Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Năm, 2012, 04:02:40 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những kiến giải về sự hình thành và danh xưng quân hàm thế giới  (Đọc 15704 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #10 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2011, 11:51:33 AM »

Đô đốc (Admiral, Amiral)

Từ nguyên của cấp bậc này từ "admirallus" trong tiếng Latin, dùng để chỉ người chỉ huy các hải đoàn đại dương. Mỗi một Hải đoàn sẽ được giao phó cho một Admiral chỉ huy. Về sau phát triển thêm, một phụ tá giúp đỡ vị Admiral chỉ huy các chiến thuyền đi đầu, vốn là những chiến thuyền sẽ chịu đựng mũi dùi của một cuộc tấn công trên biển, gọi là Vice Admiral; và một phụ tá khác sẽ chỉ huy các chiến thuyền còn lại ở phía sau, được xem là ít nguy hiểm nhất, gọi là Rear Admiral.
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #11 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2011, 11:53:04 AM »

Hạm trưởng (Commodore, Commandeur)

Nguyên thủy cấp bậc này xuất phát từ commandeur trong tiếng Pháp, là một cấp bậc cao nhất của tầng lớp hiệp sĩ thời Trung cổ, thường là hiệp sĩ thủ lĩnh của một commenda (một nhóm hiệp sĩ thuộc vùng lãnh thổ giàu mạnh). Cuối thế kỷ 16, lần đầu tiên cấp bậc này được áp dụng trong Hải quân Hà Lan, có vị trí cao hơn các Captain nhưng chưa đạt bậc Admiral. Số phận cấp bậc này cũng giống như các Brigadier nằm lửng lơ giữa từng trời.
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #12 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2011, 11:56:49 AM »

Là lực lượng quân đội xuất hiện sau cùng trong lịch sử quân sự, Không quân hầu như sử dụng các cấp bậc vay mượn từ Lục quân hoặc Hải quân. Đế quốc Anh là quốc gia đầu tiên đặt ra cấp bậc cho Không quân, vay mượn chủ yếu từ cấp bậc Hải quân. Tuy nhiên, ở cấp tướng thì lại dùng Air Marshal để tránh nhầm lẫn với Field Marshal, vốn có cấp bậc cao hơn. Hầu hết các nước trên thế giới, cấp bậc Không quân đều giống như cấp bậc Lục quân.
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #13 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2011, 02:13:08 PM »

Nga là quốc gia đầu tiên chuẩn hóa hệ thống cấp bậc quân đội. Đầu năm 1722, Pyotr Đại đế đã thông qua Luật về trật tự công vụ trong Đế chế Nga, trong đó quy định hệ thống cấp bậc quân sự (sĩ quan) thành 14 hạng, như sau:
* Ngoại hạng:
Tổng tư lệnh tối cao (Генералиссимус)

* Hạng I
Tổng thống chế chiến trường (Генерал-фельдмаршал)
Tổng đô đốc hạm đội (Генерал-адмирал на флоте)

* Hạng II
Tổng quan bộ binh (Генерал от инфантерии)
Tổng quan kỵ binh (Генерал от кавалерии)
Tổng quan hỏa lực (Генерал-фельдцейхмейстер в артиллерии)
Đô đốc (Адмирал)

* Hạng III
Phó tổng quan (Генерал-лейтенант)
Phó đô đốc (Вице-адмирал)
Tổng ủy viên tiếp vận (Генерал-кригскомиссар по снабжению)

* Hạng IV
Phụ tá Tổng quan (Генерал-майор)
Chỉ huy trực (Шаутбенахт)
Cao ủy tiếp vận (Обер-штер-кригскомиссар по снабжению)

* Hạng V
Lữ trưởng (Бригадир)
Thuyền trưởng chỉ huy (Капитан-командор)
Ủy viên tiếp vận (Штер-кригскомиссар по снабжению)

* Hạng VI
Đoàn trưởng (Полковник)
Thuyền trưởng hạng nhất (Капитан 1-го ранга)
Phụ trách tiếp vận cấp cao (Обер-кригскомиссар по снабжению)

* Hạng VII
Phó đoàn trưởng (Подполковник)
Thuyền trưởng hạng nhì (Капитан 2-го ранга)
Phụ trách tiếp vận (Кригскомиссар по снабжению)
Đội trưởng quân cảnh bộ binh (Капитан гвардии в пехоте)
Đội trưởng quân cảnh kỵ binh (Ротмистр гвардии в кавалерии)

* Hạng VIII
Thuyền trưởng hạng ba (Капитан 3-го ранга)


Hạng IX
Đội trưởng bộ binh (Капитан в пехоте)

* Hạng X
Thuyền phó (Лейтенант на флоте)
Phó đội trưởng kỵ binh (Секунд-ротмистр в кавалерии)
Phụ trách hậu cần pháo binh (Цейхвартер в артиллерии)
Phó quan cô dắc (Подъесаул у казаков)

* Hạng XI
Bí thư hạm đội (Корабельный секретарь на флоте)

* Hạng XII
Phụ tá thuyền phó (Унтер-лейтенант на флоте)
Toán trưởng cô dắc (Сотник у казаков)

* Hạng XIII
Phó toán trưởng pháo binh (Секунд-поручик в артиллерии)

* Hạng XIV
Cai cờ bộ binh (Фендрик в пехоте)
Cai kèn kỵ binh (Корнет в кавалерии)
Cai hiệu cô dắc (Хорунжий у казаков)
Học viên sĩ quan pháo binh (Штык-юнкер в артиллерии)

Có thể thấy người Nga bấy giờ hãy còn vay mượn nhiều danh từ nước ngoài, đặc biệt là các từ gốc Đức, nhưng dù sao họ vẫn là quốc gia đầu tiên chuẩn hóa quân hàm trên thế giới. Hệ thống này có vài điều chỉnh theo thời gian, nhưng chung quy vẫn sử dụng tại Nga cho đến khi chính quyền Xô-viết bãi bỏ vào năm 1917. Mặc dù vậy, nó vẫn chứng minh hiệu quả khi chính quyền Xô-viết tái lập lại hệ thống này với những cải tiến mang tính khoa học hơn vào năm 1924.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Tám, 2011, 02:24:19 PM gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #14 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2011, 07:30:55 PM »

Năm 1826, một hệ thống cấp hiệu cho Quân đội Đế quốc Nga được đặt ra. Có thể nói nó rất khoa học và tồn tại cho đến ngày nay, được nhiều quốc gia khác copy lại (mà quân đội Đế quốc Nhật là một ví dụ)
(Nguồn: Uniforminsignia.org)


Tổng thống chế (Генерал-фельдмаршал)



Tổng đô đốc (Генерал-адмирал на флоте)


Tổng quan (Генерал)


Đô đốc (Адмирал)


Phụ tá Tổng quan (Генерал-майор)


Chuẩn đô đốc (Контр-адмирал)


Thuyền trưởng hạng nhất (Капитан 1-го ранга)



Phó đoàn trưởng (Подполковник)


Phụ tá (Майор)


Phó thuyền trưởng (Капитан-лейтенант)


Đội trưởng (Капитан)


Thuyền phó cao cấp (Старший лейтенант)


Phó toán trưởng (Подпоручик)


Thủy thủ trưởng (Мичман)

Có ai thấy quen và nắm được quy luật của các cấp hiệu này không?
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #15 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2011, 08:55:30 AM »

Như đã nêu trên, người Nga không phải là người đầu tiên đặt ra các danh xưng quân hàm phương Tây, cũng không phải người đầu tiên sáng tạo ra hệ thống cấp hiệu. Tuy nhiên, với "Bảng cấp bậc" (Табель о рангах), họ là quốc gia đầu tiên chuẩn hóa hệ thống cấp bậc quân sự một cách toàn diện và gần như ổn định cho đến ngày nay. Hệ thống cấp hiệu sao và vạch của họ là sự kết hợp của 2 trường phái Anh và Pháp trước đó, hình thành một hệ thống cấp hiệu riêng có ảnh hưởng lớn, mà ta hãy tạm gọi là hệ cấp hiệu Nga.

Thực ra từ trước năm 1760, người Anh đã có hệ thống cấp bậc quân sự riêng của mình, đượt đặt ra dần theo thời gian. Tuy nhiên, họ không hoàn toàn được quy chuẩn mà được tạm xem như có quan hệ cấp bậc sĩ quan 10 cấp như sau:

* Hạng I
Thống chế chiến trường (Field Marshal)
 
* Hạng II
Tổng đội trưởng quan (Captain-General)

* Hạng III
Phó tổng quan (Lieutenant General)

* Hạng IV
Chánh trợ lý tổng quan (Sergeant-Major-General)
   
* Hạng V
Lữ quan (Brigadier General)
    
* Hạng VI
Đoàn trưởng (Colonel)    

* Hạng VII
Phó đoàn trưởng (Lieutenant Colonel)

* Hạng VIII
Chánh trợ lý (Sergeant-Major's Major)

* Hạng IX
Đội trưởng bộ binh (Captain)    

Các sĩ quan dưới cấp bậc Captain gọi chung là Subaltern phân hạng như sau:

Phó đội trưởng (Captain-Lieutenant)
Đội phó (Lieutenant)
Đội phó thứ hai (2nd Lieutenant)
Cai cờ bộ binh (Ensign)
Cai kèn kỵ binh (Cornet)    

Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #16 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2011, 09:54:19 AM »

Năm 1760, lần đầu tiên hệ thống cấp hiệu Lục quân Hoàng gia Anh được tiêu chuẩn hóa, tuy nhiên chỉ giới hạn phân biệt ở 3 cấp quân (army), đoàn (regiment) và đội (company) chứ chưa chi tiết đến từng cấp bậc. Theo đó, sĩ quan cấp army thêu các dải vàng ở cổ tay (cuff), cấp regiment đeo lon và tua ở 2 vai, cấp company đeo lon và tua ở vai trái.

Trong hơn 100 năm, hệ thống cấp hiệu của Lục quân Anh được thay đổi nhiều lần. Các danh xưng cũng được biến đổi giống như ngày nay. Những biến đổi quan trọng được ghi nhận lại như sau:

- Các danh xưng cấp bậc được đơn giản hóa: Captain-General thành General, Sergeant-Major-General thành Major General, Sergeant-Major's Major thành Major.

- Năm 1810, các biểu tượng cấp hiệu vương miện (crown) và sao vuông (pip) dùng trên quân phục dã chiến ra đời. Các biểu tượng này về sau ảnh hưởng khá nhiều quốc gia (trong đó có cả Phổ, sau là Đức)

Biểu tượng cầu vai với crown và pip qua các thời kỳ

1880-1915

1915-1922

1922-nay

- Năm 1871, cấp bậc Captain-Lieutenant sát nhập vào cấp bậc Lieutenant, các cấp bậc Ensign và Cornet sát nhập vào cấp bậc 2nd Lieutenant.    

- Năm 1880, hệ thống cấp hiệu cầu vai được quy định. Hệ thống này khá ổn định, hầu như không thay đổi cho đến ngày nay.

- Năm 1902, quy định cấp 2nd Lieutenant mang 1 pip trên cầu vai (trước đó không có), cấp Lieutenant 2 pip (trước đó mang 1) và Captain 3 pip (trước đó mang 2).

- Năm 1922, cấp Brigadier General đổi danh xưng thành Colonel-Commandant, chính thức bị loại khỏi bậc sĩ quan cấp tướng. Tuy nhiên cấp hiệu vẫn như cũ.

- Năm 1928, cấp Colonel-Commandant đổi danh xưng thành Brigadier. Cấp hiệu cũng đổi lại để phản ánh cấp bậc sĩ quan cấp tá.


Cấp hiệu Brigadier General (từ 1922 là Colonel-Commandant) trước năm 1928


Cấp hiệu Brigadier từ 1928 trở đi
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Tám, 2011, 10:18:12 AM gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #17 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2011, 10:38:31 AM »

Người Anh cũng thành lập một hệ thống quân hàm Hải quân từ rất sớm, trước cả Lục quân. Ngay từ năm 1748, một hệ thống cấp bậc Hải quân được quy định với 10 cấp sĩ quan được quy định như sau:

* Hạng I:
Đô đốc Hạm đội (Admiral of the Fleet)

* Hạng II
Đô đốc (Admiral)

* Hạng III
Phó đô đốc (Vice admiral)

* Hạng IV
Chuẩn đô đốc (Rear admiral)

* Hạng V
Hạm trưởng hạng nhất (Commodore 1st class)

* Hạng VI
Hạm trưởng hạng nhì (Commodore 2nd class)

* Hạng VII
Thuyền trưởng (Captain)

* Hạng VIII
Chỉ huy (Commander)

* Hạng IX
Thuyền phó (Lieutenant)

* Hạng X
Cai quyền (Mate)

Năm 1758, cấp hiệu Midshipman được đặt ra, với một mảnh vải trắng trên cổ áo xanh. Cấp hiệu này không thay đổi cho đến ngày nay, trở thành cấp hiệu quân sự lâu đời nhất còn tồn tại.  


Cấp hiệu Midshipman

Tuy nhiên, mãi 100 năm sau, năm 1856, một hệ thống cấp hiệu sĩ quan Hải quân với những dải vàng và vòng xuyến ở cổ tay, mới được quy định. Theo đó, cấp hiệu đô đốc được quy định với những dải vàng lớn có chiều rộng 1¾inch, phân biệt bởi số lượng các dải vàng nhỏ có chiều rộng ⅝inch. Các hạm trưởng hạng nhất cũng mang cấp hiệu giống như Chuẩn đô đốc. Các cấp sĩ quan còn lại phân biệt bởi số lượng dải vàng có chiều rộng ½inch, trừ cấp bậc Mate chỉ mang một dải vàng nhỏ rộng ¼inch. Hệ thống cấp hiệu Hải quân Anh này về sau ảnh hưởng đến hầu hết các hệ thống cấp hiệu trên thế giới.

Từ 25 tháng 3 năm 1863, một số cấp bậc và cấp hiệu được thay đổi. Theo đó, các cấp hiệu sĩ quan dưới đô đốc được quy định lại như sau:

Commodore 2nd class: một dải vàng lớn 1¾inch (trước là 4 dải ½inch)
Captain: 4 dải ½inch (trước là 3)
Commander: 3 dải ½inch (trước là 2)
Lieutenant: 2 dải ½inch (trước là 1)
Sub-lieutenant: 1 dải ½inch (mới đặt ra)

Các cấp hiệu ngù vai cũng được quy định lại như sau:

Admiral of the Fleet: Crown, batons bắt chéo và 4 sao
Admiral: Crown, baton & kiếm và 3 sao
Vice admiral:    Crown, baton & kiếm và 2 sao
Rear admiral    Crown, baton & kiếm và 1 sao lớn


Cấp hiệu với crown, baton, kiếm và sao

Commodore & Captain trên 3 năm: Crown, 2 sao và mỏ neo
Captain dưới 3 năm:    Crown, 1 sao và mỏ neo
Commander: Crown và mỏ neo
Lieutenant trên 8 năm: Sao và mỏ neo
Lieutenant dưới 8 năm: Mỏ neo

Năm 1877, để tương ứng cấp hiệu ngù vai và tay áo, các Lieutenant trên 8 năm mang thêm mội dải nhỏ rộng 3/16inch giữa 2 dải ½inch.

Năm 1891, cấp hiệu cầu vai của Đô đốc hạm đội được đồng nhất với cấp hiệu của Thống chế chiến trường. Dải nhỏ trên cấp hiệu Lieutenant trên 8 năm cũng được mở rộng lên ¼inch.

Năm 1914, cấp bậc Lieutenant trên 8 năm được đổi thành cấp bậc Lieutenant-commander.

Năm 1919, các dải nhỏ trên cấp hiệu đố đốc được thu hẹp từ ⅝inch xuống ½inch. Tuy nhiên, các tướng lĩnh hoàng gia vẫn mang dải ⅝inch.

Từ 1926, các Captain thống nhất mang 1 sao trên cấp hiệu cầu vai.

Từ 1931, các dải hẹp ½inch được tăng lên 9/16inch. Cấp bậc Commodore được quy tương đương với cấp Brigadier (tức không thuộc cấp đô đốc). Các cấp hiệu cầu vai của sĩ quan dưới cấp đô đốc cũng thay đổi giống như cấp hiệu ở tay áo


Cấp hiệu Vice admiral (tương đương Phó đô đốc)


Cấp hiệu Lieutenant-commander (tương đương Thiếu tá Hải quân)

Năm 1958, hai cấp Commodore được hợp nhất, thống nhất mang cấp hiệu của Commodore 2nd class.


Cấp hiệu Commodore ngày nay (tương đương Đại tá Hải quân cao cấp)


Cấp hiệu Captain ngày nay (tương đương Đại tá Hải quân)
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Tám, 2011, 10:36:20 AM gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #18 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2011, 12:17:42 PM »

Không quân Hoàng gia Anh là lực lượng không quân lâu đời nhất trên thế giới. Nó được thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 1918 trong Đệ nhất Thế chiến bởi sự hợp nhất của các binh đoàn không quân Lục quân Anh và lực lượng không quân Hải quân Hoàng gia. Điều này ảnh hưởng nhiều đến danh xưng của hệ thống cấp bậc và cấp hiệu của lực lượng này.

Ban đầu, danh xưng cấp bậc được đề nghị sử dụng danh xưng cấp bậc của Hải quân hoặc của Lục quân. Tuy nhiên, cả Hải quân lẫn Lục quân đều phản đối việc dùng chung danh xưng cấp bậc của họ ở một quân chủng "đàn em", nhỏ cả tuổi đời lẫn quy mô nhân sự. Bên cạnh đó, Bộ Chiến tranh cũng đưa ra lập luận Không quân cần có hệ thống danh xưng và cấp hiệu riêng. Từ đó, một phương án thỏa hiệp được đặt ra như sau:

Air Marshal (tương đương Thống chế)
Ardian (tương đương Đại tướng)
Wing Ardian hoặc Second Ardian (tương đương Trung tướng)
Squadron Ardian hoặc Third Ardian (tương đương Thiếu tướng)
Flight Ardian hoặc Fourth Ardian (tương đương Chuẩn tướng)
Leader hoặc Banneret (tương đương Đại tá)
Wing Leader hoặc Reeve (tương đương Trung tá)
Squadron Leader (tương đương Thiếu tá)
Flight Leader (tương đương Đại úy)
Lieutenant (tương đương Trung úy)
Ensign (tương đương Thiếu úy)

Hệ thống cấp hiệu của Không quân được lấy từ cấp hiệu Hải quân tương ứng, áp dụng thống nhất cho cả cổ tay lẫn cầu vai, nhưng không mang vòng xuyến. Ở quân phục thường dùng, các dải của Không quân có màu xanh xám so với Hải quân là màu vàng. Tuy nhiên, ở lễ phục vẫn dùng màu vàng như Hải quân.

Cấp Ensign ban đầu không có cấp hiệu riêng, mà chỉ sử dụng biểu tượng đại bàng làm cấp hiệu. Mãi đến tháng 8 năm 1918 mới được quy định sử dụng 1 dải 1/4inch làm cấp hiệu.

Nếu như cấp hiệu dễ dàng được đưa vào sử dụng thì hệ thống danh xưng khá mới mẻ và rối rắm nên không được sử dụng. Các sĩ quan vẫn dùng danh xưng cấp bậc ở đơn vị cũ của mình. Các tham mưu trưởng thời kỳ đầu của không quân vẫn dùng danh xưng Major-General như Lục quân.

Mãi đến 1 tháng 8 năm 1919, Bộ Không quân mới quy định chi tiết về cấp hiệu và danh xưng cấp bậc sĩ quan không quân. Về cấp hiệu, các dải vàng được thay bằng dải đen, giữa có cái vạch nhỏ màu xanh nhạt. Chiều rộng của dải nhỏ cũng được thu xuống ½inch như Hải quân. Các danh xưng cấp bậc cũng được quy định ghép giữa cấp bậc và quy mô đơn vị, phỏng theo hệ thống cấp hiệu của lực lượng không quân Hải quân Hoàng gia trước đó. Cấp tướng sử dụng danh xưng Air Marshal để phân biệt với Field Marshal vốn có cấp bậc tương ứng cao hơn. Cấp bậc tương ứng với Field Marshal trong Không quân ban đầu là Marshal of the Air. Tuy nhiên, chỉ sau vài ngày, nó đã được đổi lại thành Marshal of the Royal Air Force theo yêu cầu của vua George V.

Hệ thống danh xưng cấp bậc này tồn tại cho đến ngày nay.

1. Thống chế Không quân Hoàng gia (Marshal of the Royal Air Force)
2. Đại tướng (Air Chief Marshal)
3. Trung tướng (Air Marshal)
4. Thiếu tướng (Air Vice Marshal)


Cấp hiệu Thiếu tướng Không quân Hoàng gia

5. Đại tá cao cấp (Air Commodore)
6. Đại tá (Group Captain)
7. Trung tá (Wing Commander)


Cấp hiệu Trung tá Không quân Hoàng gia
8. Thiếu tá (Squadron Leader)
9 Đại úy (Flight Lieutenant)
10. Trung úy (Flying Officer)
11. Thiếu úy (Pilot Officer)         


Cấp hiệu Thiếu úy Không quân Hoàng gia
      
         
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #19 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2011, 02:11:46 AM »

Các bài viết của bác cả bên TTVNOL và VMH đều rất hay. Nếu có thể, mong bác mau chóng hoàn thiện nốt topic này ạ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM