MA XÓ VÙNG CAO
Ở Yên Sở được vài ngày , đám tân binh K15 toán cơ Đại Học Tổng Hợp chúng tôi được biên chế thành mấy tiểu đội . Tiểu đội tôi gồm Quý Lăng, Nguyễn văn Thạc, Đinh Minh và mấy bạn khác. Lăng , Thạc thì chẳng nói làm gì, là những bạn ưa hoạt động ai cũng biết. Riêng Đinh Minh, thú thật tôi không rành lắm. Cũng một phần vì tôi ở ngoại trú. Đinh Minh người thấp nhỏ, da ngăm đen, nổi bật trên khuôn mặt hơi khắc khổ là cái mũi khoằm, đôi mắt sâu nhưng đặc biệt sáng. Giọng nói của hắn thì rất lạ không phân biệt được vùng miền. Chẳng hiểu sao, trông hắn lúc nào cũng khó đăm đăm, có lẽ vì thế sau này mang biệt danh "Minh già."
Vào một đêm trung tuần tháng chín năm 1971, chúng tôi được lệnh hành quân, rồi lên tầu, đến sáng thì có mặt ở Bắc Giang. Là nghe thằng Lăng nói thế, chứ tôi đã bao giờ lên Bắc Giang đâu. Chỗ này Lăng rành lắm, quê nó mà. Suốt một đêm chập chờn, tưởng được nghỉ ngơi, ai dè tiếp tục hành quân, lần này thì phương tiện bằng "căng hải". Cũng vui, phong cảnh đẹp, là dân thành phố mấy khi được ngắm cảnh núi rừng, cái gì cũng lạ và đẹp. Hai bên đường sim mua mọc lút đầu. Những bông hoa tím lóng lánh dưới ánh mặt trời ban mai khoe sắc với những ngôi sao mới tinh trên mũ người chiến sĩ. Thỉnh thoảng ngắt một quả sim cuối mùa bỏ vào miệng cũng thú vị. Mà gọi là đường chứ thực ra toàn lối mòn trâu kéo gỗ. Lên dốc, lại xuống dốc, một tiếng sau thì chẳng còn thấy vui đâu, hết chịu nổi. Tháng chín gì mà nắng thế, đứa nào đứa ấy há hốc mồm. Không biết bao giờ mới tới nơi. Mà sao, chẳng có một đoạn bằng phẳng nào cả . Thật khốn khổ cho hai cái đầu gối. Cứ muốn long ra . Mồ hôi nhễ nhại.
Cứ lết bết như thế mãi gần trưa, chúng tôi cũng tới được một bản heo hút chừng hơn chục nóc nhà. Tôi, Đinh Minh và mấy bạn khác được phân vào nghỉ trong một ngôi nhà tuềnh toàng bốn bề phên che. Trong nhà có độc một chíêc giường gỗ cũ kỹ, kiểu dáng kỳ lạ, có lẽ gia chủ tự chế tạo. Đón chúng tôi là một người đàn ông chạc ba mươi, mặc bộ quần áo chàm đặc trưng của người miền núi, nói tiếng kinh lơ lớ. Sau lưng ông ta là ba cặp mắt thao láo, trên ba khuôn mặt lem nhem, có lẽ chẳng rửa ráy bao giờ. Ba đứa trẻ, thằng lớn chừng lên mười. Hai đứa sau, một trai, một gái. Chẳng biết chúng mấy tuổi, rất khó đoán. Cái mặt thì cứng nhưng người loắt choắt, ăn mặc mát mẻ. Nếu ghép trang phục của cả hai đứa lại, may ra được một bộ gần đúng nghĩa là quần áo. Sau mấy phút ban đầu sợ sệt, chúng bạo dần lên khi chúng tôi vẫy lại gần. Chúng sờ vào chiếc mũ cứng có ngôi sao lấp lánh lấy làm thích thú lắm. Với vẻ mặt nghiêm khắc, lại gần lũ trẻ ông chủ tuôn ra một tràng tiếng dân tộc rất lạ tai. Chúng sợ hãi nép vào xó nhà. Tôi đang ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì thì Đinh Minh nói nhỏ : Ông chủ cấm bọn trẻ không đươc sờ vào đồ đạc của bộ đội , đứa nào không nghe ông đánh đòn. Vô cùng ngạc nhiên vì Đinh Minh lại có thể hiểu được thứ ngôn ngữ hiếm hoi ấy. -Tôi hỏi lại. Sao ông biết ? Bằng một giọng từ tốn Minh nói: Tội sinh ra ở Thái Lan, gia đình tôi là Việt Kiều, chủ nhà dân tộc gì tôi không biết, nhưng tôi có thể hiểu gần hêt ông nói gì. Ồ thì ra thế . Tôi nói với ông chủ , cứ để chúng chơi tự nhiên, không có gì phải ngại.
Từ sáng đến giờ chẳng được cái gì vào bụng, đói cồn cào, chúng tôi vội vàng bắc bếp nấu cơm. Ngồi gõ bát chờ cơm chín sao mà sốt ruốt thế. Có lẽ vùng cao không khí loãng, nước lâu sôi. Chốc chốc tôi lại mở vung ra xem, thành thử, đã lâu càng thêm lâu. Cái mũi thằng Minh già càng khoằm xuống, chắc hắn bực với tôi lắm, nhưng không nói gì, tính nó thế. Cuối cùng thì cũng được ăn. Vừa xới cơm ra, chưa kịp đụng đũa thì lũ trẻ xúm lại. Ô tình huống thật bất ngờ . Bỗng một tràng liên thanh tiếng dân tộc vang lên, ông chủ đứng dậy mặt dữ dằn. Bọn trẻ ngơ ngác, đứa nhỏ mếu máo nói gi đó. Có vẻ dịu giọng hơn, ông nói thêm mấy câu ngắt nhịp như điểm xạ. Họ nói gì thế Minh ?- Tôi hỏi. Minh dịch lại đại khái: cấm lũ trẻ không được lại chỗ chúng tôi ăn. Con bé kêu đói, ông chủ dỗ, nhà hết gạo từ mấy hôm nay, chờ mẹ chúng xuống ông bà vay, ngày mai về sẽ có cơm ăn... Chúng tôi xới vội cho mỗi đưa lưng bát kèm chút thức ăn. Mắt chúng sáng lên vồ lấy ăn ngấu nghiến. Ông chủ bực bội bỏ xuống dưới nhà.
Người ta nói miền sơn cước chiều xuống rất mau. Mà đúng thật, vừa cơm trưa xong nghỉ một chút mặt trời đã len lén trốn sau dãy núi chếch hông nhà. Không gian thật tĩnh mịch, chẳng thấy bóng dáng bố con ông chủ đâu nữa.
Sáng hôm sau chung tôi lại được lệnh hành quân ngược trở ra. Ái ngại cho hoàn cảnh gia chủ, chúng tôi bớt mỗi đứa một ít gạo. Gom được một túi nhỏ, "Minh già" đưa cho ông chủ và nói : "Đừng chờ mẹ chúng ở ông bà về nữa, hãy nấu cho bọn trẻ ăn, chúng đói lắm rồi".
Rất đỗi ngạc nhiên, người đàn ông lắp bắp : "Bộ đội...mày tốt quá ...giỏi quá, như ma xó nhà tao, cái gì cũng biết "...
Tôi thoáng thấy đôi mắt của con " ma xó" Minh già hơi long lanh.
Sau ba tháng huấn luyện tân binh, hai tiểu đoàn sinh viên xẻ đàn tan nghé, chia nhau về các binh chủng. Ma xui, quỷ khiến, thế nào mà tôi và" Minh già" lại về cùng tiểu đội 12 ly 7, đại đội 12 trợ chiến, thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 101 sư 325.
Đêm 23 ngày 24 tháng 8 năm 72, tiểu đội tôi phối thuộc với một đại đội bộ binh trong đội hình cuả tiểu đoàn tập kích vào một vị trí của địch ven thành cổ Quảng Trị. Súng nổ liên hồi , đạn đỏ rực trời . Suốt đêm chúng tôi đào công sự bắn máy bay, chuẩn bị đánh địch phản kích . Gần sáng tiếng súng thưa dần. Đại đội bộ binh bị thiệt hại nặng nề, đã rút lui chẳng kịp báo cho tiểu đội phối thuộc. Chúng tôi nằm trơ lại trên một mảnh ruộng trống trải, trước mặt là một bụi dứa dại lưa thưa. Thấp thoáng bóng mũ sắt và áo rằn ri, tiếng chửi rủa , tiếng xích xe tăng nghiến rung mặt đất . Địch rất gần. Thỉnh thoảng một loạt Ar15 lại rộ lên xen lẫn với tiếng cối cá nhân điểm khuyết. Giờ biết làm sao đây? Tiểu đội 12 người, có độc 1 khẩu AK và vài quả lựu đạn, 1 khẩu 12 ly 7 nặng tạ rưỡi . Đằng sau thì trống trải. Địch chỉ dấn lên một chút nữa là chúng tôi đi đứt. Anh Thành, tiểu đội trưởng, nguyên sinh viên trường Nông nghiệp, mặt xám đen đầy lo lắng. Chỉ còn cách nằm yên, hy vọng địch không phát hiện ra, đến tối sẽ rút.
Chưa bao giờ tôi thấy thời gian lại trôi đi chậm như thế. Mặt trời cứ đứng ỳ ra chẳng nhúc nhích chút nào. Sợ hãi, căng thẳng, mệt mỏi, cơn buồn ngủ lại kéo tới . Cứ mươi phút đầu tôi lại đập vào thành hào. Lấy ít dầu con hổ bôi vào mắt cay xè cũng chỉ được một lúc. Vớ được một cuốn truyện chưởng Kim Dung tôi đọc cho đỡ buồn ngủ và quên đi tình cảnh khốn khổ này. Nhưng cũng chỉ được mấy trang, là cuốn sách rời khỏi tay lúc nào không hay. Cứ thế, chúng tôi giữ được bí mật đến trưa thì một sự cố bất ngờ xảy ra. Một tên lính ngụy xách một khâu M79 bắn đại một phát về phía tiểu đội, trúng ngay vào nơi ẩn nấp của một chiến sĩ . Mảnh đạn xé rách cánh tay, máu chảy ròng ròng, phản xạ tự nhiên, cậu lính trẻ kêu lên thất thanh chạy bổ về hầm pháo. Thế là hết . Chúng tôi đã bị lộ . Chỉ ít phút sau, các loại đạn thi nhau trút xuống. Hai chiến sĩ hy sinh tại chỗ. Không còn gì để mất nữa, chỉ vào hầm pháo anh Thành gào lên:" Thìn bắn thu hút hỏa lực địch cho anh em rút chạy"." Ôi... thế là toi rồi... Mình trở thành bia đỡ đạn cho cả tiểu đội. Phen này thì hết đường về quê mẹ"...Nhưng lại nghĩ" Một băng đạn với tốc độ liên thanh, có lẽ mình chỉ chạy sau anh em vài phút", tôi tự an ủi . Như một cái máy, tôi nhảy vào hầm pháo xả một tràng về hướng địch. Tiếng súng đanh giòn, khói nồng nặc. Có lẽ quá bất ngờ, địch bỗng ngưng tiếng súng. Nhưng rồi chúng đáp trả ngay. Xung quanh khói đạn dày đặc. Nhanh lên, nhanh lên, hết băng đạn đi. Khẩu 12ly 7 rung lên, giật mạnh , rât khó bắn, đổ nghiêng mấy lần (vì súng để ở tư thế bắn máy bay). Rồi băng đạn cũng hết, rút chốt liên kết vô hiệu súng, tôi nhảy ra ngoài cắm đầu chạy. Chừng được dăm bước, bỗng tôi sực nhớ đến" Minh già." Hắn cùng với "Tân vịt" nằm cách hầm pháo chừng hai chục thước, từ sáng đến giờ chẳng thấy liên lạc gì với tiểu đội . Không lẽ mặc kệ hắn ?... Không được, tôi phải quay lại. Lao vào hầm nơi hắn nấp, hai thằng, "Tân vịt" và "Minh già" đang thi nhau kéo gỗ. Cái mũi khoằm của hắn, cái mũi đáng ghét đang rung lên. Chẳng phí thời gian để ngắm cái mũi của hắn, tôi túm cẳng hai đứa giật mạnh và hét lên : Chạy mau. Chẳng hiểu mô tê gì, chúng bật dậy như hai cai lò xo lao theo tôi. Trên mảnh ruộng trống trơn, đạn găm dưới chân, bên phải, bên trái, bụi bốc mù. Như cỉnema, chẳng hiểu sao, vào cái giây phút ấy mà tôi vẫn còn có ý nghĩ quái gở thế.
Chúng tôi chạy đến bờ tre, may mắn có một chiếc hầm, rúc vào đấy, thế là thoát. Bình thường tôi yếu lắm, chạy một chốc là thở dốc vậy mà hôm ấy có lẽ tôi phải đạt tốc độ của vận động viên cấp quốc gia .
Mấy đêm sau chúng tôi mới quay trở lại được trận địa cũ, đem xác đồng đội hy sinh về chôn cất
Sau trận ấy ít ngày, Đinh Minh được điều về đơn vị khác. Nghe đâu năm 73 hắn được ra bắc học Đại học kỹ thuật quân sự gì đó, không rõ lắm. Dịp họp mặt nhân kỷ niệm 35 năm lớp toán cơ K15, tôi chẳng thấy cái mũi khoằm đâu. Lần này, kỷ niệm 40 năm, không hiểu con" Ma xó vùng cao" có biết đường về gặp gỡ bạn bè không? Nếu hắn về, dứt khoát tôi phải bắt hắn đãi một chầu bia trả ơn tôi đã cứu mạng trong thời khắc mà chính mạng tôi cũng mong manh như sợi tóc.
22 tháng 7 năm 2010
Như Thìn