nhuthin
Thành viên

Bài viết: 38
|
 |
« vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 08:37:42 AM » |
|
Nó và tôi Hè năm 1979, đang bận làm luận văn tốt nghiệp, trăm việc ngổn ngang thì tôi nhận được thư nó , vẻn vẹn mấy chữ : “ Ông xuống Hải Phòng ngay, họp tiểu đội, việc rất cần…”. Khỉ thật! ra quân mấy năm rồi, còn tiểu đội tiểu điếc gì nữa, mà ở Phòng tiểu đội chỉ có nó mới thằng Q chứ còn ma nào đâu mà chả họp với hành. Nhưng rồi, tôi cũng cố thu xếp đáp tầu xuống HP, một phần vì từ hồi xuất ngũ đến giờ vẫn chưa gặp lại, chẳng hiểu nó sống ra sao. Mà có việc quái gì thế nhỉ? Cũng hơi tò mò. Nhà nó ở bên sông Lấp, số nhà 7x đây rồi. Trông thấy tôi nó reo lên, ôm choàng lấy, sặc mùi rượu, kêu toáng lên gọi cả nhà. Vợ nó một phụ nữ bé nhỏ, cắp theo đứa con gày yếu dáng mệt mỏi vất vả bước ra. Nó chỉ tôi bảo : - Đây là anh T tiểu đội trưởng của tao…ngày xưa anh ấy cho tao sống thì được sống mà bắt tao chết thì phải chết. Thằng này điên rồi, làm gì đến mức thế, tôi bảo vợ nó : - Đừng nghe, ông ấy nói quá lời đấy. - Không! Ông cứ ngồi đây. Quay sang cô vợ, nó nói tiếp: - Đi lấy nước cho anh T rửa ráy. Cô vợ tội nghiệp len lén đi ra. - Ô không, nước ở đâu để tôi tự đi. Tôi vội chạy theo. - Tối nay đến nhà thằng Sơn “Mốc”, gọi thằng Q đến họp tiểu đội. - Nhưng thằng Sơn ở tiểu đội 2, tôi ngắt lời nó . - Thì họp tiểu đội mở rộng. …Tệ lắm ông ạ, hồi trận mạc, anh em sống chết có nhau, vậy mà giờ Thằng Q nó chẳng còn biết đến ai. Tôi muốn vay nó chút tiền mua cái máy xay thịt…, làm giò chả mà phải giã bằng tay thì vất vả, có cái máy năng suất gấp mấy lần. Con mẹ hàng bên cướp hết khách… Nghe nó nói, thoạt đầu tôi chẳng hiểu mô tê gì. Sau mới rõ, vợ chồng thằng Q có cái sạp ở chợ Sắt làm ăn khá lắm, nhưng chẳng chịu giúp đồng đội. Nó bảo tôi : - Ông phải có lời…Thằng Q phải hiểu, nó sống được đến giờ cũng nhờ anh em … Chán quá, tự dưng nó đẩy tôi vào cái chuyện rắc rối này. Giá như ngày xưa phân công trực chiến, lấy gạo, lấy đạn, khâm liệm đồng đội thì đơn giản …Còn giờ, tiền nong, vay mượn lằng nhằng, ngại lắm, mà mình là cái quái gì, một thằng sinh viên sắp ra trường, tương lai còn mờ mịt, lo được cho ai. Nhưng rồi đến tối vẫn phải họp . Thằng Sơn bảo: - Thế có cần ghi biên bản không ? - Ghi, phải ghi lại. Nó bảo thế . Thằng Sơn lấy ra một tờ giấy nhàu nát, buổi họp bắt đầu. Nó chỉ tôi : - Ông phát biểu trước đi Tôi đành nói đại khái mấy câu, anh em từng vào sinh ra tử có nhau, miếng cơm chia đôi, ngụm nước san nửa… tình nghĩa hơn ruột thịt, nên giúp đỡ nhau. .. Rồi nó nói, càng nói càng hăng, nó kể trận nọ trận kia, năm này năm kia, con cà con kê, nghe rất chán … Thằng Q ngồi nghe mặt như đổ chàm, rồi hắn thanh minh : - Các ông phải thông cảm cho tôi, con vợ ghê gớm nó quản hết cả tiền nong hàng họ . Nó còn dành dụm tiền góp cho chủ tầu chuẩn bị vượt biên đi Hông kông. Ôi thế này thì nghiêm trọng đây, tôi bảo hắn, vượt biển nguy hiểm lắm, chẳng biết tìm đến thiên đường hay địa ngục, hãy cân nhấc kỹ, không nên đi. Có ba thằng mà cãi nhau như mổ bò, chỉ có người nói, chẳng có người nghe. Tôi rất nản chẳng hiểu cuộc họp đi đến đâu? Ấy vậy mà, cuối cùng cũng đi tới thống nhất, tài thật. Thằng Q về khuyên vợ không đi nữa, giúp nó tiền mua máy xay. Mặt nó rạng rỡ như vừa lập được chiến công, vớ lấy cây đàn góc nhà bập bùng, hát luôn bài “Nó và Tôi”, quen thuộc. Sớm hôm sau, xong việc, tôi xin phép vợ chồng nó ra về . - Ấy chết vội gì, còn ra Đồ Sơn chơi… Nó nói. - Không thể được, còn bao việc. Tôi từ chối. -Thế thì ( nó quay sang cô vợ), đưa tao ít tiền để đưa anh T đi ăn sáng. Cô vợ nhăn nhó như tội đồ, trong đôi mắt nhẫn nhịn ẩn chứa đầy nỗi oán trách. - Sáng nay còn phải trả tiền hàng. Cô vợ rụt rè nói. Thực tình, tôi chỉ mong nền nhà nứt toác ra một lỗ để chui xuống cho đỡ xấu hổ. Vội vàng vỗ lấy cái túi không được căng lắm của mình, tôi nói: - Anh có tiền đây rồi cô cứ đi chợ đi, kệ anh em tôi. Tôi bực nó vô cùng, thật nhọ mặt! Dáng rất khệnh khạng, nó gọi một chiếc xich lô ra lệnh chở đến cửa hàng xủi cảo ngon nhất Hải Phòng. Mấy tiếng sau, ngồi yên vị trên tầu, con tầu uể oải rời ga đưa tôi trở về Hà Nội. Lơ đãng nhìn cảnh vật trôi chầm chậm qua khung cửa sổ nhỏ, ngược dòng thời gian bẩy năm trước, tôi thấy hình ảnh nó hiện về như vừa mới hôm qua:… Từ chốt về nhận lính mới, lần đầu tiên gặp nó tôi thực sự choáng. Cái mặt bì bì, đôi mắt hùm hụp, cặp môi dầy, phía trên là bộ ria hung hung nom rất quái dị. Cánh tay vạn vỡ của nó xăm hình một cái mỏ neo to tướng, cuốn quanh cái mỏ neo là một con rồng rất đẹp đang nhả lửa. Nó nhìn tôi xấc xược, cạnh nó thằng Q cũng bặm trợn không kém. Có điều mỏ neo cuả thằng Q nhỏ hơn. Tôi nhìn lại nó trừng trừng, thầm nghĩ : “ Bố mày vừa cõi chết ra, lũ chúng mày là cái thá gì”. Nó nói nhỏ gì với thằng Q, mắt đỡ láo hơn rồi hỏi : “ Thủ trưởng đã đến 40 chưa ạ?” “ Non một nửa”. Tôi trả lời . Chẳng hiểu nó hỏi đểu hay trông tôi già thế thật. Gần ba tháng không cắt tóc, không biết đánh răng rửa mặt, tắm giặt là gì. Trên người tôi thì như một kho vũ khí di động, lỉnh kỉnh quanh chiếc xanh tuy rông Mỹ là mấy quả lựu đạn US M26, một con dao găm, một chiếc bi đông bất li thân và một khẩu AK M nòng mẻ tuyệt đẹp. Sau này, khi đã thân rồi, nó thú thực hôm ấy quá “kính nể” với bộ dạng khác người của tôi. Thì ra, mấy cái hình xăm “Một đòn chết bẩy” của nó chẳng là cái quái gì so với thằng lính vừa ở chốt về. Ngay đêm ấy, tôi dẫn hai thằng ra thẳng chốt. Đêm sau, chúng nếm ngay một trận pháo kích tơi bời. Nó sợ xanh mắt, không dám ra ngoài, sáng ra, chui cả vào hầm bếp giải quyết nỗi buồn. Hai o du kích phối thuộc kêu trời. Chỉ có hai ngày, con rồng trên tay nó có vẻ gầy đi trông thấy. Được mươi ngày nó cũng quen dần. Nằm trong hầm, tự dưng nó cất tiếng hát. Không ngờ thằng “đồ tể” này, hát hay thế. Giọng khàn khàn rất đặc biệt: “ Tôi nó sinh ra nhằm chinh chiến mới quen nhau mà thương mến… Bạn tôi thương mến đã liệt oanh ngã xuống khắp đơn vị tiếc thương” . Cái điệp khúc cuối cứ như xoáy vào tâm can, đúng tâm trạng, đau không sao chịu nổi, tôi gắt lên. “Mày có im đi không!”. Dường như tự thấy hơi vô lý, tôi bảo nó : “ Hát hay đấy, nhưng buồn quá mất sức chiến đấu”. Mà chẳng hiểu sao nó thuộc lắm nhạc vàng thế. Trận Cửa Việt, ngày 28/1/1973, 8h sáng ngừng bắn, Hiệp định Pari có hiệu lực, một doi cát nhỏ cờ giải phóng và cờ ba sọc đan xen. Tầm gần trưa, ba người lính Cộng Hòa tay không mò lên chỗ chúng tôi. Một tên mặt dài, một tên mặt ngắn đen đủi, tên còn lại khá trắng trẻo thư sinh. Từ xa họ đã cất lời: “ Hòa bình rồi mấy eng..” Một người rút bao thuốc Ruby quân tiếp vụ mời mỗi người một điếu. Sau ít phút dè dặt một tên thổ lộ: “ Chúng em chán đánh nhau lắm rồi, ông Thiệu cũng được, bà Bình cũng được miễn là chấm dứt chiến tranh”. Tên mặt dài tấm tấc khen hình xăm chiếc mỏ neo trên cánh tay nó : “ Anh hai trông thật yêng hùng, chắc nhiều năm dạn dày trận mạc”. Nó ư hừm. Tôi cố nhịn khỏi bật cười, tính đến hôm nay đúng một tháng 28 ngày nó tham gia chinh chiến. Đến bữa trưa ba người mở ba hộp thịt 3 lát, hai gói cơm sấy mời chúng tôi. Để đáp lại, chúng tôi bóc mấy gói lương khô, họ nếm thử khen ngon. Sau bữa ăn “hòa hợp dân tộc’’ấy tên thư sinh đề nghị hát mấy bài cho vui. “Em có ý kiến thế này, bên anh hát một bài bên em lại hát một bàì, lần lượt”. “Được thôi nhưng các ông phải hát bài cách mạng còn bên tôi hát nhạc Sài Gòn”. Tôi cố đánh đố, không ngờ hắn đồng ý luôn. Tôi bảo nó hát đi . Được dịp trổ tài, nó tung luôn bài tủ. Ba tên lính ngẩn người nghe. Quá hay, chúng vỗ tay tán thưởng. Đến lượt chúng hát, tôi vẫn băn khoăn chẳng hiểu chúng hát bài gì . Tên thư sinh lấy giọng: “Xe anh bon bon trên đường lòng vui như trẩy hội….”Ồ, thì ra bài “Chào em cô gái Lam Hồng”. Quả thật, rất ngạc nhiên. Nó hát tiếp bài “Xuân này con không về”rất có hồn. Tên mặt dài thán phục “Anh hai hát hay hơn cả Duy Khánh”, thôi chúng em chịu thua . Mặt nó rạng rỡ như mới lập được chiến công. Đến chiều, một tiểu đội bộ binh thay chốt, nghe nói hôm sau ba người lính Cộng Hòa ấy đều bị bắt làm tù binh. Năm 1975, tối ngày 26/4 trận Long Thành. Một đoạn đường, súng hai bên nổ loạn xạ. Một chiếc xe tăng của ta bất ngờ xuất hiện chỗ ngã ba. Chiếc xe dừng lại cho bộ binh leo lên. Nó sướng quá, quăng luôn chân khẩu 12,7ly lên thành xe rồi trèo lên. Không được! Khẩu 12,7 ly mất chân thì gay go. Vả lại trên xe quá nguy hiểm. Tôi ra hiệu cho nó xuống. nó miễn cưỡng thả chân súng xuống rồi nhảy theo . Tiểu đội vội vã giá súng ngay trên đường nhựa bắn bộ binh. Nó cũng khá, chỉ một loáng là lắp xong chân súng, khẩu 12,7 đã sẵn sàng. Chiếc xe tăng tiến lên chừng hai chục mét thì trúng đạn cháy bùng. Rất thương tâm, anh em trên xe hy sinh gần hết. Nó thoát chết. Dòng ký ức về nó cứ chầm chậm theo tôi suốt chặng đường. Chỉ đến khi tầu rung bần bật trên cầu Long Biên cũ kỹ, mới kéo tôi về với hiện tại. Hè năm 1987, tôi mới lập gia đình được vài tháng. Vợ tôi là một cô giáo trẻ, dạy tiểu học mới ra trường. Chiều đi làm về, tôi thấy nó ngồi lù lù giữa nhà, ăn mặc tươm tất, áo bỏ trong quần, tay áo sắn tới khuỷu để lộ hình xăm quen thuộc. Vợ tôi ngồi tiếp nó , miệng cười như mếu. Thấy tôi, nó nói oang oang, nồng nặc mùi rượu mạnh. “Mấy năm nay làm ăn được, bạn chợ rủ đi lễ tận Nam Định, tôi trốn đoàn đến thăm ông”. Hồi ấy, tôi còn ở căn buồng cấp bốn tồi tàn trong khu phố cổ, rộng hơn chục thước vuông. Mùa hè, chỗ đáng nằm nhất là sàn nhà. Nó cởi trần nằm nghỉ, trên người nó lại thêm một tác phẩm hội họa màu chàm, khiếm nhã nữa phô bày. Thành thử, nom nó như tờ sớ. Thỉnh thoảng cái tờ sớ ấy lại cựa quậy và phát ra tiếng ngáy đều đều. Vợ tôi, cả buổi chiều đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên, xem chừng khá căng thẳng. Lo cơm nước cho hai chúng tôi xong, lấy cớ để anh em tâm sự cho tự nhiên, cô ấy xin phép về ngoại. Sáng hôm sau tôi tiễn nó về Hải Phòng. Năm 1997, nghe thằng Sơn nói, nó bi đát lắm. Đứa con lớn bị bệnh tim mất. Nó càng sa vào ma men. Con vợ không chịu nổi cắp đứa sau trốn biệt vào Nam làm ăn. Năm 2007, tôi đang điều trị tại khoa Thần kinh bệnh viện Thanh Nhàn thì nhận được cú điện thoại của Sơn “Mốc” báo tin nó mất rồi. Tôi buồn quá, bất giác cứ lẩm bẩm mãi câu hát quen thuộc trong bài “Nó và tôi”: “Bạn tôi thương mến đã liệt oanh ngã xuống, khắp đơn vị tiếc thương. Bạn tôi thương mến đã liệt oanh ngã xuống, khắp đơn vị tiếc thương” . Cô y tá nhìn tôi ái ngại, bệnh ông này, càng ngày càng nặng thêm . . . Tháng 7 năm 2011 Như Thìn
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2011, 08:43:50 AM gửi bởi nhuthin »
|
Logged
|
|
|
|
sauchinbaymot
Thành viên

Bài viết: 431
Nhớ Rừng!
|
 |
« Trả lời #1 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 09:25:36 AM » |
|
Bác NhuThin ơi, vẫn "chuyện thường ngày ở huyện" của lính mà đọc xong thấy quặn ruột, nhòe nước mắt.
Tiện thể, bác nào thạo và rảnh chuyển giúp 4-5 chuyện của bác Nhuthin bên topic của bác LXT sang để anh em xem cho nó liền mạch.
Bác NhưThìn à, Nick của bác phải đổi là "Thìn xịn" mới chuẩn.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2011, 09:53:53 AM gửi bởi sauchinbaymot »
|
Logged
|
Nhật ký Viết lại
|
|
|
Trinhsat
Thành viên

Bài viết: 383
|
 |
« Trả lời #2 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 09:47:43 AM » |
|
Chào bác Như Thìn:
Đã đọc nhiều mẩu chuyện của bác thông qua bác LeXuanTuong đưa lên, nay lại đọc chuyện do bác trực tiếp đăng, kính nể luôn.
Bác đúng là người làm công tác văn nghệ chuyên nghiệp có khác.
Thiết nghĩ chuyện bác viết nên gửi in thành tập tại NXB nào đấy thì tuyệt.
Lại mạn bàn chuyện này. Ngày xưa các anh em Hải Phòng là gấu có tiếng, nhưng gặp bác mà phải nể chắc ngoài chuyện trang bị súng đạn lỉnh kỉnh quanh người, còn có cái vẻ vạm vỡ của bác nữa chứ (Bác tập tạ mà). Ngày trước đơn vị em có thằng K nhà ở phố Hàng Hành, HN cũng tập tạ và xà kép. Thời đình chiến chỉ riêng khoản vật tay của nó cũng đủ để cả trung đoàn và thanh niên địa phương nơi đóng quân phải nể vì không ai thắng được nó.
Đã được xem nhiều ảnh của bác trên trang này, giờ chỉ mong và chúc cho sức khỏe của bác ngày càng tốt lên và ổn định.
Kính bác.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
sauchinbaymot
Thành viên

Bài viết: 431
Nhớ Rừng!
|
 |
« Trả lời #3 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:22:10 AM » |
|
Xin phép bác NhuThin và bác LXT, chuyển các bài của bác NhuThin về nhà mới cho nó gọn. KHÁNH "VOI" Đầu tháng 12 năm 71 hai tiểu đoàn sinh viên 5, 6 chia nhỏ bổ sung về các quân binh chủng. Còn lại một số anh em chưa vể đâu phấp phỏng chờ đợi, đoán già, đoán non đơn vị mình sẽ được điều về. Trong cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của Thạc ngày 6-12 có ghi lại thời điểm đó. Hắn chê tôi sợ vào hỏa lực trợ chiến phải mang vác nặng gù lưng. Hắn chê tôi sợ chết muốn vào binh chủng tăng thiết giáp vì có vỏ thép dày che chở. Ôi, sợ chết âu cũng là lẽ thường tình của những thằng lính trẻ, 18 đôi mươi chúng tôi, chửa biết cái chi chi, chết thì tiếc lắm. Song, cả tôi và hắn đều nhầm. Sau này, tôi nhận ra có thứ còn đáng sợ hơn cái chết. Đó là sự đầy đoạ về thân xác. Người ta thường nói, " ghét của nào trời trao của ấy". Cuối cùng tôi lại được điều về tiểu đội 12 ly 7, đại đội 12 trợ chiến thuộc trung đoàn 101 sư đòan bộ binh 325. Một tiểu đội 12,7 ly biên chế từ 10 đến 12 người. Trừ A trưởng mang kính ngắm và một khẩu AK, còn lại chia thành 3 tổ có nhiệm vụ mang ba phần chính của súng. Tổ 1 mang thân súng nặng 33 kg và một thùng đạn khoảng 10 kg. Tổ 2 mang chân súng nặng 34 kg và một thùng đạn. Tổ 3 mang bệ súng nặng khoảng 21 kg một hộp tiếp đạn và một thùng đạn cũng nặng chừng ấy. Khi hành quân, thân và chân súng được hai cặp khiêng bằng hai chiếc đòn tre dài nặng chình trịch. Bệ súng hình thù kỳ dị đầy góc cạnh được một người vác . Những cạnh sắc như băm từng thớ thịt. Hơn ba chục cân có vẻ không quá nặng. Nhưng xin thưa, hành quân cả ngày trời dưới cái nắng miền trung, cộng với tư trang khoảng 30 cân nữa thì lừa cũng phải chào thua. Khi khiêng súng, người đi sau còn đỡ chứ người đằng trước thật khốn khổ. Sức nặng của balo và súng phía sau cứ kéo ngửa người ra. Trèo đèo lội suối, rồi trong rừng rậm, súng móc bên này mắc bên kia tiến cũng chẳng được mà lùi cũng không xong. Hồi còn đi học, ngoài cái tên bố mẹ đặt cho, tôi còn mang thêm biệt danh các bạn tặng là “còm”, vì cân nặng cả bì chỉ có hơn 40 kg. Khiêng súng bị phồng, rồi loét, hai vai, mãi không lành. Mỗi lần hành quân mang vác, đối với tôi không khác gì hành xác. Đêm ấy, bên cánh rừng ở Cự Nẫm Quảng Bình, nhận quân trang đi B balo hơn 40 cân, tôi phải đẩy lên ngôi mộ hoang, luồn hai vai vào hai quai mới gượng đứng lên được. Vậy mà lại đến phiên khiêng súng. Cố gắng bước dược chừng 50 chục mét thì ngã chúi xuống, nửa quì nửa ngồi, tôi ôm mặt khóc. Y tá Cận chạy lại, mở túi thuốc lấy ra một vốc vitamin B1 bảo tôi uống. Nghi ngờ về khả năng tăng lực của nắm B1 ấy, song tôi cũng tống đại vào mồn nhai trệu trạo. Thực tình lúc ấy tôi chỉ muốn chết quách đi cho rồi . Họặc giả có một quả pháo biển lạc vào giải thoát cho tôi thì âu cũng là số phận. May thay trong tổ tôi còn có Khánh "voi". Trong số các anh em quê Phủ Cừ, Hải Hưng, Khánh "voi" nổi bật vì dáng cao to như cây chuối hột trong vườn toàn chuối tiêu. Nghe nói nhà hắn nghèo lắm, ăn uống kham khổ, vậy mà hắn lại có một thân hình khá lý tưởng. Cao trên một mét bẩy lăm. Bắp thịt săn chắc. Đôi vai gấu hơi xuôi, hai hàm răng trắng đều, nước da sáng hơn că lũ bạch diện thư sinh chúng tôi. Hắn ghé vai đỡ tôi dậy, rút chiếc đòn khiêng ra quẳng sang một bên, đặt thân súng nặng như cùm lên vai, lầm lũi bước tiếp. Tôi vớ lấy chiếc đòn khiêng cố bám theo. Cuộc hành quân 5 ngày không thể nào quên, từ tây Quảng Bình theo dãy Trường Sơn qua giới tuyến 17 vào Quảng Trị tham chiến. Lính rơi rớt dọc đường. Không còn ra đội hình gì nữa, các đơn vị trộn lẫn vào nhau. Tiểu đội tôi đến nơi tập kết đầy đủ, có lẽ nhờ một phần bởi Khánh "voi". Sau trận đầu, đêm 23 ngày 24 tháng tám năm 72 , tiểu đội bị thiệt hại nặng nề , thương vong non một nửa, tạm bị trưng dụng làm lính vận tải. Làm gì cũng được, miễn là không phải khiêng súng. Nhưng tôi lại nhầm. Gọi là vận tải cho oai chứ thực ra là gùi gạo, đạn. Mấy chục cân trên vai chẳng khác gì khiêng 12ly7. Trên một cung đường chừng 4, 5 cây số trống trải, phải luôn vận động thật nhanh qua những tọa độ chết người của pháo bầy và máy bay cường kích. Vô phúc dính B 52 thì coi như chấm hết. Vậy mà với Khánh "voi" dường như chẳng hề hấn gì. Bao giờ hắn cũng về trước tôi cả tiếng đồng hồ, chui tọt vào hầm không ra ngoài. "Trên mặt đất không có lợi" , hắn bảo tôi thế. Biết vậy mà đành vậy."Trên mặt đất không có lợi"... Một tuần sau, tiểu đội lại nhận khẩu súng khác, chế tạo tại Liên Xô, nòng xoắn, tản nhiệt tốt hơn, nhưng cũng nặng hơn khẩu trước khoảng chục ký. Ngay đêm ấy lại vào chốt. Tâm trạng mọi người khá nặng nề . Nõi ám ảnh trận trước không thể bỗng chốc mà quên ngay được. Tiểu đội chốt trong một vườn chuối nhỏ lá xác xơ. Giũa vườn hiện lờ mờ một ngôi nhà, thực ra là phế tích của một ngôi nhà tan hoang. Phía trước là một bụi tre rách bươm. Nghe đâu trước bụi tre là lính đại đội 9 bộ binh. Chúng tôi vội vàng đào hầm trú ẩn, công sự pháo và một đoạn hào chừng 4 mét nối hầm trú ẩn với hầm pháo. Gần sáng công việc cũng tạm xong. Trong khung cảnh chết chóc như vậy, mà vẫn thấy một tiếng gà lạc lõng, cô đơn, gáy yếu ớt báo hiệu một ngày mới băt đầu. A trưởng Thành phân công người đứng cảnh giới dưới hào cách hầm trú ẩn khoảng một mét, còn lại tạm nghỉ. Rồi cũng đến phiên tôi đứng gác Trận địa hai bên thật yên tĩnh. Tôi nghe rõ cả tiếng con chim sâu bay chúi vào bụi cây trước mặt. Thì ra nó bị mù từ bao giờ. Chừng một tiếng sau, Khánh"Voi" đổi gác. Đôi vai gấu của nó cố nghiêng, lách ngườì cho vừa đoạn hào vừa hẹp vừa nông. Tôi chui vào hầm, chợp mắt một lúc. Bỗng một tiếng nổ vang phía cửa hầm. Minh "già"kêu thất thanh ]'Khánh chết rồi "[/i].Giật mình nhìn ra, một cảnh tượng thật hãi hùng. Khánh "voi" đang từ từ ngồi xuống, lưng tựa vách hào, đôi tay buông xuôi. Cái đầu nó bay đâu mất. Phía trên cổ, giữa một mớ xương vụn, máu ồng ộc tuôn ra ngập một đoạn hào. Trên vai Khánh, một mảng da đầu còn nguyên tóc vắt ngang, như khoác một chiếc khăn nửa đen nửa đỏ. Cả tiểu đội chết lặng. Mặt Minh "già" thường ngày vốn đen thế, mà lúc đó trắng bệch, đôi mắt thất thần. Sau ít phút trấn tĩnh, tôi quyết định ra ngòai. Để tránh vũng máu, tôi nắm hai cổ chân Khánh, làm động tác như đu xà kép dướn người nhoài ra . Bên mép hào, một hố vát hình nón vừa bị khoét còn vương vài mảnh gang vụn. Cối 81, Khánh chết vì một quả đạn cối của địch bắn vu vơ. Phía đối diện, một tấm gỗ ép dựng bên gốc chuối bê bết máu và óc. Giá mà Khánh thấp hơn một chút, giá mà Khánh đổi gác chậm hơn một chút thì cái thằng đang ngồi kia chính là tôi. Mãi đến khuya mới có hai lính vận tải tiểu đoàn đến mang Khánh đi.Trăng thượng tuần tháng cô hồn trút ánh sáng vàng vọt xuống vườn chuối. Trên ngực Khánh, nắp chiếc bút máy Pilot mạ vàng, mới nhặt được hôm qua, “để viết thư”, hắn nói thế, cứ lấp lánh thứ ánh sáng ma quái. Nhiều năm sau, ánh sáng ma quái ấy cứ ám ảnh tôi trong những đêm mất ngủ vì bệnh tật. Hình ảnh Khánh "voi" với đôi vai gấu lại chập chờn hiện về. Giá mà hắn thấp hơn một chút, giá mà hắn đổi gác chậm một chút. "Ở trên mặt đất không có lợi". Biết vậy mà đành vậy. Một đêm mất ngủ tháng 2 năm 2011 Như Thìn
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:35:54 AM gửi bởi sauchinbaymot »
|
Logged
|
Nhật ký Viết lại
|
|
|
sauchinbaymot
Thành viên

Bài viết: 431
Nhớ Rừng!
|
 |
« Trả lời #4 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:25:04 AM » |
|
BÁU VẬT CỦA CUỘC ĐỜI Nguyễn Như Thìn Đúng là “chim sa cá nhảy” đen quá, tại con chim mù sa vào bụi cây hay sao mà tiểu đội ra quân lần thứ hai, ngay ngày đầu đã mất luôn “cây chuối hột” Khánh "Voi". Để giải đen, anh Thành quyết định rời trận địa sang trái, cách trận địa cũ chừng 50 mét. Lợi dụng hai hầm trú ẩn của đơn vị nào bỏ lại, chúng tôi hối hả đào công sự. Lần này, không ai bảo ai, đào rõ sâu. Đến tầm trưa, một tốp F4 bay đến. Chúng lượn một vòng rồi chiếc đầu bổ nhào. Tiếng bom rít thật khủng khiếp. Tôi chỉ mới quen với tiếng đạn pháo và xác định điểm rơi khá chuẩn xác, nhưng với bom, đây là lần đầu. Cộng hưởng với tiếng gầm rú của động cơ, như khoan vào óc, ruột gan như thắt lại. Hai quả bom trùi trũi lao xuống, ½ thân rồi ¼ thân. Hai tiếng nổ đinh tai dường như cùng một lúc, cách công sự chừng vài chục mét, đất đá rơi rào rào. Chiếc thứ hai vòng lại chúc đầu , anh Thành vội kéo tôi vào hầm pháo. Một quả bom, từ dưới bụng máy bay bung ra. Lần này hình chiếu của nó như quả bưởi, to dần từng tíc tắc. Chân tôi díu lại, như muốn chạy mà không được.Tôi nghe thấy văng vẳng một tiếng hô “ …Bổ nhào ..bắn”. Binh tĩnh lại, đưa máy bay vào kính ngắm số không, tôi xiết một tràng dài. Một ánh chớp loé lên bên trái trận địa, kèm theo một tiếng nổ lộng óc, xô tôi dúi vào vách công sự. Chiếc máy bay chẳng hề hấn gì, bay lên, mất hút vào bầu trời. Vậy mà, anh Thành vẫn khẳng định, nó đã dính đạn, bằng chứng là không dám quay trở lại. Tôi cho rằng, nó đã hết bom, chẳng qua anh muốn động viên tôi mà thôi. Hứng chí hơn, anh tuyên bố, từ nay tôi sẽ là tiểu đội trưởng, còn anh là trung đội trưởng tự phong, thay anh Châu đã hy sinh. Làm A trưởng cũng hay, đỡ phải khiêng súng, nhưng cả tiểu đội còn có 5 mống không ghé vai cùng anh em thì ai mang, tôi chợt buồn. Nhưng nõi buồn của tôi cũng sớm được giải toả. Mấy đêm sau, liên lạc đại đội dẫn đến ba lính mới bổ sung. Một, tên là Thắng nhà ở Hà Nội ; một, tên Chính, Thái Bình còn lại là Định, Quảng Ninh. Trời tối đen như mực, dưới ánh sáng nhập nhoạng của hoả châu, tôi chỉ kip thấy lờ mờ ba khuôn mặt. Sáng hôm sau, Chính biến mất để lại khẩu AK. Thắng người chắc, đậm, hứa hẹn một thợ khiêng súng tốt. Nhà hắn ở ngõ Thanh Miến, con ngõ nhỏ cong như một dấu ngoặc đơn, nối phố Nguyễn Thái học với Văn Miếu. Thằng Định, chân tay quyềnh quàng, da ngăm đen, dáng dấp khoẻ mạnh. Tự dưng tôi thấy rất buồn cười, ngắm hai thằng lính mới, mà như mộ phu đi Tân thế giới không bằng. Thằng Định, quê hắn ở tít mãi biên giới Việt Trung. Làng hắn có đến 80% là người Hoa. Có lẽ tiếp xúc với người Hoa nhiều nên giọng hắn cũng lơ lớ như mấy ông Tầu bán lạc rang phố Hàng Giày. Hầm chữ A, ba thằng nằm trở đầu đuôi chật cứng, chân tay thằng Định như thừa thãi. Thỉnh thoảng hắn lại rên lên: “Xịt ra một chút nào” thật buồn cười . Vì thế tôi gọi hắn là Định “xịt”. Định “xịt” có một thói quen khá lạ lùng. Thỉnh thoảng hắn móc trong balo, một chếc gương honda gấy ra soi, ngày không dưói chục bận rất ngứa mắt. Tôi bảo hắn : “Vứt mẹ nó đi, mày định gọi máy bay đến à”. Hắn lẳng lặng cất gương đi, nhưng chỉ được vài ngày, đâu lại vào đấy. Một lần trực chiến, hắn ngắm khẩu 12,7 ly rất kỹ và rụt rè nói: - Lúc nào có dịp anh cho em bắn nhé! - Bắn máy bay thì phải học còn bắn bộ binh thì dễ thôi, như bắn AK vậy. Tôi bảo hắn , đai khái thế. Chúng tôi lại chuyển chốt ra sát bờ sông Thạch Hãn, giá súng bắn bộ binh. Nghe trinh sát nói, cứ ngược theo bờ sông là Thành Cổ, nơi có tiếng súng vọng về không ngớt, suốt đêm ngày. Mặt trận phía đông chúng tôi, không có gì lạ, ngoại trừ vài trận đấu súng lẻ tẻ. Có lẽ do thời tiết. Những cơn mưa đầu mùa trút xuống liên miên. Nước từ thượng nguồn đổ về đục như máu. Mà có khi lẫn máu thật. Đêm đêm, tôi nghe thấy tiếng lạch xạch của xuồng máy chở thương binh từ Thành Cổ xuôi ra, nhiều chiếc dính phải bom từ trường, không đến được trạm phẫu tiền phương. Vào một chiều tạnh ráo hiếm hoi, phía trước pháo sáng bắn lên rực trời, chẳng hiểu chuyện gì. Hôm sau mới biết, Thành Cổ đã bị mất. Từ đấy thấy vắng dần tiếng xuồng lạch xạch xuôi dòng. Nằm trong hầm, nghe mưa rơi mà buồn thấu ruột. May có thằng Định “xịt” hay chuyện. Hắn kể chuyện làng, chuỵện xóm, chuyện nhà, chuyện cửa với những phong tục khá lạ kỳ. Nhưng kể mãi cũng hết chuyện, đôi khi thấy hắn thừ người ra, lại móc gương soi. Có lẽ cu cậu nhớ nhà. Một bận tôi nảy ra một ý nghĩ tinh quái, hỏi hắn: - Này, năm nay mày bao nhiêu tuổi rồi? Hỏi thực, đã bao giờ mày thấy cái ấy của phụ nữ chưa? Đừng ngượng cứ kể đại ra đi. Hắn đỏ mặt, thẫn thờ một lúc rồi nói: - Nhưng anh cũng phải kể chuyện của anh cho em nghe. Tôi cứ ừ bừa vì hy vọng sẽ được nghe một câu chuyện thật nhảm nhí. - Em, tháng tới là vừa tròn mười chín tuổi. Đã một lần được thấy cái ấy… Hắn kể: “…Hồi còn ở quê, em có thằng bạn thân hàng xóm, nó có một cô em gái rất xinh. Cũng vào cữ này năm ngoái, tháng ngâu, mưa cả ngày, chẳng đi đâu được. Em sang nhà nó chơi. Hai thằng nằm trong buồng tán chuyện tào lao, ngủ quên lúc nào không hay. Bỗng em nghe thấy một tiếng động mạnh ngoài cưả, giật mình, tỉnh dậy. Thằng bạn đi đằng nào mất, hoá ra cô em nó đi chợ về, quần áo ướt sũng. Ngỡ nhà không có ai, cô ấy ra bể nước dội ào mấy gáo , rồi vào buồng cởi tung quần áo lau người. Em nằm im như chết, nín thở mà tim cứ đập thình thịch. Lần đầu tiên em được thấy một thân hình trắng như thế. Hai bầu ngực căng tròn. Em liếc xuống phía dưới, thú thực, chỉ thấy như một nắm thuốc lào. Cô ấy lại đầu giường lấy quần áo, bất ngờ phát hiện ra em, kêu thất thanh, ôm vội đống quần áo chạy bổ ra ngoài. Em ngượng quá, lồm cồm bò ra khỏi giường lủi một mạch về nhà. Kể từ đấy mỗi bận gặp em là cô ấy lại đỏ mặt chạy vụt đi. Nhiều lần em muốn gặp xin lỗi mà không được, cô ấy cứ tránh mặt… Rồi cũng đến cái ngày em đi bộ đội. Cô ấy không tránh nữa, cùng thằng anh trai đi tiễn em. Lúc lên ô tô, bất ngờ cô ấy níu lấy balo của em khóc tức tưởi. Thằng bạn ngạc nhiên nhìn hai đứa. Em hết sức bối rối. Cô ấy dúi vào tay em một gói nhỏ. Lên xe mở ra là một chiếc khăn tay …” Tôi thán phục nói: - Truyện tình của mày hay thật đấy. Hắn trả lời: - Nhưng chúng em đã nói được gì với nhau đâu. - Cần quái gì phải nói. Nó yêu mày rồi Tôi nói tiếp. - Hồi vào trong này, em viết liền mấy lá thư về mà chẳng thấy cô ấy trả lời. - Mày cứ chuyển đơn vị xoành xoạch thì làm sao mà nhận được. Tôi an ủi hắn. - Thế còn chuyện của anh. Hắn hỏi. - Chuyện của tao chẳng có gì. Hồi ở Đầu Kênh, tao có chôn cất một gia đình bị trúng bom. Chị chủ nhà áo thì còn, mà quần bay đâu mất. Tao cứ thấy ghê ghê. Căn cước của chị ghi tên Huệ. Có đôi hoa tai tao chôn cả. Tôi kể. - Chuyện anh kinh bỏ mẹ, toàn chết chóc. Hắn nói thế. Đầu tháng 11 chúng tôi được lệnh bàn giao chốt cho đơn vị khác. Một đêm mưa bão, tiểu đoàn vượt sông Cửa Việt sang bờ bắc. Sông rộng thật. Bơi giỏi như tôi mà hàng tiếng mới dìu được súng sang tới bờ. Thỉnh thoảng một quả trái phá rít qua đầu. Pháo sáng chập chờn như ma đùa trên bầu trời. Sau mấy tuần nghỉ ngơi, bổ sung quân, chúng tôi lại được lệnh vượt sông sang bờ nam tham chiến. Gói ghém súng đạn quân trang cho tiểu đội xong, chuẩn bị xuống nước thì bất ngờ chính trị viên đại đội gọi tôi lên. Anh bảo, bàn giao tiểu đội cho A phó, còn tôi nhận nhiệm vụ mới. Chuyện quái gì thế nhỉ? Nghĩ mãi không ra. Hoá ra, tôi được đi an dưỡng ở tuyến sau nửa tháng. Làng an dưỡng cách Quán Ngang, chừng 3 km. Ngày ngày, từng tốp B52 ném bom miền Bắc trở về. Không biết ngoài ấy ra sao, lại thấy nhớ nhà cồn cào. Tôi có làm quen với mấy lính sinh viên trường Xây Dựng. Trong đó có Dũng C1, nhà ở phố Hàng Bạc. Cùng tâm trạng, hai đứa sớm thân nhau. Một sớm, gặp Bảo tiểu đội cối 82 đi lấy gạo. Trông thấy tôi, hắn gọi thất thanh: “ Anh Thìn ơi, tiểu đội anh hy sinh gần hết rồi”. Tôi choáng váng. “Thế còn ai”. Tôi hỏi. Hắn nói, không được rõ vì ở tuyền khác. Ruột gan như lửa đốt. Rồi cũng đến ngày trở về. Liên lạc tiểu đoàn dẫn tôi ra chốt. Chỉ một dải cát dài bên trái thấp thoáng bóng phi lao, “Kia là Tám Cát” hắn nói. Đến một đoạn hào bị pháo cày nham nhở, tôi thấy bệ của khẩu 12,7 ly quen thuộc bị vặn quăn hình số tám. Đón tôi ở cửa hầm là Bình “Méo” bàn chân băng trắng xoá và Hùng ngơ ngơ điếc vì tiếng nổ. Chúng kể lại . - Trận Tám Cát diễn ra thật ác liệt. Pháo địch bắn suốt đêm, sáng ra bộ binh bám theo xe tăng ủi liền mấy chốt của ta. Bên này khẩu 12,7 ly phát huy tầm xa, bắn chéo vào đội hình của địch. Chúng chết khá nhiều. Chiếc xe tăng quay nòng pháo lại, bắn liền hai phát. Phát đầu trúng cửa hầm, anh Tẹo toang bụng. Phát thứ hai hất tung khẩu 12,7, Định đang bắn sang một bên. Thằng Định bị …” - Tao hiểu rồi. Tôi khoát tay ra hiệu, đừng kể nữa. Một cơn gió từ biển thốc vào khiến tôi thấy lành lạnh sống lưng. Lần trứơc là Khánh “Voi”, lần này là Định “Xịt”. “Chúng mày chết cho tao sống Định ơi. Bắn bộ binh không dễ đâu…khó nhất là cơ động. Không đại khái được. Tao đã nói dối mày… Nếu không đi nghỉ hai tuần thì xạ thủ số một chính là tao”. Nhớ lại truyện tình đẹp như truyền thuyết nó kể cho tôi bên bờ Thạch Hãn lại thấy quặn lòng. Ước gì, những lá thư tỏ tình của mày không tới được nàng “Tiên Dung” miền sơn cước, Định ơi. Em vừa tròn mười chín. Đã một lần nhìn thấy …Báu vật của cuộc đời . Tháng 3 năm 2011 N.N.T
|
|
|
|
|
Logged
|
Nhật ký Viết lại
|
|
|
sauchinbaymot
Thành viên

Bài viết: 431
Nhớ Rừng!
|
 |
« Trả lời #5 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:27:31 AM » |
|
GÀ HOA MƠ CÁNH TIÊN Nguyễn Như Thìn “Truyện của anh kinh bỏ mẹ, toàn chết chóc..” Thằng Định bảo tôi thế. Đáng ra tôi, còn kể tiếp anh Tẹo, hy sinh ra sao hay thằng Ngọ chết cháy trước cửa ngõ Phan Rang năm 75 thế nào, nhưng thôi tôi kể chuyện sống vậy. Một mầm sống hẳn hoi . Hồi ấy tiểu đội tôi được bổ sung một lính mới, quê Thái Bình, tên Toản. Anh khá đẹp trai, tóc lúc nào cũng chải ngược ra sau, nom rất điệu. Khi anh cười, hai mắt tít lại, miệng ngoác tận mang tai, phô hai hàm răng... không được trắng. Nó vàng, xỉn, lại không đều, trông như đứa trẻ lên năm bị sún vậy. Vì thế, tôi gọi anh là Toản “Sún”. Anh Toản đã có vợ con đàng hoàng, anh hơn chúng tôi chừng vài tuổi. ( Có lần nghe thằng Mộc kể lại, anh hận tôi lắm, vì ngần này tuổi rồi mà vẫn bị tôi gán cho cái tên là “Sún”) Thực tình, tôi rất ân hận muốn sửa sai, mà không được. Là bởi, cái tên ấy quá quen thuộc với tiểu đội mất rồi, như mũi tên đã buông khỏi dây cung, làm sao giữ lại được nữa. Anh Toản cũng hay chuyện. Lúc hứng chí anh kể chuyện vợ chồng cho lũ trai tơ. Chúng tôi cứ há hốc mồm ra nghe. “… Chúng mày biết không? Con vợ tao, cái khoản ấy nó máu lắm. Cái lần tiễn tao đi bộ đội, chỗ khuất người, nó túm lấy cái ấy của tao bảo, giá anh để lại cho em cái này thì tốt quá. Tao nóng bừng cả người. Mãi đến khi xe sắp chạy mới hạ hoả”. Mà anh Toản máu cũng không kém. Có bận ra cửa hàng mua bán, sờ tấm vải lụa đen, nhớ đến vợ, mặt anh lại đần thối ra, đứng chết trân hàng nửa tiếng đồng hồ. Tôi bực quá, thây kệ anh bỏ về. Chả trách hồi năm 73 sau Hiệp Định Pari, đóng chốt giáp ranh, một lần bên kia hàng rào, một thằng lính Sài Gòn chửi :" Đ mẹ Việt cộng thèm l … chết nửa đại đội ". Số là, bên địch hôm ấy, thấy thấp thoáng bóng áo dài xanh, đỏ, lính mình tò mò ngó xem. Lại nói hồi đóng chốt giáp ranh ven biển. Có một lần bão to, tấm tôn lợp trên mái lán không chịu nổi sức gió bay vèo, chém một nhát ngang mặt anh Toản. Chúng tôi vội vàng khiêng anh đi cấp cứu phẫu trung đoàn. Nửa tháng sau anh về, một con rết dài cỡ gang tay vắt ngang mặt, nom rất gớm ghiếc. Có lẽ Chí Phèo cũng phải tôn anh làm đại ca. Sẹo trên mặt Chí, chỉ bởi mảnh chai, mảnh sành, sánh làm sao được với tôn hoa Cửa Việt. Dạo ấy, sau hiệp đinh Paris, mặt trận phía đông khá yên bình, đơn vi tổ chức anh em liên hoan văn nghệ cho đời sồng tinh thần thêm vui vẻ. Là dân Thái Bình nổi tiếng hát chèo, anh Toản trổ tài khiến chúng tôi phục sát đất. Anh hát hay, múa cũng dẻo. Tiết mục của anh được chọn đi thi cấp tiểu đoàn. Cần phải tập thêm. Nhưng tập ở đâu ? Giữa lán mà múa may quay cuồng thì cũng lố. Một lần thằng Tác và Tân “vịt”, bắt gặp anh đang biểu diễn trong… nhà vệ sinh. Chuyện là, dạo ấy, hậu cần cũng khá. Mỗi tháng mỗi lính được cấp một tập giấy năm hào hai để viết thư. Tôi viết đủ thứ còn chẳng hết nữa là Tân “Vịt”. Hắn chẳng viết bao giờ. Hỏi tại sao hắn nói ngại. Hắn sử dụng luôn tập giấy làm cái việc cần thiết mỗi buổi sáng. Thằng Tác tiếc lắm, thế là, mỗi sáng, hắn đón Tân “Vịt” gần nhà vệ sinh, tay cầm tập giấy báo cũ cắt vuông vức hẳn hoi, gạ đổi cho Tân “Vịt”. Có bận giở chứng, thằng Tân không đổi, hai đứa đôi co, chính là hôm chúng bắt gặp anh Toản đang biểu diễn. Tôi vội lôi hai đứa ra xa, kẻo anh ngượng không tập tiếp. Mấy hôm sau, anh nhận được thư nhà, buồn rười rượi, chẳng hát hò gì nữa. Hỏi gì cũng không nói. Tôi tỉ tê mãi, anh mới kể:“Con vợ tao ở nhà lăng nhăng với thằng hàng xóm. Mẹ chồng nàng dâu lủng củng không ai giải quyết được, nhắn tao về” Một lần, nhân trực ban, tôi báo cáo với chính trị viên đại đội chuyện nhà anh Toản:“Gay lắm, độ này anh ấy làm sao ấy, múa hát như điên trong nhà vệ sinh, không cho ai vào. Không tin anh hỏi thằng Tân mà xem. Anh xem thế nào, xin tiểu đoàn cho anh ấy về phép…” Hai tuần sau anh Toản được về phép thật. Hết phép, anh về đơn vị rất đúng hạn, mặt mũi phởn phơ, tay xách theo đôi gà làm giống, gà hoa mơ cánh tiên, tuyệt đẹp. Tôi hỏi anh, giải quyết chuyện gia đình thế nào. Anh cười: “Trông thấy cái mặt tao, cả anh, cả ả lậy như tế sao, hứa đến chết cũng không dám ăn vụng. Chi bộ thôn, thanh niên, phụ nữ, coi tao như anh hùng. Bắt tao kể truyện chiến đấu. Rồi cái sẹo thế nào. Tao chẳng dám nói bị tôn chém, cứ phét lác lung tung. Còn vợ tao, thôi thì tha cho nó. Nói thực nhé, mình mà có điều kiện thì cũng ăn vụng chẳng kém ai” Đầu năm 74, chúng tôi chuyển quân về Triệu Độ. Đôi gà anh Toản mang về, lớn nhanh như thổi, chẳng mấy chốc, trước lán tiểu đội, có hẳn một đàn gà. Mà đến lạ, đi đâu quanh thôn cũng gặp, gà hoa mơ cánh tiên. Giống của anh tốt thật. Tháng đầu mới về thôn, chưa làm được lán, chúng tôi phải chia nhau ở nhờ nhà dân. Tôi anh Toản, Tân “ Vịt” ở nhờ một gia đình. Anh chị chủ không còn trẻ, lấy nhau gần chục năm không có con. Chị chủ trông tràn đầy nhựa sống, còn anh chủ ngược lại, rất thiếu sinh lực. Chị chăm sóc chúng tôi thật chu đáo, đặc biệt với anh Toản, có lẽ vì anh hát hay chăng?. Mấy tháng sau, nghe nói, chị có tin vui. Khỏi phải nói, anh chị vô cùng sung sướng. Tôi nghi ngờ anh Toản là tác giả của tác phẩm ấy. Có lần trực chiến, chỉ có tôi với anh, nửa đùa, nửa thật, tôi trêu. Anh vội mắng át đi“..vớ vẩn…”. Nhưng có lúc lại nói: "mất gì của bọ” Cuối năm chị chủ nhà, sinh đựơc một thằng cu bụ bẫm. Cả thôn chúc mừng. Còn chúng tôi, lên miền tây đón tết và chuẩn bị chiến dịch xuân hè năm 75. Thế mà, thoắt một cái đã hơn 30 năm. Tháng 10 năm 2005 tổng công ty VIETTEL, tài trợ cho các anh em từng chiến đấu ở Quảng Tri về thăm lại chiến trường xưa. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi trở về Triệu Độ. Cảnh vật thay đổi rất nhiều. Tìm về ngôi nhà xưa, không còn nữa. Hỏi chị hàng xóm, chị kể: “ Quãng mươi năm trước cũng có một chú bộ đội có cái sẹo to về chơi, chẳng hiểu sao, sau đó vợ chồng con cái bán hết nhà cửa, dắt díu nhau vào Nam làm ăn, từ đấy bặt tin tức”. Hỏi đến anh con trai, chị mau miệng : “ Anh ấy đẹp trai lắm, chẳng giống ông chủ chút nào. Phải cái răng hơi xấu” Ôi ! Đích thị là Toản con rồi. Lại một con gà trống hoa mơ cánh tiên... Mấy lời cuối truyện. Để không làm ảnh hưởng tới cuộc sống riêng tư của các nhân vật trong truyện, tôi đã thay tên, địa danh. Tuy nhiên, khó tránh khỏi liên tưởng, “ nếu có điều gì sơ xuất xin hãy lượng thứ” Tháng 3 năm 2011 N.N.T
|
|
|
|
|
Logged
|
Nhật ký Viết lại
|
|
|
sauchinbaymot
Thành viên

Bài viết: 431
Nhớ Rừng!
|
 |
« Trả lời #6 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:30:32 AM » |
|
ANH LÍNH LẠC LOÀI Nguyễn Như Thìn Lần đầu tiên hắn xuất hiện trước tiểu đội, quần ống thấp ống cao, như mới đi bừa về. Người hắn toát lên một mùi ngai ngái cuả bùn đất, cái mùi ấy, theo hắn suốt cả đời binh nghiệp, chẳng hề phai. Có thể nói hắn không đẹp trai, ấy là cách nói giản nói tránh. Đôi mắt to, nhưng không phải mắt bồ câu. Miệng hắn luôn phô ra hai tiểu đội răng rất mất trật tự, cái đứng nghiêm, cái nghỉ, cái ngồi. Đôi vai hẹp ngự trên bộ ngực lép, dưới nữa là cái bụng eo quá mức cần thiết. Nhưng ngược lại, hắn sở hữu một cặp mông nở nang khiến nhiều chị em phải ghen tỵ. Có lẽ bao chất bổ trong người đều dồn cả vào đấy. Khi hắn mặc quân phục, áo bỏ trong quần, nom như con bọ ngựa đang múa gươm. Mà cái áo thì khó bảo, lúc thụng ra như chiếc váy ngắn, khi thì tóp lại, bó sát tấm thân không đầy đặn, khiến hắn thẳng tưng như cây bút chì. Chiếc thắt lưng Liên Xô thít gần được hai vòng bụng. Mà chiếc thắt lưng, là nỗi khốn khổ. Nghe hướng dẫn mãi mới biết sử dụng. Những ngày đầu, cần giải quyết việc riêng tư, hắn đỏ mặt kéo, càng kéo càng chặt, tý nữa thì vãi ra quần. “Giá có đoạn dây làm dải rút thì tiện”, hắn bảo thế. Nhưng giữa hàng quân mà lại có anh lính lạc loài dùng dải rút thì ai mà chấp nhận được. Thôi chẳng muốn nói đến cách ăn mặc, đi đứng của hắn nữa. Chán lắm ! Muốn ra sao thì ra. Nhưng có việc, không thể, ra sao cũng được. Ấy là luyện tập kỹ năng chiến đấu của người lính. Hơn nữa, lại là lính 12 ly 7 trợ chiến. Cái bảng bắn máy bay, nhồi vào đầu hắn tai này thì lòi sang tai kia. Khi bắn đạn thật, bài bắn bộ binh, đạn toàn vọt lên trời, còn bắn máy bay, đạn lại găm xuống đất. Bó tay! Thôi để hắn chuyên “xạ thủ số 4” vậy. Nghĩa là, chuyên khuân vác đạn. Được cái hắn khiêng vác khỏe, chẳng thấy phàn nàn gì. Nhưng cái ba-lô của hắn, rất nghịch mắt, lúc nào cũng gấp rưỡi đồng đội. Chẳng hiểu hắn đựng cái quái gì. Trông như cái bướu khổng lồ của con lạc đà châu Phi, khiến hắn rất khó đổi vai khi khiêng súng đạn. Có lần tiểu đội phải ra nghị quyết kiểm tra hành chính. Thôi thì trăm thứ bà rằn. Một quyển từ điển Nga-Việt của một lính sinh viên nào vứt lại vì quá nặng. Bốn năm tập giấy trắng. Tập được phát, tập đổi, tập xin. Mấy gói đường sữa được cấp từ hồi mới đi B. Hai bộ quần áo còn mới tinh, một bộ còn rung rúc. Rồi những chiếc vỏ lon, hộp đẹp mắt chẳng hiểu đã đựng những gì trước khi trở thành bộ sưu tập của hắn…vân vân và v.v...Có lẽ phải thanh lý bớt thôi cho dù hắn phản đối kịch liệt “… để khi nào có dịp gửi về quê...” hắn giải thích thế. Còn quái dịp nào nữa, đánh nhau bỏ mẹ, người còn chẳng tiếc nữa là mấy thứ linh tinh. Nhẹ người còn để tránh mũi tên hòn đạn. Nhưng, ngay cả mũi tên hòn đạn hắn cũng không buồn tránh. Kỳ lạ thật! hắn cứ ngẩn ngơ, thơ thẩn chuyện ruộng vườn. Trận đầu tiên, đào công sự trên mảnh ruộng trống trơn, hắn cứ ngắm nghía, bóp bóp, ngửi ngửi cục đất lẩm bẩm,“ruộng này cấy hai vụ là ăn chắc”. Mặc cho tiểu đội đang lo lắng, căng thẳng, vì rơi vào tình huống sống còn. Ở vườn chuối, thấy mấy cây rau dền “cổ thụ” lá to cỡ bàn tay, thân như gốc tre hắn suýt xoa. Ngoài mình mà có giống dền này, tớ chỉ trồng một vườn là có cả tạ rau. Sốt ruột hơn, thấy bao lúa bị vung vãi vì bom, hắn vốc một vốc những hạt thóc dài chẳng hiểu giống lúa gì nhét ngay vào ba-lô. Dường như hắn đang lên kế hoạch thời hậu chiến. Mỗi người một cách nghĩ, thôi kệ vậy. Nhưng bực nhất là khi, chẳng còn gì để ăn, bom đạn ác liệt, đành phải hậu cần tự túc. Có con bê bị thương do B52, may vớ được, đem thịt, hắn lậy như tế sao:“ Tao xin chúng mày.. nó còn nhỏ quá …để nó sống”. Tình huống bi hài như sắp đem thân nhân của hắn ra pháp trường. Hắn chẳng chịu hiểu, làm sao con bê có thể sống được vài ngày khi mà trên mảnh đất này, mảnh gang của bom, đạn còn nhiều hơn là cỏ. Cứ ngơ ngơ như bò đội nón thì làm sao mà tồn tại được. Ấy thế mà, hắn vẫn tồn tại. Dường như bom đạn cứ tránh hắn. Trận đầu rút lui, giữa đồng không mông quạnh, đạn như vãi trấu hắn chẳng việc gì. Trận Tám Cát hai phần ba tiểu đội thương vong hắn chẳng làm sao. Hai trận liền giữ chốt trên doi cát. Không một mét vuông nào tránh khỏi bom đạn cày xới, hắn cứ, chạy đi, chạy lại, tiếp đạn, như con thoi cho cỗ máy dệt ra toàn khói lửa. Mặt hắn ám đầy thuốc súng, đen nhẻm như móc dưới ruộng lên, nhưng quái lạ, hắn vẫn phảng phất ngai ngái mùi bùn đất. Trận Cửa Việt, ngày 27 tháng một năm 73, một ngày trước khi Hiệp Đinh Pa-ri có hiệu lực, B52 trần suốt ngày không theo quy luật. Bom nổ, bên trái một quả, bên phải một quả, hầm hắn ở giữa. Chiều, tối, rồi đêm, xe tăng ta, xe tăng địch, lính ta lính địch, pháo ta pháo địch trộn lẫn vào nhau. Một khoảng bờ biển chạy dài gần một km chỉ thấy lửa địa ngục. Những ánh chớp và tiếng nổ của thần sấm sét giáng xuống liên hồi. Sáng ra, trên mặt biển cuộn sóng, mặt trời từ từ, nhô lên, chiếu những tia sáng đầu tiên. Quang cảnh chiến trường hiện dần như trên một màn ảnh vĩ đại mà không một đạo diễn tài ba nào có thể dàn dựng nổi. Xác của những chiếc thiết giáp 23 ly, những chiếc xe tăng, của cả hai bên, có cái vẫn dựng lên những cột khói nghi ngút, nằm rải rác. Xa xa, bên mép nước, có tới cả trăm chiếc xe tăng của địch đang co cụm lại. Hắn chạy ra xem. Quá tầm gọi lại, nhìn đôi chân trần như bay trên cát mà thót cả ruột gan. Mìn cần chống tăng giăng như mạ cấy. Vậy mà hắn vẫn lành lặn trở về, xách theo một khẩu M79 gẫy thước ngắm, tòong teng như xách một cái điếu cày. Năm 74, giữ chốt giáp ranh, kệ cho đồng đội căng mắt dõi nhìn mặt đất và bầu trời, vớ được đoạn tre, chẻ lạt, hắn đan. Chẳng hiểu hắn đan gì? Hóa ra, hắn đan một cái sàng. Hắn xúc cát sàng sàng, sẩy sẩy, gạn gạn, nhặt nhặt như dân đãi vàng. Rồi hắn nhúm được một dúm … một dúm sái thuốc lào. Cho vào điếu, kéo một hơi, hắn ngây ngất ngắm thành quả lao động của cả một ngày đang tan thành mây khói. Nhưng chiến sự chẳng cho hắn ngồi sàng cát mãi. Năm 75, cùng đại quân, hắn đánh ngược ra Huế. Đánh xuôi Đà Nẵng. Ngồi trên xe hẳn hoi, hắn cứ lướt mỗi ngày một vài tỉnh. Bình, Phú, Khánh Hòa. Tràn vào Phan Rang, bất ngờ như lũ cuốn. Mấy tên cảnh sát Sài Gòn tay vẫn còn cầm tách café. Đêm tiếp quản Phan Thiết không một bóng người trên đừơng phố. Rồi Long Thành, Nhân Trạch, Cát Lái, Đồng Nai. Đồng đội hắn rơi rụng khá nhiều. Nhưng hắn vẫn không sao. Trưa 30 tháng 4, quần ống thấp ống cao, hắn bước vào dinh Độc Lập. Tháng 4 năm 2011 N.N.T
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:36:41 AM gửi bởi sauchinbaymot »
|
Logged
|
Nhật ký Viết lại
|
|
|
sauchinbaymot
Thành viên

Bài viết: 431
Nhớ Rừng!
|
 |
« Trả lời #7 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:35:00 AM » |
|
Tôi là – cái ba-lôNguyễn Như Thìn [/b] Tôi là cái ba-lô. Tôi sinh ra ở Mỹ, trên một dây truyền sản xuất quân trang hiện đại. Các kỹ sư tài giỏi đã dầy công nghiên cứu, thiết kế, chế tạo ra tôi để phục vụ cho chiến tranh được tốt nhất. Về hình dáng, trông tôi hầm hố với những đường nét gân guốc phong trần. Về công năng, tôi lại càng vượt trội so với đồng loại. Chẳng cần khiêm tốn làm gì, tôi xin kể ngay đây. Trước hết là hai cái quai, nó được trần một lớp bông hóa học dầy, rất êm ái khi đặt lên vai người lính. Giữa hai quai là hai cái khóa rất đơn giản. Khi mang nặng, lúc cần hạ xuống nghỉ ngơi, người lính chỉ cần giật nhẹ hai cái tai, khóa bung ra, tôi tiếp đất thật nhẹ nhàng. Sau lưng tôi là ba túi cóc cũng như nhiều đồng loại. Nhưng khác biệt là, khóa của túi cóc, không phải dây buộc như mấy thằng Trung Quốc, hay bằng đồng vừa nặng vừa rắc rối như mấy anh bạn màu ô-liu quai ngắn, đồng hương. Khóa của tôi vừa cài lại vừa bấm, bằng nhựa nhẹ, rất thuận tiên cho lính tùy thích sử dụng. Trên vai tôi là cái nắp được may bằng hai lớp vải tráng cao su, tạo thành một cái túi bí mật đựng những tài liệu giấy tờ, chống nước rất hữu hiệu. Đặc biệt, tôi được dệt bằng sợi tổng hợp má lính quen gọi là vải dù. Nó rất nhẹ, chịu được nước và rất chóng khô khi chẳng may dính nước. Váo những năm 70 của thé kỷ trước, tôi xuất xưởng, thằng tân binh khoác chiếc áo màu cỏ úa mới tinh là tôi xuống tầu sang Việt Nam tham chiến. Ban đầu, chủ tôi là một viên sĩ quan trẻ trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Khí hậu miền Trung Việt Nam thật khắc nghiệt. Khi thì gió Lào cát trắng, nắng giòn quân phục, lúc thì mưa lũ, trắng xóa cả mặt đất và bầu trời . Chỉ một năm nếm mùi trận mạc, nước da tôi nhanh chóng ngả sang màu cỏ chết. Quảng Trị , mùa hè đỏ lửa năm 1972, đại đội của viên sĩ quan trẻ tử trận non một nửa. May mắn thoát chết, anh ta cõng tôi chạy tới tận sông Mỹ Chánh. Rồi nhờ có hỏa lực mạnh của đồng minh, tôi lại theo viên sĩ quan phản kích tới gần bờ nam sông Thạch Hãn. Nhưng, cái ngày định mệnh 27 tháng 1 năm 73, trận Cửa Việt, viên sĩ quan tử trận. Tôi bị bỏ rơi lăn lóc trên bãi cát trong một đêm lửa đạn kinh hoàng. Sóng giận dữ mấy lần lôi tuột tôi xuống biển khơi, rồi lại ném tôi phơi lưng trên triền cát trắng, thật tủi nhục. Sáng ra, một anh lính Giải Phóng trẻ đi ngang qua, có lẽ vì hình thù kỳ dị và những công năng hiển hiện của tôi mà anh không bỏ qua. Tháo cái khung sắt vừa nặng lại chẳng mấy tác dụng quẳng xuống biển, ông chủ mới thu nạp tôi. Kể từ đây, cuộc đời tôi rẽ sang một trang mới lắm gian truân. Năm 73 sau Hiệp định Pari , tạm yên tiếng súng. Nằm trong lán, thẳng hàng với chục thằng không cùng chủng tộc, tôi luôn bị dòm ngó, đố kỵ, dèm pha. Nhất là khi cấp trên xuống kiểm tra điều lệnh nội vụ. Bọn chúng vuông thành, sắc cạnh, nằm nghiêm tăm tắp. Còn tôi, chẳng giống ai, chỗ cần tròn thì lại vuông mà chỗ cần vuông thì lại cứ cong như trêu ngươi mấy sếp.Vì tôi, tiểu đội của ông chủ chẳng mấy khi đạt điểm thi đua. Mà nhìn mấy thằng đồng đội bất đắc dĩ thật đáng ghét. Lúc còn trận mạc, nom chúng dúm dó, bẩn thỉu và hôi hám. Vậy mà giờ đây, ngực căng tròn , chúng cứ dương dương tự đắc sáng lòa. Ngữ này chỉ hợp với thời bình thôi. Tôi nghĩ thế. Lo sợ vì thi đua mà ông chủ quẳng quách tôi vào đống rác. Nhưng không, ông là người thực tế, thành tích thi đua chỉ là trò vớ vẩn. “Hay, hay không đến cửa công mới biết”. Mà cũng chẳng cần chờ đến ngày trận mạc. Cơn bão số 7 năm 74, mưa như hắt nước vào mặt, gió như tát thẳng vào tai, đại đội hành quân dã ngoại, nửa đêm hạ trại giữa rừng già. Lính vừa đói vừa rét. Ướt như chuột lột, riêng tôi thì không. Cái bật lửa và mấy cuốn nhật ký, mà ông chủ quí hơn vàng trong túi bí mật vẫn khô nguyên. Hơn nửa tiếng sau tiểu đội ông chủ tôi đã có cơm ăn, cũng chừng ấy thời gian, tiểu đội đã có chỗ nằm, trong khi, đội bạn vẫn rét run, chạy đi, chạy lại, xin lửa rối rít. Cũng tài thật, ngoài trời vẫn mưa gió bão bùng. Đầu năm 75 tôi theo ông chủ đi chiến dịch xuân hè. Một đêm tháng giêng rét mướt, tối như bưng, đại đội vượt sông Ba Lòng . Nước lạnh giá như đóng băng. Bất ngờ phao của ông chủ tôi bị rách. Ông chủ bơi giỏi lắm, tính mạng chắc chẳng đáng ngại. Nhưng còn súng đạn…Tôi cố gồng mình lên, lớp vải dầy liên kết lại, trở thành một cái phao bất đắc dĩ đưa ông chủ sang tới bờ. Tôi đã cứu ông một bàn thua trông thấy. Có lẽ, ngựa Xích thố cứu Quan Công cũng chỉ đến thế là cùng. Kể từ đấy, tình cảm giữa ông và tôi càng thêm sâu nặng. Tôi theo ông dong ruổi khắp các nẻo đường chiến dịch. Đến giữa tháng tư năm 75, trứơc cửa ngõ Phan Rang, tôi bị thương. Một mảnh bom găm vào sườn trái, thủng một lỗ. Ông chủ tôi xót xa lắm, ông không nói gì, chỉ vuốt vuốt chỗ đau . Mặc dù bị thương, song tôi vẫn cố theo ông đến tận Sài Gòn. Thật là vui, ngày đại thắng…Nhưng lắm lúc cũng thấy thật buồn tủi. Thỉnh thoảng đại đội lại báo động đột xuất. Chúng tôi bị lôi ra một con phố nhỏ, lộn ngược hết cả ra, xấu hổ quá, chẳng khác gì cởi truồng trước bàn dân thiên hạ. Chắc các thủ trưởng sợ, chúng tôi chứa văn hóa đồi trụy chăng? Thôi vứt quách hết nỗi buồn phía sau, tôi ôm lưng ông chủ ra Bắc. Ông được ra quân trở về trường cũ. Tuyệt vời ! Từ ga Hàng Cỏ thả bộ về nhà, dân thủ đô nhìn chúng tôi như người ngoài hành tinh. Chắc cả chủ lẫn tớ trông đều quái dị lắm. Mà cũng phải, sau bốn năm trận mạc, không quái dị một chút mới là lạ. Ngay cả nhũng người thân của ông chủ, cũng nhìn tôi không mấy thiện cảm, đặc biệt là bà mẹ. Dường như tôi là hiện thân của chiến tranh, của chết chóc, của mất mát đau thương.( Anh trai ông chủ tôi vĩnh viễn không trở về). Nếu biết tôi mang quốc tịch Hoa kỳ, chắc bà còn ghét tôi lắm. Một chiều mưa gió, bà gói gém tôi cùng với thằng Xanh-tuya-rông, cái bi đông và con dao găm, sao bà ghê sợ và ghét con dao thế, ném vào thùng rác. Cỏ lẽ bà nghĩ, hết chiến tranh rồi, lũ chúng tôi chỉ gây thêm phiền toái mà thôi. Cũng may, ông chủ tôi phát hiện, giấu biến chúng tôi lên gác xép cao tít. Những tưởng cuộc đời tôi được an bài từ đấy. Nhưng không, năm 1979 chiến tranh biên giới lại nổ ra . Thằng em ông chủ lại ra trận. Nó ngỏ lời xin mang tôi theo để lấy may. Ông chủ tần ngần giây lát, có lẽ không lỡ rời xa tôi . Nhưng rồi ông cũng chẳng giữ tôi lại nữa, chiến sự đang cần tôi mà, như ngựa chiến ngửi thấy mùi thuốc súng... Tiễn thằng em với ánh mắt trìu mến, nhìn chúng tôi lầm lũi lên đường, chút nữa ông rơi nước mắt. Đất nước ơi sao mà khổ thế. Tôi lên Vị Xuyên, chứng kiến những trận đánh đẫm máu và ác liệt chẳng kém gì khi ở với ông chủ. Tôi lại bị thương. Nhưng lần này, có bàn tay dịu dàng của một sơn nữ mạng vá lành lặn, vết thương như thêu hoa kết gấm. Thỉnh thoảng bị nhẹ một tý thế này, kể cũng thú vị. Chiến tranh biên giới rồi cũng kết thúc, cùng thằng em ông chủ, tôi lại trở về đất kinh kỳ. Vẫn đôi mắt trìu mến ấy, ông chủ đón chúng tôi tận cửa ngõ . Tôi tin rằng, tình cảm ông dành cho chúng tôi là 50/50. Giờ ông chủ tôi đã già, tóc đã bạc, chân đã yếu, mắt cũng mờ, vì bệnh tật và tuổi tác. Tôi cũng đã, quá bạc màu theo năm tháng, chỉ muốn mãi mãi nằm trên căn gác xép ẩm mốc, đánh bạn với lũ chuột nhắt tinh quái. Tôi rất sợ phải ra trận lần nữa, rất sợ những mảnh gang nóng chết người… Thỉnh thoảng ông chủ lại lôi tôi xuống, vuốt ve ngắm nghía. Đôi mắt sáng long lanh. Ông như sống lại những năm trai trẻ hào hùng. Ôi đôi mắt, đích thị là của người đang lên đồng. Tôi dám chắc, mặc dù đã ở tuổi sáu mươi, lúc ấy, vẫn còn có thể, ông bắn súng lục ông bơi thuyền rồng. Tháng 5 năm 2011 NHƯ THÌN
|
|
|
|
|
Logged
|
Nhật ký Viết lại
|
|
|
lexuantuong1972
Thành viên

Bài viết: 1134
TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI
|
 |
« Trả lời #8 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:37:39 AM » |
|
Ôi NhuThin, bác đã xuất hiện trên QSVN bằng bút danh của mình. Quả thực tôi rất mừng vì sức khỏe của bác có thể khá lên hoặc có thể bác đã tác chiến bằng nghị lực sống của 1 thằng lính đã đi từ những trận chiến đẫm máu ven Thành cổ QT qua Long Quang, Thanh Hội, Cửa Việt giành giật từng mét cát nóng bỏng với quân thù ; từ núi rừng Trường Sơn cắt ngang Phú Lộc thọc sâu vào Huế từ phía Nam ; băng qua dải đất duyên hải Trung Trung bộ tràn vào Phan Rang, bất ngờ như lũ cuốn. Mấy tên cảnh sát Sài Gòn tay vẫn còn cầm tách café ; và những trận đánh khốc liệt tại Long Thành, Thành Tuy Hạ với bao bạn bè đã ngã xuống trước cửa ngõ Sài Gòn vào thời điểm cuối cùng của trận chiến mà cho đến bây giờ không ít người tưởng rằng những trận đánh cuối cùng đó như 1 cuộc hành quân thực binh mà địch phải buông súng trước sức mạnh của chúng ta.
Thế là trên diễn đàn QSVN lại xuất hiện thêm 1 bàn phím của 1 Cựu SV - CS của f325 rất có nghề của 1 người lính chiến thực thụ và 1 cây bút luôn luôn dằn vặt trong mình lời tâm nguyện hãy viết đi , viết cho mình và cho mai sau. Rất mong bác giữ gìn sức khỏe để chúng tôi tiếp tục đọc được những trải lòng của bác.
Chắc bác có đọc thông báo chương trình Kỷ niệm 40 năm ngày nhập ngũ của đợt 6/9/1971 với tiêu đề Quảng Trị trái tim bạn & tôi từ 2/9/11 đến 5/9/11 tại QT ; Gala tại KS Khăn quàng đỏ đêm 5/9 và Kỷ niệm 40 năm nhập ngũ sáng 6/9 tại ĐHBK. Bọn tôi tuy nhập ngũ sau nhưng đón nhận chương trình này rất hồ hởi vì chúng ta có 1 điểm chung đó là Thành cổ QT. Không dám báo bác tham gia vì ngại cho sức khỏe của bác. Trong tốp chúng tôi có cả anh em đi 6/9/71 tham gia như TTNL, 6971, TANVINHprc25...Bác lượng sức khỏe của mình như thế nào có thể tham gia ở 2 phần sau (tại HN), còn phần đầu thì đi xa không có lợi cho sức khỏe của bác.
Kính bác.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2011, 04:18:19 PM gửi bởi lexuantuong1972 »
|
Logged
|
|
|
|
lexuantuong1972
Thành viên

Bài viết: 1134
TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI
|
 |
« Trả lời #9 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 01:25:45 PM » |
|
HÃY VIẾT CHO MÌNH VÀ CHO MAI SAU
Nguyễn Như Thìn Tôi có mấy thằng bạn lính, viết hùng hục như trâu cầy trên trang QSVN. Dân chuyên nghiệp như tôi cũng vô cùng thán phục. Chúng làm được cái việc mà, đáng tôi phải có nghĩa vụ làm từ lâu. Thank…chúng nó. Nhân đây tôi xin kể một chuyện vui: Vào khoảng năm 1978, khi tôi đang học năm thứ 3 khoa Ngữ Văn trường ĐHTH Hà Nội, chúng tôi phải học một chuyên đề: “Thơ và mấy vấn đề trong thơ VN hiện đại” của giáo sư Hà Minh Đức. Học xong thì phải thi. Ôi, mà thi thơ thì thật là mông lung. Gọi là “mấy vấn đề”, nhưng nó bát ngát, bao la không kém gì tâm hồn của mấy chàng thi sĩ say rượu. Nếu không khoanh lại một chút, chắc cả lũ, phải quay vòng tua hai, thi lại là cái chắc. Được sự đồng ý của Giáo Sư, lớp cử tôi đến nhà thày để nghe hướng dẫn ôn trọng tâm. Không khác gì như lính trinh sát đi trước tiền trạm, tôi lững thững thả bộ đến số nhà 3x… phố Hàng Đào. Ngoài là một cửa hàng bán quần áo và mỹ phẩm náo nhiệt, hỏi thăm, bà chủ chỉ vào cái ngõ, thực ra là cái ngách bên cạnh. Nó hẹp như hào chiến đấu mà cũng tối như hầm ngầm. Tôi đánh liều chui vào, mò mẫm trong bóng tối, rồi bất ngờ vấp phải một cái thang (hồi ấy ban ngày không có điện). Vẫn cứ trong bóng tối, tôi lên gác hai. Lại lần theo một cái ngách đầy bí ẩn nữa, tôi đâm sầm vào một bức vách, có lẽ bằng cót ép, tôi nghĩ vậy. Một tiếng cười trong trẻo phá lên, may trong bóng tối, nếu không cô gái nào đó sẽ phát hiện ra tôi đang đỏ mặt vì xấu hổ. Một giọng nói thanh nhẹ của một thiếu nữ chắc chắn gốc Hà Thành cất lên:"…gặp thày Đức phải không. ..cứ đi thẳng…”. Ôi may quá, đúng là gặp cứu tinh. Cuối cùng cũng thấy ánh sáng cuối đường hầm. Không gian như bị xé toang, sáng lòa. Một căn phòng đẹp, cổ kính, sàn lát lim hiện ra. Phía trước phòng là một cái sân thượng trông ra cả một ma trận nóc nhà. Nghe kể lại, mẹ tôi suýt đẻ rơi tôi khi đi chợ Hàng Bè. May, giữa phố Gia Ngư cạnh đây, số 14 có một nhà hộ sinh. Tôi lớn lên vẫn quanh quẩn ở khu này. Vậy mà không làm sao hình dung ra nổi những nóc nhà kia, đang ở đâu? (Giá sử có bác Tích Tường Như Lệ, trinh sát ở đấy mà hỏi thì tốt quá). Đón tôi vào nhà, pha một ấm trà thơm, khoan thai từ tốn thày hỏi chuyện: - Cậu cũng đi bộ đội về à? …Có phải trận mạc gì không? Tôi đáp lại: - Vâng, có ạ. - Chắc là gian lao vất vả lắm, cậu kể cho tôi nghe…Ông nói tiếp. Tôi lưỡng lự giây lát. Nhìn khuôn mặt đôn hậu, giọng nói chân tình cởi mở của thày, tôi mạnh dạn kể. Thực ra không phải là kể, mà là cởi hết nỗi lòng của những thằng thư sinh nếm mùi trận mạc...Khi thì hành quân vất vả, khiêng súng nặng như cùm. Lúc thì vượt sông dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù. Những trận đánh đẫm máu…Rồi đói ăn, khát uống...Thày nghe chăm chú. Đôi mắt như cảm thông, chia sẻ và khuyến khích: Kể nữa, kể nữa đi…em. Bất chợt, nhìn đồng hồ, gần một tiếng trôi qua, tôi đã lạc đề, lỗi tối kỵ của những thằng cầm bút. Nhiệm vụ chính của tôi chưa hoàn thành. Nếu vác cái mặt về mà chỉ được dăm ba chữ thì, thằng Khanh lớp trưởng, vốn là lính trinh sát pháo sư đoàn 325 sẽ băm tôi làm đôi. Tôi vội vàng xin phép thày dừng chuyện. Nhìn tôi với ánh mắt trìu mến, thày nhẹ nhàng nói: - Cậu hãy viết đi. Viết những gì mà cậu vừa kể với tôi. Trút hết những kỷ niệm ấy lên trang giấy trắng. Thêm một vài thủ pháp tu từ. Một bố cục rõ ràng, một cảm xúc chân thực. Sẽ là một tác phẩm hoàn chỉnh...Các cậu không viết thì ai viết? Hãy viết cho mình và cho mai sau. Giật mình nhìn lại, thế mà đã mấy chục năm qua. Tóc đã bạc, sức đã yếu, quỹ thời gian chắc chẳng còn nhiều. Nói như Xuân Diệu, lúc này phải viết như chạy đồ chữa cháy. Có thể là một túi vàng, nhưng cũng có thể chỉ là một cái chổi cùn, rế rách. Nhưng không sao...hậu xét. Nước Nga, gần một thế kỷ sau chiến tranh vệ quốc, Đại văn hào Lep-tôn-xtôi mới cho ra đời bộ sử thi bất hủ Chiến Tranh và Hòa Bình. Vậy các bạn ơi! Hãy viết đi, trước hết là được trải lòng. Sau là, giúp cho các nhà văn, tài giỏi hiện tại và sau này, có tư liệu chân thực cho một bộ sử thi hoành tráng tương lai, xứng đáng với tầm vóc của dân tộc. Tháng 5 năm 2011
Như Thìn Một đoạn vĩ thanh buồn. Lê Đỗ Khanh, nguyên trinh sát pháo sư đoàn trong truyện đã mất mấy năm nay. Độc thân, đột tử trong một căn phòng cấp bốn khu tập thể Học viện Báo chí Và Tuyên Truyền, nơi anh công tác. Mấy hôm sau mới có người hay…Thật đau xót! Thương thằng bạn tôi râu hùm, hàm én…mày ngài. Chẳng hiểu hắn đã kịp viết gì chưa?...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|