nhuthin
Thành viên

Bài viết: 38
|
 |
« Trả lời #131 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2012, 08:00:36 AM » |
|
MỘT THỜI MÁU VÀ RAU
Đầu năm du xuân lên vùng cao, một người bạn đem về làm quà cho tôi một nắm rau rừng. Lẫn trong mớ rau mơn mởn ấy, có cả rau tầu bay quen thuộc với các thế hệ lính đã từng trải qua mấy mùa kháng chiến.
Chẳng hiểu tên khoa học của loài cây này là gì, chỉ biết anh em quen gọi là tầu bay. Nghe nói thời chống Pháp, các bác lính vệ quốc thấy nó mọc nhan nhản quanh hố bom nên gọi như thế, lâu ngày thành tên.
Thực ra gắn bó với lính không chỉ có rau tầu bay, còn rất nhiều các loại rau rừng khác, đã giúp bộ đội vượt qua muôn vàn khó khăn thiếu thốn trong kháng chiến trường kỳ.
Tôi có một người cháu họ, đi công tác tại Canada mấy tháng. Email gửi về toàn nói chuyện thèm rau. Nó mong kết thúc chuyến công tác, trở về nước chén một đĩa rau muống vắt chanh cho “sướng miệng”. Người bình thường có thể cho là chuyện khôi hài. Nhưng, những thằng lính chiến như chúng tôi, đã từng chịu cảnh thiếu rau mới thấm thía và cảm thông chuyện ấy. Có thể bữa ăn không có thịt cá, mà chẳng có thịt lẫn cá là chuyện thường tình. Nhưng không có rau thật khốn khổ. Cho dù chỉ là mấy ngọn rau rừng. Người luôn có cảm giác bồn chồn, bất an và mỏi mệt. Chính vì thế, để có được mấy ngọn rau, đôi khi chúng tôi đã phải trả bằng máu.
Vào giữa những năm 60 của thế kỷ trước, anh trai tôi trước khi đi B, có mang về cho tôi xem một cuốn cẩm nang các loại rau rừng. Sách in màu, rất đẹp, chỉ dẫn chi tiết các loài rau có ở các vùng miền. Đến những năm 70, khi thế hệ chúng tôi vào trận thì không được trang bị cuốn cảm nang ấy nữa. Kiến thức về rau rừng, các thế hệ lính cứ truyền lại cho nhau.
Rau rừng, phong phú nhất là các loài có vị chua. Nào là chút ngút, chua me, tai chua và cả quýt rừng. Đợt hành quân vào tây nam Huế đầu năm 1975, anh em bắt được một mớ cá suối. Chúng tôi đi kiếm rau để nấu riêu. Nhìn lên núi, phát hiện ra một cây quýt quả chin vàng rực. Hai thằng trèo lên, mò mẫm dưới những lùm cây. Phía dưới, đồng đội phải xi nhan mãi mới tới nơi. Thật thất vọng, ở dưới núi, nom cây quýt chỉ nhỉnh hơn cây quất cảnh bầy ngày tết . Vậy mà, trước mặt hai thằng là một cây quýt “cổ thụ”. Không thể hái được vì quá cao, trèo thì cành lại quá mảnh. Thôi đành thu hoạch kiểu con nhà lính vậy. Nghĩa là, đồn cả cây. Bữa ấy, cả đại đội ăn canh chua.
Sau rau chua là rau tàu bay, rừng nào cũng sẵn. Nhưng thú thực tôi không khoái cái mùi hăng hắc của nó. Mà nghe nói, ăn nhiều dễ bị sốt rét. Chẳng biết có đúng không? Tiếp đến là môn thục, mọc nhan nhản dưới suối. Ăn chẳng có vị gì, như cỏ vậy. Nếu may mắn vớ được một cây chuối rừng thì tuyệt. Hoa, thân, và cả củ đều dùng được. Mà, nó gợi lại món ăn dân dã quê nhà, thật thú vị. Hoặc giả nếu gặp một cây mít rừng cũng tốt. Quả của nó có thể ăn tất, dĩ nhiên là trừ vỏ.
Nhưng ngon nhất phải kể đến ngọn của cây móc thì phải. Lá như lá cây động đình. Tước hết những chiếc bẹ lá, còn lại một đoạn non sát ngọn, ăn ròn và ngọt. Có thể ăn sống được. Hoặc kiếm được chút măng rừng thì miễn bàn.
Hồi ở Hà Tĩnh, một lần tôi được cử đi công tác lấy rau. Một hợp tác xã nào đó cung cấp cho đơn vị một ít rau muống. Từ cánh rừng đóng quân đến nơi lấy rau mất đúng nửa ngày đường. Việc đầu tiên, chúng tôi luộc ngay một bó tướng. May mắn, ông chủ nhiệm HTX lại chiếu cố cho bát nước mắm. Chúng tôi chén một bữa nhớ đời. Nhưng lúc về mới thật là gay. Bụng đã nặng mà rau còn nặng hơn. Là lính cày đường nhựa, tôi có biết gánh gồng là gì đâu. Đã thế, cái đòn gánh là khúc tre sần sùi như răng cá sấu, cứ vô tư nhai đôi vai gày của thằng lính thư sinh tội nghiệp. Có đoạn mương nước chảy xiết cùng đường,tôi bỗng nảy ra một sáng kiến vĩ đại. Thả hai bao tải rau xuống mương. Sung sướng đi trên bờ cho dòng nước thay mình làm kiếp con lừa. Nhưng chỉ được hơn một cây số, mương đi đường mương, còn tôi đi đường tôi. Đành phải vớt hai bao tải rau lên. Ôi thôi, trọng lượng của nó đã tăng lên bội phần. Cái sáng kiến vĩ đại ấy đã khiến tôi gần nửa đêm mới về đến đơn vị còn đôi vai thì toác máu, dính bết vào quân phục mãi chẳng lành.
Vào Quảng Trị chiến đấu năm 1972, hậu cần càng khó khăn hơn. Một lần, tại căn cứ Ái Tử, bên đống rác khổng lồ, tôi thấy vương vãi một ít cuộng rau muống, nửa xanh nửa vàng. Cái phần vứt đi khi ta nhặt rau ấy, đã giúp chúng tôi có một chút canh cũng ấm lòng .
Tiếp đến là những ngày nằm trong chốt An Tiêm, chợ Sải. Đêm đêm, anh nuôi lại đem vào cho chúng tôi một ít rau bầu đất. Cái loại rau dại này ăn vừa cứng vừa nhơn nhớt, mùi vị thật khó chịu. Ấy vậy mà, không ít chiến sĩ đã đổi mạng trên đường vào chốt tiếp tế cho anh em .
Những hôm chốt trong vườn chuối có khá hơn. Rau dền rất nhiều. Đục hai lỗ bên mép của một chiếc vỏ hộp dầu đậu nành, tôi buộc một đoạn dây thép vào. Thế là có một chiếc xoong dã chiến. Chất đốt là vỏ nhựa của những quả đạn cối 82 ly, chẻ nhỏ. Nằm trong hầm chữ A, bỏ một nắm rau vào lon dầu, tôi kiên nhẫn đốt từng thanh nhựa chờ rau chín, cho một ít mì chính vào, ăn với cơm nắm cũng dễ nuốt hơn nhiều so với chút muối rang. Có dám lên mặt đất đâu. Trên mặt đất không có lợi. Khánh “Voi” bảo tôi thế!
Đầu xuân năm 1975, chúng tôi tham gia chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Ngày 26 tháng 3, từ An Cựu, đơn vị được lệnh cùng các sư đoàn bạn, tiếp tục truy kích địch đang tháo chạy ra cửa biển Thuận An, Tư Hiền. Đã bẩy ngày tham gia chiến dịch, ăn uống thất thường. Trận mạc liên miên, lính tráng đã quá mệt. Tiểu đội gắng gượng tiến quân trên những dải cát dài. Quân trang quân dụng của địch vứt ngổn ngang. Bắt gặp một ngôi nhà nhỏ ven đường, tôi cho anh em vào nghỉ tạm. Trước sân nhà là một mảnh vườn nhỏ, mấy luống cải củ xanh mướt khiến cả tiểu đội không rời mắt. Dồn lại được hai phong lương khô, tôi đề nghị ông chủ đổi cho một ít rau. Chủ nhà ngơ ngác mãi mới hiểu. Ông ta nói : - Chẳng tiếc mấy chú chi mô. Nhưng các chú có ở lại hay lại ra đi như năm Mậu Thân. Cha tui vì tiếp tế cho Giải Phóng nên phải chịu cảnh tù đày…
Chỉ là những thằng lính trỏ đâu đánh đấy, nào biết chiến cuộc sẽ về đâu? Song, có lẽ một phần vì cái mầu xanh ngăn ngắt của những luống cải kia, chúng tôi cứ liều mạng hứa bừa. Sẽ ở lại mãi mãi. May sao, lời hứa ấy sau này thành sự thực.
Mươi ngày sau, tiểu đoàn đóng quân tại sân bay Nước Mặn. Bên hàng rào kẽm gai có một bụi bí dại, những ngọn non mơn mởn của nó cứ vươn dài, rung rinh vẫy gọi trước gió xuân. Tôi ngắm những ngọn bí ấy mà thèm. Nhưng không đùa được. Hàng rào bảo vệ của sân bay quân sự, chắc chắn có mìn. Tiếc lắm, đành bấm bụng quay đi.
Mươi phút sau, một tiếng nổ tung trời. Ngoảnh lại, một chiến sĩ trẻ nằm vật bên hàng rào. Chân nát bét, máu chảy đẫm một vạt cát. Chiếc giày rách bươm văng đến gần mấy ngọn bí. Người đồng đội xấu số ấy kêu khóc thật thảm thiết. Tư dưng tôi thấy chóng mặt. Những ngọn bí như loài kỳ nhông đổi màu . Thoắt chuyển thành màu đỏ, cứ đỏ lòm, đỏ lòm…
Luộc nắm rau rừng bạn cho, rót một chén rượu mạnh, tôi nhấm nháp cái vị đăng đắng xa xưa, cố tìm trong ấy chút dư vị ngọt bùi. Nhấm nháp luôn cả những kỷ niệm của một thời trai trẻ, Máu và Rau.
Tháng giêng, năm Nhâm Thìn Như Thìn
|