(Xét thiên “Nghệ văn chí” sách Đại Việt thông sử
của Lê Quí Đôn nói: tập Quân trung từ mệnh do Nguyễn Trải thảo là những thư từ đi lại với các tướng Bắc triều và ba bài giới dụ tướng sĩ khoảng niên hiệu Hồng-đức Trần Khắc Kiệm biên chép lại theo thứ tự.
Lại sách Lam-sơn ký
nói: Nhà vua từ lúc binh Ngô đến lúc phục quốc, phàm bao nhiêu văn thư đị lại ở quân trung, đều sai văn thần là Nguyễn Trãi làm cả).
(*)1. THƯ XIN HÀNG(1)
(Còn gọi là thư tố oan)
(Năm Qúy mão (1423) ngày 6 tháng 5(1),
sai Lê Vận, Lê Trăn mang năm đôi ngà voi cùng thư (đi cầu hòa). Sử kí
chép: “Năm Nhân dần (1422), vua về núi Chí-linh(3),
hai tháng hết lương, chỉ ăn rau củ và măng tre mà thôi. Bấy giơ quân sĩ mỏi mệt muốn được nghỉ ngơi, khuyên vua hòa với giặc, vua bèn cùng bọn Sơn Thọ, Mã Kỳ giảng hòa”).Tôi nghe nói: “Sinh đời thái bình, ai chẳng được ở yên; gặp đời thánh minh, ai chẳng được thỏa sống”. Nay tôi sinh đời bình, gặp thời thịnh, mà lại thường phải than là mất chỗ ở yên là cớ làm sao? Trước vì tri huyện Đỗ Phú
(4) là người đồng hương, cùng tôi có hiềm khích, nó đút lót tham chính lương Nhữ Hốt
(5), nói vu cho tôi khinh mạn quan trên, cậy mạnh mà chống lại mệnh trên, nếu không trị trước, tất có lo sau. Nhữ Hốt báo với quan quản binh cùng nội quan Mã Kỳ
(6) nhân đó cho quan quân đến đánh úp bộ chúng tôi, không kể trẻ già, đều bị chém giết bắt bớ; họ hàng tôi đều tan tác, vợ con tôi đều chia lìa. Lại khai quật mồ mả tổ phụ tôi phởi bày hài cốt (sách
Lam-sơn kí chép: Năm Mậu tuất (1418) vua khởi binh ở Lam-sơn, bọn Mã Kỳ nhà Minh đến bức, nhà vua lui về đóng đồn ở Lạc-thủy, Đỗ Phú đưa bọn giặc đến đào hài cốt của đức Hoàng khảo ở xứ Phật-hoàng; lại đi lén theo đường tắt để đánh úp phía sau nhà vua, bắt gia thuộc nhà vua cùng vợ con của quân dân rất nhiều). Tôi không biết kêu đâu, tiến thoái đều khó, bèn sai thân nhân đến Tam ty
(7) tạ tội, thì hai ba lần sứ đi đều bị giết, không ai được về. Tôi không biết tính sao, đành phải chạy đi núp náu cho qua năm tháng, để đợi quan trên xét soi. Sống tạm nơi rừng núi đã sáu năm trời, ngày cơm hai bữa, chưa từng có bữa nào no. Song chim tinh vệ
(8) lấp biển, há quản gian lao; kẻ oan ức trả thù, cũng liều sống thác; nên tôi đem bộ chúng đến vây quê nhà Đỗ Phú, bắt họ hàng làng xóm nó để hả lòng căm giận mà thôi, đâu dám có chí khác. Nay nghe quan tổng binh
(9) là bực đức lớn ân rộng, tâm như Đặng Vũ
(10) dụ địch, chính như Hoàng Bá
(11) dạy dân, thực là dịp cho tôi được đổi lỗi sửa mình. Vậy xin kính sai bọn anh họ là Lê Vận
(12) dâng thư đến viên môn
(13), giãi bày oan khổ, cúi xin đại nhân tha cho lỗi đã qua, mở cho đường đổi mới. Nếu được rủ lòng khoan thứ, thật là ơn tạo hóa của trời đất vậy.
(*) Những đoạn chữ nhỏ đặt trong ngoặc đơn là lời chú trong Ức-trai di tập
do Dương Bá Cang biên tập.(1) Cuộc khởi nghĩa Lam-sơn do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo bắt đầu dấy lên từ một ngày đầu xuân năm 1418. Lực lượng nghĩa quân lúc đó không quá 2.000 người. Từ năm 1418 đến năm 1423, nghĩa quân hoạt động ở miền núi rừng Thanh-hóa trong những điều kiện hết sức gian khổ, ác liệt. Bằng lối đánh du kích lợi hại, nghĩa quân đã đánh lui nhiều cuộc vây quét lớn của quân Minh, bảo toàn và phát triển lực lượng, mở rộng dần khu căn cứ. Nhưng cuộc khởi nghĩa cũng gặp nhiều khó khăn. Nghĩa quân nhiều lần bị tổn thất nặng nề, bị thiếu lương thực và ba lần bị bao vây ở núi Chí-linh.
Trước tình hình đó, đầu năm 1423, Lê Lợi - Nguyễn Trãi chủ trương tạm hòa hoãn với địch để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị cơ sở cho cuộc chiến đấu lâu dài. Bức thư này, mở đầu cho việc thương lượng đình chiến nhằm mục đích - như Nguyễn Trãi đã nói rõ trong bài phú Núi Chí-linh - “bên ngoài giả thác hoàn thân” để “bên trong lò rèn chiến cụ”, “quyên tiền, mộ lính”… Trong hoàn cảnh và so sánh lực lượng lúc bấy giờ, công việc thương lượng với địch phải thực hiện một cách mềm mỏng, khôn khéo dưới hình thức trá hàng. Vì vậy, bức thư này gọi là “Thư xin hàng”. Trong thư, Nguyễn Trãi nêu rõ tội ác của quân địch và nỗi oan khổ của nhân dân, nên người ta còn gọi là “Thư tố oan”.
(2) Không rõ lời tiểu dẫn căn cứ vào đâu cho rằng bức thư này gửi ngày 6 tháng 5 năm Quý mão (tức ngày 13-6-1423). Trong Toàn thư (q.10, t.10a), Cương mục (1.13, t.16b)., Lam-sơn thực lục, Đại Việt thông sử, thì tháng 4 năm đó (10-5 đến 7-6-1423), công việc thương lượng đình chiến đã đạt kết quả và ngày 14 (ngày 23-5-1423) Lê Lợi cùng với nghĩa quân trở về Lam Sơn. Cũng theo chính sử của ta, tháng 12 năm trước (năm Nhân dần), Lê Lợi rút quân về núi Chí-linh và đóng ở đó trên hai tháng trong tình trạng thiếu lương thực rồi mới tạm hòa với quân Minh. Theo Hoàng Minh thực lục thì Lê Lợi rút quân về Chí-linh vào tháng giêng năm Quý mão. Vậy việc thương lượng đình chiến với quân Minh phải thực hiện vào khoảng cuối tháng 3 (tháng 3 tính ra dương lịch là từ ngày 11-4 đến 9-5-1423) hay đầu tháng 4 (tháng 4 tính ra dương lịch là từ ngày 10-5 đến 7-6-1423) năm Quý mão, nghĩa là vào khoảng tháng 5 năm 1423.
(3) Cương mục (1.13, t.3a) chú thích : “Núi Chí-linh: ở địa phận mường Giao-lão, nay thuộc đất phủ Trấn-định, Nghệ-an”. Phủ Trấn-định đời Nguyễn là châu Ngọc-ma thuộc phủ Nghệ-an thời thuộc Minh, nay là miền thượng lưu sông Ngàn-phố, Ngàn-sâu về phía tây. Vị trí núi Chí-linh xác định như vậy không phù hợp với phạm vi hoạt động của nghãi quân Lam-sơn lúc bấy giờ giớ hạn ở miền núi rừng Thanh-hóa, chưa lan vào đến miền thương dụ Nghệ-an, Hà-tĩnh.
Đại-nam nhất thống chí (1.6) căn cứ vào Lam-sơn thực lục chép núi Chí-linh ở địa phương mường Giao-lão và xác định “Giao-lão nay thuộc Lang-chánh”.
Mường Giao-lão nay là xã Giao-an huyện Lang-chánh, giáp huyện Thường-xuân, Tỉnh Thanh-hóa. Trên bản đồ hiện nay, vùng này có một đầu núi lớn mang tên là Pù Rinh gồm nhiều ngọn núi ở độ cao trên dưới 1.000m, chiếm một khu vực khá rộng giữa hai huyện Lang-chánh và Thường-xuân. Núi Chí-linh hay Linh-sơn trong Bình Ngô đại cáo chính là núi Pù Rinh (Pù hay Bù tiếng Thái nghĩa là núi, Pù Rinh tức núi Rinh, biến âm của núi Linh hay Linh-sơn) thuộc xã Giao-an. Tuy nhiên, cần nghiên cứu thực địa để xác định cụ thể hơn ngọn núi Pù Rinh nào là núi Chí-linh mà nghĩa quân Lam-sơn sử dụng làm căn cứ chống quân Minh và nhà thơ Nguyễn Mông Tuân đã từng mô tả trong bài phú Núi Chí-linh.
(4) Đỗ Phú người Hào-lương ở gần Lam-sơn, là một tay sai đắc lực của quân Minh. Hắn giữ chức tri huyện, đã dẫn đường đưa quân Minh theo lối tắt đánh lên đánh úp nghĩa quân, lùng bắt gia thuộc của Lê Lợi và của nhiều nghĩa quân, quật mồ mả tổ tiên của Lê Lợi.
(5) Lương Nhữ Hốt người xã Trào-vịnh, huyện Cổ-đằng (sau đổi tên là xã Hội-triều, nay thuộc huyện Hoằng-hóa), là một ngụy quan cao cấp của quân Minh. Hắn trước làm tri phủ Thanh-hóa rồi thăng lên chức tham chính ty bố chính. Chính hắn đã dò la tình hình chuẩn bị khởi nghĩa của Lê Lợi và mật báo cho quân Minh lên đàn áp.
(6) Mã Kỳ là một hoạn quan của nhà minh, khét tiếng tham tàn, bạo ngược. Hắn đã từng giữ chức thái biện sứ chuyên đốc thúc cống phú, vơ vét tài nguyên của cải nước ta. Hắn còn là một võ quan chỉ huy quân Minh ở Thanh-hóa, trực tiếp đàn áp nghĩa quân Lam-sơn.
(7) Tam ty là cơ quan đứng đầu chính quyền đô hộ của nhà Minh ở nước ta, gồm: ty Thừa tuyên bố chính sứ (gọi tắt là ty Bố chính) coi về dân chính và tài chính, ty Đô chỉ huy sứ (gọi tắt là ty Đô) quản lính và chỉ huy quân lính, ty Đề hình án sát sứ (gọi tắt là ty Án Sát) nắm quyền tư phát và kiểm sát).
(8) Tinh vệ là một loài chim ở bờ biển. Tương truyền rằng: con vua Viêm-đế ngày xưa bị chết đuổi ở bờ biển hóa thành chim tinh vệ hay còn gọi là “chim oan” (oan cầm). Chim ấy cứ cắp gỗ đá ở núi Tây về lấp biển. Vì vậy, “chim tinh vệ lấp biển” có ý nghĩa ví với người bị oan ức, quyết tâm trả thù.
(9) Tổng binh là một chức võ quan cao cấp của nhà Minh. Tất cả quân Minh ở nước ta đặt dưới quyền chỉ huy của một tổng binh. Tháng 2 năm Nhâm thìn (1422), tổng binh Lý Bân chết, nhà minh cử tham tướng Trần Trí lên thay làm tổng binh.
(10) Đặng Vũ: Thời Hậu hán, quân nông dân khởi nghĩa Xích-mi vào cửa quan, định đánh phá Trường-an, bọn Vương Khuông chống cự không nổi. Vua Quang-Vũ lấy Đặng Vũ làm tiền tướng quân đi đánh Xích-mi. Đặng Vũ hết sức dụ dỗ, chiêu hàng được một số nghĩa quân.
(11) Hoàng Bá giữ chức thái thú đời Hán được coi là người khoan hòa, nhân chính.
(12) Lê Vận vốn họ Trần là anh vợ của Lê Lợi. Theo Toàn thư (1.10, tờ 10a) thì Lê Lợi phái Lê Vận và Lê Trăn mang thư đi giảng hòa.
(13) Viên môn là cổng ngoài nơi đóng quân.