vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 09:53:34 AM » |
|
Phái viên bộ tổng Tác giả :Tô Đức Chiêu
Chiến sĩ Nga là người đầu tiên phát hiện ra tổ trinh sát năm người bị hổ cấu chết bên bờ khe Trai Nai. Họ gồm một tiểu đội trưởng, một chiến sĩ đo đạc, một chiến sĩ phụ trách pháo đối kính, một kế toán pháo binh, một thông tin vô tuyến.. Họ hết lương thực. Nhiệm vụ vẫn đang khẩn trương. Chiến sĩ Nga trẻ tuổi, được phái tới tiếp tế và truyền đạt chỉ thị của đại đội trưởng. Rừng Quảng Trị những ngày đầu mặt trận chưa mở ra, u tịch và hùng vĩ. Theo dấu đường mòn Nga phải tới chân điểm cao 333 gặp tổ trinh sát. Anh hăm hở. Nhưng bồn chồn. Truyền đơn chúng rải trắng rừng. Nào là Thiếu úy đại đội phó Mai Hiền Nhi đã về với chính nghĩa quốc gia. Nào là cha mẹ và vợ con đang trông chờ các bạn từng ngày. Nào là vì sao cụ Phan Nho vui mừng. Rồi vì sao ông Hồ Hữu Ngân hăng hái hoạt động?... Nga hồi hộp. Mỗi đoạn đường đi về phía trước hun hút như rừng tự nhiên khép lại mà chẳng bao giờ chịu mở lối ra. Bom tọa độ rít rợn người. Rồi bom B52. Bom lửa. Bom phá. Pháo bắn cầm canh. Pháo bầy. Trên bầu trời lúc nào cũng có những tốp L.19 lượn lờ chỉ điểm. Nga không thể ngập ngừng. Như người sợ ma bao giờ cũng sẽ bị ma hù dọa. Anh lên đường lúc ấy còn sớm mà giờ này bóng chiều đã lởn vởn trần ai trên những tán cây rừng. Chỗ này tối sầm lại. Chỗ kia nở phình ra. Chập chờn. Ảo ảnh! Sao lại không sợ được nhỉ? Bỗng có tiếng hót vang đồng loạt từ chân bên kia động Be Lao vọng tới. Vượn! Có khi tới hàng trăm con vượn. Rừng Quảng Trị ngày ấy vượn từng đàn, to như con bê, ào ào chuyền từ cành này sang cành khác, rung động cả rừng cây bạt ngàn. Một con, chắc là đầu đàn, hót lên cao vút, hàng chục hàng trăm con khác hót theo, tạo thành dàn hợp xướng hoang sơ hùng vũ, của rừng mà chỉ ở khung cảnh này con người mới được thưởng thức.
Gần chân điểm cao 333 khi bóng mờ sương khói hun hút đuổi theo bờ suối Nga mới tìm được tới khu vực tổ trinh sát trú quân thì thật lạ... dấu chân hổ chi chít. Mới lắm! Anh chờn chợn. Thằng dịch mình còn bắn nó được chứ hổ thì... Nga đưa đạn lên nòng mà tay anh run run. Hổ đuổi qua khe thằng què cũng phải nhẩy. Ở đây phải gọi là tót. Tót sao cho nhanh trước khi con hổ với những móng vuốt kinh khủng và sức mạnh của phi đoàn B.52 lao tới. Và cũng phải chọn cây to để nó không thể nào húc đổ. Mỗi bước đi là một nhận định, một ngó nhìn, một hồi hộp, một lo âu.
Nga nép mình dưới gốc cây to, sẵn sàng bật lên, và hú làm hiệu.
- Tróc! Tróc! Tróc!
Vách núi ngập ngừng trả lại những âm thanh ấy:
- Tróc! Tróc! Tróc!
Anh vòm hai lòng bàn tay che miệng làm loa thổi vào thinh không rờn rợn những tiếng gọi bầy kêu cứu:
- Tắc kè! Tắc kè! Tắc Kè!
Vách núi vẫn trả lại đúng ba tiếng như vậy:
- Tắc kè! Tắc kè! Tắc Kè!
Quái lạ! Chẳng lẽ họ đã di chuyển? Chẳng lẽ họ quá mệt và ngủ khì trên những ngọn cây đề phòng hổ tới? Nhưng phải có người thức cảnh giới chứ? Bỗng anh giật thót mình. Trời ơi! Cành cây rơi chứ đâu có phải tiếng động phát ra từ bước chân của hổ. Vạt rừng trống cháy đỏ hoàng hôn sườn núi bên kia chẳng khác nào nụ cười giễu cợt. Những loạt bom tọa độ nổ vang bên lèn đá Hi Gia cắt ngang mọi suy tưởng khiến Nga vội vã bước đi. Anh hú gọi. Rừng núi vẫn từ chối đáp trả lại tiếng hú gọi của anh rền vang hút theo triền dốc chạy dài. Càng đi càng thấy dấu chân loài dã thú ấy líu ríu với nhau thành từng cặp, từng cụm, như những cái hình bình hành chồng xếp khéo léo. Anh bủn rủn muốn khuỵu hai gối xuống và cô đơn chết lặng giữa rừng đại ngàn.
Trời ơi kìa! Các vị này chắc quá mệt không còn nghe thấy tiếng hú. Lại còn không cử người cảnh giới. Mất cảnh giác thật! Đồng loạt ngủ ngon thế kia giữa chốn bom rơi đạn réo và bộ binh địch có thể từ trên trời bổ xuống bất cứ lúc nào có chết cha người ta không cơ chứ! Năm cái võng thành hình ngũ giác như trụ sở Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đung đưa giữa những thân cây. Nga hý hóp mừng thầm trong bụng và giận sôi người. Anh tính sẽ thu hết súng lại và hô biệt kích. Nhưng tới gần thì anh choáng váng. Bên cạnh chiếc võng đang tòng teo rúm ró chao đi chao lại là chiến sĩ có lẽ được phân công cảnh giới chết ngồi bên một gốc cây. Người anh rũ xuống. Thân đã tím lại. Súng tiểu liên vẫn dựa bên vai. Hai mắt lồi ra. Mặt rách toác. Quần áo tả tơi. Vết chân hổ cào cấu trên đất quanh chỗ anh ngồi. Chúng đã làm anh chết khiếp và hành hạ thân thể anh. Bốn người còn lại vẫn nằm im trên võng và chết trên võng. Thân thể nát nhừ. Có anh còn bị vặn ngoéo đầu lại phía sau. Ba lô nguyên vẹn. Súng đạn nguyên vẹn. Nga sững sờ. Trái tim như ngừng đập. Rừng sập bóng đen trĩu nặng. Đất trời bỗng dính chặt vào nhau tạo ra tiếng nổ khủng khiếp như thời tiền sử. Anh muốn gào mà không dám gào. Anh muốn khóc mà không dám khóc. Cuối cùng anh hét lên và trân trân chĩa súng bắn hết băng đạn ba mươi viên mà chẳng biết để làm gì. Thế rồi anh co cẳng chạy. Đâm vào cây vào cối cũng cứ chạy. Vừa thở dốc vừa chạy. Đêm ụp xuống cũng cứ chạy. Theo lối mòn đã dẫn anh tới đây mà chạy. Rừng già vô tận. Đêm tối không cùng. Phút chốc anh tưởng thế gian bỗng tan ra để rồi biến mất. Chính những loạt bom tọa độ đã thức tỉnh anh. Lần đầu tiên bom đạn kẻ thù không làm anh sợ mà còn háo hức cho biết anh là sinh linh đang tồn tại. Vậy thì anh phải hành động để thoát khỏi cái chết và về với sự sống.
Tin cả tổ trinh sát pháo binh bị hổ cấu bay vù về mặt trận rồi ngấm ngầm lan tỏa khắp các đơn vị. Những bộ đội làm nhiệm vụ lẻ tẻ trong rừng lo âu. Một phái viên Bộ Tổng tham mưu còn rất trẻ tên là Trang được phái xuống đơn vị pháo. Anh quê Thanh Hóa bên con sông nước phi như ngựa và sống gần bà con dân tộc mường. Nghe chuyện, anh không bình luận gì mà chỉ lẩm nhẩm trong miệng - Đàn hổ ít nhất phải năm con. Có khả năng nhiều hơn. Và chúng phải đồng lọat hành sự vào năm mục tiêu là các chiến sĩ trinh sát. Anh gặp đại đội trưởng. Rồi gặp chính trị viên đại đội. Rồi chiến sĩ Nga được gọi tới kể lại tỉ mỉ những điều mắt thấy.
- Chú mày! - Phái viên Bộ Tổng xưng hô với Nga thân mật - Có phát hiện ra dấu tích của sự vật lộn giữa người và hổ không?
Nga ngửa cổ lên trời ngẩn ngơ như rơi vào thinh không bao la:
- Em không để ý. Lúc ấy đã nhá nhem tối. Và anh bỏ qua em mới dám nói, thú thực em có phần nào mất bình tĩnh.
Phái viên xoa xoa hai bàn tay vào nhau:
- Không sao! Không sao! Cái sự đột ngột thế này có khi ai gặp cũng dễ mất bình tĩnh. Chính anh cũng đang rất lấy làm băn khoăn.
Rồi đột nhiên anh hất mặt lên và chớp mắt loang loáng nhìn Nga hỏi tiếp:
- Chú mày nhớ đường chứ?
Cái miệng Nga vắt vẻo chỉ kịp nhếch có một bên mép:
- Chắc là em nhớ. Nhưng để làm gì ạ?
Hàng mi phái viên cụp xuống. Anh nhìn vào một điểm vô hình thăm thẳm trong rừng đại ngàn:
- Để làm gì thì chú mày sẽ biết sau. Ngay bây giờ, đeo súng AK vào, đưa anh đi. Chúng ta sẽ tới nơi năm chiến sĩ hy sinh do hổ là kẻ thù gây ra tội ác.
Nga hơi ngán. Anh đã quay lại đây cùng tổ làm chính ách đưa thi hài liệt sĩ về phía sau chôn cất. Lần này là thứ ba. Mà bộ đội vào chiến trường đánh nhau với Mỹ hay đánh nhau với hổ đây? Dường như ngay chính trị viên đại đội cũng không khoái cử Nga đi theo phái viên. Hay là vị này muốn xa phía trước và gần phía sau hơn? - Anh lầm lũi đi trước dẫn đường, đôi mắt soi mói và cảnh giác. Phái viên đi phía sau chẳng nói chẳng ràng, thỉnh thoảng dừng lại nhìn đây đó làm chiến sĩ phải đợi. Nhiều lúc sốt ruột, nét mặt Nga trở nên nhăn nhó:
- Anh tìm gì ạ. Chẳng có mìn đâu.
Phái viên Bộ Tổng khoát tay ra chiều khẳng định:
- Đừng có tò mò quá, chú mày.
- Nhưng anh tìm dấu chân hổ à?
- Cũng có thể là như vậy.
Chiếc L19 sà xuống cánh rừng và tiếng loa rõ to bật vang. Cái giọng trọ trẹ nhát gừng từ phía trên rọi xuống: Hỡi các bạn cán binh bộ đội Bắc Việt... Hãy noi gương thiếu úy Mai Hiền Nhi... Vị phái viên chẳng để ý đến tiếng loa mà mải miết với những dấu chân trên đất còn Nga thì sốt ruột và chăm chú cảnh giới. Đến nơi tổ trinh sát pháo binh đi vào giấc ngủ vĩnh hằng phái viên quan sát từng dấu chân xem độ nhỏ to giống nhau hay khác nhau và từng cụm dấu chân như đếm sạn trong ra gạo. Rồi kéo Nga đi rộng tới những nơi bỗng dưng biên mất hẳn dấu chân hổ.
Họ ngồi ngủ dưới chân cây lim già. Phái viên Trang trầm tư lặng lẽ một lát rồi đứng lên, chậm rãi đi đi lại lại và dầu cây gậy chống cầm tay gõ nhịp vào bất cứ chỗ nào thuận tiện. Giọng anh dí dỏm và khêu gợi:
- Hổ ấy mà! - Vừa rồi đã xài hai con lợn quý giá của bếp anh nuôi mặt trận. Đêm đầu nó lùa tay vào chuồng bắt một con. Anh nuôi không hiểu sao cứ kiểm điểm hoài. Đêm hôm sau nó lại tới xài con nữa. Mình nghe tin xuống xem và làm cho một cái bẫy. Trò này mình học hồi nhỏ từ một ông già người Mường vùng Ngọc Lạc. Hồi lại tới. Quen mui lùa tay trước vào chồng. Đàn lợn hồn xiêu phách lạc im thin thít như thịt nấu đông. Lập tức dây bẫy bị tay hổ quờ phải kéo theo cò súng làm toàn bộ băng đạn bay ra khỏi nòng. Có tới bảy viên găm vào anh chàng trộm lợn tới mức siêu việt này.
Nga còn chưa hiểu ý định của phái viên thì anh Trang đưa ra câu hỏi:
- Hả? Chú mày đọc sách báo đã thấy nói hổ dữ đi hàng đàn tìm mồi bao giờ chưa? Ta có đầy đủ cơ sở khả nghi đây không phải là hổ. Ta cho rằng bãi tranh đang cháy đỏ hoàng hôn sườn núi bên kia trực thăng đã hạ cánh.
Nga nhìn theo ngón chỉ của phái viên trong lòng rộn rã bao ý nghĩ mới mẻ. Và điều bất ngờ hơn đối với anh là đúng nơi ấy có dấu trực thăng đỗ xuống. Không thể khác được rồi! - Vị phái viên Bộ Tổng nói ngay - Máy bay trực thăng đã chở tiểu đội thám báo tới đây. Chúng tiếp cận mục tiêu tấn công và thay lốt người bằng lốt hổ. Ý đồ tâm lý của hành động đã có hiệu quả. Ghê thật! Mỹ có khác - Anh hạ một câu như vậy để kết luận cuộc khảo cứu của mình.
Những cánh quân trùng trùng ngấp nghé các cửa rừng. Gần chục tiểu đoàn mỹ và ngụy đã nhảy xuống vùng Cù Đinh - Baze ngăn chặn. Chúng tràn ngập trên các điểm cao quanh những bãi trống. Chúng chiếm khu vực Phù Tân ấp, suối La La, lèn 216, lèn Hi Gia, làng Tre, điểm ba trăm đất, điểm ba trăm đá. Rồi bộ binh ta áp sát các mục tiêu đã được chuẩn bị. Pháo cối một trăm hai mươi ly không tập trung đánh tiểu đoàn mà phân ra từng trận địa đại đội sẵn sàng chi viện cho bộ binh tiêu diệt địch ngoài công sự. Sở trường của bộ đội ta là đánh đêm! - Nghe tuyên bố như vậy phái viên Trang chỉ im lặng. Anh xin phép mặt trận cho tập kích hỏa lực vài trận thí điểm. Có trận nổ súng vào lúc gần sáng và sau đó trinh sát tiếp cận kiểm tra kết quả trận đánh. Không thấy xác địch. Cũng không thấy dấu tích thương vong. Chỉ có những điểm đạn nổ rất chụm, chuẩn xác và đồ hộp đủ các loại.
Chẳng hiểu Nga thấy mến vị phái viên Bộ Tổng này từ lúc nào tuy rằng có phần e dè anh. Chính Nga đã chứng kiến phút gặp gỡ khi phái viên từ chân điểm 333 trở về. Chính trị viên đại đội nhếch mép cười rất ý vị: Sao! Ông bắt được hổ chứ? - Anh Trang biết mình bị giễu nhưng vẫn điểm tĩnh coi như chẳng có gì phải để ý. Anh từ tốn giải thích: Làm gì có hổ? Biệt kích Mỹ đội lốt hổ đó ông ạ. Xem ra bọn này cũng quỷ quái thật! - Chính trị viên lờ chuyện hổ đi mà xen vào- Bom pháo đủ loại đánh nát cánh rừng như ông đã thấy đấy. Nhưng bộ đội ta kinh hơn nhiều. Họ rất vững vàng ông ạ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« Trả lời #1 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 09:57:31 AM » |
|
Tiếp theo Tới đây vị chính trị viên cười rất tươi. Anh ngừng nhưng Nga biết ẩn dụ phía sau lời nói ấy. Cái ngầm ý sâu sa là như thế này: Chính tôi (chính trị viên đại đội) đã xông xáo có mặt bên từng chiến sĩ lúc nguy nan nhất, nhẩy lên khỏi hầm ngăn chặn mấy anh bị đánh ác liệt quá sinh ra dao động: Nằm xuống! - Tôi đã hét lên như vậy tới khản hơi kiệt sức - không được rời vị trí chiến đấu! Tôi đã khẳng định niềm tin cho anh em và trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm chứ đâu có nhởn nhơ đi tìm vết tích của hổ.
Phải chăng dưới con mắt của chính trị viên, anh Trang chỉ là công tử. Sĩ quan tổng hành dinh! Thành phần lớp trên. Nghe nói giàu lắm. Các cụ ngày xưa có trang ấp kia mà! Nhất là khi mỗi sớm tuồn khỏi căn hầm đất tiu hỉu phái viên lấy lược chải đầu thì thế nào chính trị viên cũng lặng lẽ nhìn để rồi nguýt dài một cái. Nga băn khoăn về sự đánh giá không công bằng của chính trị viên. Nga thấy ở anh Trang sự có học và hiểu biết rộng rãi. Ấy vậy nhưng Nga để ý thấy không khi nào chính trị viên đại đội chính thức mời anh nói chuyện. Những khi các cán bộ chính trị giảng bài về đường lối, về lập trường, về xu hướng thời đại với những tính tất yếu gì đó anh vẫn nghiêm chỉnh ngồi nghe. Khi chiến sĩ hỏi chính trị viên đại đội: Thủ đô Lơ ke ở đâu và của nước nào? Vị chính trị viên đại đội đầy tự tin khẳng định: ở bên Tây và của nước Pháp! Có chiến sĩ bật cười. Nhưng anh Trang thì im như là không nghe thấy.
Một buổi sáng mùa thu gió lặng nắng vàng. Chiến sĩ Nga chui từ căn hầm ra vươn vai một cái rõ dài và bất ngờ kêu lên thèm khát: Chao ôi! Giống buổi sáng đến trường ghê quá. Anh thấy đôi mắt phái viên Trang mở rất to nhìn mình xa xăm lưu luyến. Phái viên như muốn nói một câu gì đó với chiến sĩ. Nhưng rồi im lặng và đăm đăm hướng vào chốn vô hình. Từ đài quan sát đại đội trưởng điện xuống có tốp máy bay lên thẳng là là bay đứng trên mặt sông Cam Lộ. Sao? Sao lại là là trên mặt sông Cam Lộ? A! Chúng nhất bổng lên rồi. Ơ kìa! Chuẩn bị! Chuẩn bị! Lèn Hi Gia! Tọa độ... Đạn... Ngòi... Liều... ơ kìa! Chúng nó tắm. Lính Mỹ tắm! Chúng tồng ngồng từ trong lèn chạy ra, trắng có, đen có, như ngan như vịt đủ màu kỳ cọ dưới mưa phun của máy bay lên thẳng. Bắn! Bắn gấp! Tạm dừng! Lính Mỹ đã ồ ạt chạy cả vào trong lèn.
Vào thời điểm địch dàn quân ra khắp vùng Cù Đinh và hết sức ca lên việc thiếu úy Mai Hiền Nhi đầu hàng thì phái viên Trang được gọi về sở chỉ huy mặt trận. Chuyện hổ báo người ta cũng nhanh chóng quên đi như trời đã sáng chẳng còn sợ ma nữa. Mặt trận yêu cầu các phái viên từ Bộ vào, và của chính mặt trận cử xuống, nhanh chóng rút kinh nghiệm ban đầu để tìm cách bẻ gẫy cuộc hành quân Haxtin rầm rầm rộ rộ.
Hang núi thẳm sâu trong rừng đại ngàn. Điện sáng trưng. Không có bom đạn hoặc bất cứ thứ biệt kích thám báo nào mò được tới đây. Vị Tư lệnh vừa từ đài quan sát tiền duyên trên điểm cao 425 trở về ngồi ở trước bàn ghép bằng những thanh nữa đặt mấy chiếc máy điện thoại. Chuông reo. Ông cầm máy và cất giọng chắc nịch:
- Thu Bồn không tiêu diệt được mấy đơn vị Mỹ này thì có tội với đồng bào miền Nam ruột thịt! Tôi nhắc lại là có tội với đồng bào miền Nam ruột thịt! - Ông định đặt máy lại áp vào tai gọi tiếp - Hả? Vồ hụt à? Cho đơn vị rút kinh nghiệm. Rút kinh nghiệm ngay! Hổ vồ mồi mà vồ hụt thì còn ra cái thể thống gì nữa!
Tư lệnh ngồi chững chạc đầy vẻ oai phong. Nếu chỉ thấy trong tư thế đang hiển diện ta dễ đánh giá ông là con người bệ vệ, xa cách. Nhưng chính Trang đã gặp ông bên suối Cù Đinh, chính Trang đã cùng ông nhào vào một khe đã khi bom B52 chụp xuống nên hiểu ông là người thế nào. Anh giơ tay chào và ngồi vào vị trí. Đánh loáng, các hàng ghế đã chật người. Không cần tuyên bố lý do, không cần báo cáo theo nghi thức, Tư lệnh đặt máy và vào đề luôn:
- Lần đầu tiên chúng ta chạm trán với lính thủy đánh bộ Mỹ. Mỗi người trong chúng ta cũng như quân khu và mặt trận đều chưa có kinh nghiệm. Mọi bài bản huấn luyện ở hậu phương phải được áp dụng linh hoạt và không máy móc. Các đơn vị của Thu Bồn có pháo cối hạng nặng và sơn pháo bẩy nhăm ly chi viện đã mấy lần chộp hụt những đại đội Mỹ. Hồ vồ mồi như thế được chăng? Thế là thế nào? Kẻ thù với đội quân ngàn ngàn và bom đạn trung lai bất tận đang hung hăng tìm diệt và bình định mà ta lại định thu lu chui vào ba chân kiềng sao? Hả các đồng chí?
Và ông ngồi nghe. Lặng im để nghe. Không cắt ngang lời một người nào. Nhưng bất cứ ai dài dòng lặp đi lặp lại một nội dung thì ông nhắc ngay. Phái viên Trang trình bày ý kiến của mình. Sở trường đánh đêm từ thời chống Pháp vẫn làm ta đắm say song phải biết áp dụng sao cho phù hợp vì đối tượng tác chiến hôm nay là chú Sam ghê gớm chứ đâu phải anh gà trống Gô loa dạo nọ.
- Thưa thủ trưởng mặt trận! - Trang nói - Năm chiến sĩ của tổ trinh sát pháo binh bị hổ vồ như ta đã biết. Mới đây lại một chiến sĩ tình cờ thoát khỏi nanh vuốt của hổ. Đồi tranh. Chiến sĩ ra suối lấy nước. Nghe tiếng sột soạt khe khẽ anh cảnh giác ngồi thụp xuống đúng lúc con hổ phóng vút phía trên đầu. Chỉ phần ngàn của giây chậm trễ chắc chắn mặt chiến sĩ sẽ bay vèo. Loài hổi vồ hụt là biến. Thời cơ chiến đấu thắng kẻ địch để bảo vệ mình khắt khe là vậy. Nhanh một giấy không được. Chậm một giây không xong. Còn cái thế kiềng ba chân theo tôi chỉ là biện pháp chiến thuật nhất thời bởi nó mang tính phòng thủ thụ động.
Mắt Tư lệnh sáng lên:
- Vậy với pháo binh thì sao?
- Vẫn phải áp dụng thế hổ vồ mồi. Chi viện cho bộ binh đánh địch ngoài công sự hay độc lập tập kích vào sinh lực lộ cũng như vậy cả.
- Đồng chí phái viên! - tư lệnh mặt trận cao giọng. Ông hơi nhướng người về phía trước làm cho cái đầu cắt cua hùng dũng chẳng khác nào khối thuốc nổ sắp được châm ngòi - Liệu có nên đặt ra giả thiết địch là hổ và ta là mồi không?
Trang điềm tĩnh báo cáo:
- Sự ấy đã xảy ra rồi, Thưa Tư lệnh. Ta mạnh. Và địch cũng mạnh. Năm chiến sĩ pháo binh địch cấu nát chẳng là báo hiệu hổ vồ mồi đó ư. Nếu ta không là hổ thì dứt khoát sẽ biến thành mồi. Nếu kiền ba chân cứ tưởng là vững mà án binh bất động thì sẽ là mồi. Sẽ bị đớp gọn từng chân kiềng một hoặc cả ba chân cùng một lúc!
- Cám ơn đồng chí! - Tư lệnh hạ thấp giọng và ngồi xuống ở tư thế cũ.
Phái viên Trang cẩn trọng lắng nghe mọi ý kiến phát biểu và đặc biệt kết luận của Tư lệnh mặt trận. Anh đề nghị được tiếp tục gắn bó với đơn vị. Mây trắng bồng bềnh và anh muốn bay cao để nhìn ra xa tít tới cả vùng đồng bằng ven biển miền Trung rực rỡ ánh nắng mặt trời. Anh trở về với đơn vị hỏa lực. Chiến sĩ nghênh đón khi anh nhanh nhanh bước tới với mũ tai bèo đội lệch, túi 351 kềnh kệch bên sườn, cây gậy nhỏ cầm tay vừa để chống vừa vung vẩy vào không khí như lấy đà khua khoắng. Riêng Nga chỉ nhành miệng ra cười và xoe xoe hai mắt ngắm nhìn. Bốn khẩu pháo cối hạng nặng một trăm hai mươi ly dàn đội hình dưới chân điểm cao không tên chờ đánh tập kích vào bất cứ đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ nào nống ra khu vực đồi Con Thỏ bên kia tràng rộng Baze. Cuộc hội ngộ chẳng vui sướng gì giữa ta và địch được chọn là vào sáng sớm hoặc chiều về chạng vạng khi địch vừa đổ quân xuống hoặc thực hành bốc quân đi.
Lính Mỹ chơi sáng hơn cả các chàng công tử Bạc Liêu một thời cưỡi xe song mã. Máy bay ném bom hoặc pháo bắn cấp tập dọn bãi sạch tưng. Rồi rùng rùng máy bay trực thăng chở các chàng đáp xuống. Rồi co cụm lại hoặc đánh nống ra vùng chung quanh. Chiều đến ít khi đón về điểm cao ban đầu và đó là điều làm bao lần ta đã tập kích vào chỗ không người. Chúng có thể dùng trực thăng bốc đi. Rất bất ngờ. Rất nhanh chóng. Nhưng cũng có thể co về, hành động như vừa nấp sau màn sương khói mơ màng vừa phới lới bày ra trước mặt, nhận đạn dược, thực phẩm, thuốc men, đầy đủ, chi lý đến cả gói giấy vệ sinh và nước rửa, rồi đốt lửa, để đêm chìm xuống, luồn rất tài tình vào bóng đen sâu hút dành cho đối phương một mục tiêu không người.
Cuộc chiến ở Cù Đinh - Baze những ngày năm 1966 ấy hai bên chờn vờn nhau cứ như mèo và chuột. Lúc bên này là mèo thì bên kia là chuột. ở chỗ nọ bên này là chuột thì bên kia là mèo. Đôi khi cả hai đều là hổ, gầm gừ, nhe nanh, giơ vuốt, chẳng hiểu anh nào sẽ chộp được anh nào. Núi rừng nghiêng ngả. Cây cối bị tiện ngang. Từng đàn vượn mấy trăm con ào ào rừng cây cành lá biến đâu mất tăm. Tiếng hót của chúng chẳng còn vang vọng từ bên kia dãy Tia Pông đội về. Hổ cũng mất hút. Suốt ngày đêm rùng rùng chuyển động. Trường Sơn nghiêng ngửa. Trường Sơn bùng cháy. Trường Sơn oằn mình lấy sức như sắp đổ ụp xuống đồng bằng.
Tin từ mặt trận ngày mai địch sẽ đổ quân lần thứ hai xuống dãy đồi Con Thỏ bên kia tràng rộng Baze. Nhưng mỏm nào? Dãy đồi ấy có rất nhiều mỏm? Khó mà biết trước cụ thể mỏm nào vì ngay cả dự báo kia mới là phán đoán. Suốt đêm đó đài quan sát pháo binh do đại đội trưởng Xuân phụ trách thay nhau theo dõi mọi diễn biến. Từ Cam Lộ, từ 241, pháo địch vẫn bắn từng loạt động rồ tới các mỏm của đồi Con Thỏ. Chẳng có gì gọi là đặc biệt. Mờ sáng pháo địch bất ngờ như lên cơn sốt ác tính bắn cấp tập vào mỏm K và mỏm H. Rồi máy bay phản lực chúi xuống cắt bom. rồi từng đàn trực thăng chở quân khuấy động bầu trời. Đất xoay tròn. Núi đồi nghiêng ngả. Bốn khẩu pháo cối hạng nặng thập thình nhả đạn tìm điểm chạm rồi khi có phần tử chuẩn xác thì thi nhau tung đạn như muốn khợp lấy bầu trời đầy lửa. Hổ đang vồ mồi! Lính Mỹ lập tức đổ sang những mỏm đồi bên cạnh. Pháo cối chuyển làn. Đạn nổi găm những mảnh gang là là trên đất. Trận đánh diễn ra chừng ba mươi phút đồng hồ. Sở chỉ huy mặt trận điện xuống yêu cầu đại đội cử tổ trinh sát tới các mỏm K và H của đồi Con Thỏ, kiểm chứng kết quả bắn pháo của ta và xem xét mức độ thương vong của địch.
Phái viên Bộ tổng xin được đảm nhiệm tổ trinh sát này. Các cán bộ đại đội tròn mắt nhìn nhau. Chính trị viên bước đi bước lại trước căn hầm nhỏ. Anh người thấp. Đầu cứ hơi cúi xuống khoái trá đếm từng bước chân trên đất để rồi thỉnh thoảng mủm mỉm cười ruồi. Đôi lần anh đứng hẳn lại bập bạp đôi môi vào không khí ắt hẳn muốn hỏi bầu trời: Có nên đồng ý không nhỉ? Có gì lạ lùng ở chuyện này không nhỉ? Chơi trọi chăng? Và cái gương mặt viên thiếu úy chợt choài mang tên Mai Hiền Nhi ra hàng chẳng lẽ không phải là bài học cho ta hay sao? Phái viên Bộ Tổng có trình độ đấy, được anh em đơn vị mến yêu đấy, nhưng lại không phải thành phần cơ bản để ta hoàn toàn yên tâm. Gia đình anh có trang ấp kia mà! Vậy thì ghê gớm quá. Anh tư như mây trời lơ lửng biết đâu lại chỉ thích vù vù lượn theo chiều gió. Ngay cả chiến sĩ Nga cũng hiểu rõ điều này. Khi nhập ngũ anh đã phải kê khai thành phần gì, bố mẹ, ông bà, cụ kỵ, cả đến những người thân chưa bao giờ anh biết mặt và gặp gỡ, có bao nhiêu tài sản. Anh hiểu chính trị viên đại đội của mình là con người dũng cảm, khí phách hiên ngang, nhưng rất kị với những ai thuộc tầng lớp cứ bồng bềnh chiều mây lảng bảng. Nga hơi mủi lòng thay cho phái viên Trang. Dường như anh Trang nắm bắt được những làn sóng ngầm xô nhẹ ấy song không tỏ thái độ gì.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« Trả lời #2 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 10:00:33 AM » |
|
Tiếp theo : Vào chốn hy sinh âu cũng chẳng được dễ dàng!
Mặt trận điện xuống đồng ý để anh Trang đi.
Nghe đâu phải có ý kiến của Tư lệnh.
Chính trị viên đại đội không cử Nga mà lại gọi chiến sĩ Hoàng tới giao nhiệm vụ:
- Đồng chí đi với phái viên Bộ Tổng.
Hoàng nhăn mặt lại như bát canh quá nhiều lá bứa:
- Tôi sẵn sàng ạ. Nhưng sao không phải Nga? Nga vẫn đi với phái viên kia mà. Sao lại là tôi?
Chính trị viên hất chiếc mũ tai bèo đang đội đầu về phía sau rồi nở nụ cười phơ lớ:
- Là đồng chí! Nhiệm vụ nặng nề. Tổ có ba người. Phái viên Trang, đồng chí và một chiến sĩ vô tuyến mang theo máy 2W. Phải liên lạc vê theo quy định. Phải luôn luôn lắng nghe chỉ thị. Có tình hình nguy cấp phải báo cáo và mở máy liên tục. Đồng chí phải hiểu vì sao mình được chọn.
Hoàng đánh mặt làm cho cái mũi nhòn nhọn vắt vẻo như mũi tây hếch lên và miệng nhanh nhanh đáp gọn:
- Rõ!
Chính trị viên bỗng kéo mũ tai bèo trùm kín đầu:
- Chưa. Đồng chí chưa rõ hẳn. Đồng chí thành phần gì nhỉ? Nghĩa là bố mẹ, ông bà, cụ kỵ ấy mà.
- Bố mẹ em bần nông!
- Đấy. Còn ông nội đồng chí?
- Cũng bần nông.
- Đấy! Như thế chứ. Còn cụ kỵ chắc đồng chí chả biết. - Rồi xòe hai bàn tay ra nói tiếp - Chính vì vậy mà cử đi làm nhiệm vụ hôm nay. Phải quan sát mọi cử chỉ, mọi hành động vì tới đồi Con Thỏ cũng là lọt vào trong vòng của địch. Máy bay chở quân của chúng có thể hạ xuống bất cứ lúc nào. Một cán bộ có thể thông minh và vững vàng khi chỉ huy trên bản đồ tác chiến, thậm chí khi đi tìm vết chân hổ, nhưng trước tình huống hiểm nghèo lại chưa được thử thách để mà khẳng định. Lại càng chưa biết được sẽ như thế nào trước mọi sự cám dỗ... Thiếu úy đại đội phó Mai Hiền Nhi là bài học đau đớn cho chúng ta.
Tới đây người chậm hiểu nhất cũng rõ chứ đừng nói đến Hoàng. Anh nhảy nhót với chiếc ba lô cắm đầy ngụy trang và tiểu liên AK trước ngực. Từ các dẻo yên ngựa và sườn dốc khu đồi Không Tên xuống đã là suối Cù Đinh. Ngược về phía bắc đi nữa, đi nữa, tốp người đổ bóng trên tràng rộng Baze. Cỏ hoa chạy dài nhức mắt. Những vùng bị cháy đen xạm hoặc đỏ cạch khói vẫn nghi ngút bốc lên làm cho mặt đất mênh mông như tấm da báo căng mãi không biết đâu là bến là bờ. Chỗ này chỗ kia lửa ngùn ngụt lè ra liếm vào bầu trời sền sệt vàng cong nắng quái. Những bông lau còn sót lại tạo thành lớp bụi phấn màu bàng bạc trôi tít tới chân rừng. Các mỏm đồi Con Thỏ nối nhau như thiên nga rã cánh nhập vào với đàn khác ở An Hòa, ở Bái Sơn trùng trùng quẫy cựa dưới tro tàn và khói bom ảm đạm. Lúc nằm. Lúc chạy. Lúc ẩn mình bên khe đá hoặc các bụi sim mua. Lúc tưởng bị địch tóm gọn. Truyền đơn có ảnh Mai Hiền Nhi đang vui cười được rải dầy đặc. Có truyền đơn chúng vẽ người chiến sĩ giải phóng hai tay giơ cao, mũi súng chúi xuống đất với dòng chữ kêu gọi: Các bạn hãy tỏ thiện chí trở về chính nghĩa quốc gia bằng hành động như thế này và nếu như chưa có dịp thì hãy cứ giữ lấy tờ giấy có trong tay bạn làm căn cước. Hoàng thấy phái viên Trang chẳng nói chẳng rằng xé vụn tờ truyền đơn ném về phía trước.
Nga ở lại trận địa lòng dạ bâng khuâng: Bỗng anh nhớ phái viên Trang. Con người ấy đâu phải là bẻm mép. Trận địa bị đánh tơi tả suốt mấy ngày liền. Cây cối đổ ngổn ngang. Bỗng ào ào... ào ào... Đàn vượn không hót mà chuyền cành chạy trốn rất nhanh trong nỗi kinh hoàng. Một con bỗng rơi bịch xuống đất. Nó lăn quay hai ba vòng liền. Dường như nói bị hơi ép của bom hay có miểng nào găm vào trong người cũng chẳng biết nữa. Nó gắng gượng rồi ngồi xệp trên mặt đồi như là lấy sức. Nó quay lại nhìn! Nó nào có nghe. Anh chạy tới định bế lấy, nó liền chồm theo đồng bọn. Một con khác to lớn chẳng hiểu có phải đầu đàn hay không chạy lại đón nó, đỡ lấy một bên vai của nó, nhập vào với cả đàn tiếp tục ào ào... ào ào... trên những tán lá rừng còn sót lại.
Cả trận điạ quan tâm theo dõi bước chân của tổ chiến sĩ đi vào khu đồi Con Thỏ. Liên lạc vô tuyến mười lăm phút một lần. Quá trưa họ đến điểm cao H. Mọi kết quả kiểm tra được thông báo về. Đạn ta nổ rất chụm. Không còn một xác lính Mỹ nào. Nhưng dấu tích thương vong thì nhiều. Vết máu. Bông băng. Cả bộ phận nào đó của cơ thể. Mọi người hiểu rằng lính thủy đánh bộ Mỹ chiến đấu theo điều lệnh khá bài bản. Hầm cá nhân ưỡn cong dưới nắng. Không sâu. Nếu trụ lại có thể mắc võng nằm ngửa liu riu thõng thẹo theo chiều dài căn hầm. Súng gác chéo trước ngực. Bị hỏa lực tập kích chỉ cần ôm súng lăn nhào xuống là kín người. Bị bộ binh ập tới chỉ cần bật dậy là tha hồ xả đạn. Quanh mỗi công sự cá nhân là cả một chạn thức ăn phong phú. Hộp trứng. Hộp phomát. Hộp mứt hoa quả. Hộp lạc. Hộp rau. Cà phê tan và cồn đun nước pha tại chỗ. Nước rửa mặt. Giấy vệ sinh... Vô tuyến báo về vị phái viên Bộ Tổng nhanh chóng nhặt những đồ ăn lạ lùng ấy cho vào bo lô nên hai chiến sĩ kia cũng thoăn thoắt làm theo. Họ vừa chuẩn bị lui thì pháo địch rót tới. Rồi một đàn máy bay chở quân xuất hiện. Chúng muốn chiếm dẻo đồi Con Thỏ lần thứ ba. Rõ ràng đối phương toan tính ngăn chặn dòng thác bộ binh ta tràn qua ép vào vùng phía tây huyện Gio Linh.
Phái viên Trang kéo cả tổ nép mình bên một cụm sim mua già. Không được lộ! - Anh ra lệnh khi thấy chiến sĩ Hoàng giơ tiểu liên lăm lăm - Nhưng địch chụp lên đầu? Chưa! chúng còn chưa... Chúng chưa chụp... Hoàng lại giơ súng lên. Đôi mắt phái viên Trang vằn đỏ - Cấm! Tôi là người chỉ huy ở đây. Cấm manh động - Không được để kẻ thù phát hiện. Phải giữ bí mật đến cùng và tìm lối thoát.
Mất liên lạc. Cả đài quan sát vào trận địa thấy rõ máy bay chở quân hạ xuống. Có chuyện rồi! Chính trị viên bồn chồn ngồi lặng trên khúc cây đổ ngang phía sau trận đại. Anh kéo sụp vành mũ tai bèo xuống như tàu lá môn thục bị héo. Nghe chiến sĩ thông tin báo có những âm thanh lạo xạo từ phía đồi Con thỏ gọi về máy bộ đàm vừa liên lạc được anh lao tới thộp lấy ống nghe và gọi rối rít: Hả? Hả? Bến Hải đâu? Bến Hải đâu? Bỗng giữa những âm thanh loạn xạ trùng lai ấy vang lên giọng của chính phái viên Bộ Tổng:
- Tọa độ H!
Chính trị viên bật người như chiếc lò so cực mạnh:
- Hả? Sao lại tọa độ H?
Tiếng vọng từ phía đồi Con Thỏ hổn hển gấp gáp:
- Chúng đổ quân xuống rồi! Chúng đổ quân xuống rồi. H!
ấy là phút giây ba chiến trực thăng chở quân hạ hẳn. Rồi một chiếc khác nhất bổng lên từ từ hạ trên đầu ba chiến sĩ. Cái bụng nó lỳ lỳ gớm ghiếc. Cửa máy bay mở. Nhạc nổi lên. Tiếng gọi chiêu hồi vọng xuống. Máy bay thấp dần tưởng như sức gió hút bật ba chiến sĩ dính vào thân dưới của nó. Bỗng một thang dây tung ra vắt vẻo và tiếng gọi chua chát: Lên đi các bạn Bắc Việt! Tức thì khẩu súng ngắn trong tay phái viên nổi đanh hai viên đạn. Máy bay bật lên cao. Rõ ràng chúng muốn bắt sống nhưng không dám hạ hẳn xuống. Lính Mỹ trên mặt đồi khép chặt vòng vây. Tổ ba người còn rất ít đạn đang bắn phát một như bình tĩnh đếm từng bước chân trên đường đến cõi vĩnh Hằng. Một lần nữa Trang lại trực tiếp gọi vào máy:
- H!
Anh không thể nói gọn hơn được nữa. Đạn pháo cối ta chụp xuống. Lính Mỹ ào ra bốn phía. Lệnh bắn gấp liên tục. Nga vừa nạp đạn vừa giàn giụa nước mắt nức nở khóc một mình. May mà khói bụi mù mịt chẳng ai phát hiện ra. Trận đánh ngừng và sau đó Hoàng cùng chiến sĩ vô tuyến tơi tả chạy về.
Mọi người xúm lại:
- Anh Trang đâu?
Giọng Hoàng khản đặc:
- Hy sinh...!
Ngay lập tức lời khẳng định ấy được chỉnh lại bằng hơi thở ngập ngừng hổn hển:
- Có thể là hy sinh...!
Chính trị viên trợn tròn hai mắt:
- Sao lại có thể? Trình bày rõ xem nào.
Hoàng hối hả kể mà tiếng nói cứ lịm đi như tiếng gọi hồn chìm vào trong đất. Một chiến sĩ kêu lên: Cho cậu ấy uống đã! Cho cậu ấy uống đã! Một ca nước đầy được mang đến. Hoàng ực một hơi hết sạch rồi lại cất giọng khàn khàn đặc quánh:
- Chúng nó chụp xuống. Phái viên kéo chúng tôi vào bụi sim mua rất dầy và yêu cầu phải giữ bí mật. Anh quát lên: Không được manh động! Không được liều mình! Nhưng lộ rồi. Làm gì mà bọn Mỹ không phát hiện ra. Chúng thả thang dây kêu gọi. Rồi lính thủy đánh bộ lao tới. Chúng tôi đánh trả. Khẩu súng ngắn trong tay phái viên cẩn trọng điểm xạ từng phát. Tôi không thể nào quên được khuôn mặt anh ấy. Lạnh như sắt thép và hai mắt đỏ ngầu. Đạn hết, anh ném súng và bắt chúng tôi rút. Tôi thấy máu đã ướt đầm chân anh, trên vai anh và cả trên mặt anh. Tôi liền ghé vai định cõng thì anh thều thào nói trong hơi thở:
- Mau... Rút...
Tôi vặn lại:
- Còn anh?
Anh gắng sức nói và hai mắt thình lình biến thành hai tia lửa cháy rực có thể thiêu trụi cả một cánh rừng:
- Rút... u... út! - Đoạn anh lôi quả đạn từ túi đeo bên thắt lưng chờ lính Mỹ lăm le đi tới. Có lẽ chúng vẫn muốn bắt sống anh.
Chính trị viên tròm mồm ho hó hỏi lại:
- Bắt sống à?
Và thêm vào ngay:
- Chắc chắn không?
Chiến sĩ thông tin giảng giải thay cho bạn:
- Không ạ. Không chắc đâu anh ạ! Anh Trang không thể để mình rơi vào tay quân thù. Lựu đạn lăm lăm trong tay. Và anh chờ đợi. Chờ đợi! Anh gắng sức kìm chân địch cho chúng tôi thoát ra trọn vẹn. Tôi thấy rõ anh loay hoay để sẵn sàng rút nụ xòe quả lựu đạn. Anh sẽ chọn cho mình cái chết xứng đáng!
Cả trận địa lặng lẽ. Chính trị viên kéo vành mũ tai bèo rũ xuống và khuôn mặt đăm chiêu để rồi dần dần ửng đỏ. Bên khóe mắt anh hai giọt lệ cực lớn lăn ra. Đại đội trưởng Xuân cũng có mặt từ lúc nào. Cả đêm hôm ấy và ngày hôm sau toàn địa đội phấp phỏng chờ tin tổ tìm liệt sĩ. Họ về tay không. Họ đi theo đường cũ. Họ không thể rà sóat được hết các ngả đường từ đồi Con Thỏ về trận địa. Nhưng khi trời đêm sắp ụp xuống rừng già, chiến sĩ Nga xuống suối lấy nước thấy một hình hài đang di chuyển tới. Anh đứng lặng. Lúc đầu sợ hãi. Rồi bỗng khuỵu hai chân và hét lên: Anh Trang! Nga lao tới đón và nước mắt cứ ào ạt chảy ra. Rồi cả đại đội xúm lại. Người ta cười và khóc. Người ta gọi bác sĩ trung đoàn bộ binh phối thuộc tới. Người ta xung phong cho máu để chuyền. Người ta hồi hộp! Người ta nín thở! Người ta đợi chờ!
Rừng đêm sáng dần.
Trại viết Đồ Sơn.
T. Đ.C
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Tư, 2011, 11:22:51 AM gửi bởi vmt »
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« Trả lời #3 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 10:06:14 AM » |
|
Khoảng cách Tác giả :Triệu Bôn
Lúc 12 giờ trưa, đại uý "Đời Lãng Tử" được lệnh đưa tiểu đoàn 1 rút khỏi S.N dưới làn đạn dày đặc của đối phương. Cái tiểu đoàn vốn đã kiệt sức vì những tháng hành quân liên miên, đến nay lại bị vẹt đi quá nửa. Một số phơi xác trong rừng cao-su đất đỏ, một số bị thương phải bỏ lại... I. Trên chiếc xe díp của Đời Lãng Tử còn lại bốn người: Y - tiểu đoàn trưởng, trung uý Lã Nam Phong - sĩ quan tham mưu tiểu đoàn, tên hạ sĩ nhất thông tin đeo máy PRC25 và tên lái xe. Tuy vậy trên xe vẫn chật ních, vì có quá nhiều những thứ "chiến lợi phẩm" y đã cướp được từ ngày hành quân lên "xứ thổ" này. Trong cái mớ lỉnh kỉnh toàn những hòm xiểng và bao bì ấy, y không nhớ có bao nhiêu loại của cải khác nhau. Y chỉ biết chung chung là thứ nào cũng đáng giá. Chẳng hạn như một bộ đồ trà bằng bạc nguyên chất sáng nhoáng, mấy tấm thảm sản phẩm địa phương rất đặc biệt, một cái hộp nhỏ bằng ngà voi đựng đầy những nhẫn vàng, và nguyên cả một con voi con đúc bằng vàng… Mang được những thứ đó về tới hậu cứ, y sẽ thừa sức trang hoàng căn phòng của y sang trọng hơn bất cứ phòng của một sĩ quan nào khác trong sư đoàn. Và dù không thèm lĩnh lương cả năm, y cũng thừa thãi tiền bạc để tiêu xài thỏa thích.
Từ mấy tháng nay, đống của cải ấy đã trở thành một niềm kiêu hãnh ngấm ngầm trong người y. Y chê bai đám sĩ quan ngang cấp và cấp trên là bần tiện, vì họ nhặt nhạnh từ tấm sà-rông của phụ nữ, đồ chơi của trẻ con, tới giường tủ, mền mùng của dân "thổ".
Chờ cho tên cần vệ chất xong cái hòm gỗ cuối cùng lên xe, Đời Lãng Tử quay xuống bảo:
- Thôi, mày đi sau! - Đoạn y hất hàm ra lệnh cho tên lái xe - Nổ máy!
Tiếng máy nổ rồ lên. Tên cần vệ mặt tái xanh tái xám, dùng cả hai bàn tay bám chặt lấy thành cửa xe miệng lắp bắp:
- Đại úy!… Công tôi hầu hạ ngài…
Đại uý Đời Lãng Tử vốn không ưa nhiều lời. Y dang thẳng cánh tay xô bật tên cần vệ ra để dẹp lối cho chiếc xe mớm bánh bò qua một hố đạn lớn trước cổng đồn. Nhưng, y vừa rảnh tay với tên lính hầu, lại đã có bốn, năm viên sĩ quan, chỉ huy các đại đội vừa xô nhau chạy đến vừa kêu nài cuống quýt:
- Tôi, đại đội trưởng đại đội A đây, thưa đại uý!
- Đại uý!
- Đại uý ơi, cứu chúng tôi!
Đời Lãng Tử quát lớn:
- Câm đi! Tôi hạ lệnh cho các ông phải về nắm lấy binh lính.
- Ôi, đại uý!…
Tên đại uý vẫn ngồi yên trên xe, mặt hầm hầm không thèm nhìn lại. Y đã cương quyết gạt tất cả những tiếng kêu cứu ra ngoài tai. Đối với y, tình thương và lòng trắc ẩn lúc này chỉ là một trò ngớ ngẩn. Y đâm ra bực tức với hết thẩy. Y bực với cái vết thương đang bốc mùi khó chịu dưới chân y. Y bực tên cần vệ dám đòi leo lên chiếc xe chật chội như cái ổ chuột này của y. Y thấy mình bị sỉ nhục khi y bắt buộc phải trố mắt nhìn mấy tên lính đu người lên một chiếc GMC, còn những thằng đứng trên thùng xe thì co chân đạp thẳng vào mặt lũ đang bám ở dưới, để hất chúng xuống. Cả một vùng rừng cao su chung quanh y, đâu đâu cũng dậy lên tiếng kêu khóc chửi rủa, lác đác có cả những loạt súng bắn lẫn nhau để tranh đường sống của sĩ quan và binh lính. Rồi đến lượt chính y cùng với trung uý Lã Nam Phong cũng phải rút súng, chĩa lăm lăm ra ngoài để sẵn sàng thanh toán tốp sĩ quan đang sán lại, chỉ chờ y sểnh mắt một chút là ùa nhau nhảy đại lên xe của y.
Ra khỏi đồn, chiếc xe díp của Đời Lãng Tử không đi lên đường, mà rẽ ngoặt sang phải, trườn lên những hố đạn gồ ghề và men theo dẫy hàng rào dây thép gai để phóng về phía biên giới. Chiếc xe chạy ì ạch quá chừng, mà đại uý lại luôn luôn thấy lạnh toát sau gáy. Lúc nào y cũng mường tượng thấy những nòng pháo lớn, những mũi súng tiểu liên của quân "cộng sản" đang nhằm vào chiếc xe tội nghiệp của y.
Một lần không hiểu có sự run rủi thần bí nào mà y đang ngồi bỗng chồm lên vồ lấy vòng lái, kéo mạnh về phía mình. Chiếc xe ngoặt gấp, suýt nữa lăn kềnh ra. Nhưng nhờ vậy nó đã tránh được một quả đạn súng cối bắn chặn rất sít. Nếu chiếc xe vẫn chạy theo hướng cũ thêm vài giây nữa, chắc nó đã bị xé ra từng mảnh rồi.
"Lạy chúa!" đại uý Đời Lãng Tử ngoảnh sang nhìn đám bụi viên đạn vừa tung lên và y bỗng phì cười. Y nổi tiếng là một gã có lòng tin đến ngu muội vào sức mạnh của hành động. Y chẳng tin gì Chúa cũng như vào bất cứ một thứ thần linh nào khác. Song, lần chết hụt này đã làm y động lòng nghĩ đến Chúa. Chúa có thật chăng. Nếu không có bàn tay phù trợ đầy mầu nhiệm của Chúa thì mọi mánh khóe khôn ngoan của con người đều trở thành vô ích chăng?… Y phì cười chính vì y thấy trong đầu óc y vừa xuất hiện một đức tính lạ lùng như vậy.
Chiếc xe díp chạy thêm được mấy chục giây nữa thì Đời Lãng Tử lại chết hụt lần thứ hai. Một quả đạn lại rơi đón đầu y. Y không nghe đạn nổ, chỉ nghe vút một tiếng như có roi quất qua đầu y và làm cho ánh nắng trước mũi xe như nổ toé ra từng chùm hoa cải vàng chấp chới. Gió tràn vào xe ù ù. Khi y ngẩng lên, y kinh ngạc nhìn thấy năm, sáu lỗ thủng gọn ghẽ như có người cầm mũi dao mà khoét trên tâm kính chắn gió. Y run người lên vì sung sướng và sợ hãi. Tại sao ngần ấy mảnh đạn bắn vào xe lại không có mảnh nào văng trúng người y nhỉ?
Y lại lầm rầm cảm ơn Chúa.
Nhưng tên hạ sĩ thông tin ngồi kế y đã không còn cái may mắn được cảm ơn Chúa như y nữa. Vừa nãy tên hạ sĩ này còn luôn mồm gào vào máy PRC.25: "Ó đen đâu? Ó đen đâu? Cọp biển đây! Cọp biển đây!…" mà bây giờ nó đã im bặt, người rụn xuống khúc cổ ẽo ợt lật ngửa hẳn ra sau thành ghế. Đời Lãng Tử nheo mắt nhìn tên lính thông tin một lát rồi lần hai bàn tay vào người nó. Trên cái ghế chật chội lại luôn bị tung lên nhồi xuống, phải vất vả lắm Đời Lãng Tử mới dựng được tên lính mềm nhũn dậy để tháo chiếc máy PRC.25 ra khỏi lưng nó. Nhưng hễ Đời Lãng Tử buông cái xác tên hạ sĩ ra để đeo máy vào lưng mình là nó lại nằm vật xuống, hích cả cái bả vai bê bết máu vào hông y. Nó làm y vướng víu. Y đặt tạm chiếc máy xuống dưới chân ghế rồi dùng cả hai tay định xô bật nó ra ngoài. Nhưng y xô ba, bốn lần mà cái xác vẫn nằm đó.
Lúc tên hạ sĩ còn sống, chưa bao giờ Đời Lãng Tử để ý xem nó là một con người như thế nào. Mãi đến bây giờ, khi nó đã hoàn toàn là một cái xác, y mới kịp nhận xét nó là một thằng vừa có vẻ ngông nghênh lại vừa ương bướng đến kỳ cục - Bởi vì y đã toát cả mồ hôi để đẩy mà nó vẫn ỳ ra đó như một gã có tính cù nhầy không biết sĩ diện là gì.
Đời Lãng Tử vừa thở hổn hển vừa chùi hai bàn tay dính máu lèo nhèo vào cái bao bì chất sau lưng y, rồi y vội vàng đeo máy, úp ống nghe vào tai. Một giọng nói ồ ề đang gọi đến y trong máy:
- Ông đại uý tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Một nghe đây! Tiểu đoàn của ông phải trụ lại phòng ngự ở dốc L. Ông có nhiệm vụ hợp sức với tiểu đoàn Hai và pháo đội E chặn bước tiến của quân địch, chờ lữ đoàn Ba lên tiếp ứng. Lữ đoàn Ba đánh từ biên giới lên tiêu diệt chúng - Ngừng một lát - Hừm ông nghe rõ chưa?
- Dạ, thưa đại tá chiến đoàn trưởng… - Đời Lãng Tử bỗng quên phắt mình vừa nói gì. Y cau mày, cố hiểu ngầm cho hết ý tứ trong lời tên đại tá.
Không hề có một quy định rõ ràng, nhưng từ trước tới nay trong hàng ngũ chỉ huy của "Quân lực Việt Nam cộng hòa" đã hình thành hẳn một thứ tiếng lóng rất đặc biệt. Khi người ta "Chúng ta vừa đại thắng quân Cộng sản" thì có nghĩa là vừa có một vùng đất đai rộng lớn nào đó lọt vào tay đối phương, hoặc vừa có một đơn vị quan trọng của "quốc gia" bị đánh tơi tả. Khi người ta nói: "Tinh thần quân đội quốc gia càng ngày càng vững chắc", thì có nghĩa là việc hàng chục, hàng trăm binh lính tự nổi lên bắn chết chỉ huy rồi rủ nhau chạy ra hàng Việt cộng đang lan tràn như một thứ bệnh dịch trong khắp các đơn vị quân lực Việt Nam cộng hòa. Còn bây giờ đại tá chiến đoàn trưởng vừa nói: "Toàn chiến đoàn sẽ tiến lên…" thì y hiểu ngay là chiến đoàn đang bỏ chạy, đang tan rã. Hiển nhiên viên đại tá đâu có chịu chung số phận với chiến đoàn của hắn. Ngay từ ngày đầu vòng vây của địch quân xiết chặt quanh SN, hắn đã xa chạy cao bay rồi.
- Ông đại uý!
Tên đại tá lại cất tiếng ồm ồm trong máy, nhưng đã mất hẳn cái giọng lề rề ban nãy. Hắn đang gắt gỏng. Đời Lãng Tử giật mình trả lời vào máy:
- Dạ.
- Ông có nghe tôi nói không?
- Dạ thưa ngài…
- Thưa với gởi cái con mẹ gì! Ông nghe rõ mệnh lệnh chưa?
- Thưa đại tá…
- Tôi nghe. Cho phép ông nói, nói lẹ lẹ cái miệng lên!
- Thưa đại tá, tôi, đại uý Trần Trung - Y bỗng lấy giọng hết sức trịnh trọng - xin tuân lệnh ngài. Xin ngài hãy tin vào tôi và các chiến hữu anh dũng của tôi.
* * *
Nói chuyện với đại tá chiến đoàn trưởng xong, mối lo sợ và hy vọng càng lẫn lộn bời bời trong lòng Đời Lãng Tử. Nhân một lúc đạn của đối phương rơi hơi giãn ra, y liền cho xe vọt lên khỏi trảng dầu để phóng trên đường 13. Xe chạy nhanh và êm khiến y đỡ sốt ruột. Theo thói quen, y vẫn giơ tay xem đồng hồ. Miệng y càu nhàu giục tên lái xe chạy nhanh hơn nữa, nhưng đầu y lại nghĩ chuyện khác. Y đang thấp thỏm nghĩ đến bông mai lấp lánh trên chiếc cấp hàm thiếu tá. Biết đâu những lời hứa liều lĩnh vừa rồi lại chẳng biến đoạn đường 13 đẫm máu đối với chiến đoàn thành một con đường thẳng tắp dẫn đến công danh cho riêng y. Nghĩ vậy, y thấy người y lâng lâng như say rượu. Và khi vừa thoáng thấy mấy lớp hàng rào dây thép gai trên đỉnh con dốc thoai thoải, y đã ngả cổ cười sằng sặc, kêu to lên mấy tiếng: "Dốc L. đây rồi!".
Sau đó, y cho xe đi chậm lại rồi khôn ngoan đậu nép vào một chiếc xe bọc thép M.113 bị bắn cháy đang đứng bên đường. Y dõng dạc nói vào máy, ra lệnh cho các đại đội tiến vào vị trí dốc L. Mệnh lệnh của y chưa dứt thì súng trong vị trí dốc L. đã nổ ran. Những viên đạn chống tăng loại M.72 của Mỹ bay ra tua tủa. Ba chiếc M.113 đi trước y bị bốc cháy trong nháy mắt. Còn ở những chiếc GMC đi sau, nhiều tên lính bị trúng đạn đang giãy đành đạch trong thùng xe. Bọn lính bám đông nghịt trên các xe đều vội thụt đầu xuống. Khi hồi tỉnh lại, chúng vẫn tưởng bọn tiểu đoàn Hai của chúng ở bên trong hốt hoảng bắn nhầm, nên tất cả lại ló đầu lên nhao nhao la hét:
- Người nhà! Mấy cha nội ơi, người nhà!
- Đù mẹ mấy chả, bộ đui hả?
- …
Đáp lại bọn đang la hét om sòm đó, tiếng loa bỗng dõng dạc vang lên: "Hỡi các binh sĩ Sài Gòn. Dốc L. đã thuộc về tay Quân giải phóng, các anh đang đứng giữa vòng vây. Ai bỏ súng đầu hàng sẽ được cách mạng khoan hồng. Kẻ nào dám chống lại sẽ bị tiêu diệt ngay tức khắc"…
Tiếng loa dội đến quá bất ngờ làm chúng bủn rủn chân tay. Mấy tên ác ôn địch tì súng vào thành xe để bắn về phía có tiếng loa phát ra liền bị những đứa đứng bên cạnh giằng lấy súng vứt xuống đường. Bọn sĩ quan đứng nép sau lưng binh lính để giật khỏi bộ quần áo trận của chúng bất cứ thứ gì khiến người có thể nhận ra chúng là những tên chỉ huy.
Năm sáu chiếc xe bị ùn nghẹt lại trước cổng vị trí dốc L. Nhưng bọn lính ngụy chưa có đứa nào nhảy xuống hàng, mà những chiến sĩ Quân giải phóng ở bên trong cũng chưa xuất hiện. Không khí trên trận địa hết sức căng thẳng dù là đang tạm thời vắng tiếng súng. Giữa lúc đó, một chiếc GMC từ cuối đoàn rù rì lách đến, những cái bánh dưới tấm thân nặng nề của nó lăn rất chậm. Bọn lính trong thùng xe đứng cả dậy. Chúng vừa thi nhau gào to. "Mấy ông đừng bắn ạ mấy ông đừng bắn!" vừa lén cầm tiểu liên lên tay. Cho đến chỗ nhẽ ra chiếc xe phải rẽ vào cổng đồn để xin hàng thì bất ngờ nó vù ga lao vút qua. Một tên đứng trên thùng xe thét ra lệnh:
- Bắn! Tụi bay, bắn!
Từ bên trong vị trí dốc L. một quả đạn đỏ lừ rẽ hàng rào dây thép bay ra, rượt theo chiếc xe, nhưng hơi muộn. Nó chỉ kẻ vào không khí một vệt đỏ thẳng tắp cắt ngang con đường rồi nổ bung một cụm khói trắng ở bên kia rừng. Lập tức quả đạn thứ hai phóng ra, kéo cái đuôi lửa rít qua trước mũi xe. Tên lái xe khiếp đảm hãm cứng chiếc xe lại. Trên thùng xe lại thêm mấy thằng vừa gục xuống vì trúng đạn tiểu liên, máu lênh láng dưới đế giày của những thằng đang sống. Bây giờ chúng mới chịu giơ những bàn tay nhem nhuốc lên một cách thật sự. Riêng tên ác ôn vừa thét bắn lúc nãy vọt qua thành xe lẹ như con rắn và lủi vào nằm trong một lùm cây lúp xúp ở bên đường.
Thấy đạn ít bay về phía mình, Đời Lãng Tử càng tự tin y là một người cao mưu, đã biết chọn cái xác xe nằm chềnh ềnh giữa khoảng trống này làm nơi lánh mặt. Nấp ở đó, y nhìn bao quát được cả một vùng rộng. Những diễn biến ở trước cổng đồn dốc L đều lọt vào mắt y. Binh lính của y bị đánh, bị bắt, tan tác như thế nhẽ ra đã làm y phải đau lòng mới đúng, nhưng ngược lại, y vẫn rất dửng dưng. Còn vài chục đứa hay còn dăm ba đứa, hay chẳng có đứa nào sống sót qua vụ này, đối với y đều như nhau cả thôi. Đằng nào thì tiểu đoàn y và cả cái chiến đoàn này cũng tan nát rồi.
Trong chiếc máy vô tuyến điện, viên đại tá chiến đoàn trưởng đã mấy lần giục y báo cáo tình hình. Nhưng y không thiết báo cáo nữa. Báo cho hắn biết cái cảnh tượng tồi tệ này thì liệu hắn làm được trò gì? Mà việc quái gì y phải báo cáo với thằng nào? Biết đâu chỉ vài phút nữa… Y nhún vai, một ý nghĩ chua chát lại hiện lên trong óc y: "Mọi xác chết đều bình đẳng với nhau". Thế là y tự ý ra một mệnh lệnh rất thiết thực cho tất cả số quân lính còn lại của y:
- Tập trung hỏa lực bắn mạnh xuống hai bên đường, mở hết tốc độ, mạnh thằng nào thằng ấy chạy. Thằng nào chạy chậm không kịp thì bỏ! - Tiện mồm y chửi luôn vào máy - Đ… mẹ mấy thằng cha pháo binh dưới kia, không chịu bắn chi viện cho ông nội bay lấy một trái.
Hạ mệnh lệnh lần cuối cùng xong, y tháo chiếc máy PRC.25 ra và nghiến răng đập đánh bộp xuống mặt đường. Y cho xe nổ máy, mở hết tốc độ phóng qua dốc L. Y giống như một gã cờ bạc đang thua lụn bại, và đến đây là dốc kiệt túi để đặt vào canh bạc cuối cùng. Nếu giữ được tốc độ ngót trăm ki-lô-mét giờ thì chỉ cần mười phút sau y đã đến được chỗ pháo đội B dưới biên giới, hoặc bắt liên lạc được với lữ đoàn Ba thiết giáp lên tiếp ứng. Đến được đó là y có cơ hội để sống. Sống rồi thì khúc lưỡi lắt léo của y sẽ san đắp cho y tất cả. Tính mạng y không mất; danh vọng, địa vị của y cũng không mất mảy may. Nếu không được thế thì có nghĩa là y sẽ bỏ xác lại dọc đường, là hết. Cuộc đời, ái ân, khoái lạc, danh vọng, ước mơ… tất cả đối với y sẽ vô nghĩa hết!
Chiếc xe díp đang lao qua dốc L. Bỗng một tên lính từ trong lùm cây chạy xô ra giữa đường giơ hai tay lên vẫy cuống cuồng. Tên lái xe định tránh vòng sang phải. Nhưng Đời Lãng Tử đã kịp thò tay ra giữ chặt lấy vòng lái cho xe đi thẳng - Y biết giảm tốc độ lúc này là một việc cực kỳ nguy hiểm, mà đằng nào thì tên lính kia cũng chết. Thôi bỏ! Loáng sau, cái bóng của tên lính đã bị đè rập xuống trước mũi xe làm cho chiếc xe nhảy chồm lên. Lúc đó Đời Lãng Tử mới buông tay ra khỏi vòng lái và nghiến răng quát tên lái:
- Đồ ngu! Muốn tiêu mạng hả?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« Trả lời #4 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 10:09:19 AM » |
|
Tiếp theo
Rồi không hiểu sao cơn khùng trong người y cứ thế phát mãi lên. Mỗi lần đạn của đối phương bay vèo vèo quanh người y, hoặc cái ống chân đang sưng vù của y bị xé xóc quăng qua quăng lại là một lần y nghiến hai hàm răng vào nhau ken két. Y chỉ muốn nhè vào giữa bộ mặt đầy mụn trứng cá của tên lái xe mà tát mà đấm, mà giày xéo. Khắp người y như đang bốc lửa phừng phựt. Và dù không tìm ra được tội gì của tên lái xe, y vẫn văng ra đủ thứ tục tĩu. Mà y càng chửi rủa, nỗi kinh hoàng càng như đè chặt xuống người y. Bỗng nhiên y nín bặt. Y đưa mắt nhìn ra lề đường tìm một cái cột cây số, xem y hiện đang ở đâu. Nhưng lúc xe lướt qua cột cây số, y lại không tài nào đọc được con số ghi trên đó. Vì ở ngoài khung cửa xe khói lửa, rừng cây, ánh nắng, mây trời và hàng trăm thứ khác như đang cùng tan chảy hòa trộn vào nhau loang loáng vút qua trước mặt y, lùa cái cảm giác ghê rợn vào tất cả các đầu mối thần kinh trong người y. Đầu óc y trì độn đi một cách quái gở.
Chiếc xe díp của Đời Lãng Tử đuổi kịp chi đoàn Hai thiết giáp (cùng trong chiến đoàn) đang rút chạy đúng vào lúc cả đoàn xe đã nằm gọn trong trận địa phục kích của Quân giải phóng. Y đang cố lách qua mấy chiếc xe tăng cồng kềnh thì xe y bị trúng đạn lộn nhào mấy vòng rồi cắm đầu xuống một con suối nhỏ chảy luồn qua mặt đường. Y bị xít mạnh vào một bụi dây mắc cỡ giữa tiếng hô xung phong vang dội của Quân giải phóng.
Y nằm chết giấc trong bụi mắc cỡ không biết đã bao lâu. Y tỉnh dậy lần thứ nhất khi không còn tiếng xung phong nữa, tiếng súng cũng chỉ nổ lác đác ở vài nơi. Nhưng khắp bốn phía rừng đều đang có tiếng người rẽ cỏ chạy ào ào, tiếng chân nện trên mặt đường thình thịch, tiếng gọi loa và rất nhiều tiếng người đang la hét:
- Bắt lấy nó!
- Giơ tay lên!
- Đằng kia đằng kia, nó lủi sau gò mối ấy!
- Hàng thì sống, chống thì chết!
- Hỡi anh em binh sĩ Sài Gòn…
Y thận trọng rút khẩu "côn" ra cầm tay. Y dùng hai khuỷu tay và sức đạp của chân trái còn lành để bò vào xa mặt đường thêm một đoạn nữa. Trong lúc dừng lại thở, tình cờ y nghe lỏm được câu chuyện của hai người - Chắc là cán bộ "Việt cộng" - ở bên kia con suối. Một người gọi to từ xa:
- Bao ơi! Bao ơi!
Một người đáp lại: "Có".
- Lại đây biểu.
- Gì vậy anh?
- Cậu cho lùng sục quanh chiếc xe díp chưa?
- Dạ chưa.
- Sao trễ vậy?
- Trời đất ơi, tù binh nhiều quá xá anh à…
- Thôi lấy một tiểu đội đi lại sục thật kỹ vào nghen. Coi chừng vớ được bọn chỉ huy đó.
- …
Đời Lãng Tử không còn đủ can đảm để nghe hết cuộc nói chuyện của họ. Người y run bắn lên. Suýt nữa thì y oà khóc. Nhưng tiếng khóc chưa kịp bật ra đã bị cắn môi, cố nuốt nó xuống. Nếu cần y sẽ giơ tay xin hàng để giữ lấy mạng. Nhưng cho đến phút này, y vẫn chưa hoàn toàn hết hy vọng trốn thoát tay đối phương. Y bò cuống cuồng, khẩu "côn" ngậm ngang miệng để đôi bàn tay được rảnh mà cào cấu, bám víu vào cỏ, vào đất và vào bất cứ vật gì có thể giúp y trườn đi nhanh hơn. Y lủi mãi, lủi mãi vào sâu trong cánh rừng dầu. Tự nhiên y thấy như mình bị rơi tõm xuống một cái hố sâu không cùng và tối mịt mù.
Y lại chết giấc.
Y hoàn toàn không biết việc những chiến sĩ Quân giải phóng đã đến lật ngửa y ra, xem có phải y vờ chết hay không.
II. Mãi đến nửa chiều, đại uý Đời Lãng Tử mới tỉnh dậy trong trận mưa rào.
Cái âm thanh đầu tiên dội vào tai y là tiếng lửa reo ù ờ ở chỗ chiếc xe tăng M.41 bị cháy bên cạnh đường 13. Dường như trời càng đổ mưa tầm tã bao nhiêu ngọn lửa càng bốc lên dữ dội bấy nhiêu. Lửa và khói chen nhau cuồn cuộn chui qua cái cửa xe tròn như miệng giếng xây. Qua khỏi đó rồi thì lửa đi đằng lửa khói đi đằng khói. Lửa cứ phun ngược, thành một cái lưỡi dài đỏ lòm liếm qua liếm lại, thui héo quắt từng quầng lá dầu non xanh láng trên ngọn rừng. Còn khói thì bị thấm mưa nặng, chỉ gượng tạt ngang được một quãng rồi từ từ sà xuống, tràn qua mấy cái bầu nước mưa để tiến lại khu đất rậm rì dây mắc cỡ. Đến đó đám khói dập dờn một lúc rồi lại bay trở ra. Cơn gió nhẹ làm nó bị rách tướp thành những cái vòi lủa tủa nom như một con bạch tuộc vừa khổng lồ vừa quái dị bò tới bò lui, quẩn qua quẩn lại và tản mát dần thành những đám khí màu nâu xỉn bay lang thang trong rừng. Chốc chốc lại một quả đạn bén lửa nổ "ục" trong xe. Đám cháy bất thần bùng to lên vài giây, nuốt phăng đi cả cái nòng thép dài thượt lẫn cái ụ pháo gắn trên xe. Những lúc đó, chiếc xe tăng trở thành một cái cồn thép đồ sộ đỏ lựng lên, gần điệp mào màu lửa.
Tiếng lửa reo ù ù mà lúc nãy mới tỉnh dậy Đời Lãng Tử đã nghe thấy bây giờ y còn phân biệt được trong đó cả một mớ âm thanh hỗn độn phần phật, ào ào như quạt gió của máy bay trực thăng đang bay lúc xa lúc gần. Y đưa tay lên vuốt nước mưa trên mặt và cố gắng nghe thật kỹ. Chẳng có chiếc trực thăng nào đến đón y ra khỏi cơn hoạn nạn này đâu. Chỉ có tiếng ngọn lửa đang quần nhau với mưa gió, chỉ có những hạt mưa trắng phếch đang thi nhau lao xuống, bắn những hạt cát nhỏ li ti lên sàm sạp trong bộ râu quai nón lởm trên mặt y mà thôi. Bỗng y rùng mình nhắm nghiền mắt lại khi đám khói nâu đang lừ đừ bay đến và trườn ngang người y. Y chưa kịp lật người nằm sấp xuống thì ruột gan y đã cuộn lên. Y oẹ liền mấy cái, vừa oẹ vừa hãi hùng nghĩ đến mùi tanh lợm mà y biết rất rõ là mùi thịt người bị thiêu cháy trộn lẫn với mùi khói dầu xe trong đám khói nâu vừa xộc vào tận cổ họng y. Y khạc nhổ một hồi rồi lại vục mặt xuống lớp đất rừng ướt rượt mà nôn thốc nôn tháo ra nữa. Y nôn ra mật xanh và máu! Vì mấy ngày rồi, đạn của "Việt cộng" có cho y nhô đầu ra khỏi cửa hầm để kiếm cái ăn cái uống gì đâu. Ngụm nước cuối cùng y được uống từ sáng ngày 28 kia - hôm nay đã 30 rồi - Lúc đó y đang nâng cái vỏ đạn đại bác trữ nước lên tu ừng ực thì một mảnh pháo đã bắn chéo qua cửa hầm, trúng vào ống chân phải của y. Y hoảng sợ quăng cả cái vỏ đạn ấy đi rồi khuỵu xuống. Đó là những giọt nước cuối cùng còn trữ được trong sở chỉ huy tiểu đoàn của y.
Trên suốt chặng đường rút chạy, y không còn đầu óc nào để nghĩ đến chuyện đói khát. Nhưng bây giờ cơn khát lại đột ngột trở lại, như đốt lửa trong cổ họng. Y hết nằm sấp thè lưỡi liếm cỏ ướt lại nằm ngửa hớp từng hạt mưa đang bắn chênh chếch vào mặt.
Đời Lãng Tử cứ nằm hớp mưa như vậy tới gần tối mới rón rén bò trở lại mặt đường. Lúc này ngọn lửa trên chiếc xe tăng đã gần tàn đang tỏa một quầng sáng hồng hồng ra chung quanh.
"- Trời ơi! - Y thốt lên - sao lại im thế này?". Nơi chiến địa chưa tàn ngọn lửa, chưa tan mùi thuốc súng, mà sao chẳng còn lấy một tràng súng máy, một tiếng động cơ, cũng chẳng còn lấy một tiếng rên? Họ (y chỉ Quân giải phóng) tổ chức trận đánh gọn lẹ quá, tài giỏi quá! Sự ồn ào ban chiều đâu cả rồi? Mặc dù đó là sự ồn ào thắng trận của đối phương đã làm y sợ chết giấc, nhưng lúc này y rất cần nghe thấy một tiếng động, tiếng động gì cũng được, để y tự chứng minh rằng y chưa phải là một hồn ma.
Y nhìn như lục lọi vào màn đêm hồi lâu. Y ngẩn ra trước ánh sáng lửa trên chiếc xe tăng đang hắt xuống mặt đường nhựa ướt mưa một vệt sáng lạnh lẽo chạy hun hút mãi về hai phía. Nhờ cái vệt sáng ấy, y đã thấy thêm một vật gì đen đen nằm ngang mặt đường, và y biết ngay đó là một xác người.
Y bò lại cái xác với ý định kiếm lấy một vài vật gì cần thiết. Nhưng khi đến nơi, sờ nắn ngót chục cái túi trên bộ quần áo trận mà chả được gì, y lại lần tay xuống mở dây, rút tuột hai chiếc giầy ra khỏi chân xác chết. Y lần lượt thọc tay vào từng chiếc giầy, moi được ở mỗi chiếc một gói mỏng bọc ni lông. Y giơ hai cái gói lên trước ánh lửa, mở ra xem thì thấy hai xấp bạc đô-la. Song, đô-la lúc này chẳng làm y vui. Y đang cần thứ gì bỏ vào miệng ăn được, uống được, hoặc như một con dao bỏ túi hay một vật gì có thể biến thành vũ khí phòng thân được kia.
Y đã thất vọng. Nhưng y chưa muốn xa cái xác chết. Y ngồi lại bên nó mở to đôi mắt đờ đẫn ra nhìn nó. Y chợt kêu lên một tiếng khe khẽ. Vì trong ánh lửa chập chờn từ xa hắt tới, y vừa nhận ra một con mắt chột tối om trên mặt xác chết. Y lật đật dùng hai tay giật đứt tung hàng cúc áo trên ngực nó và phanh rộng ra. Nhìn thoáng thấy cái hình người đàn bà khỏa thân xâm trên ngực xác chết, y lại đậy vội hai vạt áo lại. Y thở dài: Thì ra trung uý "Ngọn lửa tình", đại đội trưởng đại đội C! Thế là cả tiểu đoàn của y đều bị đánh tan! Y ngồi lặng đi hồi lâu rồi lại thở dài, buồn rầu nói với cái xác chết.
- Trung uý đừng trách tôi. Chúng ta là những thằng chó má đang sống những cuộc đời chó má. Hồi trưa tôi buộc lòng phải rút súng ra để ngăn không cho trung uý lên xe. Nhưng thế là trung uý đã đuổi kịp tôi rồi đấy. Chúng ta hiện nằm tại đây với nhau…
Trên đường quay trở lại chỗ cũ, Đời Lãng Tử nhặt thêm được một chiếc đài thu thanh bán dẫn cùng với hai vật nhỏ mà Đời Lãng Tử thấy quý hơn hai xấp đô-la rất nhiều: Một gói gạo sấy và một cuộn băng còn sạch. Y rờ tay bật cái núm trên chiếc máy thu thanh. Một giọng phụ nữ ỏn ẻn phát ra: "Đường mòn Hồ Chí Minh đã bị cắt đứt. Mùa mưa khắc nghiệt đang đến với các cán binh cộng sản. Họ đang lâm vào cảnh thiếu cơm, thiếu thuốc, thiếu vũ khí. Họ sẽ bị tiêu diệt…". Đời Lãng Tử nhếch miệng cười khẩy. Sự thật mới trớ trêu làm sao. Hàng vạn người ăn lương Mỹ đang bị chúng đẩy vào chỗ chết như thế này. Còn chúng thì ngồi tại Sài Gòn để lải nhải "cộng sản đang bị tiêu diệt, đang bị tiêu diệt". Y nghiến răng lại chửi: "Tiên sư con đĩ. Câm đi" và y liệng vù chiếc máy băng bên đường. Chiếc máy kêu lạo xạo một lát, rồi không hiểu sao nó lại tiếp tục nói. Nếu không vì vết thương làm y phải bò rất khó nhọc thì y đã chạy lại đập cho kỳ nát chiếc máy ra. Y đành bực tức bò lết đi, bỏ mặc cho cái giọng trơ trẽn của con mụ phát thanh viên cứ cất lên, làm tăng thêm sự quạnh quẽ trong rừng đêm.
Bò về tới chỗ cũ. Đời Lãng Tử nằm vật xuống lớp cỏ ướt mà thở dốc. Những ý nghĩ nguội lạnh trong lòng làm y kiệt sức. Y cứ luẩn quẩn mãi với câu hỏi: Nhẽ nào mình phải vĩnh viễn nằm lại giữa khu rừng hoang vắng này?
Y sực nhớ đến trung uý Lã Nam Phong. Từ lúc bị "Việt cộng" đánh ở dốc L. y không thấy Lã Nam Phong ngồi trong xe nữa. Nó đã chạy trốn? Hay nó đã ra hàng quân "cộng sản"? Cơn tức giận bỗng nhiên đùng đùng nổi lên trong lòng, y lẩm bẩm:
- Tao biết cái tiểu đoàn này không ra gì. Tao nắm nó như nắm một cái bong bóng trong tay. Nhưng tao nghĩ ít ra cũng còn hai đứa say mùi thuốc súng, say máu bọn cộng sản, là tao và mày. Vì thế tao đã nâng đỡ mày, đưa mày về làm sĩ quan tham mưu cho tao… Hừ, thằng khốn nạn! Quân khốn nạn!
Càng nghĩ, Đời Lãng Tử càng thấy mình là kẻ bị phụ bạc, bị phản trắc. Vô tình, những ý nghĩ hằn học đó đã kéo y ra khỏi tâm trạng rã rời ban nãy. Lòng y lại sôi sục ý chí trả thù đời, trả thù những người mà y gọi là cộng sản, và những thằng như trung uý Lã Nam Phong. Y ân hận vì đã có lần y đem mối thù cha ra kể cho Lã Nam Phong nghe. Chuyện ấy chẳng gây tai họa gì cho y. Song từ trước tới nay y vẫn xem đó là điều sâu kín nhất trong đời y, chỉ có những ai đã được y xem như cùng máu mủ mới được y bộc bạch cho nghe như vậy.
Trong màn đêm mông lung lòng y lại ngổn ngang những mưu toan cho quãng đời sắp tới của y. Ý nghĩ miên man hết chuyện này sang chuyện khác, và không biết từ lúc nào y đã quay về với dĩ vãng.
Hơn mười năm trời rồi, trong cuộc đời cầm súng chống cộng của mình, Trần Trung (tức đại uý Đời Lãng Tử) đã quá đủ thời gian để khảo cứu một cách tỉ mỉ tất cả những con đường leo lên bậc thang danh vọng của những sĩ quan y quen biết. Như Tám Chảng chẳng hạn, xuất thân từ một gã du đãng trên đường phố Sài Gòn nên Tám Chảng đã chọn cách uống máu người, ăn tim gan người, làm con đường tiến thân của hắn. Hắn khét tiếng yêng hùng chỉ vì thế. Vậy mà nay hắn mới leo lên được cấp thiếu tá. Còn như trung tá Hoài Việt thì khác hẳn. Lúc nào Hoài Việt cũng tỏ ra nhu mì. Hầu như Hoài Việt chưa bắn giết ai, chưa tra tấn ai. Hoài Việt tốt nghiệp trường sĩ quan Đà Lạt trước Trần Trung một khóa, lại hết ngồi ở văn phòng này đến làm việc ở bộ tư lệnh nọ. Thế mà nay Hoài Việt đã ngấp nghé lên tới cấp đại tá, chỉ vì Hoài Việt là một thằng rất đa mưu, rất lõi đời, biết nhũn nhặn đúng lúc và cũng biết bốc trời đúng lúc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« Trả lời #5 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 10:12:19 AM » |
|
Tiếp theo Trần Trung hết lòng khâm phục trung tá Hoài Việt. Không biết bao nhiêu lần y tự nhủ lấy Hoài Việt làm tấm gương sống để noi theo. Song, y vẫn biết Hoài Việt sở dĩ lách lỏi được như vậy còn vì Hoài Việt có thần thế hơn y nhiều. Hoài Việt là con một vị tỉnh trưởng lừng danh thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Còn y, bố y chỉ là một lão chánh tổng dưới thời Pháp cai trị ở ngoài Bắc. Cứ kể với cái thứ bậc chánh tổng trong xã hội hồi đó, bố y cũng là người có công lớn về việc đánh phá bọn cộng sản Bắc kỳ. Nhưng bố y đã bị nông dân miền Bắc vạch tội có nhiều nợ máu và xử tử từ năm 1953 rồi. Thành thử ngoài cái lý lịch chống cộng của gia đình, y đã vào đời chỉ với một khối óc thâm thù cộng sản mà thôi. Y giống như một gã đi buôn nhiều mánh khóe và tham vọng, biết vốn liếng ban đầu chẳng có là bao, nên càng chăm chỉ nghiền ngẫm cách vơ vét để trở thành một nhà triệu phú. Y cố theo gót chân Hoài Việt, đồng thời không bỏ qua lốt chân của Tám Chảng. Con đường tiến thân của y là một sự dung hòa giữa những con đường của hai thằng đó. Nghĩa là nếu có dịp, y sẵn sàng nhúng ngập cả hai bàn tay y vào máu người, song y lại luôn luôn cố chứng tỏ với cấp trên rằng y là một sĩ quan có học vấn, có năng lực, và nhất là có lòng trung thành với "sự nghiệp chống cộng".
Hồi năm 1960 khi sức vóc của Trần Trung đủ lớn, y liền bỏ học, quyết chí đi lính để báo thù cho cha.
Y bước vào đời chẳng có gì đặc biệt so với những tên lính khác. Nhưng không ngờ số phận y lại may mắn như vậy. Mới qua vài lần đi càn quét "tảo thanh" ở một vùng nông thôn miền Nam mà tên tuổi y đã được cấp trên xếp ngay vào danh sách những binh sĩ có lòng dũng cảm và đáng tin cậy.
Nửa năm sau, y được đi học trường hạ sĩ quan ở Tân Hiệp. Dịp ấy, y đã hí hửng mừng, cho là mình gặp số đỏ. Nhưng chẳng bao lâu sau,mỗi khi nghĩ lại cái may mắn ban đầu ấy y không khỏi nhún vai mỉm cười. Vì y đã gặp một dịp may khác lớn gấp bội:
Vào một buổi sáng giáp tết âm lịch, các đơn vị trong trường hạ sĩ quan đều ăn mặc chỉnh tề ra sân trường xếp hàng như đóng cọc xuống đất để đón một vị tướng đến thăm trường. Viên tướng ấy là một người có tầm vóc bình thường. Nhưng từ đôi giầy đen đánh xi rọi nắng sáng như kính, bộ quần áo xám là cứng đơ, đến mái tóc chải bóng rồi từ những bước đi chậm rãi, mỗi lần đế giầy chạm tới đất là một lần bộ ngực ưỡn giật ra phía trước, đến những cái nhìn gườm gườm soi mói và những cái nhún vai quá mạnh làm cho người nẩy lên… nhất nhất đều toát ra một vẻ oai vệ khác thường.
Đứng ở đầu hàng quân, Trần Trung không thể kìm hãm được những tình cảm trái ngược nhau do những ấn tượng mạnh mẽ dội vào óc y. Y vô cùng thèm muốn lại vô cùng khiếp đảm đối với vị tướng kia. Không hiểu đã nhìn thấy những gì lộ trên nét mặt Trần Trung mà tên tướng đang đi bỗng dừng lại nhìn chòng chọc vào người y. Nếu tên tướng cứ nhìn như thế một lát nữa, chắc y khuỵu xuống giữa hàng quân mất rồi. Nhưng tên tướng đã bước đến mặt y và hất hàm hỏi hai tiếng cộc lốc:
- Tên gì?
Hồn vía Trần Trung như vù bay lên mây hết. Y không nhớ y đã ăn nói ra sao trước mặt vị tướng nọ. Nhưng đến bây giờ y vẫn còn nhớ như in vào óc là lúc đó vị tướng đã mỉm cười với y và ra lệnh cho y đúng 10 giờ phải có mặt ở văn phòng nhà trường để gặp mặt hắn.
Tại văn phòng trường hạ sĩ quan. Lần thứ hai viên tướng hỏi tên Trần Trung, với giọng ít hách dịch hơn lần sáng:
- Cậu bé tên gì?
Trần Trung cố trấn tĩnh, moi óc nhớ lại những trang tiểu thuyết, xem người ta vẫn gọi loại người này là gì. Y lúng búng trong miệng:
- Kính thưa tướng quân…
Hai tiếng "tướng quân" lạ tai phát ra từ miệng một tên lính còn lún phún ria mép làm cho tên tướng rất khoái chí. Hắn vừa xua tay vừa cười ha hả:
- Chà, cậu bé ăn nói văn hoa quá!
Hắn định bảo Trần Trung gọi hắn theo cấp bậc cụ thể của hắn, nhưng lại thôi, hắn gật đầu:
- Thôi được thôi được, cứ nói đi.
- Vâng ạ, kính thưa tướng quân, tôi tên Trần Trung.
Nghe đến họ Trần, mắt viên tướng mở to, đẩy đôi hàng lông mày nhướng cao hẳn lên, và hàng lông mày lại xô đẩy những đường nhăn hằn sâu trên trán hắn, khiến chúng dồn cụm vào nhau như những nhát dao băm ngang bộ mặt hợm hĩnh của hắn. Hắn hỏi vội:
- Quê ở đâu?
- Kính thưa tướng quân, quê tôi ở Thượng Phùng…
Viên tướng không chờ Trần Trung nói hết đã bật người lên khỏi mặt ghế sa-lông lót nhung đỏ. Hắn đập cả hai bàn tay lên mặt bàn đánh rầm và reo to:
- Á… à
Nhưng ngay đó, tên tướng lai gieo phịch người xuống ghế và thở dài ảo não. Hắn cúi đầu nghĩ ngợi một lúc lâu mới ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt đang ngơ ngác của tên lính ngồi đối diện với hắn. Giọng hắn rầu rầu, như khấn một linh hồn nào đang lởn vởn ở đâu đây:
- Nói đi, bố cậu bị bọn khố rách áo ôm ngoài ấy đấu tố thế nào? Tài sản nhà cậu bị chúng tán phát thế nào? Nghe nói cái lầu trà giữa đầm sen của ông cụ bị chúng lấy làm lớp học cho trẻ con rồi phải không? Chị Hương của cậu giờ ra sao? Còn ở ngoài đó hay đã vào trong này?…
Trần Trung sửng sốt đến gai người. Không hiểu sao mà một vị tướng đường bệ nhường ấy lại biết bố y, biết gia đình y tỉ mỉ đến thế? Y rơm rớm nước mắt. Dường như chưa bao giờ thấy nhớ cái dinh cơ đồ sộ của nhà y bằng lúc ngồi kể chuyện cho viên tướng nghe. Y thấy hiển hiện lên trước mắt y một cái lầu lộng lẫy xây ở giữa đầm sen cùng với những đêm bọn lính dõng bắt người đem về đó tra tấn.
Vốn là từ trước, những cuộc tra tấn vẫn làm ngoài đồn Thượng Phùng. Giữa đêm hôm khuya khoắt bọn lính cũng vào đập cửa ngăn thùm thùm để gọi bố y ra đồn nhận mặt người bị bắt. Từ khi bố y làm thân được với ông đồn trưởng, ông đồn trưởng mới nể tình đem những người bị bắt về cái lầu trà của bố y để tra tấn, đỡ cho bố y phải lẩm cẩm đi đêm về hôm vất vả. Hơn nữa, ông đồn trưởng và bố y còn một thâm ý khác, muốn nhờ những chuyện khủng khiếp ấy để đe dẹp bớt cái lũ dân làng Thượng Phùng cứng đầu cứng cổ này.
Đêm đầu tiên nghe tiếng vồ đập bồm bộp vào ngực người, tiếng la thét, chửi bớt, tiếng chai lọ đổ loảng xoảng và cả những chuỗi cười khằng khặc từ ngoài lầu dội vào, y đã giật mình thức giấc. Quờ tay sang đám chiếu bên cạnh không thấy bố là y lồm cồm chạy vào buồng nằm ôm chặt lấy lưng mẹ. Nhưng chỉ ít đêm sau, không những không còn sợ hãi, mà mỗi khi nghe rục rịch là y đã ngồi nhỏm dậy, chạy băng qua cái sân gạch rộng mênh mông để ra ngoài lầu xem quan đồn trưởng, bố y và lính tráng đánh "bọn Việt Minh" - Y thích nhất là những lúc quan đồn trưởng nghỉ tay ngồi vào bàn uống rượu cùng bố y. Quan đồn trưởng là người dữ tợn hết chỗ nói đối với "bọn Việt Minh". Nhưng với y, ông ta mới dịu dàng và đáng yêu làm sao! Ông ta bế y lên cho ngồi trên đùi mình. Rồi cũng ông ta lại cầm cả những cái tỏi gà béo ngậy chấm vào tận môi y… Y cứ thức như vậy cho tới khi nào đàn chó lài nhà y thôi sủa ồm ồm trong sân, lính tráng lôi những nạn nhân lên đồn, và đám đầy tớ nhà y đang ngủ bị dựng dậy lặng lẽ như những cái bóng đi thắp đèn ra kỳ cọ, rửa ráy ngoài lầu. Sáng ra, cái lầu trà của bố y lại đượm vẻ nhàn tản, thanh đạm, đứng soi bóng mấy bức tường vàng nhạt lên mặt hồ sen phẳng lì. Ở trong lầu, hương trà thơm ngát lại thoảng ra…
Nghe Trần Trung kể, nhiều lúc viên tướng ngồi ngơ ngẩn. Đôi mắt gườm gườm của hắn thoắt thay đổi, mơ màng như nhìn về cõi xa xăm nào với tất cả nỗi bâng khuâng nuối tiếc. Trần Trung làm sao mà nhớ được cách đó ngót hai chục năm người cai quản khu Thượng Phùng là một ông đồn trưởng bảnh trai, nhưng độc ác không ai bằng. Ông đồn trưởng ấy sau này trở thành bạn tri kỷ của bố y, mặc dù bố y hơn ông ta đến vài chục tuổi. Nếu đồn Thượng Phùng không bị Việt Minh nhổ quá sớm thì chắc ông đồn trưởng đã kịp cưới chị y làm vợ lẽ rồi.
Viên tướng lại trở lại vẻ mặt lạnh lùng cố hữu của hắn. Hắn vẫn chưa nói cho Trần Trung hiểu quan hệ giữa chúng là thế nào. Nhưng rồi trưa hôm đó Trần Trung không quay về trại nữa, mà lên xe đi cùng viên tướng về nhà riêng của hắn. Một tuần sau, Trần Trung được đưa thẳng lên trường sĩ quan Đà Lạt.
Dịp may lạ lùng ấy khiến Trần Trung ngây ngất đến hàng tháng trời. Nghĩ tới những đứa bạn còn ở lại trường hạ sĩ quan, y thấy mình như đang nằm mơ. Không ngờ chỉ trong vòng mấy ngày mà y đã bỏ lũ bạn bè lại sau một khoảng cách dài đến thế.
Năm Trần Trung tốt nghiệp trường sĩ quan Đà Lạt, viên tướng nọ có viết thư cho y, hẹn sẽ lấy y về làm việc ở văn phòng của hắn. Nhưng Trần Trung không muốn thế. Lúc đó y đang nôn nóng được "Bắc tiến" theo lời kêu gọi của Ngô tổng thống để thực hiện cái ước mơ y từng ôm ấp suốt mấy năm trời là được trở lại Thượng Phùng quê hương y, được thẳng tay bắn giết để trả mối thèm khát oán hờn trong lòng y. Với tâm trạng ấy, y đã xin ra mặt trận.
Mới đầu người ta giao cho y chỉ huy một trung đội. Sau y được thăng cấp và lên chỉ huy đại đội.
Lần bị sa vào trận địa phục kích của Quân giải phóng ở miệt Bình Dương, cả đại đội y chỉ còn mỗi mình y thoát chết. Y lại được thăng đại uý và được thưởng "Anh dũng bội tinh" với ngôi sao bạc(1). Nực cười đến chết được. Dạo đó cũng vì tên lính thông tin bị bắn chết như thế này, y phải đeo lấy máy mà chạy. Sẵn máy đó, y vừa chạy vừa luôn mồm báo cáo với tên tiểu đoàn trưởng là đại đội y đang bị nguy ngập, nhưng đại đội y vẫn chiến đấu, quyết chiến đấu đến người cuối cùng để tiêu diệt quân…
Khi chiều, trong lúc bốc trời lên nói liều với tên đại tá chiến đoàn trưởng: "Xin ngài hãy tin tưởng vào tôi và vào các chiến hữu anh dũng của tôi", y bỗng mường tượng thấy cái hàm thiếu tá đã ở ngay trước mặt y chỉ cần y với tay ra là có thể tóm gọn lấy nó.
III. Rạng đông vừa láng một đường viền xanh hết sức mỏng manh lên những khu rừng phía biên giới thì đại uý Đời Lãng Tử đã chuẩn bị xong mọi thức. Y bắt đầu lên đường. Thực ra y không có gì để chuẩn bị lâu: Hai khúc gậy chống cầm hai tay; một dải vải buộc võng qua cổ để treo cái đầu gối bên phải lên cho ống chân đau khỏi vướng; một gói gạo sấy đựng trong bọc ni lông cũng buộc dây treo qua vai, và một xấp giấy bạc đô-la bỏ trong túi ngực.
Giấc ngủ mê mệt lúc gần sáng đêm qua dưới trời mưa lai rai và đầy muỗi mòng đã có tác dụng làm dịu bớt mớ dây thần kinh nhức nhối trong đầu y - Chính đêm qua là đêm y được yên ổn nhất trong vòng nửa tháng nay, kể từ hôm Quân giải phóng đặt súng cối ở bên kia lô cao-su và cho cả những tay thiện xạ AK lấn dần như những cái đinh vít mỗi lúc một xoáy sâu mãi vào xương tủy vị trí SN của chúng - Cơn đói cũng bớt cồn cào trong bụng y. Y thấy dễ chịu và khỏe ra. Chỉ có vết thương dưới chân y là đau đớn hơn lên. Y phải khổ sở lắm mới chống nổi hai cây gậy để nhẩy cò cò đi được một bước ngắn.
Nhẩy được vài chục bước như vậy mà mồ hôi đã nhớp nháp khắp người. Hai tai ù đặc lại. Y đã muốn nằm xuống nghỉ nhưng y lại tặc lưỡi tự an ủi: "Rồi sẽ quen đi. Bất cứ cái gì cũng có thể làm quen được tất". Thế là hai chiếc gậy của y lại tiếp tục chống xuốngđất, y lại dùng sức mạnh của đôi cánh tay để đu người lên nhẩy từng bước, từng bước.
Đi được một lúc khá lâu, y quay lại nhìn, thấy cái xác tên trung uý Ngọn Lửa Tình chỉ còn là một khối không rõ đường nét nằm trên mặt đường. Y gật gù: "Quả là cái gì dù khó mấy cũng vẫn làm quen được thật". Đầu óc y rảnh rang hẳn ra. Y vừa đi vừa ngắm cảnh. Mặt trời đã lên khỏi đường chỉ xanh vô tận vắt ngang phía trước mặt y. Giữa những cánh rừng dầu gặp mùa ra lá non xanh rờm rợp là con đường 13 sáng ánh lên như một dòng sông tràn trề nắng sớm. Y thấy y giống như một con thuyền thám tử đang phiêu du trên dòng sông hoang vu này. Trong chốc lát y bỗng trở thành một con người dễ tính và mơ mộng. Đến một cơn gió thổi hây hẩy từ biên giới lên y cũng bâng khuâng như vừa được một bàn tay âu yếm nào thoa nhẹ lên má. Y mải mê ngắm những chiếc lá dầu non trên cao, và ngạc nhiên không thể hiểu được đến một lúc nào đó nó sẽ biến thành chiếc lá già, sẽ rời khỏi cành rồi biến thành đất mục… Bởi vì y đang hy vọng sống và đang xa lạ với cái chết.
Lòng ham sống và cảnh trong sáng của thiên nhiên như đang phỉnh nịnh ý chí của y. Y quên bẵng những ý nghĩ biết ơn bàn tay che chở của Chúa. Y lại trở lại với tiềm thức vốn có trong người y: Trên đời này chỉ có sức mạnh của ý chí và hành động. Bất cần nhân nghĩa, bất cần chân chính, chỉ riêng những hành động tàn bạo và quyết liệt cũng đủ xây nên vinh quang hiển hách cho cả một đời…
Y lại ngoái lại phía sau. Cái xác tên trung uý đã như một chấm nhỏ lay động trong mớ hoa nắng. Lòng tràn đầy thỏa mãn, y dừng lại ngồi nghỉ giữa mặt đường. Y xoè bàn tay quết mồ hôi trên mặt và mỉm cười đắc thắng: Quãng đường còn lại hơn ba cây số có gì đáng ngại đâu. Nếu không bị bất ngờ lọt vào tay những tốp bộ đội Giải phóng thường đi lại lẻ tẻ trên đường, và nếu không gặp chuyện gì bất trắc khác, thì chậm lắm là đêm nay y đã ung dung ngồi trong vị trí của pháo đội B dưới cây số không rồi.
"… Việc đầu tiên, mình phải tắm rửa sạch sẽ, sau đó chờ máy bay trực thăng tới" - Nụ cười hé mở làm cho khuôn mặt vàng võ thoáng rạng lên khi y đang mơ màng nghĩ tới lúc người ta đưa y vào bệnh viện, vẫn biết dạo này các bệnh viện đang đầy nghẹt binh lính bị thương từ các mặt trận đưa về. Ở đó suốt ngày đêm đang náo loạn lên vì những câu chửi tục tĩu, vì tiếng la hét, rên rỉ, và tiếng hú mê sảng của lũ người mà vết thương càng làm cho chúng hung hãn như một bầy sói dữ ấy. Mặc, y vẫn nối tiếp vào một giấc mơ như ở trên thiên đường vậy: Một buổi sáng y tỉnh giấc trên một tấm nệm trắng tinh, cô y tá rất trẻ, rất đẹp cũng mặc đồ trắng, mùi dầu thơm sực nức khắp người, cô nhẹ nhàng như một nàng tiên bay lại bên giường y nằm. Cô nghiêng mình những sợi tóc mai mềm như tơ của cô rủ xuống khẽ chạm vào má y, và cô nói với y những lời thì thầm, vừa dịu dàng vừa cung kính:
- Ông đại uý. Ngài đại tá muốn vào thăm ông.
Chỉ tưởng tượng ra thế mà trống ngực y đã đập rộn lên. Song nếu như trong thực tế thì lúc đó y sẽ cố giữ một bộ mặt thật lãnh đạm. Y chỉ hé mở đôi mắt một chút rồi lại lim dim như chưa ra khỏi những ác mộng mang theo từ chiến địa trở về. Y khẽ nói với nàng:
- Mời đại tá vào.
Rồi y nghe thấy những bước chân rón rén đặt lên nền gạch của bệnh viện. Một người kéo ghế ngồi sát lại giường y. Lúc đó y mới mở bừng mắt. Có lẽ hình ảnh đầu tiên y thấy sẽ là mấy cái ngấn như mấy vòng chỉ thít vào đoạn cổ núng nính của ngài đại tá chiến đoàn trưởng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« Trả lời #6 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 10:14:50 AM » |
|
Tiếp theo
"Mình sẽ nói với ngài đại tá thế nào nhỉ?" - Y vẫn đắm say đuổi theo những mộng tưởng - Phải rồi, y sẽ cố làm ra vẻ thiểu não mà nói với tên đại tá những lời nghẹn ngào như thế này:
- Kính thưa đại tá. Trưa ngày 30 tháng 5, khi tôi được lệnh ngài cho chiếm giữ dốc L để chặn đứng đà tiến của cộng quân thì cũng chính lúc ấy dốc L đã lọt vào tay chúng mất rồi. Tình thế của tôi thật muôn phần eo nghẹt. Từ bốn phía quân địch đổ ra ép chặt tôi lại, cắt nát đội hình của tôi ra từng mảnh. Nhưng để thi hành lệnh của ngài, chính tôi đã chỉ huy phá vòng vây, lại chính tôi dẫn quân xông lên chiếm lại dốc L, đánh bật hai tiểu đoàn cộng quân ra ngoài… Mong ngài cứ yên tâm. Mọi việc tôi đã giao lại cho trung uý Phan Họa (tức trung úy Ngọn Lửa Tình mà đêm qua y đã thấy phơi xác trên đường 13). Trung uý Phan Họa là một sĩ quan dũng cảm tuyệt vời. Còn tôi… - Đến đây đôi mắt y chắc sẽ long lanh lên vì những giọt lệ ứa ra - kính thưa ngài đại tá, tôi thật vô cùng ân hận vì đã bị trọng thương giữa cuộc chiến, chưa thực hiện được trọn vẹn lời hứa với ngài. Trong đời làm sĩ quan, đây là lần đầu tiên tôi thất hứa với cấp trên. Tôi tha thiết mong ngài cho tôi được chịu tội trước ngài. Tôi thật không xứng đáng…
Đấy, đại loại y sẽ nói với cấp trên những lời vừa bi hùng vừa dễ mủi lòng như vậy. Còn vị đại tá, ông ta sẽ nói thế nào nhỉ? Biết đâu đại tá lại chẳng nắm lấy bàn tay y mà an ủi:
- Ông đại uý! Tôi thật chưa được gặp một sĩ quan cấp dưới nào dũng cảm và trung thành như ông. Ông ráng tĩnh dưỡng. Đừng nói nhiều mà mệt. Ông còn yếu lắm. Ông cứ an tâm. Tôi lấy danh dự một đại tá mà bảo đảm với ông rằng ông sẽ được tuyên dương công trạng trước toàn quân đoàn, được thưởng "Anh dũng bội tinh" và được thăng cấp…
Đến đây, y bỗng bùi ngùi nhớ đến viên tướng năm xưa đã đưa y từ Tân Hiệp lên Đà Lạt. Cho dù hắn vẫn là một kẻ khinh khỉnh không thèm hạ mình xuống cho y cầu thân. Nhưng nếu hắn không bị du kích Việt cộng bắn chết trong một cuộc hành quân lớn thì hẳn cuộc đời y đã khác hẳn bây giờ.
Đầu óc Đời Lãng Tử còn đang bồng bềnh trong những giấc mơ ngọt lịm ấy thì tiếng súng bỗng nổ rộ ở phía biên giới. Tiếng súng đã nhanh chóng kéo y về với thực tại. Y thấy trong người chộn rộn lên khi y cố gắng lắng nghe để phân biệt từng loại tiếng nổ đang dội tới. Những tiếng nổ rền đất rõ ràng là tiếng mìn. Còn những tiếng lụp bụp là tiếng súng B.40, B.41 của Việt cộng. Khi nghe những tiếng cắc cùng, cắc cùng của súng trọng liên trên xe tăng Mỹ bắn, mắt y bỗng sáng lên. Y thì thầm gọi: "Lữ đoàn 3! Lữ đoàn 3!" bằng một giọng đặc biệt trìu mến. Đồng thời y cũng thấy lo lo. Những con đường đẫm máu đối với quân lực Việt Nam cộng hòa lại hiện lên trong trí nhớ của y. Y tự hỏi: Không biết nên đi tiếp hay nên ngồi lại chờ lữ đoàn 3 thiết giáp lên? Mà chắc gì lữ đoàn 3 đã lên nổi?
Y còn đang lưỡng lự, lại tiếp đến tiếng máy bay trực thăng lật phật từ xa vang tới. Y bàng hoàng như nằm mộng thấy thế nào thì lúc tỉnh dậy sự thật diễn ra đúng như vậy. Nhất là từ lúc thấy ba chiếc máy bay trực thăng bắt ánh nắng sáng loé như ba cục lửa từ phía nam bay lên dọc theo đường 13, y đã mừng rỡ quăng vù cả hai chiếc gậy đang cầm ở tay đi. Y hồi hộp chờ đợi. Đời y chưa bao giờ hồi hộp đến thế. "Chỉ vài phút nữa mình sẽ được nằm trên máy bay của đồng minh…". Y đâm ra tiếc cái công lê lết từng tấc một suốt từ sáng tới giờ.
Cho chắc chắn hơn, y cởi sẵn chiếc áo nhuộm đỏ đất rừng cao-su ra cầm ở tay, chờ đến lúc nom rõ cái đầu tròn quay của tên phi công y mới tung áo lên vẫy.
Hai chiếc máy bay vẫn bay thẳng. Chiếc bay sau cùng lượn một vòng bên trên chỗ Đời Lãng Tử đang ngồi, y càng giơ chiếc áo lên vẫy như điên như dại.
Chiếc máy bay lượn trở lại phía mặt trời rồi bắt đầu nhằm thẳng chỗ y mà cắm đầu lao xuống. Trời ơi! Y sung sướng trào nước mắt…
Chiếc máy bay lao xuống thấp dần, thấp dần. Cả khuôn mặt đỏ bự của tên phi công Mỹ, y cũng đã thấy rõ. Nhưng, giữa lúc tim y muốn vỡ ra vì quá vui sướng thì khẩu đại liên thò một khúc nòng đen sì dưới bụng máy bay bỗng nháng lửa. Y chỉ kịp thét lên một tiếng đau xé ruột rồi té ngửa ra mặt đường, nằm bất động. Ráng chừng tên Mỹ ngồi trên máy bay tưởng y đã chết nên nó chỉ bắn có một loạt rồi bay thẳng.
Y không lạ gì chuyện chúng vẫn đem bom giội cho phi tang xác lính và thương binh của chúng bị bỏ lại trận địa. Nhưng sự độc ác bất nhân đến cùng cực ấy thì lần này chính y mới nếm phải. Từ trước đây, qua những cuộc họp, những trận đụng độ với "Việt cộng" những khi đóng quân dã ngoại, người Mỹ đã làm y không biết bao nhiêu lần phải thất vọng. Song, cứ sau mỗi lần bị sỉ nhục ấy, y lại tự nhủ: Mình yếu, họ vừa mạnh vừa giàu, mình phải nhờ vả họ, nên những chuyện đó cũng là lẽ thường. Nếu như cái quân lực Việt Nam cộng hòa này là một đội quân có sức vóc thật sự thì tất nhiên y sẽ nói với người Mỹ bằng một giọng khác hẳn. Còn hiện nay, trong công việc cũng như trong mọi ngõ ngách của cuộc sống, lúc nào, chỗ nào y cũng như chạm phải những cánh tay lông lá của người Mỹ: Mệnh lệnh Mỹ, súng đạn Mỹ, quần áo Mỹ, đô la Mỹ, phim ảnh Mỹ. Cả mấy dòng "chỉ dẫn cách sử dụng"... in ngoài bao gạo sấy, y đang đeo dưới nách đây cũng sặc lên cái giọng ngọng nghịu của người Mỹ.
Y càng thấy nhục ê chề khi y lóp ngóp bò dậy đi nhặt lại hai cây gậy y đã trót liệng ra bên đường và lủi thủi lết đi. Người y rời rã, bẽ bàng hơn lúc nào hết. Màu xanh rờn của rừng dầu vào mùa mưa, ánh nắng mặt trời tuôn lai láng xuống con đường nhựa, những giấc mơ màng về một buổi sáng ở bệnh viện, tất cả đều tuyệt nhiên không gợi nổi một rung động nhỏ nào trong lòng y nữa. Hai cánh tay mỏi bủn rủn không còn đủ sức chống đôi gậy để nâng người y lên. Sức nóng và máu trong người y hầu như dồn cả xuống khúc chân đau của y làm nó căng nhức như sắp nứt toác ra. Hai hàm răng y nghiến vào nhau trèo trẹo. Y càng cố tập trung những nguồn sức mạnh quá tản mát trong người y lại bao nhiêu thì đất trời chung quanh y càng chao đảo hỗn loạn bấy nhiêu. Hai màng tai y đập bùng bùng. Mắt y mở căng, nhưng y không nhìn thấy gì hết. Mọi vât đều nhoè nhoẹt, chập chờn, tạo thành một khối vô hình đang nghiêng đổ xuống con người bất lực của y.
Y lại vừa thở hổn hển vừa đặt gậy xuống ngồi nghỉ trên mặt đường nhựa đã nóng hâm. Y ngồi choãi hai tay ra sau, đầu cúi gục, mái tóc bờm xờm rủ xuống che gần kín bộ ngực đang thở hi hóp. Không cần ngoảnh lại, y cũng thừa biết quãng đường y vừa đi rất ngắn. Ngồi ở đây, y vẫn còn ngửi thấy mùi thuốc súng khét lẹt do chiếc máy bay bắn lúc nãy.
Y ngồi như vậy từ non trưa. Tới lúc cái bóng thu gọn dưới chân y, y mới uể oải gỡ ra gói gạo sấy vẫn đeo bên nách y. Y xé lớp ni-lông bọc, nhón tay bốc vài hạt gạo bỏ vào miệng chai. Mấy hạt gạo cứ lẩn qua lẩn lại giữa hai hàm răng tê buốt của y. Miệng lưỡi y khô bỏng từ lúc nào rồi. Y lại đeo túi gạo vào chỗ cũ và định bò xuống đám sình cách mặt đường không xa.
Cơn khát giúp y bò nhanh hơn. Đến được bờ sình, y liền cúi cổ xuống mặt nước, nín thở uống ừng ực một hơi thật dài. Khi ngẩng lên thở, y mới giật mình nhìn thấy kế ngay chỗ có mấy cái xác chết mặc đồ lính trận đang bị sóng đánh phập phều dưới màng cỏ lưa thưa. Y lợm giọng, nhưng mắt vẫn không thể rời khỏi mặt nước trong leo lẻo. Y ngần ngừ hồi lâu, và cuối cùng đành phải đánh liều nhắm mắt lại, gục cổ xuống uống một hơi thật dài nữa trước khi bò trở lại mặt đường.
Từ lúc trời sáng rõ, y đã thấy ngay rằng đi giữa mặt đường trống trải này là một việc rất dễ nguy hiểm đối với y. Nhưng cái chân bị thương của y lại không cho phép y lẩn lút đi trong rừng, nên y vẫn phải đi trên đường, liều lĩnh như đánh một canh bạc "năm ăn năm thua" với số phận.
Y lại tiếp tục lết đi.
Lớp đường nhựa bị nắng nung nhão ra, núng nính dưới hai đầu gậy và dưới đế giày trái của y. Càng về sau, hơi nóng từ mặt đường càng xông lên làm y ngột ngạt khó thở. Y đang nhẩy cò cò trên đường mà đầu tóc y lại luôn luôn tưởng tới hình ảnh cái vạc dầu dưới địa ngục, và cả những vạc dầu có thật trên đời này do chính y bắt lính đun sôi sùng sục rồi múc từng gáo dội xuống ngực, xuống lưng những người du kích bị y bắt được trong những trận càn trước đây. Sự liên tưởng ấy khiến y thêm khổ sở gấp bội. Mỗi bước đi của y, y lại thấy như mình đang dẫn thân tới một cái vạc dầu đặt ở phía trước. Y rên rỉ. Y nguyền rủa quãng đường càng đi càng thấy xa mờ mịt. Y nguyền rủa những tia nắng khắc nghiệt trên cái xứ sở xa lạ này. Y nguyền rủa cuộc đời. Y nguyền rủa tên đại tá chiến đoàn trưởng. Xa hơn nữa, y nguyền rủa cả đến bọn đang ngồi ở Sài Gòn, ở "dinh độc lập" và ở tận bên nước Mỹ. Niềm trông cậy của y vào đám những tướng lĩnh và những tổng thống bị tan tành trong chốc lát.
Sự thật thì không phải mãi đến lúc này đức tín của đại uý Đời Lãng Tử mới bị đổ vỡ mà nó đã bắt đầu rạn nứt từ lâu lắm rồi. Vào năm 1960, khi mà bên phía "cộng sản" thành lập mặt trận để chống lại người Mỹ và tổng thống Ngô Đình Diệm. Thoạt tiên là đài phát thanh Sài Gòn và trên báo chí người ta đưa những tin tức mập mờ về những cuộc đụng độ giữa quân đội Quốc gia với vài ba nhóm cộng sản ở Bến Tre, Mỹ Tho, ở các tỉnh miền Trung hay ở một nơi, một vùng nào đó tận gần vĩ tuyến mười bảy. Trong những tin tức ấy, người ta cố xem Việt cộng như những đám nổi loạn lẻ tẻ không đáng kể. Nhưng rồi từ vùng chiến thuật này, vùng chiến thuật khác, các cuộc hành binh "tiễu trừ cộng sản" cứ liên tiếp mở theo nhau, mỗi ngày một phình to ra. Còn cộng sản thì vẫn "chưa" bị tiêu diệt. Rồi chẳng bao lâu sau, trên đài phát thanh và trên báo người ta đã bắt buộc phải đưa tin về cuộc hành quân này "gặp nhiều khó khăn", chiến dịch nọ phải "kết thúc trước thời gian quy định" và một loạt đơn vị tinh nhuệ của "Chính phủ" bị "thiệt hại nhẹ", "thiệt hại vừa" và "tổn thất nặng nề". Kế đến những đêm khuya súng nổ rền ở ngoại ô Sài Gòn, rồi những buổi sáng dân thành phố vừa mở mắt ra đã thấy cờ mặt trận tung bay ngạo nghễ trên nóc những bui-đinh Mỹ…
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« Trả lời #7 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 10:17:58 AM » |
|
Tiếp theo:
Y tốt nghiệp sĩ quan được ít lâu thì đùng một cái, anh em nhà Ngô Đình Diệm bị hạ thủ. Suốt mấy ngày liền lúc nào y cũng bơ phờ như lần thứ hai trong đời y phải mồ côi cha. Nhưng cũng đúng vào dịp ấy y lại có một nguồn vui mới: Y vừa được thăng cấp.
Sau này nghiệm lại cuộc đời, y thấy hồi đó y lo nghĩ thật là viển vông. Ông Diệm đổ, ông Minh lên, rồi ông Minh đổ, ông Khánh lên… xét cho cùng thì ông Diệm, ông Minh, ông Khánh, hay cả ông Thiệu ngày nay cũng vậy, họ chỉ khác nhau về mặt mũi và tuổi tác, nhưng cả bọn họ đều rất giống nhau ở hai điểm cốt yếu là chống cộng tới cùng và chịu tuân theo bàn tay sắp đặt của người Mỹ. Thế thôi, có gì đáng để y phải rầu rĩ đâu. Riêng về y. Y đã tự vạch cho mình một cách sống là bỏ qua tất cả những điều bi thảm trước mắt để nuôi lấy những hoài vọng cao xa. Chính vì thế mà y thấy hai chữ "sát cộng" xâm ở cánh tay phải y không còn đủ nghĩa nữa, y phải xâm thêm ba chữ "Đời Lãng Tử" vào cánh tay trái cho cân xứng…
Mặc dù y đã cố mạo nhận rằng cuộc đời y là một cuộc đời lãng tử, song từ bấy đến giờ, cũng có những lần thời cuộc làm cho nó chao đảo như một con thuyền sắp bị lật úp giữa dòng nước xoáy.
Vào một ngày đầu mùa xuân 1968 - mùa xuân đen tối đối với "nền cộng hòa" của ông Thiệu - tình cờ, Đời Lãng Tử đã gặp trung tá Hoài Việt trên một chiếc xe bọc thép khi chúng bị điều từ vùng chiến thuật ba về cứu nguy cho Sài Gòn.
- Anh là một sĩ quan có rất nhiều triển vọng.
- Triển vọng gì thưa trung tá?
- Vì anh vừa có lòng dũng cảm vừa có sự trung thành. Mà trong lúc này người ta đang rất cần lòng trung thành...
Đời Lãng Tử bỗng ngớ người khi nghe tên trung tá nói đến những tiếng "dũng cảm" và "trung thành" với một giọng rất đặc biệt vừa hài hước, vừa giả dối.
Suy nghĩ một lúc thật chín chắn, y mới đáp lại cũng bằng đúng cái giọng đầy ẩn ý của viên trung tá:
- Vâng, tôi sẽ... chiến đấu tận tụy.
Chúng ngồi bên nhau, cùng đang giữ miếng với nhau, như mỗi đứa đã dắt sẵn mỗi một con dao găm trong mình. Hoài Việt bỗng ranh mãnh thốt lên:
- Ôi, phải đó, chúng ta sẽ "chiến đấu tới cùng cho lý tưởng".
Im lặng hồi lâu. Rồi bất giác cả hai đứa cùng phá lên cười sằng sặc.
Lần ấy Hoài Việt về Sài Gòn còn có một mục đích riêng rõ rệt là sẽ luồn lọt để kiếm cho bằng được một tấm hộ chiếu ra nước ngoài...
Còn Đời Lãng Tử, y chỉ có một miếng hộ thân duy nhất, là vừa làm theo mệnh lệnh cấp trên vừa lắng nghe thời thế. Đến một lúc nào đó, y sẽ sẵn sàng trút bỏ bộ quân phục sĩ quan trên người và xin vào làm ở một hãng buôn chẳng hạn, để chờ thời. Thế nhưng khi những làn sóng tấn công của đối phương vừa tạm lắng xuống là y đã từ bỏ ngay tất cả những mưu toan ngấm ngầm ấy. Y thầm trách y là một đứa non gan...
Đời Lãng Tử càng nghĩ ngợi càng thêm xót xa vì bế tắc.
Đời Lãng Tử nguyền rủa một hồi. Đến lúc y không tài nào nhắc bàn chân trái lên để nhảy được nữa thì y nằm vật xuống đường. Mặt đường đã nóng bỏng, y lại phải bò lết vào trong một búi cỏ hôi ở mí rừng. Y định sẽ ngủ một giấc thật dài trong búi cỏ đó - Ngủ cho quên nỗi hãi hùng đang xiết chặt lấy người y, ngủ để tạm lẩn trốn cơn đói, khát và quãng đường kỳ quái trước mặt y, và biết đâu lại chẳng có một dịp may mắn ngẫu nhiên nào sẽ xảy ra trong lúc y ngủ...
Nhưng y nằm lâu lắm rồi mà vẫn chưa thể ngủ được. Vì nóng quá, và vì y đang luôn luôn cảm thấy có một người nào đang rình rập mình. Y cố nghĩ xem tại sao y lại đâm ra hoảng sợ vu vơ như vậy. Chợt y nhớ đến khuôn mặt đen cháy của một chú bé có cái chỏm tóc bắt nắng đỏ hoe vừa mới chấm ngang mũi súng AR.15. Phải rồi, thằng bé người Bình Định. Y đã tóm được nó trong một căn hầm bí mật đào giữa bãi cỏ dưng. Y hỏi gì thằng bé cũng chỉ lắc đầu. Y tưởng nó quá khiếp sợ nên sinh ra ngớ ngẩn. Nhưng sau một hồi đánh đập bằng tay, bằng chân, bằng báng súng và bằng cả mũi dao găm lích sâu vào bắp đùi nó, nó vẫn chỉ có lắc đầu. Y lại tưởng là thằng bé bị câm. Y không moi được ở nó một lời nào, nhưng chắc chắn nó là một thằng cộng sản tí hon. Nghĩ vậy nên y đã bắt thằng bé lần lượt nuốt hết một băng đạn AR.15.
Thật không ngờ, cho đến lúc đứa bé ngã ra (chắc đầu đạn nhọn đã xiên thủng dạ dày nó), nó mới quắc mắt lên, nhìn thẳng vào mặt y mà chửi:
- Ù ẹ thằng báng nước! Bú ặc tao đây nè!
Trời! Thằng bé hãy còn nói ngọng.
Rồi cũng chiều hôm đó, trong lúc xua lính vào đốt phá một xóm nhỏ, y đã gặp một người lính già lén nâng mũi súng lên chĩa thẳng vào hông y. Nhưng y đã quay lại bắn chết anh ta trước khi anh ta kịp bóp cò súng.
Đôi mắt của đứa trẻ và đôi mắt của người lính già ấy lại đang hiện lên nhìn y trừng trừng. Y run sợ.
Y cũng đã nghe tiếng nói của đại tá Nguyễn Văn Thọ do đài phát thanh Hà Nội truyền đi. Y biết là chuyện những người quen của y như thiếu tá Phùng, đại uý Liễn, thiếu uý Phi Hùng... đã ra hàng quân cộng sản và đã được đối xử tử tế. Nhưng với y lại khác. Y lắc đầu để khẳng định lại một lần nữa ý chí của mình: Mình không thể làm theo bọn họ được.Cộng sản là ai? Như bọn người ở Thượng Phùng chẳng hạn, bọn người mà trước kia mình chỉ cần "hừm" một tiếng cũng đủ làm cho chúng sợ mất vía? Không! Không đời nào ta chịu công nhận những thằng khố rách áo ôm ấy.
IV. Mấy ngày sau khi kết thúc những trận đánh ác liệt ở vùng SN vào buổi sáng, có một tên lính nằm sóng soài trên bãi cỏ hẹp cạnh hàng rào dây thép gai của chốt pháo binh ngụy quân Sài Gòn ở gần biên giới Cam-pu-chia - Việt Nam. Hai bàn tay y dính bê bùn đất. Cả hai khuỷu tay và mảng đầu gối bên trái của y đều bị rách tưa ra. Máu ở những chỗ đó đã thâm đen lại, đóng thành vẩy ngoài lớp vải cứng. Mấy vòng băng bẩn thỉu bị xổ tung, vẫn còn mắc lòng thòng quanh cái ống chân phải sưng vù của y. Đàn kiến bồ nhọt đang lũ lượt bò dưới cỏ kéo nhau lại bâu bíu cái cục thịt sắp thối rữa ấy.
Y nằm không động đậy, mặt hếch lên, giữa bộ râu quai nón phủ gần kín khuôn mặt lộ ra hai hàm răng hạt bầu bạc phếch.
Trước đây hẳn y là một người vạm vỡ khác hẳn với bây giờ. Vì da thịt y tóp lại, tay chân y gầy teo như mấy que củi chắp nối vào nhau một cách tạm bợ. Bộ quân phục trên người y trở nên quá rộng, xệp xuống làm hằn lên cái khung người bên trong.
Ở cánh tay áo bên phải y vẫn còn gắn cái phù hiệu đầu con báo đen. Đầu con báo được thêu bằng loại chỉ màu than đá. Riêng cái miệng há hoác của nó lại thêu bằng một thứ chỉ đỏ lòm, làm nổi bật đôi răng nanh đen nhọn hoắt, trông như nó đang phun phè và sắp nhẩy bổ vào cắn xé ai.
Những năm tháng trước đây rõ ràng y đã là một con báo đen trong cái chuồng báo khổng lồ ở miền Nam. Nhưng lúc này, nếu trên ngực y không còn phập phồng một chút hơi thở thì y chẳng khác gì xác chết của một con vượn già. Một sự tương phản rất lạ lùng đang nảy ra giữa y và cái đầu con báo đen đeo bên cánh tay y.
Người nằm đó chính là đại uý Đời Lãng Tử.
Y bò đến đây từ trong đêm. Còn dăm bảy thước nữa là y vào được tận chỗ ở của bọn lính pháo thủ. Nhưng y đã kiệt sức. Dù sao thì y cũng có quyền yên chí rằng mình đã về đến đích rồi. Hơn nữa y lại đang nằm kề bên những "chiến hữu" cùng nòi giống với y, hẳn là họ phải khác xa với những tên phi công độc ác người Mỹ... Nghĩ vậy y càng thêm kiên nhẫn chờ đợi. Y chờ trăng lặn, rồi y chờ rạng đông. Trước lúc rạng đông y còn cố giữ được cho đầu óc y tỉnh táo. Nhưng rồi y đã thiếp đi trong khoảng thời gian ngóng chờ ánh bình minh. Y đang thiêm thiếp chợt nghe có tiếng chân người dẫm lên cỏ lạt xạt. Y hé mắt ra thấy hai tên lính vừa đến đứng sừng sững ngay bên cạnh y. Một thằng vừa thúc mũi giày vào thái dương y vừa nói với thằng kia.
- Chà sống dai quá trời!
Y mừng rỡ cất tiếng nói - thực tế chỉ là mấp máy đôi môi đã khô nứt. Hai tên lính chăm chú nhìn vào mồm y, rồi một thằng ngửa cổ cười phô những cái răng bịt vàng sáng loé. Còn thằng kia thì vừa nhún vai vừa nói với y:
- Trời đất! Tụi này cũng đang vắt giò lên cổ mà phóng đây nè. Việt cộng sắp tràn đến mà hổng biết hả, ông nội?
- Tôi là đại uý Trần Trung, tiểu đoàn trưởng...
Từ nãy thấy cách nói hỗn xược của hai tên lính, Đời Lãng Tử cho rằng chỉ vì chúng chưa biết y là một đại uý mà thôi, nên y cố dồn sức nói thật rõ hai tiếng "đại úy". Nhưng không ngờ, y vừa nói tới đó là hai tên lính đã quay ngoắt nhổ nước bọt lét tét và bỏ đi. Một thằng nói với lại, giọng khinh bỉ kéo dài ra:
- Ngài đại uý cứ nằm đó, xin mời!...
Vì không hiểu được cái ý vừa khinh bỉ vừa hài hước trong lời nói của tên lính nên Đời Lãng Tử đã mỉm cười, yên chí rằng mình sắp được cứu sống.
Hai tên lính đi khuất thì Đời Lãng Tử nghe tiếng xe hụ máy và tiếng người nói láo nháo ở bên trong lần hàng rào kẽm gai, làm trong lòng y lại thoáng gợn lên những phút giây hồi hộp. Nhưng tiếng máy nổ cứ xa dần, xa dần. Lại tiếp đến mấy chiếc xe nữa vừa hụ máy. Nhưng rồi cũng lại đi ra xa như những chiếc xe trước.
Bất giác, đại uý Đời Lãng Tử thở hộc lên một tiếng. Vòm trời buổi sáng trước mắt y bỗng tối sầm lại. Y nghẹt thở, quằn quại vì y vừa chợt hiểu: chẳng có chiếc xe nào ra đón y đâu. Bọn chúng đang bỏ chạy. Bọn tàn ác! Bọn đểu! Chẳng còn lấy một đứa nào đếm xỉa đến sự có mặt của y trên cõi đời này. Nước mắt y trào ra. Y kinh hoàng trước sự đổ vỡ đang tràn ngập lòng y. Lần đầu tiên trong đời y biết ân hận, hối tiếc tại sao y lại tự dấn thân vào con đường đầy máu me tanh tưởi này? Y mưu toan, luồn lách, y bắn giết trong ngần ấy năm trời để làm gì? Để báo thù cho cha ư? Nếu cha y còn sống đến ngày nay, liệu cha y đã trở thành một vị đại tá, như đại tá chiến đoàn trưởng chẳng hạn? Hay cha y đã là một con thú đội lốt người như thiếu tá Tám Chảng? Hay cha y đã là một kẻ ích kỷ và nhẫn tâm như những thằng ở pháo đội B này?... Nghĩa là cha y sẽ thuộc một trong những hạng người đáng kinh tởm đó?
Y lại nghĩ đến quãng đường 13 đẫm máu mà y đã lê lết mấy ngày đêm để về đến đây. Để làm gì? Rút ngắn cái khoảng cách giữa y và mục đích y hằng theo đuổi? Vô ích. Nó vẫn còn, đen ngòm ở ngay trước mắt y kia. Thế mà cả cuộc đời y đã ném vào đó? Vô ích. Hoàn toàn vô ích!
Trong đôi mắt đờ đẫn của Đời Lãng Tử, tròng đen đã kéo ngược lên, chỉ còn lại một chút như hai cái vuốt nhỏ núp sau đôi hàng mi - Sự sống đang lụi tắt trong đó - Đầu óc y lảng vảng lúc xa lúc gần. Một khối khí mờ khổng lồ bỗng nhiên xuất hiện trên cao và rơi thẳng xuống mặt y. Y lơ mơ thấy như y đang chạy trốn nó. Nhưng y chạy hoài vẫn không ra khỏi cái bóng ma quái của nó. Nó cứ lừng lững đuổi theo y, mỗi lúc một gần, gần mãi...
Y rùng mình, nấc lên một tiếng rồi trút hơi thở cuối cùng. Xác y lạnh dần giữa cỏ hoang. TB
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« Trả lời #8 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 10:31:57 AM » |
|
Trung tướng giữa đời thường Tác giả :Cao Tiến Lê
Mới gặp lần đầu nếu không được giới thiệu khó ai nghĩ rằng Hoàng Lương là một trung tướng bởi anh có dáng người cao cao tóc cắt ngắn, da nâu, rắn rỏi, hàm răng trắng đều và khi anh cười, một cái cười truyền cảm như cả cuộc đời anh trọn vẹn vô tư chưa từng thất thiệt. Lương thiếu hẳn cái vẻ oai vệ của cấp tướng với những bài diễn văn hùng hồn, cổ vũ. Hồi ở chiến trường mỗi lần về Hà Nội, không ngày chủ nhật nào anh vắng mặt trong số khán giả ở sân vận động Hàng Đẫy. Gặp đợt nghỉ tranh giải anh ra ngồi vỉa hè xem bọn trẻ nhỏ chia đôi, lấy dép làm gôn thi đấu giữa lòng đường, có những pha tranh cãi quyết liệt, không bên nào chịu bên nào dễ xảy ra ẩu đả, anh bước tới can ngăn: "Này, bên ở trần đúng. Bên mặc áo may ô sai, chèn người trái phép". Một đứa bên trần reo ầm lên "Thấy chưa? Chèn người trái phép, trong vòng cấm địa, phạt pê-nan-ti!" Cậu ta ôm quả bóng chạy tới để giữa đường trước gôn đối phương. Bên may ô hậm hực xỉa xói: "Ông Khốt" ơi, biết quái gì luật lệ. Như thế nào là chèn người trái phép? Dùng vai chèn đã sao? Mời ông ra khỏi sân cho chúng tôi nhờ".
Hoàng Lương cười khà khà: "Ừ, lâu nay xa Hà Nội mình không hiểu biết những luật lệ mới bổ sung". Nghe thế bọn trẻ nhìn anh với những cặp mắt độ lượng sẵn sàng tha thứ.
Ở thành phố không nhận ra anh đã đành, cả chiến sĩ ở chiến trường cũng khó nhận ra người chỉ huy của mình.
- Này, anh bạn đi đâu đó?
- Mình qua công binh có chút việc.
- Anh bạn đưa tớ mượn chiếc áo mưa.
- Nhưng tớ cũng cần.
- Công binh ở chỗ kia chứ xa xôi gì. Chạy ù cái là tới. Anh bạn đã cần bằng tớ à? Công văn hoả tốc Bộ tư lệnh gửi sư đoàn X, ướt hoặc chậm là chết người hàng loạt. Tớ phải chuyển ngay. Lính tráng gì đâu, ở chiến trường mà đầy rẫy cá nhân chủ nghĩa. Chắc ngoài Bắc mới vào chứ gì. Chúng tao diệt xong Mỹ, nguỵ còn phải về diệt bọn cường hào mới ở hậu phương. Trông cậu có vẻ chủ nhiệm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, bộ mặt cậu đang thể hiện sự nuối tiếc, đứt ruột cái khoản bóc lột xã viên dưới chiêu bài làm chủ tập thể.
Cậu ta huyên thuyên trấn áp bằng lời và giằng lấy chiếc áo mưa trên tay Hoàng Lương như dành lại quyền lợi cho nông dân hồi cải cách ruộng đất. Đi dăm bước cậu ta còn ngoái lại hỏi:
- Này, tên gì, ở đơn vị nào để đêm về tớ còn mang trả.
- Thôi, không phải trả đâu. Tớ biếu cậu đấy.
Cậu ta đưa nắm tay nhứ nhứ:
- Đừng có giở cái giọng biếu xén mua chuộc ấy ra. Nói đi. Tên gì? Ở đâu?
- Không cần biết tên. Tớ ở kia kìa. Hoàng Lương chỉ vào khu rừng nhiều cây non nằm như rẻo đất thừa ít giá trị về quân sự.
- Ở Bộ tư lệnh mặt trận hở? À, công vụ của Hoàng Lương phải không? Lão ấy nghe nói lập dị lắm. Này, nói cho lão ấy biết, đừng kéo căng cuộc đời ra một cách không cần thiết. Lão ấy phải theo chiến sĩ, chứ đừng bắt chiến sĩ sống theo kiểu của lão ta. Bố bảo, cậu cũng chẳng dám nói lại với Hoàng Lương những điều ấy đâu. Công vụ như các cậu, cấp trên hoá thành mù. Mười giờ tớ chờ trước cổng gác nghe chưa? Nhớ ra mà lấy ni lông.
Câu nói vô tình của người lính ở mặt trận làm Hoàng Lương phân vân. Phải chăng anh đã kéo căng cuộc đời ra một cách không cần thiết. Phải chăng ở hậu phương đã trỗi lên bọn cường hào mới? Phải chăng những trợ lý, những công vụ xung quanh đã đưa tới anh những lượng thông tin hạn chế, có khi sai lệch. Không hẳn thế. Người lính anh gặp tình cờ ấy, chắc rằng đang có nỗi bực bội gì đó nên đã vơ đũa cả nắm. Còn anh, sáng nào anh cũng nhận được tin tức, cả nước đang dồn cho mặt trận. Trung ương Đảng, Bộ chính trị theo dõi bước đi của từng quân đoàn. Nghĩ thế lòng anh bồi hồi xúc động rạo rực, quên tất cả riêng tư, hoà bình vào tập thể, kéo tập thể theo một hướng tiến công.
Tuy vậy, trong cuộc sống Hoàng Lương sợ nhất là mình xa rời khỏi đời thường. Thực chất anh cũng rất thích những thú vui của đời thường. Mỗi lần về quê, mới tảng sáng anh đã vác cây sào và chiếc lồng rập trong đó có con chim cu cườm, lên núi bẫy chim. Con chim trong lồng cất tiếng gáy rồi tiếng gù giục giã. Con chim ngoài rừng trả lời từng tiếng thăm dò, tiếng gáy tăng dần, hùng hổ và tức giận như cảnh cáo kẻ nào đó đã xúc phạm đến mảnh đất thuộc quyền sở hữu của mình. Thông thường chúng nóng nảy vội vàng lao tới đậu vào thân lồng để cắn xé và tiêu diệt đối phương. Rập! Chiếc lồng trụp xuống. Trong tích tắc từ tự do chuyển ra mất mát, con chim vật vã tung hết lông đuôi lông cánh. Anh nấp sau bụi cây đứng dậy đưa cây sào hạ chiếc lồng bắt con chim sa lưới, tiếp tục chuyển sang vùng đất khác. Cũng có những con hết sức thận trọng, quanh quanh vòng ngoài, giọng gáy và gù lúc mượt mà, lúc sôi sục như dự báo nắng mưa hoặc tô đẹp cho không gian xanh thắm, cứ như nó không cần đất đai, không cần quyền hành, không thù hận, tranh chấp ngôi thứ, chỉ cần tiếng gáy, tiếng nhạc, cần sự đồng cảm bằng trí tuệ, tài năng, cần tìm kiếm sự thân thiện có văn hoá. Gặp những con như thế Hoàng Lương cố ghìm mình lại, không nôn nóng, anh cong lưỡi giả tiếng gáy tiếng gù giúp con chim trong lồng phát huy hết năng lực chinh phục và bắt cho kỳ được con chim ngoài trời. Đấy là con chim vô giá người đi săn mang mục đích thương mại, không bao giờ bắt được. Và cả anh nữa, anh cũng không bắt được nó. Anh ra về mang theo tiếng gáy tiếng gù của con chim lòng man mác buồn mất hàng tuần lễ.
Tối mịt anh mới về nhà. Bà mẹ rối rít kể chuyện ông tỉnh này, ông huyện nọ tới thăm, người anh cả phải tiếp liên tục. Mới một ngày mà bã chè đã đổ đầy gốc cây, vì khách nào đến cũng quý, cũng phải pha ấm chè mới, để ấm cũ dù chỉ rót đợt nước đầu đang chát, cũng chẳng đành, e rằng không trọng khách. Phải vay chè cả xóm. Nhưng bà không dám nói để con trai biết. Con mình là cán bộ cấp cao, là người của Đảng, không nên nói với con cái điều vặt vãnh trong nhà.
Anh hỏi:
- Còn khoai lang không mẹ. Nhà ta đã muối cà chưa? Anh thích nhất là được ăn khoai lang loại có bột với cà muối quả nho nhỏ chỉ nhích hơn ngón tay út. Sau đó bưng bát nước chè xanh đặc quánh uống liền một hơi.
Khi biết đơn vị mình sắp có tư lệnh mới là bao nhiêu câu chuyện rôm rả truyền tụng về anh. Cán bộ chiến sĩ cũng thông báo cho nhau biết những điều cần đề phòng:
- Này, ông ấy không thích nói chuyện vợ con, gia đình đâu nhé. Làm việc xong còn muốn nấn ná ngồi chơi, hãy gợi chuyện bóng đá, chuyện săn chim, đừng có thói quen hỏi thăm: "Thủ trưởng mấy cháu rồi, chị nhà hiện ở đâu ạ" là ông ấy sẽ dùng cái giọng nhát gừng hỏi lại "Xong việc chưa? Nếu xong rồi thì nên về". Lính ta thích tán chuyện sinh hoạt của ông ta nhất. Nào là không hút thuốc lá, không rượu bia, không cà phê, không nhận lương, một cậu khác chen vào: "Chả chắc thế đâu, không nhận lương theo kiểu ông bộ trưởng nọ thì cũng oái oăm lắm đấy. Một lần thấy tờ bạc năm mươi đồng ngân hàng Việt Nam để trên bàn cô thư ký, ông ta cầm lên hỏi với vẻ bực bội: Thằng cha nào vô công rồi nghề mà đi vẽ bức tranh nguệch ngoạc thế này". "Ấy, ấy…" ý kiến khác tưởng như phản đối nhưng thực chất là xác nhận thêm mặt xấu của vị bộ trưởng nọ. "Các cụ cốp có phải mua bán tiêu tiền gì đâu mà biết mặt đồng bạc. Người ta tặng, người ta biếu, người ta cấp theo tiêu chuẩn. Không biết mặt đồng bạc nhưng lại biết vàng. Thoáng nhìn là biết tuổi vàng. Trong nhà chắc có hàng chục cây vàng". "Đừng nhầm lẫn thế cậu ơi! Ông Hoàng Lương rất tiết kiệm và không dành gì cho gia đình cả". Một người cãi lại và anh ta kể hồi chiến tranh đánh Mỹ mỗi ông bố hoặc bà mẹ có con đi B là được trợ cấp mười tám đồng. Ông ta về hỏi người anh cả: "Theo tiêu chuẩn của em, mẹ được nhà nước trợ cấp mười tám đồng một tháng. Anh thấy đã đủ tiền nuôi mẹ chưa?". Người anh không hiểu là nói thật hay đùa; "Làm gì đến mười tám đồng cho tốn kém của chính phủ hả em? Chỉ cần mười bốn đồng là đủ nuôi mẹ thôi". Ông ta nghe thế, liền về báo với bộ phận theo dõi trợ cấp là chỉ gửi mười bốn đồng cho bà mẹ.
- Cả đến cấp tướng cũng có những sự ngây thơ mù quáng, chẳng hiểu đếch gì đời cả. Anh chàng lúc nãy nêu ý kiến về vị bộ trưởng nọ đế thêm vào.
Người khác cãi:
- Chẳng phải ngây thơ và cũng chẳng phải mù quáng đâu. Ông ta có mục đích của ông ta, chỉ biết xông lên, chỉ biết mặt trận, né tránh tất cả những công việc đời thường.
- Các cậu lại nhầm lẫn nữa rồi. Người ta có thể che phía này chắn phía kia, nhưng cuối cùng cũng bộc lộ sự thật. Trung tướng Hoàng Lương là người có bản lĩnh và bộc lộ đích thực y như mình có - người khen ngợi Hoàng Lương nói thế và kể tiếp: Hồi làm giám đốc một học viện cách Hà Nội hai mươi ki-lô-mét, nhân ngày chủ nhật có trận đấu bóng đá quốc tế, lái xe chuẩn bị xe chu đáo tính giờ giấc để vượt qua cầu Long Biên, các trợ lý nhấp nhổm vì biết tính thủ trưởng ham mê xem bóng đá và sẵn sàng cho mọi người đi nhờ xe. Nhưng tất cả đều bị hẫng. Nghỉ trưa xong Hoàng Lương đi đến sân vận động Hàng Đẫy bằng chiếc xe đạp công, cọc cạch, phải thả chân xuống đường thay phanh. Bản chất của Hoàng Lương là trong sáng và bất cứ trường hợp nào, điều kiện nào ông ta vẫn xử sự như thế…
- Giả dối thôi, hoặc sự giả dối đã thành thói quen.
- Ông ta thì cần gì giả dối với ai.
- Giả dối với cấp dưới, và tự ông ta giả dối với ông ta.
- Thôi, cậu im đi, nghi ngờ hết tất cả. Đối với cậu ai cũng xấu cả.
- Không phải thế. Không phải đối với ai mình cũng nghĩ xấu về họ, thực tế họ có mặt tốt, mặt xấu. Phải công nhận mặt tốt và nhìn rõ mặt xấu. Tướng lĩnh của chúng ta được như Hoàng Lương cũng là chuyện rất hiếm. Nhưng không phải là toàn diện cả về xử lý quân sự cũng như đời thường. Hoàng Lương không có đời thường. Nếu vấp phải cảnh sống đời thường như chúng ta, nghĩa là nuôi bố, nuôi mẹ, chạy thuốc men cho vợ, cơm áo cho con, sẽ biết ai vững vàng hơn ai. Tướng lĩnh trong chiến tranh, có khi chỉ là binh nhì khi sống giữa đời thường.
Một người nói to:
- Thôi đừng cãi nhau nữa hai ông bạn ơi. Đã làm tướng bao giờ cũng có tầm nhìn xa, cũng khôn hết. Dù là chiến tranh hay hoà bình. Họ biết chuẩn bị cho hoà bình từ khi đang chiến tranh. Chẳng thế mà đã có câu hát "Áo ta còn nhuộm máu đào. Mà xe bà tướng đã đi vào đi ra".
Người lúc nãy phê phán Hoàng Lương là ngây thơ mù quáng, đứng dậy nói:
- Tớ không tin là Hoàng Lương nằm trong số tướng lĩnh ấy. Hoàng Lương không cần của cải, không cần vật chất. Cả cuộc đời Hoàng Lương chỉ có chiến tranh, chỉ rực sáng lúc chiến tranh. Nếu chuyển hướng cuộc đời, Hoàng Lương sẽ vấp váp, hay nói một cách khác, Hoàng Lương không phải là Hoàng Lương vốn có như thời cha sinh mẹ đẻ, một mục đích bên ngoài đã trùm hẳn lên tâm hồn Hoàng Lương và Hoàng Lương cũng muốn đưa mục đích đó trùm hằn lên chúng ta, những người lính, những người bị chỉ huy, Hoàng Lương đang tự tách ra khỏi mình tự xa lìa mình, rồi ngày nào đó, mặt nào đó, Hoàng Lương sẽ đổ vỡ.
- Ôi chà, cái triết lý của cậu rối rắm quá chừng!
Bao giờ cũng thế, hễ ai đó nhắc đến chuyện Hoàng Lương là mọi người xúm lại nghe một cách vui thích, sau đó bàn cãi, phê phán, ca ngợi và chẳng bao giờ kết luận.
Kiểm tra mặt trận Cămpuchia xong, Hoàng Lương về thành phố Hồ Chí Minh rồi mới ra Hà Nội. Anh có ý định nghỉ lại một đêm tại Vinh để hỏi thăm tình hình gia đình. Hoàng Lương là vị tướng ít có tiếng tăm ở hậu phương, ít xuất hiện những nơi công khai trên lễ đài cũng như trong các đại hội, nhưng là nỗi lo lắng của kẻ thù. Chúng cho trinh sát cơ quan tham mưu thăm dò, bám riết hướng đi và sự xuất hiện của Hoàng Lương. Mỗi lần thất bại, chúng lộn xộn hỏi nhau có Hoàng Lương chỉ huy không? Anh là niềm tin của Bộ quốc phòng, luôn luôn làm thay đổi tình hình mặt trận. Anh theo dõi chặt chẽ tình hình địch. Khi thời cơ xuất hiện như một tia chớp anh nắm ngay được và lập tức định ra chủ trương tác chiến mới, quyết tâm tấn công rất linh hoạt rất táo bạo, sau đó các chi tiết của kế hoạch hình thành và hoàn chỉnh. Ở anh vừa có quyết đoán táo bạo vừa có thận trọng chắc chắn.
Đến thành phố Vinh đã xế chiều, anh không vào tỉnh uỷ hoặc Bộ chỉ huy quân sự, anh ngại làm họ mất thời gian và chưa chắc gì họ đã vui vẻ. Anh bảo lái xe chạy thẳng về nhà người em họ, nghỉ ngơi một đêm, thoải mái hỏi chuyện nhà chuyện cửa, chuyện giá cả và nghe những tiếu lâm mới chỉ trích châm biếm gọi đích danh một số người lãnh đạo hiện hành. Tính tình người em cũng bỗ bã nói không nể nang né tránh ai hết.
- Chắc là thủ trưởng lại nhớ khoai lang nhớ cà…
Lái xe nói một câu nhẹ nhàng nhưng bao gồm kết luận của suốt mấy năm liền anh ta đi với Hoàng Lương. Có mặt ông ta quả là giản dị trong sáng, nhưng cũng có mặt là giản đơn hoặc né tránh. Ông ta không biết hoặc không dám nhìn thẳng vào một xã hội đang nảy sinh muôn vàn phức tạp. Ngày tết, ngày lễ ông ta ngại sống ở thành phố, ở nơi đông đúc, ngại nâng cốc bia, chén rượu chúc mừng, sẽ đánh thức điểm nào đó trong người ông còn thiếu. Những ngày ấy ông thường lên biên giới ra hải đảo hoặc đến với mặt trận. Ông ra đi chẳng có gì ràng buộc, ra đi hết sức nhẹ nhàng. Nhưng còn lái xe, công vụ, bảo vệ, phải đi theo ông, khi họ ràng buộc với gia đình rất chắc trong những ngày lễ ngày tết. Cuối cùng ông cũng hiểu ra ông bỏ lại tất cả, chỉ cần một lái xe, hai thầy trò rong ruổi. Song nhiều lần phải ăn khoai với cà, phải sống những ngày quá đạm bạc, lái xe cũng tách ra khỏi ông, đưa ông đến chỗ nghỉ ngơi, rồi đi lo việc riêng của mình. Ông không phê phán lái xe về chuyện đi ăn riêng mà còn cho cả khoản tiền hai người đi công tác và nhắc lái xe trước khi ngủ nên làm hớp rượu cho giãn gân cốt. Thủ trưởng và lái xe hai người hai cách sống, không ai chen lấn vào ai, vả lại lái xe cũng thích khi đi với Hoàng Lương vì không phải nghe các bà vợ rỉ tai: "Chú đến tỉnh A xin cho chị thứ này, tỉnh B xin cho chị thứ kia… À mà đừng xin, cứ mua!". Tỉnh nào nỡ lấy tiền khi vợ cấp tướng muốn mua vài thứ lâm thổ sản của địa phương. Cũng có vài vị nghiêm mặt hỏi khi thấy lái xe đưa về những đặc sản quý giá, định bắt trả lại, nhưng nghe nói "bà nhà dặn" là ông ta im lặng.
Hoàng Lương chẳng xin, chẳng mua, ai biếu thứ gì là cho luôn lái xe hoặc công vụ đi theo. Tuy vậy Hoàng Lương cũng không phải là thần tượng hoàn toàn của lái xe, lái xe vẫn lắc lắc đầu một mình như xua ruồi khi hai tay bận cầm vô lăng, nghĩ "Cuộc đời như ông ta kể cũng buồn".
Nghe tiếng còi xe từ ngoài ngõ, người em chạy ra bô bô:
- May quá, bác đã về. Em đang định nhờ tỉnh uỷ hoặc tỉnh đội tê-lê-phôn. Bà trên nhà ốm nặng lắm.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Tư, 2011, 11:16:53 AM gửi bởi vmt »
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Thành viên

Bài viết: 754
|
 |
« Trả lời #9 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 10:34:12 AM » |
|
Tiếp theo
Hoàng Lương bảo lái xe ra phố ăn thật no, uống thêm cà phê đặc nữa, không được nghỉ ngơi đâu, phải đi đêm, còn anh sà vào mâm cơm của người em ăn một bữa thực sự dưa muối chấm với nước mắm loại hai đầy thú vị.
Về Đô Lương chỉ bảy mươi ki-lô-mét, xe chạy mất gần bốn tiếng đồng hồ. Đường không phải chỉ những chỗ lồi lõm bằng ổ gà mà như vũng trâu đầm. Nhờ có mui bạt, khung sắt chắc chắn nên người không bật ra khỏi xe khi bị những cú xóc tưởng như bất ngờ gặp bom nổ, đấy là chưa kể từ tỉnh lộ về xã còn phải đi bộ gần hai tiếng đồng hồ, bởi xã nhà rất nhiều cán bộ cao cấp làm việc ở trung ương hoặc không phải là cán bộ cao cấp thì cũng là loại nhân viên có thẩm quyền thương lượng hoặc điều hành được xe con cho những chuyến về thăm quê. Xe về xã cứ nườm nượp, nắng bốc bụi mù, mưa làm đất nhão nhoẹt, gây khổ sở cho những người đi bộ. Vậy là xã vác gỗ chôn đứng giữa đường, lấy hết ván lát cầu. Từ đó tất tật mọi người từ cao cấp đến nhân viên bình thường về xã đều đi bộ hoặc đi xe đạp gần mười ki lô mét.
Hoàng Lương dặn lái xe chờ dưới gốc cây đa tranh thủ chợp mắt, nếu bệnh tình bà mẹ không trầm trọng anh sẽ rời Đô Lương trước khi trời sáng.
Mẹ anh nằm liệt người đã hơn hai tuần. Không bệnh gì ngoài suy nhược cơ thể ở tuổi già. Anh cả, chị dâu và các cháu còn thức túc trực bên giường, nét mừng rỡ thể hiện trong từng đôi mắt khi thấy anh về và họ đưa tay như nhứ bảo im lặng sợ bà xúc động đột ngột. Anh thì thầm bảo chị và các cháu vào nhà trong tranh thủ nghỉ ngơi, đêm nay anh sẽ ngồi bên bà. Mẹ anh đang mê mê chập chờn giữa ngủ và thức bỗng giật mình rồi tỉnh hẳn khi nghe tiếng anh gọi nho nhỏ. Bà không ngồi dậy được, cứ nằm thế hỏi anh bao nhiêu chuyện, từ chuyện các chú lái xe chưa một lần về thăm nhà ta, chuyện sức khoẻ bác Đồng, bác Giáp, bác Trường Chinh... chuyện từ hoà bình đến nay anh mới về nhà ăn khoai lang với cà do chính tay mẹ muối, mẹ trồng có ba lần. Bà rất ít kỷ niệm về con, cả những thời trẻ dại của Hoàng Lương cũng nhạt nhoà trong bà, bởi con bà lớn lên đã trở thành vị chỉ huy, được mọi người tôn kính giữa con người về sau và con người trẻ thơ như không phải là một Hoàng Lương, mà là hai, là ba là nhiều ngả chắp vào nên đôi lần bà ngỡ ngỡ như Hoàng Lương là một vị khách.
Thấy mẹ nói chuyện có phần vui, người anh cả chen vào:
- Hoà bình với ta thôi mẹ ạ, chứ chú ấy đã có hoà bình đâu. Từ lúc chú ấy về con thấy mẹ khoẻ hẳn lên, hay mẹ ra Hà Nội thăm chú ấy ít bữa.
Bà lắc đầu khẽ cười thầm thì: Bao giờ mẹ có con dâu ngoài đó, mẹ sẽ ra thăm. Hai anh em cùng cười với mẹ. Nỗi lo lắng vơi dần. Bỗng bà hắt hơi ba lần rồi lên cơn nấc, từ lồng ngực lép kẹp như bị một sức nén giằng kéo, làm người bà co rúm, không nói được nữa, bà mở mắt nhìn hai đứa con rồi từ từ nhắm, xoè bàn tay, tắt thở. Bà ra đi đột ngột nhanh chóng như không phải cái chết là chuyện có thật.
Hai anh em cúi xuống lay đầu lay tay bà, cất tiếng gọi mẹ. Nhưng bà không mở mắt và không trả lời nữa. Đêm quá yên lặng, ngọn đèn dầu đứng im như một đốm nắng mặt trời lọt qua khe hở của phên nhà, tiếng thạch sùng chách chách. Hoàng Lương tấm tức khóc, nỗi đau mất mẹ, mất quá khứ tuổi thơ, mất cả con đường tương lai với mái nhà nho nhỏ này khi không còn bóng mẹ già nữa… Tất cả tràn về làm anh nhức nhối. Người anh cả đứng thẳng lên, răng cắn chặt vào môi một lúc rồi nói:
- Chú Lương này!
- Gì thế anh?
- Mẹ chết thật rồi!
Hoàng Lương không kìm được nước mắt, trả lời: Vâng, mẹ chết thật rồi!
Tiếng người anh cả rành rọt như ra lệnh:
- Bây giờ chú đi đi, đừng ở nhà nữa.
Hoàng Lương hết sức ngạc nhiên, bật ra câu hỏi, như hỏi trong chiến tranh khi nghe một tình huống xảy ra bất ngờ, phải thay đổi hình thức tác chiến:
- Sao thế anh?
Người anh có lẽ đang đắn đo để trả lời nguyên nhân vì sao Hoàng Lương phải ra đi đừng ở nhà nữa.
Hoàng Lương chợt nghĩ phải chăng suốt thời gian mẹ ốm đau, suốt cuộc đời mẹ, anh không chăm sóc giúp đỡ được gì cho mẹ cho gia đình cả. Những năm chiến tranh giữa bom đạn kẻ thù, những mất mùa đói kém, bữa cháo, bữa rau, tất cả vất vả của gia đình đã đặt lên vai người anh cả, chị dâu, giờ đây trong nỗi đau mất mẹ đã làm anh cả không chịu được, đã mất bình tĩnh, bộc lộ suy nghĩ thật thà, quay sang bực mình với em trai chăng, Hoàng Lương nói:
- Em có lỗi với gia đình…
Người anh cả cắt ngang:
- Em không có lỗi gì hết. Em là hạnh phúc của gia đình, là vinh quang của gia đình. Có em nên cấp tỉnh, cấp bộ, chính phủ trung ương và các cấp tướng khác mới biết mẹ, biết anh, biết gia đình ta. Còn anh là nông dân suốt đời trằn lưng trên đồng ruộng thì trong xã họ cũng không biết nổi tên tuổi anh huống gì cả nước.
- Vậy làm sao mẹ vừa tắt thở, chưa báo tang mà anh lại bảo em ra đi?
- Điều này xuất phát từ cụ thể, rất cụ thể, nhưng không thể nào bỏ qua được cái cụ thể đó. Không phải lỗi tại em, mà lỗi tại nơi khác, tại cơ chế xã hội nhà nước, tại thói quen con người. Trong nhà ta chỉ còn năm mươi kilôgam thóc chưa xay. Nước mắm hết, nhỏ nhoi và thấp giá như hạt muối cũng hết. Nếu em ở nhà, tỉnh uỷ, uỷ ban nhân dân huyện sẽ đến viếng, rồi cán bộ trong xã, các sư đoàn đóng quân gần đây. Thế nào tỉnh cũng điện ra Bộ quốc phòng… Mẹ của một vị tướng mất. Khách quý và xe cộ ùn ùn kéo vào. Em không có mặt ở nhà họ cũng đến viếng nhưng nhanh chóng và đơn giản hơn, chỉ ghi mấy dòng trong sổ tang là xong. Em ở nhà sau lễ viếng họ còn trò chuyện thăm hỏi, cho trọn nghĩa, trọn tình, phải đạo. Là tư lệnh của nhiều mặt trận, người trong xã ta đi bộ đội dưới sự chỉ huy của em cũng khá đông, gia đình họ sẽ đến. Vả lại mẹ ta mất khi đã có chắt có chít, là hồng tang, là tang vui, khách xa, khách quý sẽ ăn bữa cơm trưa, uống chén rượu, khách gần sẽ uống hớp nước, hút điếu thuốc. Thâm tâm ai cũng nghĩ đã làm tướng là giàu có, đàng hoàng, sang trọng. Tiếp đón không tử tế họ cho là nhà ta keo kiệt, hoặc thành cán bộ cao cấp rồi thì khinh miệt quần chúng, coi thường quê hương. Nếu em ở nhà chỉ riêng thuốc lá thôi cũng mất vài chục tút và phải loại thuốc lá đầu lọc cơ. Cũng có thể chạy vay chỗ này chỗ kia, ai cũng sẵn sàng cho mình vay, nhưng với số tiền chi tiêu như thế phải mất hàng chục năm sau anh mới trả hết và chưa chắc đã trả được, vì ngày càng eo hẹp về kinh tế.
Hoàng Lương đưa tay lên túi áo định tìm tiền, nhưng cả đời anh chẳng bao giờ cần đến tiền, cả những lúc nhân dân quân đội rậm rịch xôn xao hốt hoảng vì chuyện đổi tiền thì anh vẫn coi như chuyện xa lạ không liên quan đến mình, liên quan với anh là các thứ vũ khí mới, các chiến thuật, chiến lược mới. Tay anh đưa lên túi áo không gặp đồng tiền nào cả, chỉ gặp bộ quân hàm cấp tướng.
Người anh cả nhìn thấy động tác đó, giọng vẫn đều đều thuyết phục.
- Em cũng đừng băn khoăn gì chuyện này. Cũng đừng xử lý khác với số phận đã vạch. Em cũng có thể vay tiền cho anh để làm sang trọng đám tang mẹ, nhưng rồi em sẽ phải giải quyết hậu quả không phải bằng tiền mà bằng những yêu cầu giúp cho con cháu họ không đi nghĩa vụ quân sự, hoặc đi nghĩa vụ quân sự phải được đi học sĩ quan đi học nước ngoài rồi về công tác tại Bộ Quốc phòng. Làm như thế trong quân đội sẽ có dư luận về em. Chúng ta đã mất mẹ còn để mất luôn cả em nữa hay sao? Vả lại anh tin rằng em cũng không thể nhờ vả hoặc vay mượn ai. Em không làm và em không biết làm việc ấy. Trong người em quá nhiều thói quen như quen ăn khoai với cà, quen lý luận theo con đường đã vạch, cứ thế mà tiến lên, quen nghĩ chế độ ta không có sự xấu xa và hư hỏng. Đã làm tướng rồi thì không trở lại đời thường được đâu em ạ. Phải xử lý đúng hoàn cảnh cấp tướng dù là có lúc giả dối. Sự giả dối đôi khi được coi là sách lược. Công việc đời thường để cho người bình thường giải quyết. Thôi em đi đi.
Nghe anh nói, Hoàng Lương hết sức thấm thía. Phải là ruột thịt, phải coi cuộc đời của em là cuộc đời của mình anh cả mới dám nói những điều đúng sự thật, chua cay và mặn chát như thế. Quả là anh chưa lường hết mọi việc, chưa hiểu rõ cuộc đời của những con người bình thường và cuộc đời khó hiểu ấy lại bắt đầu từ gia đình anh. Muốn có xã hội mạnh mẽ phải xây dựng mọi gia đình vững chắc. Mẹ, anh cả, chị dâu và các cháu là thành viên vững chắc của gia đình, đã tỉnh táo, không chạy theo phù hoa, gỡ cho anh những điều anh chưa hiểu và mặt nào đó chính anh đã chạy theo phù hoa.
- Thật là đau xót khi phải thực hiện như ý anh nhưng cũng không có cách nào khác. Thôi, anh để em thắp nén hương khấn vái hương hồn mẹ đã.
- Hôm nay không phải là mồng một hoặc ngày rằm. Thắp hương lên, hương thơm sẽ bay xa. Thắp hương vào ngày bình thường là chuyện lạ. Hàng xóm láng giềng sẽ biết. Chỉ cần một người biết là em không thể đi được nữa. Em đi rồi anh sẽ gọi chị dâu và các cháu lại đây, anh sẽ báo tang, ai cũng tưởng khi em ra đi mẹ còn sống. Kể cả người trong gia đình.
Hoàng Lương vuốt chân vuốt tay mẹ, sửa lại đầu bà đang bị ngoẹo về một bên. Người bà khô đét, vàng vọt và cho đến lúc này anh mới nhìn mẹ một cách kỹ càng. Mẹ gầy như thế này ư? Mẹ ốm như thế này ư? Anh đưa hai tay ôm đầu khóc rưng rức. Mẹ ơi! Con có lỗi quá! Suốt đời mẹ con chẳng làm được gì cho mẹ cả.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|