Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Bảy, 2014, 09:33:53 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 442281 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #50 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:43:27 AM »


Thượng tướng Hoàng Cầm (30/4/1920), nguyên: Tổng Thanh tra Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 (B.inh đoàn Cửu Long), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngoài ra ông còn là Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Hồ Chí Minh sau ngày giải phóng.

Đại tá (1960), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982), Thượng tướng (1987).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba).


Thượng tướng Hoàng Cầm, tên thật là Đỗ Văn Cầm, bí danh Năm Thạch, sinh ra trọng một gia đình cố nông ‘’không một tấc đất cắm dùi’’ tại thôn Vĩnh Thượng, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (trước là tổng Sơn Lăng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông).

Tuổi thơ lưu lạc và con đường đến với cách mạng

Quê hương ông là một vùng quê giàu đẹp khiêm nhường, ở đấy có những cánh đồng cấy được hai vụ chiêm và mùa, có những vạt bãi rộng phẳng, đất tơi xốp và màu mỡ được bồi đắp bởi phù sa của dòng sông Đáy. Tuy nhiên, trước cách mạng tháng Tám 1945, hầu hết người dân quê ông đều phải làm thuê cuốc mướn cho địa chủ, phú nông (là những người chiếm hầu hết ruộng đất trong xã) đầu tắt mặt tối quanh năm mà cũng không đủ ăn.

Ông mồ côi mẹ năm lên ba tuổi, nhà nghèo bố ông phải đi làm thuê gánh mướn kiếm sống. Địa chủ, phú nông trong xã vì muốn cướp mảnh đất nhỏ nhoi cuối cùng mà ông bà ông để lại đã xô đẩy gia đình ông vào hoàn cảnh tan đàn xẻ nghé. Chúng vu cho bố ông có giấu rượu lậu trong nhà rồi cho lính đoan đến bắt bố ông giam ở Hỏa Lò sáu tháng đồng thời nộp phạt 40 đồng, nếu không sẽ bị tù ‘’mọt xương’’. Được ra tù, bố ông phải bán nhà và chị gái ông lấy tiền nộp phạt. Từ đó ra đình ông bị dồn vào cảnh màn trời chiếu đất, không một tấc dùi dung thân. Quẫn chí bố ông thắt cổ tự tử khi ông mới 12 tuổi. Gia đình ông phải kín đáo đưa bố ông ra đồng, vì sợ rằng nếu khai báo thì hào lí trong làng kiếm cớ gây sách nhiễu, phiền hà.

Sau khi bố ông mất, ông bắt đầu cuộc sống tôi đòi, phải đi ở đợ làm ‘’con nuôi’’ cho một gia đình giàu có với bao đắng cay tủi phận trong sáu năm liền. Năm ông 17 tuổi, trước tình cảnh không lối thoát, ông quyết định bỏ làng đi nơi khác kiếm sống. Tháng 8 năm 1940, ông ra Hà Nội dừng lại ở chợ Hôm, phố Huế. Tại đây ông làm đủ nghề : gánh nước, kéo xe bò, vác gỗ, bổ củi thuê, nhưng chỉ là làm tạm bợ chốc lát lại phải cắp nón sang nhà khác xin việc. Hàng ngày bữa đói, bữa no, ban ngày thi đi qua các phố tìm việc ban đêm ngủ vất vưởng nơi góc chợ. Đã có lúc ông gần như sống bằng cách ngửa tay cầu xin lòng thương cảm của khách đường phố.

Tục xưa, hễ ai mà bỏ làng ra đi thì cả làng đều coi thường khinh rẻ, cho nên trước khi bỏ nhà ra đi ông đã nguyền không bao giờ quay lại làng cũ nữa. Đang tính chuyện phá lời nguyền về làng thì được tin chủ thầu Pháp mộ phu đi làm đường, ông liền ghi tên. Ông được chủ thầu Pháp đưa đi mở con đường mà nay là đường số 7 nối liền thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) với Lào. Cùng với những người dân phu làm đường, ông phải làm việc quần quật hết mình rồi còn bị chủ thầu chửi bới, đánh đập. Trước cảnh bạn phu làm đường người thì bị đói, rồi bệnh tật ốm đau rồi ngày nào cũng có người sa chân xuống vực, núi lở, đá rơi…ngay bản thân ông được 4 tháng thì bị sốt rét rừng quật ngã cho nên sau 9 tháng ông bỏ việc làm phu cho người Pháp.

Đổi đời từ mùa Thu cách mạng

Quay trở lại Hà Đông, đang trong lúc bĩ cực được tin Pháp mộ lính, ông ghi tên đăng lính với suy nghĩ như bao thanh niên nghèo Việt Nam hồi đó-âu cũng là một nghề. Ngay sau khi đăng lính một ngày, thực dân Pháp đưa ông lên xe đi Lai Châu. Từ đây tuy không phải lo chạy ăn từng bữa, nhưng trong gần hai năm đi lính cho Pháp, ông nhận thấy sự thấp cổ bé họng cũng như sự nhục nhã của người dân nô lệ. Cùng là lính như nhau nhưng lính Pháp thì lương cao hơn lính bản xứ rất nhiều, có quyền thế hơn và không phải lao công tạp dịch. Sơn La, Lai Châu vốn là chốn rừng thiêng nước độc cách biệt với thế giới bên ngoài là nơi thực dân Pháp giam cầm các chiến sĩ cách mạng. Trong một lần chứng kiến thực dân Pháp cha tấn một người thanh niên, nghèo, cha mẹ mất sớm giống ông, vì tội ‘’làm cộng sản’’ tuy chưa hiểu cặn kẽ những hành động của thực dân Pháp lúc đó là thống trị, đàn áp, xâm lược (theo lời của ông) nhưng cũng làm cho ông chán ngán quyết định từ bỏ cuộc đời làm lính, trốn về xuôi.

Trở về Hà Nội ông vừa phải bươn trải kiếm sống tại chợ Hôm, vừa phải trốn tránh sự truy lùng của thực dân Pháp vì tội trốn lính. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, không khí cách mạng sục sôi ở quê ông cũng như ở Hà Nội, nơi nào cũng có cán bộ Việt Minh diễn thuyết, tuyên truyền vận động đồng bào nhất tề đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật lật đổ chế độ vua quan.

Đầu tháng 8 năm 1945, ông được kết nạp vào tổ Thanh niên cứu quốc do ông Lê Thám phụ trách cùng với các ông như Lê Quân, Quang Liêm, Văn Xì, Hữu Thưởng…đều là những học sinh, sinh viên Hà Nội. Tổ của ông từ chỗ làm nhiệm vụ dán khẩu hiệu, rải truyền đơn, diễn thuyết…dần dần được trang bị trở thành lực lượng tự vệ chiến đầu của thành phố. Lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng, tự vệ chiến đấu của thành phố phát triển hết sức nhanh chóng lên tới 700 người (sau ngày 19/8 tổ chức thành các chi đội). Lúc bấy giờ, lực lượng cách mạng thiếu thốn đủ thứ : lương thực, thuốc men, chăn màn, quần áo và nhất là súng đạn…Đơn vị của ông dưới sự chỉ huy của ông Lê Thám đã tổ chức đóng giả lính bảo an đột nhập vào các kho của quân Nhật (trước đây của quân Pháp) tại các phố Hàng Bông, Hỏa Lò, Thợ Nhuộm…lấy đồ quân nhu tự trang bị cho lực lượng vũ trang Hà Nội còn non trẻ chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

Ngày 17/7, tổng hội viên chức thân Nhật tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát lớn. Tổng bộ Việt Minh Hà Nội quyết định biến cuộc mít tinh này thành cuộc mít tinh nhằm vạch mặt của phát xít Nhật cũng như tay sai, đồng thời kêu gọi đồng bào đứng lên giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của lực lượng Việt Minh. Ông cùng đơn vị của mình được giao cho nhiệm vụ bảo vệ cuộc mít tinh, bảo vệ các cán bộ Việt Minh diễn thuyết, trấn áp những kẻ trà trộn phá hoại cùng những thành phần phản động thân Nhật. Ngày 19/8, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội. Ông cùng đơn vị tự vệ chiến đấu được giao nhiệm vụ bảo vệ cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại nhà hát lớn thành phố (gồm khoảng 20 vạn nhân dân Hà Nội), sau đó sẽ tham gia đánh chiếm các công sở, các trại lính bảo an…của chính quyền bù nhìn. Ngày 2/9 năm 1945, một ngày lịch sử, đơn vị của ông được vinh dự tham gia bảo vệ buổi lễ độc lập tại Quảng trường Ba Đình, bảo vệ chính phủ lâm thời và chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó đơn vị của ông được chuyển lên đóng tại Soi Sử, Thạch Thất tỉnh Sơn Tây cũ. Tại đây, đơn vị ông tiếp nhận thêm quân số và tổ chức lại thành đại đội tự vệ chiến đấu mang tên Lê Thám và ông được cử làm tiểu đội trưởng.

Trưởng thành trong kháng chiến trường kỳ

Những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng non trẻ, tình thế như ‘’ngàn cân treo sợi tóc’’. Phía Bắc thì 10 vạn quân Tưởng tràn vào, phía Nam thì quân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp vũ khí của quân Nhật. Đơn vị của ông được lệnh của cấp trên chuẩn bị Nam tiến, chi viện cho Nam bộ kháng chiến. Đầu tháng 11/1945, ông Phạm Ngọc Mậu (sau này là Thượng tướng) được lệnh của Bộ Tổng tham mưu xuống trực tiếp giao nhiệm vụ cho đơn vị của ông Tây tiến lên Sơn La, Lai Châu thay vì Nam tiến bảo vệ, củng cố Biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Tình hình Sơn La và Lai Châu khi đó hết sức nguy kịch, ở Sơn La cơ sở Đảng và đoàn thể cứu quốc còn yếu cho nên ta phải phái một đại đội và hai trung đội từ Sơn Tây, Phú Thọ lên phối hợp giành chính quyền. Còn Lai Châu thì chính quyền vẫn chủ yếu nằm trong tay Quốc dân đảng và tay sai của Nhật. Đồng thời 2 tiểu đoàn của Pháp chạy sang Vân Nam Trung Quốc sau ngày Nhật đảo chính Pháp nay lại quay lại Lai Châu. Trước tình thế đó, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tham mưu quyết định mở Mặt trận Tây Bắc.

Giữa tháng 12 năm 1945, tàn quân của Alexandri kéo về tăng viện cho quân Pháp tại đây. Trung đội của ông được lệnh tách khỏi đội hình của Đại đội, cấp tốc lên Quỳnh Nhai với nhiệm vụ chặn quân Pháp có thể từ Lai Châu theo sông Đà đánh vào Sơn La từ hướng Đông Bắc. Tuy nhiên do kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu kém, đơn vị ông đã chậm hơn quân Pháp đồng thời bị đánh bật lên núi cao. Sau đó đơn vị ông bí mật xuống núi rồi trở về hữu ngạn sông Đà phân tán bám dân, làm công tác dân vận tuyên truyền, nuôi dưỡng, xây dựng và phát triển lực lượng.

Tháng 3 năm 1946, quân Pháp tổ chức đánh từ Lai Châu xuống Sơn La, do lực lượng yếu Trung đoàn Sơn La không ngăn cản được bước tiến của quân Pháp mặc dù đã đánh nhiều trận gây tổn thất cho quân Pháp. Trung đội của ông bị bao vây và mất liên lạc với cấp trên. Trước tình hình đó, đơn vị tổ chức đơn vị lúc tập trung, lúc phân tán áp dụng phương thức chiến tranh du kích đón đánh các đơn vị lính Pháp cùng các toán tuần tra nhỏ lẻ những tốp cảnh giới và những chòi gác…đồng thời từng bước phát triển lực lượng. Cho đến tháng 5 đơn vị của ông mới tìm được đường về Trung đoàn. Nhân dịp này, ông nhận quyết định từ Trung đôi phó lên Đại đội phó quyền Đại đội trưởng Đại đội 230, Tiểu đoàn 90 trực thuộc Trung đoàn 148 vừa được thành lập theo quyết định của Bộ Tổng tham mưu.

Tháng 4 năm 1947, quân Pháp tăng viện thêm và mở cuộc hành quân lớn lên Tây Bắc, đại bộ phận Trung đoàn 148 phải rút về Tây Nam Phú Thọ. Khi đó, ông được điều về Đại đội 250, Tiểu đoàn 86 đang đóng ở Bột Sộp, biên giới Lào, đơn vị của ông tiếp tục bị mất liên lạc với Trung đoàn và sống trong vòng vây của quân Pháp. Vị trí đóng quân của đơn vị ông khi đó thuộc Chiến khu 2 do ông Hoàng Sâm là tư lệnh, ông Lê Hiến Mai là Chính ủy. Hai ông đã động viên ông ở lại đây, nhiệm vụ Tây Tiến được lùi lại. Đại đội ông được giao nhiệm vụ chặn quân Pháp yểm trợ cho bộ phận tiền phương của Chiến khu 2 chuyển về Xuân Nha, Hòa Bình. Trong thời gian chiến đấu ở Chiến khu 2, đơn vị ông đã phát triển đến cấp tiểu đoàn.

Tháng 10/1947, mặt trận Mộc Châu tạm lắng, ông đưa đại đội của mình trở lại đội hình Trung đoàn Sơn La khi đó đang đóng quân tại Phú Thọ. Sau đó, đơn vị của ông được lệnh trở lại hoạt động ở vùng địch hậu Mộc Châu, khu di tích Mộc Hạ. Đầu năm 1948, ông bị thương lần thứ ba. Vì lí do sức khỏe, ông được điều về làm phái viên quân sự của Trung đoàn 148 làm nhiệm vụ kiểm tra, giúp đỡ các đại đôi địa phương đang hoạt động ở tây nam Phú Thọ giáp với vùng địch chiếm Mộc Châu. Tuy nhiên, ông không làm đúng nhiệm vụ được giao mà tổ chức phối hợp các đại đội hợp đồng chiến đấu với suy nghĩ phải có chiến thắng lớn mới xây dựng được phong trào của địa phương. Sau đợt này ông được nhận nhiệm vụ Tiểu đoàn phó.

Cuối năm 1949 đấu 1950, tiểu đoàn 130 của ông khi đó trực thuộc liên khu 10 được điều về đứng chân trong đội hình Trung đoàn Sông Lô (E209). Từ Phú Thọ, đơn vị của ông được lệnh hành quân tham gia chiến dịch Biên Giới (chiến dịch Lê Hồng Phong 2). Trong chiến dịch này Trung đoàn 209 và 174 (chủ lực của Liên khu Việt Bắc) được giao nhiệm vụ diệt cứ điểm Đông Khê. Tiểu đoàn 130 do ông làm Tiểu đoàn trưởng được lệnh đánh chiếm Phủ Thiên-khu hành chính của huyện lị Đông Khê. Vì là chiến dịch quan trọng mang tính chiến lược, chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đi chiến dịch. Ông được vinh dự cử đi báo cáo tình hình với Bác. Đây là lần thứ hai ông được gặp Bác, lần đầu tiên khi đó ông còn là một chiến sĩ tự vệ chiến đấu đứng dưới bảo vệ lễ đài nơi Bác đọc tuyên ngôn độc lập.Mở màn chiến dịch, mặc dù Trung đoàn 174 hoàn thành không tốt nhiệm vụ để cho quân Pháp phản kích uy hiếp đơn vị ông từ hướng Bắc và đây là lần đầu tiên đơn vị ông đánh một cứ điểm kiên cố, tuy nhiên đơn vị ông vẫn làm chủ được căn cứ Phủ Thiên uy hiếp Đông Khê từ phía Tây Nam. 17h ngày 17/9, đơn vị ông nổ súng tiêu diệt cứ điểm kiên cố còn lại của cụm cứ điểm Đông Khê. Trong trận này, Đại đội trưởng Trần Cừ (đại đội 866) chủ công của tiểu đoàn ông đã dũng cảm lấy thân mình lấp lỗ châu mai, góp phần cho tiểu đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được trên giao và kì vọng của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hạ tuần tháng 12 năm 1953, Trung đoàn Sông Lô do ông là Trung đoàn trưởng trong đội hình Sư đoàn 312 được lệnh từ Yên Bái tham gia chiến dịch Tây Bắc, chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Đợt một chiến dịch, ngày 13 tháng 3 Trung đoàn của ông cùng với Trung đoàn 142 sau hơn 6 tiếng tiến công liên tục đã san bằng cụm cứ điểm Him Lam là trung tâm phòng thủ kiên cố bậc nhất của Pháp ở Điện Biên Phủ. Trận đánh thắng lợi khiến cho Đại tá Pi-rốt chỉ huy pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ phải dùng lựu đạn tự tử. Đợt 2 chiến dịch, đơn vị ông hoành thành nhiệm vụ tiêu diệt các cụm đồi D1, D2, D3 không cho quân Pháp chiếm lại.

Cuối tháng 4, đơn vị của ông được lệnh đánh chiếm khu bàn đạp mở đầu cho đợt tiến công thứ ba của chiến dịch. Rạng sáng ngày 7/5, mặc dù đêm hôm trước đơn vị ông tiến đánh điểm cao 507 không thành công, ông gọi điện xin Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312-Lê Trọng Tấn xin đánh tiếp. Vì vấn đề này rất quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của toàn chiến dịch cho nên ông Lê Trọng Tấn bảo ông gọi điện trực tiếp hỏi Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, thì được lệnh là chờ giờ tổng công kích. Nhận thấy là thời cơ của hướng ông đã đến, ông tiếp tục gọi lên Sở chỉ huy Đại đoàn xin được nổ súng đánh. Cuối cùng trước quyết tâm của ông, cấp trên cũng đồng ý cho đơn vị ông nổ súng. Điểm cao 507 bị hạ, đơn vị ông tiếp tục tiến đánh các điểm cao 508, 509 và Đại đội của ông Tạ Quốc Luật nhanh chóng vượt cầu phao chặn địch không cho rút qua và tiếp viện từ Mường Thanh đánh ra. Và 17h ngày 7/5 đơn vị ông do Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật đứng đầu đã tiến vào hầm Đờ Cát bắt sống tướng Pháp.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 06:57:27 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #51 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:45:12 AM »

Tháng 9 năm 1954, Đại đoàn của ông được lệnh hành quân từ Phú Thọ về tiếp quản khu vực Bắc Ninh-Bắc Giang. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bắt tay vào kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Cuối năm 1954, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn thay cho các ông Lê Trọng Tấn và Trần Độ đi nhận nhiệm vụ khác. Đầu năm 1955, Đại đoàn 312 được củng cố và tổ chức lại thành Sư đoàn 312 ông được cử làm Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn. Trên cương vị Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy sư đoàn, ông đã chỉ huy sư đoàn tham gia vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và phát triển miền Bắc. Các chiến sĩ thuộc sư đoàn đã tham gia khôi phục tuyến đường sắt Hà Nội-Đồng Đăng, công trình thủy nông Bắc Hưng Hải. Hàng nghìn chiến sĩ thuộc sư đoàn ông đã chuyển ngành tham gia xây dựng các khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, sứ Hải Dương, khu công nghiệp Việt Trì, mỏ A-pa-tít Lào Cai cho đến các nông trường Mộc Châu, Sơn La, Điện Biên Phủ…rồi sân bay Nội Bài.

Từ năm 1960 đến 1961, ông được cử đi học một lớp quân sự cao cấp ở nước ngoài. Năm 1963, ông được cấp trên đưa vào danh sách vào Nam chiến đấu nhưng vì đau dạ dày cho nên ông phải ở lại miền Bắc. Từ đó ông kiên trì chuẩn bị về mọi mặt : nghe đài đọc báo về tình hình miền Nam để phân tích tình hình, đúc kết kinh nghiệm cho bản thân, đồng thời rèn luyện thể lực chuẩn bị vào Nam. Cùng năm này sư đoàn ông tổ chức đưa một tiểu đoàn mạnh vào chiến đấu tại chiến trường Trị Thiên bờ Nam sông Bến Hải, tiếp đó đầu năm 1964, một tiểu đoàn khác của sư đoàn vào chiến đấu ở chiến trường khu 5.

Trên chiến trường Nam Bộ

Tháng 1 năm 1965, theo lệnh của Thường trực Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh mà trực tiếp là từ Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh (khi đó là Thứ tưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thống nhất Trung ương) và do đích thân Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ trong Nam yêu cầu, ông lên đường vào Nam chiến đấu cùng với ông Trần Độ (sau này là Trung tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội). Từ sân bay Gia Lâm, đoàn của ông đi máy bay qua Quảng Châu, Trung Quốc.Sau đó, trên chiếc tàu buôn Trung Quốc mà hành trình đi qua Hoàng Sa và Trường Sa đoàn của ông sang Cam-pu-chia. Rồi từ Cam-pu-chia đoàn của ông mới tiến vào Đông Nam Bộ, nơi đóng quân của Trung ương cục miền Nam.

Nhiệm vụ đầu tiên của ông trên chiến trường Đông Nam Bộ là Tư lệnh phó Bộ chỉ huy Chiến dịch Phước Long-Đồng Xoài do tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và ông Trần Độ làm Chính ủy (toàn bộ Chỉ huy của Đại đoàn 312). Đây là thời điểm chuyển giao giữa hai chiến lược chiến tranh Đặc biệt và Cục bộ của Đế quốc Mỹ.

Ngày 2/9/1965, Sư đoàn 9, Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Đông Nam Bộ, được thành lập ông được cử làm Sư đoàn trưởng (đầu tiên) và ông Lê Văn Tưởng là Chính ủy. Đây là Sư đoàn đối trọng với các Sư đoàn chủ lực, thiện chiến của Mỹ tại vùng đất miền Đông : sư đoàn số 1 ‘’Anh cả đỏ’’, sư đoàn 25 ‘’Tia chớp nhiệt đới’’ được ra đời nhằm tạo ra quả đấm mạnh đáp ứng nhu cầu đánh lớn, đánh tập trung, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Ngay sau khi thành lập, Sư đoàn 9 dưới sự chỉ huy của ông tham gia vào chiến dịch Bàu Bàng-Dầu Tiếng (tháng 12 năm 1965). Đây là chiến dịch được tổ chức quy mô lớn đầu tiên ở Đông Nam Bộ, cấp sư đoàn. Đánh dấu bước chuyển mình của phương thức chiến tranh từ đánh nhỏ, đánh du kích tiêu hao sinh lực địch thành đánh lớn, đánh mạnh, đánh quị các đơn vị lính Việt Nam Cộng hòa và sẵn sàng đương đầu với quân Mỹ đang ào ạt đổ vào miền Nam trong thời kì đầu của chiến tranh cục bộ. Mặt khác Dầu Tiếng lại là một vị trí quan trọng cho nên khả năng quân Mỹ đem quân cứu viện khi nơi đây bị đánh là rất lớn. Do đó, bộ chỉ huy Sư đoàn 9 phải chuẩn bị cả hai phương án ‘’đánh Ngụy, đánh Mỹ’’.

Ngay trong trận đầu của chiến dịch, tại Bàu Bàng, Sư đoàn của ông đã loại ra khỏi vòng chiến 2 tiểu đoàn, 2 chi đoàn thiết xa vận của Mỹ ra khỏi vòng chiến. Phá hủy 39 xe các loại (chủ yếu là tăng và thiết giáp) và tám khẩu pháo. Như vậy, ngay từ ‘’keo đầu’’ sư đoàn của ông đã đánh bại những đơn vị thiện chiến của Mỹ trên đất Đông Nam Bộ. Trong trận này do phán đoán chính xác ý đồ của Mỹ là tập trung quân vào Dầu Tiếng nhằm tiêu diệt chủ lực của ta, ông đã đề nghị với Bộ tư lệnh sư đoàn tập trung lực lượng đánh tốt trận phủ đầu tại Bàu Bàng. Chiến thắng này đã làm đảo lộn các kế hoạch của Mỹ và tạo tiền đề cho các chiến thắng sau của chiến dịch.

Trong khi trận Bàu Bàng vẫn còn đang tiếp diễn thì sư đoàn của ông đã cho trung đoàn 1 từ Đất Cuốc hành quân về gấp lót ổ ở làng 14; đưa trung đoàn 2 về phục sẵn ở Căm Se vì địch có thể lợi dụng con đường này hành quân bằng cơ giới vào Dầu Tiếng; trung đoàn 3 về đứng chân ở khu vực làng 10 làm lực lượng dự bị. Sư đoàn 312 đã đón lõng tất cả các con đường dẫn về Dầu Tiếng. Ngày 21 tháng 11, một đoàn xe hơn 300 lính Mỹ hành quân trên đường Căm Se - Dầu Tiếng đã bị trung đoàn 2 phục sẵn tiến công, chia cắt chúng thành từng khúc, phá huỷ hơn 20 xe, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên Mỹ. Trên đà chủ động, các đơn vị trong sư đoàn đã liên tiếp đập tan các cuộc tiến quân của các đơn vị của quân đội Sài Gòn và Mỹ vào Dầu Tiếng nhằm đè bẹp chủ lực của ta hoành thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra của chiến dịch.

Ngay sau khi chiến dịch kết thúc, ông thay mặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn xin với Bộ Tư lệnh miền xin được thay đổi địa bàn hoạt động của Sư đoàn sang bên Đông đường 13. Bộ Tư lệnh miền đồng ý và giao cho Sư đoàn của ông trước hết tập chuyển về khu vực suối Nhung, củng cố lực lượng sẵn sàng đánh địch trên khu vực đường 13, 16 nếu chúng đánh nống ra khu vực này. Trên cơ sở quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 11, 12, Nghị quyết Bộ Chính trị, Nghị quyết Quân uỷ Trung ương và kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu, được Trung ương Cục, Quân uỷ Miền phê chuẩn, Bộ chỉ huy Miền thông qua kế hoạch hoạt động quân sự đợt II cho toàn chiến trường B2, trọng tâm là chiến trường Đông Nam Bộ, nhằm phát huy thế chủ động, tiếp tục tấn công các cuộc phản công của quân Mỹ trong âm mưu "bẻ gãy xương sống Việt cộng" của tướng Oét-mo-len trong mùa khô này. Sư đoàn của ông đảm nhiệm các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Bình Dương, Chiến khu Đ ; cùng đó Sư đoàn 5 đảm nhiệm các tỉnh Long Khánh, Biên Hòa, Bà Rịa. Dồn chủ lực về hướng này vì ở đây có khả năng đánh lớn khi quân Mỹ mở các cuộc hành quân "tìm diệt" chủ lực ta, đánh phá các căn cứ trong đó có các mục tiêu chủ yếu là Chiến khu Đ, và mở rộng vùng kiểm soát trên hai trục đường 13 và 15, uy hiếp hành lang Phước Long - nơi đoạn cuối của đường mòn Hồ Chí Minh đã được nối thông, đang phát huy tác dụng; ở đó chúng ta đã tiếp nhận hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, hàng nghìn tấn vũ khí đạn dược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Đông Nam Bộ. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tư lệnh miền, Sư đoàn 9 liên tục đập tan các cuộc hành quân của Mỹ nhằm ‘’tìm diệt’’ chủ lực miền Đông Nam Bộ.

Giữa tháng 2 năm 1966, quân Mỹ mở cuộc hành quân ‘’đá lăn’’ gốm 13 tiểu đoàn nhằm mở rộng kiểm soát đường 7, chia cắt chiến khu Đ, "bình định" khu vực Bông Trang - Nhà Đỏ, Bình Mỹ, giải toả áp lực của ta ở bắc Sài Gòn. Trong chiến dịch này, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 đã sử dụng lối đánh điều địch ra ngoài tổ chức phục kích đánh làm thất bại chiến thuật trú quân ‘’vành đai thép’’ bằng trận then chốt vào Nhà Đỏ-Bông Trang. Ngày 7-8-1966, Oét-mo-len tư lệnh quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam lại huy động lừ đoàn 2 thuộc sư đoàn 1 bộ binh, tiểu đoàn Úc ném vào cuộc hành quân "Thành phố bạc" tiếp tục âm mưu đánh phá chiến khu Đ. Sư đoàn 9 cơ động đánh địch vòng ngoài như được phân công. Nhằm tiêu diệt được nhiều địch, đồng thơi gây rung động đến cuộc hành quân, Bộ chỉ huy Sư đoàn quyết định tập kích quân địch ở sở cao su Phú Lương, ở dốc Bà Thức trên đường 16, và ở khu vực Bầu Sắn nơi địch cụm lại ngày 16 tháng 3. Các trận tập kích vào những vị trí trọng điểm ở vòng ngoài, đã đánh thiệt hại một tiểu đoàn Mỹ, một tiểu đoàn quân Úc, bắn rơi năm máy bay lên thắng; đồng thời hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương đánh địch từ vòng trong đánh ra, đạt hiệu quả như tại căn cứ quân y, các lực lượng bảo vệ khu loại khỏi vòng chiến đấu 60 tên Mỹ.

Mở đầu cho đợt hoạt động mùa mưa 1966, sư đoàn của ông nhận nhiệm vụ tiêu diệt chi khu Phước Vĩnh, đây là một căn cứ dã ngoại được xây dựng kiên cố nhằm uy hiếp chiến khu Đ và bảo vệ sườn đông đường 13 của Mỹ ngụy. Tuy nhiên địch phát hiện ra lực lượng của Sư đoàn 9 đứng chân ở khu vực Lộc Ninh cho nên đã đưa một lữ đoàn thuộc Sư anh cả đỏ với công sự làm sẵn để lập tuyến phòng thủ Lộc Ninh, đồng thời huy động máy bay bắn phá những khu vực nghi có lực lượng của sư đoàn trú quân. Trức tình hình này, Bộ chỉ huy Sư đoàn quyết định thay đổi phương án tác chiến, chuyển sang đánh giao thông trên trục đường số 13. Trái với các chiến dịch Bàu Bàng-Dầu Tiếng, Nhà Đỏ-Bông Trang sử dụng lực lượng tập trung sư đoàn nhằm tạo ưu thế về lực lượng dứt điểm nhanh, trong đợt hoạt động này Sư đoàn sử dụng lực lượng cấp Trung đoàn xác định đánh định trên nhiều hướng, nhiều mục tiêu…Nhằm kéo quân Mỹ phải lên cứu viện cho Lộc Ninh qua các vị trí mà ta đã bố trí lực lượng trước. Trong chiến dịch này, Bộ chỉ huy sư đoàn liên tục chuyển từ tư thế chủ động (đánhh Phước Vĩnh, Lộc Ninh) sang bị động (bị Mỹ phát hiện ra lực lượng, hướng tiến công) rồi lại chủ động (chủ động chọn cách đánh giao thông nhằm ‘’điều địch ra khỏi công sự và lên chi viện’’ để đánh địch), đánh vào chỗ mạnh của quân Mỹ trái với nguyên lí thông thường là đánh vào chỗ yếu.

Kết thúc đợt hoạt động mùa mưa 1966, sư đoàn ông được lệnh chuyển đội hình sang phía Tây Sài Gòn, nhằm củng cố lực lượng chuẩn bị cho đợt hoạt động mùa khô lần thứ hai. Thời gian này quân Mỹ và chư hầu đang chuẩn bị cho cuộc phản công mùa khô lần hai đánh vào đầu não của Quân giải phóng miền Nam, tìm diệt Sư đoàn 9. Chính thời điểm này, ông được Trung ương cục, Quân ủy miền giao giữ chức Phó Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, thể theo nguyện vọng của ông, Trung ương cục quyết định cho ông hoãn chức vụ Phó tham mưu để về Sư đoàn tham gia bảo vệ Trung ương cục trước âm mưu phản công mùa khô lần 2 của Mỹ, tập trung chủ yếu vào chiến khu Dương Minh Châu. Dưới sự chỉ huy của ông, Sư đoàn 9 góp phần vào việc đánh bại các cuộc hành quân mùa khô lần 2 của Mỹ : Át-tăng-bo-rơ đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, Xê-va-tô-phôn đánh vào Chiến khu C kéo dài từ ngày 8/1 đến 26/1 nhằm đánh vào đầu não của Sài Gòn-Gia Định, đẩy chủ lực của ta ra xa rồi chuẩn bị bàn đạp đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu ; tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến 600 lính Mỹ tại trận Bàu Gòn…

Rút kinh nghiệm của thất bại cuộc phản công mùa khô lần 1, Mỹ không tổ chức phản công trên một diện rộng cũng như tiến công trên nhiều hướng nữa mà tập trung chủ yếu vào chiến khu Dương Minh Châu trong đợt phản công mùa khô lần 2. Cuộc hành quân mang tên Gian-xơ Xi-ty, để phục vụ cho cuộc hành quân này, Mỹ đã huy động tới 45000 quân chưa kể các đơn vị quân đội Sài Gòn. Trong chiến dịch này Sư đoàn 9 đóng vai trò chủ lực trong việc bẻ gãy cuộc hành quân của Mỹ.

Tháng 7 năm 1969, ông được Quân ủy và Bộ chỉ huy miền cử ra Hà Nội báo cáo hoạt động quân sự của B2 (Đông Nam Bộ) trong hai năm 1967/1968, đồng thời ông nhận quyết định ở lại làm phái viên của Quân ủy Trung ương và được Quân ủy giao cho cùng tổ công tác của Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu xây dựng kế hoạch tiến công làm thất bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 cuả Mỹ vào đường 9 Nam Lào ; tham gia xây dựng nội dung tập huấn cán bộ phục vụ yêu cầu chiến đấu mới ; cùng Phó Tổng tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ lên Xuân Mai, Sơn Tây tổ chức diễn tập thực binh sư đoàn chiến đấu tiến công hiệp đồng binh chủng tiêu diệt cụm quân Mỹ, chiến đoàn ngụy. Đầu năm 1971, trước yêu cầu của tình hình mới và đặc biệt cho các đợt hoạt động của bộ đội ta trong năm 1972, ông nhận chỉ thị trực tiếp từ Tổng bí thư Lê Duẩn và Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp vượt Trường Sơn vào lại chiến trường B2.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 06:59:00 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #52 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:45:47 AM »

Bước vào đợt hoạt động 1972, ông được cử làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam tham gia Quân ủy miền thay ông Lê Đức Anh về nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 9. Cùng với Quân ủy và Bộ chỉ huy miền, ông tham gia vào việc hoạch định kế hoạch làm thất bại các cuộc hành quân ‘’Chen-la 2’’ của ngụy Lon-non, ‘’Đại bàng 24’’ của ngụy Sài Gòn, đẩy lùi cuộc hành quân quy mô lớn của địch mang tên ‘’Toàn thắng 72B’’ tại biên giới giáp Tây Ninh. Đặc biệt là trong chiến dịch Nguyễn Huệ, ông được giao Bộ tư lệnh miền giao cho cùng với Bộ chỉ huy chiến dịch tham gia chuẩn bị phương án tác chiến khu vực Lộc Ninh.

Cuối tháng 10 năm 1973, ông được điều lên mặt trận Bù Bông Kiến Đức. Yếu khu Bù Bông giáp biên giới Cam-pu-chia là vùng nằm ngoài hiệp định Paris, ngoài việc dùng bộ binh tiến công đột kích vào hành lang vận tải của quân giải phóng, nguỵ còn cho pháo sang tận O-răng thuộc đất Cam-pu-chia bắn pháo khống chế suốt ngày tuyến đường vận tải ảnh hưởng đến kế hoạch mở rộng và khai thông hành lang này của ta. Chính vị vậy ông được điều lên chỉ đạo nhằm dùng lực lượng thích hợp tiến công địch, mở rộng vùng giải phóng ở trên đó, tạo hành lang an toàn cho việc vận chuyển hậu cần từ Bắc và Nam.

Ngày 20/7 năm 1974, quân đoàn 4 được thành lập trên cơ sở các đơn vị của miền Đông Nam Bộ được thành lập (ví dụ : sư đoàn 7, sư đoàn 9, sư đoàn 5…) tiếp theo sự ra đời của các quân đoàn khác là sự chuẩn bị cho giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Ông được cử làm Quân đoàn trưởng (đầu tiên) và ông Hoàng Thế Thiện (sau này là Thiếu tướng, Thứ trưởng Bộ quốc phòng) làm Chính ủy. Trong đợt hoạt động mùa khô 1974-1975, quân đoàn 4 của ông đã hoành thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt Bù Đăng, đập tan Đồng Xoài và đặc biệt là giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long (6/1/1975) là một tỉnh nằm gần Sài Gòn. Chiến thắng Phước Long được coi là một trận trinh sát chiến lược nhằm kiểm tra khả năng quay trở lại của quân Mỹ và lực lượng của ngụy quyền Sài Gòn đồng thời là cơ sơ để Trung ương hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976.


Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, sau khi mất Tây Nguyên, Huế và Đà Nẵng thất thủ, các tuyến phòng thủ Phan Rang và Phan Thiết liên tiếp bị đập tan, được sự chỉ đạo của tướng Mỹ Uây-en, quân ngụy cho lập tuyến phòng thủ tầm gần ‘’cánh cửa thép’’ Xuân Lộc. Quân đoàn 4 của ông đảm trách việc chọc thủng phòng tuyến Xuân Lộc, mở đường cho các cách quân phía Bắc tiến vào Sài Gòn. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân đoàn của ông nhận nhiệm vụ đánh chiếm Trảng Bom, Biên Hòa rồi tiến vào Sài Gòn theo trục đường số 1. Trước tình hình là các đơn vị của quân đoàn 4 còn cách vùng ven từ 15 đến 20 cây số trong khi địch tập trung quân trên đường tiến quân, địa hình lại không thuận lợi, ông đề nghị với Trung tướng Lê Trọng Tấn, chỉ huy cánh quân duyên hải, cho quân đoàn của ông nổ súng trước ngày 27/4. Được chấp nhận, quân đoàn ông cùng với quân đoàn 2 nổ súng tiến vào Sài Gòn vào ngày 26/4 sớm hơn một ngày so với dự định.

Sài Gòn giải phóng, ông được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban quân quản. Chiến tranh Biên giới Tây Nam nổ ra ông chỉ huy Quân đoàn 4 tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam rồi tiến vào giải phóng thủ đô Cam-pu-chia. Trước khi về hưu, ông giữ chức vụ Tổng thanh tra quân đội từ năm 1987 đến năm 1992.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 06:59:38 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #53 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:47:12 AM »


Thiếu tướng Phan Khắc Hy (01/01/1927), nguyên: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 8 (1987-1992).

Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng nhất, nhì, ba), Huân chương Quân kỳ Quyết thắng.

Thiếu tướng (1980).


Thiếu tướng Phan Khắc Hy (bí danh Thành Công), sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Cha ông là một nhà Nho nghèo ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông từng đi thi tam trường, nhưng vì Nho học thất thế, ông chuyển sang học quốc ngữ rồi vào Quảng Bình vừa học vừa làm thầy thuốc Đông y và gặp mẹ ông. Ông đựoc sinh ra tại quê ngoại. Mẹ ông mua bán tràu cau ở chợ, một tay bà nuôi sáu anh em ông ăn học, tham gia cách mạng. Sau khi mẹ ông mất, cha ông vào Quảng Ngãi vừa dạy học vừa làm thuốc. Sau cách mạng tháng Tám, cha ông còn làm Chủ nhiệm Việt Minh xã.

Lúc còn nhỏ Phan Khắc Hy học ở trường làng Bố Trạch, lấy bằng yếu lược. Sợ ở trên thị trấn lêu lổng chơi bời, cha ông đưa anh em ông về quê nội Đức Thọ, Hà Tinh là vùng đất hiếu học. Học hết tiểu học, ông ra Vinh học Trung học. Ngoài chương trình ở nhà trường ông cùng các bạn lập thư viện đủ loại sách văn học, triết học, chính trị...Ông đọc rất nhiều về Khổng Tử, Lao Tử, Các Mác, chép sổ tay thơ Tố Hưu, xuâ Diệu, cùng nhiều nhà thơ khác. Năm 1943, ông với người bạn thân là Quách xuân Kỳ trốn học, dự định xuất dương làm cách mạng nhưng không thành.

Ông tham gia cách mạng từ tháng 4 năm 1945 khi vừa mới 18 tuổi, là cán bộ Việt Minh bí mật, tham gia Uỷ ban Khởi nghĩa huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tháng 8 năm 1945, ông là Uỷ viên Việt Minh, tham gia Ban Chấp hành thanh niên Cứu quốc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tháng 1 năm 1946, ông là Uỷ viên, Trưởng ban phụ trách trại kinh tế vừa tăng gia sản xuất vừa xây dựng căn cứ Ba Lùm, Ba Lòi, tham gia huấn luyện viên dân quân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cùng với các ông Quách Xuân Quỳ (liệt sĩ), Mai Trọng Nghiêm.

Tháng 3 năm 1947, ông là Trưởng ban liên lạc chuẩn bị kháng chiến. Vốn nhiệt tình, hăng hái và dũng cảm, tháng 6 năm 1947, từ một cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật ông được điều về làm Chính trị viên, Huyện đội trưởng, Bí thư huyện uỷ huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Cuối năm 1948, phong trào thị xa Đồng Hới gặp khó khăn, Tỉnh ủy Quảng Bình điều ông Quách xuân Kỳ vào làm Bí thư Thị ủy, ông lên thay làm bí thư huyện ủy Bố Trạch. Tháng 6 năm 1949, ông được điều lên Tỉnh ủy Quảng Bình.

Tháng 12 năm 1949, ông là Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Bình thay ông Đồng Si Nguyên. Từ năm 1950 đến tháng 3 năm 1952, ông là Tỉnh đội trưởng tỉnh đội Quảng Bình, Phó Bí thư tỉnh uỷ Quảng Bình. Cuối năm 1950, ông được điều vào mặt trận Bình Trị Thiên làm phái viên mặt trận. Từ tháng 4 năm 1952 đến năm 1954, ông là Chính uỷ Trung đoàn 18 Đại đoàn 325 hoạt động trên Mặt trận Bình Trị Thiên rồi Mặt trận Đường 9 và Trung Lào, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ trong chiến cuộc Đông xuân 53-54.

Do đề nghị của tướng Trần Quý Hai, sau hiệp định Giơ-ne-vơ, thực hiện nghị quyết của Trung ương thứ 12 khóa II, ta phải xây dựng quân đội chính quy, từng bước hiện đại hóa, trong đó có xây dựng 2 quân chủng mới là Không quân và Hải quân. Ban Nghiên cứu sân bay tiền thân của Cục Không quân được thành lập. Từ tháng 3 năm 1955 đến tháng 12 năm 1958, ông là Chủ nhiệm chính trị, Phó Bí thư Đảng uỷ Ban Nghiên cứu sân bay (tiền thân Quân chủng Không quân), sau là Cục Không quân, sau học bổ túc tại Trường Trung cao Quân sự. Ban do tướng Trần Quý Hai là trưởng ban và tướng Hoàng Thế Thiện là Chính ủy đầu tiên. Ban nghiên cứu sân bay là tiền thân của Không quân Nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 3 năm 1955 theo quyết định số 15/QĐA của Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Từ tháng 10 năm 1963 đến năm 1965, Quân ủy Trung ương quyết định hợp nhất Phòng không Không quân, ông là Phó Chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân do ông Phùng Thế Tài là Tư lệnh, ông Đặng Tính Chính ủy và ông Lê Văn Tri là Phó Tư lệnh, sau đó ông được cử đi học lớp lý luận tại Liên Xô.

Từ năm 1965 đến tháng 2 năm 1967, không quân phát triển, Bộ Tư lệnh Không quân đựoc thành lập, ông là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Không quân, Đảng uỷ viên Quân chủng Phòng không - Không quân. KHi đó ông Nguyên Văn Tiên là Tư lệnh, ông Hoàng Ngọc Diêu và Đào Đình Luyện phó Tư lệnh, ông Đô Long phó Chính ủy. Ông đặc trách công tác chính trị và tổ chức của Không quân, tuyển chọn người đi học lái, xây dựng đội ngu cán bộ. Từ tháng 3 năm 1967 đến tháng 5 năm 1968, ông là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Không quân, Đảng uỷ viên Quân chủng Phòng không - Không quân. Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 9 năm 1968, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân.

Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị, Phó chính uỷ Bộ Tư lệnh 500 là Bộ Tư lệnh tiền phương Tổng cục Hậu cần (sau này Bộ Tư lệnh 500 sát nhập với Bộ Tư lệnh đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn). Bộ Tư lệnh 500 phụ trách 5 đoạn vượt khẩu ở các đường số 8, 10,12, 18, 20 gồm trên 800km đường chính và gần 400km đường vòng tránh. Lực lượng cầu đường thuộc Bộ Tư lệnh có 12 tiểu đoàn và 6 đại đội công binh, 12 đội thanh niên xung phong, một số đội cầu đường của Bộ Giao thông vận tải và được tăng cường 3 trung đoàn (7, 219, 83) và Đội phá bom 93 thuộc Bộ Tư lệnh Công binh. Lực lượng công binh thuộc Bộ Tư lệnh 500 lên tới trên 9.200 người, thanh niên xung phong có gần 7.500 người, trong đó có 70% là nữ.Trong thời gian này lực lượng công binh thuộc Đoàn 559 có 13.000 người, chiếm 31% quân số toàn tuyến, gồm 4 trung đoàn cầu đường (98, 4, 10, 251), 1 tiểu đoàn vượt sông và 15 tiểu đoàn bảo đảm giao thông thuộc các binh trạm.

Từ tháng 4 năm 1969 đến tháng 4 năm 1971, ông là Phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân, được bổ túc tại Trường Trung cao Chính trị. Do yêu cầu của chiến trường, tháng 5 năm 1971, tôi được điều vào làm Chính ủy Đoàn 470-phụ trách cung đường từ Nam Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia đến Nam Bộ, với nhiệm vụ vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam. Vào đến Bộ Tư lệnh 559, ông gặp lại ông Đồng Si Nguyên và được giư lại làm Phó Tư lệnh và chuyển từ làm công tác chính trị sang công tác quân sự. Từ tháng 5 năm 1971 đến tháng 5 năm 1976, ông là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn kiêm phụ trách Tổng cục Hậu cần Tiền phương (12/1972 - 1/1973).

Tổng tiến công và nổi dậy 1975, trong Chiến dịch Tây Nguyên ông được Bộ tư lệnh 559 phân công đi cùng Đại tướng Văn Tiến Dung vào sở chỉ huy tiền phương của bộ. Ngày 15 tháng 4 năm 1975, ông được Tư lệnh Đồng Si Nguyên giao cho nhiệm vụ nắm chắc lực lượng phía trứoc của Sư đoàn 470, 471 và lực lượng phòng không để bảo đảm các yêu cầu của mặt trận và thường xuyên báo cáo diên biến tình hình ở mặt trận về Bộ tư lệnh 559 đồng thời ông được tướng Văn Tiến Dung điện gấp vào Bộ Chỉ huy chiến dịch giúp việc cho tướng Đinh Đức Thiện-chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh bảo đảm vận chuyển hậu cần và cơ động bộ đội cho mặt trận. Ông trực tiếp kiểm tra đôn đốc khắc phục cầu Nha Bích, tổ chức đón tiếp đoàn xe Quân khu V chi viện cho mặt trận do Thiếu tướng Vo Thứ - Thiếu tướng phó Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ huy.

Từ tháng 6 năm 1976 đến tháng 6 năm 1979, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế. Từ tháng 7 năm 1979 đến tháng 5 năm 1986, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, được cử đi học tại Trường Nguyễn Ái Quốc. Từ tháng 6 năm 1986 đến tháng 3 năm 1987, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế. Từ tháng 4 năm 1987 đến tháng 5 năm 1989, ông giữ cương vị Quyền Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế, Phó Bí thư Đảng uỷ Tổng cục. Từ tháng 6 năm 1989 đến năm 1992, ông là Phó Chủ nhiệm thứ nhất Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng). Thiếu tướng Phan Khắc Hy được nhà nước cho nghỉ hưu năm 1993. Hiện nay ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh.

Tham khảo: Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 07:09:17 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #54 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:50:58 AM »


Tướng Hoàng Minh Đạo (4/8/1923-24/12/1969), Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (8/4/1998), nguyên là Trưởng phòng Tình báo (đầu tiên, nay là Tổng Cục Tình báo Bộ Quốc Phòng), Trưởng ban quân báo Nam Bộ, Phó Ban binh vận Trung ương cục Miền Nam, Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Sài Gòn – Gia Định, Bí thư Khu 5 - Bí thư phân khu I Sài Gòn - Gia Định, Chính uỷ lực lượng Biệt động Sài Gòn. Ông được truy phong Quân hàm tướng.

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 1999)…


“Có nhiều thời gian công tác với đồng chí Đạo tại chiến khu miền Nam, Cămpuchia, khu ủy Sài Gòn – Gia Định, tôi thấy: đồng chí Hòang Minh Đạo còn có nhiều bí danh khác như Năm Thu, Năm Đời, Năm Sài Gòn – là một đồng chí trung kiên, luôn hòan thành tốt nhiệm vụ được Đảng phân công, tận tụy với Đảng cho tới ngày hi sinh” (Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh)

Trung tướng Hoàng Minh Đạo tên thật là Đào Phúc Lộc ngoài ra ông còn có các bí danh khác như Năm Thu, Năm Đời, Năm Sài Gòn. Ông sinh ra tại thôn Vườn Trầu, Trà Cổ, Móng Cái, Hải Ninh nay là thị xã Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. Ông là con của ông Đào Ngọc Khanh (Đào Sĩ) và bà Vũ Thị Trình. Dòng họ Đào ở Quảng Ninh nổi tiếng về truyền thống yêu nước mà cụ Phan Bội Châu đã từng tặng câu đối khen tặng, đại ý: “Lòng yêu nước thương dân của họ Đào như viên ngọc quý giữa đời thường...”.

Tuổi thơ của ông rất cơ cực và thiếu thốn về mặt tình cảm. Bố ông luôn xa nhà trong những chuyến làm ăn. Mẹ ông là một người đàn bà cam chịu. Sau khi mẹ ông mất (năm ông 6 tuổi), bố ông lấy vợ khác rồi ra khu mỏ than Hồng Gai làm cai. Do người vợ thứ hai của bố ông khó tính không ở được, bố ông để cho chị ông là bà Đào Thị Hải đem ông về Hải Phòng. Tại Hải Phòng, chị ông làm thợ may còn ông vừa đi học vừa làm phụ sửa chữa xe để đỡ đần chị. Chính tại đây hai chị em ông gặp được nhà cách mạng Tô Hiệu, đó là thời gian hai năm 1938-1939 khi mà nhà cách mạng Tô Hiệu từ Côn Đảo về bị bệnh lao phổi phải ở Hải Phòng dưỡng bệnh đồng thời chỉ đạo phong trào.

Thời kì mặt trận dân chủ (1936-1939), ông và chị bắt đầu tham gia cách mạng. Khi đó, ông tham gia trong phong trào thanh niên, học sinh yêu nước ở Hải Phòng. Năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới 16 tuổi. Do quê ở gần biên giới, cha làm việc ở vùng mỏ, ông và chị ông có điều kiện đi lại thuận tiện nên được Bí thư khu uỷ Tô Hiệu phân công ở bộ phận giao thông, lúc ấy thường gọi tắt là Z.T. của khu uỷ, giữ đường dây liên lạc của khu uỷ với vùng mỏ, đặc biệt lúc phong trào bị thực dân Pháp đàn áp ác liệt nhất. Hai chị em ông thuê một gian nhà nhỏ ở cuối ngõ Cô Ba Chìa phố Tám Gian. Ngõ sâu và hẹp lại tiếp giáp với cánh đồng lúa, rau rộng của Đông Khê, Lạc Viên. Nhà cách mạng Tô Hiệu đã xây dựng cơ sở bí mật này, chỉ có các đồng chí của ông trong Liên tỉnh uỷ khi thật cần mới liên hệ với Tô Hiệu ở đây. Hai chị em ông vừa lo bảo vệ cơ sở, chăm nuôi cán bộ lãnh đạo của Liên tỉnh uỷ, nhất là khi Bí thư Tô hiệu mắc bệnh lao nặng bị ho ra máu, sức khoẻ suy sụp.

Ông cùng chị gái thường lấy cớ về quê Trà Cổ ăn giỗ, ăn tết hay ra Hồng Gai thăm bố bằng đò dọc Thuỷ Nguyên hay tầu khách Giang Môn, Kim Môn nên đã chuyển được nhiều nghị quyết, chỉ thị tài liệu tuyên truyền cho khu mỏ và liên hệ với ông Bùi Đức Minh (tức Tư Béo), người được phân công tìm đường liên hệ với lãnh tụ Nguyễn ái Quốc và những nhà cách mạng ở hải ngoại. Ngày 1/12/1939, cơ sở Đảng ở khu xi măng Thượng Lý bị vây khám, các ông Tô Hiệu, Bùi Đình Đổng, Ngô Minh Loan bị mật thám bắt đầy đi Sơn La. Ông Thành Ngọc Quản thay giữ nhiệm vụ bố trí lại đường dây liên lạc, Đào Phúc Lộc chưa từng bị lộ cho chuyển về Trà Cổ làm một đầu mối mới ở vùng mỏ, tạm giữ đường dây với ngoài cho đến khi có người ở Xứ uỷ ra thay. Khi ông Nguyễn Thanh Bình thuê được căn hộ trong khu nhà ánh Sáng để làm trụ sở bí mật của Thành uỷ Hải Phòng thì Đào Phúc Lộc được điều về làm Z.T. của Thành uỷ cùng hai anh em Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Nghị.

Năm 1940, trong một chuyến công tác, ông bị bắt, bị kết án và bị dẫn giải qua nhiều nhà tù, song thực dân Pháp đã không khai thác được gì từ người thanh niên 17 tuổi này. Bất lực, thực dân đưa anh về quản thúc tại quê hương Móng Cái sau hai năm bị bắt giữ, đồng thời bị quản thúc tại quê hương 5 năm. Đánh lạc hướng được mật thám thực dân phong kiến, ông trốn sang Trung Quốc bắt liên lạc với tổ chức tiếp tục hoạt động. Khi đó, ông Trường Chinh đã giao cho ông quay trở về quê hương xây dựng cơ sở ở vùng Móng Cái, lập đường dây bí mật theo đường Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh-Quảng Tây để đưa đón cán bộ đi về qua biên giới hoạt động. Trong thời gian này, ông vẫn bí mật hoạt động với vỏ bọc người phụ lái để đi lại hoạt động trên tuyến Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Yên - Móng Cái. Nguyên là bà Nguyễn Thị Kíu (chủ hiệu bánh Tùng Hiên) và người anh trai (một nhà tư sản yêu nước) có xe ô-tô chở hàng, chay trên tuyên đường này. Khi ông mới ra tù, bà Kíu đã tạo bình phong cho ông giả vai phụ lái. Kết quả là một chi bộ Đảng Cộng sản ở Móng Cái ra đời do ông làm bí thư, lấy bí danh là Minh Phụng là tên người con gái của một vị quan trong phủ Quảng Yên trốn gia đình tham gia Việt Minh một lần cứu ông khỏi sự truy đuổi của mật thám.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông về Hà Nội. Khi Phòng Tình báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu được thành lập (25/10/1945) ông nhận quyết định làm Trưởng phòng tình báo Quân ủy hội khi mới 22 tuổi, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Quân ủy hội-Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái. Khi đó với tên mới là Hoàng Minh Đạo, ông là người có công lớn trong việc mở các lớp đào tạo cán bộ tình báo đầu tiên của ngành Tình báo quân sự Bắc - Nam trong những ngày đầu kháng chiến với những tên tuổi như Thiếu tướng Cao Pha, vợ chồng Đại tá Anh hùng Nguyễn Minh Vân (chỉ huy quân báo mặt trận Hà Nội)... Tháng 12 năm đó, ông tổ chức lễ thành hôn với bà Minh Phụng.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), ông gửi vợ và con gái là Minh Vân lên chiến khu, còn ông tiếp tục ở lại tổ chức, xây dựng chỉ đạo mạng tình báo thu thập tin tức. Tháng 2/1947, trong đợt chỉnh đốn và tổ chức lại cơ quan tình báo trong thời chiến, ông giao nhiệm vụ này tại mặt trận Hà Nội cho ông Nguyễn Minh Vân (tên thật là Nguyễn Đình Quảng, Đại tá Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân) rồi cùng Cơ quan tình báo Trung ương lên Chiến khu.Tại chiến khu, ông đã chỉ đạo tổ chức nhiều khóa huấn luyện nghiệp vụ tình báo tại Ỷ La Tuyên Quang đạo tạo nhiều cán bộ tình báo phục vụ kháng chiến.

Năm 1948, với bí danh là Hoàng Minh Đạo ông nhận lệnh điều động vào tăng cường cho chiến trường miền Nam đảm trách nhiệm vụ Đặc phái viên của Bộ Tổng Tham mưu đi kiểm tra tình hình từ Khu 4 vào Nam Bộ để kiện toàn và thống nhất lại các tổ chức của ngành tình báo, giúp cơ quan Cục có điều kiện chỉ đạo kháng chiến trong toàn quốc. Trước khi đi, ông lên Việt Bắc để chia tay vợ và con gái, thì người vợ bị sốt rét ác tính vừa qua đời. Ông phải gửi con gái lại cho chị nuôi là bà Nguyễn Thị Kíu.

Năm 4/1951, ông làm lễ cưới với bà Bùi Ngọc Hường là giao liên của Cục tình báo Trung ương tại Chiến khu Đ. Năm 1964, bà Hường bị bắt và đầy ra Côn Đảo cho đến tận năm 1974 thì được trao trả. Ông bà sinh ba người con là : Minh Ngọc, Minh Thu rồi Minh Hồng. Cuối năm 1954, ông là Phó Ban Binh vận Xứ ủy Nam Kỳ được điều động gấp về Sài Gòn trước khi thời gian tập kết có hiệu lực.

Đầu năm 1955, Xứ ủy Nam Bộ quyết định lập “Ban nghiên cứu Xứ ủy “-Ban địch tình (Ban này tồn tại đến 1961), do Ủy viên Xứ ủy Ba Viên phụ trách. Hoàng Minh Đạo, nguyên là trưởng phòng quân báo Nam Bộ về làm Phó trưởng ban. Rồi cụm tình báo chiến lược chỉ đạo trực tiếp các hệ tình báo chính trị-quân sự-phản gián-chiến lược ra đời, trong đó hệ tình báo quân sự gồm 6 lưới từ NB1 đến NB6 do Hoàng Minh Đạo phụ trách.

Năm 1969, Trung ương cục điều Đào Phúc Lộc từ Phân khu 5 về làm Chính ủy Phân khu 1-vùng Củ Chi. Đêm Nô-en (24-12), Chính ủy Đào Phúc Lộc cùng Phó tư lệnh phân khu Tám Lê Thanh về Trung ương cục dự họp. Khi vượt sông Vàm Cỏ Đông, đoàn phải chia làm hai nhóm. Ghe chở Phó tư lệnh Tám Lê Thanh qua sông trước trót lọt, còn ghe chở Chính ủy Đào Phúc Lộc đi sau đụng giang thuyền địch, tất cả đều hy sinh giữa dòng nước.

Vì hoàn cảnh chiến tranh, hoạt động trên mặt trận thầm lặng, cái tin ông hy sinh phải giữ bí mật, gần ba chục năm sau vợ và các con của anh vẫn còn phải chịu nỗi đau bởi bà con nơi ông sinh ra ở Móng Cái-Quảng Ninh thậm chí còn tin đồn anh là “kẻ phản bội Tổ quốc”... Công lao của vị tướng tài năng đã được ghi nhận. Ngày 8/4/1998, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng đã tổ chức lễ truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân cho Liệt sĩ Đào Phúc Lộc. Đây là Huân chương cao quý đầu tiên được trao tặng cho Anh hùng Đào Phúc Lộc trong số gần 2.000 Anh hùng Lực lượng vũ trang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Cuộc đời hoạt động cùng những chiến công của nhà Tình báo lỗi lạc Đào Phúc Lộc đã được xây dựng thành kịch bản cho bộ phim mang tựa đề “Con đường sáng”.

Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với sự ra đời của ngành Tình báo quân sự. Ông chính là người đầu tiên xây dựng nền móng cho sự thành lập của ngành, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và ngày càng phát triển mạnh mẽ trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Ông cũng là một trong những nhân vật quan trọng sáng lập ra Ban địch tình Xứ ủy Nam Kỳ và ngành Binh vận vào thời điểm gay go ác liệt nhất của cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ (1954 – 1975), trở thành một trong những mũi giáp công lợi hại của Cách mạng miền Nam.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 07:13:13 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #55 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:54:14 AM »


Thượng tá Anh hùng Bông Văn Dĩa (1905-30/5/1983), Anh hừng Lực lượng vũ trang Nhân dân (1967). Ông từng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), Trong Kháng chiến chống Pháp, đã tổ chức mua 16 tấn vũ khí cung cấp cho các chiến trường Nam Bộ. Trong Kháng chiến chống Mĩ, tích cực cùng đồng đội mở đường vận tải biển Bắc - Nam chuyển vũ khí cho chiến trường Miền Nam.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba... Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân năm 1967


Thượng tá Bông Văn Dĩa (bí danh Ba Địa), sinh tại ấp Rạch Gốc xã Tân Ân huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau trong gia đình dân nghèo vùng biển. Được thầy giáo Phan Ngọc Hiển giúp đỡ, ông sớm giác ngộ cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1940. Từ khi vào Đảng ông hoạt động rất tích cực ở vùng Rạch Gốc. Ngày 12/12/1940, từ xã Tân Dân huyện Ngọc Hiển ông được cấp trên giao nhiệm vụ đến Hòn Khoai trao nghị quyết khởi nghĩa của Tỉnh ủy Cà Mau cho nhà cách mạng Phan Ngọc Hiển và cùng tham gia tổ chức cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai.

Khi cuộc khởi nghĩa bị khủng bố, ông bị thực dân Pháp kết án khổ sai đày đi Côn Đảo. Suốt những năm lưu đày chịu nhiều cực hình tra tấn dã man, ông vẫn luôn giữ vững khí tiết cách mạng, cùng với chi bộ nhà tù đấu tranh và tổ chức nhiều cuộc vượt ngục đưa các chiến sỹ của ta về đất liền hoạt động. Cách mạng tháng Tám thành công, ông cùng các chiến sỹ tù Côn Đảo được rước trở về tiếp tục hoạt động cách mạng.

Lúc đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ rất cần vũ khí đánh giặc, ông được phân công chở hàng qua Thái Lan đổi lấy vũ khí. Chuyến đi này được sự trợ giúp cuả bà Nguyễn Thị Hoài - là vợ ông Bông Văn Dĩa nên công việc được cải trang chu đáo bí mật. Đến Thái Lan mặc dù bị nhà cầm quyền bắt giam 4 tháng nhưng khi vưà ra tù ông chở ngay chuyến vũ khí từ Thái Lan về Rạch Gốc Năm Căn.

Lần thứ 2 do vận chuyển bằng đường biển khó khăn nên phải tổ chức bằng đường bộ từ Thái Lan qua Căm Pu Chia về Việt Nam và phải chuyển từng đoạn hết sức vất vả; trên đường vận chuyển bị địch ngăn chặn, ông cùng đơn vị chiến đấu 10 trận để bảo toàn vũ khí, chiến sỹ ta có 10 ông phải hy sinh. Sau đó ông được bổ sung vào đơn vị Cửu Long, tham gia nhiều trận đánh Pháp.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vào năm 1961 trước tình hình Mỹ Diệm ngang nhiên đi ngược lại Hiệp định Giơ-ne-vơ và trước phong trào Đổng khởi, Trung ương có chỉ thị các tỉnh ven biển miền Nam cho thuyền vượt biển ra Bắc để tính chuyện chở vũ khí về. Ông được bố trí giao nhiệm vụ rất quan trọng là tổ chức thăm dò tuyến đường biển từ Cà Mau ra miền Bắc để chở vũ khí vào miền Nam đánh giặc. Bà Rịa cho thuyền ra, do ông Năm Đông tổ chức. Trà Vinh thì cử sáu người, mang bí danh là Đoàn, Kết, Đấu, Tranh, Thắng, Lợi. Bến Tre cho thuyền ra do ông Tư Thắng phụ trách. Khu 6 cũng cử ông Đặng Văn Thanh đi ra, theo đường Trường Sơn. Bạc Liêu cử hai thuyền, do ông làm bí thư chi bộ... Các chuyến ra đều rất gian nan.

Thuyền Bà Rịa bị địch bắt ở Nha Trang, sau thoát được lại trôi dạt vào đảo Hải Nam. Thuyền Trà Vinh gặp bão lớn, phải đốn bỏ cả cột buồm, trôi dạt sang tận Hương Cảng... Riêng thuyền của ông dạt vô bờ biển Quảng Bình, bị dân quân ta bắt, tưởng là biệt kích ngụy, đánh cho một trận và giam chặt. Ông nhất định không tiết lộ nhiệm vụ, chỉ một mực yêu cầu giải về Trung ương, trực tiếp gặp Tổng Bí thư Lê Duẩn. Mãi mới được chuyển về huyện. Lại giam. Rồi chuyển về tỉnh. Ông dọa lãnh đạo công an tỉnh: “Các đồng chí không đưa tôi đi gặp đồng chí Lê Duẩn ngay, sau này lỡ việc lớn, phải chịu trách nhiệm”. Vừa may lúc đó TBT Lê Duẩn đang đi công tác ở Quảng Bình. Tỉnh ủy báo cáo:

- Có người trong Nam ra, tự xưng tên là Hai Địa, đòi gặp trực tiếp đồng chí, không chịu khai báo gì nữa.
- Ở đâu? Ở đâu?...

Vậy là hai người gặp được nhau, hai người bạn tù Côn Đảo mấy mươi năm trước. Họ ôm chầm lấy nhau...

Vào ngày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Quốc Phòng ra quyết định số 97/QP do Thứ trưởng Hoàng Văn Thái ký quyết định thành lập lực lượng vận tải quân sự trên biển mang tên Đoàn 759 - tiền thân của Lữ đoàn 125 ngày nay. Cũng từ đó, ngày 23 tháng 10 hàng năm trở thành ngày truyền thống mở đường Hồ Chí Minh trên biển và thành lập Lữ đoàn 125 Hải Quân. Nhiệm vụ của đoàn 759 ngày ấy là “ mua sắm phương tiện, tiến hành vận chuyển các loại hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam bằng đường biển”.

Để thực hiện chủ trương đó, hàng loạt công tác chuẩn bị được tiến hành. xưởng đóng tàu 1 Hải Phòng bí mật đóng tàu. Bộ đội công binh và Hải Quân được Bộ quốc phòng giao nhiệm vụ sửa chữa gấp cầu cảng mang tên K15 dưới chân ngọn đồi Vạn Hoa, Đồ Sơn. Bộ đội quân khí có nhiệm vụ đóng gói súng đạn sao cho những bao gói ấy không có dấu vết chứng tỏ ở miền Bắc. Bộ nội vụ có nhiệm vụ bảo vệ bí mật tuyệt đối tại bán đảo Đồ Sơn…

Sau khi xin ý kiến Quân ủy Trung ương, đoàn 759 quyết định để thuyền “Bạc Liêu” do Bông văn Dĩa phụ trách, đi chuyến trinh sát, mở đường từ Bắc vào Nam. Ngày18 tháng 4 năm 1962, thuyền về tới Bồ Đề ( thuộc Tân An- Ngọc Hiền - Cà Mau). Thuyền đi vào cửa Rạch Ráng. 10 giờ đêm hôm đó thì cập vào Vàm Lũng. Chuyến đi trinh sát đã thành công. Sau khi trở về từ miền Bắc, ông báo cáo với Khu ủy về ý kiến của Trung ương về tình hình bến bãi chưa bảo đảm, chưa thể đưa tàu vào. Khu ủy quyết định thành lập một ban chỉ huy cho công tác đặc biệt này do ông Ba Hòa làm trưởng ban, đưa một đại đội được chọn lọc kỹ xuống căn cứ ở vùng rừng Cà Mau và giao ông đi khảo sát các đảo.

Tìm ra cửa lý tưởng nhất là cửa Bồ Đề, lạch sâu 3,8m, tàu ta có thể vào thong thả. Các cửa Rạch Gốc, Hố Bỏ Gùi, Vàm Lũng, Vàm Cái Su cạn hơn nhưng lúc nước cường vẫn vào được, lại có lạch kín, rừng đước dày, có thể đào ụ giấu tàu và lập kho lớn chứa vũ khí... Sau chuyến khảo sát này, khu ủy quyết định cử hai thuyền ra báo cáo trung ương, một chiếc do ông phụ trách xuất phát tại cửa Rạch Gốc ngày 24-7-1962, một chiếc khác xuất phát sau hai ngày. Đi hai thuyền là đề phòng mất một vẫn còn một. Ông đi trót lọt, đến cửa Việt ngày 29-7.

Qua 2 chuyến đi, về vượt sóng gío và tầu tuần tra của địch, ông báo cáo tỉ mỉ tình hình thăm dò và xây dựng bến bãi tiếp nhận vũ khí cho Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe. Đoàn thủy thủ của ông được lệnh ở Đồ Sơn chờ lệnh về Nam. Tại bến Đồ Sơn, đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy mang tên “Phương Đông 1” chở 30 tấn vũ khí do thuyền trưởng Lê Văn Một và Chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy, xuất phát lên đường vào Nam. Trước khi xuất phát, đích thân các nhà lãnh đạo Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà đến bến cảng Đồ Sơn động viên cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Ông Phạm Hùng nói:

- Các đồng chí là những người đầu tiên mở ra con đường biển Bắc - Nam này. Nó cũng giống như trên Trường Sơn kia, các đồng chí là những người tiên phong đi khai sơn phá thạch”.

Sau 5 ngày vượt biển Đông, ngày 16/10/1962, tàu đến cửa Bồ Đề và cặp bến Vàm Lũng (xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau) an toàn. Đây là chuyến chở vũ khí đầu tiên vào Nam bằng đường biển và con đường vận tải chiến lược trên biển Đông chính thức ra đời.

Ông Bông Văn Dĩa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trở thành người chiến sỹ đầu tiên mở đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Từ đó trở đi vũ khí liên tiếp được đưa từ miền Bắc vào cập bến khu vực mũi Cà Mau. Lúc này ông lại làm nhiệm vụ chuyên chở vũ khí luồn lách qua nhiều đồn bốt địch phân phối cho chiến trường. Với những thành tích và công lao cống hiến đặc biệt, năm 1967 ông được phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.

Đại tá Bông Văn Dĩa là một tấm gương trong sáng, hiến cả cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng - đấu tranh giải phóng dân tộc, ông luôn thể hiện đức tính cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Dáng người thấp, mập gương mặt to tròn phúc hậu giống như ông Địa, để kết xin kể một câu chuyện về ông.

Thay cho phần kết, xin kể lại câu chuyện như sau. Hồi đó địch đánh phá ác liệt, cả vùng U Minh mênh mông là vậy mà hầu như không còn chỗ an toàn, lúc về Kinh Năm là nơi cuối cùng. Nhưng rồi Kinh Năm cũng bị lộ. Trước tình hình đó ông Lê Duẩn bảo với người sĩ quan bảo vệ rằng :

- Lộ rồi. Phải đi thôi!
- Đi đâu bây giờ?

Ông Lê Duẩn nói:

- Còn một chỗ. Còn một người có thể tin cậy: anh Hai Địa ở Rạch Gốc. Rạch Gốc là đất có thể nương náu. Đó là căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai hồi 1941. Chính Hai Địa là cơ sở của đồng chí Phan Ngọc Hiển, từng tham gia cướp chính quyền Hòn Khoai về sau bị tù Côn Đảo. Ở Côn Đảo, mỗi lần chúng tôi bị địch kéo ra đánh thì Hai Địa xông ra chịu đòn thay... Phải đi tìm Hai Địa... đó là con người có thể tin cậy trong lúc khó khăn cùng cực của cách mạng.


Tham khảo: Báo Cà mau điện tử
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 07:19:39 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #56 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:55:30 AM »


Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm (20/5/1922-1986), nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7, Phó Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Tư lệnh Quân khu miền Đông.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu Thành đồng...

Thiếu tướng (1974)


Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâp tên thật là Nguyễn Văn Bứa, ngoài ra ông còn có bí danh Nguyễn Hữu Nghĩa. Tuy nhiên người ta nhớ tên Nguyễn Hồng Lâm nhiều hơn. Hồng Lâm tức rừng đỏ, rừng chiến khu cách mạng, ông dùng để đặt tên cho người con trai và lấy làm bí danh khi trở lại hoạt động ở chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Sinh ra một gia đình trung nông ở xã Tân Mỹ Đông, huyện Hóc Môn, Gia Định.

Trong những ngày không khí sửa soạn tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 dâng ngập khắp cả nước, ngày 10 tháng 9 năm 1945, Nguyễn Văn Bứa vận động tập hợp được một đội cảm tử của xã Tân Mỹ Đông, Hóc Môn, do ông làm đội trưởng. Nam Bộ kháng chiến, ngày 23 tháng 9 năm 1945 ông nhập ngũ, chỉ huy 2 tiểu đội vũ trang sát nhập với bộ đội Tô Ký (1919 - 1999) lập lên Khu 2, rồi được cử làm Chỉ huy trưởng Huyện đội Hóc Môn.

Như những chiến sĩ Vệ quốc đoàn ở Nam bộ lúc ấy, Nguyễn Văn Bứa bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với tất cả sự hào hứng của tuổi đôi mươi. Có kiến thức quân sự cơ bản và phẩm chất của một người chỉ huy quyết đoán, nhân hậu, lần lượt ông được giao nhiều trọng trách: Cán bộ tham mưu Giải phóng quân rồi Liên quân Hóc Môn - Đức Hòa - Bà Điểm, Đại đội trưởng Đại đội 2, Chi đội 12 (16.6.1946) (đại đội thời bấy giờ tương đương tiểu đoàn sau nay, còn chi đội tương đương trung đoàn), Trưởng Phòng Tác chiến Liên khu B, Khu 7 (11.3.1947).

Sau thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới. Tình hình đòi hỏi cần phải thành lập những đơn vị chủ lực để “đẩy mạnh vận động chiến tiến tới”. Ở Nam bộ, từ các chi đội Vệ quốc đoàn, hàng loạt trung đoàn được thành lập. Nguyễn Văn Bứa được cử giữ trách nhiệm Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn 312 (trung đoàn được thành lập trên cơ sở phát triển Chi đội 12 Gia Định) (5-1948), Bí thư Chi bộ rồi Trưởng ban Tác Huấn trực thuộc Phòng Tham mưu Khu Sài Gòn – Chợ Lớn (4-1949). Ngày 5 tháng 1 năm 1950, ông được bổ nhiệm chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 300 Nam Bộ, Phó Bí thư Trung đoàn ủy.

Từ giữa năm 1951, Trung ương Cục miền Nam chủ trương sắp xếp lại chiến trường, tổ chức lại lực lượng vũ trang nhằm chống lại có hiệu quả chính sách tập trung bình định và thủ đoạn bao vây chia cắt của địch. Tỉnh Bà Rịa và tỉnh Chợ Lớn sáp nhập lại thành tỉnh Bà – Chợ với lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh là Tiểu đoàn 300. Nguyễn Văn Bứa chuyển sang đảm trách nhiệm vụ Tỉnh đội phó Bà – Chợ (Bà Rịa - Chợ Lớn) kiêm chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 300 và là Phó Bí thư Liên chi ủy.

Những năm 1951, 1952, chiến trường miền Đông gặp rất nhiều khó khăn. Bộ đội thiếu lương thực, thực phẩm, trang phục, chế phẩm y tế và đặc biệt là vũ khí chiến đấu. Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Đông thành lập Tiểu đoàn vận tải chiến lược 320 làm nhiệm vụ tiếp nhận vận chuyển vũ khí, tiền bạc, chất nổ của Trung ương chuyển vào từ Cù My, La Di, Hàm Tân (Bình Thuận), Xuyên Mộc (Bà – Chợ) về Chiến khu Đ, đưa đón bảo vệ các đoàn cán bộ từ Trung ương vào Nam bộ và ngược lại. Đây là công việc hết sức khó khăn nguy hiểm. Ngày 1 tháng 5 năm 1953, Nguyễn Văn Bứa về chỉ huy Tiểu đoàn thay ông Nguyễn Văn Lung lên giữ chức vụ Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Đông. Rồi cũng tại khu vực đầu cầu cung đường vận tải này, Nguyễn Văn Bứa cùng gia đình lên tàu tập kết ra miền Bắc sau khi giữ chức vụ Trung đoàn trưởng rồi làm nhiệm vụ Uỷ viên Ban Liên hiệp đình chiến Khu vực Hàm Tân - Xuyên Mộc, Bí thư chi bộ.

Trước khi là học viên Học viện Quân sự Nam Kinh Trung Quốc (1959), ông là cán bộ tham mưu phụ trách quân lực Phòng tham mưu Sư đoàn 330, Trung đoàn phó Tham mưu trưởng Trung đoàn độc lập 656, Trưởng ban tác huấn Sư đoàn 338 đồng thời là Phó Bí thư Liên chi Tham mư, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 664 rồi Tham mưu phó Sư đoàn 330. Giữa năm 1961, đang chuẩn bị thi tốt nghiệp ở Học viện Quân sự Nam Kinh, ông được Quân ủy Trung ương gọi về cử vào Nam chiến đấu. Ngày 6 tháng 6 năm 1961, ông là Phó đoàn Đoàn cán bộ khung ba quân khu 7, 8, 9 gồm 400 cán bộ từ miền Bắc trở về miền Nam chiến đấu gọi là Đoàn Phương Đông II, đồng thời là Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn.

Tháng 9 năm ấy, ông về lại chiến trường quê hương với cương vị Chỉ huy phó Tham mưu trưởng Quân khu miền Đông (tức Quân khu 7), Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu. Bấy giờ ở Nam bộ, cơ quan quân sự mới chỉ là ban quân sự thuộc các khu ủy do một số Khu ủy viên phụ trách, chưa thành cơ quan quân khu hoàn chỉnh. Các tỉnh đội cũng đang trong quá trình thành lập. Nguyễn Văn Bứa bắt tay xây dựng cơ quan ban chỉ huy quân khu, đủ các tổ chức tham mưu, chính trị, hậu cần, rồi cơ quan các tỉnh đội, huyện đội, các đại đội, tiểu đoàn tập trung của quân khu, của tỉnh.

Từ cuối năm 1964, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tổ chức chiến dịch tiến công với qui mô nhiều trung đoàn chủ lực tham gia trên một địa bàn rộng – chiến dịch Bình Giã, mở đầu cho hàng loạt chiến dịch lớn diễn ra liên tiếp sau đó ở miền Đông Nam bộ. Nguyễn Văn Bứa được phân công làm Chỉ huy phó chiến dịch Bình Giã, và sau đó là Chỉ huy trưởng mặt trận phía Đông (mặt trận phối hợp) trong chiến dịch Đồng Xoài, Chỉ huy phó chiến dịch đông-xuân 1965 – 1966 và tham gia chỉ huy các cuộc pháo kích sân bay quân sự Biên Hòa, tổng kho Long Bình trong các năm 1964, 1966, 1967. Từ tháng 11 năm 1963 đến năm 1967, ồng giữ chức vụ Tư lệnh Phân khu 1 Sài Gòn - Gia Định, Phó bí thư Quân khu uỷ, quyền Tư lệnh Quân khu 7.

Mùa thu năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc tổng công kích tổng khởi nghĩa, chiến trường miền Đông được sắp xếp lại. Quân khu miền Đông (T7) và Quân khu Sài Gòn – Gia Định (T4) giải thể để thành lập các phân khu, hình thành năm mũi nhọn tấn công vào sào huyệt Sài Gòn. Chỉ huy trưởng Quân khu miền Đông (từ 8-1965) Nguyễn Văn Bứa về làm chỉ huy trưởng Phân khu 1, rồi Chỉ huy trưởng Phân khu 5 chỉ huy các lực lượng tiến công đánh vào hướng Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, kho bom Gò Vấp và các địa bàn vùng ven trong đợt tiến công tiếp theo xuân Mậu Thân.

Ngày 22 tháng 8 năm 1968, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Phân khu 5, Phó bí thư Phân khu uỷ. Từ ngày 14 tháng 1 năm 1969, Đại tá Nguyễn Văn Bứa trở lại làm Chỉ huy trưởng Quân khu 7, Phó bí thư Quân khu uỷ, Uỷ viên Thường vụ Ban Cán sự Khu uỷ, bao gồm Phân khu 4, tỉnh Bà Rịa – Long Khánh, luôn cả rừng Sác Đoàn 10. Trong những ngày cam go sau biến cố Mậu Thân, địch phản kích càn quét quyết liệt, phải ăn khoai rừng, rau rừng trừ bữa, ông đã chỉ huy bộ đội bám trụ, tổ chức đánh địch trên dọc đường 1, đường 15, đường 2 Bà Rịa, đụng đầu với đủ những đơn vị từng là niềm tự hào của quân đội Mỹ, từ Sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới, Sư đoàn 1 anh cả đỏ, Sư đoàn kỵ binh bay, Lữ đoàn dù 199, Trung đoàn thiết giáp 11...

Tháng 12 năm 1970, ông là Tư lệnh Phân khu 5, Phó bí thư Phân khu uỷ. Tháng 1 năm 1971, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự Miền và một năm sau kiêm giữ trách nhiệm Chỉ huy trưởng Quân khu miền Đông (T1), Ủy viên Thường vụ Khu ủy (19.8.1973), khi tổ chức chiến trường toàn Miền được sắp xếp lại cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Từ năm 1973 đến năm 1975, ông ra Bắc công tác tại Bộ Quốc phòng.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Bứa chuyển sang làm nhiệm vụ mới: Phó ban thanh tra Bộ tư lệnh Miền (6.1975), rồi Phó tư lệnh kiêm Trưởng ban Thanh tra Quân khu 7 (1.11.1975), Phó Tư lệnh kiêm Cục trưởng Cục Xây dựng kinh tế Quân khu 7 (3.1976). Và từ cuối năm 1984, phụ trách công tác tổng kết chiến tranh, nghiên cứu biên soạn lịch sử quân sự của Quân khu 7.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Bứa mãi hiện hữu trong ký ức cán bộ chiến sĩ miền Đông như hiện thân của một tri thức quân sự rộng và bài bản, lối xử thế đoàn kết, khoan dung, pha chút hào hoa bặt thiệp. Bước chân của ông in dấu trên mọi nẻo chiến trường, từ Gia Định, Tây Ninh đến Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh, hầu hết là địa bàn vùng sâu, sát nách thủ phủ Sài Gòn.Từ trận phục kích, công đồn nhỏ lẻ đến những trận đánh và chiến dịch lớn, riêng trên đất miền Đông, ông có mặt trong hầu hết các biến cố lịch sử mà ý nghĩa của nó từng góp phần làm chuyển đổi cục diện chiến tranh. Ông sinh ra, lớn lên và thành danh ở miền Đông Nam bộ, ăn cơm uống nước và tắm gội trên các con sông chảy từ miền Đông Nam bộ xuôi ra biển cả. Ông là vị tướng của miền Đông!
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 07:54:37 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #57 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:58:49 AM »


Thiếu tướng Trần Văn Danh (1923-2005), Anh hùng lao động, nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh Sài Gòn-Gia Định, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Hồ Chí Minh phụ trách An ninh Quốc phòng, Phó đoàn Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ủy ban liên hiệp quân sự tại trại Đa-vít, Phó Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự Quân giải phóng miền Nam Việt Nam kiêm Trưởng Ban tình báo chiến lược. Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Điện lực, Trưởng ban chỉ đạo xây dựng Nhà máy Thủy điện Trị An.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1978)


Tuổi thơ và cách mạng

Thiếu tướng Trần Văn Danh tên thật là Trần Văn Bá, ông có bí danh là Ba Trần, Trần Quốc Minh quê tại Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Mẹ ông (bà Trần Thị Thảnh) là người Bến Tre lên Sài Gòn làm cô mụ và gặp cha ông là con trai một ông Hương cả trong làng ở Hốc Môn. Ông nội ông là người sống rất nghiêm khắc, nên mẹ con ông phải đến sống ở một nơi khác.

Hàng ngày mẹ ông thức khuya dậy sớm trồng rau, nuôi heo rồi đi bán hàng rong mới kiếm đủ tiền nuôi sáu đứa con nhỏ, trong đó chỉ có một mình ông là con trai. Chị em ông ngày nào cũng phải vào rừng mót củi. Khi làm giấy khai sinh cho ông phải lấy họ mẹ, nên có tên là Trần Văn Ba. Hồi học lớp nhất ở thị trấn Hốc Môn, thấy ông tên Ba, thầy giáo ông mới nói: “Con tên Ba, mỗi lần kêu thầy phải nói “Ba ơi”, thôi, con đổi tên thành Bá cho dễ kêu! Thế là từ đó tên đi học của tôi là Trần Văn Bá! Do chuyện lễ giáo mà mẹ con ông phải sống riêng nhưng bố ông rất thương các con và ông hay tìm cách đến thăm. Ông vốn là một cơ sở cách mạng nên khi Trần Văn Bá được 12 – 13 tuổi cha ông bắt đầu sai ông bí mật đi rải truyền đơn kêu gọi ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ở Hốc Môn thời bấy giờ phong trào cách mạng âm ỉ, sôi sục. Vừa 16 tuổi, Trần Văn Bá thi đậu vào trường Bá Nghệ – Sài Gòn (nay là trường kỹ thuật Cao Thắng). Thích nghề xây dựng, Bá mua sách Pháp về toán, lý, hóa tự học thêm. Để có tiền đi học ở Sài Gòn, ban ngày Bá lãnh vẽ các mẫu thiết kế xây dựng của các văn phòng kiến trúc sư, buổi tối lại làm thêm nghề cơ khí.

Một buổi chiều, vừa ăn cơm ở Chợ Quán đạp xe về nhà, ngang qua rạp hát Trần Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân) cậu học trò trường Bá Nghệ Trần Văn Bá nhìn thấy một cảnh hết sức chướng tai gai mắt: bọn lính Nhật trần truồng như nhộng đang chen nhau tắm trước mặt bàn dân thiên hạ. Vừa bực mình vì cảnh sỉ nhục vừa phải xuống xe dắt bộ để tránh bọn lính Nhật đang tắm, Trần Văn Bá uất ức nói:

"Nghe nói nước Nhật tự xưng là cường quốc, sao chẳng văn minh chút nào, tắm ở truồng."

Không ngờ một tên lính nghe được kêu Bá lại hỏi bằng một giọng tiếng Việt rất sõi:

"Ê thằng nhỏ! Mày vừa nói gì đó?"

Trần Văn Bá liền lặp lại cậu nói của mình. Nghe xong tên lính Nhật cười mỉa mai:

"Tắm truồng không có gì xấu. Mất nước mới là nhục!"

Bá giận đến tái mặt. Nhưng chính câu nói của tên lính Nhật đã làm cho cậu học trò Hốc Môn hiểu ra một lẽ: mất nước đúng là nỗi nhục lớn nhất!

Nhật đảo chính Pháp, trường Bá Nghệ bị đóng cửa, Bá đành phải quay về lại Hốc Môn. Năm 18 tuổi, chàng trai mang nỗi nhục mất nước lại còn phải bị bắt đóng thuế thân. Lòng căm thù bọn cướp nước cứ thế sôi sục trong huyết quản Trần Văn Bá. Vì vậy vào tháng 7 năm 1945, Bá tham gia vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc đang còn hoạt động bí mật. Hưởng ứng cuộc Cách mạng Tháng Tám, Bá cùng lực lượng Thanh niên Cứu quốc đứng ra cướp chính quyền ở Hốc Môn rồi vận động quần chúng kéo về trung tâm thành phố Sài Gòn để biểu dương lực lượng.

9 năm kháng chiến

Sau đó Pháp tái chiếm Nam Bộ. Hốc Môn là cái “ổ Cộng sản” mà họ phải điều động quân đến để dẹp. Trước sự tấn công ác liệt của giặc Pháp, lực lượng cách mạng ở Hốc Môn được lệnh phải tạm thời phân tán. Trần Văn Bá liền gia nhập vào Đội trinh sát của Khu 7, và bắt đầu cuộc chiến đấu với giặc Pháp khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trong đó có địa bàn Sài Gòn – Chợ Lớn mà người chiến sĩ trinh sát vốn là cựu học sinh trường Bá Nghệ rành rẽ từng con hẻm, từng con rạch... Để nhớ đến tên mình là Trần Văn Ba và cũng là người con thứ ba trong gia đình, Bá lấy bí danh là Ba Trần.

Sau những chiến công hết sức táo bạo và dũng cảm, chiến sĩ trinh sát Ba Trần được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Ba Trần đề nghị được lấy tên Trần Văn Danh để ghi vào hồ sơ đảng tịch. Ba Trần hay cùng nhóm quân báo đi về Bửu Long một làng ven sông Đồng Nai sát thị xã Biên Hòa – là nơi đang bị quân Pháp tạm chiếm và đặt các cơ quan hành chánh, quân sự của chính quyền tay sai.

Nhờ gan dạ xông xáo khắp nơi và cũng được sự chở che, đùm bọc của đồng bào, năm 1949 Ba Trần được đề bạt làm Tham mưu phó kiêm Trưởng ban quân báo liên tỉnh Thủ – Biên. Ở cương vị này, Ba Trần lại càng phát huy khả năng đặc biệt của mình trong nhiệm vụ. Và vì vậy đến năm 1954, Ba Trần đã trở thành Phó Chính ủy kiêm Bí thư Trung đoàn ủy của một đơn vị bộ đội lừng lẫy những chiến công đánh Pháp ở miền Đông Nam Bộ: Trung đoàn 556. Nhưng cũng vào thời điểm này thì có lệnh “đình chiến” và Phó chính ủy Ba Trần được lệnh tập kết ra Bắc. Sau đó, Ba Trần được phong quân hàm thiếu tá. Trần Văn Danh được học văn hóa trở lại. Và sau đó được chọn vào học trường An ninh. Đặc biệt là được đào tạo bài bản về công tác tình báo, mà người sĩ quan miền Nam này có khá nhiều kinh nghiệm thực tiễn.

Vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu

Vào cuối năm 1960 Trần Văn Danh được lệnh vượt Trường Sơn để về miền Nam chiến đấu. Những ngày cuối cùng trước khi rời miền Nam, Trần Văn Danh cứ như bị thôi thúc bởi lời dặn dò của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khi ông thăm đoàn cán bộ đang chuẩn bị về Nam: các đồng chí ra Bắc đã học tập tốt, nay nhanh chóng về Nam cùng các đồng chí trước đây ở lại tổ chức quần chúng nổi dậy, lôi kéo binh lính địch, chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Hiện nay chúng ta vẫn còn một cái nhục, là “nhục mất nước”.

Con đường trở lại chiến trường miền Nam cực khổ muôn vàn vì đây là đoàn tiền trạm, có lúc người chiến sĩ to lớn, vạm vỡ như Ba Trần còn bị viêm phổi nặng đến nỗi ông nghĩ mình khó lòng mà qua khỏi. Khi đến được vùng sông Re (thuộc tỉnh Quảng Nam bây giờ) đoàn cán bộ về Nam gần như chới với vì sốt rét, bệnh tật và... cái đói cứ đe dọa từng ngày.

Đoàn cán bộ quân sự đầu tiên từ miền Bắc về Nam tìm được đường vào căn cứ Trung ương Cục đều đã đói rách bệnh tật đến thảm hại. Thế nhưng ngay sau đó lại trở thành cái vốn quý để thành lập Ban Quân sự Miền do ông Trần Văn Quang (1917, Thượng tướng) được cử làm Trưởng ban. Ba Trần được phân công làm Trưởng ban tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền.

Nhận nhiệm vụ, việc đầu tiên Ba Trần phải làm là bắt tay xây dựng lại ngành tình báo cách mạng bằng cách tuyển chọn cán bộ từ ban địch tình. Vì sau bảy năm từ khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với chính sách tố Cộng vô cùng dã man, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt giết, bỏ tù hàng loạt cán bộ làm cho lực lượng tình báo cách mạng gần như tan rã, tê liệt hoàn toàn. Mưu trí hơn, Ba Trần cho tổ chức điều nghiên và lợi dụng sự sơ hở của địch do mâu thuẫn nội bộ để giải cứu các cán bộ tình báo đang bị giam cầm rồi bố trí hoạt động trở lại. Sau đó, Ba Trần đã từng bước “cài” được các chiến sĩ tình báo vào các cơ quan đầu não của Mỹ, ngụy như: dinh Độc Lập (Phủ tổng thống ngụy), Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa, cơ quan đặc ủy trung ương tình báo, bộ tư lệnh hải quân ngụy, bộ tư lệnh Đệ nhất Hạm đội Hoa Kỳ... Qua đó, Ban tình báo chiếm lược đã thu thập, khai thác được nhiều thông tin tối mật của địch kịp thời cung cấp, phục vụ cho việc chỉ đạo chiến tranh của Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, Trung ương Cục và Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vai trò chỉ đạo tình báo chiến lược của Ba Trần rất quan trọng. Căn cứ vào tình hình quân sự, từng thời kỳ, nhiều đồng chí thay đổi nhiệm vụ công tác, nhưng cương vị Trưởng ban tình báo chiến lược vẫn do Ba Trần đảm trách. Có lúc Ba Trần được đề bạt làm Phó tham mưu trưởng Ban Quân sự Miền, nhưng ông vẫn phải trực tiếp phụ trách tình báo, đặc công, biệt động.

Mặt trận ngoại giao trong hang ổ đầu não địch

Làm ra vẻ nghiêm chỉnh thực thi Hiệp định Pa-ri vừa mới ký kết, Mỹ, ngụy buộc lòng phải đón “phái đoàn Việt cộng” vào tận “thủ đô Sài Gòn” để tham gia vào Ban liên hiệp quân sự bốn bên. Vào đầu tháng 1 năm 1973, tại Sở chỉ huy Miền, chính Ba Trần đã nhận được chỉ thị của Trung ương là cùng với ông Trần Văn Trà (1919-1996, Thượng tướng Trần Văn Trà)bàn bạc chọn nhân sự, phân nhiệm, chuẩn bị tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc, dự kiến tình huống bất trắc... để về Sài Gòn tham gia vào Ban liên lạc quân sự bốn bên thực thi Hiệp định Pa-ri. Trong lúc trung tướng Trần Văn Trà túi bụi với những cuộc họp Bộ Chỉ huy Miền để bàn cách phối hợp đấu tranh giữa chiến trường và bàn hội nghị, thì Ba Trần cũng bận tối ngày để chỉ huy thực hiện mọi công việc cho chuyến vào Sài Gòn.

Theo như thỏa thuận, vào ngày 28 tháng 2 năm 1973, máy bay quân sự của Mỹ sẽ đáp xuống sân bay Thiện Ngôn để đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sân bay Thiện Ngôn nằm ở phía bắc Tây Ninh vốn là căn cứ quân sự của một chiến đoàn Mỹ vừa chuyển giao cho quân đội Sài Gòn đã bị bộ đội ta đánh chiếm vào năm 1972 trong chiến dịch Nguyễn Huệ. Trưởng đoàn là trung tướng Trần Văn Trà, các phó trưởng đoàn gồm đại tá Võ Đông Giang (1923-1998, Thiếu tướng-Bộ trưởng Bộ Ngoại giao), đại tá Đặng Văn Thu (Thiếu tướng Đoàn Huyện), đại tá Trần Quốc Minh (Thiếu tướng Trần Văn Danh) cùng các ủy viên như Nguyễn Văn Sĩ, Nguyễn Văn Hoàn, Dương Đình Thảo, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Tư... Có hai nhân vật khiến cho CIA và mật vụ Sài Gòn bất ngờ, điên tiết lên đó là Đại tá Trần Quốc Minh (Ba Trần) và Trung tá Nguyễn Hữu Trí từng nổi danh trong giới giang hồ với biệt danh “đại ca Tư Bốn” một thời, nay lại đeo lon Trung tá quân đội nhân dân Việt Nam.

Khu doanh trại David của không quân Mỹ nằm sát góc tây nam sân bay Tân Sơn Nhất được thiết lập thành hình chữ V gồm ba dãy nhà gỗ quây lại thành chữ U. Trong lòng có vài biệt thự với đường tráng nhựa chạy giữa các dãy nhà cùng sân quần vợt, bóng rổ, bóng chuyền... Vừa tiếp quản trại David, phái đoàn quân sự hai bên liền phân công nhau khẩn trương bắt tay vào việc đào hầm trú ẩn, công sự chiến đấu và cuốc đất trồng rau, tăng gia sản xuất...

Vừa triển khai phương án phòng thủ chiến lược ở trại David xong, linh cảm của một cán bộ tình báo lão luyện mách cho Ba Trần biết là bọn CIA đang ráo riết truy cứu lý lịch của ông và sớm muộn gì chúng cũng sẽ phát hiện lai lịch ông cùng với gia đình. Do đó Ba Trần liền bí mật báo cho vợ là bà Nguyễn Thị Hoa đang sống cùng bốn đứa con ở quê nhà Hốc Môn phải cấp tốc đi vào Khu. Đúng như dự đoán, bà Hoa cùng các con vừa chuyển đi đêm trước thì sáng hôm sau bọn mật vụ, cảnh sát chìm đã ập đến tận nhà.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:07:01 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #58 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:59:29 AM »

Vị tướng trận mạc trong mùa Xuân đại thắng

Trong chiến dịch Phước Long chuẩn bị mở màn cuộc Tổng tiến công mùa xuân đại thắng 1975, Ba Trần được giao trực tiếp chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen, một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là đài không lưu thông báo cho B52 cùng các loại chiến đấu cơ của địch bay đi oanh tạc ở miền Bắc và hai nước Cam-pu-chia, Lào trên bán đảo Đông Dương; cùng lúc thực hiện nhiệm vụ thứ hai là thu hút hỏa lực của lữ đoàn 81 biệt kích dù, các phi đội chiến đấu F5E của quân đoàn 3 ở Biên Hòa, sư đoàn 25 bộ binh ngụy... Toàn bộ những hoạt động này nhằm phối hợp với cánh quân của ông Năm Ngà (Thượng tướng Nguyễn Minh Châu) đang đánh Tánh Linh – Võ Đắc kềm chế sư đoàn 18 bộ binh ngụy và ngăn chặn không cho các lực lượng của địch yểm trợ Phước Long. Phước Long chính là trận địa của Quân đoàn 4 do ông Năm Thạch (Thượng tướng Hoàng Cầm) chỉ huy.

Trước khi bước vào đợt hai mùa khô năm 1975 theo nhận định chung của Bộ tổng tư lệnh, tình hình quân địch ở chiến trường B2 đã có một số thay đổi. Cái đau nhất của Mỹ, ngụy là công việc bình định, mà chúng đã bỏ ra công sức và tiền của, đến lúc ấy đã bị thất bại nặng nề. Thất bại rõ nét nhất lại là ở đồng bằng sông Cửu Long nơi đông dân và giàu có mà chúng mong làm chỗ dựa cuối cùng. Sau khi đã cố sức mở các cuộc hành quân tái chiếm và giải tỏa trong tháng Giêng ở biên giới Kiếân Tường - Chợ Gạo - Mỹ Tho, Thầy Phó - Trà Vinh, Thới Bình - Cà Mau, khu vực Rạch Giá đi Hà Tiên mà không có kết quả, còn bị thiệt hại. Ở đồng bằng địch phải chuyển qua chuẩn bị để chống lại đợt tấn công mới của ta mà chúng dự đoán là vào trước dịp Tết âm lịch (khoảng 10 tháng 2). Ở miền Đông Nam Bộ chúng định tập trung quân cố đánh chiếm trở lại thị xã Phước Long bằng “Chiến dịch 271” nhưng không thành vì bị đánh khắp nơi, không tập trung được lực lượng đủ sức. Trước tình thế ấy, chúng xoay sang với nỗ lực rất cao để chiếm lại núi Bà Đen - một vị trí thiết yếu, không những phục vụ cho việc phòng thủ miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn mà còn để bảo vệ cho Cam-pu-chia – Phnôm-pênh của chính quyền ngụy Lon-non nữa. Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng Giêng, quân đoàn 3 ngụy có đại biểu của bộ tổng tham mưu tham dự đã sử dụng lực lượng của tiểu khu Tây Ninh và sư đoàn 25 với sự yểm trợ cao của pháo binh (bình quân bắn trên 6.000 quả/ngày) và phi cơ (84 lần chiếc/ngày), đánh phá vào khu vực núi hết sức ác liệt. Chúng đã dùng 29 trực thăng đổ quân nhiều đợt cố chiếm lại cứ điểm trên đỉnh núi nhưng đều bị ta đánh trả quyết liệt, bị thiệt hại nhiều sinh lực, mất nhiều phi cơ và trực thăng. Không những thế, qua theo dõi tin tình báo và lực lượng trinh sát mặt đất nắm được: để chuẩn bị đánh chiếm núi Bà Đen, Mỹ-ngụy còn tập kết một số máy bay trực thăng cùng với xung lực ở Bản Kéo cách đó không xa để chở quân đổ bộ. Chớp thời cơ, đêm 25 tháng Giêng năm 1975 (nghĩa là trước chưa tới một ngày địch khởi sự), Trần Văn Danh đã kịp thời chỉ đạo tập trung hai khẩu pháo 105 ly và sáu khẩu cối 61ly. Vào lúc 03 giờ sáng dồn dập nã đạn vào bãi để máy bay của đối phương. Bị giáng trả bất ngờ, địch không kịp trở tay đối phó. Phần lớn máy bay bị phá hủy và nhiều quân lính bị đền tội. Qua hai đợt tấn công cả phía sau và phía trước của ta, kết cục địch đành nhận thất bại cay đắng, lui về phòng thủ Tây Ninh. Thắng lợi rất có ý nghĩa của mặt trận tấn công chiếm vị trí núi Bà Đen và giữ vững vị trí trước sự phản kích quyết liệt của địch là một chiến công hết sức rực rỡ của một đơn vị nhỏ mà tinh nhuệ của ta. (Thượng tướng Trần Văn Trà)

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với kế hoạch giải phóng Sài Gòn được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua ngày 24/4/1975 Ba Trần có nhiệm vụ chỉ huy lực lượng đặc công, biệt động bí mật chiếm giữ trước và bảo vệ an toàn 16 cây cầu dẫn vào Sài Gòn để mở đường cho đại quân ta tiến vào trung tâm thành phố và ngăn chặn không cho địch phá hoại những mục tiêu quan trọng như: Đài phát thanh, kho xăng, nhà máy điện, nhà máy cấp nước, kho tàng, hồ sơ lưu trữ. Các chiến sĩ tình báo, đặc công, biệt động thành dưới sự chỉ huy của Ba Trần đã anh dũng, mưu trí, táo bạo làm chủ và bảo vệ an toàn các mục tiêu. Nhiều chiến sĩ biệt động, đặc công đã ngã xuống bảo vệ cầu Rạch Chiếc, Sài Gòn, Bình Lợi, Bình Triệu, Bình Điền… trước giờ giải phóng Sài Gòn…

Gần một giờ đêm 30/4/1975, ngay giữa Sài Gòn vừa giải phóng, ông Phạm Hùng – Bí thư Trung ương Cục miền Nam đã công bố quyết định của Đảng và Nhà nước trong trường hợp đặc biệt: Phong đồng chí Trần Văn Danh hàm Thiếu tướng, nhận nhiệm vụ Phó Chủ tịch ủy ban Quân quản thành phố về an ninh quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh thành phố Sài Gòn – Gia Định”

Vị tổng quản Thủy điện Trị An

Năm 1978, sau khi thôi giữ chức Tư lệnh lực lượng vũ trang thành phố, ông sang làm Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Là một nhà tình báo, ông luôn coi trọng mọi hồ sơ tài liệu. Trên cương vị của mình, nhân lúc phân loại các hồ sơ mật của chính quyền Sài Gòn để lại. Qua nghiên cứu phân tích nhiều loại, nào là quân sự, kinh tế, chiến tranh tâm lý, may mắn thay, trong số đó ông bắt gặp sơ đồ thiết kế công trình thủy điện Trị An. Chưa biết trong ấy họ nói những gì chi tiết nhưng chắc chắn đó là điều mà xã hội đòi hỏi cấp thiết. Tuy nhiên, bởi quy mô công trình nó lớn quá, nếu đầu tư công, của không đơn giản chút nào. Trong khi đó tình hình đất nước còn cực kỳ khó khăn, vả lại ông vốn là một người lính chủ yếu quen với trận mạc. Khả năng kiến thức về xây dựng công trình tầm cỡ quốc gia như thế đòi hỏi kỹ năng khoa học cao mới đủ lý luận và thực tiễn để thuyết phục... Trong một hội nghị Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 4 khóa 3 năm 1984, ông trình bày luận điểm của mình với cơ quan lãnh đạo cao nhất của thành phố. Tuy nhiên cũng có những ý kiến tranh luận qua lại, phân tích để thêm sáng tỏ. Song, cơ bản nhất trí rất cao. Đặc biệt ông Võ Văn Kiệt, trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy tỏ vẻ rất phấn chấn.

Sau chuyến ra Hà Nội của đồng chí Bí thư Thành ủy, Trung ương và Chính phủ đã đồng ý căn bản đề nghị của thành phố Hồ Chí Minh. Và chính ông được ông Võ Văn Kiệt đề nghị giữ vai trò chỉ đạo công trình và đề đạt lên Trung ương. Và sau đó ít lâu, ông được Trung ương, Chính phủ điều động sang làm Thứ trưởng Bộ Năng lượng kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình thủy điện Trị An. Tính khẩn trương của công trình một lần nữa thách thức vị tướng tài ba: rà phá bom mìm trong vùng căn cứ chiến khu D, khảo sát địa chất, tiến hành thi công, hoàn chỉnh thiết kế kỹ thuật… Công trình thủy điện đầu tiên của miền Nam sau giải phóng với công suất thiết kế 400 mêga oát (400 MW – 4 tổ máy), sản lượng điện bình quân mỗi năm 1,7 tỷ KWh.

Để đẩy nhanh tiến độ thi công công trình cần huy động mọi nguồn lực xã hội. “Tất cả vì Trị An”, “Tất cả vì dòng điện sáng ngày mai của Tổ quốc”. Hàng vạn lượt thanh niên, công nhân không quản đêm ngày cùng vị chỉ huy đã không những hoàn thành công trình đúng tiến độ mà còn tiết kiệm hơn 10 triệu USD, 3.000 tấn thép trả lại cho Liên Xô. Tổng kinh phí xây dựng công trình 200 triệu USD, ngày 13/9/1989 tổ máy số 4 vận hành. Đã có ít nhất hai lần, bọn phản động âm mưu phá hoại công trình thủy điện nhưng với tinh thần cảnh giác cao và kinh nghiệm của một vị Tướng tình báo ông Ba Trần đã chỉ đạo các lực lượng công an, trinh sát, tình báo của ta phá âm mưu đen tối của kẻ địch.

Qua gần 12 năm công trình đi vào hoạt động, đã tạo ra một hiệu quả vô cùng to lớn cả về kinh tế, xã hội… cho hàng chục triệu con người. Đặc biệt, tăng sản lượng điện đáp ứng cho các khu công nghiệp ở các tỉnh thành phố miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long tăng thêm hấp dẫn mời gọi đầu tư nước ngoài vào làm ăn với ta, thu hút hàng triệu lao động có công ăn việc làm ổn định cuộc sống. Ánh điện đã về tới những bản làng hẻo lánh xa xôi, làm cho bộ mặt nông thôn vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và căn cứ kháng chiến thay đổi rõ.

Năm 1945, Thiếu tướng Anh hùng lao động Trần Văn Danh tham gia cách mạng. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trên nhiều cương vị công tác, ông luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Trần Văn Danh luôn trăn trở trước tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn. Ông đã đề ra phương án xây dựng nhà máy Thủy điện Trị An và được chấp nhận. Sau đó, Trần Văn Danh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Điện lực, kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình Thủy điện Trị An. Đây là công trình thủy diện có tác dụng to lớn trong việc phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế văn hóa và phục vụ đời sống nhân dân nhiều địa phương thuộc các tỉnh, thành phố phía Nam. Ông đã dày công nghiên cứu, lặn lội khắp nơi vận động, tập hợp sức người, sức của trong nhân dân, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nhất là Liên Xô cũ. Trần Văn Danh luôn thể hiện phẩm chất của người đảng viên Cộng sản lão thành, không quản ngại tuổi cao, sức yếu, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình công tác, gần gũi và cảm thông với mọi thành viên trên công trình, trở thành tấm gương cho mọi người học tập.

‘’Đồng chí Ba Danh là người bạn tận tình phục vụ Tổ quốc, có tài năng trong đánh giặc và có tài năng trong xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý’’ (Đại tướng-Bộ trưởng Lê Đức Anh viết khi ông được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lao động)

“người chỉ huy cương nghị, tổ chức và xây dựng thắng lợi công trình thủy điện Trị An lịch sử” (nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)

“Đồng chí Trần Văn Danh luôn nêu cao phẩm chất của người đảng viên cộng sản, không quản tuổi cao sức yếu, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình hăng say công tác, gần gũi và cảm thông với mọi thành viên trên công trình, trở thành tấm gương sáng cho mọi người học tập” (trích Bản tuyên dương Anh hùng lao động)

Tham khảo: Báo Đồng Nai, Bảo tàng Lịch sử Quân sự.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 07:57:28 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #59 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:00:40 AM »


Thượng tướng Phùng Thế Tài (1920), nguyên : Thành đội trưởng Thành đội Hà Nội, Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội, Đại đoàn phó Đại đoàn 320, Đại đoàn trưởng Đại đoàn Pháo binh 349, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo binh, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh, Tư lệnh Bộ đội Phòng không, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiên công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thượng tá (1958), Đại tá (1967), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986).


Thượng tướng Phùng Thế Tài (tên thật là Phùng Văn Thụ, ông còn có tên khác là Phùng Hữu Tài) sinh tại làng Văn Minh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, trong một gia đình nghèo, cuộc sống cơ cực nên ông không được học hành và cũng không có nghề nghiệp gì để mưu sinh. Năm 1933, khi ông mới 13 tuổi, mong kiếm được kế sinh nhai cho ông, gia đình đã nhờ cậy một người bà con đang ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc nhận đưa ông sang tìm việc làm kiếm sống. Từ đó, tại một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Vân Nam, ban ngày ông tìm việc vặt kiếm sống ban đêm tá túc với cửu vạn ở chợ Trời.

Mặc dù nai lưng cật lực, toát mồ hôi sôi nước mắt vẫn không đủ sống, lại bị lũ con gia chủ ức hiếp, miệt thị nên ông tẩn cho chúng một trận rồi bỏ trốn lên Côn Minh-thủ phủ của tỉnh Vân Nam giữa năm 1934. Ở Côn Minh, ông trở thành đứa trẻ bơ vơ, ngày sống lang thang trên đường phố. Năm ông 16 tuổi (1936), một đêm đông giá lạnh, khi ông đang co ro trên chiếc ghế đá bên mép hồ có một người thanh niên đến, vỗ bên vai ông và gọi dậy rồi hỏi han nhiều chuyện về nhân thân bằng tiếng Việt. Đó chính là ông Vũ Anh- một đảng viên Cộng sản trong một chi bộ hoạt động ở nước ngoài tại Vân Nam. Từ đó ông giác ngộ theo Cách mạng, và đến năm 1939 được kết nạp vào Đảng.

Đầu năm 1940, ông được ông Vũ Anh giao cho bí mật bảo vệ một người bằng mọi giá trong mọi trường hợp nhưng không được để cho ai biết ông là vệ sĩ của người đó, kể cả người bảo vệ. Sau một thời gian, tổ chức mới cho ông biết người mà ông được giao bảo vệ chính là ông Trần-bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mới từ Mát-xơ-cơ-va về Côn Minh hoạt động. Sau một thời gian thực thi tốt nhiệm vụ, ông được ông Vũ Anh chính thức giới thiệu với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Qua công việc hàng ngày, với tác phong cần mẫn, tận tụy, lầm lỳ, kín đáo, nhưng rất tháo vát, chịu khó và có nhiều sáng kiến, dần dần ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin cậy.

Ngoài tên chính là Phùng Văn Thụ, ông được lãnh tụ đặt tên mới Phùng Hữu Tài - với ý nghĩa Phùng là gặp, Hữu Tài là có tài, ý nói là có ông là người bảo vệ như gặp người có tài. (Đến năm 1952, ông xin phép Bác Hồ cho được đổi lại tên là Phùng Thế Tài vì theo ông cái tên Hữu Tài dễ làm người ta kiêu căng tự phụ).

Để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng trong nước, đầu năm 1941, vào Xuân Tân Tỵ, ngày 28-1, lãnh đạo Nguyễn Ái Quốc từ Vân Nam về đến Cao Bằng, và đặt bản doanh tại hang Pác Pó. Ông được tổ chức giao trọng trách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho Bác trong điều kiện hết sức bí mật và vô cùng gian khổ.

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh cho gia nhập đội và được cử làm tiểu đội trưởng Tiểu đội giải phóng quân Thất Khê và tham gia giành chính quyền tại Thất Khê tháng 8 năm 1945. Sau khi giành chính quyền, ông được cử làm Ủy viên quân sự Việt Minh tại Lạng Sơn, kiêm chức Chi đội phó Chi đội Lạng Sơn. Sau khi Vệ quốc đoàn được tổ chức chính quy hóa, Chi đội Lạng Sơn trở thành Trung đoàn 28, ông được giữ chức vụ Trung đoàn trưởng.

Năm 1947, ông được cử làm Ủy viên quân sự trong Ủy ban Hành chính Kháng chiến Hà Nội. Năm 1951, khi Đại đoàn 320 được thành lập, ông được cử về giữ chức vụ Đại đoàn phó. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 9 năm 1954, ông được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn Pháo binh 349 vừa được thành lập. Trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội, ông được phong quân hàm Thượng tá (1958). Từ tháng 11 năm 1961 đến tháng 11 năm 1962, ông giữ chức Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo binh, kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Pháo binh.

Tháng 12 năm 1962, ông là Tư lệnh Quân chủng Phòng không. Năm 1963, Quân chủng Phòng không - Không quân thành lập, ông được cử giữ chức Tư lệnh đầu tiên của quân chủng này. Trong thời kì chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, dưới sự chỉ đạo của ông, Quân chủng Phòng không đã góp phần không nhỏ trong việc đánh bại chiến tranh leo thang phá hoại của không quân Mỹ bảo vệ vững chắc bầu trời miền Bắc.

Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Không quân Mỹ (1964-1965), ông còn kiêm chức vụ Trưởng Ban phòng chống bão lũ trung ương. Năm 1967, từ đại tá Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, ông được Nhà nước bổ nhiệm chức Phó Tổng Tham mưu trưởng và điều động về công tác tại Tổng hành dinh - Bộ Quốc phòng. Tháng 8 năm 1969, trước tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng xấu, Trung ương quyết định thành lập Ban gìn giữ thi hài do tướng Lê Quang Đạo làm trưởng ban, ông được cử làm Phó ban.

Trong trận Điện Biên Phủ trên không (12/1972), trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng ông thay mặt Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo Quân chủng Phòng không Không quân làm lên chiến thắng lịch sử, đánh bại sức mạnh của không lực Hoa Kì buộc Mỹ phải kí kết Hiệp định Paris. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng ông luôn có mặt trên đường Trường Sơn trực tiếp chỉ đạo chi viện cho chiến trường về mọi mặt.

Năm 1976, khi Tổng cục Hàng không Dân dụng của Việt Nam thống nhất được thành lập, ông kiêm chức vụ Tổng cục trưởng cho đến năm 1978. Ông được Nhà nước Việt Nam cho về nghỉ hưu năm 1990.

Thượng tướng Phùng Thế Tài là một vị tướng có nhiều giai thoại lí thú được lưu truyền trong các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, từ một cậu bé lang thang không nơi nương tựa đến với cách mạng là cận vệ đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh rồi chuyển sang chỉ huy quân sự. Là một vị chỉ huy từng có mặt trong đoàn quân Tây Tiến rồi đến Tư lệnh đầu tiên của một Quân chủng hiện đại còn hết sức non trẻ của Quân đội ta khi đó-Quân chủng Phòng không Không quân. Ông đã cùng các vị chỉ huy của Quân chủng như Trung tướng Lê Văn Tri, Trung tướng Nguyễn Văn Tiên, Đại tá Đặng Tính lãnh đạo Quân chủng làm thất bại hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Ông vẫn được gọi là ‘’Vị tướng của tháng 12 lịch sử’’

Cánh lính trẻ rất thích thú trước tướng Phùng Thế Tài bởi bản tính xuề xòa nhưng không phải không sợ cái oai rất tướng của ông, thân hình cao to, tiếng nói sang sảng khuôn mặt hồng hào và tính nóng như lửa của ông. Chính vì cái tính nóng với cấp dưới mà ông đã nhiều lần bị Bác Hồ chỉnh. Có thể nói ít tướng lĩnh nào của Việt Nam lại gắn bó với Bác Hồ như Thượng tướng Phùng Thế Tài. Ông gắn bó với Bác từ những ngày còn bên Trung Quốc đến khi về Pác Bó trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam đựợc Bác dạy bảo và phát hiện ra khả năng quân sự của ông. Khi Bác mất, ông lại là một trong những người chỉ đạo công việc bảo quản thi hài Bác.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:20:29 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM