàng Trong đặc biệt đề phòng các tàu buôn phương Tây, kiểm soát ngặt, đánh thuế nặng. Mọi hành động của tàu thuyền nước ngoài chống lại chủ quyền vùng biển khi đã đậu rong cảng đều bị trừng trị đích đáng. Năm 1595, một tàu chiến Tây Ban Nha từ Phi-líp-pin sang Cam-pu-chia tạt vào cửa Hàn để tiếp lương, viên thuyền trưởng là J. S. Gan-li-na-tô (Gallinato) có thái độ vu cáo ngang ngược với chính quyền địa phương, đã bị quan trấn thủ tại đây cho thuyền chiến ra đánh phá rồi đuổi thẳng ra ngoài khơi177.
--------------------------
174 Đại Nam thực lục (tiền biên), t.I, tr. 74.

175 De-xtanh (D’Estaing), Sách đã dẫn.

176 Phủ biên tạp lục, tr. 254.

177 Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, q. I, Sài Gòn, 1959, tr. 41. Cũng có thể xem Lam Giang, tr. 48 – 49 và Lãng Hồ, tr. 88 – 89 trong Sử địa số 20, Sài Gòn, 1975.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #157 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 08:38:28 PM »

Tỏ rõ trách nhiệm với vùng biển do mình quản lý, chúa Nguyễn đã quan tâm giải quyết nhiều vụ tranh chấp và đắm tàu của tàu thuyền nước ngoài. Năm 1714, một tàu Hà Lan gặp bão và bị đắm ở vùng biển Hoàng Sa. Một số thủy thủ trên thuyền bơi thoát được vào quần đảo này và đóng bè bơi vào đất liền. Họ đã được chúa Nguyễn tiếp đãi và tìm cách đưa về căn cứ Hà Lan ở Ba-ta-vi-a. Trong một bức thư của cha cố tên là Hớt-xơ (Heusse) đến Đàng Trong năm 1707, được mời làm phiên dịch cho chúa Nguyễn tiếp xúc với những người Hà Lan đó, thì “chúa Nguyễn đã ban cho những người Hà Lan 50 quan tiền, 12 bao gạo, 20 chĩnh nước mắm” rồi “đưa người Hà Lan trở về Hội An để tìm một chiếc tàu (đi Ba-ta-vi-a – T.G.)”178.

Về vấn đề này, Lê Quý Đôn cho biết: “Thuyền đi buôn bán ở nước khác gặp gió tạt vào, làm đơn trình xin tạm đậu để sửa chửa, thì cho đậu ở cửa Hàn và cù lao Chiêm, thuyền sửa đã xong thì dân thủ lệ và dân tiếp cận áp đuổi ra khỏi cửa biển… Thuyền gặp gió bão bị phá hỏng thì xem xét số khách, cai bạ giao cho hội quán canh giữ, cấp phát tiền nhà nước, lương tháng mỗi người 5 tiền, đợi khi thuận gió thì cho phụ theo các thuyền mà về”179.

Như vậy, đến thế kỷ XVII, ý thức chủ quyền vùng biển của dân tộc đã có một bước phát triển rất quan trọng. Trên nhiều mặt, ý thức đó đã được cụ thể hóa thành một loạt hành động có hệ thống của chính quyền phong kiến đương thời, nhằm bảo vệ và thực thi quyền làm chủ.

Tình hình đó tất yếu thúc đẩy sự phát triển của quân thủy nước ta, đồng thời đặt ra những tiền đề đòi hỏi có sự chuyên hóa ngày càng cao của một lực lượng quân đội lớn chuyên hoạt động trên biển. Nhu cầu tồn tại với tư cách là một quân chủng đã được đặt ra trước quân thủy Việt Nam thời đó.

Nhưng trước tình hình chế độ phong kiến đang thối nát cực độ, đất nước bị phân chia làm hai miền, hệ thống tướng lĩnh triều đình còn luẩn quẩn trong những quan niệm cổ hủ về tổ chức và nghệ thuật quân sự, lại thêm tâm trạng hoảng hốt, tự ty trước tàu thuyền, súng ống phương Tây, khiến cho nhu cầu đó không được đáp ứng đầy đủ. Cho đến tận khi sụp đổ trước sức mạnh của nghĩa quân Tây Sơn, quân thủy Trịnh, Nguyễn vẫn chỉ quẩn quanh là một binh chủng của quân bộ, mặc dầu chúng đã được xây dựng thành một lực lượng khá hùng hậu. Chỉ có Tây Sơn, với tính chất tiến bộ của nó, với sức mạnh của đất nước đã thống nhất, đặc biệt với đầu óc quân sự thiên tài và rất táo bạo của Nguyễn Huệ, quân thủy mới trở thành một quân chủng thực sư, mặc dầu chưa phải đã hoàn chỉnh.
--------------------------
178 Tài liệu lưu trữ của Giáo đoàn ngoại quốc Pa-ri, Cóchinchine, q. 729, 739, 800 (viết tắt là Arch. M.E., Coch vol. 729, 739, 800). Theo Nguyễn Nhã trong Sử Địa, số 29, Sách đã dẫn, tr. 262, 263.

179 Phủ biên tạp lục, tr. 256.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #158 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 08:43:42 PM »

*

Xu hướng phát triển độc lập của quân thủy, với tư cách là một hiện tượng tiến bộ trong lịch sử phát triển quân thủy nước ta, là xu hướng đã thực sự tồn tại và ngày càng thắng thế. nhưng trong khi nhấn mạnh vào xu hướng đó, cần đặt nó trong quy luật và đặc điểm chung của lịch sử nghệ thuật quân sự nước ta. Đó là sự gắn bó mật thiết giữa quân thủy với các lực lượng vũ trang khác, như bộ binh, tượng binh, kỵ binh, pháo binh.

Đến tận cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khi quân thủy Tây Sơn, sau đó là quân thủy nhà Nguyễn, đã trở thành một quân chủng hải quân độc lập thì trong nhiều trường hợp; quân bộ vẫn khó hoạt động được nếu không có sự tham gia tích cực của quân thủy với tư cách là một binh chủng của nó. Nguyên nhân căn bản của điều này nằm trong đặc điểm địa hình và truyền thống tác chiến của lực lượng vũ trang nước ta. Trước thế kỷ XX, chưa bao giờ quân bộ nước ta có phương tiện cơ động riêng trên bộ của mình. Địa hình bị sông ngòi chia cắt, với những đoạn đường ngắn, hẹp, lại thiếu những cầu lớn vượt sông, đã ngăn cản rất nhiều sức cơ động của quân bộ, dù bằng đôi chân.

A. Tô-ma-di (A. Thomazi) đã trích dẫn lời một người Âu, nói rằng: “Xứ này không có đường cái lớn, lại chằng chịt ruộng nương. Muốn đến Huế hay bất cứ nơi nào đều phải đi bằng đường biển hay đường sông…”180.

Vì vậy, trong lịch sử nước ta, tách biệt giữa quân thủy với quân bộ chỉ là tương đối. Xu hướng là dần tách biệt, chuyên hóa, nhưng thực trạng chung vẫn là tính chất “kết hợp làm một” giữa quân bộ và quân thủy. Chẳng những người lính thủy, ngoài các chức năng rất chuyên biệt của mình, phải học tập nhiều kỹ năng, thao tác của quân bộ, mà ngay những lính bộ cũng phải học một số thao tác rất chuyên biệt của lính thủy.

J. B. Ta-véc-ni-ê (J.B. Tavernier) cho biết ở Đàng Ngoài: “Những cai đội ở trong lục quân thì cho quân lính của mình xuống thuyền chiến trong một thời gian để họ cũng học chèo cho giỏi181.

Tình trạng đó càng rõ ràng hơn ở Đàng Trong. Mặc dù có phân chia thành quân bộ, quân thủy riêng, nhưng ngay trong quân bộ, biên chế vẫn theo đơn vị thuyền là nhỏ nhất (mặc dầu không phải mỗi đơn vị đó ở trên một thuyền chiến cụ thể). Mọi người lính, khi vào quân đội, đều phải qua một thời kỳ huấn luyện trên thuyền. Thích Đại Sán cho biết: “Vào quân đội rồi thì bắt mỗi người chuyên một nghề, sau đó phân phát đó phân phát đi theo các chiến thuyền để tập luyện”182.
---------------------------
180 A. Thomazi La comquete de l Indochine, Paris, 1934.

181 J. B. Tavernier, Sách đã dẫn.

182 Hải ngoại ký sự, tr. 43.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 238



« Trả lời #159 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2012, 08:48:37 PM »

*

Có thể nói, xu hướng chuyên hóa quân thủy thành một binh chủng độc lập trong quân đội của nhà nước phong kiến những thế kỷ XV, XVI, XVII và phần đầu thế kỷ XVIII là hiện tượng quan trọng và bao trùm nhất trong lịch sử phát triển quân thủy thời kỳ này. Kết quả của hiện tượng đó là bộ mặt quân thủy đã khá rõ nét và khá hùng hậu dưới thời Trịnh, Nguyễn cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII. Sự phát triển nhảy vọt của quân thủy Tây Sơn là sự kế thừa những thành tựu phát triển của lịch sử quân thủy nước ta trước đó, mà về mặt cơ sở vật chất, đã giành được từ trong quân thủy Trịnh – Nguyễn, trang bị cho nó một bản chất mới, một sức mạnh mới, vươn lên theo kịp yêu cầu của dân tộc, sánh kịp với sự phát triển của thời đại.


Một chiến thuyền của thủy quân nhà Nguyễn
Logged

Ùi, úi, ui....
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM