Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Năm, 2012, 07:29:48 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khởi nghĩa Bãi Sậy - Vũ Thanh Sơn  (Đọc 9617 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 01:46:31 PM »

Khởi nghĩa Bãi Sậy
Tác giả: Vũ Thanh Sơn
Nhà xuất bản: Văn hóa thông tin
Năm xuất bàn: 2009
Số hóa: macbupda



LỜI NÓI ĐẦU

Khởi nghĩa Bãi Sậy là cuộc khởi nghĩa ở cuối thế kỉ 19, kéo dài trong 10 năm (1883-1892). Cuộc khởi nghĩa chia ra làm 3 giai đoạn:

1. Đổng quân vụ Đinh Gia Quế lãnh đạo từ tháng 4/1883 đến tháng 8/1885.

2. Bắc Kỳ hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật từ tháng 9/1885 đến tháng 10/1890.

3. Nguyễn Thiện Kế từ từ tháng 10/1890 đến tháng 4/1892.

Trong giai đoạn hai cuộc khởi nghĩa chiến đấu dưới ngọn cờ cần vương do vua Hàm Nghi phát động và phát triển trên quy mô rộng lớn ở các tỉnh châu thổ Sông Hồng và vùng đông bắc Bắc Bộ.

Nhiều trận chiến đấu quyết liệt chống quân Pháp và quân Nam triều do Hoàng Cao Khải cầm đầu diễn ra ở khắp nơi. Quân Pháp phải thay đổi từ chiến thuật điều động lớn lực lượng đánh nhanh, thắng nhanh đến chiến thuật “Dùng người Việt đánh người Việt”, thành lập “Đạo quân Bình định”, “Binh đoàn cảnh sát” đều giao cho Hoàng Cao Khải làm tư lệnh, cấp tiền, cấp súng cho quan phủ, quan huyện, chánh tổng, lý trưởng… để đàn áp nghĩa quân và các làng xã ủng hộ nghĩa quân bất cứ lúc nào. Chúng còn triệt hạ hàng trăm làng xã từng là căn cứ tiếp tế cho nghĩa quân đồn trú.

Đặc thù của cuộc khởi nghĩa là các thủ lĩnh chỉ xây dựng hai căn cứ ở Bãi Sậy và Trại Sơn, còn lại thực hiện khẩu hiệu toàn dân đánh giặc, mỗi người dân là một quân nhân, mỗi làng xã là một pháo đài. Bên cạnh việc chiến đấu trên chiến trường, nghĩa quân còn coi trọng công tác tuyên truyền, vạch tội ác của giặc, chú trọng đến công tác binh vận, ngụy vận.

Nghĩa quân trang bị vũ khí hiện đại bằng nhiều nguồn, trong đó có việc dựa vào mẫu súng của Pháp sản xuất ra hàng ngàn súng cải tiến. Nghĩa quân cũng đã thành lập nhiều trang trại cấy lúa, trồng rau màu để tự túc một phần lương thực.

Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy diễn ra trên quy mô lớn, kéo dài trong 10 năm, tiếc rằng do không được khai thác nên đang có nguy cơ bị mai một. Trong khi đó trên một số sách báo chính thống viết về cuộc khởi nghĩa còn phiến diện, thậm chí sai lệch cả về quê quán, thời gian hoạt động của một số thủ lĩnh.

Là người dân sống trong vùng căn cứ Bãi Sậy, mặc dù trình độ, năng lực, cơ sở vật chất có hạn, với tấm lòng kính trọng các anh hùng hào kiệt, chúng tôi vẫn kiên trì vượt qua mọi trở ngại để sưu tầm tư liệu viết nên những trang sách nhỏ này cùng với cuốn “Các thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy” và trước đó đã xuất bản cuốn “Tướng lĩnh Bãi Sậy” để tưởng niệm đến một số anh hùng bị người đời lãng quên.

Chúng tôi rất mong các nhà sử học, lãnh đạo các địa phương có cuộc khởi nghĩa, hậu duệ các tướng lĩnh, nghĩa quân và những người quan tâm đến sử học chỉ giáo.

Xin trận trọng cảm ơn!
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 01:53:03 PM »

Phần thứ nhất:

VÀI NÉT VÊ TÌNH HÌNH XÃ HỘI VIỆT NAM
TỪ KHI NHÀ NGUYỄN THỐNG TRỊ ĐẾN KHI
QUÂN PHÁP ĐÁNH CHIẾM BẮC KỲ
LẦN THỨ HAI (7/1802-4/1882)

CHƯƠNG I

XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ KHI GIA LONG LÊN CẦM QUYỀN
ĐẾN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(7/1802-5/1858)

Tháng 7/1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, đặt quốc hiệu là Việt Nam. Gia Long dựng kinh đô ở Huế, củng cố nền chuyên chế tập quyền, ban hành bộ Luật Gia Long, thi hành nhiều chính sách hà khắc. Quan lại tham nhũng, hào lý thả sức đục khoét dân. Đương thời có câu ca:

“Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan”

Trong một tờ sớ gửi triều đình, Nguyễn Công Trứ đã phải viết: “Cái họa cường hào nó làm cho con người ta thành mồ côi, vợ người ta thành góa bụa, giết cả tính mệnh người ta, làm kiệt cả gia tài người ta mà không sợ lộ, cho nên cứ ngang nhiên không kiêng sợ gì”(1)

Thuế khóa nặng nề, lao dịch, cống nộp nhiều để xây dựng cung điện, lăng tẩm, phủ đưởng. Chỉ riêng thuế ruộng đất Đàng Ngoài phải nộp cao hơn Đàng Trong từ 2 đến 3 lần.

Tháng 6/1862, sau khi Triều đình kí Hiệp ước “Hòa bình và hữu nghị” với Pháp trong đó có điều khoản phải bồi thường cho chúng 4 triệu đô la, tương đương với 2.880.000 lạng bạc(2).  Tự Đức đã tăng thuế cũ, đặt thêm thuế mới, đặc biệt là bãi bỏ lệnh cấm thuốc phiện để lấy tiền thuế trả nợ cho Pháp…

Hàng năm đến kì thu thế đã gây nên nỗi kinh hoàng khiếp sợ trong nhân dân. Giáo sĩ người Pháp Guérard nhận xét: “Gia Long bóp nặn dân chúng bằng đủ mọi cách, sự bất công và lộng hành làm cho người ta rên xiết hơn cả thời Tây Sơn. Thuế khóa lao dịch tăng lên gấp 3 lần”(3) hoặc: “Dưới thời Tự Đức các tỉnh Bắc Kì thường bị áp bức và bị các quan lại của Triều đình Huế đối xử như là một xứ bị chiếm đóng”(4).

Gia Long chủ trương bần cùng hóa nhân dân để dễ bề cai trị, đã tuyên bố: “Nay chinh chiến mới yên người ta chưa quên sự khó nhọc thì dễ khiến và việc dễ nên. Nếu để vài năm sau dân quen yên rồi thì khó khiến mà oán thì dễ sinh”(5).

Chính sách kinh tế thì lạc hậu, phản động. Các vua nhà Nguyễn tịch thu ruộng đất nhà Tây Sơn đã chia cho nông dân, không tu sửa đê điều, bãi bỏ các chứ quan trông coi đê điều. Vì vậy, từ năm 1805 dịch lớn; năm 1806 đê Văn Giang (Bắc Ninh), đê Sơn Tây; đê Hải Dương vỡ, 370 xã thôn phiêu tán; năm 1807 chuột phá hoại mùa màng, dân chết đói nhiều, số đinh của Bắc Thành chỉ còn 159.589 người so với mốc đời Lê là 268.990 đinh, giảm 28%; năm 1809-1810 bị mưa bão, nước tràn, sâu phá lúa chiêm, nhiều người chết đói; cuối năm 1815 đầu năm 1816, mưa dữ dội, Sơn Nam thượng (Hưng Yên, Thái Bình), Sơn Tây lụt to, 204 xã thôn bị tai họa; năm 1816 xảy ra nạn dịch tả, nhiều người chết; năm 1818 mưa to, lúa mùa bị ngập úng; năm 1820 Sơn Nam thượng, Kinh Bắc đói, dịch bệnh giết hại 206.835 người; năm 1827, riêng  Hải Dương có 108 xã thôn phiêu tán, hơn 12.700 mẫu ruộng bị bỏ hoang; năm 1832, 1833 đê Sài Quất, Sài Thị, Nhuế Dương (Hưng Yên), đê Hải Dương năm nào cũng vỡ, dân chết đói; năm 1834, 1835, Hưng Yên, Hải Dương ngập nước, đói, từ năm 1836 đến năm 1841, đê Cứu Yên (Khoái Châu) năm nào cũng vỡ, nhiều năm Hưng Yên ngập sâu 2,5 mét nước; năm 1844, 1847 Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội vỡ đê, hai năm 1849, 1850 đồng bằng Sông Hồng bị dịch làm chết 589.460 người; vụ chiêm năm 1854 các tỉnh Bắc Ninh, Sơn Tây bị châu chấu phá lúa đến vụ mùa các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh… bão lụt lớn, nhiều người chết; năm 1835 huyện An Dương (Hải Dương) dịch bệnh, nhiều người chết; năm 1856, Bắc Kì lụt to, đê vỡ lung tung, nhiều làng bị mất tích dưới nước, nạn đói xảy ra thê thảm không sao kể xiết. Các năm 1857, 1858, 1859 lụt, đói làm hàng vạn người ở đồng bằng sông Hồng, Thanh Hóa chết đói. Tháng 2-1862, triều đình bãi bỏ Nha Đê chính, trông coi đê điều trong cả nước nên các việc xây sửa cống, đắp sửa đê, khơi vét sông không được tiến hành. Việc làm trên đã dẫn đến năm 1865 các tỉnh Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ đều bị đói. Năm 1871 đê các tỉnh Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định vỡ, dân chết đói nhiều vô kể, đồng ruộng bỏ hoang. Triều đình đứng ra bán hơn 60.000 mẫu ruộng công ở Nam Định, 13.000 mẫu ở Hải Dương, hơn 7000 mẫu ở Hưng Yên để lấy tiền chi cho chiến tranh. Năm 1872 đê Văn Giang với hơn 20 trượng, các nơi đề xuất việc đắp đê. Tự Đức phán: “Hiện nay đương bận việc quân ở vùng biên giới, nên chưa bàn đến việc trị thủy vội”. Hậu quả là 11 năm liền (1872-1882) đê Phi Liệt ở Văn Giang năm nào cũng vỡ. Cũng trong thời gian đó đê Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ, Đông Yên, Nhạn Trạch (Hưng Yên), đê ở Sơn Tây, Nam Định, Hà Nội năm nào cũng vỡ. Năm 1885, Hưng Yên bị hạn nghiêm trọng; năm 1892 đê Hoàng Xá vỡ, Hưng Yên lại bị lụt; Năm 1896, vụ chiêm hạn hán lớn, lúa, màu chết cháy. Hưng Yên, Hải Dương bị thiệt hại nặng nề; năm 1898, đê sông Đuống vỡ; Bắc Ninh, Hưng Yên bị tổn thất nặng nề(6).


(1) Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam thực lục chính biên, tập XVIII, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, trang 104, 105 - Việt sử thông dám cương mục - Lịch triều bản kỉ.
(2) Dương Kinh Quốc, Việt Nam và những sự kiện lịch sử tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981, trang 45, 46.
(3) Nouveles lettes édifiantes (Những bức thư khuyến thiện mới) Paris 1918 tập VIII.
(4) G. Taboulet Legeste Francaise en Indochin tomme II - Paris Adrien Maisonneuve (1956).
(5) Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam thực lục chính biên, tập III, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, trang 191.
(6) Theo Đại Nam thực lục chính biên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971 - Lịch triều bản kỉ - Bắc Kỳ hà đê sự tích - Minh Mệnh chính yếu - Hưng Yên tỉnh chí - Bắc Ninh tỉnh chí - Hải Dương địa chí… Sđd.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Năm, 2011, 05:50:14 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 01:55:04 PM »

Trong suốt mấy chục năm trời dưới triều Nguyễn nhân dân đồng bằng sông Hồng năm nào cũng gặp tai họa lụt lội, hạn hán, sâu bệnh, dịch tễ lại khốn khổ về thuế khóa, phu phen và sự bóc lột của cường hào ác bá, nó còn được ghi nhận trong thành ngữ “Oai oái như Phủ Khoái xin lương”, hoặc trong bài vè “Về các thời Tự Đức”:

“Lúa mười quan một chục
Dân tình buồn bực
Vay mượn thì nhà giàu không cho
Cầm tiền mua thì không bán
Có kẻ trốn không đi
Tìm lên rú lên ri
Đào khoai mài, củ chuối
Người gầy bụng đói
Chỉ còn một bộ xương
Cai phó tổng không thương
Bắt về định nọc đập!
… Trời ảm đạm u sầu
Cảnh hoang tàn đói rét,
Dân tình cùng kiệt
Kẻ lưu lạc tha phương
Người chết đường chết chợ…”


Vào thập kỉ 20 của thế kỉ XIX, kinh tế hàng hóa phát triển trong một chừng mực nhất định, những thợ lành nghề đều bị trưng tập cả đời trong các xưởng thủ công của triều đình. Luật lệ của triều đình về nhà ở, hàng tiêu dùng, may mặc rất khắt khe để phân biệt đẳng cấp nên nghề thủ công, nghề xây dựng; vật liệu xây dựng bị kìm hãm, mai một.

Công nghiệp chủ yếu là khai thác mỏ, cả nước có tới 139 mỏ. Mỗi mỏ tập trung hàng nghìn thợ và binh lính, họ bị lao động cưỡng bức, bị bóc lột hà khắc nên hiệu quả thấp. Mỏ tư nhân bị đánh thuế bằng sản phẩm rất nặng nề nên nhiều chủ mỏ phá sản.

Kinh tế thị trường phát triển chậm, thuế khóa nặng nề như chở gạo ở Nam Định vào Nghệ An phải chịu 9 lần thuế. Triều đình áp dụng chính sách “bế quan tỏa cảng”, chỉ có một số huyền buồm của triều đình buôn báo với Trung Quốc, Giava, Ấn Độ, Nam Dương nhưng chủ yếu là mua hàng xa xỉ phẩm sử dụng trong cung đình.

Đối ngoại thì triều đình lệ thuộc vào triều đình Mãn Thanh. Mọi tập quán, luật lệ, luật pháp nhà Thanh đều được các vua nhà Nguyễn áp dụng vào Việt Nam một cách máy móc. Đối với tư bản Pháp thì ngay từ những năm 1785, Nguyễn Ánh đã cầu cứu nước Pháp giúp sĩ quan, vũ khí đánh nhà Tây Sơn. Nguyễn Ánh lên ngôi vua đã đền ơn tư bản Pháp bằng cách cho những sĩ quan Pháp giúp mình diệt nhà Tây Sơn làm quan trong triều; cho Hội Truyền giáo nước ngoài được tự do truyền đạo Thiên chúa. Lợi dụng cơ hội đó tư bản Pháp đã phái nhiều gián điệp vào Việt Nam, dưới dạng thương nhân, giáo sĩ truyền đạo do thám tình hình chính trị, địa lí, kinh tế, xã hội, các mục tiêu quân sự, các loại vũ khí của Việt Nam phục vụ cho mục đích xâm lược sau này. Bọn gián điệp này còn mua chuộc quan lại cao cấp trong triều đình, các quan lại ở những địa phương quan trọng ngả theo Pháp, áp dụng các chính sách có lợi cho Pháp, tuyển một số người Việt Nam sang Pháp và các thuộc địa của Pháp học tập phục vụ cho âm mưu xâm lược sau này. Các vị trí có tính chất chiến lược kinh tế, quân sự đều được các các cha cố truyền đạo, lập ra các làng công giáo toàn tòng, xây nhà thờ có tháp chuông cao kiên cố, biến vùng này thành chỗ dựa của Pháp, kích động cho họ chống lại triều đình, chống các tôn giáo khác gây nên mối kì thị dân tộc.

Chính sách hà  khắc với dân, đầu hàng giặc, dung túng bọn quan lại tham nhũng của vua quan nhà Nguyễn gây nên sự bất bình trong nhân dân. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, thời Gia Long (1802-1819) chỉ tính theo tài liệu của triều Nguyễn có 50 cuộc khởi nghĩa lớn, trong đó cuộc khởi nghĩa của Dương Đình Cúc ở Thái Nguyên kéo dài từ năm 1806 đến 1824. Năm 1807 đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi, Tây Nguyên nổi dậy bền bỉ chống lại nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn phải đắp một lũy đất dài 37.479 trượng (khoảng 120 km) gọi là lũy “Bình man”, dựng 115 đồn ở miền núi Quảng Ngãi để ngăn chặn các cuộc tấn công của nghĩa quân. Tại Hưng Yên, tháng 12-1804, nông dân huyện Thiên Thi (Ân Thi) khởi nghĩa, năm 1806 và tháng 2 năm 1808 nông dân Khoái Châu khởi nghĩa. Dưới thời Minh Mạng (1820-1840) có hơn 200 cuộc khởi nghĩa như Phan Bá Vành ở xã Minh Giám, Thái Bình (1821-1827), Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833-1835). Tại Hưng Yên tháng 3-1826, hơn 400 nông dân ở huyện Tiên Lữ khởi nghĩa. Năm 1840, Nguyễn Công Trứ có bản tấu về triêu đình: “Hàng ngày nghe tiếng vang la vây đánh, chỗ nào chỗ ấy bọn phỉ tụ hợp như ruồi đậu, muỗi bay”(1).


(1) Xét lại nguyên nhân các vụ loạn dưới thời Tự Đức - Tạp chí Sử - Địa Sài Gòn số 1-1966.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 02:04:44 PM »

Thời Thiệu Trị (1841-1847) có gần 50 cuộc khởi nghĩa. Thời Tự Đức chưa kể giặc Khánh, giặc biển, giặc Tàu ô cướp phá các tỉnh phá bắc, cũng có hàng chục cuộc khởi nghĩa nông dân như khởi nghĩa Cao Bá Quát ở Bắc Ninh, Sơn Tây (1854-1855). Tại Hưng Yên có các cuộc khởi nghĩa Lê Duy Cự, Bì Văn Tăng, Bùi Thương Chiểu, Nguyễn Hữu Vân, Vũ Đặng Vinh, Trần Đình Cơ. Các cuộc khởi nghĩa nhiều đến nỗi năm 1885, Tự Đức phải bảo các đình thần rằng: “Năm ngoái các hạt Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương đều có giặc nổi lên. Duy có tỉnh Nam Định là được yên ổn đó cũng là sự may rủi không cùng mà thôi”. Năm 1861, Tạ Văn Phụng lấy tên là Lê Duy Minh, tự xưng là Minh chủ nổi dậy ở Quảng Yên, liên lạc với các cuộc khởi nghĩa ở Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An làm cho quan quân nhiều phen thất điên bát đảo(1). Tháng 4-1862, Cai Vàng nổi lên ở Bắc Ninh, phủ Lạng Giang, Yên Dũng, Sơn Tây liên lạc với Tạ Văn Phụng(2). Tháng 5-1862, loạn quân giết chết tri huyện sở tại Gia Lộc (Hải Dương) là Đặng Lang. Tháng 6, Hải Dương bị đói, nông dân nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi, Triều đình phải đưa quân từ Kinh đô, Thanh - Nghệ ra đánh. Việc dụ hàng địch ở Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Cao Bằng, Thái Nguyên không có kết quả(3)

Những cuộc khởi nghĩa trên trước sau đều bị vua quan nhà nguyễn đưa quân đến đàn áp, dìm trong biển máu kể cả những người trong hoàng tộc như vụ nổi loạn ở Kinh thành Huế. Nhiều làng xã bị triệt hạ, nhưng các cuộc khởi nghĩa trên đã làm cho triều đình hao binh tổn tướng, nhiều tên tham quan, ô lại bị trừng trị, bọn vua quan bớt hà khắc ở một số vùng vì sợ nhân dân lại nổi dậy.

Trước tình hình đất nước suy thoái, bọn xâm lăng tới gần, nhiều quan lại và những người có tri thức đã dâng sớ đề nghị triều đình cải cách về nhiều mặt. Tháng 7-1859, Quang lộc tự khanh Nguyễn Tư Giản(4) viết bản mật sở gửi Tự Đức, đầu đề là “Sớ đánh Tây”. Trong sớ có đoạn viết “Quân Pháp tàn ngược, nhân dân cả nước ai cũng căm thù, nên đều có chí giết giặc. Chúng tôi xin triều đình đừng bảo là không có người trung thần, nghĩa dũng, không có tướng giỏi, tài cao mà cam chịu sự hòa nhục nhã này lo làm kế tạm yên để giẫm lên bánh xe nhà Tống Ngu đã bị đổ trước. Sự bàn hòa ngày nay, quân giặc sẽ yêu cầu ta những việc gì, ta sẽ được ở giặc những gì, chúng tôi đều chưa biết, nhưng biết rằng cuộc bàn hòa này nếu thành thì là đem nước dâng cho giặc, đem giặc đến cho vua cha vậy. Làm kế sống sót của bầy tôi thì làm được, làm kế lâu dài cho đất nước thì không được”(5).

Từ năm 1863 đến năm 1867, Nguyễn Trường Tộ(6) liên tục đề nghị cải cách chấn hưng kinh tế. Riêng việc nâng cao tinh thần binh sĩ, Nguyễn Trường Tộ có nhiều bản điều trần như “Tu võ bị” (sửa sang việc võ) (tháng 6/1871), Đại luận tế cấp bát điều (Tám việc cần làm gấp). Năm 1868, Đinh Văn Điền (người công giáo) đề nghị các việc cần làm để chống giặc Pháp. Tháng 12/1882, Ông Ích Khiêm(7) dâng sớ kế sách: “Quốc phú binh cường” là khai mỏ ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Ninh (gồm cả Bắc Giang ngày nay), Thái Nguyên, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang lấy vàng, bạc, sắt, đồng, chì, gang, diêm tiêu, than đá, các thứ gỗ, muối, nhựa thông, dầu hồi, củ nâu… Trong từ sấu về triều đình, ông vạch rõ: “Tôi từ lúc đi đánh giặc, đi qua các mỏ, hỏi các phụ lão sự lợi hại nghe được rõ ràng, nghĩ kế hoạch làm cho dân giàu, nước mạnh, không gì bằng khai mỏ”(8).

Tiếp đó Nguyễn Lộ Trạch(9), Phạm Phú Thứ cũng giử các bản điều trần về triều đình Huế đề nghị cải cách. Nhưng tiếc thay tất cả các đề nghị thức thời đó đều không được Tự Đức và các quan đại thần xem xét.


(1), (2), (3) Xét lại nguyên nhân các vụ loạn dưới thời Tự Đức - Tạp chí Sử - Địa Sài Gòn số 1-1966.
(4) Nguyễn Tư Giản quê làng Du Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội làm quan Đề chính.
(5) Chép trong “Công văn tấu tập” A545 Thư viện Khoa học xã hội.
(6) Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1827, người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông theo đạo Thiên chúa, tinh thông Nho học, lại theo học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Sau đó sang Pháp học. Ông về nước làm phiên dịch một thời gian rồi về quê. Ông có nhiều đề nghị cải cách, song Tự Đức không chấp nhận.
(7) Ông Ích Khiêm sinh năm 1831 tại làng Phong Lệ nay thuộc huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Ông đỗ cử nhân năm 1846, năm 1852 ông giữ chức tri huyện Kim Thành (Hải Dương). Sau ông bị cách chức vì đánh một tên cường hào, một cố đạo. Sau ông chuyển sang ngạch võ, cùng Nguyễn Tri Phương đánh Pháp ở bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) (9/1858). Từ năm 1862 đến năm 1873 ông tiễu trừ nhiều toán phỉ ở Bắc Kỳ. Từ 1873 đến 1883, ông hai lần đề nghị phòng thủ Bắc Kỳ, song không được vua Tự Đức chấp nhận. Ông cùng với các tướng liên kết với tướng Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc đánh thắng giặc Pháp ở Cầu Giấy lần thứ hai, ngày 19/5/1983. Tháng 8/1884, Ông Ích Khiêm kết thúc cuộc đời một cách oan uổng tại nhà tù của vua quan nhà Nguyễn.
(8) Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam thực lục chính biên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971.
(9) Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895), biệt hiệu Kỳ Am, nhà chính luận, người làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông học rộng, quan tâm đến thời thế, đọc tân thư của Trung Quốc. Năm 1877, ông viết bản “Thời vụ sách” lần thứ hai đề nghị những cải cách cần thiết, không được Tự Đức chấp nhận.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 02:07:23 PM »

CHƯƠNG II

QUÂN PHÁP TẤN CÔNG ĐÀ NẴNG, CHIẾM LỤC TỈNH NAM KỲ -
ĐÁNH CHIẾM BẮC KỲ LẦN THỨ NHẤT VÀ HIỆP ƯƠC GIÁP TUẤT
(1858-1874)

Trải mấy chục năm thu thập tình báo, chuẩn bị mọi mặt cho âm mưu xâm lược Việt Nam, năm 1857, chính phủ Pháp và triều đình Mãn Thanh kí Hiệp ước Thiên Tân. Pháp rút lực lượng quân sư khỏi Trung Hoa, phối hợp với chiến hạm Tây Ban Nha thành lập liên quân Pháp - Tây Ban Nha gồm 13 chiến hạm do thiếu tướng Hải quân Pháp Rigôn Đờ Giơniuy (Rigauld de Genoilly) phó Thủy sư đô đốc kiêm Tổng chỉ huy lực lượng Hải quân Pháp trên vùng biển Đông, kiêm Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam trực tiếp chỉ huy trận đánh mở đầu xâm lược Việt Nam.

Tàu chiến của Liên quân Pháp - Tây Ban Nha rời đảo Hải Nam tiến về vùng biển Trung Kỳ đánh chiếm bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam - nơi giữ vị trí chiến lược quân sư quan trong.

Ngày 1/9/1858, đại bác giặc từ các pháo hạm bắn phá vào bán đảo Sơn Trà rồi cho quân đổ bộ chiếm bán đảo. Chúng đã vấp phải sự đánh trả mãnh liệt của quân dân Sơn Trà do Nguyễn Tri Phương, Ông Ích Khiêm chỉ huy gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề…

Khi quân Triều đình rút lui, với truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, nhân dân đã tự động vũ trang tập kích vào các đồn bốt của giặc, phục kích các toán quân đi tuần, cất giấu lương thực khiến cho chiến thuật “tốc chiến, tốc thắng” của Rigôn đờ Gioniuy phá sản. Hắn trao quyền chỉ huy bán đảo Sơn Trà cho đại tái Hải quân Toayông (Toyon) rồi rút hạm đội liên quân vào Gia Định. Toyon đã bị quân triều đình và nhân dân vũ trang mở nhiều đợt tấn công vào báo đảo Sơn Trà và đánh bại chúng trên sông Hàn, sông Nai Hiền gây cho chúng bao nỗi kinh hoàng.

Ngày 10/2/1859, chiến thuyền của liên quân Pháp - Tây Ban Nha từ ngoài khơi nã đại bác vào các pháo đài của quân triều đình khu vực Vũng Tàu.

Ngày 17/2/1859, chúng tấn công cửa biển Cần Giờ và các pháo đài, đồn lũy… bảo vệ thành Sài Gòn từ xa, rồi theo đường sông bắn phá thành Sài Gòn. Thành vỡ, quan quân rút về Tây Thái (huyện Bình Long) bị quân Pháp truy kích. Lập tức cựu tri huyện Trần Thiện Chính, cựu suất đội Lê Huy tập hợp 5800 nông dân xông ra chặn giặc cho quan quân rút lui an toàn. Từ tháng 4 đến tháng 9/1859, nhân dân Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long đã tự động góp tiền gạo nuôi quân, góp kim khí để chế tạo “địa lôi chấn”, súng đồng loại lớn, ống phun lửa (hỏa hỏ thời Tây Sơn). Hoạt động của nghĩa quân Trần Thiện Chính gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại, quân Pháp phải thú nhận: “Quân Pháp chỉ đụng độ với quân đội của nhà vua trong một số ít trường hợp thôi, còn phần lớn phải đương đầu với một đội quân vô hình, họ như từ dưới đất mọc lên”(1).

Trong khi phong trào kháng chiến của nhân dân lên cao thì triều đình Huế lại bạc nhược, hèn nhát. Tháng 6/1859, Tự Đức họp triều thần bàn kế chống Pháp, đã có 5 loại ý kiến khác nhau;

1 - Lấy thế thủ làm chính, vì có giữ vững thì sau mới có thể bàn đến chuyện hòa hay chiến được;

2 - Lấy kế chống giữ lâu dài làm chính vì thuyền tàu, súng đạn là sở trường của giặc, giặc muốn đánh nhanh, thắng nhanh, ta không nên chống lại sở trường của chúng, mà phải kiên trì chống giữ, đợi khi chúng mỏi mệt, cầu giảng hòa lúc đó ta sẽ tùy cơ ứng biến;

3 - Hòa có mức độ, nếu giặc chỉ yêu cầu được tự do đi lại truyền đạo và thông thương buôn bán thì ta nên hòa, nếu đó chỉ là những yêu sách giả dối thì ta phải cố sức giữ;

4 - Nên hòa ngay;

5 - Quyết giữ đất, tấn công giặc, quyết không nghị hòa với giặc(2).

Tư tưởng cầu hòa chiếm tuyệt đại đa số từ vua Tự Đức cho tới các đại thần. Nắm được tư tưởng đầu hàng đó của triều đình Huế, thiếu thướng Hải quân Pháp Page (Page) Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam mới sang thay Rigôn đờ Giơniuy đã huy động quân lực đánh phá các cuộc khởi nghĩa của nhân dân, tấn công ba tỉnh miền Đông. Nhưng những nỗ lực của Page thất bại, đỉnh cao là trận đại bại ở đại đồn Chí Hòa (Gia Định) tháng 4/1860.

Ngày 15/5/1860, Chính phủ Pháp bãi chức Tổng chỉ huy quân đội Pháp của Page, cử phó thủy sư đô đốc Sácne (Charner) lên nắm quyền chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam. Để tỏ ra mình có tài thao lược, Sácne muốn tấn công đại đồn Chí Hòa ngay, nhưng tháng 8/1860, triều đình Huế điều Nguyễn Tri Phương vào Gia Định củng cố, xây dựng phòng tuyến Chí Hòa. Từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 2/1861, Liên quân Pháp - Tây Ban Nha mở cuộc tấn công lớn và đã phá được phòng tuyến Chí Hòa. Song bọn xâm lược đã phải trả một giá đắt: 5 sĩ quan cao cấp, 30 sĩ quan, 121 hạ sĩ quan, 1805 tên lính Pháp Tây Ban Nha chết trận. Ngày 12/4, quân Pháp đánh Mỹ Tho.


(1) Fernand Bernad l’Indochina, Errieuurs et Danger (Đông Dương những sai lầm và nguy hiểm) Charpantier, Paris, 1901.
(2) Dương Kinh Quốc: Việt Nam những sự liện lịch sử, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Năm, 2011, 05:51:03 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 02:18:30 PM »

Tháng 11/1861, quân dân Định Tường đánh chìm hai tàu chiến của quân Pháp, diệt 540 tên. Ngày l9/12/1861, quân Pháp đánh chiếm Mỹ Tho lần thứ hai, tỉnh Định Tường và Côn Lôn (Côn Đảo). Ngày 1/3/1862, Bôna (Bonard), Thống đốc Nam kỳ ra Nghị định thiết lập nhà tù Côn Đảo. Ngày 5/6/1862, Triều đình Huế ký Hiệp ước nhường hẳn Côn Đảo cho Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra như khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực, ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực chỉ huy đốt cháy pháo hạm Hy Vọng (Espérance) và diệt nhiều tên giặc trên sông Vàm Cỏ Đông(1).

Tháng 9/1861, Trương Công Định(2) khởi nghĩa ở rú Gò Thượng với lực lượng 600 người tìm địch mà diệt, thu súng của địch, làm khuôn mẫu đúc súng mới. Ngày 16/12/1681, nghĩa quân do Đốc binh Là chỉ huy chiến đấu dũng cảm tại Cần Giuộc, diệt nhiều tên địch nhưng tổn thất cũng lớn.

Từ tháng 1 đến tháng 3/1862, quân Pháp đánh chiếm Bà Rịa, Vĩnh Long. Nhân dân đứng lên kháng chiến đã cản bước tiến của liên quân Pháp - Tây Ban Nha, gây cho chúng tổn thất nặng nề. Trong vòng 38 tháng (từ 1 tháng 9/1858 đến 29 tháng 11/1861), Chính phủ Pháp phải thay bốn tướng Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp xâm lược Việt Nam(3). Thực dân Pháp thực hiện chiến thuật “vừa đánh vừa đàm”, chúng tấn công cửa Thuận An để buộc triều đình Huế phải kí Hiệp ước công nhận quyền cai trị của chúng ở ba tỉnh Miền Đông. Triều đình Huế run sợ đã cử một phái bộ do Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp làm chánh, phó sử Toàn quyền đại thần vào Gia Định ký với Thiếu tướng Hải quân Pháp Bôna (Bonard) hiệp ước "Hòa binh và hữu nghị” vào ngày 5/6/1862. Hiệp ước có 12 điều khoản, trong đó có những điều khoản nhường cho Pháp thống trị ba tỉnh miền Đông và Côn Đảo; truy lùng, bắt giữ nộp cho chúng những người kháng chiến; nhận bồi thường 4 triệu đôla, chiến phí cho Pháp và Tây Ban Nha (tương đương với 2.880.000 lạng bạc); bãi bỏ lệnh cấm đạo, mở cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên (bao gồm cả Hải Ninh) cho Pháp và Tây Ban Nha buôn bán; Pháp trao trả Vĩnh Long khi nào triều đình Huế dẹp yên cuộc khởi nghĩa ở Định Tường, Gia Định(4).

Sau Hiệp định tháng 6/1862, Tự Đức nhiều lần ra lệnh bãi binh cấm nhân dân lục tỉnh không được mộ quân chống Pháp(5), triệu hồi một số thủ lĩnh nghĩa quân như Trương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực(6).

Song cuộc kháng chiến của nhân dân ta vẫn tiếp tục và thắng nhiều trận lớn. chính bọn sĩ quan Pháp phải thừa nhận: “Mặc dù hòa ước đã được kí kết quân khởi nghĩa vẫn không chịu hạ vũ khí. Khắp nơi những người nổi dậy đi lại tự do, được dân chúng đón tiếp, rồi thu thuế báo hiệu cho chúng ta (Pháp) sắp phải cuốn gói khỏi nơi này… Chúng ta (Pháp) cảm thấy những khó khăn rất lớn trong việc thiết lập chính quyền trên một thuộc địa mới của chúng ta. Những toán quân khởi nghĩa được toàn xứ An Nam ủng hộ đã tỏa ra khắp các hướng”(7).

Tháng Tháng 11/1862, lần thứ hai Trương Định chống lệnh triệt binh của triều đình Huế chuyển căn cứ về Gò Công tiêu diệt nhiều quân Pháp. Quân Pháp phải điều viện binh từ Thượng Hải, Mani sang, mở nhiều cuộc tấn công lớn vào căn cứ nghĩa quân.

Ngày 1/5/1863, Chính phủ Pháp cách chức Tổng chỉ huy lực lượng quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam của thiếu tướng Bôna, cử thiếu tướng Hải quân Đờ la Gờrăng (De la Grandière) thay chức đó và kiêm chức Thống đốc Nam Kỳ. De la Grandière đã tốn rất nhiều xương máu của binh sĩ Pháp, súng đạn tiền bạc để tiêu diệt Trương Định. Do bị tên Đội Tấn làm phản, ngày 19 tháng 8 năm Giáp Tý, Tự Đức thứ 7 (1864), khuyên Trương Định trở lại thôn Phước Lộc để đánh úp Tân Thuận. Định tin lời. Tên Tấn báo cho quân Pháp đến phục kích. Trương Định bị trọng thương, ông rút dao tự tử. Con ông là Trương Quyền (Trương Tuệ) lên thay, chuyển địa bàn hoạt động về Tây Ninh. Từ tháng 2/1865 đến tháng 8/1867, tại lục tỉnh có các ông Võ Duy Dương, Quản Thành, Lê Đình Đường, Nguyễn Hữu Huân, A Xoa, một thủ lĩnh người Campuchia phát động nhiều cuộc chiến tranh chống Pháp.

Cuộc chiến đấu của nhân dân lục tỉnh Nam Kỳ làm cho kẻ thù khiếp sợ, chúng phải thừa nhận: “Việt Nam là một quốc gia kiên cường gắn bó với lịch sử riêng, thể chế riêng của mình và thiết tha với nền độc lập của mình. Trong các thế kỷ trước,, Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục trước quân xâm lược, họ biết đợt thời cơ… Tình trạng của chúng ta (Pháp) rất đỗi khủng khiếp bởi vì chúng ta phải đương đầu với một dân tộc thống nhất và tình cảm của dân tộc không phải đã bị suy yếu”(8).

Một tên thực dân khác cũng phải thú nhận: “Phải thấy rằng dân tộc Việt Nam đã có nghị lực kiên cường lắm mới đủ sức chịu đựng một cuộc chiến đấu quá ư dai dẳng như thế. Trước quân đội của chúng ta (Pháp) người Việt Nam chỉ có một cách duy nhắt là chết để bảo vệ nền độc lập, tự do của họ…”(9).


(1) Ngày 27/10/1868, Nguyễn Trung Trực bị quân Pháp xử chém ở Rạch Giá. Trước khi chết, ông thét vào mặt giặc: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.
(2)  Còn gọi là Trương Định nguyên quán ở Bình Sơn (Quảng Ngãi), con ông Trương Cẩm, lãnh binh Gia Định thời Thiệu Trị. Trương Định lấy vợ ở Tân An, Định Tường, Cha chết ông chiêu mộ dân lập đồn điền nên được bổ chức quản cơ. Tháng 1/1859, ông dẫn lính cơ đến đóng ở Thuận Kiều đánh Pháp. Năm 1861, Trương Định rút quân về Tân Hòa. Tháng 11/1861, ông làm phó lãnh binh tỉnh Gia Định, tháng 7/1862, ông được thăng chức lãnh binh An Giang. Triều đình ra lệnh bãi binh. Ông chống lệnh, quân Pháp dụ hàng không được, nhân dân, quân sĩ tôn ông làm “Bình Tây đại nguyên soái”. Ngày 18/9 năm Giáp Tí (1864) vì Đội Tấn làm phản, ông bị thương nặng rồi rút dao tự tử năm ông 44 tuổi. Con ông là Trương Quyền tiếp tục chỉ huy nghĩa quân.
(3) Thiếu tướng phó thủy sư đô đốc Đờ Giơniuy từ 1/9/1858 đến 1/11/1859; thiếu tướng Hải quân Page từ 1/11/1859 đén 15/5/1860; phó thủ sư đô đốc Sácne (Charner) từ 15/5/1860 đến 29/11/1861; thiếu tướng Hải quân Bôna (Bonard) từ 29/11/1861 đến 30/4/1862.
(4) Đăng Huy Văn… Phan Thanh Giản trong Lịch sử cận đại Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử tháng 3/1963.
(5) Đại Nam thực lục chính biên, Đệ tứ kỉ IV (1863-1865), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tập 30.
(6), (7) Officiere de le tat Mazor Hitoire militairre de Indochinol det débuts à nos our 1/1922 (Tập thể sĩ quan Tham mưu: Lịch sử quân sư Đông Dương từ đầu đến tháng 1/1922, Ideo Hà Nội).
(8) Fernard Bernard : L’Indochininoi, Erieuurs et Dangers (Đông Dương, những sai lầm và nguy hiểm). Charpeutier, Pái, 1901. (Bernard từng là đại úy trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam).
(9) Capitaine: Charles Goselin : L’empire d’Annam (Đại úy Sáclơ Gốtsơlanh: Vương quốc An Nam), Dé-Rin et cie - Paris 1904.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 02:23:16 PM »

Năm 1867, quân Pháp đã cơ bản chiếm được các tỉnh Miền Tây: Vĩnh Long, An Giang, Châu Đốc, Hà Tiên và đã đơn phương tuyên bố: “Lục tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp”. Chúng thiết lập bộ máy cai trị, đứng đầu là Thống đốc (Còn gọi là Đô đốc toàn quyền). Có các Sở Tham biện và Thanh tra viện giúp việc. Dưới cấp đó là cấp tổng có chánh tổng, phó tổng, dưới nữa là cấp xã có lý trưởng, phó lý đảm nhận việc cai trị.

Chuẩn bị cho việc đánh chiếm Bắc Kỳ, năm 1872, Soái phủ Sài Gòn phái Jean Dupuis là lái thương, nhưng thực chất là sĩ quan tình báo đem tàu buôn chở hàng hóa cùng tàu chiến có binh lính, súng đạn đi cùng xâm nhập vịnh Bắc Kỳ rồi theo đường sông Hồng đến Vân Nam (Trung Quốc) mặc dù chưa được phép của triều đình Huế.

Chuyến đi trót lọt cùa hắn càng làm cho hắn kiêu căng, ngạo mạn.

Tiếp đó, Soái Phủ Sài Gòn lại sai thiếu tá Sônét (Sonés) phái viên của Thống đốc Nam Kỳ ra Bắc liên lạc với Dupuis. Sonét chỉ huy tùa Lơ Buraynơ (Le Bourayne) thám thính các cửa sông vào châu thổ Sông Hồng bằng thuyền từ Hải Dương tới Lục Đầu Giang theo Sông Đuống tới Hà Nội. Cuộc trinh sát này không bị đe dọa, không gặp một sự kháng cự nào.

Ngày 20/11/1873, Thiếu tá Hải quân Phrăngxi Giocnhiê (Francis Garnier) hạ thành Hà Nội. Ngày 26/11/1873 quân Pháp chiếm Phủ Lý, Gia Lâm, Hoài Đức. Sau khi đánh chiếm được thành Hà Nội và các vùng lân cận Francis Garnier càng hung hăng, hắn lệnh cho các tỉnh phải triệt phá các vị trí phòng thủ, các cửa ải, bến tàu và yết thị các điều khoản thông thương.

Ngày 4/10 năm Quý Dậu (24/11/1873), Francis Garnier sai thiếu úy hải quân Baluy l’Avricourt và thiếu úy thủy quân lục chiến Trentinian chỉ huy đi một chiếc tàu con xuống Hưng Yên hỏi quan tỉnh có thuận điều ấy không. Tuần vũ Nguyễn Đức Đạt, án sát Tôn Thất Phiên phải quyền nghi trả lời rằng: “Hai cửa ải Mễ Đằng, từ sau vụ Hà Nội bọn gian đồ phiền nhiễu nên các quan đã bỏ trốn đi rồi, cừ dưới sông thì trước kia tiếp quan Khâm sứ nói có thuyền quý quốc đi qua nên đã nhổ hơn 10 trượng, nay tàu bè có thể tới lui không ngại gì, các điều khoản thông thương đã niêm yết”(1).

Tuần phủ Hưng Yên, Tôn Thất Đản hoảng sợ không dám chống cự, bỏ thanh trốn chạy, quân giặc chiếm thành một cách dễ dàng. Cùng ngày hôm đó, thành Thái Nguyên và thành Bắc Ninh cũng lọt vào tay quân Pháp(2).

Hạ được thành Hưng Yên, để đảm bảo mọi sự liên lạc với ngoài biển, Garnier quyết định đánh chiếm Hải Dương một địa điểm chiến lược quan trong, ông ta giao nhiệm vụ này cho trung úy Hải quân Balny.

Sự kiện trên được Thống sứ thứ nhất Bắc Kỳ viết trong cuốn: “Những năm đầu tiên của chúng ta ở Bắc Kỳ” như sau: “Ông Balny đưa quân đến trước thành Hải Dương. Viên Tổng đốc khăng khăng một mực khước từ không chịu xuống tàu yết kiến ông. Thời hạn của “Tối hậu thư” hết, ông cho quân đổ bộ dưới đạn lửa của những người An Nam. Từ tàu chiến Ripinhon (l’Rispignole) đại bác bắn yểm trợ cho quân tiến. Binh sĩ Pháp đánh tan một ổ súng đầu tiên, họ vượt qua rất nhanh và lao về phía chòi thành. Họ may mắn vượt qua luồng đạn từ các mặt thành bắn ra, nhưng rồi họ vấp phải một công sự mà không thể nào phá được cửa. Họ trèo lên tường và lọt vào trong thành thành lũy hẹp được bảo vệ bởi 3 khẩu pháo của lô cốt gốc và một khẩu pháo cửa. Sau loạt đạn đầu không gây cho họ tổn thất gì, họ chạy thật nhanh vượt qua cái cầu mặt hào và lại vấp phải chính cái cửa thành không phá nổi. Một người tên là Gôte (Gautherd) thử trèo lên song vô hiệu. Ácmăng (Hararmand) nẩy ý bắn một phát súng lục vỡ toang một trong các chấn song sắt phía trên cửa. Một phát thứ hai bắn gãy vụn cái bên cạnh. Balny liền bám lấy cái chấn song giật tung ra. Súng lục lăm lăm trong tay, ông làm cho bọn lính giữ thành phải hoảng sợ bỏ chạy. Bốn người theo ông. Ông đi về một phía với hai người, còn ông Harmand thì cùng hai người khác đi vòng quanh thành. Đờ Tơrăngtiniăng (De Trentinian) và viên bác sĩ cũng đuổi kịp họ. Mọi sự kháng chiến ngừng bặt, các binh sĩ An Nam đều ném khí giới xin hàng. Cờ nước Pháp được kéo lên cột cờ giữa thành…”

… Việc chiếm đóng Hải Dương xảy ra ngày 4/12/1873. Cùng ngày đó, thành Ninh Bình cũng bị hạ. Ngày 10/12, quân Pháp đánh chiếm Nam Định.

Qua những ngày bị động lúng túng, các tướng sĩ, sĩ phu phe chủ chiến đã tổ chức lực lượng quân đội và nhân dân phản công giặc, tiêu biểu là trận quan quân đã phối hợp với quân Cờ den do tướng Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy(3) đánh trận Cầu Giấy ngày 21/1/1873, viên thiếu tá hải quân Francis Garnier đang bàn chuyện với Trần Đình Túc tại Hà Nội thì nghe báo cáo quân Cờ đen do tướng Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy và một cánh quân của Triều đình tiến đánh Hà Nội. Thiếu tá Francis Garnier lên mặt thành bắn mấy phát súng rồi dẫn quân đuổi theo, đến Cầu Giấy thì quân Cờ đen tổ chức trận địa phục kích ở đó, đào hố trên đường, phủ cỏ lên. Garnier đến đó bị sa xuống hố, quân Cờ đen phục ở hai bên nên xông ra đâm chết, tên Balny l’Avricourt, tên chỉ huy hạ thành Hưng Yên cũng bị giết chết ở Voi Phục(41). Quân ta chặt đầu hai tên chỉ huy giặc cùng các tên giặc Pháp bị giết chết bêu đầu ở các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ một tháng(5).


(1) A de Mirbel: Phan Khoang: Việt Nam Pháp thuộc sử.
(2) Hưng Yên địa chí của Trịnh Như Tấu. Nhà in Ngô Tử Hạ xuất bản năm 1934.
(3) Tướng Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc thuộc phái “Thiên Địa hội” vào Việt Nam từ năm 1867 (trước dây lịch sử ta cho là Lưu Vĩnh Phúc thuộc phái Thái Bình Thiên Quốc vào Việt Nam từ năm 1863) (Lịch sử Quân sư số tháng 4/1998): Về quân Cờ đen công hay tội với nhân dân ta, có nhiều ý kiến. Nhưng đa số ý kiến thì cho rằng công của quân Cờ đen đối với nhân dân ta nhiều hơn tội vì họ đã hy sinh cả xương máu cùng nhân dân ta đánh Pháp lập được nhiều chiến công vẻ vang.
(4) Dullenman: Nhiệm vụ binh dịch và cuộc chiến đấu chống cướp bóc, Hải Dương 12/1932. Nguyễn Luận dịch, bản đánh máy T.V Hải Dương.
(5) Trương Bá Phát trong bài “Bọn Cờ đen hạ sát Frnacis Garnier” đăng trong tập san Sử Địa số 25 năm 1973, Nhà sách Khai Trí Sài Gòn ấn hành mô tả như sau:
“Cờ đen cũng là vũ khí. Cờ cao, khổ rộng, mầu đen, xung quanh biên có rất nhiều móc câu kín nhau. Mỗi khi đánh nhau quân lính vác cờ theo như là quân cầm cờ thường. Vác cờ đi gần tướng bên địch, đối phương ngồi trên ngựa thấy họ chỉ cầm lá cờ trên tay không có vũ khí nào khác, không lưu ý đề phòng. Quân Cờ đen kéo đi như gần kề bên mình ngựa câu móc vào bó chặt lại, tức thì người cầm cờ lôi người bị lá cờ quấn gọn xuống đất, bắt sống như chơi. Trường hợp Francis Garnier bị quân Cờ đen bắt giết là như vậy”.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 02:27:05 PM »

Sau khi thành Hà Nội và một số tỉnh khác ở Bắc Kỳ lọt vào tay quân Pháp, Tự Đức vội vàng cử Nguyễn Văn Tường gặp Fillat, đại diện Soái phủ Sài Gòn để thảo ra bản Quy ước tháng 1/1874. Bản Quy ước này có hai điểm đáng chú ý là: “Triều đình Huế không được đưa thêm quân ra các tỉnh thành Pháp trao trả, phải để cho quân Pháp được tự do đi lại trên đường bộ, đường thủy ở các tỉnh đố; phải ân xá những người đã cộng tác với Pháp…”(1).

Ngày 17/1/1874, Tự Đức phải ra dụ thả tất cả những kẻ cộng tác với Pháp trong việc đánh chiếm các tỉnh Bắc Kỳ.

Quân Pháp đã đạt được những mục tiêu đề ra trong cuộc tấn công Bắc Kỳ lần thứ nhất, nên từ ngày 31/12/1873 đến ngày 16/12/1874 quân Pháp đã trao trả các tỉnh thành chúng chiếm, chỉ để lại một số quân đóng ở Hà Nội, Hải Dương, Ninh Hải (nay là Hải Phòng khi đó thuộc tỉnh Hải Dương).

Ngày 15/3/1874, Triều đình Huế cử thượng thư Bộ Hình Lê Tuấn chánh sứ, tham tri Bộ Lễ Nguyễn Văn Tường phó sử vào Sài Gòn ký với Thiếu tướng Hải quân phó Thủy sư đô đốc kiêm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Nam Kỳ Đuypơrê (Dupré) hiệp ước “Hòa bình và Liên minh” còn gọi là Hiệp ước Giáp Tuất hoặc Hiệp ước Philatre với nội dung như bản Quy ước tháng 1/1874 giữ Nguyễn Văn Tường và Philát.

Hiệp ước có 22 điều khoản, nội dung chính là:

1- Triều đình Huế thừa nhận chủ quyền của Pháp trên phần đất Việt Nam kể từ địa giới phía nam tỉnh Bình Thuận trở vào Nam (điều 5).

2 - Nước Pháp thừa nhận chủ quyền của vua nước An Nam trên phần đất đai Việt Nam kể từ địa giới phía nam tỉnh Bình Thuận trở ra Bắc; thừa nhận nền độc lập hoàn toàn của nước Nam; nghĩa là nước Nam không phải lệ thuộc vào bất cứ cường quốc nào (điều 2).

3 - Vua nước Nam phải thi hành chính sách đối ngoại của mình cho phù hợp với chính sách đối ngoại của nước Pháp; về mặt chính trị, không được thay đổi những mối quan hệ ngoại giao hiện nay với Pháp; không được tự ý ký hiệp ước thương mại với bất kỳ một nước nào khác mà không báo trước cho chính phủ Pháp biết(điều 3).

4 - Xóa bỏ Hiệp ước đã kí ngày 5 tháng 6 năm 1862.

Sau khi ký hiệp ước ngày 15 tháng 3 năm 1884, thực dân Pháp chủ yếu củng cố bộ máy cai trị ở Lục tỉnh Nam Kỳ.

Với âm mưu thôn tính cả nước Việt Nam song thực dân Pháp ở Sài Gòn gặp khó khăn về quân số trang bị vũ khí và tiền chi phí chiến tranh. Song Soái phủ Pháp ở Sài Gòn tích cực chuẩn bị cho việc thống trị cả nước Việt Nam. Kế hoạch đánh chiếm cả nước ta được chúng thực hiện như sau:

Ngày 21 tháng 7 năm 1875, Thiếu tướng Hải quân kiêm Thống đốc Nam Kỳ Kran (Krantz) cử Rena (Rheinart) làm đại diện của Pháp bên cạnh Chính phủ Nam triều, đóng tại Huế. Việc bổ nhiệm Rena làm đại diện là căn cứ vào điều 20 của bản Hiệp ước ngày 15/3/19874. Đây thực sự là tiền thân của Khâm sứ Trung Kỳ sau này.

Thực dân Pháp không chỉ đặt “tai mắt” của chúng ở kinh đô Huế, mà ngày 26/8/1875, Thiếu tướng Hải quân kiêm Thống đốc Nam Kỳ cử Thiếu tá Hải quân De Kegaradec làm Lãnh sự Pháp ở Hà Nội.

Kecgaradec đâu chỉ chịu yên ở Hà Nội, trong 2 năm liền 1876, 1877 tên Lãnh sự này đã dùng tàu chiến nhiều lần đi thám sát tuyến đường Sông Hồng và đã rút ra kết luận: Sông Hồng có thể đáp ứng cho việc vận chuyển đường thủy, đáp ứng thị trường chè, vải, khoáng sản

Nhằm có khu vực đất đai riêng gọi là “Nhượng địa” ở Hà Nội, ngày 318/1875, Tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc và Tuần phủ Trần Hy Tăng đã ký với De Kecgaradec Lãnh sự Pháp tại Hà Nội bản Hiệp định “Nhường hẳn toàn bộ khu vực Đồn Thủy cũ cho Pháp để xây dựng Lãnh sự quán. Khu vực này rộng 15 hécta 50535 mét”.

Theo Hiệp ước “Hòa bình và Liên minh” ký ngày 153/1875 thì Pháp được đặt ở Hà Nội một “Lãnh sự quán’ với một lực lượng lính bảo vệ không quá 100 người.


(1) Mục 11 Hòa ước này ghi như sau: Chính phủ An Nam cam kết mở cửa thông thương cảng Thị Nại (Quy Nhơn) ở tỉnh Bình Định, Ninh Hải (Hải Phòng) ở tỉnh Hải Dương, thành phố Hà Nội và cho đi qua sông Nhị Hà (Sông Hồng) từ biển tới Vân Nam; một Hiệp ước kèm theo Hòa ước có giá trị như Hòa ước sẽ quy định những điều kiện của việc buôn bán.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 02:29:26 PM »

Với tham vọng khai thác mỏ than ở Hòn Gai, Đông Triều và chiếm cứ vị trí quân sự, kinh tế quan trọng ở vung Đông Bắc Bắc Kỳ, năm 1876, Đô đốc Đuyperê (Duperrré) cử hai kỹ sư Pháp là Phuyksơ (Fuclis) và Xalađanh (Saladin) bắt đầu đi thám sát vùng mỏ Hòn Gai, Kế Bào, Đông Triều. Đại diện Pháp bên cạnh triều đình Huế đã căn cứ vào Hiệp ước “Hòa bình và Liên minh” ký ngày 15 tháng 3 năm 1874 kịch liệt phản đối triều đình Huế cử sứ đoàn sang nhà Thành, coi đây là vi phạm nghiêm trọng Hiệp ước.

Sau một thời gian dài từ 1874 đến 1880 các Thống đốc Nam Kỳ liên tục đòi hỏi Chính phủ Pháp cho quân đánh chiếm Bắc Kỳ, song vẫn không được nghị viện và Chính phủ Pháp chấp nhận. Mãi đến tháng 7/1880, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Pháp Freycinet đề nghị với bạn đồng nghiệp Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa rằng nên chiếm Bắc Kỳ. Nhưng chẳng bao lâu nội các mà Freycinet làm bộ trưởng đổ. Nhưng hai người kế vị ở Bộ Ngoại giao là Barthelemy Saint Hilaire và ở Bộ Hải quân và Thuộc địa là thủy sư đô đốc Clouré cũng có ý kiến như Freycinet và soạn thảo một dự luật trình Hạ nghị viện xin ngân khoản thực hiện chiến tranh Bắc Kỳ.

Tháng 7/1881, Hạ nghị viện Pháp bỏ phiếu chấp thuận một ngân khoản để tăng cường lực lượng Hải quân Pháp tại Bắc phần Việt Nam. Sự chuẩn bị ngân khoản này thấy rõ quyết định của Chính phủ Pháp can thiệp mạnh vào Bắc phần Việt Nam.

Ngày 24/9/1881, Tăng Kỷ Trạch, quan cao cấp nhà Thanh cho Pháp biết rằng: “Trung Hoa không thừa nhận Hiệp ước 1874 giữa Pháp và Việt Nam và cũng nhấn mạnh rằng chính ngay việc Pháp thừa nhận nền độc lập Việt Nam cũng không thể làm thay sự bang giao sẵn có giữa Trung Hoa và Việt Nam”.

Tháng 1/1882, nội các Freycinet với Thủy sư đô đốc Jaure gui Beray làm Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa quyết định gửi hai đại đội tăng cường số quân Pháp đồn trú ở Hà Nội, Hải Phong. Đây chắc là dấu hiệu của những hành động sắp đến của Pháp. Trong tháng 3/1882, trung tá Hải quân Henri Rivère được phái ra Hà Nội ngày 3 tháng 4 và 17 ngày sau đánh chiếm thành Hà Nội.

Chiếm được Hà Nội, quân Pháp đánh tràn ra ngoại thành và đánh ra các tỉnh. Không tin vào lực lượng kháng chiến của nhân dân, Tự Đức ra lệnh bãi binh, ngăn cấm phe chủ chiến và nhân dân vũ trang đánh Pháp, Tự Đức ký nhiều Hiệp ước nhục nhã với Pháp và cầu cứu triều đình Mãn Thanh đưa quân sang giúp Việt Nam đánh đuổi quân Pháp, bất chấp sự phản kháng của nhân dân Việt Nam.

Nhà Thanh cũng có âm mưu xâm lược Bác Kỳ, nó được bộc lộ trong cuộc thương lượng giữa Chính phủ Pháp và triều đình Mãn Thanh từ tháng 5/1882 tại Paris và Bắc Kinh về vấn đề Việt Nam, Chính phủ Pháp không chịu nhượng bộ.

Tháng 8/1882, quân Thanh tiếp tục đóng ở Trấn Yên, tỉnh Hưng Hóa (nay thuộc tỉnh Yên Bái) nhằm xâu xé Bắc Kỳ với Pháp. Tháng 10/1882, quân Thanh lại tiếp tục kéo san đóng ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Ninh.

Năm Quý Mùi (1883) quân Pháp bắt đầu đánh rộng ra các tỉnh Bắc Kỳ. Ngày 12/3/1883, quân Pháp đánh chiếm Hòn Gai, đóng chốt ở Quảng Yên, phong tỏa vịnh Hạ Long.

Ngày 25/3/1883, tàu chiến Pháp do trung tá Hải quân Henri Rivière từ Hà Nội xuôi theo Sông Hồng đánh chiếm sông Vị Hoàng. Ngày 26/3/1883, chúng đánh thành Nam Định. Quân dân Nam Định chiến đấu dũng cảm, giặc phải tháo chạy, để lại nhiều xác chết.

Ngày 28/3/1883, Henri Rivière hạ thành Nam Định xong cho một toán bộ binh 15 tên cùng với bác sĩ Harnand đi trên một chiếc tàu nhỏ xuất phát từ Nam Định sang đánh thành Hưng Yên. Chúng phá kè ở cửa sông Luộc vì theo lệnh của Tổng đốc Vũ Trọng Bình, tuần phủ hưng Yên Nguyễn Đức Đạt đã dựng chướng ngại vật ở cửa Sông Luộc bằng 2 chiếc xích sắt và nhiều cọc tre để ngăn tàu chiến. Quân Pháp chỉ bắn 3 quả đại bác, kè đã tan tành, tàu qua lại ngang nhiên buộc quan quân phải trao thành cho chúng. Tuần phủ Nguyễn Đức Đạt, án sát Tôn Thất Phiên không dám chống cự là ra trình bày với chúng như sau: “Hai cửa Mễ Đằng từ hôm Pháp hạ thành Hà Nội đã bỏ trống, các quan và quân lính cũng rút hết còn cừ ở dưới sông cũng đã nhổ hơn 10 trượng, do quan Khâm mệnh đã tư cho biết có thuyền của quý quốc đi qua”(1)

Quân Pháp chiếm thành Hưng Yên không tốn một viên đạn. Số quan lại khác bỏ chạy vài ngày sau về hàng. Pháp cho giữ chức vụ cũ và sai đi mộ lính. Bọn này một được đội quân rất đông.


(1) Trịnh Như Tấu trích dịch trong quyển Notice của Ade Mitribel và quyển Notich sur la Gardière du Tonkin dẫn trong quyển Hưng Yên địa chí, nhà in Ngô Tử Hạ, xuất bản năm 1934.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 5506


Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 05:06:22 PM »

Phần thứ hai:

KHỞI NGHĨA BÃI SẬY

Giai đoạn thứ nhất

ĐINH GIA QUẾ GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ
“NAM ĐẠO CẦN VƯƠNG - BÌNH TÂY PHẠT TỘI”
(4/1883-7/1885)

CHƯƠNG I

TẬP HỢP NGHĨA BINH - XÂY DỰNG BÃI SẬY
THÀNH CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN

Ngày 27/3/1883, quân Pháp do trung tá Hải quân Henri Rivière chỉ huy từ Hà Nội theo Sông Hồng hạ thành Nam Định. Ngày 28/3/1883, Henri Rivière cho viên thiếu úy hải quân De Trentinia đưa một toán bộ binh đi một chiếc tàu nhẹ tới đánh thành Hưng Yên. Tuần phủ Nguyễn Đức Đạt, án sát Tôn Thất Phiên sợ hãi không dám chống cự, bỏ thành chạy. Quân Pháp hạ thành Hưng Yên không tốn một viên đạn(1).

Căm thù giặc Pháp xâm lược và vua quan triều đình nhà Nguyễn hèn nhát đầu hàng giặc Pháp, Đinh Gia Quế phất cờ khởi nghĩa.

Đinh Gia Quế sinh ngày 1 tháng 11 năm Đinh Dậu (1/2/1825) là con cụ Đinh Quý Công, hiệu Gia Phúc và cụ bà là Nguyễn Thị Bách, tương truyền quê ở xã Nghiêm Xá, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông(2). Đinh Gia Quế học đến khóa sinh thì chuyển đến làng Thọ Bình, tổng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh hưng Yên dạy học, sau làm Chánh tổng rồi thăng Chánh tuần huyện Đông Yên.

Đinh Gia Quế có ba bà vợ, chính thất là Nguyễn Thị Duyên, bà kế là Nguyễn Thị Hường, bà thứ kế là Nguyễn Thị Thao. Các bà sinh một trai là Đinh Văn Vĩnh, hai gái là Nguyễn Thị Duyên và Nguyễn Thị Hằng(3).

Khi giặc Pháp đánh thành Hưng Yên, các quan sợ hãi bỏ chạy, có một số về theo Pháp khiến chánh tuần huyện Đông Yên Đinh Gia Quế phẫn nộ, ông từ quan về quê chiêu mộ quân đánh Pháp. Nguyễn Đình Mai là người đầu tiên được Đinh Gia Quế đưa chủ trương khởi nghĩa chống Pháp ra bàn. Nguyễn Đình Mai đã nhiệt liệt đồng tình và có nhiều ý kiến xác đáng về tổ chức lực lượng nghĩa quân, về xây dựng căn cứ và phương châm tác chiến. Ông cũng là người đề xuất không thể lấy danh nghĩa “Chánh tuần huyện Đông Yên” để chiêu mộ quân mà phải có chức tước của một vị võ quan. Hai ông lựa chọn mãi mới quyết định lấy chức “Đổng quân vụ”(4), gọi tắt là Đổng Quế. Hai ông cũng quyết định lấy màu đỏ là màu cờ của vua Quang Trung khi xưa ra Thăng Long tiêu diệt quân Thanh làm cờ của nghĩa quân trên nền cờ viết tám chữ “NAM ĐẠO CẦN VƯƠNG - BÌNH TÂY PHẠT TỘI”(5) tức là đạo quân nước Nam giúp vua đánh đuổi giặc Pháp.

Trong khi Đinh Gia Quế giương cao cờ khởi nghĩa, phát lệnh “Đánh cả Triều lẫn Tây” thì ở nhiều làng xã trong phủ Khoái Châu cũng có các thủ lĩnh khác nổi trống chiêu quân.

Tại làng An Vỹ, tổng An Cánh, huyện Đông Yên có Chánh tổng Nguyễn Đình Học, mây đời làm tổng lý giàu nổi tiếng ở Khoái Châu, nhà có trên 60 mẫu tư điền, thổ cư rộng trên 3 mẫu. Ông có ba con trai là Nguyễn Đình Đề, Nguyễn Đình Tính, con thứ ba đến nay con cháu không nhớ tên, chỉ biết tên tục là Ba Sành(6), con ông chú là Nguyễn Đình Xuyên.

Tuy là tổng lý, có thế lực, nhà giàu, nhưng cha con ông đều là những người yêu nước, thương dân. Thở đó ở xung quanh phủ lỵ Khoái Châu, làng xã thưa thớt, xung quanh đều là bãi sậy um tùm, là sào huyệt của nhiều đám cướp. Để bảo vệ dân làng cả ba thôn Thượng, Trung, Hạ của xã An Vỹ đều đắp lũy, đào hào, trồng me gai xung quanh. Mỗi thôn chỉ có hai cổng ra vào chính, cánh cửa bằng gỗ lim dày, có bánh xe để di chuyển. Trai tráng được vũ trang để chống giặc cướp.

Cụ Tổng Học thành lập đội chống cướp của xã An Vỹ có tới trên 30 người do Ba Sành chỉ huy. Ông Tổng có mời thầy về dạy võ cho con cháu và trai tráng trong xã. Độ quân chống cướp của xã An Vỹ không những bảo vệ xa mình, mà còn hỗ trợ cho các xã lân cận đánh đuổi giặc Tàu Ô, giặc biển theo Sông Hồng tràn vào.


(1) Trịnh Như Tấu trích dịch trong quyển Notice của Ade Mitribel và quyển Notich sur la Gardière du Tonkin dẫn trong quyển Hưng Yên địa chí, nhà in Ngô Tử Hạ, xuất bản năm 1934.
(2) Tháng 5/2008, chúng tôi cùng ông Nguyễn Quốc Hùng chắ tcủa Đinh Gia Quế về Nghiêm Xá, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội để tìm hiểu về dòng họ Đinh ở đây. Ông chủ tịch xã và các cố lão cho biết ở Nghiêm Xá xưa có họ Đinh, nhưng đã thất tán trên 100 năm nay.
(3) Các ông Nguyễn Sơn Hà, Nguyễn Quốc Hùng, cháu bốn đời và anh Nguyễn Văn Ứng, cháu năm đời, cụ Đinh Gia Quế cung cấp theo gia phả con cháu cụ đổi sang họ Nguyễn từ khi cuộc khởi nghĩa tan rã.
(4) Các tài liệu của Pháp như Les Provinces du Tonkin Hưng Yên của De Miribel, bản đánh máy tháng 12/1904; Notice sur la Provice de Hưng Yên của Tòa sứ Hưng Yên, bản đánh máy tháng 1/1933 và các nhà sử học Việt Nam đều viết Đinh Gia Quế tự xưng là Đổng Nguyên Nhung. Nay chúng tôi căn cứ vào gia phả của họ Đinh (con cháu vẫn mang họ Nguyễn) và truyền ngôn ở làng Thọ Bình đều nói ông xưng là Đổng Quân vụ.
(5) Từ trước đến nay các tài liệu của Pháp cũng như của Việt Nam đều viết “Cờ của ông có bốn chữ Bình Tây phạt tội” không nói rõ cờ màu gì. Thực ra đây chỉ là cụm động từ, đứng trước nó phải có một cụm danh từ. Cũng theo gia phả òng họ Đinh, thì cờ màu đỏ, thêu tám chữ “NAM ĐẠO CẦN VƯƠNG - BÌNH TÂY PHẠT TỘI”. Chúng tôi cũng không rõ cờ thêu bằng chỉ vàng hay chỉ viết bằng mực tàu đen. Có khả năng chỉ viết bằng mực tàu màu đen.
(6) Minh Thành trong bài “Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 122, 123 tháng 5, 6/1969 viết: “Tính có hai người em là Lãnh binh Nguyễn Đình Quý và Ba Sành cùng tham gia chống Pháp. Cả hai người đều bị thực dân Pháp bắt và giết năm 1889 và trong đó Lãnh Quý tỏ ra rất dũng cảm”. Chúng tôi căn cứ vào gia phả họ Nguyễn Đình ở An Vỹ, lời kể của cụ Đàm Thị Nhỡ vợ cụ Trường, cháu đích tôn cụ Tính và tài liệu của thực dân Pháp.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM