Vũ khí mới của các nước Đông ÂuAu: Pavel Sergeev, Trans&Comm: SSX
Source:
www.lenta.ruSúng trường bộ binh là một biểu tượng quốc gia, là quốc hồn quốc tuý của mỗi nước. Các nước Đông Âu, sau khi gia nhập NATO có vấn đề thay súng. Đương nhiên những nước có thực lực thì tự chế tạo lấy, những nước khác thì trông chờ vào các ông lớn. Có ông rất lớn, sợ người ta không nhìn ra nên ông ta luôn luôn la lớn. Có ông sắp lớn, lại có ông đã lớn từ lâu nhưng âm thầm lặng lẽ.
Ba lanBa lan là nước đầu tiên trong số các nước Đông Âu thay súng năm 1994. Tiến trình này được đẩy nhanh khi nước này tham gia vào lực lượng đồng minh trong cuộc chiến Nam tư. Có sẵn một mạng lưới công nghiệp chế tạo súng và những bài học có được khi chế tạo các phiên bản khác nhau của khẩu Kalasnikov, Pole quyết định không mua súng nước ngoài mà tự chế tạo súng mới theo chuẩn NATO 5.56x45 cũng như nâng cấp các thiết bị hiện có để hợp chuẩn NATO. Quyết định như vậy là có lý do về mặt kinh tế.
Năm 1995, Pole bắt đầu hiện đại hoá súng Tantal wz.1988 và Onyks wz.1989 5.45, sản phẩm hợp tác Nga-Balan để theo chuẩn NATO 5.56x45. 1995-1996 họ đã bắt đầu thử lô súng 5.56x45 mới có tên Beryl, do nhà máy tại Lucznik chế tạo.

Ảnh: súng Beryl 5.56x45 của Balan
Ngày 20-3-1998, Tướng tổng tham mưu quân đội Ba lan ký quyết định chấp thuận lấy súng Beryl và một phiên bản ngắn nòng mini Beryl đưa vào trang bị. Ngày 28-6-1999, một HĐ cung cấp 5000 súng đã được ký để trang bị cho QĐ Ba lan.
Trải nghiệm của việc sử dụng súng này tại Kosovo, Afghanistan và Iraq cho thấy có một vài nhược điểm trong cơ cấu lùi khoá nòng. Theo quan điểm của các chuyên gia Ba lan, thay mới các bộ phận này cũng như tiếp tục hiện đại hoá nó trong tương lai là cần thiết. Một đại diện của quân đội Ba lan còn nhấn mạnh, việc trang bị thêm ống ngắm quang-điện tử sẽ giúp kéo dài thời gian phục vụ của khẩu tiểu liên tự động này thêm 10-20 năm.
Trong bối cảnh bất đồng vì sự cố như trên, năm 2007, một công ty thuộc Bộ Quốc phòng Ba lan tên là Fabryka Broni, trong khuôn khổ của chương trình “Titan” đã phát triển những mô-đul súng mới 5.56x45. Trên cơ sở đó, họ bắt đầu chế tạo súng tiểu liên cỡ nhỏ (nòng ngắn, nhỏ nhẹ như Uzi), súng ngắn, súng trường tấn công (carbine) cho các lược lượng đặc nhiệm. Dự án này được giao cho 2 hãng đồng thời để có được sự lựa chọn tốt nhất. Trên thực tế, với kinh phí hạn chế, họ vẫn hỗ trợ tài chính cho cả 2 hãng. Điểm đặc biệt và nhiều tham vọng của kế hoạch này là chế tạo các súng tự động với cả loại đạn truyền thống, cũng như đạn không vỏ, loại này thuốc súng chứa dưới đầu đạn ở dạng con nhộng được bao gói đặc biệt, cái vỏ con nhộng này sẽ cháy hết khi bắn, theo kiểu của súng Heckler & Koch G11/Advanced Combat Rifle - ACR. Dòng súng này sẽ được ra mắt trong khoảng năm 2008-2009.

Ảnh: đạn truyền thống có vỏ đạn bên trái và đạn mới không vỏ bên phải
một người lính mang khẩu HK G11 có thể mang được một lượng đạn
nhiều gấp 10 lần so với khi mang M16.
http://www.defensetech.org/archives/002282.htmlTrái với lực lượng bộ binh chính qui, các lực lượng đặc nhiệm Ba lan lại dùng súng của nước ngoài. Lực lượng chống khủng bố Grom, thuộc quân đội và lính thuỷ Formoza dùng những model súng đắt tiền của nước ngoài. Trong thời kỳ 1991-2007, Grom nhận được 3 loại súng của dòng M4A1. Bắt đầu bằng đơn đặt hàng một số lượng lớn Carbine KAC SR-16, năm 2006 họ bắt đầu nhận được súng XM15E2S M4A3 của Bushmaster và cuối năm 2007 thì nhận được loại đã sửa đổi của M4A1 từ Knight's Armament. Hiện tại cũng có đơn hàng một lượng nhỏ HK416D model 145RS và 10RS của công ty Đức Heckler & Koch.

Ảnh: súng XM15E2S M4A3 của Mỹ
Cuối những năm 90, Grom và Formoza đã cùng nhau tiến hành thử nghiệm một loại súng trường khác của Đức, khẩu G36 của Heckler & Koch. Tuy nhiên sau khi có kết quả thử nghiệm, chỉ có Formoza đặt mua phiên bản G36KV của loại súng này.

Ảnh: khẩu G36 của Đức
Khẩu G36 của Đức cũng được lực lượng khác của Ba lan sử dụng: cảnh sát và lực lượng bảo vệ dùng G36K, G36KV và G36C. Trong năm 2006, Grom cũng đã thử một loại súng khác là FN F2000 của hãng Fabrique Nationale Herstal, Bỉ. Đây là mẫu súng độc đáo có thể bắn bằng cả tay phải và tay trái, bộ phận khoá nòng và hộp tiếp đạn lùi sâu về phía báng súng (bullpap).
Cộng hoà Cséc Năm 2005, Cséc quyết định chuyển sang chuẩn NATO, họ bắt đầu chế tạo một mẫu súng mới và đã được trưng bày tại hội nghị VTUVM 10-2006. năm 2008, khẩu CZ S805 do hãng Czeska Zbrojovke phát triển được chấp nhận trang bị. Việc phát triển của khẩu súng này tương tự như khẩu FN SCAR của Bỉ. Chúng được chế tạo thành 2 phiên bản: bản “A” dùng đạn 5.56x45, bản “B” dùng đạn 7.62x39. Cséc cũng dự định cho ra đời phiên bản “C” dùng đạn 6.8x43 SPC.

Ảnh: khẩu CZ S805 của Cséc
Slô-ve-nia, Lát-via Tháng 6/2006, Slô-ve-nia ký với hãng FN Herstal của Bỉ 6500 khẩu súng đời mới F2000 phiên bản S (F2000S) để trang bị làm súng chính cho quân đội. Việc tái trang bị này hoàn thành trong năm 2007. Đến năm 2012 sẽ trang bị mới cho lính dự bị. Nhìn chung Slô-ve-nia cần khoảng 14000 khẩu. Ngoài ra họ cũng dùng loại FN minimi, nó cũng là vũ khí chính của bộ binh Lát-via.

Ảnh: khẩu F2000 của FN Herstal, Bỉ
Còn lực lượng đặc nhiệm Lát-via thì được trang bị G36KV, một vài đơn vị bộ binh dùng súng của Áo STEYR AUG. Khẩu này chế tạo theo kiểu lắp ráp mô-đun, cho phép tạo nhiều biến thể. Nòng súng có nhiều loại chiều dài khác nhau: 350, 407, 508, 610mm. Tuỳ thuộc vào nòng súng, nó có thể là tiểu liên nòng ngắn, súng trường hay súng máy. khẩu tự động AUG này cũng có cấu hình bullpap.

Ảnh: STEYR AUG, Áo
Súng này có hộp tiếp đạn bằng nhựa trong suốt, cho phép nhìn thấy các viên đạn bên trong. Ống ngắm 1.5 gấp được tăng tầm nhìn. Chế độ bắn đơn hay bắn loạt tự điều chỉnh qua áp lực nhấn lên cò súng.. Cơ cấu như thế gây ra khó khăn cho việc bắn chính xác bởi phải chú ý đến ngón tay ấn trên cò súng. Bun-ga-ri cũng trang bị súng này. Còn Es-tô-nia thì dùng súng của Israel Galil, loại AR, SAR, ARM cỡ nòng 5.56, súng bắn tỉa Galil Sniper 7.62mm.

Ảnh: lính Es-tô-nia với khẩu Galil AR, Israel
Li-thô-nia, Croa-tia, Ru-ma-ni, Slô-va-kiaCác nước này dùng chủ yếu là khẩu G36 Đức với các phiên bản G36V, G36KV và một ít G36C, cũng như súng của Thuỵ sĩ, khẩu SIG SG 551 được phát triển trong thập niên 70.

Ảnh: súng SIG SG 551, Thuỵ sĩ
Đó là những ví dụ về việc tái trang bị theo chuẩn 5.56x45 NATO của các nước Đông Âu khi gia nhập, điều đó đã diễn ra cả thập kỷ nay. Nó cho phép các hãng nước ngoài bán súng và mở rộng thị trường sản phẩm của họ. Nhiều đồng minh NATO lâu đời đã tranh thủ việc này để tẩy kho vũ khí dự trữ của mình đi khi nó đã quá lỗi thời.

Ảnh: Beryl, Ba lan phiên bản KBK wz.96
Mỹ, như một nước cầm đầu của khối đồng minh hoàn toàn có đủ súng để phổ biến cho các nước đồng minh mới bằng những phiên bản cũ của họ hàng nhà súng M16. Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực quan hệ đồng minh, việc tái vũ trang cho toàn bộ đội quân các nước mới gia nhập là điều không thể. Trong đó có vấn đề đầu tiên là tài chính. Chính vì vậy mà các đồng minh NATO mới cho đến giờ vẫn tiếp tục sử dụng những phiên bản khác nhau của khẩu súng trường Kalasnikov. Không rõ các lái súng đã kiếm được bao nhiêu tiền trong các phi vụ với đồng minh mới. Nhưng có lẽ các đồng minh mới đã thấm thía bài học đầu tiên: tiền có trao thì cháo mới múc. Đồng minh thì vẫn là đồng minh nhưng không có tiền thì đừng mua.