Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Năm, 2012, 07:32:39 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khởi nghĩa Bãi Sậy - Vũ Thanh Sơn  (Đọc 9617 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 05:12:00 PM »

Ngay sau khi quân Pháp hạ thành Hưng Yên được vài ngày, Nguyễn Đình Tính đã bàn bạc với các anh em và em thúc bá là Nguyễn Đình Xuyên khởi binh đánh Pháp. Ông vừa dứt lời, các ông Đề, ông Ba Sành, ông Xuyên lập tức hưởng ứng. Việc các ông bàn, được cụ Tổng Học khuyến khích và khuyên các con gấp rút chuẩn bị lễ ra quân trọng thể rồi gia nhập cuộc khởi nghĩa do quan Tuần huyện Đinh Gia Quế phát động. Vì theo ông muốn đánh thắng quân Pha lang phải có nhiều người đồng tâm, hợp lực.

Huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên là nơi trực tiếp phải hứng chịu tai họa khủng khiếp tan vỡ đê Văn Giang, Khoái Châu. Nay triều đình Huế lại đầu hàng giặc nên nhân dân vô cùng căm phẫn, hầu hết các xã(1) đều nổi dậy chống Pháp.

Vào một ngày đầu tháng 3 âm lịch, Nguyễn Đình Tính đã làm lễ Thành hoàng cầu xin khởi binh và âm phù nghĩa quân đánh thắng giặc. Hôm đó, mặt trời vừa lên đến tầm ngọn tre, bốn anh em ông Tính cùng đội nghĩa binh gần 100 người mà nòng cốt là đội chống cướp của xã An Vỹ đã tề tựu trước sân đình. Cửa đình mở rộng, bày hương án cờ và đồ minh khí, lá cờ đại màu đỏ, ba mặt viền ngũ sắc treo trên đỉnh cột cờ. Ba Sành thúc trống ngũ liên mời nam phụ lão ấu ra đình. Nghe tiếng trống lại nghe loa báo tin An Vỹ làm lễ khởi binh đánh Pháp già trẻ trai gái đều ra đình. Trên thềm phía tay trái là bốn anh em ông Tính đều mặc quần áo nâu đầu chít khăn đỏ, lưng thắt đai xanh, bên phải là các kỳ lão trong xã do cụ Tổng học đứng hàng đầu. Dưới sân đình là đội nghĩa binh cũng mặc quần áo nâu mới, trên cánh tay người nào cũng đeo băng đỏ, khí giới cầm chắc trong tay.

Khi dân làng đã tề tựu đông đủ, Nguyễn Đình Tính châm một nắm hương tịnh trọng cắm vào bình hương, vái năm vái rồi quay ra nói với dân làng:

“Thưa các bậc lão trượng, thưa toàn thể cư dân ba thôn Thượng, Trung, Hạ xã An Vỹ, cuối tháng ba năm Nhâm Ngọ (tháng 4/1882) giặc Pháp từ nam Kỳ ra xâm lược Bắc Kỳ lần thứ hai, sau đó chúng đánh rộng ra các tỉnh, ngày 26 tháng 2 (18/3/1883) giặc Pháp đã hạ thành Hưng Yên. Các sĩ phu và cư dân Bắc Kỳ đã nổi dậy chống Pháp, ngay trong hạt Khoái Châu cũng đã nhiều nơi nổi dậy. Người An Vỹ ta từ xưa đã theo Vua Rừng Triệu Quang Phục(2) đánh giặc Lương, lại theo Đức Trần Hưng Đạo ba lần đánh giặc Nguyên - Mông, đình làng ta thờ hai vị đó cùng vị Chử Đồng Tử - Tiên Dung - Tây Cung tiên nữ làm Thành hoàng, nay chúng ta quyết noi gương tiền nhân đã theo các vị Thành hoàng đánh giặc bằng cách gia nhập đội nghĩa binh Bãi Sậy do Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế đứng đầu đánh Pháp giành độc lập cho dân tộc. Chúng ta thề quyết đánh giặc Pháp đến giọt máu cuối cùng, đồng bào có quyết đánh không?” Nguyễn Đình Tính vừa dứt lời, tất cả nghĩa quân và nam phụ lão ấu đều vung cao vũ khí và cánh tay lên cao với lời hô “quyết đánh! quyết đánh!”. Tiếng trống, tiếng chiêng cùng tiếng hô vang lên thể hiện ý chí sắt đá của người An Vỹ quyết tâm đánh giặc Pháp xâm lược.


Văn chỉ Bình Dân, xã Tân Dân huyện Khoái Châu, Đại bản doanh của nghĩa quân Bãi Sậy,
di tích lịch sử - văn hóa được Bộ Văn hóa xếp hạng năm 1962

Ở xã Đa Hòa, tổng Mễ Sở(3) có vợ chồng ông Nguyễn Túc là con ông Nguyễn Bá Giỏi sinh trong một gia đình có năm anh em trai. Nguyễn Túc là người giỏi võ nghệ, nhà ở ngay trên bờ Sông Hồng. Vì là xã ở ngoài đê, chỉ cấy được vụ chiêm và trồng vụ rau màu Đông - Xuân nên ông sinh sống bằng nghề đánh cá. Bà Túc tên là Nguyễn Thị Biên(4) quê ở làng Giồng Gầu, xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thôn Kiêu Kỵ thuộc xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội). Bà là người xinh đẹp, lại có võ nghệ, có tài cưỡi ngựa, múa gươm và giao du rất rộng. Cả hai ông bà đều có khí phách giang hồ, giao du rộng bàn bè nhiều nên dù cả hai người gắng sức làm cũng chỉ đủ ăn. Nhưng ông bà lại rất hài lòng vì có nhiều bạn bè, các ông đều có chung một chí hướng cùng nhau trừng trị bọn địa chủ, ác bá, bênh vực người nghèo, nên được nhiều người yêu quý. Có những tay anh chị nổi tiếng một vùng cũng đều quy phục.

Hai vợ chồng ở với nhau đầy năm thì giặc Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai (1882), sau đó chúng hạ thành Hưng Yên lần thứ hai (1883). Hai ông bà và chiến hữu đều căm giận bọn giặc Pha lang cướp nước và vua quan nhà Nguyễn ươn hèn đầu hàng giặc, chỉ tiếc là hai ông bà không đủ sức chống lại chúng. Lúc đó quan Tuần huyện Đông Yên Đinh Gia Quế, vợ chồng Quyền Túc liền đem bốn mươi thủ hạ đến theo.


(1) Chúng tôi viết theo đơn vị xã mới.
(2) Làng An Vỹ có đền “Vua Rừng” thờ Triệu Việt Vương làm ngay trên nền doanh trại cũ, trong đình thôn Trung cũng thờ hai vị trên làm thành hoàng.
(3) Nay là thôn Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
(4) Cụ Nguyễn Văn Long 73 tuổi (năm 1999) là cháu nội của cụ Nguyễn Túc nói bà Quyền Túc tên là Nguyễn Thị Biên, là vợ bé cụ Quyền Túc. Nhưng ông Nguyễn Tiến Xã chắt đích tôn cụ Túc (ngành trưởng) lại nói bà cả là Nguyễn Thị Trà, bà Trà chính là bà Quyền Túc, bà lấy vợ bé cho chống là Bùi Thị Lệnh.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Năm, 2011, 08:55:55 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 05:20:43 PM »

Phạm Văn Ban làm lý trưởng xã Bằng Nha tổng Mễ Sở, nay Bằng Nha thuộc xã Bình Minh, huyện Khoái Châu đã cung cấp nhiều lương thực, tiền bạc cho nghĩa quân. Ông có 120 tuần đinh nhưng không làm việc cho Pháp mà ngày đêm bảo vệ các thủ lĩnh nghĩa quân hoạt động ở Bằng Nha và các xã lân cận. Sau này cụ Khóa Cát viết trong gia phả nói về cha mình nưh sau:

“… Ngoài thì lý trưởng, trong thời Cần Vương
Công danh trọn cả đôi đường”
(1)

Xã Yên Vinh nơi có đền Hóa Dạ Trạch thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung - Tây cung tiên nữ và Dạ Trạch vương Triệu Quang Phục. Đền cách ấp Thọ Bình, nơi có thành gạch khoảng 2 dặm. Đây là trung tâm của cuộc khởi nghĩa, đền cùng với thành Thọ Bình là nơi Đổng Quân vụ làm việc, họp bàn việc quân cơ với các tướng lĩnh. Tại đền Dạ Trạch, nơi Đổng Quế làm việc có bức trướng: “Dạ Trạch xướng nghĩa - Đổng suất quân vụ - Bình Tây phạt tôi”. Tư đền Dạ Trạch tới thành Thọ Bình khi bình yên thì đi trên mặt đất, khi có biến thì theo đường hầm.

Hầu hết dân Yên Vĩnh đều theo nghĩa quân Đổng Quế, trong đó có những người xuất sắc như Đốc Gừng, Đốc Lành, Chánh Sanh, Thọ Nghị, Cai Thêm, Quản Năm, Điển Hức(2). Ông Đội Bổng, người xã Ông Đình làm rể ở Yên Vĩnh cũng gia nhập nghĩa quân tại quê vợ cả và chỉ huy một đội quân. Xã Đức Nhuận nằm sát xã Yên Vĩnh cũng thuộc tổng Yên Vĩnh, nay đều thuộc xã Dạ Trạch, cả làng cũng đều tham gia nghĩa quân. Trong đó có ông Ngô Gia Long là bạn thân của Đổng Quế, Đội Phụng, Bếp Trung. Xã Hàm Tử có Chánh Văn, chỉ huy hơn 100 quân phòng thủ ở đê Sông Hồng sẵn sàng đánh quân Pháp từ tàu chến đổ bộ lên. Xã Xuân Đình có Bang Nho nổi tiếng vì cung cấp nhiều lương thực, thực phẩm nuôi quân. Ông chỉ huy trận đánh giết hai tên quan của triều đình làm tay say cho giặc là Bang Trực và Đề Lâu. Xã Thái Hòa có Nguyễn Văn Tề có chí khí hào hiệp, bán 3 mẫu ruộng lấy tiền nuôi quân. Xã Thuần Lễ có ông Sắc Chỉ có 20 quân thường mai phục chặn đánh bọn lính tuần tra và chăn các xe chở lương thực cho quân Pháp. Xã Vạn Phúc có Tổng Hội, Đốc Dụng, thương đem quân đi mật phục ngay sát đồn địch bắn tỉa bọn lính gác, bọn ra kéo cờ. Xã Tiểu Quan(3) có rất nhiều ngươi tham gia nghĩa quân, xuất hiện nhiều vị chỉ huy xuất sắc như lãnh binh Bùi Quang Cơ, lãnh binh Đỗ Đình Tạo, lãnh binh Bùi Quang Tích và các hiệp quản Bùi Quang Đẩu, Bùi Quang Hiển, Tạ Văn Bản. Các ông tú tài Lê Công Đôn, Lê Công Bẩm, ông tú tài họ Đỗ cũng bỏ bút nghiên cầm súng đánh giặc. Đông đảo hào lý cũng tham gia nghĩa quân như chánh tổng Vũ Văn Chính, thường xuyên thông báo tin tức của quân Pháp, tri phủ cho nghĩa quân, tiếp tế rất nhiều lương thực cho nghĩa quân. Người già, phụ nữ đã tự nguyện đào hào đắp lũy xay giã thóc gạo cứu chữa thương binh. Trong số phụ nữ thì bà Chiến là người xuất sắc nhất, đã từng làm bù nhìn để dụ địch đến đánh. Xã Kim Quan(4) có ông Lê Văn Thiều, xã Ngọc Nha thượng(5) có các ông Đinh Văn Thâm, Nguyễn Văn Ngân. Xã Ngọc Nha hạ(6) có các ông Trần Văn Đảng, Nguyễn Văn Kều đều tập hợp tráng đinh trong làng thành đội nghĩa binh bảo vệ làng. Các ông đánh thắng nhiều trận càn quét của giặc, có trận còn đuổi chúng đến tận Bô Thời. Thôn Đường, xã Tứ Dân(7) quê hương bà Hai Đạm, vợ lãnh binh Dương Văn Điền, có rất nhiều người tham gia nghĩa quân xuất hiện nhiều chỉ huy dũng cảm như Cai Gia, Cai Tư, Bếp Dật, Bếp Công, Bếp Nhuệ. Vườn chuối xã Tây Trù, tổng Ninh Tập có hầm chứa vũ khí của Lãnh Điển. Xã Kinh Kiều tổng Yên Cảnh, huyện Đông Yên có rất nhiều người theo Đổng Quế. Ông Phan Văn Cù thường đứng dưới gốc cây lộc vừng dịch loa chiêu mộ nghĩa quân cho Đổng Quế. Ông Đội Thường nhiều lần đem nghĩa quân đi đánh úp các vị trí đóng quân dã chiến của địch. Xã Đông Kết có Tổng Đông giỏi võ nghệ xây dựng đồn lũy ở làng, Quản Dây - người xã Lạc Thủy lo việc binh lương, Đội Chúc lo việc tác chiến. Bà Đỗ Thị Từ bán hàng xén ở chợ Bài Khê đảm nhiệm việc trinh sát nắm tin tức của quân Pháp báo cho nghĩa quân.


(1) Cụ Nguyễn Văn Kiều 80 thuổi, cụ Nguyễn Văn Sâm 75 tuổi la con cụ Khóa Cát ở thôn Bằng Nha nay thuộc xã Bình Minh, huyện Khoái Châu cung cấp theo gia phr cho tác giả tháng 5-1999.
(2) Tháng 12/1985, Triều định phục chứ Điển học ở các đạo Điển phụ trách việc họ ở cấp đạo (cũng như Đốc học phụ trách việc học ở cấp tỉnh).
(3) Nay là đơn vị thôn thuộc xã Phùng Hưng, huyện Khoái Châu.
(4), (5), (6) 3 xã này là đơn vị thôn đều thuộc xã Phùng Hưng, huyện Khoái Châu. Trên đây chỉ là danh sách nghĩa quân hy sinh được ghi trong Lịch sử Đảng bộ xã Phùng Hưng và do cụ Bùi Quang Hồ 83 tuổi, cháu gọi cụ Bùi Quang Cơ bằng ông nội cung cấp cho tác giả năm 1999.
(7) Nay thuộc xã Tân Dân huyện Khoái Châu.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 05:26:24 PM »


Cây Đề cổ thụ có tới trên 300 tuổi ở trước đình thôn Phù Sa thượng, xã Đại Tập, Khoái Châu là vọng gác tiền tiêu của Lãnh binh Dương Văn Điển, khi đó đóng quân ở làng Phù sa thượng giữa năm 1883 đến năm 1891.

Xã Ông Đình(1), tổng yên Cảnh có đốc binh Vũ Đức Thàng(2) là người giỏi võ nghệ, căm thù giặc Pháp xâm lược và bọn quan lại bán nước làm tay sai cho Pháp. Dưới quyền ông còn có các Đốc binh Vũ Đăng Vận, Đốc binh Thường, Đốc binh Nguyễn Văn Đá, Tổng Duyệt (Nguyễn Trọng Duyệt). Các ông tập hợp hầu hết trai tráng trong xã Ông Đình và các xã trong vùng vào nghĩa quân. Người già, phụ nữ thì rào làng, đắp lũy, xay giã gạo, nấu ăn tiếp thế cho nghĩa quân. Đốc Thàng là người hành động kiên quyết, ông cho quân phá kho thóc của nhà mẹ vợ rất giàu, nhưng không chịu ủng hộ nghĩa quân để làm quân lương và chia cho người nghèo. Xã Ninh Tập, tổng Ninh Tập(3) có Đội Xuân. Nhân dân hầu hết các thôn xã Đông Tào, đều theo nghĩa quân. Xã An Cảnh có các ông Giới, Sào, Cài chỉ huy nghĩa quân.

Tại huyện Kim Động, phong trào tham gia nghĩa quân Bãi Sậy rất lớn, đồng nhất, mạnh nhất là xã An Xá.

Xã An Xá, tổng An Xá, huyện Kim Động tiếp giáp với phía nam của phủ Khoái Châu. Xã An Xá(4) cách Thọ Bình khoảng 10 km về phía đông - nam. Xã có phó lý Vũ Văn Cợp(5) là con ông Cai Già (cai đắp đê), cùng em ruột là Hai Cống đứng lên chiêu mộ quân đánh Pháp. Gia đình ông là gia đình giàu có, quyền thế ở xã An Xá. Chủ ruột ông làm chánh tổng, một ông chú làm bá hộ. Ông thi đỗ đệ nhất trường, đệ nhị trường vào đến tam trườn thị bị trượt. Chán con đường khoa cử, ông chạy chân phó lý. Vào thời đó xã An Xá có 647 mẫu công điền và tư điền thì chú cháu, anh em ông Cợp chiếm 415 mẫu, riêng Ông Cợp có 74 mẫu. Khi thành Hưng Yên mất, ông khoảng 30, 31 tuổi. Vốn căm thù giặc Pháp, ông làm phó lý nhà giàu nhưng không keo kiệt, thường giúp đỡ người nghèo. Ông là người có võ nghệ, nên khi ông hô hào khởi nghĩa đánh Pháp là đông đảo người trong xã, trong tổng tham gia. Quân số tới trên 200 người, được trang bị nhiều súng bắn nhanh, súng kíp. Dòng họ ông không những có nhiều người gia nhập nghĩa quân, mà còn cung cấp nhiều thóc gạo, trâu bò, tiền bạc để nuôi quân và vận động những người hàng xã, hàng tổng tham gia. Quân Pháp sợ ông như sợ cọp, nên gọi ông là Đốc Cọp.

Đề Tập tên thật là Võ Văn Tập, quê ở xã Yên Lã, chỉ huy một đội quân trên 200 người hoạt động ở Kim Động, Khoái Châu, Tiên Lữ. Ông đánh nhiều trận lớn trên đường 39, đường đê Sông Hồng gây kinh hoàng cho quân Pháp.

Tắc Nho quê ở Bãi Giữa, tổng Đức Triêm, lấy vợ ở xã Mễ Sở. Ông có vài chục nghĩa quân, hoạt động chủ yếu trên dòng Sông Hồng. Từ tổng Đức Triêm (Kim Động) đến tổng Mễ Sở. Tắc Nho là người hào hiệp, sống chan hòa với mọi ngươi ở cá thôn Mễ Sợ, Phú Thị, Đa Hòa, nhưng ông rất căm ghét bọn quan lại và cường hào, ác bá. Dân tổng Mễ Sở nhiệt tình giúp đỡ ông như cụ Buồm giữ kho vũ khí, ông Phích quê ở thôn Phú Thị làm trương tuần nhưng lại báo trước các cuộc càn quét của địch cho ông biết, canh gác bảo vệ Tắc Nho.

Tại huyện Ân Thi, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy trở thanh phong trào. Tại xã Mễ Xá, tổng Nhân Vũ(6) có ông Nguyễn Hữu Đức, đỗ cử nhân, nhưng ông không ra làm quan cho triều đình, mà ở nhà dạy học. Ông vẫn liên lạc với thông gia của mình là Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật mới được điều động từ Hưng Hóa về làm Tổng đốc Hải Yên để bàn kế hoạch cứu nước.

Khi Đinh Gia Quế phát cao cờ “Nam Đạo Cần Vương - Bình Tây phạt tội”, ông hưởng ứng ngay. Ông thường cùng Đinh Gai Quế bàn việc quân cơ.

Con trai ông là Nguyễn Hữu Hạnh cũng tham gia cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy và trở thanh người liên lạc tin cẩn giữa Đổng quân vụ Đinh Gia Quế với Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật(7).


(1) Nay là xã Ông Đình, huyện Khoái Châu.
(2) Tài liệu của Pháp viết là Vũ Đức Thăng.
(3) Nay là thôn Ninh Tập, xã Đại Tập, huyện Khoái Châu.
(4) Nay An Xá thuộc xã Toàn Thắng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
(5) Theo gia phả họ Vũ ở An Xá, cụ Vũ Văn Cay 83 tuổi (năm 1998) là cháu ba đời Đốc Cợp. Đốc Cợp tên thật là Vũ Văn Cợp, nhân dân gọi trệch là Vũ Văn Cấp. Khi chiến đấu, ông dũng mãnh, quân Pháp và quân Hoàng Cao Khải sợ ông như sợ cọp, nên chúng gọi ông là Đốc Cọp. Vợ ông là Đỗ Thị Thành, sinh ba gái và một trai nhưng chết từ năm 5-6 tuổi.
(6) Mễ Xá nay thuộc xã Nguyễn Trại, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
(7) Theo gia phỏ họ Nguyễn Đức ở Mễ Xá thì bà Đức tên là Nguyễn Thị Âu, người thôn Xuân Đào, xã Xuân Dục, tổng Bạch Sam, huyện Mỹ Hào. Ông bà Cử Đức sinh một trai là Nguyễn Hữu Hạnh. Hạnh lấy con gái ông Tán Thuật là Nguyễn Thị Trúc.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 05:32:45 PM »

Xã Mễ Xá còn có ông Cù Văn Hiên là Đốc vận quân lương, Quản Lâu, Quản Nhân (Trần Văn Nhân), Trần Vă Vừng. Toàn dân Mễ Xá theo Cử Đức chống quân Pháp. Mễ Xá cùng các xã Nhân Lý, Nhân Vũ, ấp Nhân Lý, Mão Xuyên(1) giữ được 4 năm (1884-1887) quân Pháp không tới được, không thành lập được chính quyền, không thu được thuế, không bắt được lính, được phu(2).

Tại xã Nhân Vũ, tổng Nhân Vũ(3) có nhiều người tham gia khởi nghĩa Bãi Sậy do Đinh Gia Quế lãnh đạo như Phạm Duy, Phạm Đích, Phạm Hải, Phạm Tích, Nguyễn Long, Nguyễn Xuân, Nguyễn Thố, Nguyễn San, Đỗ Cao, Cù Duệ… Xã Nhân Lý(4), tổng Nhân Nhân Vũ có hai chị em ruột là Bùi Thị Huân và Bùi Thị Hòe cùng tham gia nghĩa quân. Bùi Thị Huân làm nhiệm vụ tiếp nhận và điều phối quân lương, được Đổng Quế phong là “Đốc vận quân lương”(5). Ấp Nhân Lý có ông Nguyễn Văn Chát tham gia nghĩa quân. Xã Mão Xuyên có ông Lê Văn Đoàn chiến đấu dũng cảm, được phong là Đốc binh, Phạm Văn Do giữ chức Quản quân. Lê Văn Tài, chiến đấu xuất sắc được phong là Lãnh binh, sau hy sinh trong trận Hương Quan. Họ Lê còn có nhiều người tham gia như Lê Văn Hội, Lê Văn Hào, Lê Văn Giáo, Lê Văn Lại, Lê Văn Thiện.

Xã Mão Cầu(6), tổng Yên Cảnh có Nguyễn Đình Tiêm tính tình khẳng khái, ham luyện tập võ nghệ, làm mục tuần rồi làm chánh tổng. Khi Đổng quế khởi binh, Nguyễn Đình Tiêm cùng Lê Văn Trứ ở xã Gạo Bắc(7) khởi binh mộ được 1000 quân, gia nhập cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, rồi đem quân đóng ở Chợ Thi, Cống Tráng.

Đổng Quế phong cho Nguyễn Đình Tiêm làm Hành tá tướng quân, gọi là Lãnh binh. Lê Công Trứ được phong là phó Lãnh binh, đương thời gọi là Lãnh Trứ.

Trong hàng ngũ nghĩa quân có nhiều người xuất sắc được Lãnh Tiêm giao cho chỉ huy một cánh quân hoặc chỉ huy một đồn, một trận tập kích, phục kích như Tư Bập, Phó Ruộm, Phạm Văn Cửa, Nguyễn Quang Bùng, Phạm Văn Trực, Nhữ Nguyên, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Thi là người thôn Mão Cầu. Lê Công Trứ phụ trách hậu cần, ông được mẹ mua cho 50 cái chum to muối cá và nhiều ngày xúc gạo ra nấu hàng trăm nắm cơm, chở theo đường sông Đào Ân Thi tiếp tế cho nghĩa quân(8).

Với lòng yêu nước sâu sắc, căm thù bọn cướp nước và bán nước, Phạm Văn Ban, phó lý xã Bối Khê đã bàn bạc với ông tú tài Thương Bằng là người bạn thân với quan Tổng đốc Nguyễn Thiện Thuật với ông xã Thấu ở Bối Khê, người trợ thủ đắc lực của ông, trực tiếp chỉ huy đội đánh cướp. Hai con trai ông Ban là Quản Cầu, Phó Cận đã trở thành trợ thủ đắc lực của ông trong việc phát triển lực lượng. Ông được biết cờ của nghĩa quân Đổng Quế và của nghĩa quân Nguyễn Thiện Thuật ở Hải Dương đều có màu đỏ nên đã dựng một lá cờ đại màu đỏ ở đình Bối Khê để tuyển mộ quân. Đây là sự thách thức lớn đối với thực dân Pháp, chính quyền Nam triều và dân công giáo tay sai thân Pháp.


Đường Tế cờ khởi nghĩa của Đề đốc Phạm Văn Ban
ở Bối Khê Chu Xá (Ân Thi)


(1) Nay các xã trên là đơn vị thôn thuộc xã Nguyễn Trãi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
(2) Cụ Nguyễn Văn Đệ, cán bộ tiền khởi nghĩa người thôn Mễ Xá cung cấp cho tác giả tại thôn Mễ Xá tháng 6/1999.
(3), (4), (5) Nay là đơn vị thôn thuộc xã Nguyễn Trãi huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
(6), (7) Mão Cầu, Gạo Bắc nay thuộc xã Hồ Tùng Mậu, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
(8) Cụ Lê Công Trung, cháu tứ đại cụ Lê Công Trứ quê ở Gạo Bắc và một số cụ ở thôn Mão Cầu kể cho tac giả nghe tháng 6/1999.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 05:39:35 PM »

Ba tổng Huệ Lai, Đỗ Xá, Phù Vệ ở Bắc Ân Thi[color=g  reen](1)[/color] gia nhập đội quân thường trực và chiến đấu tại thôn xã giống như lực lượng Dân binh do Điện tiền Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão xây dựng thời Trần chống quân Nguyên - Mông.

Trong số chỉ huy nghĩa quân ở ba tổng trên có nhiều người xuất sắc trở thành chỉ huy một cánh quân, một đội, một toán, một xã xuất sắc như ở làng Huệ Lai có ông Thương Bằng(2) và ba con trai là cả San, Quản Vân, Quản Vát. Ở La Mát có Nguyễn Đình Tuyển sau trở thành Chánh đề đốc đứng sau Đề Ban, Nguyễn Văn Thiệp (sau được phong là Đề đốc), Đố Quanh, Đốc Sàng, Quản Khán, Quản Pháp, Cai Mai, ông Điếu (ông Điếu là là người dũng cảm, mưu lược, bị quân Pháp bắt hai lần đều giết lính áp giải trốn thoát. Lần thứ ba chúng bắt được ông liền giết ngay). Ở Sa Lung có Phạm Văn Tư sau được phong là Đốc binh. Ở Kim Lũ có Lê Huy Triệu, Phù Ủng là xã có vị trí thuận lợi cho nghĩa quân xuất kích đi đánh Sặt, Bình Giang, Mỹ Hào, Thanh Miện, Cẩm Giàng, Lang Tài, Gia Bình. Đề Ban đóng đại bản doanh ở đình (đền) Phủ Ủng thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão. Ở Phần Hà(3) có Quản Hạnh; ở Chú Xá(4) có Lãnh Thu, Lãnh Thu, Đốc Thúc, Đỗ Văn Chàng, Thư Hồ. Ở Linh Đạo(5) có Đốc Kiều, quản Năng; ở Cao Trai(6) có Quản Kiểm, Hình, Đích (sau ba ông Quản Kiểm, Hình, Đích được cử sang Trung Quốc đi giữa đường bị Pháp bắn chết). Ở An Xá có Tổng Hậu, cai bạ Trần Đình Nô, cai bạ Nguyễn Văn Hộ, Lý đội Trần Văn Cách. Ở Ngọc Nhuế, có Độ Cận, Quản Cừ, Quản Biểu, Quản Huống, Quản Trí. Ở Đào Xá có Lãnh Tảo, Đốc Nhỡ. Ở Đỗ Mỹ (Duy Mỹ) có Lý Chi (sau bị Pháp giết ở Yên Lạc). Xã Tiên Kiều(7) có Tả quân Trần Triệu Quát, Hữu quân Chánh Đề đốc Trần Thiện Tuyển (Lãnh Ba), ông Đốc Khuy, con gái là Đốc Huệ, cùng con rể. Ở An Khải có ông Mãnh.

Ở An Đạm có Phí Văn Thoá, Phí Văn Thoả. Ở Cựu Thuỵ(8) có Đốc Thanh; ở Đặng Xá(9) có Cai Con. Ông Tên thật là Đặng Phúc Hoa, sở dĩ gọi là Cai Con do cha ông là Đặng Phúc Huy cũng là cai(10). Để phân biệt, dân làng gọi cụ Cai Huy là Cai Già hay Cai Cựu, còn Đặng Phúc Hoa là Cai Con. Cả hai cha con cùng tham gia nghĩa quân và ủng hộ nhiều lương thực, thực phẩm và tiền bạc.

Vấn đề cấp thiết đặt ra cho nghĩa quân Ân Thi là lương thực, vũ khí. Trong nghĩa quân có nhiều người chuyên lo công việc lương thực như bà Vũ Thị Hội ở xã Phù Ủng, được phong là Đốc vận quân lương.


Gò Đống Tanh (Lý Thường Kiệt, Yên Mỹ)
đồn tiền tiêu của Lãnh Chú, Lãnh Điếc

Vấn đề vũ khí được Đề Ban hết sức quan tâm, ngoài vũ khí tự tạo như dao, kiếm, đoản đao, súng kíp, Phạm Văn Ban còn tổ chức nhiều trận đánh táo bạo vào đồn địch lấy súng đạn của giặc. Ông còn tập trung tất cả thợ rèn giỏi nghiên cứu chế tạo súng theo mẫu súng 1874, súng remington, súng lục của quân Pháp; “ví như lò rèn của nghĩa quân Đề Ban ở làng Nhân Đồng (tổng Huệ Lai, Ân Thi). Đề Ban lại có một nghĩa quân rất giỏi nghề đẽo báng súng bằng gỗ quê ở làng Bối Khê (tổng Huệ Lai)(11) chuyên việc chữa các báng súng trường. Ông này được mệnh danh là “Cai binh”(12).


(1) Tổng Huệ Lai có 10 xã là Huệ Lai, La Mát, Sa Lung, Phù Ủng, Chu Xá, Kim Lũ, Bối Khê, Chu Lai, Đào Xá, Nhân Đồng, tổng Đỗ Xá có 7 xã là An Đạm, Thúc Tá, Thi Tân, An Đỗ, Đỗ Xá, Đỗ Thượng, Đỗ Xuyên; tổng Phúc Vệ có 10 xã là: An Khải, Cao Trai, Đỗ Mỹ, Linh Đạo, Ngọc Nhuế, Phần Dương, Phần Hà, Phần Lâm, Vệ Dương, Nhuế Giang.
(2) Mộ ông Thương Bằng ở làng Đào Quạt, nay vẫn còn.
(3) Phần Hà nay thuộc xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi.
(4) Chu Xá nay thuộc xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi.
(5) Linh Đạo nay thuộc xã Bắc Sơn, huyện Ân Thi.
(6) Cao Trai nay thuộc xã Chiến Thắng, huyện Ân Thi.
(7) Du Mỹ, Đặng Xá, Lênh Bối, Trâm Nhị nay thuộc xã Tân Trào. Các xã Đào Xá, Bối Khê, Nhân Đồng, Tiên Kiều phía đông có sông Kẻ Sặt chảy từ đầu đến cuối xã; phía bắc giáp Phù Ủng, La Mát; phía tây giáp An Đỗ (Bắc Sơn); phía nam giáp xã Ngọc Nhuế, Linh Đạo, Vệ Dương là đường 38.
(8) Cựu Thuỵ nay thuộc xã Phạm Hồng Thái, huyện Ân Thi.
(9) Đặng Xá nay thuộc xã Vân Du, huyện Ân Thi.
(10) Cai xã sau đổi là trương tuần.
(11) Nhan Đồng nay thuộc xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi, Hưng Yên.
(12) Minh Thành: “Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy”, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Viện Sử học, số 122, 123 tháng 5, 6/1969.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 09:02:14 PM »

Xã Trúc Thuỷ(1) xưa gồm có ba thôn là Trúc Đình, Trúc Nội, Trúc Lẻ - có Nguyễn Chủ, Nguyễn Điếc là hai anh em ruột và Cai hàn là con trai Nguyễn Điếc cùng chiêu mộ quân, lập căn cứ tại ba làng Trúc. Hai ông chiến đấu dũng cảm, đánh thắng nhiều trận, đều được Đổng Quế phong là Lãnh binh.

Lãnh Điếc nhận nhiệm vụ giết tên Trực ở Bình Hồ thuộc tổng Lưu Xá, huyện Ân thi nay thuộc xã Quảng Lăng, huyện Ân Thi. Lãnh Điếc rất gan dạ, có lần đuổi theo quân Pháp đến tận Quán Cào, xã Thổ Hoàng (nay là khu vực nhà bưu điện, thị trấn Ân Thi). Gia nhập lực lượng khởi nghĩa do Lãnh Chủ, Lãnh Điếc chỉ huy còn có thủ lĩnh ở nhiều làng xã thộc vùng giưa huyện Ân Thi. Mỗi người có từ 100 đến 200 quân, có người đem quân gia nhập độ quân cơ động ở căn cứ có người thì đào hào, đắp lũy, biến làng mình thành làng chiến đấu. Đến nay qua nhiều đợt chúng tôi đi khảo sát, chúng tôi biết ở xã Xuân Nguyên(2) có Cai Tiêm, ở xã Cù Tu(3) có Tổng Khang; ở xã Trà Khương(4) có Đội Bản, Đội Khao, Quản Báu, Quản Vòi; xã Đan Tràng(5) có Quản Giáp Dương Văn Vũ. Xã Ninh Thôn(6) có Quản Huân, Dương Văn Chiêu, Bát Nghiễm, Trần Văn Địch. Xã Bích Tràng(7), tổng Văn Nhuệ có Vũ Văn Tuy, Nguyễn Văn Dung. Xã Tồng Củ(8) có Đốc Gạch. Khi khởi nghĩa Bãi Sậy thất bại, Đốc Gạch lên Yên Thế gia nhập cuộc khởi nghĩa do Đề Thám lãnh đạo.

Huyện Yên Mỹ có đề đốc Nguyễn Văn Sung cùng em trai là lãnh binh Nguyễn Văn Trạch quê ở làng Dịch Trì, tổng Liêu Xá gia nhập nghĩa quân Tuần Vân ở Xuân Quan từ đầu. Làng Liêu Trung, tổng Liêu Xá có lãnh binh Lưu Ngọc Thấu(9). Các ông rào làng chiến đấu, đánh thắng quân Pháp nhiều trận lớn. Xã Cảnh Lãm(10) tiếp giáp với căn cứ Thuỷ Trúc của Lãnh Chủ, Lãnh Điếc có Đốc Đoán ở làng Cảnh Lâm, Lãnh Mậu ở làng Nguyên Xá, Đốc binh Vũ Văn Đồng ở làng Tam Trạch(11). Đây là vị trí quan trong nằm ở ranh giới ba huyện Yên Mỹ - Mỹ Hào - Ân Thi, nên quân Pháp tấn công nhiều lần song chúng đều bị thất bại. Xã Phạm Xá(12) có Phạm Văn Thiệp vận động nhân dân rào làng chiến đấu, uy hiếp bốt Thuỵ Lân trên bờ sông Thiết Trụ, chỉ cách làng chưa đầy 2 km.

Huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tiếp giáp với huyện Đông Yên. Phong trào gia nhập nghĩa quân rào làng chiến đấu chống Pháp cũng rộng khắp, quyết liệt. Văn Giang giữ vị trí chiến lược quan trong, phía Nam là huyện Đông yên, lại tiếp giáp với Dạ Trạch - Ông Đình - Thọ Bình là căn cứ chính của nghĩa quân; phía bắc là huyện Gia Lâm, phía Đông Nam là huyện Mỹ Hào, quê hương của Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật đã từ chức Tổng đốc Hải Yên về Chí Linh - Đông Triều mộ quân đánh Pháp; phía Tây qua Sông Hồng là huyện Thanh Trì và huyện Thường Tín của tỉnh Hà Đông.

Văn Giang là vung căn cứ của các cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm từ năm 39-40. Hai Bà Trưng phát động nhân dân chống Thái thú Tô Định. Khi Lý Nam Đế chống Tiêu Tư thứ sử nhà Lương (545-547) tiếp đó là Triệu Quang Phục chống Trần Bá Tiên - Dương Sàn (547-550) cũng lấy Văn Giang và Đông Yên làm căn cứ. Trong 3 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông (1258,1285, 1288), Văn Giang đã cùng với Đông Yên, Kim Động của phủ Khoái Châu đều là căn cứ của triều đình. Vì vậy khi quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai (1882), Văn Giang có nhiều người nổi dậy chống Pháp. Tiêu biểu là Tuần Vân còn gọi là Tuần Văn. Ông là người họ Đàm, sinh năm Tân Sửu. Thiệu Trị năm thứ nhất (1841), tính tình khí khái không chịu luồn cúi cường quyền, bị quan lại nhà Nguyễn bắt giam ở nhà tù trong thành Bắc Ninh. Khi quân Pháp đánh thành Hà Nội, quan quân hốt hoảng, lơi lỏng việc canh gác, ông phá ngục cùng với một số người bỏ trốn. Ông về Cổ Bi (Gia Lâm) tập hợp những người cùng chí hướng đánh Pháp từ tháng 5/1883. Hàng trăm người nghèo khổ, cả tầng lớp nho sĩ theo ông, có những người xuất sắc như Nguyễn Văn Sung quê ở làng Dịch Trí, tổng Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ở làng xã Xuân Quan còn có các ông Chánh Bẩy, Đồ Hỗ, Lãnh Sinh, em họ Tuần Văn là những tướng lĩnh xuất sắc. Xã Công Luận (Văn Giang) có Lãnh Dâu ở thôn Nhạc Lộc; xã Như Phượng có cai tổng Tín chiêu mộ quân theo Đổng Quế(13).


(1), (2), (3) Trúc Thuỷ, Xuân Nguyễn, Cù Tu trước đây thuộc tổng Hạ Cổ, huyện Ân Thi, sau thuộc xã Quang Trung, nay đổi là xã Xuân Trúc.
(4) Theo “Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy” của Minh Thành. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 122, 123 tháng 5, 6/1964.
(5) Đan Tràng nay thuộc xã Cẩm Vũ, huyện Ân Thi.
(6) Ninh Thôn nay thuộc xã Cẩm Vũ, huyện Ân Thi.
(7) Bách Tràng nay thuộc xã Tiền Phong, huyện Ân Thi.
(8) Tòng Củ nay thuộc xã Vân Du, huyện Ân Thi.
(9) Liêu Trung nay thuộc xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ.
(10) Cảnh Lãm nay thuộc xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ.
(11) Nguyễn Xá, Tam Trạch nay thuộc xã Trung Hòa, huyện Yên Mỹ.
(12) Phạm Xá nay thuộc xã Đồng Than, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
(13) Ông Nguyễn Đức Hào, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng xã Xuân Quan cung cấp cho tác giả tháng 11/1998.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 09:07:12 PM »

Về quê hương của Tuần Vân (Tuần Văn) và Đội Văn (Vương Văn Vang, Đề Vang) nhiều tài liệu viết khác nhau. Về Tuần Vân, sách La Pravince viết quê ông ở Như Quỳnh, thực ra ông quê ở Xuân Quan, lấy vợ ở Như Quỳnh. Sách “Khởi nghĩa Yên Thế”(1) viết quê Tuần Văn ở tổng Thái Lạc cùng quê với Ngô Quang Huy; còn Đề Vang quê ở xã An Bình, tổng Bình Ngô, huyện Thuận Thành. Thực ra Tuần Vân (hoặc Tuần Văn) quê ở Xuân Quan, huyện Văn Giang; còn Đội Văn, tức Vương Văn Vang, tức Đề Vang, tức Đề đốc họ Vương chỉ là một người, quê ở xã Chạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Tham gia nghĩa quân Bãi Sậy còn có các ông Đề Dần(2), Đốc Chính(3) quê ở Hương Thôn, Khánh Mỹ, huyện Thần Khê(4).

Ngày mồng 6 tháng 3 năm Quý Mùi (khoảng 4, 5 tháng 4 năm 1883), Đổng Quế tổ chức Tế cờ ở Văn chỉ Bình Dân, tổng Bình Dân. Văn chí Bình Dân và trên các ngả đường vào Văn Chỉ trang hoàng cờ xí lộng lẫy. Lá cờ màu đỏ, hình vuông có tám chứ “NAM ĐẠO CẦN VƯƠNG 0 BÌNH TÂY PHẠT TỘI”.

Tới dự lễ Tế cờ có đông đủ tướng lĩnh ở các phủ huyện trong tỉnh Hưng Yên, huyện Văn Giang (Bắc Ninh), huyện Mỹ Hào (Hải Dương) và một đội quân danh dự trên 500 người. Tất cả đều mặc quần áo màu mới, đầu quấn khăn xanh, chân quấn xà cạp. Các ông đội, cai thì chít khăn đỏ, thắt lưng đỏ.

Trên lễ đài có Tổng đốc Hải Yên(5) Nguyễn Thiện Thuật, Đề đốc 5Định An(6) Tạ Hiện(7).

Trong không khí trang nghiêm, Đổng quân vụ Đinh Gia Quế kịch liệt lên án giặc Pháp xâm lược, gieo đau thương tang tóc cho dân tộc Việt Nam. Chúng đã chiếm lục tỉnh Nam Kỳ làm thuộc địa. Ông cũng tố cáo triều đình Tự Đức ươn hèn, ký nhiều hiệp định nhượng bộ Pháp đất đai, triều đình Huế hoàn toàn lệ thuộc vào Pháp, không tổ chức kháng chiến, ngăn cấm nhân dân kháng chiến, trái với truyền thống dân tộc ta là “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Ông kêu gọi mọi người không kể trai, gái, già trẻ, giàu nghèo, hãy cầm lấy vũ khí đánh giặc giữ làng, giữ nước, đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi bờ cõi, khôi phục giang sơn do tổ tiên phải đổ xương máu mới tồn tại đến ngày nay.

Dứt lời, ông giơ cao thanh gươm hô to: “Quyết đánh giặc Pháp xâm lược!” ba lần. Toàn thể tướng lĩnh, nghĩa binh và nhân dân đồng thanh đáp lại: “Quyết đánh, quyết đánh, quyết đánh”.

Ngay sau Lễ Tế cờ, Đổng quân vụ Đinh Gia Quế đã giao cho các tướng lĩnh vượt Sông Hồng đánh quân Pháp ở các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên. Ông cũng sia Lãnh Điển đi dẹp dân Thiên chúa giáo quá khích ở thôn Sài Quất, tổng Đại Quan thường đi do thám các hoạt động của nghĩa quân cho Pháp.

Piglowski Historie de la Garde Indigène du Tonkin viết về trận đánh ở Đức Nhuận do Lãnh Sậy chỉ huy như sau: “Trong một trận đánh ở làng Đức Nhuận, cạnh xã Yên Vịnh gần đền Hoá Dạ Trạch, nghĩa quân mặc quần áo như nông dân, bọn Pháp chỉ nhận ra người chỉ huy là Lãnh Sậy, vì ông chít khăn xanh và thắt lưng đỏ”.


(1) Khổng Đức Thiêm, Nguyễn Xuân Cần - Sở Văn hóa thông tin - Hội Khoa học Lịch sử xuất bản.
(2) Đề Dần tên là Phạm Hữu Dần, đỗ tú tài, giỏi võ nghệ, quê ở thôn Tè tức là Hương Thôn, nay thuộc xã Khánh Mỹ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông được triều đình phong là Tây đạo đô đốc, tham gia khởi nghĩa Bãi Sậy. Ông bị giặc Pháp bắt được ở Bãi Sậy, đem về làng Nội Quả (Hưng Yên) chém.
(3) Đốc Chính tên thập là Phạm Công Chính. Ông tham gia khởi nghĩa ở Thái Bình, bị quân Pháp truy kích, ông vượt Sông Luộc sang Hưng Yên tham gia khởi nghĩa Bãi Sậy. Khởi nghĩa Bãi Sậy thất bại, ông chạy về Thái Bình, bị quân Pháp bắt được ở cửa Sông Luộc, chúng đưa ông về chém ở gần thị xã Hưng Yên.
(4) Nay thuộc xã Phúc Khánh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
(5) Hải Dương và Quảng Yên.
(6) Nam Định và Hưng Yên.
(7) Tạ Hiện còn có tên là Tạ Quang Hiện, sinh năm Tân Sửu (1841), quê ở xã Quang Trung, Thuỵ Anh, Thái Bình, đậu tú tài. Ông giữ cức Đốc binh Quân vụ tỉnh Tuyên Quang, đã cùng với Lưu Vĩnh Phúc đánh giực Cờ Vàng. Tháng 9/1882, ông đánh hải tặc Trung Quốc ở Quảng Yên. Sau đó, ông làm Lãnh binh Hải Dương. Đề đốc Bắc Ninh. Triều đình ký hòa ước với Pháp, ông trả ấn tín lui về phủ Kiến Xương, Thái Bình đánh Pháp. Công sứ Pháp ở Nam Định đem quân đánh ông, bị ông đánh cho đại bại. Ông phối hợp với Đổng Quế, Tán Thuật đánh nhiều trận lớn. Tháng 2/1887, ông bị thực dân Pháp bắt nhưng trốn thoát, sau ông bị bắt lại và xử tử.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 09:10:44 PM »

Sau Lễ Tế cờ, Tạ Hiện với tư cách là Đề đốc Định - An đã cử Nguyễn Thành Thà từng giữ chức Chánh quản ở Hưng Yên, chuyên lo xây dựng lực lượng quân sư về căn cứ Bãi Sậy giúp Đổng quân vụ Đinh Gia Quế xây dựng, huấn luyện lực lượng nghĩa quân. Nguyễn Thành Thà đã có hai con là Nguyễn Khả Lương, Nguyễn Sung cùng các ông Đề Dần, Đốc Chính sang chiến đấu ở căn cứ Bãi Sậy.

Nguyễn Đình Mai là người thiết kế, chỉ đạo xây dựng một tòa thành ở ấp Thọ Bình. Thành này chỉ các đền Hoá Dạ Trạch ở thôn Yên Vĩnh khoảng 2 dặm.


Cầu Tiểu Quan nay thuộc xã Phung Hưng, Khoái Châu

Thành được xây bằng gạch, rộng 5 mẫu Bắc Bộ. Trong thành có nơi làm việc của bộ Tham mưu, có nhà kho, trường tập bắn, bãi luyện võ nghệ, bãi tập bắn súng bắn nhanh. Thành xây không kiên cố lằm và thực sự nó chỉ là nơi làm việc của Đổng Quế - nơi hội họp của các tướng lĩnh và nơi đóng quân của đội quân thường trực. Các công tình trên mặt đất thì sơ sài, nhưng trong lòng đất có nhiều địa đạo, nhiều đoạn được xây bằng gạch thông từ trong thành đến đền Hoá Dạ Trạch trụ sở công khai của Đổng Quế, lại có đường từ trong thành ra đê Sông Hồng và tỏa ra bãi sậy rậm rạp xung quanh. Đường hầm rộng, có các ngã ba, ngã tư, hai người tránh nhau một cách dễ dàng. Trong địa đạo có kho lương, kho vũ khí, nơi làm việc của Ban chỉ huy, nơi ăn ngủ của chiến sĩ. Cửa hầm và lỗ thông hơi rất bí mật, có dấu hiệu riêng và chỉ những người chỉ huy và các đội viên bảo vệ trong thành biết. Muốn vào được trong thành gặp rất nhiều khó khăn vì sậy mọc cao tới 3-4 mét, lớp nọ đè lên lớp kia. Nghĩa quân đã khéo léo tạo thành những con đường bí mật ở dưới. Xung quanh thành lại có nhiều vọng gác, ổ mai phục, người lạ không thể vào được.

Đặc điểm của nghĩa quân Bãi Sậy trừ mấy đội quân cơ động là ở tập trung, còn đại bộ phận không đóng trong thành lũy như những cuộc khởi nghĩa đương thời khác. Quân ở trong làng xã nào biên chế cơ đội theo từng xóm, làng, xã, chỉ huy cũng là người ở địa phương đó. Thông thường, mỗi thủ lĩnh nghĩa quân có một đội quân cơ động từ 100 đến 200 quân. Số còn lại được gọi là Hương binh hay Dân binh. Khi có trận đánh lớn, các thủ lĩnh mới hợp đồng tác chiến, huy động Hương binh đi chiến đấu. Kết thúc chiến dịch, nghĩa binh ở làng xã nào lại về làng xã đó.

Tại Hưng Yên(1) số người tham gia nghĩa quân rất đông, đúng như lời thú nhận của A de Miribel, công sứ Hưng yên: “Tất cả những nông dân vùng Bãy Sậy đều đi theo Đinh Gia Quế chống lại quân Pháp”(2). Ở huyện Ân Thi, các trung tâm Mễ Xá, Thuý Trúc, Mão Cầu ở phía nam và phía giữa huyện, còn ở phía bắc thì ba tổng Phù Vệ, Đỗ Xá, Huệ Lai đuề là căn cứ mà trung tâm là Bối Khê  do Đề đốc Phạm Văn Ban chỉ huy. Vì thế thực dân Pháp gọi là “Tam tổng chi nhân dô thị tặc!” nghĩa là dân của ba tổng đều làm giặc.


Nghĩa trang liệt sĩ huyện Khoái Châu lấy hình tượng
bó sậy làm biểu tượng


(1) Chúng tôi chỉ trích các huyện Đông Yên, Ân Thi, Tiên Lữ, Kim Động, còn Văn Giang khi đó thuộc Bắc Ninh, Mỹ Hào thuộc Hải Dương, Yên Mỹ, Văn Lâm chưa thành lập.
(2) Trịnh Văn Tấu trong Hưng Yên địa chí, xuất bản năm 1934.
(3) Nay Bối Khê là đơn vị thôn thuộc xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 08:12:30 AM »

CHƯƠNG II

NGHĨA QUÂN BÃI SẬY ĐẨY LUI CÁC ĐỢT
TẤN CÔNG CỦA QUÂN PHÁP VÀ QUÂN
NAM TRIỀU BẢO VỆ VỮNG CHẮC CĂN CỨ

Ngay sau Lễ Tế cờ, nghĩa quân Bãi Sậy do Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế chỉ huy đã tiến đánh quân Pháp ở nhiều nơi, nay ta còn biết được một số trận như sau:

- Dân theo đạo Thiên chúa thôn Sài Quất, tổng Đại Quan thường đi do thám các hoạt động của nghĩa quân báo cho quân Pháp. Đổng Quế cho đội tuyên truyền đến giải thích thì chúng đánh giết nghĩa quân. Đổng Quế giao cho Lãnh Điển tấn công đám dân Công giáo phản động ở làng này.

- Trong trận đánh lớn ở làng Đức Nhuận, cạnh xã Yên Vĩnh, gần đền Hoá Dạ Trạch, nghĩa quân mặc quần áo như nông dân, bọn Pháp chỉ nhận ra người chỉ huy là Lãnh Sậy (Nguyễn Đình Mai) vì ông chít khăn xanh và thắt lưng đỏ(1).

Trước sự phát triển của nghĩa quân Bãi Sậy, những người chỉ huy quân sự Pháp ở Trung - Bắc Kỳ quyết định thành lập một binh đoàn mạnh tiến từ Hải Phong lên đánh bật toán quân của Đổng Quế ra Sông Hồng để tiêu diệt. Đại tá Donnier thuộc Lữ đoàn Négrier chỉ huy binh đoàn này. Đại tá Donnier với đội quân hùng hậu, trang bị hiện đại nhưng tấn công vào Bãi Sậy đã bị thiệt hại nặng nề, phải rút quân và cay đắng thú nhận: “Vì những lý do tôi nói ở trên, cuộc hành quân này không đạt được kết quả mà chỉ làm cho dân chúng nghèo đói thêm”(2).

Trước thất bại đó của quân Pháp, Bộ Tư lệnh quân đội Pháp ở Trung - Bắc Kỳ liền giao cho Hoàng Cao Khải khi đó, đang làm án sát Hưng Yên, phối hợp với quân Pháp đánh Đổng Quế. Hoàng Cao Khải được quân Pháp hỗ trợ bằng công binh, pháo binh, tàu chiến trang bị đại bác diễu võ giương oai dưới Sông Hồng hỗ trợ. Hoàng Cao Khải hung hăng ra trận với mưu đồ chỉ trong một trận dồn nghĩa quân vào chỗ chết. Khải ra lệnh cho quân lính phải vượt bãi sậy mà tiến vào. Điều làm chúng hoảng sợ là rất nhiều hầm hào luồn dưới những thân sậy lóp nọ chồng lên lớp kia. Rắn độc cũng rất nhiều, nhiều tên bò vào trinh sát bị rắn cắn chết. Đại tá Noninié cho một toán quân liều chết thọc sâu vào căn cứ thì cả toán không một tên nào sống sót trở vè mà không hề có một tiếng súng nổ. Cay cú, Hoàng Cao Khải cho lính dàn hàng ngang tiến vào. Bọn lính phải vượt qua những đám sậy cao tới 3 mét cùng những gai mỏ quạ, cả gai leo, gai dứa cùng những cây lá han đụng vào là sưng tấy nhức buốt đến tận xương. Khi chúng phải lội qua đầm lầy, kênh rạch thì vô vàn những con đỉa đói bám lấy chúng mà hút máu. Quân giặc dò dẫm như đi vào mê hồn trận, đang lúc bàng hoàng chưa biết đi về hướng nào thì cờ đỏ phất lên, lập tức nghĩa quân nấp trong các hầm hào, địa đạo bí mật nổ súng. Hơn ba chục tên đổ vật xuống rẫy rụa trong vũng máu. Bọn sống sót vừa nằm dán mình xuống đầm lầy tránh đạn thì nghĩa quân, cầm kiếm, mã tấu, đoản đao xông ra đánh giáp lá cà. Trong trận hỗn chiến đó hàng chục tên lính Pháp lính Nam bị giết chết bởi thứ vũ khí thô sơ mà chúng rất coi thường đó. Bọn còn lại bỏ những tên bị thương đang rên la cùng toàn bộ súng đạn để thoát thân. Bọn giặc nhìn thấy một hướng trống trải liền chạy xô cả về phía đó, chúng kinh hoàng khi đất lở dưới chân, cả bọn sa vào hố chông. Bị thiệt hại lớn, Hoàng Cao Khải điên khùng cho đốt bãi sậy thì chính lửa lại bao vây lấy chúng khiến chúng không có đường ra.

Bọn lính Pháp, lính Nam quá khiếp đảm không chờ lệnh chỉ huy đã tháo chạy. Trận này quân Pháp chết và bị thương tới bảy, tám phần mười quân số, súng hầu như mất gần hết. Nhưng thất bại lớn hơn cả là lính Pháp, lính Nam khiếp sợ nghĩa quân Bãi Sậy, bị bắt đi lính Bãi Sậy nhiều tên khiếp sợ bỏ trốn(3).

Quân Pháp rút về đóng ở phủ lỵ Khoái Châu và nhiều lần xua quân đi đánh Bãi Sậy nhưng không dám vào sâu mà vẫn bị phục kích, tập kích…

Nghĩa quân Bãi Sậy do Đổng Quế chỉ huy bị quân Pháp tấn công liên tục nhưng không bị tiêu diệt mà quân số này càng phát triển, được trang bị thêm nhiều súng bắn nhanh vừa thu được của giặc và dày dạn kinh nghiệm chiến đấu. Ban ngày nghĩa quân ở trong căn cứ, ban đêm đi tập kích các đồn địch. Nhân dân tự động làm công tác trinh sát, phát hiện các cuộc càn quét của giạc báo cho nghĩa quân, nên nghĩa quân đã kịp thời đón đánh chúng. Nghĩa quân không chỉ đánh giặc khi chúng xâm phạm vào căn cứ, mà nghĩa quân còn tấn công các đồn binh Bình Phú, Lực Điền, Thuỵ Lân (Yên Mỹ), đồn Bần, đồn Thúa (Mỹ Hào), đồn Phủ Ân Thi, đồn Ứng Lôi (Phù Cừ), các đồn ở huyện Văn Giang và phục kích quân Pháp trên đường số 5, đường 39(4).

Bọn cầm đầu quân sự Pháp ở Trung - Bắc Kỳ phải thú nhận: “Nghĩa quân vẫn thật sự cai trị các làng, còn bọn quan cai trị Pháp đặt ở các phủ huyện để cai trị dân thì tỏ ra bất lực và hoảng sợ trước sự phát triển của nghĩa quân, chúng bỏ tốn vào các tỉnh lỵ. Phần đông các tổng lý lại có cảm tình hoặc ủng hộ quân khởi nghĩa”(5).


(1) Piglowski Histoire de la Garede Ingigène du Tonkin (Lịch sử Lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ, Nguyễn Luận dịch, lưu ở Thư viện tỉnh Hải Dương..
(2) A de Miribel: La Province de Hưng Yên (Lịch sử cuộc chiếm đóng Hưng Yên). Sđd.
(3) Theo Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nguyễn Khánh Toàn, chủ biên. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971 - Theo A de Miribel Les province de Tonkin Hưng Yên - Theo cuộc chiến đấu của nghĩa quân Bãi Sậy, Lịch sử Quân sự số 46 tháng 12/1989.
(4), (5) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc, Hải Dương 12-1932 tài liệu đánh máy lưu ở Thư viện tỉnh Hải Dương.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 08:16:20 AM »

Vì vậy quân Pháp phải rút khỏi Bãi Sậy, nhưng vẫn luôn chú ý đến vùng này.

Từ đó quân Pháp, quân Nam chỉ nghe tiếng Bãi Sậy là sợ hãi bỏ trốn tránh không dám liều mạng vào chỗ chết. Chính Dulleman cũng phải thú nhận: “Khu vực Bãi Sậy mà bọn phản nghịch đương đầu với lực lượng của chúng ta và né tránh được các cuộc truy lùng. Tướng De Courcy đích thân đi tuần tiễu thành công một phần”(1).

Cuối năm 1883, đầu năm 1884 trên toàn mặt trận, thế lực của Đổng Quế ngày càng lớn mạnh. “Những khi quân Pháp đưa quân từ Hải Dương, Hải Phòng đến uy hiếp căn cứ Bãi Sậy thì Nguyễn Thiện Thuật đưa quân về huyện Mỹ Hoà để chi viện cho Đổng Quế, quân Pháp e ngại không dám tấn công Bãi Sậy vì sợ Nguyễn Thiện Thuật đánh tập hâu”(2).

Sau khi vua Hiệp Hòa ký Hoà ước với Pháp ngày 6/6/1884, đặt Bắc Kỳ, Trung Kỳ dưới sự bảo hộ của Pháp, khi đó Bắc Kỳ có có 13 tỉnh(3) thì quân Pháp tăng cường đàn áp các cuộc khởi nghĩa, hoàn chỉnh bộ máy cai trị từ tỉnh, huyện đến tổng, xã.

Tháng 11/1884, Chính phủ Pháp đưa thêm 6000 quân tiếp viện sang chiến trường Bắc Kỳ(4) thì chiến sự ở Phủ Lạng Thương, Lạng Sơn, Tuyên Quang có nhiều biến động. Nguyễn Thiện Thuật phải đưa quân lên các tỉnh đó phối hợp với các tướng Cai Kinh, Tổng Bưởi, Lưu Kỳ và quân Cờ đen đánh Pháp. Thừa dịp đó quân Pháp huy động quân tấn công căn cứ Bãi Sậy, nhưng Đổng Quế và các tướng lĩnh vẫn bảo vệ được căn cứ.

Với phương thức “biến vi binh, bất biến vi dân” nên vùng nào, thậm chí làng nào cũng có nghĩa quân kể cả ở các thôn, xã giáp phủ Khoái Châu như An Vỹ, Ông Đình, Thọ Bình, các xã nằm trên tục đường 39 và các xã sát các đồn bốt địch.

Nhiều trận đánh đã diễn ra. Có trận nghĩa quân nấp trong bãi sậy, quân Pháp bao vây, nghĩa quân đốt lửa nghi binh. Quân giặc tưởng nghĩa quân đông không dám tấn công, vội vàng rút lui. Nghĩa quân do Đề Tính chỉ huy kéo đến xã Trung Châu (Khoái Châu) thì bị quân Pháp bao vây. Nghĩa quân đánh trả từ sáng đến trưa, giết chết một số lính, cướp 1 súng bắn nhanh rồi rút lui an toàn. Hôm sau quân Pháp trả thù kéo đến Trung Châu giết chết 2 người dân.

Đốc binh Vũ Đức Thàng chỉ huy trên 100 quân, ông rất gan dạ lại mưu trí. Có lần vì cần súng trường nhãn 1874 để làm mẫu cho “xưởng quân giới” của mình, ông tự chui vào cũi, cho hai nghĩa quân thân tín làm tuần đinh khiêng ông vào trong đồn nộp cho quân Pháp, còn một bộ phận nghĩa quân thì bí mật bao vây bên ngoài. Thấy bắt được “tướng giặc” bọn lính xúm lại xem, bất thình lình ông đạp cũi nhẩy ra giết lính, nghĩa quân ở ngoài ập vào. Quân Pháp bị bất ngờ không kịp trở tay. Ông không ham đánh, cướp một số súng đạn rồi rút lui an toàn. Lần khác, quân Pháp càn vào làng Ông Đình, ông đào hầm ẩn mình dưới đó, phủ sậy lên trên. Đợi cho quân Pháp đi qua, chỉ còn vài ba tên đi sau, ông bật dậy xông lên giết ba tên lính cướp súng. Khi bọn Pháp đi ở phía trước phát hiện ra quay lại, thì ông đã đem ba khẩu súng rút vào bãi sậy an toàn(5).

Nhờ có súng mẫu trên, ông đón thợ rèn Hoàng Vân về dựa theo mẫu sản xuất ra súng cải tiến.

Trong số tướng lĩnh của Đổng Quế ở Khoái Châu có hai vợ chồng ông Quyền Túc. Ông tên thật là Nguyễn Túc, bà là Nguyễn Thị Biên. Hai ông bà đều dũng cảm, gan dạ, đa mưu túc kế. Vào giai đoạn đầu cuộc khởi nghĩa, ông được phong chức đội nên gọi là Quyền Túc. Từ đó nghĩa binh và nhân dân gọi ông là “Ông Quyền Túc’, “Bà Quyền Túc”. Ông bà Quyền Túc được giao nhiệm vụ kiểm soát đoạn đường (sau Pháp gọi là đường 199) từ Dốc Thiết qua bến đồ ngang Sông Hồng sang Vân La, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông và đoạn Sông Hồng chảy qua Đa Hoà - Nhạn Tháp - Mễ Sở. Ông bà Quyền Túc chiêu mộ thêm quân, chẳng những trai tráng tổng Mễ Sở mà người Vân La, Tự Nhiên, Thư Phú theo cũng rất đông. Ông Nguyễn Đăng Thành là Chánh tổng tổng Mễ Sở, làm bá hộ nhưng lại tiếp tế rất nhiền lương thực, tiền bạc cho nghĩa quân.

Bà Biên quyết hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc nên đã hỏi cô Bùi Thị Lệnh làm vợ bé để sinh con cho chồng.


(1) Hưng Yên địa chí của Trịnh Như Tấu. Nhà in Ngô Tử Hạ, xuất bản năm 1934.
(2) Lịch sử Cận đại Việt Nam và Chống xâm lăng của Trần Văn Giàu, NXB Xây dựng Hà Nội, 1957.
(3) Đại Nam thực lục chính biên, Quốc sử quán Triều Nguyễn.
(4) Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858-1945), tập 1, Dương Kinh Quốc, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981, trang 224.
(5) Theo lời kể của cụ Vũ Đức Hồng 83 tuổi ở xã Ông Đình gọi cụ Đốc Thàng là bác ruột kể về bác mình đánh Pháp với tác giả tháng 10/1998.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM