Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: 122 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu (19/5/1890 - 19/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Năm, 2012, 11:59:17 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 209775 lần)
0 Thành viên và 5 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #270 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2009, 09:24:58 PM »


Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm (tên thật : Nguyễn Kèn, 15.05.1918), từng giữ các chức vụ : Tư lệnh (đầu tiên) Binh chủng Tăng Thiết giáp, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu Trị Thiên, Tư lệnh Liên khu 5, Khu trưởng Khu 6.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì)…

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm quê tại xã Tân Xuân, huyện Hàm Thuận như ông sinh ra tại Phan Thiết, Bình Thuận trong một gia đình có 10 người con mà ông là con trai thứ 6. Thời còn đi học, ông có tên là Nguyễn Kèn.

Mặc dù cha ông chỉ học hết sơ học, mẹ ông mù chữ, nhưng ông ngay từ nhỏ đã học rất khá. Ở quê, học với thầy Lê Ấm ông học rất giỏi môn toán. Sau đó, ông ra Quy Nhơn để học Trường Quốc học Quy Nhơn, cùng học chung với các nhà khoa học, nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam như : Nguyễn Đình Tứ, Lê Văn Thiêm, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên… Tiếp đó ông ra Huế rồi Hà Nội tiếp tục học lên. Khi học ở Hà Nội, ông giác ngộ Cách mạng và tham gia các phong trào thanh niên cứu quốc tại đây.

Từ Hà Nội, ông lại quay trở về Huế theo học Trường Quân sự Thanh niên tiền tuyền. Đây là trường do chính phủ bù nhìn thân Nhật Trần Trọng Kim thành lập, nhưng điều hành lại là những trí thức yêu nước nổi tiếng như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Luật sư Phan Anh – những người sau này đều giữ những chức vụ quan trọng trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam đốc lập.

Học viên của trường đa phần đều là con em quan lại triều Nguyễn hay những gia đình giàu có như ôn Tôn Thất Hoàng là con của Thượng thư Tôn Thất Quảng, ông Đặng Văn Việt con Tổng đốc Nghệ An từng 3 lần giữ chức thượng thư, ông Võ Sum con của Quan Án sát Võ Chuẩn, Lê Thiệu Huy (người sau này sang chiến đấu cùng Mặt trận Lào, làm tham mưu trưởng liên quân Lào - Việt, ông đã lấy thân mình che đạn cho hoàng thân Xu-pha-nu-vông khi mặt trận Thà Khẹt bị vỡ và hi sinh trên dòng Mê-kông) con trai cụ Lê Thước, giải nguyên Hán học; Hoàng Xuân Bình, em ruột giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Thế Lương (tức Cao Pha) con của một nhà thầu khóan lớn.

Sau Cách mạng, nhiều học viên của Trường đã đi theo Cách mạng và trở thành những sĩ quan, tướng lĩnh tài ba của Quân đội Nhân dân Việt Nam như  Trung tướng Cao Văn Khánh (Phó Tổng Tham mưu trưởng); Thiếu tướng Cao Pha (Phó tư lệnh bộ đội đặc công) và các Thiếu tướng Mai Xuân Tần, Võ Quang Hồ, Đoàn Huyên, Phan Hàm, Đào Hữu Liêu... cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác của quân đội. Nhiều người nổi danh về tài đánh giặc như Đặng Văn Việt - trung đoàn trưởng trung đoàn 174 - mệnh danh là “đệ tứ quốc lộ đại vương” bởi những trận đánh do ông chỉ huy trên đường số 4 vùng Cao - Bắc - Lạng thời kháng Pháp. Nhiều người sau này chuyển sang dân sự là những giáo sư, tiến sĩ.

Khung huấn luyện của trường bấy giờ có bốn người do ông Phan Tử Lăng giám đốc. Ông Lăng cũng là chỉ huy trưởng lực lượng bảo an Trung kỳ - cùng các ông Võ Lương, Lê Khánh Khang và Lê Đình Bân. Ông Phan Tử Lăng là thủ khoa khóa sĩ quan chính qui Pháp đầu tiên, cùng khóa với tổng thống ngụy Dương Văn Minh.

Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Ủy viên Ban chấp hành Việt Minh và là Ủy viên Quân sự Thừa Thiên.

Cách mạng thành công và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời không lâu, ngày 23 tháng 8 năm 1945 núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng quay lại xâm lược Nam Bộ. Một tháng sau, ông phụ trách một Chi đội lên tàu Nam tiến chi viện cho quân và dân tại Sài Gòn, tuy nhiên vào đến ga Tháp Chàm (Phan Rang, Ninh Thuận) đơn vị của ông được lệnh quay trở lại vì ngày 23 tháng 10 quân Pháp đã tấn công nơi đây. Từ năm 1946 đến 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ : Chi đội phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 81 Liên khu 5 ; Từ 1948 đến 1950, là Khu phó, Khu trưởng Khu 6, quyền Tư lệnh rồi Tư lệnh Khu 5 ; Năm 1952, ông là Đại đoàn phó rồi Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 11 năm 1954 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu phó Bộ Chỉ huy Pháo binh cho đến năm 1964 là Tư lệnh Binh chủng.

Năm 1968, ông được điều vào làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu Trị Thiên ; Từ năm 1970 đến 1974, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Binh chủng Tăng Thiết Giáp và là Tư lệnh đầu tiên của Binh chủng này.

Đầu năm 1975, ông được điều về Hội đồng Khoa học của Bộ Quốc phòng và giữ chức vụ Ủy viên ; Từ năm 1979 đến năm 1981, ông về công tác và tham gia giảng dạy tại Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng rồi về hưu.

Theo : Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Vietnamnet, Báo tiền phong online.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #271 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 01:58:13 AM »


Thiếu tướng Lê Huy Vinh (bí danh : Dự, 01.11.1928), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Hữu nghị Việt Xô, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (04.1984).


Thiếu tướng Lê Huy Vinh sinh ra tại Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội, quê nội ông tại xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Nơi ông sinh vốn là An toàn khu của thành ủy Hà Nội cho nên ngay từ khi còn là học sinh ông đã có dịp tiếp xúc với nhiều cán bộ Cách mạng. Đầu năm 1940, phong trào Cách mạng phát triển ngày càng mạnh ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh, sinh viên. Cuối năm 1944, ông được giác ngộ và tham gia họat động Cách mạng trong tổ chức ‘’Thanh niên cứu quốc Việt Minh thành Hoàng Diệu’’ với nhiệm vụ bí mật tuyên truyền, tổ chức giác ngộ thành viên, tuyên truyền trong nhân dân bằng các công việc cụ thể như giải truyền đơn, dán áp phích.

Tháng 3 năm 1945, ông tham gia tự vệ xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm (nay là quận Cầu Giấy) thành phố Hà Nội, bảo vệ các hội nghị bí mật của Thành ủy, chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa, giành chính quyền.

Đêm 17-8, nội, ngoại thành rạo rực, sôi sục cả đêm. Đặc biệt, đêm 18 - 8, cả Hà Nội không ngủ. Một làn sóng cách mạng dâng trào mạnh mẽ, sâu rộng chưa từng thấy. Sáng 19-8-1945 – mốc son lịch sử không thể nào quên. Mới 4-5 giờ sáng, quần chúng đã tập hợp đội ngũ chỉnh tề, cờ sao rợp đất từ khắp các ngả đường tiến vào trung tâm Hà Nội.

Theo chỉ lệnh của ủy ban Khởi nghĩa thành phố, các cánh quân nhanh chóng tỏa đi các hướng. Đội của ông vào chiếm Phủ Khâm sai (bây giờ là Nhà khách Chính phủ), ông trực tiếp trèo tường phá cổng cùng đồng đội khám xét, tịch thu vũ khí và tổ chức canh gác rất cẩn thận đợi quân ta vào tiếp quản Hà Nội. Cũng trong ngày khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, ông nhập ngũ, là chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 77 (sau thuộc Trung đoàn 48 Thăng Long).

Ngày 2-9-1945, ông tham gia bảo vệ Lễ Độc lập, bảo vệ Chính phủ cách mạng và cuộc đời quân ngũ của ông bắt đầu từ đó. Đây là lần thứ nhất ông tham gia bảo vệ Hà Nội.

Từ 10 năm 1945, ông là tiểu đội trưởng, trung đội phó Đại đội 3 Tiểu đoàn 136 (sau thuộc Trung đoàn 48 Đại đoàn Đồng Bằng 320), trực tiếp tham gia chiến đấu trong trận 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội (Ban đầu, đơn vị của ông được phân công chốt giữ ở sau Nhà hát Lớn, rồi lại được lệnh kéo xuống phòng ngự ở Ô Chợ Dừa. Đây là lần thứ hai ông tham gia bảo vệ Hà Nội) ; Sau khi rút khỏi Hà Nội, ông cùng đơn vị rút lên Hòa Bình nhằm bảo toàn lực lượng tham gia chiến đấu khắp các tỉnh thuộc khu hữu ngạn sông Hồng.

Năm 1949, ông được cử đi học tại Trường Lục quân Nguyễn Huệ ; 2.150, cán bộ biệt phái tỉnh đội Hà Nam ; 12.1950, trưởng ban Quản trị Tiểu đoàn 123 Trung đoàn 35 ; 4.1951, trung đội trưởng Đại đội 12 Trung đoàn 12, Chính trị viên phó Đại đội rồi đi học bổ túc cán bộ đại đội của Liên khu 3 ; 4.1952, trung đội trưởng Đại đội 56 Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42 (Trung Dũng) chiến đấu ở vùng địch hậu khu Tả Ngạn và dọc theo trục đường số 5 ; 12.1952, đại đội phó Đại đội 56 Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42 ; 12.1953, đại đội trưởng Đại đội 56 Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42 ; 12.1953, đại đội trưởng Đại đội 59 (chủ công của Trung đoàn) Tiểu đoàn 664 ; 7.1954, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 545 khu Tả Ngạn.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông phụ trách tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 137 Sư đoàn 328 vào tiếp quản Kiến An, Đồ Sơn, Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng ; 6.1955, tham mưu phó Trung đoàn 137 Sư đoàn 328 ; 7.1955, chủ nhiệm Pháo binh, Trưởng Ban Tác huấn Phòng Tham mưu Sư đoàn 328 ; 7.1957, tham mưu phó Trung đoàn thuộc Sư đoàn 469 ; 4.1958, đi học lớp chuyển binh chủng pháo trung cao 90mm của Bộ Tư lệnh Phòng không ; 1959, tham mưu trưởng, trung đoàn phó Trung đoàn Pháo Phòng không 280 Bộ Tư lệnh Phòng không ; 7.1962, là học viên Khoa Phòng không khóa 1 Trường trung cao quân sự.

Năm 1964, ông được cử giữ chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo Phòng không 240 Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1965, tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không Hải Phòng trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1970, phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 (Sư đoàn Phòng không Cận vệ Đỏ hay Sư đoàn Phòng không Hà Nội) trực thuộc Quân chủng Phòng không Không quân ; 1971, tham mưu phó Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng Phòng không Không quân trong chiến dịch Trị Thiên (1972) chỉ đạo Trung đoàn 236 đánh B52 từ Long Đại đến Cà Tung ; 10.1972, phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361, tham gia đánh trận ‘’Điện Biên Phủ  trên không’’ bảo vệ bầu trời Hà Nội, đây là lần thứ ba ông tham gia bảo vệ Hà Nội ; 7.1974, ông đựoc cử đi học tại Trường Cao đẳng Ô-đéc-xa của Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 9 năm 1975 ông tham gia viết tài liệu tổng kết tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1976, tiếp tục đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 1.1978, tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không vừa mới tách ra khỏi Quân chủng Phòng không Không quân và là Đảng ủy viên Quân chủng ; 7.1979, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 9.1980, đi học tại trường Đảng Nguyễn Ái Quốc ; 11.1981, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 1985, đi học bổ túc tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Liên Xô Vô-rô-si-lốp ; 1987, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 12.1988, là phó Tư lệnh Quân chủng cho tới khi về hưu tháng 8 năm 1992 ; Sau khi nghỉ hưu, từ năm 1993 ông bắt đầu tham gia hoạt động trong Ban chấp hành Hội cựu chiến binh tại địa phương và là Phó Ban liên lạc bạn chiến đấu Đoàn Phòng không Hà Nội. 




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #272 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 09:39:21 PM »


Thiếu tướng Lương Văn Nho (Hai Nhã; 1916-1984), từng giữ các chức vụ : Tư lệnh kiêm Chính ủy Đặc khu Rừng Sác, Chỉ huy trưởng Quân khu 7, Tham mưu phó Bộ tham mưu Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Tư lệnh Quân khu 7.  Tên của ông đã đặt tên cho một đường phố tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, đường Lương Văn Nho.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì)…

Thiếu tướng (1980)


Ông quê nội ở xã Thái Hòa, thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bình Dương), nhưng ông được sinh ra ở quê ngoại, ấp Xóm Trầu, xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa (nay là Đồng Nai). Chính vì vậy mà các tài liệu viết về ông lúc thì ghi là quê huyện Tân Uyên, lúc thì ghi là Long Thành. Về năm sinh của ông, cũng có tài liệu ghi là năm 1914, trong bài viết lấy theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam là 1916.

Từ một học sinh đậu Thành Chung - Trường Tây, làm kế toán, thư ký kho bạc ở Chợ Lớn và Biên Hòa, ông giác ngộ cách mạng, tham gia giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Bà Rịa.

Trong Kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt trưởng thành từ chiến sĩ đến Huyện đội trưởng Ủy viên Quân sự huyện Long Thành (1947) rồi đại đội trưởng trực thuộc Chi đội 10 ; Trung đoàn phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 397 ; tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 300 tỉnh Bà Chợ (Bà Rịa Chợ Lớn), những đơn vị đã làm nên những trận đánh nổi tiếng trong kháng chiến chống Pháp như Trảng Tảo, Bảo Chánh, Bàu Cá, La Ngà, diệt Chi khu Cần Giờ… ; tỉnh đội trưởng Tỉnh đội dân quân Bà Rịa ; tỉnh đội phó kiêm tham mưu trưởng Tỉnh đội Bà Rịa Chợ Lớn.

Sau khi tập kết ra Bắc, từ năm 1955 đến năm 1960, ông là Chủ nhiệm pháo binh Quân khu Hữu Ngạn rồi Tham mưu trưởng Quân khu 3.

Năm 1961, ông  vào Nam chiến đấu. Tháng 10 năm 1963, đoàn pháo binh chủ lực đầu tiên của miền được thành lập, phiên hiệu U-80 gồm bốn tiểu đoàn pháo cối (Z35, Z37, Z39, Z41) và một tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 ra đời do ông làm đoàn trưởng và ông Đào Sơn Tây (Hoàng Minh Khanh, Thiếu tướng) làm chính ủy. Ngày 31-10-1964, ông trực tiếp tổ chức và chỉ huy các phân đội pháo kích vào sân bay Biên Hòa của quân Mỹ. Kết quả ta diệt và làm bị thương hàng trăm tên Mỹ hầu hết là giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 59 máy bay trong đó có 21 chiếc máy bay B57 Mỹ mới đưa vào miền Nam, làm nổ 2 kho đạn lớn, làm sập 1 đài quan sát và 18 căn trại.

Năm 1965, kho Sư đoàn 5 Chủ lực miền được thành lập ông được cử giữ chức vụ Sư đoàn phó rồi về Bộ Chỉ huy miền phụ trách Tham mưu miền. Ngày 16 tháng 4 năm 1966, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư Lệnh Miền quyết định thành lập đặc khu Rừng Sác ông được cử  làm Tư lệnh kiêm Chính ủy.

Là Tư lệnh Đặc khu Rừng Sác với uy danh Đoàn 10 đặc công lập nên những kỳ tích: Chặn sông Lòng Tàu, đánh tàu địch, tập kích kho xăng Nhà Bè, kiểm soát con đường thủy huyết mạch nối Sài Gòn với Biển Đông…

Sau khi tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, với cương vị Tư lệnh Phân khu 4, tiến công vào Sài Gòn từ hướng đông, ông giữ chức Chỉ huy trưởng Quân khu 7 vừa thành lập lại gồm Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh và Thủ Đức ; từ năm 1971 đến 1972 ông là chỉ huy trưởng C20 (Căn cứ 20) ;  sau đó, năm 1973 ông về Tây Ninh làm Phó tham mưu trưởng Miền, trực tiếp chỉ huy Đoàn 370, Khu C20, Khu C50, góp phần tích cực xây dựng căn cứ địa bắc Tây Ninh; phụ trách Đoàn 315 thi hành Hiệp định Pa-ri tại B2 và cùng Cục Tham mưu Miền làm tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ cho đến ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975.

Chiến tranh kết thúc, Bộ Chỉ huy Miền giải thể, ông về làm Phó tư lệnh Quân khu 7, chỉ đạo, tổ chức ngành lịch sử quân sự B2 và Quân khu 7… một “mặt trận” mới với không ít thử thách, khó khăn. Nhưng với kinh nghiệm của một cán bộ dạn dày trận mạc, với tình cảm thủy chung sâu nặng với quê hương, ý thức tôn trọng lịch sử, đồng cảm, chia sẻ với những hy sinh, mất mát của đồng bào, đồng chí trong chiến tranh, dưới sự chỉ đạo của ông, nhiều công trình, nhiều chuyên đề tổng kết chiến tranh có giá trị thuộc B2, như “Chiến khu Rừng Sác”, “Chiến khu Đ”, “Miền Đông Nam Bộ kháng chiến”… đã được tổ chức sưu tầm tư liệu, sơ thảo, được các thế hệ cán bộ tiếp nối của ngành lịch sử Quân khu 7 hoàn chỉnh, xuất bản.

Theo: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân






Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #273 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2009, 03:20:53 AM »


Đỗ Huy Rừa (1924 – 08/06/1949), từng giữ các chức vụ : Tiểu đoàn trưởng (đầu tiên) của Tiểu đoàn 307, Trung đoàn phó Trung đoàn 99, Chi đội phó Chi đội Trần Phú.

Ông là con thứ 2 của cụ Đỗ Huy Túc (tức cụ Ba Khơ) trong một gia đình có 4 con trai là Đỗ Huy Nưa, Đỗ Huy Rừa, Đỗ Huy Bàng, Đỗ Huy Mai. Ông là hậu duệ của Đình nguyên Đỗ Huy Liêu, Tham tá nội các thời vua Hàm Nghi, sĩ phu chống Pháp ; Phó bảng Đỗ Huy Uyển làm quan đến chức biện lý Bộ hộ ; Cử nhân Đỗ Huy Cảnh làm quan đến chức Tuần phủ Bố chánh sứ.

Còn nhỏ ông rất chăm chỉ, thông minh và có chí khí vì nhà nghèo nên ông theo về bên ngoại. Sau khi tốt nghiệp tiểu học, năm 1940 ông cùng bên ngoại sang làm ăn sinh sống tại nước Lào. Năm 1942, ông đăng vào lớp hạ sĩ quan của Pháp.

Ở Viên Chăn, ông gặp những người cộng sản trong Ban cán sự Đảng ngoài nước, được tuyên truyền giác ngộ và được kết nạp Đảng lúc vừa tròn 20 tuổi, là một tuyên truyền viên về Mặt trận Việt Minh với các đối tượng binh sĩ trong quân đội cũ.


Tháng 8/1945 ông được giao nhiệm vụ thành lập căn cứ bí mật ở xóm Xăng Phin và tổ chức các đội tự vệ "Việt kiều giải phóng quân" tổ chức của quân tình nguyện Việt Nam tại Viên Chăn (Lào). Giải phóng quân đã sát cánh cùng lực lượng vũ trang Lào bảo vệ chính phủ lâm thời. Ông đã chỉ huy chiến đấu từ ngày cuối năm 1945 với một số trận đánh như trận tiêu diệt trung đội tàn quân Pháp ở bến Thà Đừa, trận tiêu diệt trung đội biệt kích ở cánh đồng Noỏng-phắc-tốp phía Tây Bắc Viên Chăn.

Vào năm 1946 Thực dân Pháp đánh chiếm phân khu Mường Sình (căn cứ cách mạng của cách mạng Việt Nam và Lào), ông cùng cán bộ cách mạng Việt Nam vượt sông Mê Công sang Thái Lan, ở đó có cơ sở của cách mạng Việt Nam, mua vũ khí và trang bị tổ chức thành lập đoàn chiến sỹ Hải ngoại tại Chiến khu Um kè thuộc tỉnh Na Khom Pha mom, đặt tên là chi đội Trần Phú, ông là chi đội phó. Sau đó, tháng 11 năm 1946, vượt sông Mê Công qua Cam Phu Chia về Nam Bộ hoạt động. Trở về nước chi đội Hải ngoại Trần Phú đổi thành trung đoàn 109, nhưng ông Đỗ Huy Rừa  lại được điều về làm trung đoàn phó trung đoàn 99 đóng ở Bến Tre.

Do chiến trường phát triển, khu 8 cần có một tiểu đoàn tập trung cơ động, trang bị mạnh đủ sức đánh những trận tiêu diệt, dìu dắt bộ đội địa phương và dân quân du kích, Quân khu 8 quyết định thành lập mọt tiểu đoàn lấy tên là tiểu đoàn 307.

Lễ thành lập tiểu đoàn tại vùng căn cứ kháng chiến Giồng Luông thuộc xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Để tăng cường sự lãnh đạo và chỉ huy tiểu đoàn chủ lực của Quân khu. Quân khu đã cử ông Đỗ Huy Rừa  là trung đoàn phó trung 99 về trực tiếp làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 307.

Trong buổi lễ xuất quân trọng thể dưới sự chủ trì của Quân khu trưởng Quân khu 8 và đông đảo nhân dân huyện Thạnh Phú và các huyện lân cận tham dự. Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa đã thay mặt cán bộ chiến sỹ tiểu đoàn trịnh trọng phát biểu quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "Nguyện một lòng gìn giữ non sông" tiểu đoàn trưởng vừa dứt lời hai tiếng "Quyết tâm" được cả tiểu đoàn đồng thanh hô lên vang dội dục giã đoàn quân chân đất, đầu trần đều nhịp hùng dũng diễu qua lễ đài giữu tiếng hoan hô nhiệt liệt của nhân dân.

Năm 1949 âm mưu của địch mở cuộc càn quét lớn vào Đồng Tháp Mười, chằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến Nam Bộ như: UBKCHC Nam Bộ, Bộ Tư Lệnh Nam Bộ, Bộ Tư Lệnh Quân khu 8, triệt phá cơ sở vật chất hậu cần và tiêu diệt tiểu đoàn chủ lực Quân khu 8, tiểu đoàn 307.

Ngày 01 tháng 06 năm 1949 địch huy động 4.000 quân đa số là Âu Phi cùng 700 lính dù, 300 xe lội nước do tên đại tá: Fanl Connien chỉ huy đánh Đồng Tháp Mười.

Tiểu đoàn 307 do ông Đỗ Huy Rừa chỉ huy được lệnh đánh địch càn quét, đến ngày 8 tháng 06 năm 1949 địch đã bị tiêu hao nặng, chúng tìm cách rút chạy ra đường số 4 (nay là quốc lộ 1). Khi địch rút chạy đến Sài Tư gặp đại đội 931 thuộc tiểu đoàn 307 chặn đánh. Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa lúc cũng có mặt tại đại đội 931. Tình hình chiến sự diễn ra rất ác liệt, anh em đại đội 931 khuyên tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa lui về phía sau, nhưng ông nói: "Tôi quyết cùng các đồng chí tử chiến với địch phen này", câu của tiểu đoàn trưởng làm tăng sức chiến đấu cho bộ đội. Ta và địch đánh nhau giáp lá cà, khẩu đại liên 717 nổ súng đến đỏ nòng mà xe lội nước của địch vẫn cứ liều mạng lao vào bờ rạch tìm đường thoát chạy ra lộ 4. Ta đã diệt gần 1 đại đội địch nhưng bên ta cũng hy sinh 20 đồng chí trong đó có tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa. Vào năm 1984 phần mộ của ông Đỗ Huy Rừa  đã được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang và ông Đỗ Huy Bàng là em ruột đem về an táng tại nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Tiền Giang.

Hiện nay trong nhà bảo tàng lịch sử Quân khu 9, có trình bày chiến công của tiểu đoàn 307, có treo ảnh ông Đỗ Huy Rừa, tên tuổi của ông như gắn liền với chiến công lừng lẫy của tiểu đoàn 307. Trong cuốn lịch sử của tiểu đoàn 307 (1948 - 1954 ảnh ông Đỗ Huy Rừa được in  trang  trọng trên trang nhất của cuốn sử như dẫn dắt tiểu đoàn lập chiến công vang dội.

Tại xã Đại Điền, huyện Thanh Phú, tỉnh Bến Tre ngày nay được nhân dân dựng tượng bia kỷ niệm buổi xuất quân của tiểu đoàn 307 năm ấy và đặt tên trường tiểu học của xã là trường Đỗ Huy Rừa, để tỏ lòng thành kính và biết ơn của nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với tiểu đoàn và người tiểu đoàn trưởng trung với nước, hiếu với dân.

Theo gia phả online họ Đỗ Huy Nam Định




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
p900
Thành viên
*
Bài viết: 33


« Trả lời #274 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2009, 06:21:48 PM »

Bác nào có tiểu sử của thiếu tướng Nguyễn Phi Long cục phó cục tác chiến cho em xin với. Em search hoài không ra.
Logged
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #275 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2009, 07:25:20 PM »

Bác nào có tiểu sử của thiếu tướng Nguyễn Phi Long cục phó cục tác chiến cho em xin với. Em search hoài không ra.

Đây là lần đầu tiên mình nghe đến tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long! Liệu bạn có nhầm sang Thiếu tướng Nguyễn Minh Long không? Vì Thiếu tướng Nguyễn Minh Long cũng từng giữ chức vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu và có thể tìm thông tin về cụ trên mạng nhé.

Nếu bạn quả quyết là đúng tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long, bạn có thể đưa thêm một số thông tin nữa được không? Ví dụ: một chức vụ trước khi về Bộ Tổng Tham mưu chẳng hạn.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
songoku
Thành viên
*
Bài viết: 68



« Trả lời #276 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2009, 07:34:17 PM »

Trích dẫn
Đây là lần đầu tiên mình nghe đến tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long! Liệu bạn có nhầm sang Thiếu tướng Nguyễn Minh Long không? Vì Thiếu tướng Nguyễn Minh Long cũng từng giữ chức vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu và có thể tìm thông tin về cụ trên mạng nhé.

Nếu bạn quả quyết là đúng tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long, bạn có thể đưa thêm một số thông tin nữa được không? Ví dụ: một chức vụ trước khi về Bộ Tổng Tham mưu chẳng hạn.

Cứu đồng đội:  Grin

42. Nguyễn Phi Long

Nguồn: Lịch sử Cục Tác chiến 1945-2005
Logged

Ka mê zô kô!!!
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #277 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2009, 08:17:14 PM »

Trích dẫn
Đây là lần đầu tiên mình nghe đến tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long! Liệu bạn có nhầm sang Thiếu tướng Nguyễn Minh Long không? Vì Thiếu tướng Nguyễn Minh Long cũng từng giữ chức vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu và có thể tìm thông tin về cụ trên mạng nhé.

Nếu bạn quả quyết là đúng tên Thiếu tướng Nguyễn Phi Long, bạn có thể đưa thêm một số thông tin nữa được không? Ví dụ: một chức vụ trước khi về Bộ Tổng Tham mưu chẳng hạn.

Cứu đồng đội:  Grin

42. Nguyễn Phi Long

Nguồn: Lịch sử Cục Tác chiến 1945-2005

Vậy thì bác nào đó số hóa tài liệu này làm ơn kiểm tra giùm cho em với ạ. Em vừa đọc lại danh sách Cán bộ Cục Tác chiến qua các thời kỳ thấy thiếu một người đó là Thiếu tướng Cục phó Lê Phi Long. Nếu không nhầm với Thiếu tướng Lê Minh Long thì em tin chắc là nhầm với Thiếu tướng Lê Phi Long.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
p900
Thành viên
*
Bài viết: 33


« Trả lời #278 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2009, 11:36:51 AM »

Chắc em nhầm với Lê Phi Long. Bác này trước ở 1A Hoàng Văn Thụ giờ nghe nói gia đình chuyển vào HCM.
Logged
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #279 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2009, 12:32:11 AM »


Đại tá Giáo sư Phan Phác (1915-3h40’ 4/7/2009) sinh tại thôn Hà Xá, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1936, ông tham gia vào Mặt trận Dân chủ của cụ Hải Triều. Năm 1939, theo học Đại học Quân sự Xanh-xia nổi tiếng nhất của Pháp và tốt nghiệp trường này vào năm 1943. Trở về Việt Nam, ông được giác ngộ bởi nhà cách mạng Khuất Duy Tiến, hoạt động trong phong trào binh vận.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông nhiều lần được tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những lần gặp gỡ và hội đàm với phái đoàn Pháp. Tháng 3 năm 1946, ông được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định bổ nhiệm giữ chức vụ Cục trưởng Cục Quân huấn đầu tiên, rồi vào ban Binh sĩ Việt Pháp để thi hành hiệp định 14 tháng 9 năm 1946 là sĩ quan liên lạc giữa hai bên.

Tháng 5 năm 1946, ông được giao nhiệm vụ xây dựng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Trường đào tạo cán bộ đầu tiên của nước Việt Nam mới. Công việc chỉ trong 1 tuần. Cụ cùng Thứ trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu nhận nhiệm vụ tổ chức đón Cụ Hồ, Bộ trưởng Phan Anh cùng Chủ tịch Quân ủy hội Võ Nguyên Giáp lên làm lễ khai giảng cho nhà trường vào ngày 26/5/1946. Ông tham gia giảng dạy về pháo binh, chiến thuật đại cương và binh chủng hợp thành.

Thu Đông 1947, ông chỉ huy các học viên Khóa 2 và 3 tham gia bẻ gãy đợt tấn công của Pháp lên Chiến khu. Trước sự chuẩn bị ráo riết của quân Pháp chuẩn bị mở cuộc tiến công có tính chất quyết định lên Việt Bắc, thực hiện chỉ thị của cấp trên, ngày 9-10-1947, Trường được biên chế tạm thời thành một trung đoàn, lấy phiên hiệu trung đoàn 79, tham gia chiến dịch.

Sau khi quân dù nhảy xuống Chợ Đồn, gọng kìm phía đông của địch theo đường số 3 tiến đến Bắc Kạn, lên Chợ Đồn, địch đánh lên bản Thí để gặp gọng kìm phía tây. Bộ đội chủ lực của Bộ và của tỉnh Bắc Kạn đã tích cực chiến đấu, bẻ gãy gọng kìm phía đông của địch. Ngày 18-10-1947, một đại đội do quan ba Cơ-roát chỉ huy, từ Chiêm Hóa, tiến lên bản Thí. Trung đoàn 79 sử dụng một đại đội do Phan Phác (lúc này làm tổng đội trưởng) chỉ huy, phục kích ở một con suối, gần ki-lô-mét số 8 đường Đầm Hồng đi bản Thí. Đại đội có ba trung đội được trang bị một khẩu đại liên với 22 viên đạn; 11 khẩu súng trường, mỗi khẩu 7 viên đạn và một số lựu đạn. Trận đánh diễn ra khoảng 20 phút. Cán bộ, học viên nhà trường đã nêu kỷ lục xạ kích với 72 viên đạn, diệt 38 tên giặc, trong đó có tên quan ba của địch.

Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá. Năm 1949, ông được cử giữ chức vụ quyền Phó Tổng Tham mưu trưởng. Đại tá Phan Phác từng giữ chức vụ : Tham mưu phó Chiến dịch Biên Giới (1950),

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông chuyển ngành sang Bộ Nông nghiệp và Nông thôn là Cục trưởng đầu tiên Cục công cụ và cơ khí nông nghiệp rồi công tác tại Ban Thanh tra của Bộ.

Do những đóng góp của ông, ông đã được phong hàm Giáo sư, được tặng thưởng Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc…

Theo Bạn Trỗi Việt Nam và Báo Quân đội Nhân dân online




« Sửa lần cuối: 14 Tháng Tám, 2009, 01:13:33 AM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM