Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Kỷ niệm 5 năm ngày Diễn đàn chính thức hoạt động (31/5/2007 - 31/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Năm, 2012, 07:21:17 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội  (Đọc 11317 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Thành viên
*
Bài viết: 754


« Trả lời #140 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:21:16 PM »

                                     Tiếp theo :

      Mẹ tôi nhìn tôi nói rõ ràng từng tiếng một: “Con thu xếp về dưới ấy ngay, kẻo không còn kịp”. Trước ánh mắt ngơ ngác của tôi, ba quay đi, nói như người sắp hụt hơi: “Cũng đã đến lúc con cần phải biết hết mọi chuyện”.

 
    Tôi về đến nơi, tất cả đã muộn màng.

Ba tôi cắm thêm mấy nén nhang trước phần mộ mới đắp nằm trên một gò cao. Từ đây nhìn hút ra xa kia, vẫn có thể thấy được mặt sông loang loáng nắng, thấp thoáng hàng cây rậm ven bờ. Ba tôi cúi mặt, hai tay thu vào lòng. Ông già đi cả chục tuổi. “... Hồi đó, khi ba được điều về công tác bí mật vùng này thì bà ngoại con đang sống cảnh mẹ goá con côi. Ba ẩn náu nhà ngoại non sáu tháng thì bị lộ, do bọn chiêu hồi chỉ điểm. Đêm ấy, ba vừa từ ngoài lọt vào thì bọn lính ập tới. Không còn con đường nào khác, ba tông vách lá bay ra ngoài. Bà ngoại với má con liều chết xông vào giằng kéo chúng để cản đầu súng. Ba lao xuống sông thoát được, nhưng bà ngoại bị chúng bắn chết tại chỗ. Má con thì bị lôi về đồn, bị tra tấn đến liệt cả hai chân. năm đó má con mới vừa mười bảy...”

Mấy làn khói mong manh, run rẩy vờn lên quanh bia mộ. Không có một tấm ảnh nào lưu lại để tôi có thể hình dung cô gái tên Lành mười bảy tuổi năm xưa – ngây thơ và quyết liệt. Ba tôi đốt thêm một nén nhang trao cho tôi rồi vòng tay sau gối, mắt dõi ra sông, lặng lẹ. Ôi! Không biết trong hơn bốn mươi lăm năm qua, đã bao lần người cán bộ binh vận trẻ trai ngày nào từng ngồi như thế, một mình với những hồi ức âm thầm và day dứt?

... Năm 1965, khi bọn lính nguỵ ở đồn Rạch Tràm rút chạy, người cán bộ binh vận có dịp quay lại Phước Chỉ. Anh tìm Lành, cô bé của sáu năm về trước. Chân Lành, sau những trận đòn thù hồi ấy, không còn bình thường nữa. Lâu lâu, cô vẫn bị những cơn đau nhức hành hạ. Mặc dù vậy, Lành vẫn nhất quyết tham gia công tác bí mật. Lúc chia tay cô gái côi cút, anh cán bộ trẻ ngậm ngùi tặng cô chiếc khăn rằn làm kỷ niệm. Anh không hề ngờ rằng món quà đơn giản ấy đã để lại sau nó cả quãng đời thanh xuân tươi trẻ của Lành. Năm sau, từ vùng địch anh về quê ở Đôn Thuận. Ở đó, có bà má nuôi và cô em kết nghĩa đang cưu mang đứa con trai mồ côi của anh, như đã từng cưu mang nó suốt tám năm qua kể từ khi người vợ trẻ của anh ngã xuống trong một trận đánh quyết liệt ở Bồi Lời. Gặp lại con anh mừng thấy nó khoẻ mạnh, khô ngô. Nhìn thằng bé quân quít bên “bà nội” và âu yếm gọi cô gái bằng mẹ, anh hiểu ra rằng cuộc đời của nó, và cả của anh nữa từ nay không thể tách rời cái tổ ấm thân yêu này. Đám cưới, chỉ một mâm cơm cúng ông bà và vài bà con cùng xóm. Được mấy ngày thôi, anh lại đi. Năm 1972, khi phong trào diệt ác phá kìm ở Phước Chỉ lên cao, anh được điều về lần nữa. Anh gặp lại Lành, bàng hoàng hiểu ra từng ấy năm ròng, cô chờ đợi... Hay tin anh đã có vợ, cô gái – nay đã luống tuổi – lặng người đi. Rồi cô xót xa nói với ah – tuổi xuân của cô đã qua. Chẳng còn gì để mà chờ nữa. Giờ cô chỉ mong có một đứa con. Anh đã khóc khi ôm cô vào lòng.

Nhưng đứa con của niềm mong đợi cũng không ở lâu được với Lành. Nó lên một tuổi rưỡi thì Lành bị thương nặng trong một trận công đồn. Cô bị địch bắt. Đứa bé được tìm cách đưa đến cha nó. Rồi lại đưa về Đôn Thuận. Người vợ hiền dịu của anh cán bộ binh vận, suốt bao năm đằng đẵng chờ chồng đã phải ngậm ngùi, chua xót nhận thêm một đứa con không phải do chính máu thịt của mình...

Ba tôi ngừng kể. Ông thoáng nhìn tôi, vẻ bối rối, e ngại. Tôi cúi mặt không rõ mình đau xót cho ai. Cho chính tôi - đứa con gái hai mươi tuổi đầu mới rõ cội nguồn. Cho anh hai tôi đến ngày nằm xuống cũng không hề biết người dì chết trẻ vẫn thờ trong nhà bấy lâu mới là người đã rứt ruột đẻ ra anh? Hay cho cả hai người mẹ cả đời mất mát của tôi? Ba tôi nói như van xin: “Thảo ơi! Suốt đời ba cứ ăn năn. Ba đã làm cho cả hai người đàn bà yêu thương ba đều khổ. Mẹ con trên ấy là người mẹ tốt nhất trên đời. Ba yêu quý và biết ơn mẹ con. Nhưng má Lành con cũng là người đáng thương, đáng trọng. Bao nhiêu năm ba về đây cũng vì muốn đỡ đần, bù đắp phần nào cho người đã rứt ruột đẻ ra con. Bà ấy chẳng còn ai bên cạnh. Bấy lâu, ba mẹ giấu kín mọi chuyện vì sợ các con buồn rầu, nghĩ ngợi. Má Lành cũng không muốn làm xáo trộn cuộc sống êm ấm của con. Bà ấy tự biết mình không thể lo cho con được đầy đủ như mẹ con, và cũng không sống được bao lâu...” Tôi nắm bàn tay xương xẩu của ba tôi, lắng nghe từng nhịp run rẩy của nỗi dằn vặt suốt những tháng năm dài dồn nén lại. Ba tôi đã già rồi!

 
  Tôi ở lại Phước Chỉ hơn một tuần, rồi trở về thị xã. Mẹ tôi chắc đang đứng ngồi không yên. Ba tôi đòi đưa tôi ra tận ngoài bến đò, nhưng tôi không chịu. Ông đành đứng trên bờ rạch nhìn theo, dặn với: “Nói với mẹ, vài hôm nữa ba về”.

Xuồng rời khỏi ngã ba sông. Tôi còn thấy cái dáng khòm khòm, nhẫn nại thấp thoáng sau vòm lá. Khách, trên xuồng khá đông, phần lớn là người đi chợ Trảng. Hình như ai cũng quen nhau. Tiếng cười nói râm ran, ồn ã. Thỉnh thoảng có một vài chiếc ghe đi ngược chiều. Tiếng kêu gọi í ới lại nổi lên nhộn nhịp. Xuồng lướt mỗi lúc một nhanh. Hàng cây bên bờ nối nhau chạy lùi lại phía su. Những cây cà na, chắc không phải mùa nên không thấy trái. Nắng sớm trong veo, óng ánh trên mặt nước không ngừng chao động. Ngồi co gối, ôm cái túi xách nhỏ, trong có lọ cà na muối vào lòng, lắng nghe tiếng gió vun vút bên tai, tôi khép mắt lại... “Năm nào, đến mùa cà na rộ, má con cũng muối sẵn để dành. Đợi hoài không thấy con về, má con cứ bắt ba phải mang về trển cho được...” Tôi vừa thấy ba tôi quay mặt giấu đi một giọt nước mắt vừa ứa ra, chưa kịp rơi xuống. Tôi lại thấy những trái cà na xanh đầy nhựa, đắng đắng, chua chua và con bé con mười hai tuổi tay cầm cây sào trúc, thẩn thơ hết cây này sang cây khác. Theo sau, là tiếng nạng tre lọc cọc, những ánh mắt âu yếm dịu dàng... “Cà xa xanh hơi đắng, nhưng muối kỹ với đường ăn cũng được lắm, con à! Để khi nào dì khoẻ khoẻ...” Ôi! Tất cả đều đã xa xăm... Úp mặt vào tay mình, tôi khóc...

 Nhất Phượng
Logged
vmt
Thành viên
*
Bài viết: 754


« Trả lời #141 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:27:45 PM »

                              Chuyện nhỏ bên cung đường trường sơn
                              Tác giả : Nguyễn Đức Thiện

        Ông Kim về đơn vị xe máy chúng tôi mới được một thời gian ngắn nhưng sự xuất hiện của ông làm xôn xao dư luận đơn vị. Ông lì xì ít nói, không oang gào quát nạt như mấy vị chỉ huy đội xe mà ta thường gặp.

Người ta đồn rằng ông từng là lính lái xe Trường Sơn. Người ta còn bảo, ông đã lái chiếc Gin- khơ chạy xuyên Việt một mạch vào Sài Gòn, kịp ngày giải phóng miền Nam trong đội hình của đoàn 559 lừng danh. Đồn thì đồn vậy, chứ ai biết thực hư ra sao. Chỉ biết ông đang là thủ trưởng của tụi tôi. Một ông thủ trưởng lạnh lùng, khó gần.

Từ ngày ông về, nếp làm việc có thay đổi chút ít. Mỗi tuần, ông họp với các đội xe, đội máy xúc, đội xe gạt… một lần. Mỗi lần không quá một tiếng đồng hồ. Giao việc mới, nhận xét việc cũ, giải quyết việc mới phát sinh. Hết. Ai vào việc nấy. Các ngày trong tuần có việc gì đã có các đầu mối giải quyết. Thỉnh thoảng ông xuống các đội, ghi chép công việc vào cuốn sổ tay nhỏ vừa bằng chiếc túi áo bộ đội bạc màu của ông. Cán bộ thế cũng thích, ít nói, làm… vừa đủ sức.

Nhưng nói thực, chúng tôi hơi có ý coi thường.

 Như tôi chẳng hạn.

Tôi là anh lái đại xa từ lâu đã nổi tiếng là anh “đại phớt” ở xí nghiệp xe máy này. Với vóc dáng cao lớn, với khuôn mặt to bè và cặp mày rậm đặt ngang trên đôi mắt lúc nào cũng lạnh lùng càng tôn thêm vẻ lì lợm. Tôi mà đã ngồi lên xe thì một lèo, đi, đến, và chúa ghét chuyện tạt ngang tạt ngửa giữa đường. Anh em cùng lứa khen tôi là biết “chí thú làm ăn”. Chẳng biết có đúng thế không vì đấy là lúc xe tôi hoàn toàn tốt… Còn lúc xe hỏng thì sau khi hết phận sự của một anh lái xe, tôi phó mặc chuyện sửa chữa cho mấy cậu thợ. Đến bao giờ sửa xong là chạy. Những lúc đó tôi tranh thủ ngủ, ngủ tới phị mắt ra thì thôi. Được cái cánh lính thợ sửa chữa ở chỗ tôi cũng khá, nên chẳng mấy lúc tôi được ngủ quá hai ngày. Từ ngày về đây, tôi cứ thế mà sống và làm việc. Thủ trưởng nào thì cũng vậy thôi.

Tất nhiên, nếu chỉ có thế thì chẳng có việc gì phải kể về tôi và ông Kim làm gì. Chuyện giữa tôi và ông đã xảy ra.

Hôm ấy, tôi đưa xe về bãi sau một chặng đường khá vất vả. Trăm sự vì cái ống dẫn đầu. Nó vỡ. Dọc đường, tôi phát bẳn lên vì chốc chốc tôi phải dừng lại tìm cách bịt chỗ vỡ cho xe ậm à ậm ạch chạy về. Tới bãi, để mặc chiếc xe đấy, tôi chạy ào vào gặp tổ trưởng sữa chữa:

- Này, xe tớ bị hỏng cái ống dẫn đầu, mai cho sửa, hả?

Chẳng biết cậu ta có nhận lời không, tôi về. Sáng hôm sau, tôi ngủ một giấc đẫy. Gần trưa, bỗng có người nắm chân tôi, lắc:

- Dậy, Tấn! Xe cộ thế nào mà nằm đây hả?

Tôi ậm ừ và mở mắt. Ông Kim đang đứng bên giường tôi. Dáng lủn củn của ông không cao quá cái dây căng màn. Tôi đáp gọn:

- Xe hỏng!

- Hỏng gì?

- Ống dẫn dầu. Tôi báo sữa chữa rồi mà.

Tôi uể oải dậy. Ông vẫn chưa chịu buông tha:

- Dẫn tôi ra xem sao, đi!

Đành phải đi. Tôi dẫn ông ra xe và chỉ cho ông xem cái ống dẫn dầu đã bị tôi “băng bó” ngày hôm qua. Ông bảo tôi:

- Tháo ra, cậu!

Tôi cười nhạt. Thì tháo.  Loại ống dẫn chuyên dụng này trong kho làm gì có. Phải thay toàn bộ hệ thống ống dẫn dầu, phải vẽ, phải đặt hàng, phải tiện mới… bao nhiêu cái “phải” nữa, còn khướt cái xe này mới chạy nổi. Tôi điềm nhiên tháo ra và đặt cả cụm dẫn dầu vào một cái khay. Chỉ chờ có thế ông bê lấy cái khay. Tôi trố mắt nhìn theo, và càng ngạc nhiên hơn khi thấy ông bê tuột xuống nhà bếp. Tôi vội chạy theo ông.

Ông làm thì nhanh lắm. Vài phút là xong. Quay lại thấy tôi, ông thủng thẳng:

- Mang ra, lắp vào xem sao.

Tôi chẳng mấy phục, bê ngay lấy cái khay. Bỗng nghe ông giật giọng:

- Khoan đã…

Tôi dừng lại. Ông bảo:

- Nhặt cái bu loong và con ốc kia cất đi.

- Cái thứ bỏ đi…

Tôi chưa dứt lời thì ông đã át đi:

- Tôi bảo cậu nhặt thì nhặt lên. Bỏ nó vào thùng phụ tùng ấy… Thế nào cũng có lúc dùng đến đấy…

Mươi phút sau, chiếc xe của tôi nổ giòn. Ông đứng bên cửa chiếc xe, tay chắp sau lưng, nghe tiếng máy nổ. Tôi bức bối và ngứa ran khắp người. Không chịu được, tôi cài số, toan cho xe đi. Ông kêu lên:

- Khoan! Khoan đã…

Tưởng có chuyện gì, tôi phanh xe lại, chờ ông ném cho tôi chiếc áo bộ đội lúc nãy tôi vắt ở chiếc cọc rào cạnh đó.

Tôi khoác chiếc áo vào vai, ấm ức, khó chịu. Nhưng thôi, mặc, đi đã. Hôm ấy tôi quên cả bữa ăn sáng.

    Đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ hành quân lên công trường làm đường Hồ Chí Minh. Nghe được lên Trường Sơn cánh lính xế chúng tôi xem ra phấn khởi lắm. Chuyện đường mòn Hồ Chí Minh nghe mãi rồi, nghe như chuyện cổ tích, bây giờ được đến tận nơi nhìn tận mắt ai mà không thích. Chúng tôi hăm hở lên đường.

 Ông Kim lại chính là người chỉ huy đoàn xe chúng tôi.

Cuộc hành quân chấm dứt khi chúng tôi đến một vùng rừng núi hoang vu của Trường Sơn. Tách khỏi những con đường nhựa phẳng phiu, đoàn xe len lách trên những con đường chỉ còn mờ mờ dấu vết cũ. Chắc là đường của những cuộc hành quân ngày xưa. Là chúng tôi đoán như vậy. Cỏ dại đã mọc ken dày. Đã có những cây con mọc lên. Nhưng giữa mênh mông rừng già vẫn cứ nên hình, nên dáng con đường. Trong khung cảnh ấy, tôi bỗng như cũng thấy có cái gì đó náo nức. Bỗng: Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn... Bỗng: Xe không kính không phải vì xe không có kính… Bỗng: Hết rau rồi em có lấy măng không… Những câu thơ, những câu hát như thế vang lên cùng với những cái đánh tay bẻ lái của chúng tôi khi tiến vào những con đường ngoằn nghoèo xưa.

Ngày khởi công, đoàn xe chúng tôi xếp hàng giữa một cánh rừng, giống y như những đoàn xe được chiếu trên phim về chiến tranh trước đây. Ông Kim có một bài diễn văn thật hay:

- Thưa các đồng chí. Hôm nay chúng ta trở lại con đường xưa mà cha anh chúng ta đã đi. Con đường đã làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Con đường Hồ Chí Minh. Con đường xưa ác liệt và đẫm máu của đồng đội chúng ta. Còn con đường hôm nay, con đường đưa đất nước đi tới ấm no, giầu mạnh…

Tôi không mấy cảm tình với ông, nhưng khi ông kết thúc bài diễn văn, tôi cũng vỗ tay đến rát bỏng.

Chỉ có một ngày vui, còn sau đó công việc bắt đầu. Rừng rộn lên những tiếng xe gầm rú và cả tiếng mìn nổ phá đá. Chúng tôi bắt đầu vào guồng quay của ông Kim.

Chẳng hiểu ông ta tổ chức thế nào mà cánh lái xe chúng tôi cứ thúc vào đuôi nhau mà chạy. Chạy liên hồi, tay quay vô lăng rã rời. Chả thế mà có cậu đạt năng suất gấp đôi định mức. Tôi cũng bị cuốn vào cơn lốc chạy xe ấy. Tôi đóng chốt trên ghế xe. Mấy ngày liền tôi có tên trên bảng tên thi đua và là một trong những lái xe được khen thưởng nhiều lần. Kể cũng thích. Nhưng vốn tính cũ, tôi vẫn tỏ thái độ thờ ơ, nhất là đối với ông Kim mỗi lần thấy ông ra hiện trường, gặp xe tôi, ông giơ tay vẫy vẫy, tôi vẫn phớt.

 
                                   
Logged
vmt
Thành viên
*
Bài viết: 754


« Trả lời #142 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:29:44 PM »

                       Tiếp :

  Sau cái vụ “ống dẫn dầu”, tôi mới biết rằng, khối cậu đồng nghiệp với tôi đã bị những cú như thế. Đứa thì cái gioăng, đứa cái phớt. Đứa thì chiếc bu-lông, chiếc ê-cu. Chẳng hiểu sao, cứ đến lúc có chuyện gì ở xe, bất cứ xe nào, thế là ông ta có mặt. Từ đó, cánh lái xe đành phải tự lo lấy mọi thứ: bảo dưỡng lấy xe, lo lấy xăng dầu, tự tìm giẻ lau… “Xem ra ông Kim là tay thợ khá đấy!”, có người đã nhận xét như thế. Tôi thì tôi chẳng tin chút nào, vài cái trò lặt vặt, xá gì. Theo tôi, là chỉ huy trưởng thì phải khác kìa. Khác thế nào, tôi không hình dung được nhưng nhất định là không phải cái trò vặt đó.

Như tôi đã giới thiệu, tôi vốn là một lái xe lì lợm. Xe đã chạy là chạy, đã đỗ là đỗ. Đỗ rồi thì đừng có bảo tôi nhúc nhích làm gì cho mệt. Cho nên hôm đó, lùi xe vào vị trí chờ đổ đất xong, tôi ngồi trong cabin và chờ. Mãi không thấy đất đổ xuống. Tôi ngó đầu ra khỏi cửa xe, bấy giờ mới thấy cậu Vĩnh lái máy xúc vẫy tôi rối rít, ra hiệu cho tôi lùi lại chút nữa. Cái thằng lười biếng, vươn tay gầu ra một tý thì sao. Tôi nghĩ thế và lại thụt đầu vào cabin. Mặc hắn, sốt ruột hắn khắc phải vươn gầu ra, hơi đâu. Lại mấy phút nữa trôi qua vẫn không thấy đất đổ xuống thùng xe. Bỗng có tiếng đập cửa xe ầm ầm. Tôi thò đầu ra. Ông Kim đứng cạnh cửa và trừng trừng nhìn tôi. Ông nói khẽ mà như quát:

- Xuống!

Thì xuống. Tôi mở cửa xe và nhảy đại xuống. Chân tôi vừa bén đất, ông Kim đã chui vào xe tôi. Chiếc xe cựa mình lùi lại. Đang bực nhưng tôi cũng bị bất ngờ vì  cú lùi tuyệt diệu của ông. Chẳng cần nhớm nhứ gì, cứ như được tính toán rất kỹ lưỡng, chiếc xe nằm chết ngay ở vị trí thuận lợi nhất cho đất từ  gầu xúc trút xuống thùng xe. Gầu thứ ba vừa đổ xong, chiếc xe lao đi, không một hòn đất nào văng ra ngoài. Tôi trở thành người thừa. Buộc lòng tôi phải ngồi buồn thiu bên thùng nước hiện trường mà ngắm chiếc xe của tôi đi đi, về về ngay trước mắt. Tới chuyến thứ năm, ông nhảy xuống, lại bên tôi và bảo:

- Lên xe đi. Công trường không chờ cậu đâu…

Tôi vội vã lên xe. Mặt tôi nóng rát. Ngượng có, mà bực cũng có.

 
   Bữa đó, chẳng hiểu thế nào mà suốt từ sáng sớm ông Kim cứ xoắn xuýt bên chiếc xe của tôi. Bằng kinh nghiệm mà xét thì chắc là xe tôi có vấn đề. Cứ nhìn cung cách của ông thì rõ. Ông hết leo lên thùng xe, lại chui vào buồng lái của xe, tay vặn vặn, gõ gõ chỗ này, chỗ khác. Nhìn ông mà tôi trờn trợn. Lúc tôi bật cửa xe leo lên, ông mới khẽ khàng bảo tôi:

- Xe vừa bảo dưỡng xong, lái chú ý nhé! Có gì thì báo ngay cho tôi biết.

Lần này, tôi khẽ vâng một  tiếng thay cho cái  gật đầu và đôi mắt nhìn lừ lừ thường thấy ở tôi. Tuy thế, nhưng khi đã nhấn ga, mùi dầu hăng hắc quen thuộc  bốc lên rồi, thì máu tôi cũng như sôi lên theo. Tôi lách xe vượt luôn mấy chú xe ben “châu chấu” trên con đường dốc hiện trường. Đánh tay lái, đi một đường cua gọn gàng rẽ vào chỗ chiếc máy xúc làm việc, tôi trở thành người xếp hàng đầu tiên, đằng sau chiếc “W 1001” của Vĩnh. Vĩnh giơ tay vẫy tôi và gào lên chào:

- Ê, Tấn “Von-vo phớt” bắt đầu rồi hả?

Bắt đầu rồi. Cánh tay gầu khoa một vòng rất đẹp sau khi vục một gầu đất đầy ắp. Xe tôi rung lên. Một, hai, ba… lên đường. Chẳng hiểu sao, hôm nay tôi vui đến thế. Vui đến nỗi tay tôi cài số, chân tôi nhả côn, nhấn ga đều uyển chuyển như múa vậy. Mọi người xung quanh tôi hôm nay bỗng đẹp hẳn lên. Hình như ai cũng đang nhìn tôi và cười. Qua mỗi chiếc xe, bạn bè lại bấm còi chào tôi, những tiếng còi đến là nghịch. Hai tiếng một. Ba tiếng một. Tiếng ngắn, tiếng dài,… tùy tính mỗi đứa mà nhấn nhả khác nhau. Xe tôi lăn bánh trong cảm giác vui vui. Khi lên đến mặt đường, thấy ông Kim đang lúi húi ở đó tôi bấm còi chào ông. Tiếng còi của tôi bao giờ cũng thế, ngân một hồi dài, ai không quen nghe thấy dài đến sốt ruột. Ông Kim mỉm cười nhìn tôi, tay chỉ chỉ vào xe. Chắc là ông nhắc tôi. Chà, ông ta cẩn thận thật.

Xe tôi yên lành chạy hết đựơc hết ca sáng. Bữa cơm giữa ca xong, tôi leo lên ca - bin  ngồi chờ đến giờ làm việc buổi chiều. Trong tôi vẫn giữ cảm giác khi sáng và vì thế mà tôi sốt ruột chờ cậu Vĩnh.

 Nhưng có lẽ cái đường làm ăn của tôi nó có sự trắc trở thế nào ấy. Đựơc một ngày làm việc đầy khí thế thì lại không trọn vẹn. Chuyến thứ nhất của ca chiều hôm nay sự chẳng lành đã xảy ra. Tôi vẫn hăm hở đưa xe ra mặt đường, lùi sát tận chỗ đổ đất thì cho xe dừng lại. Quen như mọi khi, chiếc xe vừa chớm đỗ tôi đã cho dốc ben. Ngay lập tức tôi nhận thấy xe rùng mình một cái rất mạnh. Tôi vội dừng lại, ngó về phía sau chiếc ben đã nghiêng đi chút ít, nhưng vẫn an toàn. Tiếp tục. Bỗng tôi nhận ra ông Kim đang hớt hải chạy lại phía tôi, hai tay xua rối rít. Chắc ông lại muốn nhắc tôi phải cẩn thận! Tôi mỉm cười và cho chiếc ben dốc ngược dần lên. Bất ngờ xe tôi lắc một cái rất mạnh, rồi như bị ai vặn chéo đầu xe đi. Cả chiếc xe bềnh lên… Không kịp nhận ra trời đất gì nữa tôi vụt ra khỏi cửa xe. Tôi to lớn là vậy mà lách gọn ra được cái khuôn cửa kính, lăn trên đất mấy vòng, lúc ngồi dậy được thì chiếc xe đã lật nghiêng, hai bánh nằm ngang trước mắt tôi, khe khẽ quay. Tôi ngồi bệt ở dưới đất, nhìn vào bụng chiếc xe. Những cầu, những bánh, những ốc… như chọc vào mắt. Mắt tôi không làm sao chớp được. Ông Kim đứng bên tôi từ lúc nào. Ông cũng im lặng như tôi… Tôi chán nản đứng dậy lách qua mấy cậu lái xe đứng quanh từ lúc chiếc xe bị đổ, lẳng lặng về lán ở. Tôi ngồi bó gối trên chiếc giường xếp suốt buổi chiều, cơm cũng chẳng thiết đi ăn nữa. Miệng tôi đắng chát, nuốt làm sao được.

 Tối.

Tôi đứng dậy ra đường. Đôi chân lững thững bước. Tôi đi mà chẳng định đến đâu. Trong đầu tôi hàng mớ suy nghĩ bộn bề. Thế là hết. Từ biệt những con đường. Từ biệt mùi dầu thơm thơm hăng hắc. Từ biệt vành tay lái nhẵn bóng, từ biệt những luồng gió mát rượi mỗi lúc xe lao vun vút về phía trước… Từ biệt! Rồi đây sẽ bắt đầu từ cái gì? Chẳng hiểu sao tôi lại đi về chiếc nhà bạt dành cho ban chỉ huy công trường làm việc. Mãi tới tận cửa nhà, tôi mới nhận ra và vội vã dừng lại. Trong nhà ánh điện hắt ra từ chiếc bóng đèn tròn sáng trưng. Ở đây không có điện, buổi tối, máy nổ chạy lình kình một chốc để mở máy phóng thanh cho anh em nghe đài. Hết câu chuyện đêm khuya hay tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam là nghỉ. Tôi biết ở trong nhà bạt  ấy có tờ biên bản tai nạn xe đang chờ tôi ký vào, để rồi sau đó… Tôi không muốn nghĩ nữa và toan quay đi. Bỗng tiếng anh đội trưởng đội xe của tôi vang lên, làm tôi giật mình:

- Anh Kim ạ! Trường hợp cậu Tấn, tôi đề nghị chuyển việc khác và chờ kỷ luật.

Im lặng. Gió từ những cánh rừng lùa về lành lạnh. Sương đêm rơi lộp độp trên mái nhà bạt, nghe như tiếng mưa. Tiếng loa phóng thanh đều đều từ trong những lán công trường vẳng về, xa lắc. Nghe đâu đó có tiếng cười của anh em trong đơn vị. Một lát sau mới có tiếng ông Kim:

- Đành rằng cậu ta có lỗi là không kiểm tra xe kỹ trước khi làm việc. Nhưng chúng ta cũng có lỗi. Hôm trước khi nhận xe về có phải cậu và tôi đều nhận thấy vết rạn ở chốt ngang của thùng xe không? Tại sao ta vẫn cứ nhận xe về. Lúc chiếc xe lật, tôi đã xem lại, cái chốt rạn đến một nửa. Nhưng vì bụi bám vào, không thấy rõ. Mình không kỹ lưỡng khi nhận bàn giao xe. Xe nó chịu được gần hai mươi chuyến đất buổi sáng là quá lắm rồi… Theo tôi thì thế này. Hiện còn chiếc xe ben nhỏ của cậu Bản bên trung đội ba đó. Cậu ấy bị sốt rét chắc phải vài tuần nữa mới hồi sức được. Giao chiếc xe ben nhỏ ấy cho cậu Tấn. Kỷ  luật vẫn phải kỷ luật, nhưng… dù sao cậu ta vẫn là người tốt, có năng lực. Chỉ phải cái…

Tôi biết ông nhắc đến sự  lì lợm và đại phớt” của tôi. Ông nhắc nhiều. Hình như chưa bao giờ ông nói nhiều như thế, lại nói về tôi. Tôi im lặng đứng nghe, nghe đến mức ông dừng lại từ bao giờ mà tôi không biết. Đầu tôi cúi gầm xuống.

- Tấn à?

Tôi giật mình choàng tỉnh. Ông Kim đang đứng trước mặt tôi. Ông thấp hơn tôi đến nửa cái đầu. Bóng đêm không cho tôi nhận ra gương mặt ông lúc này. Không biết ông có còn nét buồn cố hữu trên mặt không? Nhưng cứ nghe tiếng ông gọi thì thấy ông đang rất buồn. Một cái xe phải rời hiện trường, một lái xe bị loại khỏi vòng chiến đấu, không buồn sao được. Tôi khẽ nói:

- Báo cáo thủ trưởng…

Ông Kim đã khoác ngay lấy cánh tay tôi như kiểu rủ tôi đi dạo.

Con đường trong đêm như một vệt sáng. Trời không trăng mà vẫn thấy rõ bóng dáng con đường. Chân tôi lựng khựng bước trên mặt đường mới đổ đất và mới được xe lu cán sơ sài. Còn phải mấy lớp đá nữa rồi mới đến chuyện đổ bê tông nhựa. Còn lâu lắm. Tất cả mới chỉ bắt đầu, tất cả vẫn chỉ là thô nhám. Bao giờ mới là con đường thực sự, chưa biết. Có khi nó thực sự thành con đường thì chúng tôi lại đến tận đâu đó để nối dài những cung đường mới. Công việc của chúng tôi là thế.

Tôi không chịu đựng được cảnh cứ lững thững đi dọc con đường mà bên cạnh, ông Kim không nói lời nào. Tôi lại lên tiếng trước:

- Thưa thủ trưởng…

Ông Kim ngắt lời:

- Cậu Tấn này, cậu có thấy đất dưới chân mình còn mềm lắm không? Mềm hả? Phải thôi, còn mới mà. Sẽ đến một ngày nào đó, dất dưới chân mình sắt cứng lại. Thế mới thành đường được chứ. Phải không?

Quả thực tôi không biết có phải ông Kim đang cho tôi một bài học hay không nữa. Nhưng tôi cứ thấy nó thấm vào người nghe xốn xang lạ lùng. Ông Kim vẫn như đang trong mạch chuyện của mình:

- Hồi sắp kết thúc chiến tranh ấy mà, tớ cũng là một lái xe, nhưng trẻ hơn cậu bây giờ nhiều. Khi được biên chế vào đội hình binh đàn 559, mình sướng muốn phát điên. Nhưng cậu có biết không, hồi đó bọn tớ được gọi là lính nhặt ống bơ! Biết sao không? Lúc chiến dịch vào những ngày cuối, tớ chở lính mới chạy tuốt vào đến Sài Gòn, chẳng phải đánh nhau trận nào. Thế nên anh em mới gọi tụi mình vào Sài Gòn để nhặt ống bơ, cậu hiểu chưa. Đời lái xe của tớ cay cú nhất là cái đận đó. Là anh lính lái xe ngày ấy mà không biết đường Trường Sơn thì không phải là lính lái xe. Hơn thế nữa, tiếng là ra mặt trận mà chẳng được ngửi mùi thuốc súng. Tức chết được. Các cậu bây giờ có thể cho là tụi tớ cứ làm cho lớn chuyện lên, quan trọng hoá vấn đề. Nhưng thực đấy. Hôm nay được đi trên đường Trường Sơn xưa, được mở lại đường Trường Sơn xưa, chà thích thật… Cậu có nghe tiếng con chim rừng nó đang hót không? Đêm còn nghe chim hót. Chim từ quy đó. Tiếng xa, tiếng gần. Cậu có thấy không? Chúng đang gọi nhau. Du dương và sâu lắng quá phải không?

Tôi không còn biết lúc đó thủ trưởng của tôi là anh lính lái xe, là ông chỉ huy, hay là nhà thơ nữa… Ông chẳng còn nhắc gì đến chuyện tôi. Còn tôi cũng bỗng quên hết mọi chuyện buồn rầu vì cái xe bị hỏng, lẳng lặng bước bên cạnh ông Kim, nghe ông nói và tự cho phép mình hít căng vào lồng ngực mùi thơm đất mới, hương rừng ban đêm và tưởng tượng về con đường Trường Sơn huyền thoại xưa. Tiếng rừng đang xào xạc, gió reo, lá rơi, chim đêm gọi bạn… Và tiếng bước chân hai chúng tôi.

Rừng đêm hình như không hề ngủ.

 
Nguyễn Đức Thiện
Logged
vmt
Thành viên
*
Bài viết: 754


« Trả lời #143 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:35:43 PM »

                                            Chốt gió
                                            Tác giả : Trần Mạnh Hà

 Chiếc lưỡi gió thè ra trượt dài theo từng hẻm đá sâu hun hút rồi phả thốc lên đồi. Gió rú rít, gầm gè, xoáy cuộn tưởng có thể hất tung cái chòi gác nhỏ bé, chơ vơ... Bỗng bất thần hiện ra một bàn tay khổng lồ vô hình chặn giữ, chiếc lưỡi gió rụt dần, co lại, tan loãng ra... Chỉ còn tiếng vi vu nhè nhẹ…

Thế mà đã ba năm. Ba năm kể từ ngày tôi vác ba lô ngược dốc. Con đường mòn vắt vẻo như sợi dây thừng. Tiếng gió thổi âm âm. Ba năm. Một khoảng thời gian không dài nhưng ăm ắp kỷ niệm. Nó tựa cuộn phim câm chập chờn trong ký ức...

 
Buổi chiều tôi đưa anh Hải xuống núi. Bây giờ trời đang chớm đông. Những vạt rừng co ro trong cái lạnh leo heo. Anh Hải chậm rãi bước, bờ vai trĩu xuống. Tôi lóng ngóng đi bên cạnh. Chiếc ba lô bạc phếch nhàu nhĩ bám đầy bụi. Con Jôn lúp cúp chạy theo, đôi mắt chớp buồn. Nó đã bao lần phải chứng kiến cảnh ra đi của những người thân. Hai bên đường, đôi vạt sim mua ngả màu tím tái. Lơ thơ những chiếc lá bạc phơ, se quắt. Dưới khe sâu, vọng lên thứ âm thanh trầm trầm của nước. Sau những trận mưa dầm, nước từ muôn con lạch nhỏ trào tuôn không ngớt. Phía xa xa, đối diện hút tầm mắt là những vạt rừng dẻ xanh lịm. Thấp thoáng ẩn chìm đâu đó vài nóc nhà tí xíu tựa hồ như thứ đồ chơi trẻ con.

Xuống hết con dốc thứ nhất, anh Hải vẫy tôi dừng lại nghỉ. Chúng tôi ngồi bệt xuống vạt cỏ may bông đâm tua tủa. Con Jôn rúc vào giữa hai người, giương đôi mắt đen láy chờ đợi. Anh Hải xoa đầu nó, khẽ khàng: “Jôn ở lại ngoan, ít lâu nữa tao trở lại. Đừng buồn, còn có mọi người mà…”. Rồi ngoảnh sang tôi, anh cười, nụ cười hơi gượng gạo: “Thôi em ở lại, hãy cố gắng lên. Cuộc đời không phụ mình đâu. Anh tin em sẽ làm tốt công việc…”. Tôi cúi đầu: “Dạ, anh đừng lo, em sẽ cố gắng. Chỉ mong anh…”. Tôi bỏ lửng câu nói, lòng dâng lên một nỗi nghẹn ứ. Im lặng. Thời gian ngưng lại trong buổi chiều vàng vọt. Tôi chợt thấy hồn mình hoang mang, trống trải…

 
Sau ba tháng huấn luyện thao trường Sơn Tây, vào một buổi sáng, tôi cùng ba mươi hai chiến sĩ hăm hở leo lên chiếc xe ca quân sự lên đường nhận nhiệm vụ mới. Nơi đến thì chưa rõ chỉ thấy kháo nhau là vào một đơn vị miền Trung. Tôi cũng dân miền Trung, nơi mấy thằng bạn tân binh đặt cho cái biệt danh là dân “cá gỗ”. Nhưng cũng chẳng lấy làm phiền hà vì điều ấy. Lính cứ tếu táo cho vui, chết ai đâu mà sợ, vả lại quê nào mà chẳng có những giai thoại. Xã tôi có năm thằng cùng nhập ngũ thì phân đi ba đơn vị. May mắn, tôi và Dũng, hai thằng cùng làng được về một nơi.

  Quê tôi bên một dòng sông nhỏ. Mùa nắng, nước lững lờ xanh ngăn ngắt. Mùa mưa, nước cuộn lên đỏ quạch phù sa. Ở đó, trên cái rẻo đất nhô ra chỏn vỏn mấy nóc nhà. Trước đây, gia đình tôi nằm trong làng. Tôi lọt lòng và được quây bọc giữa vòng tay hai người phụ nữ. Bà nội và mẹ. Ông nội mất lúc cha tôi còn là một gã trai làng lệch nghệch.

Tôi mồ côi mẹ từ nhỏ, quãng lên năm. Bóng dáng mẹ như một vệt mờ trong ký ức. Nó hiện hữu bằng bức ảnh trắng đen ngả màu trên bàn thờ. Hồi đó, cha tôi còn chiến trận bên đất Campuchia. Vào cữ giữa thu, trời làm mưa dầm dề không ngớt. Nước sông dâng lên tràn bờ. Tôi bị sốt nặng. Mẹ tất tả đạp xe mấy chục cây số để bốc thuốc. Khi về, chắc trời lạnh, đường trơn, lại nhịn đói từ sáng sớm nên lúc chỉ còn cách làng một quãng ngắn thì bị trượt xuống sông. Dòng nước xiết lạnh đã cướp đi mạng sống của mẹ. Mãi tận xế chiều mọi người mới vớt được xác trôi xuống tận làng bên dưới…

Mấy năm sau thì cha tôi về. Một buổi sớm mùa đông ảm đạm. Dáng người gầy gò trong bộ quân phục bạc màu. Gương mặt xanh xao, đôi mắt sâu mệt mỏi. Cha tôi vẫn thường xuyên bị những cơn sốt rét hành hạ. Năm tôi mười ba tuổi thì bà mất sau một trận ốm thập tử nhất sinh. Căn nhà nhỏ cha làm nơi thờ tự hương khói. Cha vào xã xin được mảnh đất hoang ngoài bờ sông cất một căn lều nhỏ. Cha đưa tôi ra đấy, lâu lâu mới trở vào làng. Người vốn dĩ ít nói nay gần như câm lặng. Chiều chiều, cha lặng lẽ ra bờ sông ngồi, dáng khắc khổ cô đơn nhìn vệt nước buồn chảy. Có vẻ như bao nỗi khổ đau, cay đắng, người thầm gửi cho dòng sông trôi xuôi…

 
  Ngày thứ năm sau khi đến đơn vị mới, tôi được điều về làm công vụ cho thủ trưởng Tài. Vác ba lô lên, trong lòng hồi hộp lắm. Mới tò te làm lính, cứ bảo gặp thủ trưởng là lại thấy sờ sợ. Cũng chỉ cảm giác vậy thôi chứ việc gì đâu mà sợ. Thủ trưởng Tài vóc người đậm, chắc như cây gỗ nghiến. Gương mặt thoạt nhìn rất nghiêm khắc. Cặp môi hơi nhợt mà sau này tôi biết là do có thời gian dài thủ trưởng công tác ở một đơn vị đóng quân vùng rừng thiêng nước độc nên bị nhiễm phải căn bệnh gì đó. Căn bệnh khá lạ, nó ngủ lim dim trong cơ thể, lâu lâu lại thức dậy hành hạ ông. Thủ trưởng hỏi tôi về gia cảnh, nghe xong ông trầm ngâm một chút rồi nhỏ nhẹ: “Cứ yên tâm công tác, còn gì khó khăn, khúc mắc thì đề đạt lên nghe chưa. Đừng làm gì để cha ở nhà buồn.”.

 

Công việc của một anh lính công vụ nhàn nhạt, đơn điệu. Cũng chỉ loanh quanh, luẩn quẩn khu vực nhà các thủ trưởng. Thằng Dũng về đội bảo vệ. Thỉnh thoảng gặp, nó cười khì khì: “Răng rồi ông bạn, về với các thủ trưởng sướng chớ! Học được chi hay không? Số cậu là may mắn đó!”. Tôi gãi đầu, gãi tai: “Ờ…ờ..thì cũng rứa mà. Mà mi nhiều chuyện vui thì kể nghe coi. Tau thấy mi mặt hí hửng gớm!”. Dũng gặc gặc cái đầu tóc rễ tre lởm chởm: “Vui lắm! Hì.. hì..Bọn tau đi tuần đêm tuần ngày vất vả chớ, nhưng mà vui. Hôm nào rảnh, tau kể cho mi nghe…”. Tôi thấy nó nói mà lòng băn khoăn. Ai cũng bảo tôi được các thủ trưởng ưu ái. Thế nhưng tôi thì lại ước ao được như bọn nó. Nghe nói vác súng đi tuần cũng nhiều điều thú vị. Đơn vị trải rộng trên diện tích mấy chục cây số vuông, rải rác dọc theo những trảng đồi cao và vách đá dựng đứng. Các đại đội bảo vệ nằm xen kẽ ở từng khu vực. Cây rừng trùng điệp, bạt ngàn xanh. Hồi mới đến, tôi choáng ngợp trước vẻ hùng vĩ và thơ mộng của những cánh rừng. Tôi thường hay tưởng tượng tới những điều kỳ thú khi khám phá sự bí mật ở thiên nhiên. Tơ mơ sáng, cả đơn vị bỗng bừng tỉnh bởi tiếng hót của vô số loài chim rừng. Chúng sà xuống, thậm chí nhảy cả vào lan can từng phòng vểnh những con mắt nhìn ngờ nghệch. Ở quê tôi khác, cây cối ít nên chim chóc cũng ít. Tôi chỉ biết làm bạn với lũ trẻ chăn trâu suốt ngày lao tùm tũm dưới bến

Tôi viết thư về cho cha, nửa tháng sau thì nhận được hồi âm. Trong thư cha nhắc nhở đủ điều. Cuối thư, cha bảo cô Liễu gửi lời hỏi thăm. Cô Liễu là hàng xóm nhà tôi. Sau ngày cha làm nhà ngoài bờ sông được vài năm thì gia đình cô Liễu cũng xin miếng đất ra ở riêng gần đó. Lúc ấy, chồng cô Liễu đang ngồi tù. Chồng cô mang án mười hai năm, đã thụ được ba năm. Chồng cô đi tù vì tội buôn bán thuốc phiện. Cô Liễu da trắng, tóc dài, người mây mẩy. Hình như cái nắng không đủ sức làm da cô sạm đen hay tại đêm đêm cô thường xuống sông tắm, dòng nước gột rửa, kỳ cọ cô đến trắng ngần như củ sắn mới bóc vỏ. Đến mùa, cha tôi cày giúp nhà cô. Nửa buổi, cô xách ấm chè đặc cùng mớ khoai, rá lạc ra đồng. Cô giục cha con tôi nghỉ. Hai má đỏ chín vì nắng, cô ngồi bên ve vẩy quạt cho chúng tôi, miệng cười tủm tỉm khi nhìn những bắp chân, bắp tay cuồn cuộn lấm bùn của cha…

Nhà có hai mẹ con, cái Hạnh ít hơn tôi hai tuổi, người kẹp nhép lại dài như cây sậy. Nó thường hay sang nhờ tôi giải hộ toán. Tuy không được giỏi nhưng tôi cũng võ vẽ bày cho nó được. Vả lại, hơn những hai lớp mà không bày được thì nó cười cho ê mặt.

 

Ở gần sông lại trống trải bốn bề nên sợ nhất là mùa bão. Gió ngoài sông quật ngược lên làm kèo cột, cửa giả rung bần bật. Mỗi lần bão đến cha tôi lại chong đèn thức suốt đêm. Cha nhìn ngọn đèn trầm tĩnh, chờ đợi. Cái đài radiô nhỏ chốc chốc kêu rèn rẹn thông báo bản tin thời tiết. Tiếng mưa sầm sập lẫn tiếng sét nổ xé trời làm tôi giật nẩy mình chồm dậy.

Có lần, bão đổ bộ vào ban ngày. Gió mưa gào rú mờ mịt từ sáng sớm. Đến trưa thì bắt đầu ngớt. Đây chính là lúc tâm bão đi qua. Gió rít mạnh khủng khiếp. Cột kèo rung lên kèn kẹt. Mái tranh thốc ngược bay phấp phới. Cha đi đi lại lại như sắp sửa bước vào trận đấu. Bỗng nghe tiếng cô Liễu kêu thất thanh từ bên vườn vọng sang. Cha dặn tôi trông chừng rồi phóng ra ngoài trời…

Một lúc lâu, gió bắt đầu giảm. Chắc bão đã dần qua. Đợi mãi không thấy bóng dáng cha, tôi đứng ngồi phấp phỏng. Thế là tôi đội mưa vọt sang. Cửa nhà trên mở toang.

Tôi lủi xuống bếp. Chái bếp nhỏ làm bằng tre bị gió cuộn lên lắc lư, chao đảo. Cha đây rồi. Cả cô Liễu nữa. Hai người đang gò lưng kéo sợi dây chão buộc ốp vào xà nhà. Cha dùng chân trụ, tay ghìm dây xiết chặt vào cọc tre đóng ngập trong đất. Cô Liễu vít xuống, người cô nhấp nhổm đè ập vào lưng cha tôi. Toàn thân cô ướt nhèm, da thịt tròn căng, lồ lộ. Sợ cha quát, tôi nép vào cánh cửa nhìn he hé. Buộc xong nút dây cuối cùng, cha xoay người đứng dậy. Bất ngờ, cô Liễu ôm chầm lấy cha. Cha bối rối, ngượng ngập. Tôi nghe rõ được cả tiếng nói lào phào của cô: “Anh… anh ơi… Mẹ con em mang ơn anh nhiều lắm. Em... Mà… mà em cũng thương anh…”. Cha tôi thở mạnh. Đôi mắt cha không dám nhìn cô Liễu, mà cúi gằm. Rồi cha nắm lấy vai cô ẩy nhẹ ra. Cô Liễu ngồi thụp xuống bưng mặt khóc. Cha nhẹ nhàng: “Thôi đừng khóc Liễu ạ. Anh hiểu được tình cảm của em. Nhưng mà… Rồi còn chồng em, còn các con…”. Cô Liễu không nói gì, cúi đầu thút thít…

                                                                   *

   Buổi sáng, thủ trưởng Tài gọi tôi lên phòng. Chắc có việc gì đó. Hoá ra là bảo tôi mang chú chó nhỏ ba tháng tuổi lên chốt. “Anh em trên ấy cũng muốn nuôi một con chó cho vui cửa vui nhà. Cậu mang lên, chọn con đẹp nhất ấy. Đến chiều thì về. Cứ theo đường tuần vòng ngoài mà đi một mạch. Khi nào đến nơi hẵng biết!”. Nói rồi thủ trưởng nháy mắt cười.

Cún nhỏ mà tôi có nhiệm vụ mang đi là lứa con đầu tiên của Mích mẹ. Mích mẹ rất đẹp. Lông nó màu mun, ức nở, đùi thon, thế ngồi như sư tử cái, nhưng rất hiền lành. Từ ngày lên làm công vụ, tôi kiêm luôn việc chăm sóc nó.

Ba chú cún mũm mĩm, tôi chọn lấy một con đẹp nhất có bộ lông màu đen tuyền. Cún con này tôi đặt tên là Jôn.

Chốt là dãy nhà cấp bốn đóng chênh vênh trên đỉnh một ngọn đồi. Ở đó, có một tiểu đội làm nhiệm vụ chốt giữ, tuần tra vòng ngoài trên quãng đường biên giáp ranh giữa đơn vị và nhân dân địa phương. Tuyến đường dài khoảng năm kilômét. Từ dưới chân dốc nhìn lên, chốt trông như một cái chuồng chim bồ câu. Tôi thắt chặt giày, xốc quân phục, vai đeo sọt đựng cún con và bắt đầu ngược dốc. Thỉnh thoảng cún lại kêu ăng ẳng. Chắc nó nhớ mẹ. Cũng có thể nó nhìn thấy cảnh sắc hai bên đường lạ lẫm quá. Hơn một tiếng vừa leo vừa nghỉ, thở ra cả bằng mũi, mồm và…hai tai thì tôi mới lên tới đỉnh.

Thực ra ngôi nhà khá lớn chứ không phải như tôi nghĩ. Nó được xây kiên cố, vững chãi và rộng đến năm gian. Cổng làm bằng những thanh gỗ tròn đóng rất đẹp. Bên trong, thấp thoáng một vườn rau xanh tốt. Mấy con gà chạy loăng quăng. Có cả tiếng hót lảnh lót của chú chim khướu bên hè nhà.

Tôi đang đứng lơ ngơ thì bỗng có tiếng ai đó làm tôi giật mình: “Lính mới à? Làm chi mà ngẩn tò te rứa. Chắc mê rồi đúng không? Vào nhà đi em!”. Hoá ra có người đứng sau lưng tự lúc nào mà tôi không biết. Người đó cỡ tuổi xấp xỉ ba mươi, mặc quân phục, vai đeo quân hàm trung uý. Tôi lúng túng: “Dạ, em từ dưới ban chỉ huy lên. Thủ trưởng Tài bảo mang cho các anh…”. Tôi đang lựa lời nói sao cho văn vẻ, chẳng lẽ lại bảo là mang cho các anh con chó. Anh trung uý đã cười khà khà: “Biết rồi! Vô nhà đi, thủ trưởng Tài có điện cho anh hồi sáng. Anh là Hải! Hải tiểu đội trưởng! Em chắc mệt, chưa leo dốc khi mô đúng không? Lính mới thế là khá đấy!”.

Hôm đó, mãi nhập nhoạng tôi mới xuống núi.

 
  Cái lý do để tôi xin lên chốt cũng có một phần tham dự của con Jôn. Tuy nhiên, thần tượng của tôi lại là anh Hải. Đã không dưới vài lần tôi được nghe kể về anh. Anh từng vô số lần lập thành tích, được tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Ví dụ như anh đã ba lần phục bắt được những tay săn thú đột nhập vào khu vực rừng cấm của đơn vị. Rồi việc anh băng xuống khe nước chảy xiết để cứu một đứa trẻ tìm trâu đi lạc vào rừng. Một lần, anh Hải có việc xuống ban chỉ huy, gặp tôi trước sân, anh vồn vã: “Con Jôn lớn lắm rồi. Nó nhớ cậu đó, khi mô rảnh, xin thủ trưởng lên chốt chơi nha”. Tối về phòng nằm gác tay lên trán, tôi nghĩ lung lắm. Thằng Dũng đã chuyển ra đại đội cảnh vệ. Nó sướng thật, mới gần một năm mà đã biết hết nơi này nơi nọ. Tôi thì cứ quanh quẩn mãi ở cái chân công vụ. Viết thư cho bạn bè không biết kể thế nào. Ai lại bảo là đun nước, rửa ấm… chán chết đi được! Mấy lần thủ trưởng Tài gặp có hỏi: “Đã chán làm lính công vụ chưa. Có muốn về đâu thì cứ nói, đừng ngại gì cả.”. Hình như thủ trưởng cũng đoán được phần nào cái ý nghĩ trong tôi. Đêm ấy, tôi tự hỏi sao mình không xin lên chốt nhỉ. Lần trước, tôi đã cảm thấy khoan khoái vì bị hớp hồn bởi không gian trong suốt thanh sạch cùng vẻ đẹp hùng vĩ của núi đồi. Tôi mê mẩn đến nỗi mà anh Hải giục mấy lần tôi mới chịu về. Vả lại, người ta nói đi lính là để thử sức trai. Sợ khó khăn, gian khổ thì đâu phải là người lính. Phải lên trên đó để biết sức mình tận đâu. Phải phấn đấu để được như anh Hải, để được mọi người nhìn mình bằng ánh mắt tin yêu, cảm phục. Trước hết là để thằng Dũng nó lác mắt lên cái đã! 

Mấy hôm sau tôi háo hức vác ba lô ngược dốc. Thủ trưởng Tài sau khi nghe đề đạt nguyện vọng của tôi thì vỗ vai thân mật: “Được đấy, trên đó cũng đang thiếu người. Cậu Hải có xin bổ sung nhưng chưa điều động kịp. Lên đó, nhớ giữ gìn sức khoẻ, trên cao, gió máy thất thường, lại phải đi tuần đêm…”. Tôi chợt hiểu, thủ trưởng lo lắng, dặn dò tôi như với một người con. Mười mấy năm gắn bó cùng mảnh đất này, đơn vị là tổ ấm, là quê hương thứ hai của ông vậy.
Logged
vmt
Thành viên
*
Bài viết: 754


« Trả lời #144 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:38:18 PM »

                             Tiếp :

  Vào những mùa đông, cả một vùng đồi núi bao la mù mịt một màu sương xám lạnh. Buổi sáng, đến tám chín giờ mà chưa rõ mặt người. Xế chiều, độ ba bốn giờ, ánh ngày đã chìm khuất sau lớp sương núi. Giá lạnh theo gió từ trong các hẻm sâu ùa lên, quấn chặt, hú dài, rỉ riết…

Cơm sáng xong, anh Hải rủ tôi xuống thăm bác Vương. Từ chốt trượt xuống dốc về phía tây khoảng hai cây số thì đến. Bác Vương lên đây lập trại độ chừng dăm năm. Bác là cựu chiến binh. Nói là trại cho oách chứ thực ra chỉ là cái chòi nhỏ nép cạnh một cửa hang lớn. Hang này gọi là hang “chỉ huy”. Ngày trước, hồi chống Mỹ, khoảng năm bảy mốt, bảy hai có một đại đội thông tin về đây. Họ lấy hang đá này làm trung tâm chỉ huy cho các bộ phận lẻ nằm rải rác quanh vùng. Phải nói cái hang có một vị trí đắc địa. Nếu đứng ở cửa hang nhìn ra thì bên phải là dãy núi đá cao sừng sững, trước mặt là những triền đồi nhấp nhô xanh ngút cây rừng, bên trái, ngay gần hang là con suối nhỏ trong vắt rì rầm chảy.     

Bác Vương rót cho chúng tôi mỗi người một chén rượu thuốc bắc nhỏ xíu, khẽ khàng: “Rượu tốt thì phải uống ít thôi. Như rứa thì nó mới ngấm dần vô cơ thể, có tác dụng các chú ạ.”. Anh Hải cười nhỏ nhẹ: “Bữa mô, bác phải để cho cháu một chai bác nhé. Bác có loại nào hay hay không…”- Anh Hải chợt thoáng đỏ mặt: “Cái loại bồi bổ ấy đấy. Cháu lấy vợ ba năm rồi mà chưa có con. Không biết có phải do ít về nhà hay tại cái khoản ấy…”. Anh Hải bỏ lửng câu nói, vẻ mặt anh hơi trầm xuống, buồn buồn. Bác Vương tư lự: “Ờ…cũng phải phấn đấu có đứa con cho nó vui. Đàn bà xa chồng mà không có con thì buồn lắm. Để rồi khi mô về phép bác cho bài thuốc dùng thử…”

Buổi tối hôm ấy, Lúc tôi đi tuần ca 21 giờ về thì thấy anh Hải ngồi như bức tượng đá phía sau chốt. Sương khuya từng lớp mù mịt phủ xuống đôi vai mảnh khảnh của anh. Hình như anh không quan tâm đến mọi sự. Cái dáng mờ mờ tạc vào đêm một dấu chấm than cô lẻ. Tôi định hỏi điều gì đó nhưng thấy mình vô duyên lại thôi. Chắc anh đang có tâm sự. Đúng vậy! Khi tôi khẽ khàng nằm xuống bên cạnh Ngọc, thằng bạn lính cùng nhập ngũ, quê ngoài bắc, bỗng dưng nó nhỏm dậy rồi ghé sát vào tai tôi: “Anh Hải đang có chuyện buồn gia đình.” - “Sao? Chuyện buồn chi, mi nói tao nghe coi?”- “Tao cũng chỉ láng máng. Lúc chập tối, tao đang dọn đồ trong bếp thì có điện của anh Hải. Tao không nghe trộm nhưng rõ là tiếng anh trả lời giận dữ lắm. Hình như có chuyện gì đó ở quê. Lúc sau lên, tao thấy vẻ mặt anh tái nhợt, đôi mắt vằn đỏ. Tao không dám hỏi, rồi anh ra ngồi ngoài sương từ đó…”.

Chuyện buồn này mấy ngày sau anh mới kể cho tôi nghe.

 
  Anh Hải nhắc: “Đêm nay cậu đi tuần ca 23 giờ với mình.”. Tính anh vui vẻ, xởi lởi nhưng mấy hôm nay anh bỗng trầm hẳn xuống. Tôi lặng lẽ nhìn anh gật đầu. Chúng tôi ra khỏi chốt xuống theo con dốc phía ngoài. Đường tuần dài ba kilômét. Trời hanh khô. Không gian mù mịt sương bao phủ. Đang giữa mùa trăng nhưng chỉ thấy nhờ nhợ một khoảnh đùng đục trên cao. Ở đây, những ngày quang đãng, nhất là vào mùa hè, ánh trăng trông tuyệt đẹp. Nó toả ra một lớp sáng kiêu sa, lộng lẫy, dát xuống những khoảng rừng, bờ cỏ, bụi cây, thứ sợi tơ ảo mờ nhóng nhánh. Khắp đất trời lạc vào một cõi tiên. Thi thoảng, đâu đó vọng lại tiếng con mang lạc mẹ toác trong đêm sâu khắc khoải, mơ hồ...

Xuống chân dốc, chúng tôi dừng lại. Đường tuần phía này đến đây là hết. Từ đó trở về phía dưới kia là một cung đường khác, do bộ phận khác đảm nhiệm. Chúng tôi ngồi nghỉ trên một tảng đá lớn. Và ở đó, anh Hải đã kể về nỗi đau mà anh đang nén chặt trong lòng…

…Thằng đồ tể chết tiệt chợ quê làm cái việc đốn mạt đó. Ở góc làng quạnh quẽ bé như bàn tay thì không người nào lạ gì hắn. Mặt dày, mày rậm, môi trề như môi cá chép. Hắn là một tay nổi tiếng về chim gái. Không biết bao cô có chồng cũng như chưa chồng từng rơi vào vòng tay khăm khẳm mùi phân lợn. Tất cả mọi người trong nhà hắn xem như con ở, kể cả mẹ đẻ. Cũng bởi hắn lắm tiền, nhiều của, tính tình lại gian ngoan, độc địa. Mỗi ngày hắn xả thịt ba con lợn. Trừ ăn uống phả phê cũng lời lãi, dư dôi mấy trăm nghìn. Ở làng số tiền như thế là to lắm. Kế sách mà hắn thường dùng là đánh vào tâm lý chung của những người phụ nữ. Lúc đầu, hắn mồi chài, ve vãn họ bằng việc bán rẻ hơn chút ít mỗi khi ghé vào phản thịt nhà hắn. Cũng dễ hiểu thôi. Có thể người ta chê bai, dè bỉu sau lưng nhưng khi được bán rẻ rồi hứa hẹn tặng vài thứ đồ lặt vặt là mấy cô nàng lại bỗng chốc xiêu lòng.Thế rồi từ đó hắn lặng lẽ nhích dần tới đích. Khi đã ngã ngửa ra thì mới hay mình dại dột, mình bị lừa. Hối không kịp. Có cô hắn cho ễnh bụng nhưng rồi làm gì được đâu. Vác con đến đòi trả ư? Không chứng cứ, hắn đuổi thẳng cẳng khỏi cửa. Đòi hắn tiền nuôi con ư? Hắn cười khì khì bảo cứ ngồi đó mà đợi. Có mấy cô gái trẻ bị lừa phải lang bạt vào nam để may ra còn tìm được tấm chồng. Vợ anh Hải không nằm ngoài lệ đó. Mà nàng thuộc loại khá xinh mới chết, đôi mắt lá răm nhìn ai cũng như đong đưa, lúng liếng. Thế là từ quen lần lần, hắn đâm ra dạn dĩ. Nhiều lúc hắn nửa nạc, nữa mỡ. Cô nàng càng tránh thì hắn càng xáp lại. Nhìn con mồi béo bở nhởn nhơ, lượn lờ trước mắt mà không làm ăn được thì ức lắm. Ngày đêm hắn tính kế, lập mưu. Cơ hội đến. Một lần có đám cưới ở làng. Bữa ấy, hắn cùng mấy thằng đệ tử ngon ngọt ép được nàng uống liền mấy chén rượu. Trong trạng thái lơ mơ, hắn rủ rê nàng đi chơi thị trấn huyện. Chẳng hiểu mọi thứ tiếp diễn ra sao ở ngoài đó…

Chuyện đồn đại như những ngọn gió nồm len lỏi đêm đêm. Đất lề quê thói. Cái tội gian dâm nặng lắm, đáng chém chớ chẳng vừa. Thằng con ông chú hậm hực: “Anh Hải, anh về mà coi. Gia đình ta ê cả mặt !”. Gọi điện cho vợ, chỉ nghe thấy tiếng khóc tức tưởi… Cô ta đã phản bội anh? Người ta bảo đàn bà nông nổi, nhẹ dạ, dễ bị mờ mắt trước vật chất phù phiếm. Hay còn vì những điều khác nữa? Trong lòng anh tràn ngập những nghi ngờ. Vài ba tháng anh mới có dịp về, anh biết cái khao khát của đàn bà dữ dội lắm…??

Từ ấy, anh Hải dường như thay đổi hẳn. Bản tính năng nổ nhiệt huyết ở anh bỗng dưng biến mất. Anh lầm lũi làm việc, sinh hoạt như kẻ mất hồn. Nhiều đêm anh ngồi chết lặng trong màn sương buốt lạnh. Có lần, trong giấc ngủ, bỗng anh chồm dậy thét lên kinh hoàng: “Gi…ết…giết tất cả. Đồ…ồ…phản…bội…”. Tôi hoảng quá nhao đến ôm chặt lấy anh. Người anh đầm đìa mồ hôi, đôi mắt trắng dã trừng trừng…

Tôi thay anh cắt đặt việc tuần gác của tiểu đội. Được cái mấy anh em cũng tín nhiệm và ai làm việc nấy một cách tự giác. Tôi cũng lựa lúc khi chỉ còn hai anh em để an ủi anh. Nhưng việc làm của tôi hơi thừa. Có lẽ, anh nghĩ tôi là một thằng thanh niên mặt còn búng ra sữa thì làm sao có thể đi phân tích, khuyên nhủ, nói chuyện gia đình. Tôi  thấy mình bất lực. Tôi linh tính một điều gì đó không hay.

Đêm, lúc tôi gác ca 3 giờ sáng về đến lưng chừng núi thì bỗng phát hiện một bóng đen đang trượt xuôi xuống dốc. Trời sáng lờ mờ. Trên tay hắn hình như còn cả một cái túi xách nhỏ. Đường biên quãng này được ngăn cách bằng lớp dây thép gai nên kẻ gian đôi lúc vẫn liều lĩnh vượt vào. Không chừng hôm nay tôi tóm được con mồi lớn. Lập công này, chắc chắn sẽ được tuyên dương trước đơn vị và sau đó là 10 ngày phép. Tôi xiết chặt báng súng, tay phải sờ vào cò, chờ đợi…

“Đứng lại! giơ tay lên! Không được động đậy…!” - “Anh…anh đây! … Hải… đây… mà…”

Tôi đứng sững như trời trồng: “Anh đi đâu vậy?” - “Ờ… ờ… anh... đi... kiểm… tra…” - “Nhưng mà…?” - Tôi đã nhận ra là anh nói dối. Trên tay anh vẫn cầm chiếc túi xách. Và tôi thầm hiểu, anh đang xuống núi, anh bỏ về nhà…

Sau lần ngăn được anh Hải, tôi phải nhờ thêm sự giúp đỡ của bác Vương. Tôi nghĩ rằng người như  bác nói thì anh sẽ nghe ra? Tôi sợ anh làm những điều dại dột. Dầu sao thì anh vẫn là một người còn trẻ. Sự nghiệp còn dài. Một phút nóng giận, một lúc không làm chủ được mình sẽ huỷ hoại cả cuộc đời.

Bác Vương làm được điều đó. Sự từng trải, hiểu đời của bác đã xoa dịu trong anh những đổ vỡ, tuyệt vọng. Bác chỉ cho anh nhìn nhận mọi việc một cách thấu đáo hơn, khoan dung hơn.

Anh xuống ban chỉ huy xin nghỉ phép. Anh muốn giải quyết ổn thoả mọi chuyện. Trước mỗi người, đang còn một khoảng dài tương lai... Nếu ngã thì phải biết đứng dậy mà đi…

Một tuần sau tôi tiễn anh Hải xuống núi…

                                                                                   
Tôi nhận được thư Hạnh báo tin em đỗ vào trường cao đẳng sư phạm tỉnh. Trong thư còn có cả tấm hình em chụp trước cổng trường. Trông em chẳng còn giống cô bé gầy nhom hồi nào. Mái tóc dài buông bờ vai thanh tú. Khuôn mặt bầu bĩnh cùng đôi mắt trong veo. Ồ… cô bé trông cũng dễ thương đáo để. Em hỏi tôi đã có người yêu chưa, nếu chưa thì để em làm mối. Lại nhờ tôi giới thiệu cho một người lính. Em bảo rất có cảm tình với lính và muốn dịp nào đó được lên thăm tôi. Tôi bất chợt cười thầm. Sao mình khù khờ quá vậy. Em bật đèn xanh cho tôi rồi đó... Em bảo cả hai nhà đều khoẻ. Cha em sẽ ra trại đợt đặc xá năm nay. Lại bảo tôi sao không thuyết phục cha lấy vợ để có bầu có bạn lúc tuổi già. Việc này thì đành chịu. Đã mấy lần tôi viết thư có xa gần nhắc đến. Rồi dịp ông lặn lội lên đơn vị thăm tôi. Nhưng cha chỉ cười nhẹ, đôi mắt ngước nhìn khoảng trời xa vắng…

Tôi thương cha ở trong căn nhà cô đơn, quạnh quẽ. Nơi đó, cha phải vượt qua những mùa mưa bão gầm rú, những mùa đông lê thê buốt lạnh. Cha bảo tôi không nên bận tâm nhiều. Cha hiểu và muốn sống theo cách của ông. Tôi chạnh buồn nghĩ, dòng sông chảy qua nhà cứ trẻ mãi còn ông thì mái tóc ngày càng bạc thêm, thưa đi và bóng dáng se dần còm cõi…

Một buổi sáng tôi nhận được hai cú điện vui. Thằng Dũng báo tin nó sắp cưới vợ. Mới tháng trước còn kêu chán vì tìm không ra người yêu vậy mà. Nó bảo vợ tương lai chính là cô giáo Phương nó quen lần giao lưu văn nghệ giữa đơn vị và mấy xã lân cận. À…tôi nhớ ra rồi, cô giáo Phương có dáng người mảnh mai, lại hát hay, múa dẻo. Cái thằng lờ ngờ, lộc ngộc thế mà đào hoa. Ai bảo đẹp trai gái mới yêu là sai toét.  Thằng này tài thật! Nghe nói lâu nay cũng có khối anh lao vào tán tỉnh nhưng cô giáo chưa ưng ý anh nào. Cũng mừng cho nó. Hai vợ chồng được sống gần nhau thì còn gì bằng.

Còn anh Hải báo tin vợ vừa sinh một đứa con gái kháu khỉnh giống anh như lột. Câu chuyện của anh hoá ra không phức tạp như lâu nay tôi vẫn nghĩ. Cái gã đồ tể dâm ô đó chưa làm gì được nàng. Hôm đó, hắn có chở nàng ra thị trấn thật. Khi hắn sắp sửa đưa con mồi vào nhà nghỉ thì cũng là lúc nàng bừng tỉnh, hiểu ra cơ sự nên vội vàng xuống xe và nhất quyết về. Lúc ấy, có mấy người làng đi chợ gặp hai người đang giằng co và câu chuyện được thêu dệt. Chuyện bé xé ra to là việc thường tình. Anh đã ra thị trấn, đến nhà nghỉ đó điều tra hư thực. Cuối cùng thì cái án oan treo lơ lửng trên đầu vợ cũng được xoá.

Anh bảo lúc nào rảnh rỗi xuống dưới này thì ghé chơi. Anh chuyển qua đội bảo vệ vòng trong sau khi tôi đi học ít tháng. Tôi thấy mừng cho anh. Thế là anh đã tìm lại được hạnh phúc của mình.

Trong một lần lên kiểm tra chốt thủ trưởng Tài, vỗ vai tôi ôn tồn: “Tốt lắm! Tôi nghe nhiều người khen về cậu. Thật không phụ là con một người lính. Sắp tới, đơn vị gửi một số anh em đi đào tạo lớp trung đội trưởng, nếu có nguyện vọng phục vụ lâu dài thì làm đơn nhé!”. Tôi mừng nhưng có chút phân vân giữa việc ở lại hay về. Tôi viết thư cho cha, người bảo tuỳ tôi lựa chọn. Lại bảo là rất vui nếu như tôi tự xác định tương lai của mình. Tôi hiểu hàm ý mà cha muốn nói. Thế là tôi bàn với thằng Dũng cùng làm đơn. Mấy tháng sau thì chúng tôi được lệnh đi học và hơn một năm nữa mới quay trở lại đơn vị.

*
…Những buổi chiều đẹp trời là khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong ngày. Trên chốt nhìn xuống thấy cả một vùng đất mênh mang, rộng lớn. Từ đây, ta mới hiểu hết ý nghĩa tầm cao… Những quả đồi bát úp nhấp nhô trải dài ngút ngát. Những xóm nhỏ yên bình lơ thơ đôi ngọn khói mong manh. Những mảng xanh trùng điệp vẽ nên bức tranh dung dị. Xanh thẫm của rừng, xanh nhạt của ngô, khoai và xanh mờ của lúa vừa bám rễ…Rồi những ngọn gió hào phóng… Những ngọn gió từ thăm thẳm trời cao chẳng bao giờ ngơi ngớt thổi. Tiếng gió lúc thâm trầm, khi rạo rực, lúc lơi lả, ngả nghiêng….Tiếng gió mà mỗi bận đi xa, tôi lại thấy nhớ nôn nao, da diết…

Chợt có tiếng đàn Gita bập bùng trong khu nhà chốt vọng ra. Bóng con Jôn sủa ung oăng đuổi đàn chim rừng đâu đó…

 Trần Mạnh Hà
Logged
vmt
Thành viên
*
Bài viết: 754


« Trả lời #145 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 09:45:27 PM »

                                     
                                   NGƯỜI Ở BẾN PHÙ VÂN
                                       Tác giả : Khuất Quang Thụy

  Chúng tôi đi men theo triền đồi phía sau sở chỉ huy trung đoàn, ngược theo một vạt nương rồi tới bên một tảng đá lớn có hình thù hết sức kỳ dị. Trung đoàn trưởng Sinh dừng lại rồi bảo tôi:

- Ta ngồi đây một lúc cho mát - Rồi anh chỉ về phía trước - Anh xem, toàn cảnh thung lũng Phò Nghi đang ở phía trước mặt ta đó.

Tôi nhìn theo bàn tay anh chỉ và ghẽ reo lên, trước một phong cảnh tuyệt vời hiện ra trước mắt. Nắng chiều chưa tắt hẳn, những luồng sáng mặt trời dọi xuống triền ruộng bậc thang, lúa đang bắt đầu hoe chín, một con suối trong vắt chảy uốn lượn hờ hững trong thung lũng. Những bản làng ẩn hiện bên những triền đồi xanh tươi... tất cả mọi đường nét đều hài hòa như trong một bức tranh sơn mài của một nghệ sĩ tài hoa. Tôi thầm khen Sinh khéo chọn nơi này để cho chúng tôi được yên tĩnh vài giờ sau mấy ngày lăn lội vất vả trên tuyến đường bảo vệ biên giới của trung đoàn anh. Ngày mai tôi phải xa các anh rồi, vậy mà tôi chưa hiểu biết được bao nhiêu về các chiến sĩ của đơn vị anh, một lớp chiến sĩ thuộc thế hệ “sau bảy lăm” có bao nhiêu điều mới mẻ mà không phải chỉ sống với họ vài ba ngày đã hiểu được. Hôm qua, Sinh kể cho tôi nghe về một trường hợp đảo ngũ khá kỳ lạ, một cậu chiến sĩ quê Hà Nội đột ngột bỏ đơn vị về Hà Nội một tuần lễ liền, truy hỏi mãi thì ra cậu ta nghe tin nghệ sĩ Đặng Thái Sơn đã về nước và sẽ biểu diễn báo cáo tại Nhà hát lớn trong dịp đó. Sinh kể rằng, sau khi hiểu lý do, anh đã không nỡ thi hành kỷ luật anh lính trẻ yêu nghệ thuật ấy. Tôi hiểu rằng sở dĩ anh dám hành động như vậy chính anh cũng còn trẻ, anh có thể hiểu và thông cảm được với những đam mê thái quá đó của tuổi trẻ, và thêm nữa, anh có lòng tin yêu con người. Một cán bộ trẻ như anh, thật đáng quý. Có lẽ chính vì vậy mà tôi thêm yêu anh, quyến luyến anh khi chúng tôi sắp phải xa nhau.

- Hồi vợ tôi lên chơi, nếu hôm nào không có công việc hay họp hành gì chúng tôi cũng thường lên đây ngồi cho tới lúc trăng lên mới trở về - Sinh tâm sự và khẽ mỉm cười mơ hồ - Cô vợ tôi cũng say mê văn học nghệ thuật lắm. Là kỹ sư nông nghiệp nhưng tủ sách của cô ấy một nửa già là sách văn nghệ. Tiếc quá, giá dịp ấy anh lên, được gặp các anh hẳn nhà tôi thích lắm.

Tôi cười:

- Thời buổi còn đầy rẫy những khó khăn về đời sống vật chất thế này những người thực yêu văn học nghệ thuật không nhiều đâu.

- Không - Sinh hăng hái tranh luận - Nếu anh nói vậy thì... có lẽ không đúng lắm đâu. Anh em chúng tôi chẳng hạn, đời sống vật chất thì cực kỳ thiếu thốn, anh em họ khao khát được đọc, được nghe, được xem biểu diễn nghệ thuật lắm. Chẳng lẽ lên với chúng tôi bấy nhiêu ngày, anh không hiểu điều đó hay sao?

Tôi cười trừ vì đuối lý và để “đánh trống lảng” tôi hỏi sang chuyện khác.

- Hình như có lần anh nói chị ấy có làm cả thơ nữa phải không?

- Nếu nói là làm thơ thì có vẻ cao xa quá... Nhưng... - lại một lần nữa Sinh cười rất hồn nhiên - cô ấy có một câu thơ mà tôi nhớ suốt đời. Như cô ấy nói đó là một câu “thần chú”. Chính nhờ câu “thần chú” ấy mà chúng tôi tìm thấy nhau. Nhưng thôi, để tôi đọc cho anh nghe nhé, anh hãy nhớ lấy rồi biết đâu chẳng có dịp anh lên sông Đà, anh sẽ cứ lần theo câu “thần chú” này là có thể tìm ra cô ấy.

Sinh dừng lại một lát như để nén bớt xúc động rồi chậm dãi đọc:

Nhà Vân bên bến Phù Vân

Thương nhau xa cũng nên gần, hỡi ai.

- Chà, hay quá! - Tôi thích thú khẽ reo lên - một câu thôi, đồng thời là một địa chỉ. Bến Phù Vân thì tôi biết rồi, đó là một bến đò rất nên thơ trên sông Đà, phải không anh?

- Vâng, đúng đấy. Anh biết rồi thì tiện quá. Khi nào đi qua anh ghé thăm Vân nhé. Tuy cưới nhau đã ba năm nay rồi nhưng nhà tôi vẫn son rỗi. Anh tính, sống với nhau có được bao nhiêu ngày đâu? Lấy chồng bộ đội kể cũng thiệt thòi, anh nhỉ. Ở nhà hiện nay vẫn chỉ còn bà mẹ vợ tôi và Vân, ông anh trai cô ấy đã xây nhà ở nông trường rồi. Nhà tôi ở ngay bên sông Đà, thoáng mát, anh về đấy nghỉ ngơi mà viết lách thì tuyệt lắm.
Logged
vmt
Thành viên
*
Bài viết: 754


« Trả lời #146 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 09:50:33 PM »

                                    Tiếp :
 - Nếu có dịp tôi sẽ ghé thăm cô gái Phù Vân của anh. Nhưng... anh có thể kể qua cho tôi nghe vì sao mà nhờ câu “thần chú” kia, anh tìm được Vân không?

Nghe tôi gợi ý như vậy Sinh bỗng bật cười lớn.

- À, ông này lại giở “thủ đoạn nghề nghiệp” ra rồi. Anh nói vậy rồi im lặng. Một khoảng im lặng lạ lùng mà tôi biết sẽ làm nền cho người ta chuẩn bị dốc bầu tâm sự. Tôi kiên nhẫn chờ đợi.

Nắng đã tắt, nhưng vầng trăng đầu tháng đã lên kia rồi. Ánh trăng kia đang khơi dậy bao kỷ niệm trong anh.

Và cuối cùng anh kể. Là nhà văn, trí tưởng tượng của tôi lập tức hoạt động và tôi đã dần dần hình dung được mối tình của họ. Vợ anh yêu văn chương, phải vậy không? Vậy thì tôi xin chép câu chuyện tình yêu của anh chị dưới dạng một truyện ngắn để dành tặng hai người. Có thể rồi để anh chị sẽ được đọc và có thể không đồng ý với tôi về một vài tình tiết nào đó. Nhưng, tôi tin rằng tấm lòng thành thực, chân tình của người viết thì anh chị có thể nhận thấy qua từng dòng, từng chữ.

II

Đó là một buổi chiều mùa thu êm ả. Vừa qua mấy trận mưa lớn, khí trời thoáng đãng và nhẹ lâng. Ven dê, lúa đang thì con gái xanh mỡ màng. Nước lũ đang về, sông Đà đỏ ngầu phù sa, cuồn cuộn chảy ngược về phương Bắc. Ai đến con sông này cũng phải ngạc nhiên trước dòng chảy lạ lùng của nó. Mọi con sông trên đất nước này đều chảy về hướng Đông, riêng sông Đà chảy về hướng Bắc. Nhưng rồi nó cũng nhập với sông Hồng, làm thành một dòng sông lớn để tiếp tục cuộc hành trình đi tới biển.

Sinh đạp xe dọc theo bờ đê. Lòng anh cũng nhẹ lâng, gió thổi mát lộng. Xe bon vun vút, ngỡ tưởng cứ ngồi trên xe đạp thế này cũng có thể đi cùng trời cuối đất mà không biết tới mệt mỏi. Trung đoàn vừa hoàn thành cuộc diễn tập thực binh, cuộc diễn tập đạt kết quả tốt, được trên khen ngợi. Kết thúc cuộc diễn tập, lại một tin vui nữa đến với Sinh, anh vừa nhận được quyết định đề bạt trung đoàn trưởng thay cho trung đoàn trưởng Hán về nghỉ hưu. Thế là từ nay anh sẽ là trung đoàn trưởng của một trung đoàn anh hùng, một trung đoàn trưởng trẻ nhất trong số các trung đoàn trưởng của sư đoàn. Năm nay anh mới ba mươi hai tuổi, mười hai năm tuổi quân nhưng đã trải qua hàng tram trận đánh lớn nhỏ và đã bốn lần được tặng thưởng huân chương chiến công; ba lần bị thương nhẹ để đủ “làm nũng các má” và các cô y tá phục vụ các bệnh viện ở mặt trận. Ở đơn vị anh có uy tín rất cao, được cán bộ cấp trên và anh em chiến sĩ cấp dưới tin cậy, yêu mến. Tóm lại, anh sẽ hoàn toàn là người thành đạt hạnh phúc nếu như không có một chút trắc trở về đường riêng tư . Phía sau anh, quá khứ của anh là như vậy. Còn phía trước hẳn sẽ còn nhiều khó khăn, gian khổ đang chờ anh. Nhưng anh còn trẻ, còn tràn đầy sức lực, anh còn có thể vươn lên không ngừng trong cuộc sống.

Vì thế mà anh yêu đời, yêu cuộc sống. Anh đang vui, đang có cảm tình với tất cả, từ ngọn gió, dòng sông đến những hạt cát trên đường. Chặng đường hơn hai chục cây số qua nhanh như chớp mắt. Vượt qua sông, đạp ba chục cây số nữa là tới quê anh. Ba chục cây số nữa, anh coi thường. Sớm muộn thì tối nay anh cũng có mặt ở nhà, cơm nước, tắm gặt xong là anh có thể đàn đúm với bạn bè được rồi, gần một năm nay anh lại trở thành trai không vợ, chẳng có gì bận bịu, mắc míu nữa.

Năm bảy mươi lăm giải phóng Miền Nam xong, anh được phép về thăm gia đình một tháng. Vui bè, vui bạn rồi mạnh ở gia đình, và hai cô em gái thúc giục, mưu mô, anh quyết định lấy vợ. Đối với anh lúc bấy giờ, cuộc đời chẳng có gì đáng phải băn khoăn, tính toán. Anh đã đi qua cuộc chiến tranh dằng dặc, gian khổ là thế còn vượt qua được nữa là những khó khăn vặt vãnh của đời thường. Như nhiều người lính ở chiến trường về, anh đã từng nhìn đời bằng con mắt giản đơn như thế. Và, cố nhiên, như tất cả mọi người đơn giản và chủ quan khác, anh đã vấp váp.

Cưới vợ xong, vào đơn vị được hai tháng thì đột nhiên có giấy gọi anh về gặp tòa án nhân dân huyện để giải quyết về việc anh đã “kết hôn bất hợp pháp với cô Nguyễn Thị Ánh Tuyết”. Anh đờ cả người ra vì ngạc nhiên và khó hiểu. Từ hồi vào đơn vị đến nay anh không nhận được thư từ của ai trong gia đình ngoài vợ anh, nên cũng chẳng còn biết đầu đuôi xuôi ngược làm sao mà lại ra cái cơ sự ấy. Trung đoàn lại phải cho anh đi phép để “ra tòa”. Trước khi anh về, trung đoàn trưởng Hán, với tư cách của một người từng trải đã thành thực khuyên anh phải thận trọng, không nên “đánh bạc với đời” nhưng anh vẫn tặc lưỡi “Anh yên trí! Có lẽ... có sự lầm lẫn nào đó thôi”.

Về tới nhà anh mới vẽ lẽ rằng cái điều rắc rối ấy là có thực. Vợ anh đã có chồng. Hồi còn là công nhân ngoài Hải Phòng, vì lầm lỡ cô ta đã buộc phải lấy chồng mà không hề xin phép gia đình vì sợ ông bố rất nghiêm khắc của mình. Nhưng chỉ hai tháng sau “đức ông chồng” quý hóa đã đánh cô trụy thai. Cay đắng trước số phận của mình, cô không hề kiện cáo mà lẳng lặng xách va li về khu tập thể nữ công nhân, cương quyết không về với hắn nữa, cô đã tưởng như thế là đã dứt khoát được với nhau, chẳng cần phải ra tòa làm chi cho bẽ bàng. Rồi để chốn tránh cho quãng đời tủi nhục của mình, cô xin về quê, dồn tất cả vốn liếng góp nhặt được mua một chiếc máy khâu, vùng quê Sinh chưa có thợ cắt may nay bỗng có một cô thợ khéo, ai cũng thích. Hợp tác xã cũng ủng hộ cô, cho cô mở hiệu may ngay trong xã lấy tiền mua công điểm, thế là cô trở thành “cô thợ may hàng xã”, được bà con rất quý mến, vì nể.

Giữa lúc đó thì Sinh về. Ngay từ những lần gặp gỡ đầu tiên cô đã mến Sinh bởi cái dáng vóc lực sĩ, trẻ trung, bởi tính tình chân thực và... bởi cả đôi quân hàm đại úy gắn hờ hững trên ve áo của anh nữa. Không phải chỉ riêng cô mà nhiều cô gái trong làng, ngoài xã cũng nhìn Sinh với con mắt đầy thiện cảm và chờ đợi. Nhưng được sự chi viện đắc lực của hai cô em gái đang ở cái tuổi thích trưng diện của Sinh, cô đã thắng cuộc. Vào một buổi chiều mưa, ngay trong căn nhà vắng vẻ của gia đình mình, như một lời đùa giỡn, Sinh tỏ tình. Không ngờ cô ta ưng thuận ngay. Rồi như tất cả mọi anh bộ đội về phép “tranh thủ” khác, Sinh vội vã chuẩn bị lễ cưới, tiếp đó là những ngày hạnh phúc đầu tiên. Tuy đôi lúc trong lòng Sinh, cũng gợi lên một thoáng nghi ngờ trước sự “từng trải” trong sinh hoạt vợ chồng của vợ mình, nhưng cô ta khéo chiều chuộng vuốt ve nên những bóng mây nghi ngờ ấy lại được xua tan nhanh chóng.

Nhưng... nào có ai học được chữ ngờ! Anh vừa đi được gần một tháng thì có đơn từ Hải Phòng gửi về tòa án huyện kiện anh về việc “lấy tranh vợ người khác”. Đơn kiện có kèm theo cả bản chụp giấy đăng ký kết hôn trong đó có tên và chữ ký của vợ anh. Tòa án buộc phải “sờ” đến anh.

Trước tòa cả anh và vợ anh đều là người đuối lý. Anh buộc phải “trả lại” vợ cho người ta và phải bồi thường một khoản tiền “danh dự” cho bên nguyên! Vợ anh rũ ra như một con chim lại vừa bị người ta bắt nhốt vào lồng. Cô chỉ biết níu lấy anh khóc và than thở “Anh Sinh ơi! Em không định lừa gạt anh đâu. Em khổ lắm”.

Anh tin ở nỗi khổ của cô và tin rằng vì yêu mình mà cô buộc phải lừa dối. Vì thế anh đã chia tay cô không một lời oán trách.

     Anh lại ra đi. Nhưng lần này không còn thanh thản như lần trước. Anh cảm thấy mình thiếu trách nhiệm với chính cuộc đời mình, do đó thiếu trách nhiệm cả với gia đình với những người khác. Nhưng, những đức tính của người lính đã giúp anh nhanh chóng vượt qua những ngày buồn chán, tiếp tục nuôi dưỡng cho anh lòng tin yêu cuộc sống. Anh tự dặn mình nếu có lấy vợ một lần nữa thì phải thận trọng hơn, phải “dò đến tận ngọn nguồn lạch sông” và phải bắt đầu từ tình yêu chứ không liều lĩnh như chơi một cuộc sổ số cầu may.

Nghĩ là vậy, tính toán là vậy, nhưng cuộc đời còn biết bao điều bất ngờ. Ai mà lường trước được.

*

* *

Bến đò buổi chiều khá đông người. Một phường thợ sơn tràng vừa làm ăn trên mạn ngược về lỉnh kỉnh cưa đục, một tốp nữ sinh của một trường sư phạm nào đó đi thực tập, mấy bà buôn chè, vài ba anh bộ đội... Sinh tựa xe vào một gốc cây đứng đợi đò. Thuận miệng, anh hỏi một bà hàng chè.

- Thưa bác, bến này gọi là bến gì ạ?

- Bến Phù Vân, chú ạ - Bà trả lời - Người ta vẫn gọi thế, nhưng Phù Vân là cái làng bên kia kìa. Còn bên này gọi là xóm Mọc.

- Bác nói... Bến Phù Vân ạ? Sinh hỏi lại.

- Ờ. Phù Vân, ấy là cái tên các cụ đặt cho từ hồi xửa hồi xưa kia. Còn bây giờ người ta gọi là quyết tiến quyết lùi gì ấy? Nghe cứ chối cả cái lỗ tai!

Phù Vân! Cái tên có âm hưởng êm dịu ấy có sức gợi cảm đến lạ lùng. Bất chợt, từ trong tiềm thức sâu thăm của Sinh hiện ra gương mặt một người con gái. Một gương mặt mà anh đã gặp trên đường đời. Một gương mặt mà Sinh cứ ngờ rằng đã bị vùi sâu trong quá khứ, không ngờ hôm nay bỗng hiện về đầy đủ mọi đường nét trong tâm trí anh. Giọng nói dịu dàng của người con gái ấy cũng như đang vang bên tai anh.

- Nhà em ở ngay trên bến Phù Vân, anh Sinh ạ. Mai này trở về, nếu anh còn nhớ em, đi tìm em thì cứ đi dọc đê sông Đà về phía Sơn Tây hỏi đến bến Phù Vân, tới Phù Vân anh hỏi tên em hoặc hỏi nhà bà Vụ ươm tơ thì ai cũng biết cả.

Rồi đột nhiên cô cất tiếng cười, một tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên và hơi tinh nghịch - Để khỏi quên, anh hãy đọc thuộc câu “thần chú” này nhé.

Ngước nhìn anh bằng đôi mắt long lanh, cô mỉm cười khẽ đọc:

Nhà Vân, bên bến Phù Vân

Thương nhau xa cũng nên gần, hỡi ai

Anh lẩm nhẩm đọc theo và chỉ hai ba lần đã thuộc. Nhưng hình như ở đời cái gì mau nhớ thì cũng mau quên. Chẳng bao lâu anh đã quên câu thơ ấy. Cho đến tận ngày hôm nay...

- Đò sang rồi, ta xuống thuyền đi chứ.

Bà hàng chè ban nãy nhắc anh rồi te tái quẩy hàng chè xanh xuống bến. Sinh như chợt bừng tỉnh, vội vã dắt xe theo mọi người xuống thuyền. Hai tiếng Phù Vân như ám ảnh anh, khiến lòng anh đột nhiên xao động lạ thường. Đứng trên thuyền mắt anh đăm đắm nhìn về bên kia như dõi tìm một bóng dáng xa xăm. Tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền ì oạp. Gió thổi mạnh, con thuyền phải bơi ngược nước, ngược gió một đoạn rồi mới có thể thanh thản thả trôi xuống dòng nước mà cập bến. lòng Sinh cũng đang bồng bềnh như con thuyền. Trong tiếng sóng, tiếng gió anh lại như nghe văng vẳng từ xa xăm tiếng người con gái tình cờ anh gặp trên chặng đường đi đến chiến đấu rồi anh đã yêu, đã hò hẹn và đã lãng quên.

Nhà Vân, bên bến Phù Vân

Bến Phù vân đã ở trước mặt kia rồi. Nhưng còn người ấy?

Logged
vmt
Thành viên
*
Bài viết: 754


« Trả lời #147 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 09:54:09 PM »

                                       Tiếp :
 
  Vào cuối mùa xuân năm 1971, sau chiến dịch Nam Lào, Sinh bị thương phải đi viện điều trị hơn một tháng, vết thương của anh kể ra cũng không đáng phải nằm viện lâu đến thế. Nhưng hồi ấy người ta đang cưng các dũng sĩ đường 9 - Nam Lào nên các bác sĩ nhất định chuyển anh sang đội an dưỡng sau khi đã chữa lành vết thương cho anh. Đơn vị anh vừa hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch cũng đang nghỉ ngơi, củng cố nên Sinh cũng yên tâm nán lại củng cố sức khỏe của mình.

Một buổi sáng đẹp trời anh được ra viện. Khoác ba lô trên vai, anh thấy mình vui vẻ lạ thường. Sau hơn một tháng “ăn không ngồi rồi” sức lực đã hồi phục, anh béo khỏe và trắng trẻo hơn một chút. Tóm lại, anh thấy hài lòng vềmình. Báo quân đội vừa đăng bài về gương chiến đấu của anh kèm theo cả ảnh. Cả bệnh viện đã biết anh và khâm phục anh, nhất là mấy cô y tá, hình như họ đều yêu anh cả. Vì thế, anh chẳng biết nên có cảm tình với cô nào hơn cả. Nói cho đúng ra, trong đám đông các cô y tá, y sĩ, hộ lý ở viện anh có cảm tình hơn cả với một cô vốn là thanh niên xung phong được tăng cường vào làm hộ lý cho bệnh viện phục vụ chiến dịch. Cô gái có đôi mắt đen láy với đôi hàng mi cong vút như mi mắt giả của các nữ tài tử điện ảnh mà anh thường được xem ảnh in trong các tờ tạp chí hay trên bìa lịch. Cô vui vẻ nhẹ nhõm nhưng đậm đà kín đáo chứ không xô bồ táo tợn như mấy cô “chị nuôi” và một số cô y tá khá bạo dạn vì tiếp xúc nhiều với con trai. Cô chăm sóc anh tận tình, kín đáo và luôn phải tỏ ra “nhường nhịn” mỗi khi các bậc “đàn chị” khác kéo đến tán tỉnh anh. Có lẽ anh chú ý đến cô trước hết bởi đức tính khiêm nhường ấy. Đôi lúc anh cũng bắt gặp cô kín đáo ngắm nhìn mình rồi lặng lẽ chạy đi khẽ buông tiếng thở dài nhưng anh chỉ tặc lưỡi - “Thì cũng như tất cả mọi người, họ đang yêu ta!” Anh vui vẻ về điều ấy và chắc hẳn hồi đó anh tỏ ra “cao ngạo” lắm! Anh cho rằng mình hoàn toàn xứng đáng, hoàn toàn có quyền được hưởng sự yêu thương của mọi người. Anh là dũng sĩ, mà lại là một dũng sĩ nổi tiếng trong một chiến dịch nổi tiếng, chấn động cả năm châu bốn bể kia mà.

Cuộc chia tay trong bệnh viện diễn ra thật đầm ấm. Các cô gái viết lưu niệm tràng giang đại hải theo cùng một lối văn bay bướm kiểu học trò xen lẫn đôi câu thơ không hiểu của nhà thơ nào hay do các cô bịa ra và đã thuộc nằm lòng để dùng cho tất cả cuộc trường hợp tương tự. Riêng Vân - Cô gái khiêm nhường ấy - không viết một chữ nào vào cuốn sổ của anh. Kể ra cũng hơi tiếc, nhưng lúc đó anh làm gì có thời gian “duyệt” lại tất cả để biết rằng cuốn sổ của mình còn một “lỗ hổng” đáng tiếc như vậy?

Ra khỏi bệnh viện lòng anh nhẹ lâng, tràn trề sức lực và niềm yêu cuộc sống. Anh muốn chạy, nhảy, hay làm bất cứ việc gì, nhấc bổng trái núi trước mặt kia lên chẳng hạn để biểu hiện sức mạnh của mình. Nhưng anh chưa kịp làm bất cứ một điều gì thì “sứ giả” của sự hủy diệt đột ngột ập đến phô trương sức mạnh ghê gớm của nó. Một loạt bom B52 nổ trùm trước mặt anh. Rồi lọat thứ hai, thứ ba... Anh năm lăn bên vệ đường, tối tăm mặt mũi. Cây cối đổ rầm rầm . Đất đá bay loạn xạ. Thoắt cái, mặt đất đã hoàn toàn biến dạng.

Nhưng anh còn sống, sau khi sờ quanh mình không thấy có vết thương nào, anh mới tìn rằng mình không bị quay lại bệnh viện. Vì lần này mà quay lại, dù vẫn là thương binh, chắc cũng không còn được “oai” như lần trước.

Phải vất vả lắm anh mới tìm ra dấu vết của con đường cũ. Bọn “pháo đài bay” Mỹ lại đấm vào không khí. Đường vắng ngắt. Hay bọn phi công Mỹ chỉ chọn một mình anh làm mục tiêu tấn công? Vậy thì chúng lỗ to rồi! Một quả bom chưa nổ bị vùi sâu trong lòng đất chỉ nhô lên cái đầu đen trũi, tựa hồ như hắn vừa ở dưới đất chui lên chứ không phải ở trên trời rơi xuống. Sinh nhổ toẹt một cái vào cái đầu đen ấy rồi ngang nhiên bước qua. Chắc nó sẽ nổ vào một lúc nào đó, mặc mẹ nó, nghĩa lý quái gì?

Sinh đang lần mò tìm đường xuyên qua bãi bom thì bỗng có tiếng gọi vang phía sau lưng.

- Anh Sinh! Anh Sinh ơi!

Anh giật mình quay lại và nhận ra người vừa gọi mình chính là Vân. Cô bươn bả chạy trên miệng hố bom, quần áo vương đầy bụi đất.

- Đi đâu mà chạy khiếp thế cô Vân?

- Anh!...

Cô dựng lại, ngước mắt nhìn anh đăm đăm và thở:

- Em... cứ tưởng... nghe bom nổ ở hướng này... em sợ anh... thế nào...

- A - Sinh cất tiếng cười lớn - cô tưởng thăng Nich - xơn nó quật đổ tôi rồi phải không? Còn lâu! Nhưng kể cũng tiếc thật. Giá tôi bị vài vết thương có phải lại được...

- Anh... cứ đùa mãi. Em... lo quá...

Vân nghẹ ngào rồi đột nhiên ngồi thụp xuống khóc nức nở. Sinh bỗng lúng túng, hoang mang. Sao nhỉ? Bao nhiêu người, bao nhiêu cô gái... mà sao chỉ có Vân lo lắng thực sự cho số phận của ta? Rồi đi tìm. Đuổi theo. Hoảng sợ. Rồi... khóc thế kia? Hay là...

Sinh bỗng thấy lòng mình dao động. Một tình cảm mới lạ chưa từng thấy dấy lên trong lòng anh. Anh lặng đặt ba lô lên một thân cây đổ rồi cúi xuống đặt tay lên vai Vân.

- Sao thế Vân?

- Không... không sao. Anh... mặc... mặc kệ em...

Trong tiếng khóc tức tưởi của Vân có cái gì như hờn dỗi, như oán trách. Phải, có lẽ anh vô tình quá. Vân yêu anh, có đúng như vậy không? Xúc động choáng váng trước điều kỳ diệu vừa nhận ra, anh lặng lẽ cúi xuống, nâng Vân dậy và nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc mịn như nhung của cô. Giọng anh tự nhiên cũng nghẹn ngào.

- Vân!... Anh... anh hiểu... Anh hiểu rồi...

Vân ngước đôi mắt vẫn còn đẫm lệ nhìn anh, miệng hé nở một nụ cười.

- Em.. sợ quá! Nhưng... anh không... việc gì chứ?

- Không. Anh không việc gì... không sao cả đâu.

- Áo anh đầy bụi đất rồi này!

Rất tự nhiên, cô lần khắp chân tay rồi lần lên ngực anh và e thẹn áp mái tóc đầu của mình vào đó.

- Anh đừng... cười em nhé!

- Vân!

Anh ghì chặt cô gái vào lòng. Họ hôn nhau. Những chiếc hôn cháy bỏng, đầy khát khao của tuổi trẻ. Một tiếng bom nổ. Có lẽ thằng “đầu đen” như chui từ âm ty lên nổ rồi.Kệ nó! Bây giờ họ chẳng sợ gì cả. Bất chấp tất cả. Họ vẫn ôm ghì lấy nhau bên hố bom như một mầm cây khỏe mạnh, tràn trề nhựa sống thách thức mọi sự hủy diệt. Mùi thuốc thơm khét nồng không át nổi hương thơm tỏa ra từ mái tóc, từ lồng ngực trẻ trung của Vân. Trong giây phút diệu kỳ ấy Sinh bỗng hiểu rằng cuộc chiến đấu của mình còn có một ý nghĩa thật lớn lao, một mục đích thật cao thượng, đó là cuộc chiến đấu vì sự sống, vì sự ngự trị vĩnh viễn của tình yêu trên trái đất này.

Nhưng rồi cũng đến lúc họ bừng tỉnh. Dù sao thì cũng phải chia tay. Vân líu ríu nói bao nhiêu điều, kể bao nhiêu điều, anh chỉ nghe loáng thoáng. Hình như cô đòi ghi hòm thư của anh và xin anh một tấm ảnh. Ảnh thì anh chưa chụp bao giờ. À mà có, chỉ có tấm ảnh in trên báo, anh đã cắt lấy và cất đi làm kỷ niệm. Anh mở ví, lấy ra tấm ảnh ấy trao cho Vân. Cô sung sướng reo lên. rồi cô lại ôm ghì lấy anh, hôn anh rối rít.

- Còn em.. Em không mang ảnh đi. Em để ở ba lô rồi. Biết làm sao?

- Không có cũng chẳng sao - Sinh an ủi - Tấm ảnh đẹp nhất là tấm ảnh in trong trái tim mình - giọng anh như hát, hình như trong một cuốn sách nào đó khi kể về một cuộc chia tay đã viết như vậy. Có quan trọng quái gì một tấm ảnh mà Vân có vẻ buồn. Rồi họ sẽ gặp lại nhau và có thể sẽ lấy nhau kia mà. Trái đất suy cho cùng, cũng có rộng lắm đâu?

Anh ghi số hòm thư của mình vào lòng bàn tay xinh đẹp của Vân. Vân đột nhiên nắm chặt bàn tay ấy lại, như sợ con số kia sẽ bay vù đi mất. Rồi cô cũng ghi số hòm thư của mình lên vành mũ của chàng dũng sĩ. Chưa yên tâm, cô dặn thêm.

- Sau này nếu lạc nhau, không viết thư được cho em nữa thì anh về Phù Vân tìm em, anh nhé.

- Anh sẽ tìm - nhất định anh sẽ tìm em - Anh lên Sơn Tây, đi ngược đê sông Đà, hỏi thăm bến đò Phù Vân - Phù Vân, hay nhỉ! Cứ như tên con gái ấy. Tán dóc, nhớ đã này. Anh đến Phù Vân hỏi tên em, hay hỏi tên bà Vụ ươm tơ, là mẹ em thì ai cũng biết. Mà thôi, để em đọc cho anh nghe câu “thần chú” này, anh sẽ không thể nào quên được - Em nói sao? “Thần chú” cơ à, em có là phù thủy đâu? Nhưng được rồi em đọc câu “thần chú” của em đi, anh nghe đây - Anh nhắm mắt lại cơ. Thế.. em đọc này. “Nhà Vân bên bến Phù Vân. Thương nhau xa cũng nên gần, hỡi ai”. Hay quá! Một câu thơ, em sáng tác đấy à? Em bịa ra để bạn bè nhớ dễ tìm. Nào, anh đọc lại đi. Đọc cho thuộc vào. Em kiểm tra, thuộc em mới cho đi cơ!

Anh đã học thuộc câu thơ ấy. Nhưng rồi năm tháng chiến tranh với hàng ngàn sự việc phải nhớ, phải quên. Và, vì điều quan trọng nhất là tình yêu trong anh chưa đủ mạnh, đủ sâu sắc, để găm câu thơ ấy trong lòng. Nó đã bỏ rơi anh, như bỏ rơi bất kỳ một con người nào hờ hững với kỷ niệm, đùa rỡn với tình yêu. Hôm nay nó chợt hiện về với tất cả âm hưởng tươi mát và trong sáng lồng lộng như một tấm gương để anh nhìn vào đó, tự hỏi lòng mình.

Thuyền đã cập bến rồi. Làng Phù Vân của em đang ở trước mặt anh rồi đó Nhưng, anh có nên tìm em không? Tìm để làm gì nhỉ? Có lẽ, cũng như anh, em không còn giữ mảy may một hình ảnh nào của cái buổi sáng tuyệt vời trên bãi bom B52 ấy? Làm sao em lại dám treo lơ lửng cuộc đời mình lên một sợi tơ nhện, dù đó là một sợi tơ do một con nhện vàng nhả ra óng ánh trên đoạn đường đời em chợt gặp. Chẳng có lý do gì để em đợi chờ vì sau đó hình như chúng mình chỉ thư từ qua lại được hai ba lần rồi bặt tin nhau. Anh vào sâu trong chiến trường miền Nam, đi xa xa mãi. Bấy nhiêu năm không một tin tức vân mòng?

Bây giờ làm sao đây? Anh có nên… có nên tìm em không nhỉ.

Nhà Vân bên bến Phù Vân…
Logged
vmt
Thành viên
*
Bài viết: 754


« Trả lời #148 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 09:58:43 PM »

                                      Tiếp :

 Chú bé sung sướng vì được vì được chọn làm người dẫn đường, săng xái chạy trước. Sinh ngập ngừng dắt xe đạp theo sau. Đã hỏi thăm rồi, chẳng lẽ không vào. Thôi, thì cứ thử gặp nhau một lần xem sao?

Chú bé dừng lại trước mặt lối ngõ có hàng duối cắt xén rất tỷ mỷ và được uốn vòng cung thành một cái cổng “chào” rất khéo và trang nhã.

- Bà Vụ ơi! Bà Vụ! – Chú bé lớn tiếng gọi.

- Ai hỏi gì đới? – Tiếng bà cụ từ trong bếp vọng ra.

- Có khách của cô Vân đây này – chú bé trả lời rồi quay lại giục Sinh – Bà cụ có nhà đấy, chú vào đi. Nhà không có chó đâu. Cô Vân cũng sắp về rồi đấy.

Sinh cảm ơn chú bé rồi mạnh dạn dắt xe vào. Bà cụ cũng vừa từ trong bếp chạy ra.

- Con chào cụ.

- Chào bác. Xin lỗi nhà cháu đang dở nồi cám lợn. Mời bác vào chơi nhà.

Một ngôi nhà bốn gian, có lẽ mới được xây lại cách đây hai ba năm, gồm một buồng ngủ và ba gian nhà ngoài. Gian giữa là bàn thờ tổ tiên bày biện giản dị nhưng trang nghiêm, liền đó là bộ bàn ghế tiếp khách. Gian bên phải kê một chiếc giường tre kiểu rất cũ nhẵn bóng và mát mẻ; gian bên trái là một giá sách và một bàn nhỏ, có lẽ là nơi làm việc của Vân. Trên bàn có một chồng sách khoa học đang đọc dở, một bức tượng thiếu nữ đọc sách bằng thạch cao là một lọ cắm hoa gắn liền với ống đựng bút. Trên tường treo la liệt những sơ đồ, những hình vẽ, tằm, kén… và những loại sơ đồ bản vẽ khác liên quan tới nghề trồng dâu nuôi tằm. Bất chợt mắt Sinh dừng lại trước nột khung ảnh nhỏ trên giá sách. Trong khung chỉ có hai tấm ảnh. Một tấm ảnh Vân chụp nửa người mặc quân phục và một tấm ảnh của anh. Đó là tấm ảnh dũng sĩ Nguyễn Trường Sinh cắt trên báo mà anh đã trao cho Vân từ ngày ấy. Nhìn thấy tấm ảnh anh bỗng lạnh người và vụt hiểu ra một điều mà anh không thể ngờ – Vân vẫn chưa lấy chồng, vẫn chờ anh!

- Mời anh lại xơi nước – tiếng bà cụ vang lên khiến anh giật mình.

- Dạ, xin lỗi cụ…

Thấy anh đứng tần ngần bên tấm ảnh có lẽ bà cụ đã ngờ ngợ. Anh ngồi xuống ghế đón chén trà của bà cụ trao cho, mặt thoáng nóng bừng lên, mồ hôi ướt đẫm trên trán. Bà cụ ngắm anh một lát rồi mạnh dạn hỏi:

- Tôi hỏi khí không phải chứ… Anh có phải là anh Sinh không?

- Dạ… - Sinh lúng túng đáp – Cháu… cháu đúng là Sinh đấy ạ.

- Thảo nào – Bà cụ thở phào – Lúc anh mới bước vào ngõ tôi đã ngờ ngợ… Anh chẳng khác cái ảnh kia mấy tý, chỉ già dặn hơn đôi chút thôi. Con Vân nhà tôi nó cứ nhắc đến anh luôn. Tôi bảo, giải phóng đã hai năm nay rồi, nếu còn sống thì anh ấy đã về. Mày cứ nhắc thế… lỡ rủi anh ấy chết rồi thì có phải tội không con?

- Dạ… con – Sinh không biết ăn nói thế nào nên càng lúng túng hơn – con… đáng lẽ con… chết rồi cơ ạ.

- Phúc đức quá! Nơi hòn tên mũi đạn là thế, nắm đất ném bụi tre, chẳng trúng cây nọ thì cũng vào cây kia… còn sống mà về là phúc to lắm đây. Anh xơi nước đi. Mà kìa, con bé nó về rồi kia kìa.

Vân! Vâng, đúng là cô gái ấy. Nếu có gặp ngoài đường có lẽ anh cũng nhận ra. Bây giờ anh biết trốn vào đâu?

-Nhà có khách hả mẹ?

Vân dựng xe lên hè bếp va cất tiếng hỏi mẹ. Bà cụ mỉm cười nhìn con gái rồi chỉ lên nhà trên:

- Có khách đấy. Con lên nhà xem ai nào?

- Vân.

- Trời ơi!... Anh Sinh!

Vân lao lên thoảng thốt rồi lao vội lên hè. Khi chỉ còn cách anh chừng vài chục phân cô dừng sững lại, mở to mắt, miệng mấp máy gọi tên anh và chỉ một thoáng, đôi mắt đen láy của Vân đã đầy ắp nước mắt.

- Anh về… lúc nào ạ?

- Vân… vào nhà đi đã.

Cô gần như tựa hẳn vào anh, lê từng bước vào nhà. Họ ngồi yên lặng bên nhau trên chiếc giường tre, không ai nói được một lời nào cho đến lúc tiếng mẹ Vân vang lên dưới bếp.

- Vân ơi, xuống đây mẹ bảo cái này đã.

Vân vẫn nhìn anh đăm đắm, nói như gió thoảng:

- Anh nghỉ đi… nếu có muốn tắm thì có nhà tắm ở đầu nhà ấy. Nước ở trong ang, đừng ngại. Em gánh một lúc lại đầy ắp ngay ấy mà. Để em xuống xem mẹ bảo gì… Có lẽ… mẹ bảo bắt gà làm thịt cho anh ăn đấy. Tối nay bọn bạn em chúng nó sẽ kéo đến đấy… Anh phải chuẩn bị kể chuyện chiến đấu cho chúng nó nghe nhé…

Nói rồi Vân vội vã xuống bếp. Cô tíu tít giục mẹ điều gì đó. Cô chạy ra, chạy vào, cười nói ríu rít. Rồi… cô đánh đổ một cái gì đó và bị bà cụ rầy la. “Cô ấy đang vui. Cô ấy đã chờ đợi bao nhiêu. Hy vọng bao nhiêu? Vậy mà mình… - Anh tự vấn lòng mình – Mình không xứng đáng một chút nào. Mình là thằng tồi! Thôi, hãy đứng dậy, bước ra khỏi ngôi nhà này ngay và đừng bao giờ trở lại ngôi nhà này nữa”.

Sinh tự xỉ vả mình. Nhưng anh không còn đủ can đảm để đứng dậy, để nói bất cứ điều gì nữa. Đến tận lúc này anh mới hiểu rằng mình đã đánh mất một cài gì đó vô cùng quý giá. Nhưng bây giờ biết làm sao đây? Nói thật ra rằng anh đã quên Vân từ lâu, đã lấy vợ và cũng chỉ tình cờ mà qua đây thôi ư? Thế thì tàn ác quá, dù đó là sự thật. Không! Không nên như vậy. Đến giờ thì anh hiểu rằng anh yêu Vân, tình yêu ấy đến lúc này mới thực sự chín muồi trong anh và anh run lên khi nghĩ rằng nó sẽ tuột khỏi tay mình. Anh không thể để mất nó một lần nữa. Phải giữ lấy bằng mọi cách, kể cả sự dối trá! Sau đó ta sẽ yêu Vân thật nhiều để bù đắp lại những điều mà Vân đã thiệt thòi. Anh tự nhủ như vậy: Anh lại cảm thấy mình có sức mạnh. Không, anh không có quyền lùi bước nữa rồi. Anh sẽ chỉ… nói dối một lần này thôi. Rồi khi đã lấy nhau rồi, anh sẽ nói thật hết, sẽ xin lỗi Vân và mọi việc sẽ lại tốt đẹp…

Quyết định rồi. Nhưng bây giờ phải tính toán sao cho mọi chi tiết đều “khớp”. Hai năm qua anh ở đâu, làm gì? Cái đó không khó. Anh vẫn tại ngũ, đơm vị tiếp tục làm nhiệm vụ truy quét bọn Fulrô ở Tây Nguyên. Rồi tình hình biên giới Tây Nam căng thẳng vân vân… Điều may mắn là từ lâu họ không còn liên lạc được với nhau, không có địa chỉ để viết thư cho nhau, để hò hẹn. Muốn đi tìm nhau thì phải có thời gian chứ? Anh đã là trung đoàn trưởng rồi, trách nhiệm cũng nặng nề hơn. Đến tận hôm nay cấp trên mới cho anh nghỉ… thí dụ thế. Đấy là một phương án. Còn phải trả lời xem có phải tình cờ mà anh ghé bến Phù Vân không? Không! Anh đã chuẩn bị từ lâu cho cuộc đi tìm người mà anh yêu. Bằng chứng là… là… à! Đây rồi. Có mấy mét vải hoa rất đẹp anh vừa mua được định đem về cho hai cô em gái. Thôi xin lỗi hai em, anh dành cho Vân như một món quà tặng để Vân tin rằng anh đã chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này. Ngoài ra lại còn có cả một cân len miền Nam màu cà vàng đơn vị vừa phân phối cho. Tuyệt ở chỗ nó lại là hàng miền Nam. Đó là thứ quà phổ thông của bất kỳ một anh bộ đội nào sau giải phóng về thăm quê. Ổn lắm: Tất cả đều có vẻ hoàn chỉnh… trừ lương tâm! Ôi, nếu có thể đánh đổi bất cứ thứ gì có thể trung thực thì anh cũng sẵn sàng. Nhưng, lúc này không có gì có thể đánh đổi được, trừ tình yêu, mà cái đó thì anh không muốn đánh đổi.

Bữa cơm sum họp đã diễn ra vô cùng đầm ấm. Có lẽ đúng như Vân đã từng xây đắp trong mộng tưởng từ bấy lâu nay. Bà Vụ đã qua những bỡ ngỡ ban đầu và đã coi anh như người nhà. Có lẽ hai năm nay bà cụ cũng mong anh về không kém gì con gái. Thêm một lý do để anh không ân hận vì đã nói dối. Anh không có quyền đập tan cả niềm hy vọng trong lòng người mẹ cao cả và độ lượng kia nữa.

Buổi tối, các bạn Vân kéo đến đầy nhà. Hầu hết họ là công nhân trong các đội ươm tơ hay trồng dâu nuôi tằm của nông trường. Họ nói cười ầm ĩ, trêu chọc Vân đủ điều và các cô đã bắt đầu phác họa sơ sơ những dự kiến cho đám cưới của Vân. Rôi, không hiểu bằng cách nào những “quà tặng” của anh cũng bị moi ra. Các cô gái xúm lại xem vải, xem len và tấm tắc khen anh Sinh khéo chọn màu, chọn hoa, một cô to béo cứ ướm hoài tấm vải lên người Vân, và hét lên.

- Hay quá! Đủ may một cái áo dài cho cô dâu!

- Mày rõ thật! – Một cô gái nguýt dài – áo cô dâu phải may vải trắng chứ ai lại may vải hoa.

- Thì chẳng may được áo dài thì may áo ngắn chứ sao? Chị Vân gan thật đấy. Phải em á…? Giải phóng hai năm rồi mà không thư từ gì về cho em thì em đi lấy chồng “xừ’ nó rồi.

Đêm hôm ấy họ gần như thức trắng bên nhau: Sinh đã nghe Vân kẻ về những ngày xa cách, về những năm cô rời thanh niên xung phong về học đại học, về bao nhiêu nỗi niềm thương nhớ của mình. Sinh cũng kể về anh, nhưng có bao nhiêu điều anh còn phải giấu, phải bịa đặt. Lúc đầu anh thấy ngượng, nhưng sau quen dần anh nói trôi chảy tất cả mọi chuyện. Vân tin tất cả, không nghi ngờ gì cả. Vì cô yêu, khi đang yêu, người ta thường dễ tin như vậy.

Rồi họ nói đến tương lai, họ bàn đến cả lễ cưới và thậm chí, trong lúc say sưa Vân đã ngượng nghịu nói đến một đứa con. Theo cô, bây giờ chẳng còn gì ngăn cách họ, chẳng còn gì cản trở hạnh phúc của họ nữa. Sinh ngồi nghe Vân nói mà lòng nhói đau, xót xa cho Vân, thương Vân quá, và cũng chính vì thế, anh cũng nhận ra chân dung hạnh phúc của mình.

Sáng hôm sau, lấy cớ là phải về để báo tin cho gia đình biết là đã tìm thấy Vân, Sinh xin phép được đi sớm. Anh không còn đủ can đảm để ở thêm một ngày bên Vân nữa. Anh muốn có thời gian để bình tĩnh lại và suy nghĩ cho thật chín chắn trước khi phải quyết định một điều hết sức hệ trọng của cuộc dời mình.

Vân tiễn chân anh ra tận bờ đê. Trời hãy còn sớm, sương giăng đầy mặt sông. Tiếng sóng vỗ nghe mong manh, xa vời như từ đâu đó vọng lại. Bất giác, anh khẽ cất tiếng đọc.

Nhà Vân, bên bến Phù Vân.

Thương nhau xa cũng nên gần, hỡi ai.

Vân vui sướng reo lên

- Anh vẫn còn nhớ

- Không nhớ câu “thần chú” ấy thì sao anh tìm được Vân.

- Ừ nhỉ! Vậy mà… Chính em thì… Đến khi anh đọc em mới chợt nhớ ra. Lâu nhỉ? Vậy mà… Anh vẫn còn đi tìm em – Giọng Vân bỗng lắng xuống – Em cứ tưởng… Anh quên em rồi.

- Không! Không!... Sinh đáp vội vàng – Anh không bao giờ quên em.

Họ đi bên nhau thêm một quãng nữa rồi Vân dừng lại.

Thôi, anh về đi. Nhớ.. trở lại ngay kẻo em mong.

Anh sẽ trở lại…

Cho em gởi lời thăm… ư… thầy mẹ với lại… các em…

Anh lên xe. Vân vẫn đứng đó trông theo, trông theo mãi cho đến khi anh khuất hẳn sau ngôi nhà của những người canh đê mới quay trở lại. Sinh đạp xe chậm lại và bỗng thấy buồn vô cùng. Vậy ra, cho đến tận phút này trong anh vẫn chưa có gì cả. Tình yêu của Vân cũng chỉ là cái gì mong manh, lờ lờ như đám sương mờ kia. Nó sẽ tan ngay khi ánh sáng chói lòa của sự thật rọi vào. Một người con gái biết yêu như Vân không thể chấp nhận được sự thật ấy. Vân sẽ đau khổ biết bao, sẽ oán giận anh biết bao? Liệu anh sẽ kéo dài sự lừa dối ấy được bao lâu nữa? Đến lúc này khi đã ra khỏi cơn say choáng váng của tình yêu, anh bỗng hiểu ra rằng mình lại tính lầm một lần nữa. Đúng lý anh phải nói thật hết với Vân từ đêm qua. Là một cô gái thông minh, đầy mẫn cảm và biết yêu say đắm, rất có thể Vân sẽ hiểu anh, tha thứ cho anh và biết đâu có thể, vì thế mà cứu vãn được mối tình. Trong hoàn cảnh này chỉ có sự thật mới có thể cứu vãn được tình yêu. Anh có thể đi đến nấc chót của sự dối lừa cho đến khi cưới Vân. Nhưng… sau đó, liệu Vân còn yêu anh, tin anh, kính trọng anh nữa không khi tất cả sự thật về cuộc đời anh được phơi bày? Không! Anh không thể hèn hạ đến mức ấy:

Một ý nghĩ quyết liệt loé lên trong đầu anh – “Phải quay trở lại khi còn chưa muộn. Hỡi chàng dũng sĩ, hãy chấp nhận cuộc chiến đấu này để bảo vệ danh dự của anh. Ở đây, không đơn thuần chỉ là chuyện tình yêu. Đây là chuyện làm người. Vậy nên, hãy chọn lấy cách làm con người một cách cao đẹp nhất”.

Đã quyết định rồi. Anh thận trọng quay xe trở lại và đạp vun vút. Gió ngược. Nhưng lòng anh thanh thản hơn bao giờ hết.

 

III

Như tất cả các tác giả biết tôn trọng người đọc, tôi kết thúc chuyện về họ ở đó. Mỗi độc giả, bằng trí tưởng tượng phong phú của mình, đều có thể thành lập được đoạn kết.

Ở đây tôi chỉ kể thêm rằng mấy tháng sau lần gặp Sinh ở biên giới tôi cũng có may mắn có dịp ghé qua bến Phù Vân. Nhớ câu “thần chú” kể trên, tôi đã tìm đến người vợ thủy chung của anh. Đó là một ngày chị cũng đang trải qua một cơn sóng gió. Biết tôi là người được Sinh tin cậy, chị đã kể cho tôi nghe tất cả những điều xung quanh một vụ bê bối ở cơ quan mà chị đang phải tham gia giải quyết. Qua lời kể của chị tôi biết chị đang phải chiến đấu vất vả, căng thẳng để bảo vệ sự thật, chống lại những kẻ lợi dụng chức quyền để chèn ép kẻ khác, tham ô móc ngoặc, ăn hối lộ. Để có đủ sức mạnh, chị cần đến sự “chi viện” của anh, chị đã đưa cho tôi đọc bức thư của anh mới gửi về. Tôi xin mạn phép anh chị trích ra một đoạn vì tôi nghĩ nó có ích cho tất cả chúng ta trong cuộc sống hôm nay.

Em thân yêu!

Có những lúc cuộc sống đặt chúng ta vào một rnah giới quyết liệt, buộc chúng ta phải có một thái độ dứt khoát, phải chọn một phương pháp hành động để giữ được phẩm cách con người của mình. Cách lựa chọn ấy nhiều khi đau đớn, bởi vì để đến được với sự thật, nhiều khi người ta phải trả một giá đắt. Trường hợp của em cũng vậy. Đã đến lúc em phải lựa chọn dứt khoát giữa một bên là tình cảm anh em ruột thịt và một bên là chân lý, lẽ phải. Em nói thái độ của em lúc này có ý nghĩa quyết định đến uy tín phẩm chất và cả cương vị công tác của anh trai em và đồng thời cũng có ý nghĩa quyết định đến từng ấy thứ của một vài cán bộ khác trong cơ quan. Phải nói thêm, thái độ của em còn có ý nghĩa quyết định đối với phẩm cách con người của em nữa. Vậy em hãy suy nghĩ và tự quyết định lấy. Em hỏi ý kiến của anh ư?Anh đồng ý với cách xử lý mà nhất định em sẽ chọn. Đó chẳng phải chính là cách mà anh chọn để đến được với tình yêu của em đó sao?

Mấy hôm nay địch quấy nhiễu quá. Trong ba ngày trung đoàn anh phải đánh năm trận nhỏ. Pháo chúng bắn suốt ngày. Anh không có thời gian để bình tĩnh mà viết cho em nhiều hơn. Nhưng đó là những suy nghĩ cơ bản của anh. Với tư cách là người chiến sĩ, anh chỉ khuyên em một điều - Hãy dũng cảm và trung thực.

Họ đã viết cho nhau như vậy đấy, các bạn ạ. Nhưng tôi xin phép được dừng ở đây. Bởi vì, nếu kể nữa, e lại thành một câu chuyện khác.

 
 Hà Nội, 1981

 K.Q.T
 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM