Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Năm, 2012, 04:10:23 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mặt trận Tây Nguyên trong kháng chiến chống Pháp  (Đọc 1342 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vuhoangsonhn
Thành viên

Bài viết: 3


« vào lúc: 08 Tháng Tám, 2011, 12:00:12 AM »

Chào các anh chị và các bác, em là lính mới của quansuvietnam, muốn hỏi một chút về cuộc kháng chiến chống Pháp ở Tây Nguyên (1945-1954). Hình như chính người Pháp từng nói ai kiểm soát được Tây Nguyên là kiểm soát toàn Đông Dương.

Cụ thể hơn là một số trận đánh như cuộc hành quân Gaur của Leclerc, chiến tranh du kích ở Tây Nguyên (1945-1948) và làng chiến đấu Xi-tơ, các chiến dịch Khu V (1948-1949), chiến dịch các tỉnh Tây Nguyên 1949 (Đại cương LSVN ghi là Chiến dịch Hồ Chí Minh ở Tây Nguyên), chiến dịch Đắk Lắk 1950, Chiến dịch An Khê 1953, chiến dịch Bắc Tây Nguyên 1954, chiến thắng Đắc Pơ 1954.

Rất mong được mọi người chỉ giáo thêm.
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 515



« Trả lời #1 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2011, 03:54:51 PM »

CHIẾN DỊCH ĐẮC LẮC1
(Tiến công, từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1950)


Sau khi chiếm được Tây Nguyên, thực dân Pháp quyết định tách các tỉnh thuộc Tây Nguyên thành một đơn vị hành chính riêng và lập “Ủy phủ Liên bang” trực thuộc cao ủy Pháp. Dựa vào bọn tay sai và hệ thống ngụy quyền cũ, Pháp đã lập lại bộ máy cai trị từ tỉnh đến buôn, làng. Chúng củng cố và mở rộng các đồn bốt cũ, xây dựng đồn bốt mới, hình thành một hệ thống cứ điểm chằng chịt quanh các tỉnh lỵ.

Từ đầu năm 1949, địch tập trung lực lượng tăng cường càn quét ngăn chặn các đường tiến công của ta nhằm đẩy lùi các đội gây cơ sở đang tiến sâu vào Tây Nguyên. Chúng ra sức bắt lính, bắt phu, xây dựng ngụy quân, ngụy quyền, lợi dụng những sai sót của ta để tuyên truyền chia rẽ, kích động hằn thù dân tộc ở vùng Tây Nguyên.

Bất chấp mọi thủ đoạn của kẻ thù cuộc kháng chiến ở Tây Nguyên không ngừng phát triển. Với sự kết hợp chặt chẽ giữa vận động gây cơ sở và tiến công quân sự, đến cuối năm 1949, một vùng cơ sở rộng đã hình thành trong khu tam giác Cheo Reo - Buôn Hồ - Ma Đơ Rắc (Đắc Lắc). Giữa năm 1950, các đơn vị chủ lực Liên khu và bộ đội địa phương Tây Nguyên được phát triển và củng cố vững mạnh thêm. Trung đoàn 803 được thành lập tháng 6 năm 1950, trung đoàn 84 hoạt động ở nam Tây Nguyên được củng cố.

Nhằm tiếp tục thực hiện chủ trương gây dựng cơ sở địch hậu, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, phá âm mưu củng cố vùng tạm chiếm của địch, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh về nhiệm vụ mùa hè của Liên khu 5, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ ở nam Tây Nguyên với mục đích phối hợp với chiến trường Bắc Bộ, bồi dưỡng lực lượng ta, thúc đẩy việc xây dựng cơ sở ở địch hậu. Hướng trọng điểm chiến dịch là vùng tam giác Cheo Reo - Biển Hồ - Ma Đơ Rắc.

Địch trong khu vực này có chín đại đội, trong đó một phần ba là lính Âu - Phi, còn lại là lính ngụy người địa phương. Hoạt động chủ yếu của chúng là càn quét bắt lính, quấy rối vùng tự do, thăm dò phát hiện lực lượng ta.

Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm: Trung đoàn 803 chủ lực Liên khu (ba tiểu đoàn bộ binh, một đại đội công binh, một đại đội trợ chiến); trung đoàn 84 (gồm một số đại đội độc lập và tám đại đội vũ trang tuyên truyền). Ngoài ra Liên khu còn điều một số đại đội có nhiều kinh nghiệm chiến đấu của Quảng Nam, Khánh Hoà và của trung đoàn 108, 803 bổ sung cho trung đoàn 84. Để chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch, Liên khu thành lập Mặt trận Nam Tây Nguyên gồm các đồng chí: Nguyễn Đôn - Chỉ huy trưởng mặt trận; Trương Quang Giao - Chính ủy; Lư Giang - trung đoàn trưởng trung đoàn 803 và Nguyễn Tuyến - Trung đoàn trưởng trung đoàn 84 làm Chỉ huy phó mặt trận.

Chiến dịch được tiến hành theo hai đợt:

Đợt 1 (từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 8 năm 1950):

Bộ chỉ huy Mặt trận sử dụng hai tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 803 tập trung đánh các cứ điểm địch trên đường số 7 để hỗ trợ cho đại đội bộ đội địa phương, các đại đội vũ trang tuyên truyền và cán bộ dân chính đảng tiến lên Biển Hồ, đi sâu vào vùng địch hậu, gây cơ sở. Đêm 15 tháng 7, tiểu đoàn 365 tổ chức tiến công cứ điểm Ma Phu. Trong trận đánh, tiểu đoàn đã sử dụng súng phá bom do Liên khu chế tạo (sử dụng lần đầu tiên), song không diệt được đồn. Ngày 16 tháng 7, địch tăng viện từ BLá xuống ta cũng không đánh được. Các ngày sau đó ta phân tán đánh các lực lượng địch ở Ma Drik (Blang), BLôi, BLá, đường số 7, đường 21 để hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang tuyên truyền hoạt động.

Đợt 2 (kéo dài trong tháng 9):

Chủ lực tập trung đánh quân ứng chiến càn quét vào vùng Ma Đơ Rắc - Cheo Reo, đánh giao thông trên đường 21. Các đại đội vũ trang tuyên truyền phối hợp mở rộng khu du kích Biển Hồ, tiến vào xung quanh vùng thị xã Buôn Ma Thuộc, bản Đôn, bốt Đà Lạt.

Kết quả, sau ba tháng hoạt động, ta đã diệt 120 tên (có 14 lính Âu - Phi) làm bị thương 50 tên, bắt sáu tên, thu một máy vô tuyến điện, 37 súng các loại, phá hủy một súng cối 81mm, một máy vô tuyên điện, hai xe ô tô.

Kết quả diệt địch của Chiến dịch Nguyễn Huệ không lớn, song có ý nghĩa đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu. Chiến dịch đã góp phần phát triển xây dựng cơ sở ở Đắc Lắc, một chiến trường chính ở Tây Nguyên. Ta đã tạo được một khu căn cứ địa ở vùng tam giáp Cheo Reo - Biên Hồ - Ma Đơ Rắc, tạo bàn đạp mở rộng cơ sở vượt qua tây đường 14 sang đông Cam-pu-chia.

Về nghệ thuật chiến dịch, đây cũng là chiến dịch nhỏ trong thời kỳ quá độ tác chiến du kích lên tác chiến chính quy. Thành công của chiến dịch là ở chỗ ta đã áp dụng phương thức (kinh nghiệm ở Sầm Nưa) dùng lực lượng tập trung tiến công, kiềm chế các cứ điểm, hỗ trợ cho các đội vũ trang tuyên truyền tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm gây cơ sở, đẩy phong trào địch hậu ở nam Tây Nguyên phát triển, điều mà mấy năm trước Liên khu chưa làm được.



_______________________________
1. Còn có tên gọi là Chiến dịch Nguyễn Huệ hoặc Nam Tây Nguyên.
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 515



« Trả lời #2 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2011, 03:56:40 PM »

CHIẾN DỊCH AN KHÊ
(Tiến công, từ ngày 13 đến ngày 28 tháng 1 năm 1953)


Trên địa bàn Liên khu 5, do hạn hán kéo dài, nhiều địa phương mất mùa, nạn đói đe dọa, bộ đội gặp khó khăn về bảo đảm hậu cần, nên vào thời gian chiến trường chính Bắc Bộ mở Chiến dịch Tây Bắc (tháng 10 đến tháng 12 năm 1952), Liên khu không mở được đợt hoạt động phối hợp. Mãi những ngày cuối năm 1952, Bộ tư lệnh Liên khu mới quyết định mở Chiến dịch An Khê nhằm tiêu diệt sinh lực định, đẩy mạnh chiến tranh du kích phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ.

Khu vực phòng ngự của địch ở An Khê là hệ thống cứ điểm nằm trong khu vực từ đèo An Khê tới thị trấn An Khê thuộc huyện An Khê, tỉnh Gia Lai. Hệ thống cứ điểm này khống chế đoạn hiểm trở của đường 19 nối Quy Nhơn với Plây-cu và là một vòng cung ngăn chặn lực lượng của ta từ vùng du kích sông Ba tiến về phía tây. Các cứ điểm của địch trong khu vực này đều chiếm giữ các vị trí có giá trị. Vòng ngoài là các cứ điểm Kon Lía, Tú Thuỷ, Cửu An, Thượng An và Tháp Canh Eo Gió. Mỗi một cứ điểm vòng ngoài địch bố trí một đại đội sơn chiến, có công sự vững chắc và hỏa lực khá mạnh. Tú Thuỷ là cứ điểm trung tâm trong các cứ điểm vòng ngoài, nên địch xây dựng lô cốt kiên cố, có hàng rào và tổ chức ba tầng hoả lực để ngăn chặn ta từ xa. Tại các cứ điểm Tú Thuỷ, Cửu An, Thượng An, địch còn bố trí mỗi cứ điểm một khẩu pháo để phối hợp với trận địa pháo ở An Khê chi viện cho các cứ điểm khi bị tiến công.

Tháng 12 năm 1952, Bộ chỉ huy chiến dịch An Khê được thành lập, Bộ Tư lệnh Liên Khu 5 trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Nguyễn Chánh, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch. Theo quyết định của Liên khu, lực lượng tham gia chiến dịch gồm: trung đoàn 108 (ba tiểu đoàn: 19, 79, 50), trung đoàn 803, tiểu đoàn 40 chủ lực Liên khu và trung đoàn 120 bộ đội địa phương đang hoạt động trên địa bàn. Đây là lần đầu tiên Bộ tư lệnh Liên khu tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực của Liên khu, cùng lực lượng địa phương hoạt động trên một địa bàn do Bộ tư lệnh Liên khu trực tiếp chỉ huy. Tham gia chiến dịch còn có hàng vạn dân công phục vụ trực tiếp cho hướng chính của chiến dịch và hoạt động nghi binh trên hướng phối hợp.

Ý định tác chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch là: sử dụng các tiểu đoàn tiến công diệt các cứ điểm vòng ngoài: Tú Thuỷ, Cửu An, Eo Gió, Thượng An..., uy hiếp trực tiếp An Khê và đường 19, buộc địch phải tăng viện phản kích chiếm lại các cứ điểm đã mất, tạo điều kiện để ta đánh địch ngoài công sự, tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực của chúng.

Cuối tháng 12 năm 1952, ta bắt đầu di chuyển lực lượng, vận chuyển vật chất bảo đảm cho chiến dịch. Cùng với việc di chuyển lực lượng và vận chuyển vật chất vào hướng An Khê, ta đồng thời huy động dân công vận chuyển nghi binh trên các hướng Khánh Hoà, Đắc Lắc, bắc Kon Tum và Đồng Xanh, Đồng Nghệ, Phú Túc (Quảng Nam). Các cầu lớn trên tuyến đường sắt Quảng Ngãi - Bình Định được bí mật khôi phục để đưa trung đoàn 108 từ Quảng Ngãi vào khu tập kết, sau đó lại phá sập để che mắt địch. Trung đoàn 803 đang đóng quân ở một khu đông dân, trước khi dời đi phải cho một đơn vị huấn luyện tân binh vào thay thế và hoạt động thường xuyên như hoạt động của trung đoàn 803.

Bằng hoạt động nghi binh chặt chẽ, ta đã giữ được bí mật hướng mở chiến dịch. Địch phát hiện chủ lực ta di chuyển, song không xác định được hướng hoạt động của chủ lực ta. Chúng vội vã báo động chiến đấu ở nam Tây Nguyên và tăng cường cho Quảng Nam hai tiểu đoàn Âu - Phi. Hướng An Khê địch hầu như không ngờ tới.

Sau khi chuẩn bị chu đáo mọi mặt, 1 giờ sáng ngày 13 tháng 1 năm 1953, trung đoàn 108 phát lệnh nổ súng, đồng loạt tiến công các cứ điểm Tú Thuỷ, Cửu An và Eo Gió. Bộ đội ta trên các hướng dũng mãnh tiến công, địch ở Cửu An, Eo Gió hoảng loạn và bị tiêu diệt sau 30 phút chiến đấu. Riêng Tú Thuỷ, địch lợi dụng lô cốt, hàng rào và sự chi viện hoả lực của An Khê và Thượng An chống trả quyết liệt. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt, ta phải tổ chức xung phong nhiều lần, tập trung hoả lực diệt từng lô cốt, ụ súng, đến gần sáng mới diệt và làm chủ được Tú Thuỷ.

Tú Thuỷ, Cửu An, Eo Gió bị diệt, quân địch ở Kon Lía hốt hoảng bỏ lại cả kho tàng, đạn dược, tìm đường tháo chạy. Hệ thống cứ điểm vòng ngoài bảo vệ An Khê bị vỡ, Thượng An bị cô lập, đường 19 bị uy hiếp trực tiếp. Quân Pháp ở Tây Nguyên nằm trong tình trạng báo động và vội vã điều động lực lượng chi viện cho An Khê. Ngay sáng ngày 14 tháng 1, địch cho hai đại đội từ An Khê ra phản kích thăm dò, bị ta chặn đánh ở suối Vối khiến chúng phải vội vã quay trở lại An Khê.

Nắm vững phương châm “đánh điểm diệt viện”, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: “Thế nào địch cũng hành quân giải toả áp lực của ta ở đông bắc An Khê”, do đó hạ quyết tâm sử dụng trung đoàn 108 diệt viện trên đường Hoàng Hoa Thám (nhánh đường số 7, An Khê - Cửu An). Thực hiện ý định của Bộ chỉ huy, trung đoàn 108 đã tổ chức lực lượng phục kích ở đoạn đường trên. Trận địa phục kích của trung đoàn được bố trí bất ngờ ở quãng rừng trống trải cách đồn Cửu An khoảng 500 mét.

Sau mấy ngày cho máy bay và biệt kích lùng sục thăm dò không phát hiện được gì, ngày 17 tháng 1, địch điều động tiểu đoàn sơn chiến số 8, có xe bọc thép dẫn đầu, từ An Khê theo đường Hoàng Hoa Thám tiến đến Cửu An. 10 giờ 30 phút ngày 17, đội hình hành quân cửa địch lọt vào trận địa phục kích của trung đoàn 108. Bộ đội ta giấu quân bí mật trong các cánh rừng thưa, đồng loạt xung phong chia cắt đội hình địch. Do chủ quan, đội hình hành quân của địch kéo dài, không có phòng bị nên khi bị đánh bất ngờ, cả tiểu đoàn địch nhanh chóng rối loạn và tan rã. Bộ đội ta tổ chức truy kích bọn địch tháo chạy, thu dọn chiến trường và giấu quân chuẩn bị cho trận chiến đấu tiếp theo.

Trong khi địch ở An Khê còn đang lúng túng, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng trung đoàn 803 tiến công cứ điểm Thượng An và lô cốt Đầu Đèo, hai cứ điểm trấn giữ đường 19 ở đoạn đèo An Khê.

Từ khi Tú Thuỷ, Cửu An, Eo Gió bị diệt, bọn địch ở các cứ điểm còn lại rất chú ý đề phòng. Ban đêm chúng đưa một bộ phận phục kích ở ngoài đồn đồng thời tổ chức canh phòng rất cẩn mật. Sau mấy lần tiếp cận bị lộ, bộ đội ta đã nắm chắc quy luật hoạt động của địch. Rạng sáng ngày 21 tháng 1, tại Thượng An, khi bọn địch phục kích bên ngoài rút về đồn, một lực lượng nhỏ của tiểu đoàn 59 liền bám sát theo sau và diệt ngay lô cốt đầu cầu trong sự ngỡ ngàng của địch. Lô cốt đầu cầu bị diệt, quân địch trong đồn còn đang ngơ ngác, lộn xộn thì các mũi xung kích của tiểu đoàn 59 dũng mãnh xung phong dưới sự chi viện của hoả lực. Sau 15 phút chiến đấu tiểu đoàn 59 thuộc trung đoàn 803 đã làm chủ cứ điểm Thượng An, thu nhiều vũ khí, đạn dược, trong đó có khẩu pháo 105mm.

Tại lô cốt Đầu Đèo, bọn địch chui vào lô cốt kiên cố liều chết chống đỡ. Bộ đội ta một mặt dùng hoả lực chế áp, một mặt tiếp cận đặt lượng bộc phá 40 kg đánh sập lô cốt. Lô cốt Đầu Đèo bị tiêu diệt nhanh chóng.

Như vậy, đến ngày 21 tháng 1, toàn bộ cứ điểm bảo vệ phía bắc An Khê bị diệt, An Khê và tuyến phòng thủ Măng Giang trực tiếp bị uy hiếp. Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp vội vã điều ba tiểu đoàn dự bị chiến lược đến tăng viện cho An Khê và đưa tàu hàng không mẫu hạm A-rô-măng-sơ (Aromanche) tới Qui Nhơn. Có thêm lực lượng, địch điều tiểu đoàn dù nguỵ số 1 (1er BPVN) phản kích chiếm lại Thượng An.

Dự đoán đúng ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng tiểu đoàn 39 trung đoàn 803 tổ chức trận địa phục kích trên đường 19, đoạn từ An Khê đến Thượng An. 9 giờ sáng ngày 24 tháng 1, khi đại bộ phận tiểu đoàn địch lọt vào trận địa phục kích, các chiến sĩ tiểu đoàn 39 đã đồng loạt xung phong chia cắt, bao vây tiêu diệt từng bộ phận. Mặc dù có không quân, pháo binh chi viện, song cả tiểu đoàn địch rơi vào thế bất lợi, nhanh chóng tan rã. Ta tiêu diệt hai đại đội, đánh thiệt hại nặng đại đội thứ ba.

Ngày hôm sau (25 tháng 1) cũng trên đường 19, đoạn tây An Khê, tiểu đoàn 68 của trung đoàn 120 địa phương phục kích chặn đánh đoàn xe 25 chiếc chở một tiểu đoàn dù từ Plây-cu về An Khê, diệt một đại đội, phá năm xe, bắt 50 tù binh, thu một khẩu đại bác không giật 57mm.

Trước cuộc tiến công liên tục của chủ lực ta ở khu vực An Khê, địch buộc phải điều thêm sáu tiểu đoàn tới An Khê và đưa hạm đội đặc nhiệm gồm sáu tàu chiến vào vùng biển Quy Nhơn. Nhận thấy so sánh lực lượng không có lợi cho ta và dự đoán địch có thể đánh vào vùng tự do duyên hải của ta, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch. Ngày 28 tháng 1, các đơn vị tổ chức rút quân về vùng tự do. Chiến dịch An Khê kết thúc thắng lợi.

Kết qủa, sau 15 ngày chiến đấu (từ ngày 13 đến ngày 28 tháng 1), ta đã san phẳng sáu vị trí, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng bảy đại đội địch, diệt 571 tên (bắt trên 300 tên), thu 11 khẩu pháo cối (có một khẩu 105mm), trên 550 súng bộ binh các loại, 30 tấn đạn, 25 máy vô tuyến điện cùng nhiều quân trang quân dụng (số vũ khí thu được có thể đủ trang bị cho bốn tiểu đoàn). Ta đã phá hầu hết các khu dồn dân của địch ở đường số 7B và một số khu tập trung ở đường 19, giải phóng trên 10.000 dân trong khu vực.



Chiến thắng An Khê là chiến thắng lớn nhất của ta từ trước tới nay trên chiến trường Nam Trung Bộ, cổ vũ rất lớn tinh thần hăng hái kháng chiến của bộ đội và nhân dân. Tiếng vang của chiến thắng An Khê đã vượt qua phạm vi Đông Dương làm xôn xao dư luận Pháp. Chiến thắng An Khê đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang Liên khu 5 về tổ chức chỉ huy các chiến dịch vừa và nhỏ. Sau khi giành thắng lợi ở Chiến dịch An Khê, Liên khu 5 đã được Tổng Tư lệnh gửi thư khen ngợi động viên.

Về nghệ thuật chiến dịch, Chiến dịch An Khê đã có sự chỉ huy tập trung thống nhất trên toàn mặt trận: Mặc dù chiến dịch chỉ diễn ra ở phạm vi hẹp xung quanh An Khê, song trên toàn địa bàn liên khu đã có sự phối hợp hoạt động của nhiều lực lượng, tạo điều kiện cho hướng chính giành thắng lợi. Một thành công nữa là Bộ tư lệnh chiến dịch đã thực hiện thành công kế hoạch nghi binh lừa địch về hướng tiến công. Biết địch thường phán đoán hoạt động của chủ lực dựa vào sự vận chuyển vật chất của dân công, Bộ tư lệnh chiến dịch đã huy động dân công vận chuyển nghi binh trên nhiều hướng, tổ chức nghi binh giấu sự di chuyển của chủ lực, nên mặc dù nắm được tin chủ lực ta di chuyển nhưng địch không thể xác định được hướng tiến công của chủ lực ta.

Trong thực hành, nét nổi bật của Chiến dịch An Khê là ta đã chọn mục tiêu khêu ngòi là các cứ điểm hiểm yếu vòng ngoài, vừa sức đánh của ta, song khi ta đánh được lại uy hiếp trực tiếp An khê và đường 19, buộc địch phải tăng viện phản kích, tạo thời cơ để ta tổ chức các trận phục kích, diệt nhiều sinh lực địch. Chiến dịch An Khê để lại nhiều kinh nghiệm về “đánh cứ điểm nhỏ, diệt viện binh nhỏ” ở địa bàn Liên khu 5 lúc bấy giờ.
Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 515



« Trả lời #3 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2011, 03:58:27 PM »

CHIẾN DỊCH BẮC TÂY NGUYÊN
(Tiến công, từ ngày 26 tháng 1 đến ngày 17 tháng 2 năm 1954)


Nghiên cứu kế hoạch Na-va của địch, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh đã dự kiến khả năng địch mở cuộc tiến công đánh chiếm vùng tự do Khu 5 và Khu 9. Sau Hội nghị quân sự tháng 11 năm 1953, trong phương án tác chiến chiến lược trình Bộ Chính trị (27-11-1953), Tổng Quân uỷ đã chỉ rõ: nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của Liên khu 5 trong Đông xuân 1953-1954 là phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là phía bắc đồng thời tiếp tục củng cố và bảo vệ vùng tự do hiện nay.

Chấp hành chủ trương chiến lược trên, đầu tháng 12 năm 1953, Hội nghị Liên Khu uỷ và Đảng uỷ Bộ tư lệnh Liên khu 5 quyết định mở chiến dịch tiến công bắc Tây Nguyên nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và mở rộng vùng tự do về phía tây, nối Liên khu 5 và Hạ Lào, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch.

Bắc Tây Nguyên gồm hai tỉnh Kom Tum và Gia Lai, địa hình rừng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt. Khu vực này có các đường giao thông số 5, 14, 19 nối bắc Tây Nguyên với các tỉnh phía đông và phía nam. Bắc Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng, uy hiếp trực tiếp vùng tự do Quảng Nam, Quảng Ngãi của ta. Tiến công vào bắc Tây Nguyên ta có điều kiện mở rộng vùng tự do về phía tây, uy hiếp toàn bộ vùng Tây Nguyên, Hạ Lào và đông Cam Pu Chia của địch.

Trên địa bàn Tây Nguyên, địch chia làm bốn khu: Kon Tum, Gia Lai, Buôn Ma Thuộc và Lâm Đồng. Bắc Tây Nguyên thuộc chiến trường “Cao nguyên Trung Bộ” của địch, gồm hai khu Kon Tum, Plây Cu, lực lượng có khoảng bốn tiểu đoàn cơ động và 15 đại đội chiếm đóng (cơ bản là ngụy quân). Tại khu Kon Tum, địch phòng thủ thành ba khu vực (Bắc, Nam, Đông) và thị xã. Khu Đông gồm các cứ điểm dọc đường số 5 như cứ điểm Măng Đen, Kon Brây, Măng Bút, là khu vực phòng ngự tương đối mạnh. Đặc biệt là Măng Đen, một cứ điểm trên đường 5 cách Kon Tum khoảng 40 ki-lô-mét, là một cứ điểm mạnh, do một tiểu đoàn đóng giữ. Khu nam Kon Tum có các cứ điểm Đạc Đoa, Buôn Hồ án ngữ trục đường 14 nối Kon Tum với Plây Cu. Nhìn chung, các cứ điểm của địch đều án ngữ các trục giao thông, các cứ điểm cách nhau khoảng 10 đến 30 km. Trong mỗi cứ điểm có một số đồn, nhiều cứ điểm có hệ thống công sự, vật cản khá kiên cố.

Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm: hai trung đoàn chủ lực 108, 803, trung đoàn địa phương 120, cùng một số tiểu đoàn, đại đội độc lập của Liên khu và các địa phương. Tổng số quân tham gia chiến dịch khoảng 10.000 người.

Giữa tháng 12 năm 1953, kế hoạch tiến công lên bắc Tây Nguyên chính thức được thông qua. Theo kế hoạch, chiến dịch được tiến hành trên hai hướng.

Hướng chính: Bắc Kon Tum, sử dụng trung đoàn 108, trung đoàn 803 (thiếu một đại đội), tiểu đoàn 30 chủ lực độc lập, liên đội đặc công, toàn bộ các đơn vị pháo, cối, phòng không, phần lớn các đơn vị công binh, trinh sát, thông tin cùng lực lượng địa phương tại chỗ thực hành tiến công theo hai bước. Bước 1: trung đoàn 108 và đặc công tiến công hai cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, phá vỡ thế phòng thủ đông bắc của địch; trung đoàn 803 tiến công cứ điểm Công Brây, uy hiếp thị xã Kon Tum, đánh viện trên đường 5, đoạn Kon Tum - Công Brây. Bước 2, một bộ phận chủ lực tiếp tục kiềm giữ địch trên đường số 5, còn phần lớn lực lượng phát triển sang hướng tây bắc, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch trong khu vực Đắc Tô – Đắc Lây, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Kon Tum.

Hướng phụ: Đường 19 An Khê do trung đoàn địa phương 120 cùng tiểu đoàn 40 chủ lực của khu, đại đội 11, tiểu đoàn 59, trung đoàn 803 đảm nhiệm. Hướng này phải nổ súng trước, tiêu diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Kà Tu, đánh phá giao thông trên đường 19, diệt sinh lực, thu hút giam chân địch, tạo điều kiện cho hướng chính phát triển.

Để thống nhất việc lãnh đạo chỉ huy, được sự ủy nhiệm của Trung ương, Liên khu uỷ Khu 5 quyết định thành lập Đảng uỷ, Bộ chỉ huy Chiến dịch bắc Tây Nguyên. Đồng chí Nguyễn Chánh - Bí thư Liên khu uỷ Khu 5 giữ chức Bí thư Đảng uỷ, Tư lệnh kiêm Chính uỷ chiến dịch đồng chí Nguyễn Bá Phát - Tham mưu phó Liên khu làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Cơ quan của Bộ tư lệnh Liên khu hình thành hai bộ phận, một bộ phận phục vụ sự chỉ đạo chỉ huy chiến dịch, một bộ phận chỉ đạo chỉ huy hoạt động thường xuyên của Liên khu. Gần 200 cán bộ cấp tỉnh và huyện được điều động về tăng cường cho bộ máy lãnh đạo dân công phục vụ mặt trận. Hàng trăm cán bộ khác của cơ quan khu uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu được giao nhiệm vụ về các tỉnh tự do, kiểm tra đôn đốc việc xây dựng lực lượng, sẵn sàng đánh trả các cuộc tiến công của định.

Căn cứ vào ý định của Liên khu, phòng cung cấp Liên khu 5 cùng các tỉnh Quang Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên tổ chức soi đường, mở các tuyến hành lang bí mật lên Tây Nguyên, huy động hơn 100.000 dân công vận chuyển gạo, muối lên dự trữ ở những vùng tiếp giáp chiến trường. Gần như toàn bộ lực lượng vận tải ở tuyến hậu phương của Liên khu dài 264 km, đã được huy động để vận chuyển chuẩn bị cho chiến dịch. Đến ngày 15 tháng 1 năm 1954, 10 hành lang vận chuyển từ 5 đến 10 cung vận tải bộ (có hành lang tới 15 cung) đã đưa hơn 1.000 tấn gạo, gần 100 tấn muối và thực phẩm tới các kho mặt trận. Vũ khí, đạn dược của Tổng cục Cung cấp chi viện cho Liên khu 5 cũng đã vào đến nơi. Bộ đội tham gia chiến dịch được trang bị ĐKZ 57mm, được bổ sung đạn súng trường DAM (lúc đó rất thiếu ở chiến trường Liên khu 5) và được chuẩn bị khá đầy đủ về vũ khí trang bị chiến đấu1.

Để đảm bảo bí mật cho việc chuẩn bị và nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch, từ đầu tháng 1 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo các tỉnh ở vùng sau lưng địch như Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận... tổ chức lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân hoạt động rầm rộ, tập kích các căn cứ hậu cần, kho tàng, diệt tề trừ gian...

Đúng trong dịp này, ngày 20 tháng 1 năm 1954, Na-va huy động gần 30 tiểu đoàn các loại, bắt đầu cuộc hành binh Át-lăng (Atlante) tiến công vùng tự do Phú Yên. Nắm được tình hình, trong cuộc họp ngày 21 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Phần lớn lực lượng cơ động của địch đã tập trung ở Phú Yên. Nếu đòn tiến công của ta lên Tây Nguyên không đủ sức uy hiếp mạnh thì không buộc được địch điều động lực lượng lên đối phó. Bộ chỉ huy hạ quyết tâm cho hướng thứ yếu nổ súng trước tiêu diệt các cứ điểm trên đường 19 từ Plây Cu đến An Khê để thu hút sự chú ý của địch, đồng thời trên hướng chính mở màn bằng một đòn tiến công đồng loạt ba mục tiêu: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây, đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự đông bắc Kon Tum của địch.

Đêm 26 tháng 1, trên hướng phụ, trung đoàn 120 nổ súng diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Tà Tu và Búp Bê trên đường 19, mở màn chiến dịch, tiếp đó phát triển tiêu diệt thêm ba cứ điểm trên địa bàn đảm nhiệm.

Trên hướng chính, đêm ngày 27 tháng 1, ta nổ súng tiến công ba cứ điểm mạnh nhất trong hệ thống phòng thủ bắc Tây Nguyên của địch: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây. Măng Đen và Măng Bút cách nhau 10 ki-lô-mét, Công Brây nằm lùi về phía Kon Tum, cách Kon Tum 30 ki-lô-mét và cách Măng Đen 25 ki-lô-mét. Măng Đen là cứ điểm then chốt nhất, nằm trên quả đồi hình yên ngựa và được xây dựng thành hai khu: Khu A (đồn lớn) cấu trúc theo hình tam giác, ở giữa có lô cốt mẹ bằng bê tông cốt thép, ba góc là ba lô cốt nhỏ, nối liền các lô cốt là hệ thống giao thông ngầm, xung quanh là hệ thống dây thép gai hình ngôi sao rộng từ 30 đến 90 mét. Khu B được xây dựng theo hình móng ngựa cũng có ba lô cốt và hệ thống hầm ngầm, giao thông hào ngầm nối liền các lô cốt. Giữa khu A và khu B rộng khoảng 800 mét, có một sân bay nhỏ. Khu A do hai đại đội địch đóng giữ, còn khu B thường có từ 100 đến 150, có khi lên đến 400 lính ứng chiến.

23 giờ 30 phút, tiểu đoàn 19 và 70 của trung đoàn 108 cùng nổ súng đánh vào Măng Đen. Ở hướng tiến công vào Khu A, do tiểu đoàn 19 đảm nhiệm, địch dựa vào công sự lô cốt, hầm ngầm chống trả quyết liệt. Sau ba đợt tiến công, ta thương vong lớn song vẫn không phát triển được. Trận đánh rơi vào thế giằng co.

Trên hướng tiến công vào khu B, do công sự và hoả lực của địch yếu hơn nên sau sáu giờ chiến đấu, tiểu đoàn 79 đã hoàn toàn làm chủ trận địa và tổ chức một mũi vượt qua sân bay đánh vào sau lưng địch ở khu A, hỗ trợ cho tiểu đoàn 19. Bị kẹt giữa hai hướng tiến công, địch ở khu A rơi vào thế bị động lúng túng và lần lượt bị tiêu diệt. 7 giờ ngày 28 tháng 1, sau tám giờ chiến đấu liên tục, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Măng Đen.

Cùng đêm 24, tiểu đoàn 59 trung đoàn 803 tổ chức đánh cứ điểm Công Brây. Do đường vận động xa hơn nên khi hướng Măng Đen nổ súng, tiểu đoàn vẫn còn cách Công Brây 5 km. Địch ở Công Brây đề phòng. Bộ đội ta nằm phục đến mờ sáng, thấy địch có biểu hiện chủ quan cho là ta không đánh mới bất ngờ nổ súng diệt đồn. Địch tan rã nhanh chóng. Sáng 28, tiểu đoàn 59 làm chủ Công Brây. Hướng Măng Bút, trận đánh diễn ra nhanh gọn. Tiểu đoàn 89 cùng liên đội đặc công làm chủ cứ điểm sau 30 phút chiến đấu.

Ba cứ điểm Măng Đen, Công Brây, Măng Bút bị san phẳng, cụm phòng ngự then chốt của địch ở bắc Tây Nguyên bị đập tan, tiểu khu Kon Tum bị uy hiếp trực tiếp. Lực lượng cơ động (GM100) đang bị giam chân ở Phú Yên chưa thể ứng cứu ngay được. Địch ở Kon Tum rơi vào tình trạng hoang mang dao động.

Logged
Tunguska
Global Moderator
*
Bài viết: 515



« Trả lời #4 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2011, 03:58:33 PM »

Chớp thời cơ, đêm 28 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị đẩy nhanh tốc độ tiến công. Trung đoàn 28 phát triển tiến công địch trên hướng bắc Kon Tum, diệt các cứ điểm Đắc Tô, Đắc Sút, Đắc Lây... Trên đường 14 trung đoàn 803 áp sát uy hiếp thị xã Kon Tum, đồng thời đưa một bộ phận luồn sâu xuống phía nam cắt đường 14, đoạn Plây Cu - Kon Tum. Trung đoàn 120 phát triển sang hướng đèo Măng Giang tiến công các cứ điểm của địch ở khu vực ngã ba đường 19 và đường 19 bis.

Bước vào đợt 2, trên hướng bắc Kon Tum, trung đoàn 108 đã nhanh chóng tổ chức tiến công địch từ ngày 29 tháng 1. Nhưng nghe tin chủ lực ta tiến công, địch ở các đồn từ Đắc Tô, Đắc Lây, Đắc Sút cùng nhiều đồn bốt khác đã bỏ chạy trước khi ta đến. Trung đoàn chuyển sang truy kích địch. Sau bảy ngày đuổi địch, trung đoàn 108 đã diệt và bắt hàng trăm tên, giải phóng dải đất phía bắc Kon Tum và áp sát uy hiếp thị xã.

Trong khi trung đoàn 108 đang truy kích, tiến về thị xã Kon Tum từ phía bắc, ngày 31 tháng 1, địch điều GM100 từ Phú Yên lên tăng viện cho Kon Tum và Plây Cu (một tiểu đoàn ở Plây Cu, hai tiểu đoàn ở Kon Tum). Ngày 1 tháng 2, địch ở Kon Tum mở cuộc hành binh giải toả ra hướng Măng Đen, đến gần Công Brây thì sa vào trận địa phục kích của một bộ phận trung đoàn 803, một đại đội bị diệt, số còn lại phải quay về Kon Tum. Ngay đêm đó, đặc công của trung đoàn 803 đã tập kích diệt sở chỉ huy tiểu đoàn địch ở trung tâm thị xã. Trung đoàn 803 tiếp tục vây ép thị xã Kon Tum và cho một bộ phận xuống phía nam thị xã để chia cắt đường 14 theo kế hoạch. Ngày 4 tháng 2, tiểu đoàn 59 (bộ phận luồn xuống phía nam Kon Tum) của trung đoàn 803 đã phục kích một đoàn xe địch trên đường 14 từ Plây Cu tiếp tế cho Kon Tum, diệt bảy xe.

Mặc dù lực lượng ở bắc Tây Nguyên còn đông, nhưng thế trận của địch hoàn toàn bất lợi. Đường số 5, số 14 bị cắt, Kon Tum bị uy hiếp và hoàn toàn cô lập. Để thực hiện chủ trương co cụm hòng đối phó với cuộc tiến công lớn của ta, Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh bỏ thị xã Kon Tum, co về phòng thủ Plây Cu, đồng thời tạm dừng cuộc hành quân Át-lăng, đưa lực lượng tăng cường tuyến phòng thủ đường 19 và nam Tây Nguyên.

Đêm 6 tháng 2, địch rút khỏi Kon Tum, trung đoàn 803, do không nắm chắc địch, đã bỏ lỡ cơ hội diệt địch. Ngày hôm sau, trung đoàn tổ chức truy kích, song không có kết quả.

Bộ Tư lệnh chiến địch quyết định đưa trung đoàn 108 và 803 tiếp tục phát triển về hướng Plây Cu. Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 2, cùng lúc ta tổ chức tiến công cứ điểm Đắc Đoa và tập kích thị xã Plây Cu.

Đắc Đoa là một cứ điểm mạnh do hai đại đội của binh đoàn cơ động 100 chiếm giữ. Cứ điểm có hệ thống công sự, lô cốt khá vững chắc. Trung đoàn 803 tổ chức hai mũi tên tiến công Đắc Đoa. Mũi chủ yếu phát triển khó khăn, mũi thứ yếu gặp thuận lợi hơn. Cuộc chiến đấu kéo dài hơn tám tiếng sáng ngày 17, ta làm chủ Đắc Đoa, xoá sổ hai đại đội địch, bắt sống 150 tên lính Âu - Phi.

Tại thị xã Plây Cu, đại đội 1, tiểu đoàn 78, trung đoàn 108 tập kích một số kho tàng và sở chỉ huy địch, diệt và làm bị thương gần 200 tên. Tại Buôn Hồ, ta vây ép, gọi hàng một đại đội địch, thu vũ khí rồi phóng thích tại chỗ.

Ngày 17 tháng 2, Chiến dịch bắc Tây Nguyên kết thúc. Trải qua hơn 20 ngày đêm chiến đấu, bộ đội ta đã diệt hơn 2.000 địch, bắt sống 310 tên, đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở Kon Tum giải phóng một vùng chiến lược gần 16.000km2 gồm cả một thị xã. Cùng với cuộc tiến công ở Hạ Lào, tạo thành vùng giải phóng liên hoàn từ nam Quảng Ngãi tới Hạ Lào. Ta còn thu nhiều vũ khí đủ trang bị cho một trung đoàn bộ binh.



Chiến dịch bắc Tây Nguyên là một thắng lợi lớn của quân và dân ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Đây là lần đầu tiên ta giải phóng được một vùng rộng lớn trên chiến trường rừng núi bắc Tây Nguyên, trong đó có một thị xã có tầm quan trọng cả về quân sự và chính trị. Thắng lợi của chiến dịch còn có ý nghĩa buộc địch phải ngừng cuộc hành quân Át-lăng, rút sáu tiểu đoàn bộ binh và dù lên ứng cứu cho Tây Nguyên, xây dựng hai tập đoàn cứ điểm ở Plây Cu và An Khê. Chiến dịch bắc Tây Nguyên đã đánh bại ý đồ “chủ động tiến công trước” và làm phân tán hơn nữa khối cơ động chiến lược của Na-va trên chiến trường Đông Dương.

Thành công của Chiến dịch bắc Tây Nguyên là ở chỗ ta đã chọn cách đánh hay cả về chiến dịch và chiến thuật, tổ chức hiệp đồng toàn diện, có hiệu quả trên địa bàn toàn liên khu.

Về chỉ đạo tác chiến trên địa bàn toàn liên khu, liên khu đã giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang và nhân dân vùng tự do chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh địch bảo vệ hậu phương đồng bằng, để bộ đội chủ lực rảnh tay tác chiến tập trung trên chiến trường rừng núi; chỉ đạo vùng sau lưng địch đẩy mạnh hoạt động để phối hợp với hướng chính. Sự chỉ đạo phối hợp này không những đã tạo thêm bất ngờ đối với địch trên hướng chủ yếu (Tây Nguyên) mà còn buộc địch phải đối phó trên diện rộng trong địa bàn toàn liên khu trước khi địch mở cuộc hành quân Át-lăng.

Về nghệ thuật chiến dịch nét độc đáo của Chiến dịch Bắc Tây Nguyên là ta đã chọn đúng hướng mở màn chiến dịch. Đông bắc Kon Tum là khu vực phòng thủ cứng của địch nhưng lại là khu vực phòng ngự hiểm yếu, không liên hoàn nên khi ta tiến công địch buộc phải ứng cứu, tạo điều kiện cho ta đánh địch ngoài công sự. Khi bị mất thì toàn bộ khu vực bắc Kon Tum và thị xã Kon Tum bị uy hiếp trực tiếp và nhanh chóng dẫn tới tan vỡ.

Sau khi diệt xong các cứ điểm trong tuyến phòng thủ đông bắc Kon Tum, Bộ chỉ huy chiến dịch đã thúc đẩy các đơn vị nhanh chóng bước vào đợt 2, chuyển hướng tiến công các cứ điểm trên tuyến Đắc Tô – Đắc Lây và áp sát uy hiếp thị xã Kon Tum. Chủ trương linh hoạt đó đã khiến cho lực lượng lớn của địch trong thị xã không đủ khả năng tự cứu mà một lực lượng cơ động lớn được điều lên ứng cứu (GM100) cũng bị vô hiệu hóa.

Trong Chiến dịch Bắc Tây Nguyên ta còn chủ trương nổ súng đồng loạt trên các hướng (đông bắc, bắc và đường số 19) và tiêu diệt hàng loạt cứ điểm trong mấy ngày đầu chiến dịch, làm đảo lộn thế trận phòng thủ của địch, gây tâm lý hoang mang dao động trong binh lính địch, tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh các trận tiếp sau.

Trong thực hành, bộ đội ta đã vận dụng khá linh hoạt các hình thức, thủ đoạn chiến thuật. Ngoài việc tổ chức tiến công một loạt các cứ điểm, ta đã tổ chức các trận địa phục kích trên đường 5 và đường 14 để đánh địch ngoài công sự, chớp thời cơ tập kích khi địch chủ quan, hay tổ chức các lực lượng luồn sâu đánh phá sở chỉ huy địch trong thị xã.

Tuy còn một số hạn chế trong tổ chức chỉ huy đánh địch trong công sự cũng như trong đánh vận động, song Chiến dịch Bắc Tây Nguyên là một bước tiến quan trọng về nghệ thuật tiến hành chiến dịch ở một chiến trường xa sự giúp đỡ hậu phương của ta.



________________________________
1. Kết quả về công tác đảm bảo hậu cần trong chiến dịch, các địa phương đã huy động hơn 10.000 tấn lương thực thực phẩm, hơn 200.000 lượt người dân công, phục vụ gần 6.000.000 ngày công, hơn 2.000 xe đạp thồ, hơn 1.000 xe bò, xe ngựa. Hậu cần chiến dịch đã cung cấp cho bộ đội 72 tấn vũ khí đạn dược, 900 tấn gạo, 200 tấn thịt, 50 tấn cá tươi, gần 100 tấn thực phẩm khô, 20 tấn thuốc quân y cứu chữa hơn 2.000 thương binh.
Logged
vuhoangsonhn
Thành viên

Bài viết: 3


« Trả lời #5 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2011, 12:36:52 PM »

Xin cảm ơn bác (xin lỗi vì không rõ cách xưng hô) Tunguska. nhưng hình như Tây Nguyên còn có mấy chiến dịch nữa tuy rằng mấy trận đó không quan trọng bằng 3 chiến dịch Đăk Lak-An Khê-Bắc Tây Nguyên. Xin nhờ ? Tunguska giúp đỡ tiếp.
Logged
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM